phương pháp đánh giá môi trường chiến lược
Trang 1Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ
MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐGMTCL
1.1.1 Mối quan hệ giữa phát triển với môi trường:
Môi trường là tổng hợp các điều kiện sống của con người, phát triển là quá trình cải tạo và cải thiện các điều kiện đó Giữa môi trường và phát triển tất yếu có mối quan hệ chặt chẽ Môi trường là địa bàn và đối tượng của phát triển
1.1.2 Quan điểm mới về phát triển và phát triển bền vững:
Hiện nay, trong bối cảnh chung về TNTN và môi trường sống của con người trên toàn cầu đang trên đà đi xuống, do đó mục tiêu PTBV chỉ có thể đạt được với quan điểm và nhận thức mới về phát triển Đó là: độ đo về phát triển hiện nay và trong các thập đầu thế kỷ tới không còn đơn thuần là độ đo kinh tế, GNP hay GDP, mà độ đo này phải tổng hợp kinh tế PTBV, xã hội công bằng văn minh, môi trường sống có chất lượng tốt
1.1.3 Mục tiêu chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001 – 2010:
- Tiếp tục phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm;
- Tăng cường bảo vệ, bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn TNTN và ĐDSH;
- Bước đầu cải thiện và nâng cao chất lượng MT tại đô thị, nông thôn và KCN
Các mục tiêu chiến lược này sẽ đạt được thông qua việc thực hiện 77 chương trình ưu tiên Trong số này, 7 chương trình ưu tiên cao nhất đã được xác định nhằm vào các lĩnh vực liên quan đến: phát triển công nghiệp bền vững, quản lý CTR-CTNH, sử dụng bền vững nguồn nước, sử dụng bền vững rừng, tăng
Trang 2cường quản lý môi trường, giáo dục môi trường và các phong trào quần chúng BVMT.
1.1.4 Vài nét về lịch sử ĐGMTCL:
1.1.4.1) Ơû nước ngoài:
Sau 25 năm thực hiện ĐTM, thế giới đã đạt được những lợi ích về môi trường một cách đáng kể Nhưng khi mục tiêu PTBV đưa ra khung chính sách mới và chất lượng môi trường đã xấu đi ở rất nhiều nơi trên thế giới thì ĐTM ở mức dự án không đầy đủ để cải thiện môi trường theo sự phát triển kinh tế Từ đó, ĐGMTCL ra đời và được giới thiệu ở một số nước và các tổ chức quốc tế
Liên hiệp Châu Aâu đề xuất dự thảo chỉ dẫn ĐGMTCL được hội đồng Châu Aâu chuẩn bị với cấu trúc tương tự như hướng dẫn ĐTM hiện tại (85/337/EEC) Các nước thành viên của Liên Hiệp Châu Aâu ứng dụng ĐGMTCL ngày càng nhiều, tiêu biểu như: Anh, Hà Lan và một số nước khác trên Thế Giới như: Mỹ, Canada, Uùc, Trung Quốc, Indonesia, Philippine…
Năm 1996, Sadler và cộng sự nghiên cứu 40 trường hợp ứng dụng ĐGMTCL trong khuôn khổ nghiên cứu quốc tế để làm nổi bật những phạm vi ứng dụng của ĐGMTCL Một số ứng dụng ĐGMTCL thành công tiêu biểu như:
- Xem xét chính sách môi trường của Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ
(NAFTA) Canada
- ĐGMTCL cho kế hoạch bảo tồn và phát triển Tứ Xuyên, Cộng Hoà Nhân
Dân Trung Hoa
- ĐGMTCL của kế hoạch quản lý rừng huyện Bara (Nepal){các nguồn:
Khadka,1998; Devust,1999}
1.1.4.2) Ơû Việt Nam:
Trong thời gian gần đây, để đánh giá MT ở mức quy hoạch đạt hiệu
Trang 3- Năm 1997, Lê Thạc Cán kiến nghị phát triển nghiên cứu ĐGMTCL nhằm thực hiện các ĐGMTCL của các hoạt động phát triển ở mức độ phức tạp cao hơn
“Xây dựng các phương pháp cho ĐGMTCL của kế hoạch vùng, các KCN, kế hoạch hoá tổng thể và ĐGMTCL tích luỹ và chiến lược”
- Năm 1998, nhóm nghiên cứu Nguyễn Đình Dương, Lê Thị Thu Hiền, Lê Kim Thoa, Nguyễn Hạnh Quyên thực hiện “Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ ĐGMTCL quy hoạch phát triển thành phố Hạ Long và các vùng lân cận”
- Năm 2000, nhóm tác giả Trung tâm Kỹ thuật Đô thị và KCN với đề tài “ Cơ sở đánh giá môi trường chiến lược” đã nghiên cứu về phương pháp ĐGMTCL
Dự án EU “Xây dựng năng lực cho quản lý MT ở Việt Nam” (VNM/B7-6200/IB/96/05) thực hiện một nghiên cứu thí dụ ĐGMTCL ở tỉnh Quảng Ninh được coi như một dự án hỗ trợ “Xây dựng năng lực trong ĐGMTCL
ở Việt Nam”
Theo luật bảo vệ môi trường (BVMT) sửa đổi, các loại dự án sau đây phải lập báo cáo ĐGMTCL:
- Dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội cấp quốc gia.
- Dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên quy mô
cả nước
- Dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (sau này gọi chung là cấp tỉnh), vùng
- Dự án quy hoạch sử dụng đất; bảo vệ và phát triển rừng; khai thác và sử dụng
các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng
- Dự án quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn có quy
mô lớn
- Dự án quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm.
Trang 4- Dự án quy hoạch tổng hợp lưu vực sông quy mô liên tỉnh.
Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư quy định tại khoản 1 và 2 của điều này chỉ được phê duyệt cấp phép đầu tư, cấp phép xây dựng, cấp phép khai thác khoáng sản sau khi đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐGMTCL, thẩm định phê duyệt báo cáo ĐTM theo quy định tại khoản 1 và 2 điều 12 của luật này
1.1.5 Đánh giá môi trường chiến lược
- Theo Therivel và cộng sự, 1992, ĐGMTCL là quá trình ĐTM của một chính sách, một kế hoạch, quy hoạch hay một chương trình phát triển và các phương án thay thế một cách có hệ thống và toàn diện, là việc chuẩn bị một báo cáo về các kết quả đã đánh giá và sử dụng chúng cho việc ra quyết định một cách có trách nhiệm
- Theo Sadler và Verheem, 1996, ĐGMTCL là một quá trình đánh giá có hệ thống các hậu quả môi trường của một chính sách, một kế hoạch hay một chương trình phát triển để đảm bảo rằng các hậu quả môi trường được xét đến một cách đầy đủ và được chú ý một cách thích đáng ở những bước thích hợp sớm nhất trong quá trình ra quyết định ngang hàng với các cân nhắc về kinh tế xã hội
- Theo Eddy Nierynck, 2000, ĐGMTCL là một quá trình hoạt động chuyên nghiệ, nhằm đảm bảo lồng ghép đầy đủ các cân nhắc môi trường vào trong giai đoạn thích hợp sớm nhất của phát triển chính sách, kế hoạch hoặc chương trình, ngang hàng với các cân nhắc kinh tế – xã hội…
- Theo tài liệu “MT và QHTT theo hướng PTBV” – TS.Trương Mạnh Tiến, định nghĩa ĐGMTCL là ĐTM được thực hiện đối với các QHTT, các chương trình phát triển dài hạn của một quốc gia hoặc của một vùng lãnh thổ rộng lớn, của một ngành sản xuất
Trang 5- Theo giáo trình “Phân Tích Hệ Thống Môi Trường 2007” – TS.Chế Đình Lý, ĐGMTCL được thiết lập nhằm nêu ra các vấn đề môi trường ngoài cấp độ dự án,
ở cấp chiến lược của các chính sách và chương trình của ngành, nó tạo ra khung làm việc cho việc hình thành dự án
- Theo luật BVMT (sửa đổi): ĐGMTCL là việc xem xét, phân tích, đánh giá về môi trường đối với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển quốc gia, ngành, vùng lãnh thổ và các quy hoạch, kế hoạch phát triển khác trong quá trình thẩm định, phê duyệt các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đó
Từ các định nghĩa trên cho thấy, ĐGMTCL là một chủ đề rất được nhiều nhà nghiên cứu môi trường quan tâm và nhanh chống trở thành một lĩnh vực nghiên cứu chuyên nghiệp Kinh nghiệm và lý luận ngày càng trở nên phong phú một cách nhanh chóng
Nhìn chung, ĐGMTCL của một QHTT nhằm đảm bảo lồng ghép đầy đủ cân nhắc MT ngang hàng với cân nhắc kinh tế – xã hội để đạt mục tiêu PTBV
1.1.6 Sự khác nhau giữa ĐTM và ĐGMTCL:
Theo TS.Trương Mạnh Tiến, ĐTM và ĐGMTCL khác nhau như sau:
Bảng 1-1: Sự khác nhau giữa ĐTM và ĐGMTCL
- Có quy mô nhỏ - Có quy mô rộng lớn, có tính chất liên
ngành, liên địa phương, trong khoảng thời gian dài
- Đánh giá các tác động cụ thể của
một dự án - Đánh giá việc xây dựng quy hoạch không gian (quy hoạch sử dụng đất,
phân bố các nguồn tài nguyên – môi trường, đảm bảo chi tiêu kinh tế xã hội và tự nhiên môi trường)
- Kiến nghị giảm thiểu môi trường ô - Kiến nghị giảm thiểu ô nhiễm môi
Trang 6và xử lý ô nhiễm môi trường cụ thể môi trường, thiết lập các chương trình
bảo vệ môi trường
1.1.7 Mục tiêu và ý nghĩa của ĐGMTCL:
- ĐGMTCL tạo nên cơ sở để chọn lọc các phướng án thay thế của dự án
- ĐGMTCL cấp kế hoạch cung cấp các chiến lược chắc chắn để lựa chọn các phương án thay thế thích hợp, xác định những dữ liệu thiếu và tiến hành xem xét đánh giá tác động môi trường ở mức dự án một cách rẻ hơn, nhanh hơn và thiết thực hơn Đó là quá trình tiếp cận thứ bậc trong ĐTM
- ĐGMTCL theo vùng cung cấp tóm tắt các tác động của toàn thể các hoạt động của mỗi dự án được thực hiện trong vùng, điều đó giúp cho thắng lợi hơn trong ĐGMTCL ở mức kế hoạch
- ĐTM ở mức dự án khó có thể phát hiện các tác động tích luỹ Đánh giá tích luỹ tiến hành phân tích các hậu quả môi trường khi một vùng nào đó chịu sức ép của các tác động quá khứ, hiện tại và nhìn thấy tác động cả trong tương lai do các dự án tạo nên Trong trường hợp này ĐGMTCL sẽ giúp nâng cao hiệu quả của các biện pháp giảm thiểu của các tác động loại như vậy (Khadka et al.,1996)
1.1.8 Các thuận lợi và khó khăn của ĐGMTCL:
Theo Barry Dalal – Clayton và Barry Dadler (1998), ĐGMTCL có những thuận lợi và khó khăn như sau:
Trang 7- ĐGMTCL cung cấp nhiều phương án để lựa chọn ở cấp “chiến lược” hơn so với các phương án lựa chọn trong ĐTM cấp dự án truyền thống.
