Khái niệm về đánh giá môi trường chiến lược ĐMC Lịch sử phát triển đánh giá môi trường chiến lược được khởi đầu từ Mỹ, Luật về chính sách môi trường quốc gia của Mỹ năm 1969 đã yêu cầu
Trang 1TRUNG TÂM ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐẤT - TCQLĐĐ Địa chỉ: Số 78/9 đường Giải Phóng, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội
BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT TRÌNH TỰ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC ĐỐI VỚI QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Đắc Nhẫn
8129
Hà Nội, 2010
Trang 2TRUNG TÂM ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐẤT - TCQLĐĐ Địa chỉ: Số 78/9 đường Giải Phóng, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội
BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT TRÌNH TỰ, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC
ĐỐI VỚI QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
Số đăng ký:………
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
ThS Nguyễn Đắc Nhẫn
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐỀ TÀI
TL BỘ TRƯỞNG
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VỤ TRƯỞNG VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TS Nguyễn Đắc Đồng
Trang 3Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Đắc Nhẫn
Cán bộ tham gia nghiên cứu
1 PGS.TS Nguyễn Khắc Thời Khoa Tài nguyên & Môi trường - Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội
2 TS Thái Thị Quỳnh Như Tổng cục Quản lý đất đai - Bộ Tài Nguyên và
Trang 4Từ viết tắt Tên của từ viết tắt
Tiếng Việt
BVMT Bảo vệ môi trường
CL Chiến lược CQK Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
CT Chương trình ĐMC Đánh giá môi trường chiến lược ĐMN Đánh giá môi trường theo ngành ĐTM Đánh giá tác động môi trường KCN Khu công nghiệp
KH Kế hoạch LHQ Liên Hiệp Quốc
QHSDĐ Quy hoạch sử dụng đất QLNN Quản lý Nhà nước TBD Thái Bình Dương Tiếng Anh
ADB Ngân hàng Châu Á CEA Phân tích môi trường quốc gia
EU Cộng đồng Châu Âu UNDP Chương trình phát triển Liên Hiệp quốc UNECE ỦY ban kinh tế Châu Âu của Liên hiệp quốc
WB Ngân hàng thế giới SIDA Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển
Trang 5MỤC LỤC Trang
1 Đặt vấn đề 1
4 Nội dung nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Phương pháp tiếp cận 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG
1.1 Các khái niệm 4 1.1.1 Khái niệm về đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) 4
1.1.2 Khái niệm về đánh giá tác động môi trường (ĐTM) 5
1.1.3 Phân biệt giữa ĐMC và ĐTM 5
1.2 Tổng quan nghiên cứu về ĐMC trên thế giới 6
1.2.1 Sự phát triển của ĐMC trên thế giới 6
1.2.2 ĐMC ở một số nước trên thế giới và một số tổ chức quốc tế 12
1.2.3 Trình tự, nội dung và phương pháp đánh gía môi trường chiến
lược của một số nước trên thế giới và một số tổ chức quốc tế 20
1.2.4 Nhận xét chung về ĐMC của một số nước trên thế giới và một số
1.3 Tổng quan nghiên cứu về ĐMC trong nước 27
1.3.4 Trình tự, nội dung và phương pháp đánh giá môi trường chiến
lược của một số ngành, lĩnh vực 34
1.3.5 Nhận xét chung về ĐMC trong nước 39
1.4 ĐMC đối với quy hoạch sử dụng đất 40
1.4.1 Mối liên quan giữa công tác lập quy hoạch sử dụng đất với công
Trang 61.4.2 Nội dung đánh giá môi trường chiến lược đối với quy hoạch sử
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ
MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC ĐỐI VỚI QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 45
2.1 Các yếu tố liên quan đến ĐMC đối với quy hoạch sử dụng đất 45
2.2 Quy mô tác động của các phương án quy hoạch sử dụng đất đến
2.3 Xu hướng và mức độ tác động đến môi trường của các yếu tố trong
phương án quy hoạch sử dụng đất 53
2.4 Các tiêu chí đánh giá sự phù hợp của phương án quy hoạch sử
2.5 Những vấn đề liên quan đến nội dung ĐMC đối với QHSDĐ từ kết
qua điều tra, khảo sát thực tế 56
CHƯƠNG 3 TRÌNH TỰ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ MÔI
TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC ĐỐI VỚI QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 63
3.1 Trình tự, nội dung đánh giá môi trường chiến lược đối với quy
hoạch sử dụng đất 63
3.1.1 Các bước đánh giá môi trường chiến lược đối với quy hoạch sử
3.1.2 Mối liên quan giữa các bước ĐMC đối với quy hoạch sử dụng
3.1.3 Trình tự, nội dung đánh giá môi trường chiến lược đối với quy
3.2 Phương pháp đánh giá môi trường chiến lược đối với quy hoạch sử
dụng đất 81 3.3 Áp dụng các phương pháp vào các bước ĐMC đối với quy hoạch
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ Trang Danh mục bảng biểu
Bảng 1 Các quy định pháp lý về ĐMC ở một số quốc gia phát triển 8
Bảng 2: Các phương pháp tiếp cận đánh giá tác động môi trường trong
Bảng 3 Các yếu tố liên quan đến ĐMC đối với quy hoạch sử dụng đất 46
Bảng 4 Các nguồn gây tác động đến ĐMC phát sinh khi thực hiện quy
hoạch sử dụng đất 50
Bảng 5 Các tiêu chí đánh giá sự phù hợp của phương án QH sử dụng
Bảng 6 Tổng hợp kết quả điều tra, nghiên cứu thực tế về nguồn gây tác
động và yếu tố tác động đến môi trường từ quy hoạch sử dụng
đất 57 Bảng 7 Tổng hợp kết quả điều tra, nghiên cứu thực tế về đối tượng và
quy mô chịu tác động từ quy hoạch sử dụng đất 59
Bảng 8 Mức độ chịu tác động của các đối tượng trong QH sử dụng đất 60
Bảng 9 Các tiêu chí đánh giá môi trường chiến lược đối với quy hoạch
sử dụng đất từ kết quả điều tra, nghiên cứu thực tế 61
Bảng 10 Các yếu tố môi trường đối với từng loại đất 73
Bảng 11 Áp dụng các phương pháp vào từng bước ĐMC đối với quy
hoạch sử dụng đất 99
Danh mục sơ đồ
Sơ đồ 1 Đánh giá các tác động gián tiếp, tích lũy và các tác động
tương hỗ có thể áp dụng ở các giai đoạn dự án của quy trình
Sơ đồ 2 Các bước trong quy trình thực hiện ĐMC của Anh 24
Sơ đồ 3 Quy trình thực hiện ĐMC cho quy hoạch lưu vực sông phát
triển thủy điện 38
Sơ đồ 4 Mối liên quan giữa các bước ĐMC đối với quy hoạch sử
dụng đất và các bước lập quy hoạch sử dụng đất 65
Sơ đồ 5 Trình tự thực hiện ĐMC đối với quy hoạch sử dụng đất 78
Trang 81 Đặt vấn đề
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế đang đà phát triển với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 7 - 8% Theo các chuyên gia kinh tế và thực tế diễn ra ở nhiều nước cho thấy, nếu GDP tăng gấp đôi thì mức độ ô nhiễm môi trường tăng gấp 3 đến 4 lần Như vậy, trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế nếu không có các giải pháp hữu hiệu phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm thì hậu quả là môi trường nước ta
sẽ bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng Một trong những giải pháp đó là Đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt
“Đánh giá môi trường chiến lược là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo đảm phát triển bền vững” (Khoản 19, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005) Tuy nhiên thời kỳ trước Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 công tác đánh giá môi trường chiến lược chưa được luật hóa và chưa được thể hiện trong các văn bản pháp luật
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã dành Mục I của Chương II quy định những vấn đề về đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), trong đó quy định một trong các đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược là “Quy hoạch sử dụng đất; bảo vệ và phát triển rừng; khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng” (Khoản 4 Điều 4)
Để triển khai thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, ngày 09 tháng 8 năm
2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80/2006/NĐ-CP quy định chi tiết
và hướng dẫn một số điều của Luật Bảo vệ môi trường trong đó quy định một số vấn đề cụ thể về đánh giá môi trường chiến lược như: Thẩm quyền thẩm định, thời gian thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược Đến ngày 28 tháng 02 năm 2008 Chính phủ ban hành Nghị định số 21/2008/NĐ-
CP về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày
09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
Trang 9Nhằm kịp thời đưa Luật Bảo vệ Môi trường vào cuộc sống, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT ngày
08 tháng 9 năm 2006 hướng dẫn đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường Đến ngày 08 tháng 12 năm 2008 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT thay thế Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT
Do hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường còn thiếu, chưa hoàn thiện nên việc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường chưa hiệu quả, trong đó có công tác đánh giá môi trường chiến lược Để làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách ban hành trình tự, nội dung, phương pháp đánh giá môi trường chiến lược đối với quy hoạch sử dụng đất, nhóm nghiên cứu tiến thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp bộ “Nghiên cứu
