Trên cơ sở khái niệm tội phạm đợc quy định tại Điều 8 BLHS: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc quy định trong Bộ luật hình sự, do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiệ
Trang 1mở đầu
Nhìn lại hai mơi năm đổi mới kể từ năm 1986, chúng ta đã
đạt đợc những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch
sử trên cả hai mặt lí luận và thực tiễn “Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, Đảng ta chủ trơng giải quyết tốt các vấn đề xã hội, coi đây là một hớng chiến lợc thể hiện bản chất
u việt của chế độ ta Thực hiện các chính sách xã hội hớng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thể hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ để phát triển sản xuất, thực hiện bình đẳng trong quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp” [1, tr.33] Bên cạnh những thành tựu to
lớn đã đạt đợc, chúng ta vẫn còn những yếu kém và khuyết
điểm, không ít vấn đề bức xúc nảy sinh cha đợc giải quyết,
đặc biệt “trong những năm qua tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, nhiều vụ án xảy ra với tính chất, hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” [10, tr.1].
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhà nớc ta cónhiệm vụ bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Nhà nớc cũng nhcủa nhân dân Với vai trò là nền tảng kinh tế xã hội của quốcgia, chế độ sở hữu là một trong những vấn đề trọng yếu đợcnhà nớc bảo vệ bằng mọi biện pháp trong đó biện pháp pháp lýhình sự thể hiện kiên quyết nhất ý chí quyền lực nhà nớctrong xử lý các hành vi xâm phạm tới chế độ sở hữu Trong sốcác tội xâm phạm sở hữu, tội trộm cắp tài sản là tội xâmphạm trực tiếp tới quyền sở hữu tài sản, nó xảy ra khá phổbiến ở mỗi giai đoạn phát triển, nhà nớc đều có những quy
định về tội trộm cắp tài sản và biện pháp xử lý nhằm đấu
Trang 2tranh loại bỏ tội phạm khỏi đời sống xã hội Những năm gần
đây tội trộm cắp tài sản diễn biến phức tạp gây hậu quảngày càng nghiêm trọng, ảnh hởng xấu đến trật tự an toàn xã
hội Riêng “thành phố Hà Nội trong năm 2006 đã thụ lý xét xử
1555 vụ trộm cắp tài sản, 2016 bị cáo, chiếm 26,9%, gây thiệt hại 17.362.096.769 đồng” [10, tr.4] Nhờ sự phối hợp chặt
chẽ của các cơ quan bảo vệ pháp luật, hoạt động xét xử củangành toà án từng bớc đợc nâng cao, số lợng các bản án bị huỷ
đã giảm, song bên cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại khuyết điểm
mà một trong những nguyên nhân là các cơ quan bảo vệ phápluật không đánh giá đúng bản chất của hành vi phạm tội dẫn
đến xác định sai tội danh, hoặc xử oan hoặc bỏ lọt tội phạm
Để khắc phục tình trạng trên thì vấn đề cốt lõi đầu tiên làphải nắm vững các quy định pháp luật về tội phạm, nhậnthức đúng bản chất của hành vi phạm tội từ đó có đờng lối xử
lý đúng đắn đảm bảo sự công bằng, nghiêm minh của phápluật Nhận thức đợc điều đó, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài:
Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 - Những vấn đề lí luận và thực tiễn
làm khoá luận tốt nghiệp cho mình với hy vọng giúp có đợc cáinhìn toàn diện, đúng đắn về tội trộm cắp tài sản
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội trộm cắp tài sản,trớc hết phải kể đến Giáo trình Luật hình sự của Trờng Đạihọc Luật Hà Nội, Trờng Đại học Quốc Gia Hà Nội, Bình luậnkhoa học BLHS phần Các tội xâm phạm sở hữu đã phân tíchcác dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản, tiếp đó là cáccông trình nghiên cứu cá nhân nh tác giả Vũ Thiện Kim với
“Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tài sản xã hội
Trang 3chủ nghĩa, tài sản của công dân”, tác giả Thân Nh Thành với luận văn thạc sĩ luật học “Đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội”, tác giả Nguyễn Ngọc Chí với “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu” cùng nhiều công trình nghiên cứu khác Song các công
trình nghiên cứu đó hoặc là về các tội xâm phạm sở hữu nóichung hoặc là nghiêng về mặt đấu tranh phòng chống tộiphạm, cha có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về tộitrộm cắp tài sản Khoá luận này đã đi sâu tìm hiểu toàndiện về tội trộm cắp tài sản, tìm ra những dấu hiệu pháp lý
đặc trng của tội phạm, những vấn đề cơ bản về TNHS củangời phạm tội, đồng thời phát hiện những điểm bất hợp lýtrong các quy định đó, đa ra ý kiến cá nhân nhằm hoànthiện quy định pháp luật về tội trộm cắp tài sản
Để đạt đợc mục tiêu đề ra, trong quá trình nghiên cứu tácgiả đã sử dụng phơng pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duyvật lịch sử và phơng pháp so sánh Nghiên cứu tội trộm cắp tàisản trong sự vận động nội tại phát triển của nó, trong mối quan
hệ với các quy định khác của luật hình sự nh: chế định
đồng phạm, chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm Tácgiả cũng đã nghiên cứu tội trộm cắp tài sản qua các giai đoạn
để thấy đợc sự phát triển của các quy định về tội trộm cắptài sản, đồng thời có so sánh quy định pháp luật về tội trộmcắp tài sản với các quy định khác của BLHS để thấy đợcnhững điểm hợp lý và cha hợp lý trong các quy định đó
Khoá luận có ý nghĩa về mặt lý luận cũng nh thực tiễn,những kết quả nghiên cứu của khoá luận có thể sử dụng làmtài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu khoa học pháp
Trang 4luật hình sự, đồng thời có thể phục vụ thiết thực cho công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm
Để nghiên cứu toàn diện về tội trộm cắp tài sản, ngoàiphần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tácgiả đã chia khoá luận làm hai chơng
Đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên của tácgiả, trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếusót, với tinh thần học hỏi cầu tiến tác giả rất mong nhận đợc sựgóp ý của các thầy cô và các bạn Qua đây, tác giả muốn bày
tỏ sự cảm ơn chân thành đến thầy giáo - thạc sỹ Hoàng VănHùng đã giúp đỡ tác giả, cảm ơn bạn bè đã luôn ủng hộ để tácgiả có thể hoàn thành tốt khoá luận này
Xin chân thành cảm ơn!
chơng 1: lịch sử lập pháp hình sự việt nam về tội trộm cắp tài sản từ năm 1945 đến nay và dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản theo quy định của bộ
luật hình sự việt nam năm 1999
Trang 51.1 Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản từ năm 1945 đến nay
Tội trộm cắp tài sản là một trong những tội phạm xuấthiện từ rất sớm và khá phổ biến Từ khi Cách mạng tháng Támnăm 1945 thành công, nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời,
để bảo vệ tài sản là nền tảng vật chất của xã hội, ở mỗi giai
đoạn Nhà nớc đều ban hành các quy định về tội trộm cắp tàisản nhằm đấu tranh loại bỏ tội phạm khỏi đời sống xã hội
1.1.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến trớc khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
Cách mạng thành công, Nhà nớc mới đợc thành lập phải đốiphó với thù trong giặc ngoài và hoàn cảnh kinh tế, văn hoá, xãhội của đất nớc còn khó khăn, để giải quyết các vụ án hình sựNhà nớc đã ban hành Sắc lệnh số 47- SL ngày 10-10-1946 tạmthời giữ lại các luật lệ tại miền Bắc, Trung, Nam Bộ cho đếnkhi ban hành các văn bản pháp luật thống nhất trong toàn quốc