- ĐGMTCL củng cố và sắp xếp lại ĐTM cấp dự án hợp lý hơn
- Ơû những trường hợp thích hợp, tác động tích dồn (đặc biệt là hậu quả môi trường của quy hoạch phát triển ngành, vùng) và các thay đổi toàn cầu được nghiên cứu một cách tương xứng
- Phát huy hiệu quả của thể chế ĐGMTCL để ngăn ngừa ô nhiễm (đặc biệt là khi ĐTM cần đến kỹ năng, kinh phí nhưng năng lực thực hiện bị hạn chế) có thể bỏ qua ĐTM cấp dự án
- ĐGMTCL cung cấp một cơ chế để cộng đồng tham gia trao đổi về tính bền vững của chiến lược ở một mức độ thích hợp
1.1.8.2) Khó khăn:
- Cần một thể chế về ĐGMTCL rõ ràng để trao đổi giữa các ngành một cách dễ dàng và có hiệu quả; cân nhắc các vấn đề MT trong các bước hình thành, đánh giá và thực hiện các chính sách, kế hoạch, chương trình một cách có hiệu quả và cân nhắc MT có vai trò tương xứng trong việc ra quyết định
- Đòi hỏi những kiến thức nhất định về ĐGMTCL trong nội bộ các cơ quan nhà nước, tư nhân ĐGMTCL là một công cụ có giá trị gắn kết chính sách môi trường với chính sách kinh tế xã hội trong giai đoạn hoạch định chính sách
1.2 PHƯƠNG PHÁP ĐGMTCL
1.2.1 Quan điểm ĐGMTCL:
Trong một ĐGMTCL thuộc bất kỳ ngành nào cũng đều hướng tới mục tiêu PTBV ĐGMTCL tạo điều kiện xác định tác động của các chiến lược về PTBV bởi vì ĐGMTCL là một quá trình có giá trị tiềm năng cho việc ứng dụng các cân nhắc có tính bền vững vào quá trình hình thành hoặc xem xét lại các
Trang 8chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển Sadler và Verheem nêu ra rằng khi được ứng dụng có hệ thống ĐGMTCL có thể trở thành một vectơ chuyển từ tiêu chuẩn đến chương trình hành động có tính bền vững để BVMT.
Bằng thực tiễn và phân tích lý luận, Glasson (1995) đã trình bày hai hệ thống mô hình, đó là hệ thống từ dưới lên và hệ thống từ trên xuống:
- Hệ thống từ dưới lên bắt đầu từ việc ĐTM của các dự án, tiến đến ĐGMTCL
ở mức độ chương trình, kế hoạch và chính sách để cuối cùng đạt được mục tiêu PTBV Hệ thống này được dùng phổ biến trên Thế Giới, ở Việt Nam mới dừng lại
ở mức dự án Nói chung hệ thống này tỏ ra ít hiệu quả (Khadka et al.,1996)
- Hệ thống từ trên xuống được mô tả như sau: (theo Khadka etal.,1996)
+ Đầu tiên là mục tiêu cho PTBV Trong thực tế cần dựa vào các mục tiêu cụ thể của PTBV đã trình bày ở trên Tuỳ theo tính chất của các chính sách, kế hoạch và chương trình cũng có thể xây dựng các mục tiêu PTBV cụ thể trên cơ sở tham khảo các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
+ Trình bày tất cả các đòi hỏi cụ thể về PTBV
+ Tiến hành đánh giá chiến lược của các chính sách, kế hoạch và chương trình lựa chọn và phải đạt được các mục tiêu đã nêu trên
+ Lựa chọn các phương án đã đánh giá là bền vững nhất
+ Thực hiện ĐGMTCL cho mỗi dự án
+ Thiết kế chương trình giám sát và đánh giá cho tất cả các bước
1.2.2 Quy trình ĐGMTCL:
Gồm 4 bước:
a) Bước 1: Nghiên cứu hiện trạng môi trường (môi trường nền).
Thu thập đầy đủ các số liệu để đánh giá được hiện trạng môi trường
Trang 9b) Bước 2: Tóm tắt mô tả quy hoạch phát triển.
- QH sử dụng đất
- QH sử dụng tài nguyên nước
- QH sử dụng tài nguyên khoáng sản
- QH sử dụng tài nguyên sinh vật
- Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp
- Phát triển các ngành công nghiệp
- Phát triển du lịch
- Phát triển các kết cấu hạ tầng
- Phát triển dân số
- Phát triển đô thị
- Phát triển các khu, điểm tuyến dân cư nông thôn
- Quy hoạch bảo tồn thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hoá.
c) Bước 3: Dự báo đánh giá và phân tích môi trường
- Dự báo tác động môi trường
- Dự báo biến đổi của các điều kiện môi trường
- Phân tích môi trường:
+ Phân chia các đơn vị không gian để phân tích
+ Xác định các vấn đề quan trọng và các khu vực rủi ro
+ Phân tích các mối quan hệ qua lại giữa phát triển và môi trường
d) Bước 4: Xây dựng quy hoạch BVMT và thiết lập các chương trình BVMT.
- Xác định các ưu tiên đối với mỗi đơn vị phân tích
- Sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh các QHTT
- Cung cấp bộ số liệu toàn diện và có hệ thống về MT.
Trang 101.2.3 Nội dung ĐGMTCL: (theo luật bảo vệ môi trường sửa đổi)
- Mô tả chi tiết các dự án có liên quan đến MT
- Mô tả hiện trạng các thành phần MT tự nhiên và các yếu tố kinh tế, xã hội liên quan trong vùng thuộc phạm vi của dự án và vùng kế cận
- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm MT, suy thoái MT và sức chịu tải của MT trong vùng thuộc phạm vi của dự án và vùng kế cận
- Dự báo diễn biến của các thành phần MT tự nhiên và các yếu tố kinh tế, xã hội khi dự án được thực hiện
- Đề xuất hướng giải quyết các vấn đề MT trong quá trình thực hiện dự án
- Đề xuất QH xây dựng các công trình XLCT tập trung, các trạm quan trắc MT
1.3 CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐGMTCL
1.3.1 Luật cơ sở:
- Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 quy định: các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các qui định của Nhà nước về việc sử dụng hợp lý TNTN và MT Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại MT (Điều 29)
- Luật BVMT được Quốc Hội thông qua ngày 27/12/1993 và chủ tịch nước ký sắc lệnh ban hành ngày 10/01/1994 Luật đã cụ thể hoá điều 29 của Hiến pháp, có mục tiêu là: Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước và trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân trong việc BVMT nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong MT trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, góp phần BVMT khu vực và toàn cầu
Trang 11- Điều 37 chương 4 qui định: Về chiến lược, chính sách BVMT, kế hoạch BVMT.