đề xuất trình tự, nội dung và phương pháp đánh giá môi trường chiến lược đối với quy hoạch sử dụng đất”
2 Mục tiêu của Đề tài
Xây dựng trình tự, nội dung và phương pháp đánh giá môi trường chiến lược đối với quy hoạch sử dụng đất
3 Phạm vi nghiên cứu của Đề tài
Một trong các đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược được quy định tại Điều 14 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 là: “Quy hoạch sử dụng đất; bảo vệ và phát triển rừng; khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng” Như vậy quy hoạch sử dụng đất cấp vùng và cấp quốc gia mang tính liên tỉnh, liên vùng là đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược
Chính vì vậy, phạm vi nghiên cứu của Đề tài là nghiên cứu đề xuất trình tự, nội dung và phương pháp đánh giá môi trường chiến lược đối với quy hoạch sử dụng đất cấp vùng và cấp quốc gia
4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về môi trường, ĐMC nói chung và ĐMC đối với quy hoạch sử dụng đất;
- Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội dung đánh giá môi trường chiến lược đối với quy hoạch sử dụng đất;
- Nghiên cứu xây dựng trình tự, nội dung và phương pháp đánh giá
Trang 10môi trường chiến lược đối với quy hoạch sử dụng đất
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra;
- Tiếp thu, kế thừa có chọn lọc các nội dung nghiên cứu trong nước và ngoài nước để nghiên cứu xây dựng nội dung và phương pháp đánh giá môi trường chiến lược đối với quy hoạch sử dụng đất cấp vùng và cả nước
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁNH GIÁ MÔI
TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC
1.1 CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1 Khái niệm về đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC)
Lịch sử phát triển đánh giá môi trường chiến lược được khởi đầu từ
Mỹ, Luật về chính sách môi trường quốc gia của Mỹ năm 1969 đã yêu cầu chuẩn bị báo cáo giải trình tác động môi trường đối với các hoạt động lớn có tác động đến môi trường đáng kể Các hoạt động đó bao gồm cả các dự án và chương trình, quy hoạch và chính sách được xác định bởi Hội đồng về chất lượng môi trường cấp Liên bang Vào những năm 1990 phương thức tiếp cận ĐMC đã bắt đầu được sử dụng trong đánh giá tác động môi trường một số dự
án trọng điểm, có phạm vi ảnh hưởng lớn, ví dụ quy hoạch quản lý, khai thác lưu vực sông ở một số nước như Anh, NiuDiLân, Úc
Ở Việt Nam, đánh giá môi trường chiến lược mới được đưa vào Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và các văn bản thi hành Luật Theo Luật Bảo
vệ môi trường năm 2005, đánh giá môi trường chiến lược được khái niệm như sau: “Đánh giá môi trường chiến lược là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo đảm phát triển bền vững” (Khoản 19, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005)
Như vậy, theo khái niệm này, trước khi các dự án chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển trình cấp có thẩm quyền phê duyệt cần thiết phải phân tích, dự báo các tác động đến môi trường nếu thực hiện các dự án chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển đó Qua đó sẽ cung cấp những thông tin
về các tác động tích cực hoặc các tác động tiêu cực nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp, ngăn chặn hoặc giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường Các giải pháp có thể là thay đổi hoặc điều chỉnh các dự án chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển hoặc cũng có thể đưa ra cơ chế phản hồi về tình trạng môi trường và xác định cơ chế cho giai đoạn tiếp theo, giúp cho các cơ quan có thẩm quyền nắm được thông tin về môi trường trong suốt quá trình thực hiện dự án chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển Mục tiêu của đánh giá môi trường chiến lược nhằm nhằm bảo đảm phát triển bền vững khi thực hiện các dự án chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển
Trang 121.1.2 Khái niệm về đánh giá tác động môi trường (ĐTM)
Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, đánh giá tác động môi trường được định nghĩa như sau: “Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích,
dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó” (Khoản 20, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005)
Theo khái niệm này, trước khi dự án đầu tư cụ thể nào đó đưa vào thực hiện cần thiết phải phân tích, dự báo các tác động đến môi trường Qua đó sẽ cung cấp những thông tin về các tác động tích cực hoặc tiêu cực đến môi trường Mục tiêu cuối cùng của đánh giá tác động môi trường là đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường cụ thể khi thực hiện dự án đầu tư cụ thể
1.1.3 Phân biệt giữa ĐMC và ĐTM
Từ các khái niệm về ĐMC và ĐTM cho thấy, tuy ĐMC và ĐTM đều
là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường song đối tượng, thời điểm và mục tiêu của ĐMC và ĐTM khác nhau Trong khi ĐMC với đối tượng là các dự án chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển thì đối tượng của ĐTM là các dự án đầu tư cụ thể; ĐMC với mục tiêu là bảo đảm phát triển bền vững khi thực hiện các dự án chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển còn ĐTM nhằm đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai
- Khác nhau
+ Đối tượng Các dự án, chiến lược, quy hoạch
kế hoạch phát triển
Dự án đầu tư cụ thể
+ Mục tiêu Bảo đảm phát triển bền vững khi
thực hiện các dự án chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển
Đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đầu tư
Trang 131.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐMC TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1 Sự phát triển của ĐMC trên thế giới
Giai đoạn 1991 - 2001, hệ thống đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) rất đa dạng đã bắt đầu được hình thành và áp dụng ở nhiều nước Năm 2001 đánh dấu một giai đoạn mới của sự phát triển ĐMC, giai đoạn hướng tới sự chuẩn hóa quy trình, nội dung và phạm vi áp dụng ĐMC ở Châu Âu, với sự ra đời của Chỉ thị số 2001/42/EC của Nghị viện Cộng đồng Châu Âu (EC) về yêu cầu đánh giá môi trường chiến lược đối với các chính sách, kế hoạch, chương trình, bắt buộc áp dụng với tất cả các nước thành viên Cộng đồng Châu Âu Tiếp theo đó Nghị định thư về đánh giá môi trường chiến lược của Ủy ban kinh tế Châu Âu và Liên hiệp quốc ký kết tại Kiev năm 2003 đã mở rộng phạm vi ảnh hưởng của ĐMC tới hầu hết các nước còn lại của Châu Âu, các nước Trung – Đông Âu, và một số quốc gia thuộc Liên Xô trước đây
Các nước Đông và Trung Âu, mặc dù ĐTM mới chỉ áp dụng vào giữa các năm 1980 nhưng ĐMC đã là một lĩnh vực nổi bật được quan tâm hiện nay Tuy nhiên việc sử dụng ĐMC còn khá hạn chế về phạm vi áp dụng và khác nhau giữa các nước
Theo kinh nghiệm của nhiều nước, cơ quan lập chính sách, kế hoạch, chương trình có nhiệm vụ chuẩn bị cả báo cáo đánh giá môi trường chiến lược
Ở Mỹ, Bộ Phát triển Nhà và Đô thị, Bộ Giao thông chuẩn bị đánh giá môi trường chiến lược cho hệ thống rada của sân bay ĐMC có thể là một phần của
dự thảo chính sách, kế hoạch, chương trình hay là một tài liệu tách rời
Có thể phân loại hệ thống đánh giá môi trường chiến lược thành 4 dạng: Đưa vào Luật đánh giá tác động môi trường (điển hình ở Mỹ); đưa ra các quy định về lập kế hoạch (điển hình là Thụy Điển); ban hành song song các pháp lệnh hành chính và các chỉ thị về chính sách (điển hình là Canada); thẩm định chính sách và đánh giá kế hoạch một cách hài hòa (ở Anh quốc)
Ngày nay, thể chế chính thức phải thực hiện đánh giá môi trường chiến lược đã được quy định ở hầu hết các nước công nghiệp phát triển (Áo, Canada, Hà Lan, NiuDiLân, Vương quốc Anh, Mỹ …) Ở các nước Trung và Đông Âu thử nghiệm các quy trình đánh giá môi trường chiến lược chính thức đang ngày càng nhiều
Trang 14Có 3 cách tiếp cận ĐMC được sử dụng hiện nay: Ở Canada đánh giá môi trường chiến lược như là một đánh giá tác động môi trường (ĐTM) mở rộng; ở Hà Lan đánh giá môi trường chiến lược hình thành hệ thống có 2 bậc: ĐMC bắt buộc đối với các chương trình và kế hoạch chuyên ngành cụ thể, “kiểm tra môi trường” được áp dụng cho các chiến lược; ở Anh quốc đánh giá môi trường chiến lược được gắn kết với quá trình thẩm định chính sách, quy hoạch vùng và sử dụng đất
Khái niệm phân tích ĐMC đã được phát triển và thử nghiệm bởi nhóm trợ giúp môi trường Hà Lan, với sự hợp tác của cơ quan phát triển Hà Lan Phương pháp này được sử dụng ở giai đoạn sớm nhất có thể của quá trình ra quyết định, cho phép các yếu tố và phương án môi trường được lồng ghép hoàn toàn vào thiết kế và văn kiện của các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
và chương trình Phương pháp luận này dựa trên các kinh nghiệm từ ĐTM, các hồ sơ môi trường, quy hoạch môi trường, quan trắc và đánh giá trong phạm vi chu trình dự án và bao gồm 10 bước