Để bảo vệ chính quyền mới, Sắc lệnh số 47 quy định:
“Những điều khoản trong các luật lệ cũ đợc tạm thời giữ lại do sắc lệnh này chỉ đợc thi hành khi nào không trái với nguyên tắc độc lập của Nhà nớc Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoà” Sắc lệnh số 47 đợc ban hành kịp thời đã hạn chế tới mức
thấp nhất sự xáo trộn trong đời sống và quan hệ thờng nhậtcủa nhân dân, góp phần ổn định xã hội Trong giai đoạn nàyNhà nớc cũng đã ban hành một số Sắc lệnh quy định về tộitrộm cắp tài sản nh: Sắc lệnh số 12 ngày 12-3-1949 quy
định trừng trị các hành vi trộm cắp vật dụng nhà binh trongthời bình và thời kì chiến tranh; Sắc lệnh số 267 ngày 15-6-
1958 trừng trị những âm mu và hành động phá hoại tài sản
Trang 6của Nhà nớc, của hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việcthực hiện chính sách kế hoạch của Nhà nớc về xây dựng kinh
tế và văn hoá Điều 2 Sắc lệnh 267 quy định: “Ngời phạm các tội trộm cắp, lãng phí, làm hỏng, huỷ hoại, cớp bóc tài sản của Nhà nớc, của hợp tác xã, của nhân dân với mục đích phá hoại sẽ
bị xử phạt từ năm năm đến hai mơi năm tù” Sắc lệnh này
nghiêm trị những ngời phạm tội vì mục đích phá hoại tài sảncủa Nhà nớc, của hợp tác xã, của nhân dân hoặc vì mục đíchphá hoại mà làm cản trở đến việc thực hiện kế hoạch chínhsách của Nhà nớc về kinh tế, văn hóa
Ngoài các Sắc lệnh trên, ở giai đoạn này phải kể đến sự
ra đời của hai bản Pháp lệnh năm 1970 đó là Pháp lệnh trừngtrị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị cáctội xâm phạm tài sản riêng của công dân đợc Uỷ ban Thờng vụQuốc hội thông qua ngày 21-10-1970 Pháp lệnh quy định:
“Tài sản xã hội chủ nghĩa bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nớc (tức sở hữu toàn dân), và tài sản thuộc sở hữu của hợp tác xã và các tổ chức hợp pháp khác (tức sở hữu của tập thể)”; “tài sản của công dân gồm: của cải do sức lao động của công dân làm ra, của cải thu nhập một cách hợp pháp hoặc
để dành đợc nh tiền bạc, xe cộ, nhà cửa và những đồ dùng riêng khác”.
Điều 7 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCNquy định tội trộm cắp tài sản XHCN nh sau:
“1 Kẻ nào trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù
từ sáu tháng đến năm năm 2 Phạm tội trong những trờng hợp sau đây: a Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm; b Có tổ chức; c Có móc ngoặc; d Dùng thủ đoạn xảo
Trang 7quyệt, nguy hiểm; e Trộm cắp tài sản với số lợng lớn hoặc tài sản có giá trị đặc biệt; f Dùng tài sản trộm cắp đợc vào việc kinh doanh, bóc lột, đầu cơ, hoặc vào những việc phạm tội khác thì bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm 3 Phạm tội trong trờng hợp số tài sản bị xâm phạm rất lớn hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mời hai năm đến hai mơi năm, tù chung thân hoặc bị xử tử hình”.
Trong thời kì này, Nhà nớc cũng chú trọng bảo vệ tài sảnriêng của công dân, Điều 6 Pháp lệnh trừng trị các tội xâmphạm tài sản riêng của công dân quy định tội trộm cắp tài
sản riêng của công dân nh sau: “1 Kẻ nào trộm cắp tài sản riêng của công dân thì bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm 2 Phạm tội thuộc những trờng hợp sau: a Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm; b Có tổ chức; c Dùng thủ
đoạn xảo quyệt; d Gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của ngời bị thiệt hại hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ hai năm đến mời năm 3 Phạm tội trong trờng hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mời lăm năm” [6, tr.713].