1.3.2 Các luật chuyên ngành:
- Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân (năm 1989) xác định sức khoẻ nhân dân là mục tiêu, là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ Tổ quốc Công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể, được bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống và được phục vụ về chuyên môn y tế (Điều 1)
- Luật đất đai (năm 1993) xác định đất đai là nguồn tài nguyên có giá trị, là phương tiện sản xuất và là thành phần quan trọng của môi trường Người sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ, cải thiện và sử dụng đất hiệu quả và hợp lý (Điều 4), có trách nhiệm tuân thủ các qui định liên quan tới BVMT (Điều 79)
- Luật khoáng sản (năm 1996) xác định khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được, là tài sản quan trọng phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH đất nước, PTBV kinh tế – xã hội trước mắt và lâu dài Các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải có trách nhiệm bảo vệ, phục hồi MT (Điều 16 và 33)
- Luật tài nguyên nước (năm 1998) xác định nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của cuộc sống và môi trường, quyết định sự tồn tại và phát triển của đất nước Luật qui định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và quản lý toàn bộ tài nguyên nước, ngăn ngừa, phòng chống những hoạt động làm ô nhiễm nước, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, đồng thời qui định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khi khai thác và sử dụng tài nguyên nước phục vụ các mục đích sản xuất và sinh hoạt
- Luật đất đai (năm 2003)
Trang 121.3.3 Các văn bản pháp qui dưới luật:
- Nghị định 175/CP về hướng dẫn thực hiện BVMT
- Nghị định 26/CP qui định xử phạt vi phạm hành chánh về BVMT
- Quyết định số 2929 – QĐ/TTg của Bộ trưởng Bộ KHCN&MT về việc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường
- Chỉ thị số 36 – CT/TW ngày 26/06/2001 của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước”
- Quyết định số 152/1999/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quản lý CTR tại các đô thị và KCN Việt Nam đến năm 2020
- Chiến lược BVMT Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Kèm theo quyết định này là danh mục 36 chương trình, kế hoạch, đề án và dự án ưu tiên cấp Quốc gia về BVMT theo quyết định số 256/2003/QĐ – TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
- Quyết định số 2575/1999/QĐ – BYT của Bộ trưởng Bộ y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế
- Nghị quyết số 41 – NQ/TW của Bộ chính trị ngày 15/11/2004 về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, trong đó đề ra quan điểm đầu tư cho BVMT là đầu tư cho PTBV
1.3.4 Các thông báo, quyết định, công văn liên quan đến bản quy hoạch:
- Thông báo số 198/TB-VPCP, ngày 18/10/2004, thông báo ý kiến kết luận của
Phó Thủ Tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng về Định hướng QH chung Vịnh Vân Phong và QH chi tiết cảng TCQT Vân Phong đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Trang 13- Thông báo số 53/TB-VPCP, ngày 17/04/2003, thông báo ý kiến kết luận của
Phó Thủ Tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng về QH phát triển khu vực Vịnh Cam Ranh và khu vực Vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa
- Quyết định số 301/QĐ-TTg ngày 22/04/2002 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt định hướng QH xây dựng khu KTTH Vân Phong đến năm 2020
- Công văn số 5919/VPCP-CN, ngày 28/11/2003 của văn phòng Chính phủ về
việc chủ trương xây dựng Vịnh Vân Phong - Khánh Hòa
- Quyết định số 882/QĐ-BXD của Bộ Xây Dựng về việc phê duyệt nhiệm vụ
dự án định hướng QH chung xây dựng khu KTTH Vân Phong – Khánh Hòa
- Công văn số 3710/VPCP-KTTH, ngày 01/08/2003 của văn phòng Chính phủ
về việc xây dựng tổng kho xăng dầu tại Vịnh Vân Phong – tỉnh Khánh Hòa
- Công văn số 3711/VPCP-KTTH, ngày 01/08/2003 của văn phòng Chính phủ
về việc QH phát triển du lịch khu vực Vân Phong – Đại Lãnh
- Công văn số 488/TB-UB, ngày 13/11/2003 của UBND tỉnh Khánh Hòa về
việc thông báo của UBND tỉnh Khánh Hòa thông qua lập QH chung xây dựng khu KTTH Vịnh Vân Phong
- Công văn số 2432/GTVT-KHĐT, ngày 09/06/2003 của Bộ Giao Thông Vận
Tải về việc xin phê duyệt QH chi tiết cảng TCQT Vân Phong – Khánh Hòa
- Công văn số 4511/GTVT-KHĐT, ngày 08/10/2003 của Bộ Giao Thông Vận
Tải về việc giải trình, bổ sung nội dung QH chi tiết cảng TCQT Vân Phong
- Công văn số 1807/CHHVN-KHĐT, ngày 13/11/2003 của Cục Hàng Hải Việt
Nam Bộ Giao Thông Vận Tải về việc góp ý đề án lập QH chung xây dựng khu KTTH Vân Phong – Khánh Hòa đến năm 2020
Trang 14- Công văn số 5391/CHHVN-KHĐT, ngày 11/09/2003 của Bộ Giao Thông Vận
Tải về việc góp ý đề án lập QH chung xây dựng khu KTTH Vân Phong – Khánh Hòa
- Công văn số 817/TCDL-KHĐT, ngày 30/06/2003 của Tổng Cục Du Lịch về
việc phê duyệt QH chi tiết cảng TCQT Vân Phong – Khánh Hòa
- Công văn số 1490/TCDL-KHĐT, ngày 30/06/2003 của Tổng Cục Du Lịch về
việc điều chỉnh QH chung Vân Phong – Khánh Hòa
- Công văn số 3508 BKH/VCLPT, ngày 13/06/2003 của Bộ Kế Hoạch Và Đầu
Tư về việc góp ý kiến chủ trương thành lập tổng kho xăng dầu tại khu vực Vân Phong
- Công văn số 4056 BKH/VPTĐ, ngày 08/07/2003 của Bộ Kế Hoạch Và Đầu
Tư về việc đề nghị có ý kiến góp ý về QH chi tiết cảng TCQT Vân Phong – Khánh Hòa
- Công văn số 2928/TS-KHTC, ngày 21/11/2003 của Bộ Thủy Sản về việc góp
ý điều chỉnh định hướng QH chung Vịnh Vân Phong–Khánh Hòa đến năm 2020
- Công văn số 1836/TM-ĐT, ngày 29/04/2003 của Bộ Thương Mại về việc xin
chủ trương xây dựng tổng kho xăng dầu tại Vịnh Vân Phong
- Công văn số 2440/TM-ĐT, ngày 06/06/2003 của Bộ Thương Mại về việc góp
ý kiến QH xây dựng tổng kho xăng dầu tại Vịnh Vân Phong
- Công văn số 5275/TM-ĐT, ngày 18/11/2003 của Bộ Thương Mại về việc góp
ý kiến đồ án lập QH chung xây dựng khu KTTH Vân Phong – Khánh Hòa đến năm 2003
- Công văn số 1529/BTNMT-VP, ngày 02/07/2003 của Bộ Tài Nguyên Môi
Trường về việc góp ý QH chi tiết cảng TCQT Vân Phong – Khánh Hòa
Trang 15- Công văn số 3478/BTNMT-KHCN, ngày 26/11/2003 của Bộ Tài Nguyên Môi
Trường về việc góp ý đồ án lập QH chung xây dựng khu KTTH Vịnh Vân Phong đến năm 2020
- Công văn số 1145/BXD-KTQH, ngày 04/07/2003 của Bộ Xây Dựng về việc
góp ý QH chi tiết cảng TCQT Vân Phong – Khánh Hòa
Chương 2 TỔNG QUAN VỀ KHU KINH TẾ TỔNG HỢP
VỊNH VÂN PHONG
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Trang 162.1.1 Vị trí địa lý:
- Vịnh Vân Phong có tọa độ địa lý: 12015’÷12050’ Vĩ Độ Bắc và
109010’÷109025’ Kinh Độ Đông:
+ Phía Bắc giáp Tỉnh Phú Yên
+ Phía Nam giáp Hòn Hèo
+ Phía Đông giáp Biển Đông