Trong hầu hết các trường hợp, đánh giá môi trường chiến lược ở các nước đang phát triển có mục đích và cách tiếp cận chủ yếu là xác định các hậu quả môi trường, các ảnh hưởng kinh tế, xã hội của các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chương trình đang có hiệu lực hoặc mới sửa đổi
Có một vài nước thuộc Liên bang các nước cộng hòa Xô Viết (SNG) không phân biệt giữa ĐTM và ĐMC Pháp luật của họ quy định các luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và các dự án đều phải thực hiện đánh giá môi trường Ở những nước này hệ thống cơ quan giám định môi trường trước đây vẫn còn sử dụng dưới khung luật mới Trên thực tế ngoài Liên bang Nga có ĐMC, còn các nước khác rất ít hoặc không phát triển ĐMC
ĐMC được thực hiện, áp dụng chủ yếu cho các quy hoạch, kế hoạch vùng và địa phương, cho các chương trình phát triển Cách tiếp cận này dựa vào các hệ thống quy hoạch sử dụng đất đã được thiết lập khá tốt ở các nước
xã hội chủ nghĩa trước đây Trừ Xlôvakia và Cộng hòa Séc, hầu như không
có các ĐMC ở cấp chính sách Tuy nhiên ĐMC là một ưu tiên trong chương trình ĐTM của các nước Trung, Đông Âu và Liên bang các nước cộng hòa
Xô Viết (SNG)
Hầu hết các ĐMC đều sử dụng quy trình của ĐTM trong đánh giá các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chương trình Tuy nhiên có một phương
Trang 15thức mới áp dụng ở Nam Phi, đó là việc đánh giá tính bền vững của các chiến lược, chính sách, kế hoạch và chương trình Về mặt lý thuyết đây là phương thức tiếp cận lý tưởng, cho ra được những kết quả tốt nhất; tuy nhiên công cụ để đánh giá theo phương thức này gặp nhiều khó khăn, cả về tiêu chí đánh giá, khả năng tổng hợp, nguồn thông tin… nên việc áp dụng phương thức này thường gặp bế tắc, khó khả thi
Cách tiếp cận của ĐMC cũng đã được đưa ra bởi các tổ chức trợ giúp song phương, đa phương và các tổ chức phát triển quốc tế khác Ngân hàng Thế giới đang dẫn đầu trong lĩnh vực này ĐMC được sử dụng cho các yếu tố ngành theo nghĩa rộng, các khoản vay theo chương trình bao gồm nhiều tiểu
dự án và nó cũng yêu cầu ĐMC vùng phải sử dụng cách tiếp cận không gian đối với các quy hoạch phát triển
Các tổ chức tài trợ song và đa phương khác cũng có những sáng kiến ĐMC quan trọng, như Chương trình hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã
áp dụng tổng quan môi trường trong xây dựng các chương trình trợ giúp, sử dụng một bộ các câu hỏi đối với các chương trình, dự án, liên quan đến hiện trạng môi trường, các tác động và cơ hội, làm sao để các chương trình, dự án
có thể coi trọng hiện trạng môi trường
ĐMC cấp chính sách cũng đã tiếp thu nhiều kinh nghiệm, phát triển và
áp dụng các chiến lược phát triển bền vững cấp quốc gia và các cách tiếp cận tương ứng như các quy hoạch, kế hoạch hành động môi trường quốc gia, các chiến lược bảo tồn, các chương trình xanh
ĐMC mới chỉ xuất hiện ở một ít nước đang phát triển, phần lớn ở mức
độ khởi đầu, một số ít quốc gia có các quy định chính thức về mặt pháp lý
thực hiện ĐMC
Bảng 1 Các quy định pháp lý về ĐMC ở một số quốc gia phát triển Quốc gia Văn bản pháp quy Quy trình Trách nhiệm Hội đồng
Châu Âu
Thông báo nội dung tháng
6 năm 1993 yêu cầu sàng lọc và thẩm định tất cả các
kế hoạch hành động của Hội đồng (hầu hết có tính chất chiến lược) và các đề
Không có nội dung về quy trình, các yêu cầu có tính chất rất linh hoạt
Trách nhiệm ra thông báo thuộc
về Tổng Văn phòng của Hội đồng
Ràng buộc các
Trang 16Quốc gia Văn bản pháp quy Quy trình Trách nhiệm
xuất pháp lý mới nếu chúng có thể gây ra các tác động môi trường mạnh Ban hành dự thảo hướng dẫn ĐMC năm 1997
Chỉ áp dụng cho các kế hoạch, quyhoạch và chương trình
thành viên của Hội đồng nếu đồng thuận
Áo Đạo luật bảo vệ môi
trường1986/93 cho phép đánh giá môi trường các chương trình, kế hoạch, quy hoạch và chiến lược
Không có quy trình ĐMC đối với các đạo luật, quyết định của Chính phủ hoặc ngân sách quốc gia
Không có các yêu cầu chính thức đối với quy trình ĐMC Cục Bảo
vệ Môi trường xác định cho từng trường hợp cụ thể
Cục Bảo vệ Môi trường xác định khung, nội dung, thời gian và quy trình thẩm định
Canada Bản hướng dẫn của Chính
phủ năm 1990 yêu cầu các
tổ chức và cơ quan của Liên bang áp dụng đánh giá môi trường cho các đề xuất chiến lược và chương trình trước khi trình Chính phủ xem xét
Không có các yêu cầu chính thức đối với quy trình ĐMC, chỉ có hướng dẫn kỹ thuật
Các Bộ trưởng
có trách nhiệm tự thẩm định các đề xuất từ cơ quan
đề xuất khác lên Quốc hội cần có đánh giá các tác động môi trường trong văn bản kèm theo, nếu theo dự báo chúng sẽ có tác động mạnh đến môi trường
Không có các yêu cầu chính thức đối với quy trình ĐMC, chỉ có hướng dẫn kỹ thuật
Trách nhiệm ĐMC gắn với lãnh đạo của các
Bộ, hướng dẫn
do Bộ môi trường cung cấp (ban hành)
Hà Lan - Đạo luật ĐTM năm 1987
yêu cầu thực hiện ĐMC cho một số kế hoạch, quy hoạch, chương trình và
- Dùng chung quy trình ĐTM đối với các dự
án
- Trách nhiệm thuộc về lãnh đạo tổ chức, cơ quan
Trang 17Quốc gia Văn bản pháp quy Quy trình Trách nhiệm
chiến lược của các ngành
Bộ ngoại giao Hà Lan đã quyết định sử dụng ĐMC nơi nào thích hợp để lập kế hoạch trợ giúp phát triển cho nước ngoài
- Từ năm 1995, kiểm tra môi trường là bắt buộc đối với dự án có các tác động môi trường đáng kể (không yêu cầu lập ĐMC bắt buộc theo Luật ĐTM)
- Kiểm tra môi trường có nội dung đơn giản
và linh hoạt
- Kiểm tra môi trường có thể được thực hiện bởi một cơ quan
có trách nhiệm,
có thẩm quyền với sự tham gia bắt buộc của Bộ môi trường
NiuDiLân Đạo luật quản lý tài
nguyên năm 1991 (Resource managememt Act – RMA) yêu cầu lồng ghép các cân nhắc môi trường vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch ở cấp quốc gia, vùng và địa phương, được chuẩn bị theo các điều khoản của Đạo luật
RMA chủ định lồng ghép các vấn đề môi trường vào tất
cả các giai đoạn làm chính sách hơn là tiến hành một ĐMC riêng biệt
Cân nhắc các yếu
tố môi trường là trách nhiệm của các tổ chức chịu trách nhiệm xây dựng các chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch và chương trình (các cơ quan có thẩm quyền ở các cấp quốc gia, vùng và tỉnh)
Vương
quốc Anh
Không có các điều khoản chính thức về ĐMC ở cấp quốc gia; các cấp có thẩm quyền quy hoạch ở địa phương được yêu cầu
“quan tâm tới các cân nhắc môi trường” trong quá trình chuẩn bị các kế hoạch
sử dụng đất của họ; một số
Không có các điều khoản chính thức cho quy trình ĐMC, chỉ có hướng dẫn
“thực hành tốt”
Thẩm định chiến lược (chính sách)
là trách nhiệm của cơ quan QLNN ở trung ương (Chính phủ)
Trang 18Quốc gia Văn bản pháp quy Quy trình Trách nhiệm
cơ quan này đã chuẩn ĐMC cho các quy hoạch,
kế hoạch các công trình kiến trúc địa phương
Mỹ Đạo luật quốc gia của Mỹ
về chính sách môi trường yêu cầu đánh giá môi trường đối với các hoạt động chính có ảnh hưởng đáng kể đến môi trường sống, gồm các chương trình, chiến lược, quy trình
và các đề xuất pháp lý
Quy trình ĐMC giống như quy trình ĐTM
Các đánh giá môi trường có thể được chuẩn bị bởi tổ chức đề xướng trong quá trình lập quy hoạch khi có thể nêu bật các vấn
đề về môi trường
và cho phép đánh giá nhiều phương
án thay thể Hồng
Kông
Sáng kiến của Chính phủ tháng 10/1992 yêu cầu các văn bản, chính sách đệ trình lên Hội đồng điều hành phải chứa một phần liên quan đến môi trường, đồng thời yêu cầu có các ghi nhớ do Chính phủ ban hành, các đề xuất chi tiết của Luật và tất cả các văn bản xin ngân sách cho các
dự án của Chính phủ
Có hướng dẫn (còn sơ sài) về nội dung của báo cáo ĐMC
Chủ dự án có trách nhiệm dự thảo báo cáo môi trường và có thể tham vấn Vụ BVMT ngay ở giai đoạn sớm nhất của quá trình xây dựng chiến lược, chính sách
Tuy vậy, trong những năm gần đây, số lượng các nước nghiên cứu, áp dụng ĐMC và số lượng các ĐMC xuất hiện ngày càng nhiều, mối quan tâm đến ĐMC ngày càng tăng ở nước đang phát triển Ngày càng có nhiều thử nghiệm về ĐMC trong quá trình xây dựng dự án thay vì cho những ĐMC phải bị động, thực hiện sau khi hình thành dự án
Một yếu tố tác động đến sự phát triển nhanh của ĐMC ở các nước
Trang 19đang phát triển là ảnh hưởng của các nhà tài trợ, các tổ chức tài chính như Ngân hàng Thế giới Thông qua các chương trình tài trợ, các điều kiện để được tài trợ hay vay vốn và quy trình ĐMC được xây dựng hay đưa vào áp dụng ở các nước đang phát triển
1.2.2 ĐMC ở một số nước trên thế giới và một số tổ chức quốc tế
a/ Vương quốc Anh
Nằm trong các nước thuộc Cộng đồng Châu Âu, Anh quốc cũng thực hiện việc ĐMC theo Chỉ thị số 2001/42/EC của Nghị viện các nước cộng đồng Châu Âu về đánh giá những ảnh hưởng của các kế hoạch và chương trình đối với môi trường và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 21 tháng 7 năm