Hai bản Pháp lệnh trên thể hiện nguyên tắc cơ bản củaNhà nớc ta là: kiên quyết bảo vệ tài sản XHCN, coi tài sản XHCN
là thiêng liêng và bất khả xâm phạm; quán triệt nguyên tắc:Nhà nớc bảo hộ tài sản riêng của công dân, chống mọi hành vixâm phạm, bất kì ai có hành vi xâm phạm đến tài sản củaNhà nớc và tài sản riêng của công dân đều phải đợc phát hiệnkịp thời và xử lý nghiêm minh Đồng thời Pháp lệnh cũng thểhiện nguyên tắc xử lý ngời phạm tội là: nghiêm trị bọn lu manh
Trang 8chuyên nghiệp, bọn tái phạm, bọn phạm tội có tổ chức, bọn lợidụng chức vụ quyền hạn để phạm tội, xử lý nhẹ hoặc miễnhình phạt cho những ngời tự thú, thật thà hối cải, tố giác đồngbọn hoặc tự nguyện bồi thờng thiệt hại đã gây ra Hai bảnpháp lệnh đã xây dựng hai cấu thành tội phạm hoàn chỉnh vềtội trộm cắp tài sản đó là tội trộm cắp tài sản XHCN và tộitrộm cắp tài sản riêng của công dân, đã quy định cụ thể vàtập trung các tình tiết tăng nặng định khung trong điềuluật, có các khung hình phạt tơng ứng với tính chất và mức độnguy hiểm của tội phạm, góp phần phân hoá TNHS ngời phạmtội
ở giai đoạn này, những văn bản pháp luật quy định về tộitrộm cắp tài sản còn tản mạn, riêng lẻ nhng nó phù hợp với hoàncảnh xã hội lúc bấy giờ, tuy nhiên vẫn còn sự phân biệt giữa tộitrộm cắp tài sản XHCN và tội trộm cắp tài sản của công dân
1.1.2 Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
Từ những văn bản tản mạn riêng lẻ, BLHS năm 1985 đợcQuốc hội khoá VII thông qua ngày 27-6-1985, thể hiện dới hìnhthức bộ luật - một hình thức lập pháp cao, đã trình bày có hệthống, toàn diện phần chung cũng nh phần các tội phạm cótính bao quát về tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội có tácdụng bảo vệ thành quả cách mạng, an ninh quốc gia, trật tự xãhội, quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân BLHS 1985
về các tội xâm phạm sở hữu rất tiêu biểu cho thời kì quá độxây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, theo đó chỉ cóhai loại hành vi xâm phạm sở hữu là hành vi xâm phạm sở hữu
Trang 9XHCN và hành vi xâm phạm sở hữu của công dân quy định ởhai chơng: Các tội xâm phạm sở hữu XHCN và Các tội xâmphạm sở hữu của công dân.
Điều 132 BLHS 1985 quy định tội trộm cắp tài sản XHCN
nh sau:
“1 Ngời nào trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm 2 Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mời hai năm: a Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; c Hành hung để tẩu thoát; d Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn; đ Tái phạm nguy hiểm 3 Phạm tội trong trờng hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mời năm
đến hai mơi năm, tù chung thân hoặc tử hình”.
Điều 155 BLHS 1985 quy định tội trộm cắp tài sản củacông dân nh sau:
“1 Ngời nào trộm cắp tài sản của ngời khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng
đến một năm 2 Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau
đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mời năm: a Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm, hành hung để tẩu thoát; c Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác; d Tái phạm nguy hiểm 3 Phạm tội trong trờng hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mơi năm”.
BLHS 1985 đã trở thành một cơ sở pháp lý quan trọngtrong việc xử lý ngời phạm tội, song vẫn còn sự phân biệt giữatội trộm cắp tài sản XHCN và tội trộm cắp tài sản của công
Trang 10dân, theo đó ngời phạm tội trộm cắp tài sản XHCN bị xử lýnghiêm khắc hơn ngời phạm tội trộm cắp tài sản của côngdân, điều đó thể hiện đờng lối xử lý của Nhà nớc ta đối vớingời phạm tội trộm cắp tài sản Qua bốn lần sửa đổi bổ sung,BLHS 1985 không còn là một chỉnh thể thống nhất cần có mộtBLHS mới thay thế, vì vậy BLHS 1999 đã ra đời thay thế BLHS
1985 trên cơ sở có kế thừa và phát triển cho phù hợp với điềukiện xã hội
1.1.3 Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam
nh chính sách xử lý nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấutranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn mới Ngày 21-12-
1999 Quốc hội khoá X đã thông qua BLHS của nớc Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (Bộ luật có hiệu lực từ ngày1-7-2000) Bộ luật có quy định rất cụ thể về nhóm tội xâmphạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng Điều
138 BLHS 1999 quy định tội trộm cắp tài sản nh sau:
“1 Ngời nào trộm cắp tài sản của ngời khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dới năm mơi triệu đồng hoặc dới năm trăm nghìn đồng nhng gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc
đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt cha đợc xoá án tích mà còn vi phạm
Trang 11thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt
tù từ sáu tháng đến ba năm 2 Phạm tội thuộc một trong các ờng hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a Có
tr-tổ chức; b Có tính chất chuyên nghiệp; c Tái phạm nguy hiểm; d Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; đ Hành hung
để tẩu thoát; e Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mơi triệu đồng đến dới hai trăm triệu đồng; g Gây hậu quả nghiêm trọng 3 Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau
đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mời lăm năm: a Chiếm
đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dới năm trăm triệu đồng; b Gây hậu quả rất nghiêm trọng 4 Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây thì bị phạt tù từ mời hai năm đến hai mơi năm hoặc tù chung thân: a Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; b Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng 5 Ngời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến dới năm mơi triệu đồng”.
Đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộmcắp tài sản nói riêng, BLHS 1999 đã có những thay đổi đáng
kể so với BLHS 1985 khi chỉ xây dựng một chơng: Các tộixâm phạm sở hữu, bao quát tất cả các hình thức sở hữu đã
đợc BLDS quy định, bảo đảm vị trí bình đẳng của cácthành phần kinh tế đồng thời vẫn thể hiện đợc sự đề cao vai
trò của sở hữu Nhà nớc khi quy định hành vi “xâm phạm sở hữu của Nhà nớc” là một tình tiết tăng nặng TNHS tại Điều 48
BLHS [22, tr.25] Đối với tội trộm cắp tài sản, BLHS 1999 khôngcòn quy định thành hai tội trộm cắp tài sản XHCN và tội trộmcắp tài sản của công dân mà quy định thống nhất thành tộitrộm cắp tài sản, vấn đề định lợng giá trị tài sản bị chiếm
Trang 12đoạt là tình tiết định tội và định khung hình phạt là những
điểm thay đổi cơ bản của BLHS 1999 so với BLHS 1985
1.2 D ấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
ở mỗi giai đoạn lập pháp hình sự, Nhà nớc đều ban hànhcác quy định về tội trộm cắp tài sản và đờng lối xử lý ngờiphạm tội, song các văn bản pháp luật đều không đa ra kháiniệm về tội trộm cắp tài sản, nh vậy cần tìm hiểu thế nào làtội trộm cắp tài sản
Theo từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam,
trộm cắp tài sản đợc hiểu là “hành vi lén lút bí mật đối với ngời quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản” Cũng có cách hiểu trộm cắp tài sản là “hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ngời khác” [11, tr.196] Nh vậy trộm cắp tài sản là hành vi
chiếm đoạt tài sản, tính chất của hành vi là lén lút bí mật và
đối tợng là tài sản đang có ngời quản lý
Trên cơ sở khái niệm tội phạm đợc quy định tại Điều 8
BLHS: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc quy định trong Bộ luật hình sự, do ngời có năng lực trách nhiệm hình
sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý ”, có thể đa ra khái niệm về tội trộm cắp tài sản nh sau: Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ngời khác, do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản đợc pháp luật bảo vệ.
Trên đây là khái niệm chung nhất về tội trộm cắp tài sản,
để hiểu đợc tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắptài sản cần nghiên cứu về các dấu hiệu pháp lý của nó Tộiphạm là thể thống nhất của bốn yếu tố: khách thể, mặt khách
Trang 13quan, mặt chủ quan, chủ thể Tội trộm cắp tài sản cũng baogồm bốn yếu tố cơ bản trên, trớc hết cần nghiên cứu về kháchthể của tội phạm.