+ Phía Tây giáp các xã miền núi của 2 Huyện Ninh Hòa và Vạn Ninh
- Vịnh Vân Phong thuộc Tỉnh Khánh Hòa, cách Thành phố Nha Trang 50 Km về phía Nam Đây là một vùng vịnh phong phú, có hệ sinh thái đa dạng: rừng nhiệt đới, rừng ngập mặn; động thực vật biển nông ven bờ, bờ biển, bãi biển và nhiều cồn cát; đặc biệt có hệ thống đảo, bán đảo có cảnh quan đẹp và hấp dẫn; là khu vực có vịnh sâu và kín gió
2.1.2 Địa hình:
- Địa hình đất liền: bao gồm một phần khu vực Huyện Ninh Hoà và một phần
Huyện Vạn Ninh, địa hình đầm lầy có dạng cửa sông và ruộng canh tác chạy dọc theo đường sắt và Quốc Lộ 1A
+ Khu vực đầm lầy có độ cao thấp, trũng, quanh năm ngập nước, nền đất yếu Khu vực này là các ruộng nuôi tôm hoặc các đầm: Đầm Môn, Đầm Nha Phu và các cửa sông
+ Khu vực ruộng muối nền thấp trũng
+ Khu vực ruộng lúa canh tác hoặc các khu dân cư có cao độ từ 1.5 – 20 m là đất thuận lợi cho xây dựng, nền đất chịu tải tốt, xen kẽ các núi nhô ra biển, đá biến chất hay đá vôi bị phong hoá
Trang 17- Địa hình bờ đảo hoặc bán đảo: gồm các đảo trong vịnh, các đá trầm tích biến
chất phủ lên trên là lớp thực vật dày và đất đá Felalit Bao quanh đảo có các dải san hô mềm khá rộng Xen kẽ là các bãi cát kéo dài dọc bờ, khá yên sóng thuận tiện cho bãi tắm
- Dạng địa hình tích tụ Aluvi biển trên các bãi bồi cổ: là các bãi bồi được các
sông từ phía Tây mang về Các bãi này dài hàng trăm mét gồm đất cát pha hoặc đất phù sa có chứa vỏ xác sinh vật Ơû các cửa sông là dải thực vật ngập mặn
- Địa hình ven bờ và đáy vịnh:
+ Vùng ven bờ được che chắn các dãy núi nhất là khu vực phía Bắc, các bãi cát thoải dần
+ Đáy vịnh do sự biến đổi địa chất từng khu vực có độ nông sâu khác nhau Theo tài liệu nghiên cứu địa chất, địa mạo phục vụ phát triển du lịch Vân Phong – Đại Lãnh của TS.Lại Huy Văn chủ biên 1997:
Vụng Bến Gội sâu: < -20m
Vịnh Vân Phong sâu: - 20 ÷ - 30m
Vụng Lạch Cổ Cò và Cửa Bé sâu: < - 20m
2.1.3 Khí hậu:
Vịnh Vân Phong có khí hậu đặc trưng rất rõ rệt so với tỉnh Khánh Hoà,
do có yếu tố địa hình đất liền và vùng vịnh che chắn Có độ ẩm và chế độ mưa thấp nhất tỉnh Khánh Hoà
- Nhiệt độ không khí:
+ Nhiệt độ không khí trung bình năm: 26.5 0C
+ Nhiệt độ không khí thấp nhất: 15.8 0C (1984)
+ Nhiệt độ không khí cao nhất: 37.9 0C (8/1976)
Trang 18- Lượng mưa:
+ Tổng lượng mưa trung bình năm: 1,100 – 1,300 mm/năm
+ Lượng mưa năm cao nhất: 2,154.6 mm (1981)
+ Lượng mưa năm ít nhất: 618.7 mm (1982)
+ Lượng mưa tập trung vào các tháng 9, 10, 11 Các tháng còn lại (12 – 8 năm sau) là mùa khô
+ Số ngày mưa trung bình trong năm: 73 ngày, tháng có mưa nhiều nhất là
22 ngày, tháng ít nhất là tháng không có ngày mưa
- Độ ẩm
+ Độ ẩm trung bình nhiều năm là 80%
+ Độ ẩm trung bình từ tháng 8 đến tháng 12 là 83%
+ Độ ẩm trung bình từ tháng 3 đến tháng 7 là 77%
+ Các tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 6 và tháng 7:
Độ ẩm < 50% có 2 ngày
Độ ẩm < 55% chiếm khoảng 15 – 20 ngày
- Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình năm 2500 giờ/năm Tháng nắng cao nhất
300,8 giờ Tháng nắng thấp nhất 52.8 giờ (tháng 12/1995) Đây là khu vực có số giờ nắng cao thứ hai so với cả nước (sau Phan Rang)
- Gió: Mang đặc trưng chế độ nhiệt đới gió mùa
+ Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau
+ Gió mùa Tây Nam thịnh hành từ tháng 6 đến tháng 9, thường khô nóng, kéo dài 5 – 7 ngày, tốc độ gió đạt 10 m/s Tuy nhiên yếu tố địa hình chi phối
Trang 19khu vực này có gió Tu Bông hướng Tây Bắc ra phía biển kèm theo tiết trời mát mẻ hơn.
- Bão: Khu vực Vịnh Vân Phong ít chịu ảnh hưởng của bão do các dãy núi và
các đảo che chắn Số cơn bão trung bình năm là 0.75 cơn/năm, bão thường gây ra gió mạnh ở vùng ven biển, mưa lớn ở đầu nguồn các sông gây ra tình trạng ngập lụt ở đồng bằng và xói lở bờ biển Tốc độ gió mạnh nhất 30 m/s (tháng 3/1993)
- Giông: Tổng số ngày có giông trong năm khoảng 30 – 40 ngày, thường xuyên
xuất hiện vào tháng 5 – 9 (trung bình từ 6 – 10 ngày/tháng)
- Sương mù: Trong khu vực chỉ có các làn sương nhẹ vào buổi sáng, thường có
vào tháng 12, tháng 1, tháng 2, ít ảnh hưởng đến các hoạt động trên biển và du lịch
Nhận xét chung: Đặc trưng khí hậu khu vực Vịnh Vân Phong thuận lợi
cho phát triển kinh tế và du lịch, nhất là thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản
2.1.4 Đặc điểm thuỷ văn:
Mỗi khu vực thuộc Vịnh Vân Phong chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn khác nhau
2.1.4.1) Khu Vực Huyện Vạn Ninh:
a) Sông Đồng Điền: Bắt nguồn từ đỉnh cao 806 m, thượng nguồn là suối Bình
Trung chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam qua các xã Vạn Bình, Vạn Phú và đổ ra Biển Đông tại xã Vạn Thắng Sông Đồng Điền có lưu vực nhỏ, thảm phủ nghèo nàn, khả năng điều tiết nước trong lưu vực kém, nguồn nước trong lưu vực sông so với Sông Cái Nha Trang, Sông Cái Ninh Hoà và Sông Tô Hạp ít hơn nhiều, tại điểm cửa ra của sông có đặc trưng sau:
- diện tích lưu vực: F = 83 km2
- chiều dài sông: L = 15 km
Trang 20- độ dốc lòng sông: i = 13.2‰
Aûnh hưởng của mặn vào sông không sâu khoảng 3 km (hạ lưu đập Phu Hội còn gọi là đập Đồng Dưới)
Đặc trưng dòng chảy năm: lượng mưa bình quân năm 1615 mm , lưu lượng trung bình 1.94 m3/s, mô đun dòng chảy 23.4 l/s/km2 Khối lượng nước 61.176.106 m3
Lưu lượng theo thiết kế ứng với tầng suất:
- Q (m3/s) = 1.85 với p = 50% W = 58.34.106
- Q (m3/s) = 1.43 với p = 75% W = 45.1.106
- Q (m3/s) = 0.96 với p = 95% W = 30.27.106
Các công trình thuỷ lợi trên sông:
- Đập dâng Đồng Điền tưới 500 ha, thiết kế 900 ha
- Đập dâng Phú Hội tưới và ngăn mặn, tưới 165 ha, thiết kế 300 ha
Thoát lũ cửa sông: do rừng bị phá huỷ, bề mặt lưu vực bị xói mòn dễ sinh lũ quét Khi lũ về đến hạ lưu không thoát nhanh được vì hiện nay cửu sông đang bị lấn chiếm làm đìa tôm, bờ đìa quá cao, lòng sông dần bị thu hẹp cản trở khả năng thoát lũ vùng cửa sông gây úng ngập vùng đìa xung quanh Những khu vực này khi có lũ nguồn về làm ngập nước 3 ngày sau nước mới rút hết (bình thường không có đìa tôm thì 1 ngày nước sẽ rút hết) Do vậy cần có quy hoạch các cửa sông thoát lũ, thông thoáng để nước được thoát nhanh, đồng thời tăng mặt phủ bằng cách trồng rừng đầu nguồn
b) Sông Cạn: Bắt nguồn từ Hòn Dông, Hòn Giao với độ cao 840 m, chảy theo
hướng Tây Bắc – Đông Nam là ranh giới giữa hai xã Vạn Phước và Vạn Long đổ
ra biển tại Hải Triều Với chiều dài 14 km, diện tích lưu vực 86 km2, chiều rộng bình quân lưu vực 8.6 km Sông có nước quanh năm Hiện tại có 3 công trình thuỷ lợi: đập Sổ, đập Suối Song, đập Hải Triều tưới cho 340 ha lúa 2 vụ
Trang 21c) Sông Hiền Lương: Bắt nguồn từ dãy núi cao phía Tây giáp Huyện Sông