2004 Liên hiệp Anh không có luật về ĐMC, tuy nhiên một số quá trình về ĐMC đã được thực hiện trong những năm 1990 bao gồm thẩm định các chính sách của quốc gia, “thẩm định về môi trường” đối với các kế hoạch phát triển vùng và lãnh thổ Phương pháp đánh giá trọng điểm về ĐMC được tiến hành đối với các ngành đặc biệt, như giao thông, môi trường nước Gần đây, đã tiến hành thẩm định ĐMC đối với việc xem xét chiến lược phòng thủ (Bộ quốc phòng, năm 2000) và ĐMC đối với việc cấp giấy phép khai thác dầu và khí đốt ở thềm lục địa và năng lượng gió của Cục Thương mại và Công nghiệp
Nước Anh đã có 2 hướng dẫn về ĐMC, bao gồm: Hướng dẫn về ĐMC cho các chính sách của quốc gia và hướng dẫn về ĐMC cho các kế hoạch phát triển Hướng dẫn đánh giá môi trường chiến lược đối với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch không gian đã được biên soạn năm 2004 Bản hướng dẫn này đưa ra hướng dẫn thực hiện đánh giá môi trường đối với các kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch không gian của Anh theo yêu cầu của Chỉ thị 2001/42/EC của Cộng đồng Châu Âu về đánh giá ảnh hưởng của các kế hoạch và chương trình đến môi trường
b/ Úc, NiuDiLân, các nước Đông và Trung Âu
Các nước Úc, NiuDiLân thực hiện ĐMC từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thể kỷ XX
Một nghiên cứu của Trung tâm Môi trường khu vực Đông và Trung
Âu vào năm 1999 cho thấy, các nước Đông Âu như Slovakia, Ba Lan, Hungary, Czech, Bungary cũng đã quan tâm đến ĐMC đối với các chính sách, kế hoạch, chương trình từ những năm 90 của thế kỷ XX Tuy vậy, mới
Trang 20chỉ có Slovakia trong Bộ luật số 127/1994 quy định các chính sách, kế hoạch đối với một số ngành cần phải thực hiện ĐMC, năm 1999 đã ban hành quy phạm thực hiện ĐMC
Tám nước mới gia nhập Cộng đồng Châu Âu (thuộc Đông và Trung Âu) đã điều chỉnh pháp luật về ĐMC để tuân thủ theo Chỉ thị của Cộng đồng Châu Âu (EU) về ĐMC
Các nước như Czech, Slovakia và Ba Lan đã áp dụng ĐMC cho các chương trình, chiến lược và chính sách Từ năm 1997, hai nước Czech và Slovakia đã tiến hành làm thí điểm về ĐMC đối với chính sách về năng lượng Trên cơ sở những kinh nghiệm thu thập được từ mô hình thí điểm này, vào năm 2001 Czech đã chỉnh sửa lại Luật ĐTM và bổ sung thêm ĐMC vào điều 14 của Luật ĐTM, Đến năm 2004, Czech đã điều chỉnh lại luật theo Chỉ thị 2001/42/EC của Cộng đồng Châu Âu về đánh giá ảnh hưởng của các
kế hoạch và chương trình đến môi trường
Giai đoạn 1996 - 2003, các nước Trung và Đông Âu đã tiến hành rất nhiều ĐMC đối với các quy hoạch sử dụng đất và các lĩnh vực như chính sách về năng lượng, kế hoạch phát triển quốc gia, kế hoạch quản lý chất thải
c/ Mỹ
Đạo luật về chính sách môi trường quốc gia của Mỹ được thông qua vào năm 1969 và có hiệu lực kể từ tháng 01 năm 1970là một trong những văn bản pháp lý đầu tiên trên thế giới quy định về đánh giá môi trường chiến lược Đạo luật này đưa các yêu cầu về quy trình đối với các cơ quan Liên bang khi thực hiện các hoạt động có thể tác động lớn đến môi trường; quy định thành lập Hội đồng chất lượng môi trường
Thông tin cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng được coi là một công cụ quan trọng trong quy trình của Đạo luật về chính sách môi trường quốc gia của Mỹ Hội đồng chất lượng môi trường quy định các cơ quan thẩm quyền phải xin ý kiến công chúng ngay sau khi chuẩn bị dự thảo báo cáo ĐTM Các cơ quan thẩm quyền phải xin ý kiến của cơ quan pháp quyền
về tác động môi trường tiềm tàng; từ các cơ quan chính quyền Tiểu bang và địa phương liên quan; các bộ lạc da đỏ có khả năng bị ảnh hưởng và công chúng nói chung
Bộ phát triển Nhà và Đô thị Hoa Kỳ đã xuất bản cuốn hướng dẫn ĐTM diện rộng năm 1981 Phương pháp thực hiện cũng tương tự như làm
Trang 21ĐTM dự án, nhưng có bổ sung các phần: xác định sự cần thiết, lĩnh vực và
dữ liệu cần phân tích, các giải pháp Bản hướng dẫn đưa ra 21 lĩnh vực mà ĐMC diện rộng cần nghiên cứu: phát triển đất đai, các vận động kiến tạo địa chất và núi lửa, các vùng đất nông nghiệp, những đặc trưng thiên nhiên quý hiếm, cấp nước, chất lượng nước, các loài và nơi cư trú quan trọng, lũ lụt, thiên tai, hỏa hoạn, chất lượng không khí, tiếng ồn, năng lượng, các nguyên liệu độc hại, chất thải rắn, dịch vụ công cộng, thất nghiệp, điều kiện xã hội, cảnh quan, di tích lịch sử và khảo cổ
Đối với mỗi lĩnh vực cuốn sách lại chỉ ra các phương pháp thực hiện, bao gồm các phần: Các tác động và những vấn đề liên quan trên diện rộng; mục đích của việc nghiên cứu trên diện rộng; những yêu cầu về cơ sở dữ liệu cho việc đánh giá tác động; kỹ thuật đánh giá tác động môi trường: quy trình thực hiện, tính toán, các mô hình, tập bản đồ, …; đánh giá, so sánh các tác động dự tính với các văn bản, luật lệ và tiêu chuẩn hiện hành; các biện pháp nhằm giăn ngừa hoặc giảm thiểu những tác động có hại một cách có hiệu quả kinh tế nhất
Chính quyền Bang California yêu cầu chuẩn bị ĐMC thông qua quy định về chất lượng môi trường Bang California Hệ thống ĐMC Bang California là một trong những hệ thống hoàn thiện và có hiệu quả nhất trên thế giới Nội dung của ĐMC tương tự như ĐTM dự án, bao gồm: Mục lục; tổng hợp các hoạt động và tác động dự tính; mô tả các hoạt động (bao gồm vị trí, đối tượng, các đặc điểm kỹ thuật, kinh tế và môi trường của chúng, danh sách các cơ quan, tổ chức sẽ sử dụng tài liệu để đưa ra quyết định); những thông tin về địa phương và khu vực, những kế hoạch và chính sách liên quan tới hoạt động dự tính; đánh giá những tác động, bao gồm cả những tác động trực tiếp, gián tiếp, dài hạn, ngắn hạn, không tránh khỏi, tích lũy; các giải pháp đối với hoạt động dự báo nhằm giảm thiểu hoặc tránh khỏi những tác động đáng kể; giải thích ngắn gọn nguyên nhân vì sao một số tác động có thể
bỏ qua hoặc coi như không đáng kể; danh sách các tổ chức tham gia tư vấn trong quá trình thực hiện báo cáo; danh sách các cá nhân và tổ chức thực hiện báo cáo
d/ Nam Phi
Luật quản lý môi trường quốc gia No.107, năm 1998 quy định các thủ tục đánh giá môi trường đối với các chính sách, kế hoạch và chương trình, ngoài ra yêu cầu ĐMC còn được ghi trong Báo cáo quy định quản lý và quy
Trang 22hoạch đô thị No.32 năm 2000 Từ những năm 1996, 1997, các hướng dẫn về ĐMC và quy trình thực hiện ĐMC đã được Nam Phi xây dựng Những cân nhắc ĐMC được lồng ghép một cách linh hoạt trong quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch Các ĐMC được thực hiện đối với cả chính sách vĩ mô đa ngành, các chương trình bảo tồn, về ngành nước (các đối tượng này chiếm đa
số trong các ĐMC đã được thực hiện trong giai đoạn từ 1996 đến nay), các ngành giao thông, quy hoạch cảng, năng lượng, khoáng sản, kinh tế…
e Trung Quốc
Bắt đầu từ 1995, đã có những ĐMC khởi đầu ở Trung Quốc, và số lượng của chúng ngày càng nhiều Tuy nhiên ở Trung Quốc mới chỉ có một
số ít các chính sách, kế hoạch và chương trình đã được đánh giá theo ĐMC
Luật mới về đánh giá tác động môi trường Trung Quốc, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 9 năm 2003 đã thể hiện nội dung ĐMC, phân biệt ĐTM đối với các quy hoạch, kế hoạch có tính chất chiến lược dài hạn (5-20 năm) ở cấp quốc gia, tỉnh và ngành, với các quy hoạch, kế hoạch dự án cấp địa phương ngắn hạn (dưới 5 năm) Ngày 11 tháng 8 năm 2003 Cục bảo vệ môi trường Trung Quốc đã ban hành hướng dẫn kỹ thuật ĐMC với việc áp dụng đạo luật mới, khẳng định tính pháp lý và tầm quan trọng của ĐMC Trung Quốc đã ước tính cần ít nhất 20.000 chuyên gia ĐMC để thực thi Luật mới này, Trung Quốc đang xây dựng kế hoạch chuẩn bị nguồn nhân lực đó
Một số ĐMC điển hình ở Trung Quốc là: chiến lược phát triển ngành than và điện tỉnh Shanxi; chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc; quy hoạch phát triển vùng Duyên Hải, phía đông tỉnh Xiamen; Đạo luật ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm không khí; chính sách tái sử dụng nước thải, nghiên cứu điển hình ở Tianjin
Một ĐMC điển hình, quy mô lớn của Trung Quốc, được Ngân hàng Thế giới giúp đỡ, do Khoa Môi trường, trường Đại học Bắc Kinh tiến hành trong những năm gần đây là ĐMC đối với chiến lược phát triển vùng Viễn Tây Trung Quốc, bao gồm 12 tỉnh, khu tự trị, với diện tích 6,6 triệu km2 và dân số khoảng 355 triệu người Bản chiến lược (cho thời gian 5-10 năm) xây dựng khung chiến lược phát triển, liên quan tới 20 chính sách quốc gia khác nhau với hàng loạt các dự án xây dựng quy mô lớn, như các chính sách về thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển hạ tấng, quản lý tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, thông tin liên lạc, giáo dục và đô thị hóa, các dự án về chuyển
Trang 23tải nước từ Nam ra Bắc, vận chuyển khí đốt từ Tây sang Đông, chuyển điện
từ Tây sang Đông, xây dựng tuyến đường sắt Qinghai-Tibet, …
ĐMC này sử dụng một phương pháp tương đối đơn giản - phân tích tổng hợp các tác động tiềm tàng, sử dụng nhóm chuyên gia theo phương pháp Delphi để đánh giá các tác động trực tiếp và gián tiếp của chiến lược, xây dựng ma trận phức hợp
Đánh giá này cũng thực hiện những phân tích theo ngành, lĩnh vực, ví
dụ như phân tích về sự bất cập cung – cầu về nguồn nước
Các chương của báo cáo ĐMC này được chia theo các tác động lên các thành phần môi trường: nước, không khí, đa dạng sinh học, đất đai, các tác động xã hội
g/Hồng Kông
ĐMC đã được áp dụng đối với các chính sách, chiến lược, kế hoạch và quy hoạch cấp vùng từ 1989 Cơ quan ra quyết định cấp cao nhất là Hội đồng điều hành có trách nhiệm xem xét các thông tin về tác động môi trường được trình Đây được coi là cơ sở chính cho việc thực hiện ĐMC
Một số ĐMC đã thực hiện ở Hồng Kông là: ĐMC đối với chiến lược phát triển cảng và sân bay (1989); nghiên cứu về các khu vực tăng trưởng chiến lược trong tương lai – lãnh thổ mới phía Tây Bắc và lãnh thổ mới phía Đông Bắc (1999) Năm 1995, Hồng Kông cũng đã thực hiện ĐMC đối với chiến lược phát triển lãnh thổ đến năm 2011 thông qua các xem xét, đánh giá hàng chục kịch bản phát triển kinh tế khu vực có quy mô khác nhau ĐMC
đã có tác động đến việc xác lập và lựa chọn các phương án chiến lược và phương án phát triển vùng Nhờ sự đóng góp của ĐMC vào quá trình ra quyết định, các tác động tiêu cực và những nguy cơ tiềm tàng khác ảnh hưởng xấu đến môi trường được phòng tránh Tất cả các giải pháp này đã đóng góp vào thành quả cuối cùng của việc duy trì sự bền vững môi trường của Hồng Kông
ĐMC có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự bền vững về phát triển kinh tế và môi trường ở Trung Quốc đại lục và Hồng Kông Đặc biệt ở Trung Quốc đại lục, nơi có nguồn di sản văn hóa và khảo cổ phong phú, ĐMC đặc biệt có ích trong việc bảo tồn các khu vực văn hóa và khảo cổ Các hoạt động
ở các khu vực di sản văn hóa và khảo cổ có thể ảnh hưởng đến môi trường của khu vực xung quanh và thậm trí là cả vấn đề xã hội
Trang 24h/ Thái Lan
Một ĐMC thí điểm cho quy hoạch nuôi tôm đã được thực hiện vào năm 2001, với giúp đỡ của Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA) quyết định xem có hỗ trợ cho ngành này hay không Mục đích của ĐMC này là để đánh giá tình hình môi trường của ngành nuôi tôm ven biển ở vùng Đông Nam Thái Lan ĐMC này đã so sánh phương pháp nuôi tôm phổ biến nhất, thâm canh bán khép kín với hai hệ thống thay thế khác là tái tuần hoàn khép kín và tách bùn Nghiên cứu này đã được thực hiện ở 5 tỉnh và bao gồm các cuộc phỏng vấn với những người nuôi tôm cũng như các chuyên gia ở các cơ quan Chính phủ, trường đại học và các tổ chức môi trường Báo cáo ĐMC so sánh các tác động môi trường và kinh tế xã hội của cac phương pháp nuôi tôm khác nhau
Năm 1985, Thái Lan đã thực hiện một nghiên cứu để có thể lồng ghép một cách toàn diện các yếu tố môi trường vào quy hoạch phát triển kinh tế vùng Lưu vực hồ Song Khla
i/ Ngân hàng thế giới (WB)
Ngân hàng thế giới (WB) là tổ chức đi đầu trong việc áp dụng ĐMC đối với các dự án tài trợ ở các nước đang phát triển, nhằm đạt được phương thức tiếp cận đa chiều và tổng hợp trong phát triển bền vững Năm 1989, Ngân hàng thế giới đã ban hành hướng dẫn đánh giá tác động môi trường đối với các dự án phát triển vùng và ngành
ĐMC đã được đưa ra trong Chỉ thị về hoạt động số 4.00 Chỉ thị này sau đó được chuyển thành văn bản OP/BP 4.01 Yêu cầu các bên vay tiền phải tiến hành đánh giá môi trường theo ngành với trợ giúp của Ngân hàng thế giới nhằm bảo đảm cho quá trình thực thi được phù hợp và có hiệu quả
Việc đưa ra văn bản OP/BP 4.01 được xem như là sự mở rộng cách tiếp cận đánh giá về môi trường và xã hội trong các hoạt động của Ngân hàng thế giới Đây là một phần của một hệ thống gồm 10 chính sách bảo vệ
về môi trường và xã hội được áp dụng đối với tất cả các khoản cho vay đầu
tư, đã thu hút được sự chú ý đáng kể từ bên trong và bên ngoài Ngân hàng thế giới Tháng 8 năm 2004, Ủy ban của Ngân hàng thế giới đã thông qua một chính sách mới về cho vay phát triển (OP/BP 8.60) có tác động thúc đẩy việc áp dụng công cụ ĐMC Chính sách mới này đã bổ sung rất nhiều cho việc điều chỉnh cho vay và đòi hỏi phải xác định xem các chính sách quốc gia cụ thể được trợ giúp có khả năng gây ra những tác động lớn đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên của nước vay hay không
Trang 25Việc thực hiện chính sách đánh giá môi trường cho các năm tài chính
1996 – 2000 đã được kiểm tra trong đợt rà soát về môi trường lần thứ 3 Đợt
rà soát này đã ghi nhận sự gia tăng sử dụng và chấp nhận cách tiếp cận đánh giá môi trường theo ngành để giải quyết các vấn đề toàn ngành và các khoản vay theo chương trình bao trùm lên một loạt các tiểu dự án, ví dụ các tiểu dự
án về đường bộ, thủy lợi…
Cách tiếp cận đánh giá môi trường theo ngành nhằm giải quyết sớm các vấn đề trong quá trình ra quyết định, và cũng giúp cho việc loại bỏ các phương án gây hủy hoại về môi trường và làm giảm các đòi hỏi về thông tin đối với đánh giá ở cấp độ dự án
Chiến lược môi trường của Ngân hàng thế giới: Năm 2001, Ngân hàng thế giới đã phê duyệt Chiến lược môi trường đầu tiên, trong đó WB cam kết
sử dụng ĐMC như là một công cụ trung tâm nhằm giúp các nước hướng tới
sự phát triển bền vững
Chiến lược còn đề cập đến việc sử dụng công cụ ĐMC và các công cụ liên quan khác, nhất là các công cụ về phân tích môi trường áp dụng cho cấp độ chiến lược ĐMC được xếp ở vị trí như là cách để lồng ghép các vấn đề về môi trường vào các quá trình lập quy hoạch phát triển ngành, thông qua việc xác định sớm các vấn đề đặt ra, việc đánh giá các phương án, đánh giá các tác động tích lũy … Nó cũng còn được xem như là công cụ có tiềm năng để xem xét các khoản cho vay trong quá trình xây dựng chính sách, đặc biệt là đối với các nước thuộc Hiệp hội Phát triển Quốc tế (các nước có thu nhập thấp hơn)
Các hình thức khác của ĐMC:
- Rà soát về năng lượng và môi trường: Đó là hình thức phân tích ở cấp cao về các vấn đề môi trường có liên quan đến ngành năng lượng Việc này được trợ giúp chủ yếu bởi chương trình trợ giúp quản lý ngành năng lượng, nhưng là một phần của các chương trình trợ giúp theo ngành và theo quốc gia của Ngân hàng thế giới
- Phân tích sự nghèo đói và tác động về xã hội: Hình thức này đã được xây dựng nhằm nâng cao chất lượng của các trợ giúp được Ngân hàng thế giới sử dụng Cách tiếp cận này là đưa ra một hướng dẫn cho người sử dụng với một tập hợp các công cụ về kinh tế, xã hội và kỹ thuật định tính, định hướng có thể áp dụng Để bổ trợ cho hướng dẫn này, Ngân hàng thế giới có
kế hoạch ban hành một bộ công cụ với những hướng dẫn sâu hơn về các công cụ kinh tế hiện đã có, và một công trình nghiên cứu tăng cường đang được tổ chức để tiếp tục có hướng dẫn về các công cụ xã hội
Năm 1988, Ngân hàng Châu Á (ADB) đã công bố một hướng dẫn lồng
Trang 26ghép kinh tế vùng vào quá trình lập kế hoạch phát triển môi trường Xét về tính chất của các hướng dẫn này thì đây thực chất cũng là những ĐMC
Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP): Ngay từ năm 1995
đã sử dụng ĐMC như là một công cụ trong lập quy hoạch, kế hoạch và được xem như là một thành phần không thể thiếu để hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc đã đưa vào áp dụng công cụ
“báo cáo tổng quan về môi trường”, với nhiều nội dung tương tự như của ĐMC, trong khi xem xét đánh giá các chương trình, dự án phát triển Cách tiếp cận này đã được đưa vào sổ tay và Hướng dẫn về Quản lý môi trường và Phát triển bền vững
Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc cũng đã ban hành hướng dẫn
về ĐMC Hướng dẫn có sự nhấn mạnh đến các khái niệm, các quy trình và các công cụ hiện đang được sử dụng hoặc có khả năng sẽ được sử dụng một cách phù hợp cho các mục đích khác nhau như: việc đánh giá tác động tổng hợp; việc thực hiện ĐTM và ĐMC như là các hệ thống được phân lớp; và việc chấp nhận cách tiếp cận vi phân trong ĐMC đối với các chính sách, quy hoạch, và chương trình phát triển mà có thể nhận thấy sự khác nhau giữa chúng Trong tài liệu này đã đưa ra những tham khảo cụ thể về hoàn cảnh và các đòi hỏi đối với việc áp dụng ĐTM và ĐMC ở các nước đang phát triển
và các nước trong thời kỳ chuyển đổi
k/ Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA)
Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA) đã xây dựng hướng dẫn về phân tích ĐMC và tính bền vững để sử dụng trong quá trình soạn thảo các chiến lược quốc gia Hướng dẫn này nhấn mạnh đến các mối liên kết giữa sự đói nghèo, môi trường và phát triển bền vững Hướng dẫn không quy định phải tiến hành một quá trình hay những quy trình cụ thể mà chỉ đưa ra các phương pháp phân tích và có sự nhấn mạnh đặc biệt đến các mối liên kết giữa các vấn đền môi trường và các vấn đề khác về phát triển Trong hướng dẫn có đưa ra các tập hợp từ 5 đến 10 câu hỏi về các chủ đề sau đây: Sự đói nghèo, sự xóa đói giảm nghèo và vấn đề môi trường; các chính sách kinh tế và các vấn đề môi trường; sức khỏe và môi trường; sự biến động, di chuyển dân số và vấn đề môi trường; xây dựng năng lực và thể chế; luật pháp và môi trường; nhân quyền và xây dựng dân chủ; bình đẳng và môi trường; nguy cơ về sung đột; tính dễ bị tổn thương và vấn đề môi trường; tình trạng môi trường và sự phát triển bền vững; hành động của quốc gia về phát triển bền vững
Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA) đã tiến hành một số phân tích chiến lược theo chiều sâu về “tính bền vững về môi trường”
Trang 27ở Trung Quốc, Việt Nam, Ethiopia, Tanzania, và khu vực Balkan Tại Việt Nam phân tích chiến lược này được thực hiện năm 2003, hướng tới mục tiêu: các vấn đề cơ bản về tính bền vững của môi trường phải được giải quyết một cách thỏa đáng trong quá trình xây chiến lược của mỗi nước
1.2.3 Trình tự, nội dung và phương pháp đánh gía môi trường chiến lược của một số nước trên thế giới và một số tổ chức quốc tế
1.2.3.1 Các phương pháp tiếp cận ĐMC của Ủy ban Châu Âu (EC)
a/ Cách tiếp cận đánh giá tổng hợp tác động gián tiếp, tích lũy và tác động tương hỗ
Việc đánh giá các tác động gián tiếp, tích lũy và tương hỗ không được tách rời với quá trình ĐMC Việc đánh giá các tác động này cần được coi như một bộ phận hợp nhất của mọi giai đoạn trong quá trình thực hiện ĐMC
Sơ đồ 1 Đánh giá các tác động gián tiếp, tích lũy và các tác động tương hỗ
có thể áp dụng ở các giai đoạn dự án của quy trình ĐMC của Ủy ban châu Âu
Xác định và đánh giá tác động
gián tiếp và tích lũy, cũng như
các mối quan hệ tương hỗ của
Sự phát triển các giải pháp giảm
thiểu Quan trắc và quản lý môi trường
Trang 28b/ Các phương pháp tiếp cận đánh giá tác động môi trường trong ĐMC
Bảng 2: Các phương pháp tiếp cận đánh giá tác động môi trường trong
ĐMC của Ủy ban Châu Âu
Hữu ích trong việc thu thập một
loạt thông tin rộng về nhiều hoạt
động và các nơi tiếp nhận cần xử
lý các hậu quả tích lũy Các cuộc
lấy ý kiến, phỏng vấn với những
cá nhân có hiểu biết và các nhóm
đồng thuận liên quan đến các hoạt
động của dự án có thể giúp cho
nhận dạng các hậu quả tích lũy
quan trọng trong khu vực
Linh hoạt và có thể thu được nhiều thông tin (có tính chủ quan)
Không thể định lượng các hậu quả môi trường
và so sánh các phương án có tính chủ quan
các danh sách những hậu quả
chung hay có khả năng xảy ra và
quan hệ giữa các hoạt động phát
triển và tài nguyên môi trường
Việc này có thể xem là một
đường tắt đi tới việc xác định
phạm vi ĐMC
Có hệ thống và xúc tích Không thể linh hoạt và không
xử lý được quan hệ nguyên nhân - hậu quả
3 Các
ma trận
Các ma trận sử dụng một kiểu
bảng biểu để cấu trúc các tương
tác giữa những hoạt động của dự
án và tài nguyên môi trường có
liên quan
Cung cấp tóm tắt các hậu quả môi trường có thể thấy được và có thể được dùng để nhận dạng và lượng hóa các hậu quả đến một mức độ nào đó
Có thể phức tạp
và rối rắm, không xử lý được quan hệ nguyên nhân – hậu quả
kiểu dòng chảy Cho phép người
dùng phân tích nhiều hậu quả
của các hoạt động khác nhau và
vạch ra những hậu quả gián tiếp
với các nguồn tích tụ từ các hậu
quả trực tiếp lên các nguồn tiếp
nhận
Tạo điều kiện khái quát hóa các quan
hệ nhân – quả và nhận dạng các hậu quả trực tiếp và gián tiếp
Không có quy
mô và sơ đồ không gian, thời gian, có thể phức tạp và rối rắm
Trang 29Phương
Các nhược điểm
nhân - quả mà chúng sinh ra từ
các hậu quả tích lũy, bằng cách
mô phỏng các điều kiện môi
trường
Xử lý các quan hệ nhân – quả và cho các kết quả được định lượng Các ranh giới địa lý và các khung thời gian thường được biểu hiện rõ ràng
Cần nhiều thời gian và dữ liệu, việc ngoại suy vẫn còn mang nhiều tính chủ quan Có thể khó làm thích ứng một số dạng mô hình cho một tình huống cụ thể
Đánh giá hiện trạng của một
nguồn môi trường, hệ sinh thái
hay sức khỏe cộng đồng qua thời
gian và thường là sự phản ánh
bằng đồ thị của quá khứ hay
tương lai Có thể xác định được
những thay đổi trong khi xảy ra
hay cường độ của những áp lực
gây sức ép ở một khoảng thời
gian Các xu hướng có thể giúp
Cần nhiều dữ liệu và việc ngoại suy vẫn còn mang nặng tính chủ quan
quả lên nơi tiếp nhận hay các
nguồn tiếp nhận để thiết lập thời
gian xảy ra tại các vị trí không
gian mà các hậu quả có thể là
quan trọng
Linh hoạt và dễ cập nhật Có thể xem xét nhiều phương
án và các lựa chọn trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Cho phép giới thiệu bằng những hình ảnh nhìn thấy
rõ ràng
Có thể là đắt tiền và tốn thời gian, khó định lượng các hậu quả
Trang 30Phương
Các nhược điểm
và đánh giá các hậu quả Các
nhóm chuyên gia có thể được
hình thành để tạo thuận lợi cho
việc trao đổi thông tin và biểu lộ
quan điểm đánh giá các hậu quả
tích lũy
Đặc biệt hữu ích khi các phương pháp khác không
có sẵn mà các hậu quả tích lũy quan trọng có khả năng được xem xét
Chỉ dựa vào một số các chuyên gia có thể ảnh hưởng đến tính công khai hay sự đồng thuận trong quy trình đánh giá
Dựa trên nhận biết rằng trong
môi trường có các ngưỡng chịu
tải và cho rằng các hậu quả tích
lũy có thể dẫn đến kết quả vượt
quá các ngưỡng đó
Hữu ích trong xử
lý sự tích tụ các hậu quả đối với các ngưỡng và xem xét các xu hướng ô nhiễm môi trường
Không phải luôn luôn có thể thiết lập được ngưỡng hay công suất mang của một thành phần môi trường hay một nơi tiếp nhận
Phân tích đa tiêu chí (MCA) là
phương pháp đánh giá các giải
pháp lựa chọn, dựa trên một số
tiêu chí và kết hợp các đánh giá
riêng rẽ vào trong một đánh giá
tổng hợp Phương phá này có thể
được sử dụng để xếp hạng các
phương án và lựa chọn được
phương án tối ưu
Phương pháp này cũng thường được
sử dụng trong ĐMC Có thể đánh giá tác động tổng hợp của dự án
Hữu ích trong việc
so sánh các phương
án thay thế
Thường rất khó đồng thuận và hay tranh cãi về lựa chọn các tiêu chí khác nhau và lượng giá hay tầm quan trọng của mỗi tiêu chí
Có thể đưa đến các nhận định, đánh giá thiên lệch
trị tiền tệ của lợi nhuận mang lại
và chi phí, thiệt hại về mặt môi
trường
Phương pháp CBA cung cấp các thông tin dễ hiểu về mặt kinh tế môi trường cho các nhà ra quyết định
Gặp nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật lượng giá chi phí/lợi ích
và thường gây
ra tranh cãi mâu thuẫn trong đánh giá
Trang 311.2.3.2 Đánh giá môi trường chiến lược của Anh Quốc
Theo tài liệu hướng dẫn đánh giá môi trường chiến lược của Anh Quốc, quy trình ĐMC đối với các dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, hay chương trình, nói chung đều qua những bước thực hiện gần tương tự như quy trình thực hiện ĐTM đối với Dự án cụ thể Các bước tiến hành trong quy trình thực hiện đánh giá môi trường chiến lược của Anh quốc được thể hiện trong sơ đồ sau:
Sơ đồ 2 Các bước trong quy trình thực hiện ĐMC của Anh
1.2.3.3 ĐMC của Na Uy
Theo Rob Verheem của Ủy ban Đánh giá tác động môi trường Na Uy,
Đưa ra các giải pháp có tính chiến lược BVMT và kiến nghị định hướng điều chỉnh CL, QH, KH, CT
để giảm nhẹ các hậu quả MT có hại
CL, QH, KH, CT
Nhận dạng, sàng lọc dự án và sơ bộ nhận dạng các vấn đề môi trường
Trang 32có thể phân chia quy trình ĐMC thành 4 bước và 4 giai đoạn như sau:
- Chú trọng đánh giá dựa trên những tài liệu có minh chứng
- Thiết lập tổ chức (độc lập) đảm bảo chất lượng
Bước 3 Ra quyết định
- Thảo luận với tất cả các bên liên quan về phương án lựa chọn để chọn phương án phù hợp hơn
- Thúc đẩy thảo luận (có tính chiến lược) trên văn bản
Bước 4 Kiểm tra chất lượng
- Kiểm tra chất lượng và thảo luận về các kết quả
b/ Các giai đoạn của ĐMC
Giai đoạn 1: làm sáng tỏ vấn đề
- Thông báo bắt đầu ĐMC
- Tạo sự nhất trí cho các bên liên quan về các vấn đề, các mục tiêu và các phương án lựa chọn
- Tìm ra các mục tiêu hiện có trong nước/khu vực/ theo lĩnh vực và có các mục tiêu mới nào phù hợp với mục tiêu cũ không
Giai đoạn 2: Đánh giá kỹ thuật
- Thiết lập điều khoản tham chiếu đánh giá kỹ thuật
- Tiến hành đánh giá, chuẩn bị và công bố tài liệu, in ấn, đồng thời tổ chức hệ thống đảm bảo chất lượng tốt
Giai đoạn 3: Sử dụng các thông tin để ra quyết định
Trang 33- Các bên liên quan cùng thảo luận về các kết quả và khuyến cáo cho những người ra quyết định
Giai đoạn 4: Kiểm tra và đánh giá kết quả cuối cùng
1.2.4 Nhận xét chung về ĐMC của một số nước trên thế giới và một
số tổ chức quốc tế
Đánh giá môi trường chiến lược đã được nhiều nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế thực hiện từ nhiều năm nay, khởi đầu từ Mỹ với nội dung ĐMC trong Luật về chính sách môi trường quốc gia (năm 1969) Năm 2001 đánh dấu một giai đoạn mới của sự phát triển ĐMC, giai đoạn hướng tới sự chuẩn hóa quy trình, nội dung và phạm vi áp dụng ĐMC ở Châu Âu, với sự