Hinh (tỉnh Phú Yên) với độ cao 1200 m, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam qua xã Vạn Phú và Vạn Long rồi đổ ra biển Đông Sông Hiền Lương có chiều dài
18 km, diện tích lưu vực 154 km2, chiều rộng trung bình lưu vực 8.6 km Sông quanh năm có nước và có 2 đập là đập Vĩnh Huề, đập Suối Rễ dùng tưới cho hơn
500 ha lúa và hoa màu của 2 xã: Vạn Phú và Vạn Long
2.1.4.2) Khu Vực Huyện Ninh Hoà:
Vọng Phu – Đèo Cả) chảy theo hướng Bắc Nam, khi cách Dục Mỹ 500 m về phía hạ lưu sông nhận thêm nước ở Suối Trâu là các phụ lưu khá lớn nằm bên phải, khi đến Phú Mỹ hướng chảy lệch sang hướng Đông – Tây cách thị trấn Ninh Hoà
1 km về phía Tây sông nhận thêm nước của sông Đá Bàn bắt nguồn từ núi Đá Đen cao 115 m chảy theo hướng Bắc Nam có chiều dài 37 km, diện tích lưu vực
358 km2 Phụ lưu suối Tân lâm dài 30 km bắt nguồn từ núi cao 760 m, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Các phụ lưu này hợp với sông chính ở hạ lưu tạo thành sông Cái Ninh Hoà có dạng hình quạt chảy vào Đầm Nha Phu tại cửa sông Hà Liên nên ảnh hưởng của triều không sâu khoảng 8.5 km tại hạ lưu Đập Bến Bắp
Các thông số đặc trưng của sông Cái Ninh Hoà:
- Cao độ nguồn h = 1300 m
- Diện tích lưu vực F = 964 km2
- Chiều dài sông l = 49 km
- Tổng lượng mưa chuẩn trung bình trên lưu vực X0 = 1440 mm
- Lượng bốc hơi trung bình là 740 mm
- Độ sâu dòng chảy chuẩn bình quân lưu vực Yo = 913 mm
- Mô đun dòng chảy Mo = 29.01 l/s/km2
- Hệ số dòng chảy k = 0.63
Trang 22- Độ dốc lòng sông i = 2.45 %
- Lưu lượng trung bình Qo = 12.36 m3/s
- Tổng lượng dòng chảy trung bình năm W = 675.106 m3
Sông Cái Ninh Hoà là sông lớn thứ hai sau sông Cái Nha Trang, sông có khả năng thuỷ điện như thác Ea Krông Rua với công suất khoảng 22.000KW Hiện tại đã xây dựng hai hồ chứa nước là hồ Dư Bàn (trên sông Đá Bàn) và hồ Suối Trầu (trên sông Suối Trầu), ngoài ra còn có 3 đập dâng: Đập Cái (xã Ninh Xuân), Đập Chị Trừ (thị trấn Ninh Hoà), Đập Bến Bắp (xã Ninh Giang)
Bảng 2-1: Dòng chảy bình quân nhiều năm theo tần suất thiết kế
Mùa mưa: (từ tháng 9 đến tháng 12) chủ yếu tập trung vào tháng 10 và tháng 11, lưu lượng nước chiếm 70÷80% tổng lượng nước vì vậy mùa mưa thường gây ra lũ lụt Chính vì thế việc xây dựng các công trình thuỷ lợi trên sông để điều tiết lưu lượng nước cho các mùa, giảm mức ảnh hưởng do lũ gây ra là sự cần thiết
Hiện tại trên sông có 3 hồ chứa nước là: Hồ Đá Bàn, Hồ Suối Trầu và Hồ Suối Sim với tổng lưu lượng là 86.6 triệu m3; có 12 đập dâng, diện tích 13630
ha, trong đó 637 ha lúa nhưng thực tế chỉ mới có 6284 ha Nguồn nước này còn cung cấp cho công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và là nước sinh hoạt cho dân sống
Trang 23Thoát lũ cửa sông (hạ lưu đập Bến Bắp): hiện tại vùng cửa sông bị dân lấn chiếm làm đìa tôm dẫn đến mặt cắt ngang bị thu hẹp Bờ các đìa tôm đắp cao nên hạn chế khả năng thoát lũ vùng cửa sông và hạn chế việc rút nước từ trong đồng ra Mặt khác do tình trạng phá rừng đầu nguồn làm tăng tốc độ xói mòn đầu nguồn, tăng lượng bùn đất lắng đọng tại cửa sông gây ra hiện tượng ngập úng Các khu vực này ngập trong khoảng 1 tháng mới rút hết nước (xã Ninh Phú và xã Ninh Đa) Mới đây cửa sông Cái có làm đê ngăn lũ, ngăn mặn nhưng chứa theo qui hoạch đồng bộ Cần có giải pháp qui hoạch đồng bộ như sau: tăng diện tích rừng đầu nguồn (có chương trình và thực hiện trồng rừng đầu nguồn theo đúng định kỳ), có các công trình điều tiết nước, sử dụng cửa sông hợp lý và luôn thông thoáng thuận tiện cho việc thoát nước thật nhanh khi có lũ về.
b) Các sông suối nhỏ khác: Sông Rò Tượng thượng nguồn là Suối Chay, Suối
Ngang với độ cao 900 m chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc đổ ra Biển Đông có chiều dài 9.5 km, diện tích lưu vực là 60 km2, trên sông có Đập Hàm Rồng có lưu vực 52 km2 tưới cho 220 ha lúa của xã Ninh Lê
2.1.5 Đặc điểm hải văn:
Theo tài liệu của trạm khí tượng thuỷ văn khu vực phía Nam, tài liệu của dự án Quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch Vân Phong – Đại Lãnh năm
1997, tài liệu báo cáo dự án cảng trung chuyển Quốc Tế Vân Phong – Tỉnh Khánh Hoà năm 2003 (do công ty tư vấn thiết kế GTVT phía Nam – TEDI SOUTH và xí nghiệp tư vấn thiết kế cảng kỹ thuật biển – PORTCOAST TANT lập) Các thông số mực nước triều tại một số điểm do trong khu vực nghiên cứu có liên quan đã qui đổi theo hệ cao độ Quốc Gia như sau:
Bảng 2-2: Các thông số mực nước triều trong khu vực nghiên cứu
Vũng Rô Hòn Ông Nha Trang Ninh Hoà, Vạn Ninh
Trang 242.1.6 Cấu tạo địa chất và địa chất công trình:
Khu vực vịnh Vân Phong có cấu tạo trầm tích biển và trầm tích đệ tứ, ở bờ biển có cấu tạo cát, cát pha cuội sỏi, san hô, vỏ sò ốc,…ở vịnh có các dải san hô ngầm, một số núi đá chạy sát biển gồm đá tảng và đá gốc Khu vực này hiện chưa có tài liệu khảo sát địa chất công trình
2.1.7 Địa chất thuỷ văn:
- Các khu vực sát bờ biển mực nước ngầm cách mặt đất 1 – 2m, bị nhiễm mặn.
- Khu vực bán đảo Hòn Gốm – Đầm Môn đang có dự án khả thi khai thác và xử
lý nước ngầm
2.2 HIỆN TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC VỊNH VÂN PHONG
2.2.1 Hiện trạng dân số và lao động:
2.2.1.1) Hiện trạng dân số:
- Dân số đô thị: 41,867 người, tốc độ tăng trưởng dân số trung bình trong gia đoạn 1999 – 2005 là 4.8% năm
- Dân số nông thôn: 184,111 người Trong đó, dân ngư nghiệp tại bán đảo Hòn Gốm và đảo Hòn Lớn:
+ Thôn Khải Lương: 200 hộ dân
Trang 25+ Thôn Đầm Môn Dưới (xã vạn thạnh):1,000 hộ dân
+ Thôn Bãi Tre (xã ninh đảo): 70 hộ dân
+ Thôn Bãi Tranh (đảo hòn lớn): 200 hộ dân
2.2.1.2) Hiện trạng lao động:
Ngoài một bộ phận lao động dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp tập trung tại các điểm đô thị, lao động trong khu vực nghiên cứu chủ yếu là lao động nông nghiệp, thuỷ sản hay kết hợp nông – ngư nghiệp
Tổng dân số trong độ tuổi lao động ước tính khoảng 115,000 người
Bảng 2-3: Hiện trạng dân số khu vực vịnh vân phong
2005
Trang 26II.10 Xã Vạn Lương 10,493 10,942
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Vạn Ninh và huyện Ninh Hoà
2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất và nước mặt:
2.2.2.1) Hiện trạng sử dụng đất:
Đất xây dựng đô thị: trong khu vực nghiên cứu thiết kế có một số điểm đô thị tập trung như:
- Đất làng xóm: trong khu vực nghiên cứu hiện đang tồn tại hai koại hình dân
cư nông thôn là làng xóm dân cư nông nghiệp, làng xóm dân cư ngư nghiệp Làng xóm dân cư ngư nghiệp truyền thống tập trung tại khu vực bán đảo Hòn Gốm
Trang 27- Khu dân cư nông nghiệp các xã Vạn Bình, Vạn Lương và Vạn Hưng của huyện Vạn Ninh; các xã Ninh Hải, Ninh An, Ninh Thủy của huyện Ninh Hoà.