ra đời của bản Chỉ thị số 2001/42/EC của Nghị viện Châu Âu EC về yêu cầu ĐMC đối với các chính sách, kế hoạch, chương trình, bắt buộc áp dụng với tất cả các nước thành viên Cộng đồng Châu Âu Tùy thuộc điều kiện của mỗi quốc gia, tùy thuộc vào mục tiêu của chương trình, dự án mà nội dung và phương pháp đánh giá môi trường chiến lược ở mỗi nước có khác nhau
- Về phương pháp luận và cách thức tiến hành cụ thể của ĐMC không chỉ là rất mới mẻ mà hiện đang còn có sự khác biệt giữa nước này với nước khác, giữa lĩnh vực phát triển này với lĩnh vực phát triển khác Nhìn chung các nước, các tổ chức quốc tế liên quan đang tiệp tục tổng kết, đúc rút kinh nghiệm và hoàn thiện các phương pháp về ĐMC cho các bối cảnh khác nhau, các lĩnh vực phát triển khác nhau
- Mỹ là nước đã xây dựng được quy trình ĐMC rất bài bản, quy định
áp dụng cụ thể cho từng địa phương, từng lĩnh vực phát triển Tuy nhiên, nước Mỹ đã tiến những bước rất dài trong quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội nên việc áp dụng áp dụng vào các nước nghèo là không dễ dàng
- Quy trình chung và các phương pháp ĐMC do Ủy ban Châu Âu xây dựng và ban hành dễ áp dụng hơn Trên cơ sở khung quy định chung này, các nước thành viên cụ thể hóa việc áp dụng ĐMC cho phù hợp với điều kiện của mình, cho từng vùng lãnh thổ và ngành
- Một số nước đang phát triển như Trung Quốc, Nam Phi … cũng đã bước đầu áp dụng ĐMC va thấy được lợi ích của nó trong phát triển Tuy nhiên quy trình chuẩn đối với ĐMC ở những nước này còn chưa được hoàn thiện Các ĐMC hầu hết mới được áp dụng thử nghiệm, do yêu cầu hay thông qua các chương trình, dự án và sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế
Trang 34- Kinh nghiệm các nước cho thấy, muốn thực sự phát huy được vai trò của ĐMC như một công cụ trong phát triển bền vững, cần thiết phải thể chế hóa ĐMC, cũng như phải xây dựng được một quy trình chung, cũng như quy trình đối với mỗi lĩnh vực, mỗi ngành cho việc thực hiện ĐMC
1.3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐMC TRONG NƯỚC 1.3.1 Giai đoạn trước năm 1994
Từ đầu những năm 1980, nhiều nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM) thông qua hội thảo khao học
và các khóa đào tạo Chính phủ Việt Nam cũng sớm nhận thức được vấn đề bảo vệ môi trường và ĐTM nên đã tạo điều kiện cho các cơ quan, cá nhân tiếp cận lĩnh vực này Đã có nhiều dự án hợp tác, nghiên cứu về luật và chính sách môi trường nói chung và ĐTM nói riêng ở một số nước trên thế giới, những kinh nghiệm rút ra được ở các nước khác nhau đã được bước đầu áp dụng vào Việt Nam và mang lại những hiệu quả nhất định
Công tác ĐTM ở Việt Nam được quan tâm nghiên cứu từ những năm đầu của thập kỷ 80 Trong đó, nổi bật hơn cả là công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến ĐTM là chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước về tài nguyên thiên nhiên và môi trường giai đoạn 1980 - 1985 Thông qua chương trình này, các vấn đề về ĐTM đã được đưa vào nghiên cứu để cung cấp cơ sở khoa học cho việc ban hành các quy định pháp lý liên quan sau này
Giai đoạn sau năm 1985 đã có sự đầu tư của một số tổ chức quốc tế, nhiều khóa học về ĐTM đã được mở ra Dựa trên các kết quả nghiên cứu của các đề tài có liên quan, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành nghị quyết số 246-HĐBT, ngày 20/09/1985, về việc đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, trong
đó quy định rằng trong xét duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật của công trình xây dựng lớn, hoặc chương trình phát triển kinh tế - xã hội quan trọng cần phải tiến hành ĐTM
Đến năm 1990, Nhà nước cũng đã đầu tư vào nhiều chương trình điều tra cơ bản như chương trình điều tra cơ bản vùng Tây Nguyên, vùng đồng bằng Sông Cửu Long, các tỉnh giáp biển miển Trung… Các số liệu và kết quả thu được từ các chương trình này sẽ là cơ sở cho công tác ĐTM Cũng trong giai đoạn này cũng đã tiến hành chương trình nghiên cứu một số vấn đề
về suy thoái tài nguyên và môi trường ở Việt Nam như: suy thoái đất, suy
Trang 35thoái rừng, suy thoái đa dạng sinh học ở nhiều vùng lãnh thổ
Sau năm 1990, nhà nước ta cho tiến hành chương trình nghiên cứu môi trường mang mã số KT02, trong đó có một đề tài nghiên cứu trực tiếp về ĐTM Trong khuôn khổ các đề tài này, một số báo cáo ĐTM mẫu đã được lập như ĐTM nhà máy giấy Bãi Bằng, công trình thủy lợi Thạch Nham Tuy chưa có luật bảo vệ môi trường song nhà nước đã yêu cầu một số dự án phải
có ĐTM như công trình thủy điện Trị An, nhà máy lọc dầu Thành Tuy Hạ
Một loạt cơ quan nghiên cứu và quản lý môi trường đã được thành lập như Cục môi trường trực thuộc bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường và các
cơ quan có chức năng nghiên cứu về môi trường khác Các cơ quan trên sẽ đảm nhận công tác lập báo cáo ĐTM và tiến hành thẩm định các báo cáo này
Việt Nam chúng ta cũng đã tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm trong việc thực thi ĐTM, và đó cũng là một cơ sở tốt để triển khai ĐMC đối với các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch ở tầm vĩ mô Một vấn đề quan trong khi áp dụng phương thức này là phải lồng ghép thực sự quy trình ĐMC vào quy trình xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch từ những bước đầu tiên Kinh nghiệm các nước cho thấy, muốn thực sự phát huy được vai trò của ĐMC như một công cụ trong phát triển bền vững, cần phải thể chế hóa ĐMC, cũng như phải xây dựng được một quy trình chung, cũng như quy trình đối với mỗi lĩnh vực, mỗi ngành cho việc thực hiện ĐMC Nước ta đã tiến một bước tiến quan trọng để đạt tới mục tiêu này, với việc đưa nội dung ĐMC vào luật bảo vệ môi trường và có những quy định về việc áp dụng các phương pháp, công cụ trong ĐMC rất linh hoạt và sáng tạo
1.3.2 Giai 1994 – 2005
Đây là giai đoạn đầu tiên công tác môi trường được thực hiện theo Luật Bảo vệ môi trường (từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 có hiệu lực đến khi có Luật Bảo vệ môi trường 2005) Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 27/12/1993 và Chủ tịch nước ra quyết định công bố
số 29L/CTN ngày 10/01/1994 đã mở ra một bước ngoặt trong công tác bảo
vệ môi trường nói chung và ĐTM nói riêng ở nước ta Điều 17 và 18 trong Luật bảo vệ môi trường quy định “các dự án đang hoạt động và các dự án muốn hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam phải lập báo cáo ĐTM và trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt”
Trang 36Cùng với sự ra đời của Luật Môi trường Việt Nam năm 1994, ĐTM đã chính thức được đưa ra như một đòi hỏi pháp lý đối với các dự án phát triển Điều 9 trong Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trường đã hướng dẫn về phân cấp các kiểu dự
án phải thực hiện Đánh giá Tác động Môi trường (ĐTM), đã ghi rõ: “ĐTM phải được tiến hành không chỉ đối với các dự án đặc biệt mà cũng cần thiết cho các quy hoạch tổng thể phát triển vùng, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, thành phố trực thuộc Trung ương, các quy hoạch đô thị khu dân cư”
Như vậy quy định về ĐTM đối với các đối tượng quy hoạch phát triển nêu trên đã mang tính chất của ĐMC
Nhưng trong thực tế ở nước ta chưa có dự án qui hoạch nào được tiến hành ĐMC chính thức Trong suốt quá trình thực hiện Luật bảo vệ môi trường, về mặt pháp luật công cụ ĐMC không được đặt ra để thực hiện trong quá trình xây dựng và phê duyệt các kế hoạch, quy hoạch mà thay vào đó chỉ
là việc áp dụng công cụ ĐTM Hầu như không có đối tượng nào là quy hoạch hoặc kế hoạch quy định tại Điều 9 của nghị định số 175/CP nói trên thực hiện và áp dụng được công cụ ĐTM một cách có hiệu quả Một trong những nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là trong các quy định về ĐTM thiếu các phương pháp luận và các phương pháp cụ thể Hay nói một chách khác là sự tiếp cận ĐTM cho các loại hình quy hoạch và kế hoạch là không thích hợp(1)
Việc thực hiện ĐTM đối với các loại hình quy hoạch, kế hoạch phát triển ở nước ta vẫn chưa được tiến hành, chủ yếu do chưa có phương pháp luận thống nhất, cũng như chưa có các hướng dẫn và quy định về pháp lý về thực hiện ĐMC(2) Dựa trên những điều khoản được quy định trong các văn bản đã ban hành, nhiều báo cáo ĐTM đã được thẩm định góp phần giúp những người ra quyết định có thêm tài liệu để xem xét toàn diện các dự án phát triển ở Việt Nam
Khái niệm “Đánh giá Môi trường Chiến lược” (ĐMC) đã được các chuyên gia quốc tế giới thiệu tại Việt Nam lần đầu tiên trong hội thảo về ĐTM ở các nước Đông Nam á do IUCN và Cục môi trường tổ chức tháng 10/1997 Hội thảo này đã ra công bố Hà Nội về Tăng cường Năng lực bảo vệ môi trường các nước Đông Nam á, nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển
đánh giá môi trường trên mức ĐTM của các dự án, Điều 1 nêu rõ: "Việc thể
(1) Theo Phạm Ngọc Đăng, 2001
( 2 ) Theo Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005
Trang 37chế hoá hệ thống Đánh giá môi trường có hiệu quả và thúc đẩy sự sử dụng ĐMC là tối cần thiết"