- Khu dân cư ngư nghiệp các xã Vạn Thọ, Vạn Long, Vạn Thắng và Vạn Thạnh của huyện Vạn Ninh; các xã Ninh Hải, Ninh Thủy và Ninh Phước của huyện Ninh Hoà
- Thị trấn Vạn Giã: là thị trấn huyện lỵ huyện Vạn Ninh, qui mô diện tích đất xây dựng đô thị là 203 ha
- Thị trấn Ninh Hoà: là thị trấn huyện lỵ huyện Ninh Hoà, qui mô diện tích xây dựng đô thị là 294 ha
Đất xây dựng khu công nghiệp, bến cảng:
- Khu công nghiệp: KCN Ninh Thủy theo dự án lập quy mô là 200 ha, hiện có nhà máy xi măng Hòn Khói; nhà máy đóng tàu Huyndai – Vinashin có diện tích 200 ha thuộc xã Ninh thủy; xí nghiệp tuyển cát Đầm Môn
- Khu cảng: cảng Hòn Khói là cảng xuất muối và cảng cát Đầm Môn cát
Đất xây dựng khu du lịch – nghỉ mát:
- Khu du lịch – nghỉ mát Dốc Lết.
- Khu du lịch – nghỉ mát Đại Lãnh
- Khu du lịch Hòn Oâng (Đầm Môn)
Đất nông nghiệp, lâm nghiệp: phần lớn tập trung ở khu vực phía Tây huyện Vạn Ninh và huyện Ninh Hoà thuộc Vịnh Vân Phong
Đất quốc phòng: Vịnh Vân Phong là khu vực có vị trí quan trọng đối với nhiệm vụ quốc phòng ở miền Trung nói chung và Tỉnh Khánh Hoà nói riêng Trong khu vực Vịnh Vân Phong có một số vị trí tại bán đảo Hòn Nèo, Hòn Lớn, Nam bán đảo Hòn Gốm, Đông – Bắc Hòn Khói, Đèo Cả, Đèo Cổ Mã là những khu vực quốc phòng quản ly ù(Văn bản số 2954/QP, ngày 01/10/2001 của bộ quốc phòng góp ý về định hướng quy hoạch chung xây dựng khu vực Vịnh Vân Phong – tỉnh Khánh Hoà
Trang 282.2.2.2) Hiện trạng sử dụng nước mặt:
Khu vực nước mặt phía Tây – Nam đảo Hòn Lớn được sử dụng làm trung chuyển Kể từ tháng 5/2001 đến tháng 8/2003 công ty cổ phần Hàng Hải – Cục Hàng Hải Việt Nam đã tổ chức thực hiện thành công 13 chuyến chuyển tải dầu nhập khẩu cho công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và 2 chuyền dầu quá cảnh cho chủ hàng Chevrotexaco (Mỹ) với tổng lượng hàng thông qua khoảng 1,156,683 tấn và 121 lượt tàu vào Vịnh Vân Phong
Nuôi trồng thuỷ sản Vịnh Vân Phong – Bến Gỏi: thuỷ sản được nuôi trồng là tôm hùm, cá mú, ốc hương, ngọc trai Phần lớn được nuôi trồng tại bờ Đông của Vịnh Vân Phong, Vụng Trâu Nằm, Vụng Đầm Môn
Bảng 2-4: Diện tích và sản lượng
Số lồng nuôi Tôm Hùm, Cá Mú 3,600 3,850 5,100
Nguồn: Tài liệu hội thảo khai thác tiềm năng và xây dựng Vân Phong thành vùng kinh tế trọng điểm, quốc gia Nuôi trồng Thuỷ sản và bảo vệ môi trường vùng vịnh Vân Phong – Nguyễn Thị Xuân Thu – Trung tâm nghiên cứu thuỷ sản III – 18/09/2003.
2.2.3 Hiện trạng xây dựng:
Trang 29Hiện nay, trong khu vực nghiên cứu tại các thị trấn đã và đang phát triển xây dựng các công trình nhà ở, công trình phúc lợi công cộng, các cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị như đường sá, cấp điện, cấp nước… Ngoài ra trong khu vực này đã xây dựng các công trình sản xuất có quy mô lớn mang ý nghĩa tạo vùng như:
- Nhà máy đóng tàu HYUNDAI – VINASHIN: Qui mô diện tích nhà máy là
200 ha trong đó có 100 ha mặt đất, 100 ha nước mặt; tính chất nhà máy: sửa chữa và hoán cải tàu biển, đóng mới tàu biển, gia công kết cấu thép và kết cấu chân để dàn khoan
- Nhà máy xi măng Hòn Khói
- Xí nghiệp tuyền cát Đầm Môn
- Cảng cát Đầm Môn: là cảng xuất cát của xí nghiệp khai thác cát tại Đầm Môn Công suất là 0.1 tr tấn/năm; cỡ tàu: 10,000 DWT: Cầu bến: 1 bến
- Cảng Hòn Khói: cảng tổng hợp địa phương chủ yếu phục vụ cho xuất muối và hàng nội địa Công suất: 0.08tr tấn/năm; cở tàu: 600 DWT: Cầu bến dài: 60m
- Các khu vực nuôi tôm, nuôi cá lồng trong Vịnh Vân Phong Nuôi cá lồng trong vũng Đầm Môn…
- Đến nay, có một số địa điểm thuộc vùng Vịnh Vân Phong đã được khai thác một phần phục vụ du lịch, tham quan, tắm biển, vui chơi giải trí nghĩ dưỡng như: khu du lịch dốc lết, bãi biển đại lãnh, khu du lịch đảo hòn ông, khách sạn đầm môn, khách sản thuỷ thủ… Các cơ sở này bước đầu đã đáp ứng một phần nhu cầu của khách sạn du lịch nhưng chỉ với quy mô nhỏ và phân tán
Các dự án đã và đang trình duyệt đầu tư xây dựng: dự án khu dân cư Ninh Thuỷ, dự án KCN tập trung Ninh Thuỷ, dự án khu du lịch Đại Lãnh
2.2.4 Hiện trạng các bãi biển, bờ đảo và bãi cát:
Trang 30Cảnh quan địa hình bờ, bãi biển đẹp và bờ cát mịn có cao độ từ – 3.0 ÷
+2.0 m như sau:
- Khu vực bãi du lịch Dốc Lết: dài 4 km, bãi thoải rộng 200 ÷ 500 m, cát mịn trắng, mặt phẳng không có gò ngầm và trũng sâu thuận lợi cho khai thác bãi tắm phục vụ du lịch
- Bãi Đông Hòn Khói: dài 3 km, nền đất thoải rộng, cát mịn xen lẫn các đám san hô sống và chết – phục vụ khách du lịch tham quan bãi bờ biển
- Bãi phía Đông Hòn Bịp: Dài 1.5 km có cảnh quan đồi núi khá hoang sơ, bãi cát rộng 500 ÷ 800 m được trồng khá nhiều dừa và khu dân cư làng cá 40 hộ dân Phần ngập nước là bãi cát trắng mịn rộng 200 ÷ 300 m, thuận lợi cho xây dựng một làng du lịch nghỉ ngơi chữa bệnh
- Bãi Đại Lãnh: chạy bao quanh vịnh Đại Lãnh có chiều dài 2 km, phần ngập nước rộng 400 ÷ 500 m và sâu 5 ÷ 7 m, cát trắng mịn và lặng sống
- Bãi Tây Nam Hòn Nưa: nằm trên đảo Hòn Nưa cách đất liền 1.5 km, dài 400
m, rộng 200 m được che kín sóng, gió Đông Bắc Mặt cát mịn và thoải, xa đất liền và dân cư, có thể xây dựng bãi tắm và nghỉ ngơi chữa bệnh
- Khu bán đảo Hòn Gốm: nằm ven bờ Đầm Môn, ven bờ đảo Hòn Đỏ, ven bờ lạch Cửa Bé và lạch Cổ Lò, dài 200 ÷ 500 m và rộng 200 ÷ 300 m, nằm xen giữa các rạng san hô Khu vực đông bán Đảo Hòn Gốm có nhiều bãi cát rộng và dài như Bãi Cát Tuần Lễ, Bãi Cát Thắm, Bãi Hòn Ngang, Bãi Mũi Hòn Chò rất thuận tiện phát triển du lịch sinh thái biển; núi phía Nam và Đông Nam Bán Đảo Hòn Gốm là khu rừng thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái núi…
Tính chất nước biển khu vực Vịnh Vân Phong có độ mặn cao, nước trong xanh và ấm mang tính chất biển mát thuận tiện cho hoạt động săn bắn, bơi lặn dưới nước của các du khách muốn tham quan cảnh đáy biển Các yếu tố động
Trang 31lực nhằm đưa đến ý tưởng hoạt động du lịch sắn bắn và bơi lặn ngắm đáy biển là: lặng sóng, nước luôn luôn trong xanh, không có gió xoáy và xiết…
Về khí hậu động: nắng quanh năm, lượng bốc hơi lớn Có yếu tố gió lục địa nóng khô (gió Tu Bông) nhưng có gió Đông Bắc và Đông Nam làm cho khí hậu trở nên dịu mát hơn
Các công trình thuỷ lợi cung cấp nước cho việc phát triển kinh tế bao gồm: nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất công nghiệp, phục vụ cho cảng, phục vụ du lịch và sinh hoạt của dân cư trong toàn khu vực Vịnh Vân Phong, đồng thời chống lũ cho vùng hạ lưu
Bảng 2-5: Các công trình thuỷ lợi hồ, đập trong khu vực Vịnh Vân Phong
Công trình
Diện tích lưu vực (km 2 )
Dung tích chứa (1000 m 3 )
Chiều dài kênh (m)
Diện tích tưới (ha)
Nội dung đầu tư xây dựng
3 Hồ Suối Trầu 43.5 9810 20000 1000 Hồ, tràn, kênh
7 Hồ Suối Sim 21.75 3000 600 440 Nâng đập kéo
dài kênh
Trang 32-13 Hồ Suối Sình 1.0 300 1625 20
-Nguồn: Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Khánh Hoà năm 2004
2.2.5 Hiện trạng các khu vực có khả năng khai thác và phát triển du lịch,
các khu vực xây dựng và phát triển đô thị, các khu vực phát triển cảng và phát triển công nghiệp:
Các bãi cát mịn có khả năng dùng làm bãi tắm, xây dựng các công trình phục vụ phát triển du lịch, có độ cao từ – 2.0 m ÷ +2.0 m gồm có: Dốc Lết, Đại Lãnh và các bãi trên bán đảo Hòn Gốm
Các khu vực có khả năng xây dựng đô thị:
- Khu vực lấn bãi biển ở Vịnh Cổ Cò có độ cao hiện trạng -3.0 ÷ +2.5m, cần đắp nền từ 3.0 ÷ 5.0m
- Khu vực Tu Bông cao độ hiện trạng +2.0 ÷ +4.0m, cần đắp thêm từ 0.5 ÷
1.5m
- Khu thị trấn Vạn Giã có cao độ nền hiện trạng +1.5 ÷ +5.4 m, cần đắp thêm từ 0.5 ÷ 1.5m
- Khu vực Đại Lãnh có cao độ nền hiện trạng > + 4.0 m
- Khu vực thị trấn Ninh Hoà có cao độ nền hiện trạng + 1.8 ÷ 12 m, cần sang đắp tại chỗ
Trang 33Khu công nghiệp: KCN Ninh Thuỷ, KCN Ninh Phước (Huyndai – Vinashin) có một phần đất xây dựng giáp núi có độ dốc khá lớn.
Khu vực phát triển cảng lớn thuận tiện là khu vực Đầm Môn, có độ sâu đáy biển từ 20 – 30 m
Nhìn chung khu vực Vịnh Vân Phong thuận lợi cho việc xây dựng các khu du lịch: bãi tắmdài và sạch, nước rất trong xanh, bờ thoải, bãi cát trắng mịn… Các khu vực thuận lợi cho phát triển xây dựng mở rộng đô thị là: Tu Bông, Vạn Giã, Đại Lãnh, Ninh Thuỷ và Ninh Phước Riêng một số khu vực thị trấn Ninh Hoà và khu vực Vụng Trâu nằm trên địa hình thấp trũng phải đắp nền > 2.0 m
2.2.6 Hiện trạng hệ thống giao thông:
Hệ thống giao thông trong khu vực Vịnh Vân Phong có 4 loại hỉnh: đường hàng không, đường sắt, đường thuỷ và đường bộ Đây là lợi thế về giao lưu của khu vực Vịnh Vân Phong với các địa bàn trong cả nước cũng như quốc tế về các lĩnh vực thương mại, du lịch, sản xuất kinh doanh và trao đổi hàng hoá
a) Đường hàng không:
Liên hệ giao thông hàng không không đến Vịnh Vân Phong nhưng thông qua các cảng hàng không khác là: sân bay Cam Ranh (Khánh Hoà) và sân bay Đông Tác (Phú Yên)
Sân bay Cam Ranh: nằm theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, là sân bay cấp 1, có hai đường cất hạ cánh, một đường bằng bê tông và một đường phụ kiễu dã chiến (nền đất nện, mặt lát ghi: hiện đã hư hỏng nặng), mỗi đường băng có chiều dài khoảng 3050 m, rộng từ 35 ÷ 45 m Sân bay có khả năng tiếp nhận và cho cất hạ cánh máy bay quân sự và vận tải hàng nặng có tải trọng cất cánh <200 tấn, là sân bay quân sự lớn nhất nước ta hiện nay,
Sân bay Đông Tác cách Vịnh Vân Phong khoảng 30 km về phía Bắc thuộc tỉnh Phú Yên và hiện là sân bay quân sự
Trang 34b) Đường sắt: tuyến đường sắt Bắc – Nam qua khu vực Vịnh Vân Phong dài
khoảng 50 km, có 5 ga dọc tuyến là ga hỗn hợp, năng lực thông qua 8 đôi tàu khách/ngày đêm, 6 đôi tàu hàng/ngày đêm
+ Nhà máy đóng tàu Huyndai – Vinashin: với các hoạt động sửa chữa, đóng mới tàu biển, gia công kết cấu chân đế giàn khoan, vận tải hàng hoá và hành khách Có 2 ụ tàu với công suất 80,000DWT và 400,000DWT, cầu tàu dài 1350m, phân xưởng vỏ tàu 23m*150m
(Báo cáo về hoạt động của công ty TNHH nhà máy tàu biển Hyundai – Vinashin vào ngày 22/08/2000)
- Đường thuỷ nội địa: hệ thống bến đò ở hai huyện Vạn Ninh và Ninh Hoà nối các điểm du lịch và các khu dân cư vùng ven biển và các đảo trong khu vực Vịnh Vân Phong
Trang 35lượng hàng hoá thông qua 13000 tấn/ngàyđêm (theo quy hoạch phát triển giao
thông vận tải tỉnh Khánh Hoà đến 2010).
- Quốc lộ 26 nối quốc lộ 1 tại thị trấn Ninh Hoà với thành phố Buôn Mê Thuột Hiện tại tuyến quốc lộ 26 có mặt đường rộng 10 ÷ 12 m, nền đường 20 ÷ 26 m, lưu
lượng xe khách quy đổi 4000 xe/ngđ, lượng hàng hoá thông qua 440 tấn/ngđ (theo
quy hoạch phát triển giao thông vận tải tỉnh Khánh Hoà đến 2010).
- Tuyến đường Đầm Môn mới được thi công năm 2000 có lòng đường rộng 7 m mặt bê tông atphan, nền đường rộng 13 m, nối đèo Cồ Mã với Đầm Môn
Trong khu vực vùng Vịnh Vân Phong hệ thống đường quốc lộ có 2 điểm giao thông cắt với đường sắt Bắc – Nam tại Vạn Giã và Ninh Hoà Ccá tuyến quốc lộ là đường cấp II hoặc cấp III, có mặt cắt nhỏ, lòng đường rộng trung bình 7 m, nền đường rộng trung bình 12 m, mặt đường bê tông atphan đã xuống cấp, cần được nâng cấp cải tạo
Các tuyến tỉnh lộ 1, 1B, 6, 7… có mặt cắt nhỏ, lòng đường 3 ÷ 5 m, nền đường 7 ÷ 9 m, đã xuống cấp
Các tuyến đường trung tâm thị trấn có mặt cắt tương đối lớn bình quân lộ giới tuyến đường chính trung tâm thị trấn Ninh Hoà là 20 m, mặt đường 10m
Các tuyến đường đô thị khác đều có mặt cắt nhỏ, đã bị xuống cấp, mạng lưói tạo nhiều giao cắt nhất là ở khu vực trung tâm, mặt đường 5 ÷ 6 m, nền đường 10 ÷ 12 m
Khu bán đảo Hòn Gốm mới xây dựng tuyến đường từ quốc lộ 1 vào phục vụ du lịch trong khu vực
Khu vực Vịnh Vân Phong có thuận lợi là khai thác được cả 4 loại hình giao thông Đặc biệt là vị trí duy nhất cho phép xây dựng cảng TCQT với các lợi
Trang 36thế về điều kiện tự nhiên Hạn chế của khu vực về giao thông là các tuyến tỉnh lộ thường là đường cụt, khả năng phát triển về phía các xã miền núi còn hạn chế.