Để giải quyết những vấn đề nêu trên, một yêu cầu đặt ra ở Việt Nam trong giai đoạn này là phải tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu kinh nghiệm các nước trên thế giới Cho đến hiện tại, tuy còn có những ý kiến khác nhau về cách tiếp cận, phương pháp luận và phương pháp tiến hành, nhưng ở hầu hết các nước đã có sự thống nhất về vị trí áp dụng các công cụ môi trường cho các công đoạn cụ thể của tiến trình phát triển Theo đó, đối với các công đoạn xây dựng các chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, chương trình (công đọan thượng nguồn của quá trình phát triển) người ta đều áp dụng công cụ ĐMC để quản lý môi trường; đối với công đoạn xây dựng dự án đầu
tư cụ thể (công đoạn trung nguồn) là áp dụng ĐTM; còn đối với các cơ sở đã
đi vào hoạt động (công đoạn hạ nguồn) thì áp dụng công cụ kiểm toán môi trường
Các nỗ lực trong việc tiếp cận với ĐMC về mặt phương pháp luận và nghiên cứu thí điểm được thể hiện trong gần 10 năm trở lại đây, thông qua kết quả của các dự án như:
Dự án “Xây dựng năng lực cho quản lý môi trường ở Việt Nam” do Cộng đồng Châu Âu (EU) tài trợ, đã nghiên cứu về phương pháp luận cho ĐMC, phương pháp đánh giá tác động tích dồn trong ĐMC, đồng thời áp dụng nghiên cứu thí điểm cho quy hoạch tổng thể tỉnh Quảng Ninh (Hens, 2000) Đề xuất khung hướng dẫn cho ĐTM đối với các dự án quy hoạch đô thị theo các phương pháp của ĐMC, và xuất bản “Sổ tay hướng dẫn thực hiện đánh giá tác động môi trường của các dự án quy hoạch đô thị” Sổ tay hướng dẫn đề cập đến các vấn đề về nguyên tắc của ĐMC trong đó các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm quản lý và xét duyệt quy hoạch, các bước tiến hành thực hiện và lập báo cáo cũng như yêu cầu nội dung của báo cáo ĐMC cho một dự án quy hoạch đô thị Cuốn sổ tay sẽ tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước về quy hoạch và môi trường ở các cấp tiến hành thẩm định, xét duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị, góp phần đẩy mạnh việc thực thi công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động quy hoạch
Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp đã có các tổng kết trong báo cáo "Hướng dẫn đánh giá tác động môi trường dự án quy hoạch phát triển Kinh tế – Xã hội"; "Đề án nghiên cứu về cơ sở khoa học và
Trang 38phương pháp luận về đánh giá tác động môi trường tổng hợp của hoạt động phát triển trên một vùng lãnh thổ" là những kết quả hoàn thiện về mặt cơ sở phương pháp luận nghiên cứu ĐMC ở Việt Nam Với nội dung rất phong phú
và chi tiết về phương pháp luận của việc thực hiện ĐMC đối với các dự án quy hoạch Nghiên cứu đã đề cập đến nhiều vấn đề, từ tổng quan về ĐMC,
cơ sở khoa học của ĐMC, nội dung và quy trình thực hiện, đến phân tích các phương pháp đánh giá tác động tích luỹ trong ĐMC Bên cạnh đó, báo cáo còn đưa ra kết quả nghiên cứu thí điểm ĐMC sơ bộ cho quy hoạch phát triển KTXH tỉnh Thái Nguyên đến năm 2010 Các nội dung được đánh giá trong nghiên cứu thí điểm bám sát theo yêu cầu nội dung của Hướng dẫn thực hiện ĐMC Nghiên cứu đánh giá toàn diện các điều kịên môi trường nền, chú trọng vào các vấn đề môi trường nổi cộm và cần ưu tiên Phương pháp đánh giá được sử dụng là phương pháp liệt kê và phân tích tác động, dựa vào quy hoạch để dự báo sự phát triển KTXH của tỉnh cũng như dự báo các loại tác động tích luỹ đến môi trường nước, không khí trong tương lai do quy hoạch
Dựa trên kết quả dự báo tác động từ các định hướng quy hoạch phát triển KTXH của Thái Nguyên, đề xuất chiến lược và chương trình bảo vệ môi trường của tỉnh Tuy nhiên, mặt hạn chế của nghiên cứu thí điểm này là, các vấn đề môi trường mới chỉ được nhận dạng bằng phương pháp liệt kê và
sử dụng ma trận, các công cụ lập bản đồ chưa được áp dụng nên nhận biết các vấn đề môi trường theo phạm vi không gian còn hạn chế
Bên cạnh việc nghiên cứu quy trình, phương pháp, một vấn đề quan trọng khác có liên quan tới năng lực thực thi ĐMC đó là sự phối hợp thực hiện của các cấp, các ngành có liên quan trong quá trình quy hoạch và ra quyết định phê duyệt Kết quả Chương trình nghị sự 21 – Phát triển bền vững Quốc gia, với các dự án nghiên cứu “Lồng ghép các vấn đề môi trường trong đầu tư” và "Tăng cường năng lực quản lý hành chính cho phát triển bền vững" phối hợp giữa UNDP và các cơ quan như Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng thực hiện năm 2000-2001 Các dự án này tập trung phân tích kế hoạch quốc gia về môi trường ở Việt Nam, nhằm hoà nhập cân nhắc môi trường vào các quyết định đầu tư và quy hoạch ở mọi cấp, thúc đẩy phát triển bền vững Dự án tập trung vào hệ thống lập kế hoạch hoá, các quá trình xây dựng kế họach kinh tế và xã hội, kế họach vùng, lồng ghép các vấn đề môi trường vào quy hoạch vùng nhằm xác định phương
Trang 39hướng của khuôn khổ cho công cuộc phát triển Đồng thời dự án về "Hỗ trợ cải cách hành chính thí điểm tại Hải Phòng" chú trọng đến việc tăng cường năng lực các cấp quản lý hành chính địa phương trong việc kết hợp các vấn
đề của ĐMC vào việc ra quyết định quy hoạch tại các cấp, đưa sự tham gia của cộng đồng vào các giai đoạn thiết kế quy hoạch, chiến lược phát triển, xây dựng các văn bản hướng dẫn cho Đánh giá môi trường chiến lược; quy hoạch môi trường và phân vùng môi trường; dự thảo chiến lược bảo vệ môi trường
Ngoài ra, nghiên cứu thí điểm còn được tiến hành trong lĩnh vực đánh giá tác động của Hiệp định Tự do hoá Thương mại đối với ngành sản xuất lúa gạo ở Việt Nam Dự án do UNDP tài trợ năm 2001 cho Đại học Nông Lâm Huế Đây là một hướng tiếp cận rất mới mẻ của ĐMC trong đánh giá tổng hợp Mục tiêu của dự án nhằm tiến hành đánh giá ở cấp quốc gia những tác động đến môi trường của Hiệp định Tự do hoá Thương mại trong nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa, đánh giá những lợi ích và bất lợi khi thực hiện các hiệp định quốc tế Tuy nhiên đề tài chưa được tiến hành đúng với quy trình của ĐMC và kết quả chưa đánh giá được những tác động tích luỹ, tổng hợp đến môi trường
- Ngày 02 tháng 12 năm 2003 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định
số 256/2003/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Kết quả của các nội dung đã được phê duyệt trong chương trình và dự án trên đã góp phần nâng cao năng lực ứng dụng ĐMC ở Việt Nam, và là những bước tiền đề cho việc hoàn thiện cơ
sở phương pháp luận và khung pháp lý chính thức đối với ĐMC trong giai đoạn tiếp theo
1.3.3 Giai đoạn 2005 đến nay
Giai đoạn này được coi là giai đoạn hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực thực thi ĐMC tại Việt Nam Sau nhiều năm nghiên cứu những lợi ích và sự cần thiết phải tiến hành đánh giá các vấn đề môi trường trong các kế hoạch phát triển KTXH, đến ngày 29/11/2005, Luật Bảo vệ Môi
trường 2005 (thay thế Luật Bảo vệ môi trường năm 2003) trong đó có các
Điều, khoản quy định về ĐMC đã được Quốc hội Khóa 11, Kỳ họp thứ 8 thông qua (số 52/2005/QH11) Toàn bộ Mục II, Chương III của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 đề cập đến các quy định về ĐMC đối với các dự án, chương trình, quy hoạch mang tính chất chiến lược
Trang 40Như vậy, sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu, Việt Nam đã có khung luật quy định chính thức về thực hiện ĐMC Điều 14 Luật Bảo vệ Môi trường 2005 nêu rõ các đối tượng phải xây dựng báo cáo ĐMC gồm:
- Chiến lược, quy họach, kế hoạch phát triển KT-XH cấp Quốc Gia
- Chiến lược, quy họach, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên quy
- Quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm
- Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông khu vực liên tỉnh
Việc quy định các đối tượng hay nói một cách khác quy định những hạng mục công việc nào, cấp hành chính hoặc khu vực nào cũng như quy định các loại quy hoạch, nhằm giúp cho việc tiến hành sàng lọc các dự án và quy hoạch phù hợp ở tầm chiến lược Có thể thấy những dự án quy hoạch khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên từ cấp tỉnh trở xuống là những đối tượng không bắt buộc phải tiến hành ĐMC theo quy định của Luật Bảo
vệ Môi trường 2005
Điều 15 Luật Bảo vệ Môi trường 2005 quy định về cơ quan chịu trách nhiệm lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, với yêu cầu thời gian thành lập các báo cáo ĐMC phải đồng thời với quá trình xây dựng và thiết kế quy hoạch
Điều 16 Luật Bảo vệ Môi trường 2005 quy định Nội dung khái quát của báo cáo ĐMC; quy định về cơ quan có thẩm quyền thực hịên thẩm định báo cáo ĐMC đối với các dự án có quy mô quốc gia, liên tỉnh và đối với các dự án cấp tỉnh
Điều 17 của Luật quy định thành phần của hội đồng thẩm định cụ thể như sau:
- Bộ tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo ĐMC đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ phê duyệt
- Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức hội đồng