2.2.7 Hiện trạng hệ thống cấp điện:
a) Nguồn điện: vùng Vịnh Vân Phong hiện đang được cấp điện từ mạng lưới
điện quốc gia qua các nguồn điện sau:
- Từ trạm 220KV Nha Trang: 220/110/22KV – 1*125MVA.
- Từ thuỷ điện Sông Hinh qua đường dây 110KV và 220KV Sông Hinh – Tuy
Hoà – Nha Trang Trực tiếp qua các trạm sau:
+ Trạm Ninh Hoà: 110/35/22KV – 1*25MVA
+ Trạm Vạn Ninh: 110/22KV – 1*25MVA
+ Trạm Huyndai – Vinashin: 110/22KV – 20MVA
b) Lưới điện:
- Lưới điện phân phối: lưới điện 35KV được lấy từ trạm 110KV Ninh Hoà rồi
cung cấp cho các trạm trung gian sau:
+ Trạm trung gian Ninh Hoà: 35/15KV – 2*4000KVA
+ Trạm trung gian Vạn Ninh: 35/15KV – 6300+4000KVA
+ Trạm trung gian Huyndai – Vinashin: 35/15KV – 2500KVA
+ Trạm trung gian Hòn Khói: 35/15KV – 4000KVA
- Lưới điện trung áp: vùng Vịnh Vân Phong đang sử dụng chủ yếu loại 22KV
vận hành ở điện áp 15KV (hầu hết các tuyến đường dây 15KV đã được cải tạo theo tiêu chuẩn 22KV) Khu vực nội thị đã được cấp điện 100%, khu vực ngoại thị chỉ còn một phần các vùng lõm hiện chưa được cấp điện
c) Nhận xét đánh giá hiện trạng mạng lưới cấp điện:
Trang 37- Nguồn điện hiện có đang đáp đủ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của các hộ
phụ tải trong vùng
- Lưới điện 35KV hiện có đang có dự kiến chuyển đổi về vận hành 22KV, các
trạm trung gian 35/15KV sẽ dở bỏ, ngoại trừ trạm F1 Vạn Ninh sẽ cải tạo chuyển thành trạm cắt
- Lưới điện trung áp vùng Vịnh Vân Phong đang sử dụng là lưới điện 22KV
Lưới điện 22KV hiện có là lưới điện nổi với tiết diện dây dẫn nhỏ (AC–120, AC –70, M–60, M–22) với bán kính phục vụ quá dài
- Lưới điện hạ thế hiện có ở nhiều nơi nhưng vẫn còn là lưới điện tạm, cần phải
có quy hoạch cải tại xây dựng lại mới đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của khu vực
Lưới điện chiếu sáng hiện đã có ở các trục đường chính thị trấn Ninh Hoà, thị trấn Vạn Giã Tuy nhiên, do xây dựng thiếu đồng bộ nên chưa đảm bảo các tiêu chuẩn về kỹ thuật và mỹ thuật
2.2.8 Hiện trạng hệ thống cấp nước:
Hiện trạng sử dụng nước của các đô thị và các điểm dân cư tập trung trong vùng
Bảng 2-6 : Hiện trạng cấp nước
T
T
Tên đô thị Tình hình sử dụng
nước
Nguồn nước Ghi chú
1 Thị trấn Ninh Hoà Nhà máy nước
Nguồn: Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Khánh Hoà đến năm 2010
Nhận xét hiện trạng cấp nước :
Trang 38- Các nhà máy nước tại Ninh Hoà và Vạn Giã đều mới được xây dựng theo dự án nên đạt tiêu chuẩn chất lượng.
- Các xã và các điểm dân cư tập trung nông thôn dùng nguồn nước suối hoặc nước kênh mương và nước giếng mạch nông nên chất lượng nước khômg được bảo đảm vì nước chưa được xử lý
2.2.9 Hiện trạng hệ thống thoát nước:
Hiện trạng hệ thống thoát nước mưa:
- Hệ thống thoát nước là hệ thống cống chung, chỉ có tuyến chính ở thị trấn Ninh Hoà, thị trấn Vạn Ninh và các cống qua đường trên quốc lộ 1A Ngoài ra có kênh mương thuỷ lợi, các khe suối tự nhiên thoát vào các sông và sau đó ra biển
+ Khu vực Tu Bông thoát ra các suối nhỏ, sau đó thoát ra biển
+ Khu vực Tuần Lễ – Đầm Môn thoát trực tiếp ra biển
Hiện trạng hệ thống thoát nước thải sản xuất và nước thải sinh hoạt: Hầu hết các thị trấn, thị tứ và các khu dân cư nằm trong vịnh chưa có hệ thống thoát nước thải, phần lớn các hộ gia đình dùng xí tự hoại tự thấm Các hộ dân cư nông thôn, nhất là vùng ven biển hầu như không có hố xí, tình trạng phóng uế ra bờ sông, bờ biển rất phổ biến, đây chính là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất, nước, mất cảnh quan khu vực, tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển, đặc biệt là khu vực Mũi Du Cụm công nghiệp Hòn Khói: có nhà máy đóng tàu
Trang 39Huyndai – Vinashin đã có khu xử lý nước thải nhưng chưa đạt tiêu chuẩn chất lượng Nhà máy xi măng Hòn Khói thì chưa có hệ thống xử lý nước thải, tuy nhiên lượng nước thải ra còn ít nên chưa gây ô nhiễm môi trường xung quanh nhưng trong tương lai sẽ ảnh hưởng đến chất lượng môi trường xung quanh Vì vậy, cần phải sớm đưa ra biện pháp giải quyết tình trạng trên
2.2.10 Hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn:
Hiện nay, trong địa bàn Vịnh Vân Phong – Đại Lãnh việc thu gom rác mới chỉ tiến hành ở 2 thị trấn là Ninh Hoà và Vạn Ninh
- Thị trấn Ninh Hoà và các khu ven thị thu gom được khoảng 45 tấn/ngày, nhà máy đóng tàu Huyndai – Vinashin 20 tấn/ngày Lượng chất thải rắn này được đưa về xử lý tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh hòn Nhọn thuộc thôn Ninh Ích, xã Ninh An với quy mô 20 ha
- Thị trấn Vạn Giã: lượng chất thải rắn thu gom được khoảng 8 tấn/ngày Lượng chất thải rắn này được đưa về đổ tại bãi Dốc Ké, dưới chân núi Hoa Sơn, thuộc xã Vạn Thắng với quy mô 3 ha Bãi này cò sử dụng nền đất tự nhiên, chưa có xử lý kỹ thuật theo yêu cầu của bãi chôn lấp hợp vệ sinh
- Khu dân cư các làng xã chưa tổ chức thu gom và xử lý CTR, CTR đổ bừa bãi
ra đường hoặc đổ xuống biển làm ô nhiễm MT biển, đặc biệt là khu vực Mũi Du, nhân dân đổ rác và phóng uế ra bờ biển làm ô nhiễm MT biển nghiêm trọng
2.3 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHU VỰC VỊNH VÂN PHONG
2.3.1 Hiện trạng môi trường nước
2.3.1.1) Mạng lưới giám sát:
- Môi trường nước của Vịnh Vân Phong được giám sát tại 5 vị trí: Nhà máy
đóng tàu Hyundai Vinashin, Đầm Nha Phu, Đầm Môn, Hòn Mỹ Giang, sông Cái Ninh Hòa Ngoài ra, trong năm 2005 có 3 trạm giám sát sinh học tại Vịnh Vân Phong nhằm đánh giá sự tích lũy các chất ô nhiễm (chủ yếu là kim loại nặng)
Trang 40trong cơ thể sinh vật, và ảnh hưởng của chất lượng nước đến đời sống một số loài chọn lọc trong vùng.
- Các chỉ tiêu được giám sát tại các trạm nước biển ven bờ: pH, TSS, DO, BOD,
Zn, Cu, As, HC và Coliform
- Các chỉ tiêu được giám sát tại các trạm nước mặt: pH, SS, DO, BOD, Zn, Cu,
As, Cl, Nitrat, HC và Coliform
- Tần suất giám sát chất lượng nước là 4 lần/năm.
2.3.1.2) Nhà máy đóng tàu Hyundai Vinashin:
Kết quả giám sát chất lượng nước tại Vịnh Vân Phong năm 2005 cho thấy, các chỉ tiêu TSS, Zn, HC mặc dù còn nằm trong tiêu chuẩn cho phép nhưng vẫn tiếp tục tăng so với năm 2003 và 2004; Cu chưa thấy biến động rõ rệt và vẫn còn cao so với năm 2003, mật độ Coliform cao hơn năm 2004 gấp 3.3 lần và vượt tiêu chuẩn 419 lần
Bảng 2-7: Các chỉ tiêu pH, TSS, BOD, DO đo tại nhà máy Hyundai Vinashin