1.2.1 Khách thể của tội trộm cắp tài sản
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội đợc luậthình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Bất kì tội phạm nàocũng đều xâm hại đến một hoặc một số quan hệ xã hội nhất
định đợc luật hình sự bảo vệ bằng cách gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội đó Những
đối tợng đợc xác định cần bảo vệ bởi các quy phạm pháp luật
hình sự bao gồm: “Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” (Điều 8 BLHS) Tội trộm cắp tài sản thuộc nhóm tội
xâm phạm sở hữu, khách thể của tội trộm cắp tài sản là quan
hệ sở hữu tài sản “Sở hữu”, theo quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin là tổng thể các quan hệ xã hội phát sinh trong quátrình sản xuất và phân phối của cải vật chất giữa con ngời vớinhau trong xã hội Quan hệ sở hữu tài sản là quan hệ xã hộitrong đó quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đợcpháp luật tôn trọng và bảo vệ Pháp luật dân sự Việt Nam quy
định một ngời đợc coi là chủ sở hữu tài sản khi ngời đó có
đầy đủ ba quyền năng: quyền chiếm hữu là quyền quản lý,chi phối tài sản; quyền sử dụng là quyền khai thác các lợi íchvật chất và tinh thần từ tài sản; quyền định đoạt là quyền
Trang 14quyết định số phận của tài sản nh bán, cho thuê Khi có hành
vi trộm cắp tài sản (hành vi chiếm đoạt tài sản) làm cho chủ
sở hữu tài sản không có khả năng thực hiện đợc các quyềnnăng đó của mình trên thực tế, nghĩa là quyền sở hữu tàisản của họ bị xâm phạm
Đối với hành vi trộm cắp tài sản thuộc quyền sở hữu hợppháp của chủ tài sản thì khách thể của tội trộm cắp tài sản làquan hệ sở hữu tài sản, vậy đối với những tài sản không thuộcquyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản nh: tài sản do chiếmhữu bất hợp pháp, tài sản do phạm tội mà có thì những tàisản mà ngời bị chiếm đoạt có đợc không đợc pháp luật thừanhận và bảo vệ Luật hình sự đã khẳng định khách thể củatội phạm phải là quan hệ xã hội đợc luật hình sự bảo vệ và bịtội phạm xâm hại, vì vậy trong trờng hợp này khách thể của tộitrộm cắp tài sản không phải là quan hệ sở hữu tài sản Hành
vi phạm tội trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội bịpháp luật nghiêm cấm, bị xã hội lên án, nó ảnh hởng đến tìnhhình trật tự, an toàn xã hội Do đó, trong trờng hợp này kháchthể của tội trộm cắp tài sản là quan hệ xã hội liên quan đếntrật tự an toàn xã hội Nếu cho rằng khách thể của tội trộm cắptài sản chỉ là quan hệ sở hữu tài sản thì trờng hợp trên sẽkhông cấu thành tội phạm, điều này bất hợp lý và dẫn đến bỏlọt tội phạm khi hành vi trộm cắp tài sản hợp pháp thì phạm tộicòn hành vi trộm cắp tài sản bất hợp pháp thì không phạm tội.Vì vậy khi có hành vi chiếm đoạt tài sản của ngời khác, dù tàisản đó có thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản haykhông thì vẫn là trộm cắp tài sản
Trang 15Khi nghiên cứu khách thể của tội phạm không thể khôngtìm hiểu đối tợng tác động của tội phạm vì mỗi tội phạm đềuxâm hại tới khách thể nhất định thông qua việc tác động
đến một đối tợng cụ thể Là quan hệ xã hội nên khách thể củatội phạm đợc cấu thành bởi ba bộ phận là chủ thể của quan hệxã hội (con ngời), đối tợng của quan hệ xã hội (các vật, hiện tợngtồn tại khách quan), nội dung của quan hệ xã hội (sự hoạt độngbình thờng của các chủ thể) Khách thể của tội phạm khôngtách rời các bộ phận cấu thành, vì vậy khi xâm hại tới kháchthể thì hành vi phạm tội phải tác động đến các bộ phận cấuthành nên khách thể làm biến đổi tình trạng bình thờng củacác bộ phận đó Các bộ phận cấu thành nên khách thể bị hành
vi phạm tội tác động nhằm gây thiệt hại hoặc đe dọa gâythiệt hại cho khách thể bảo vệ của luật hình sự gọi là đối tợngtác động của tội phạm Đối với tội trộm cắp tài sản, hành viphạm tội là hành vi chiếm đoạt tài sản của ngời khác, đó là sựdịch chuyển một cách trái pháp luật tài sản của ngời khácthành tài sản của mình làm biến đổi tình trạng bình thờngcủa tài sản Vì vậy đối tợng tác động của tội trộm cắp tài sản
là tài sản, nhng không phải mọi tài sản đều có thể trở thành
đối tợng tác động của tội trộm cắp tài sản, để trở thành đốitợng tác động của tội trộm cắp tài sản thì tài sản đó phải cónhững đặc điểm nhất định Trớc hết tài sản đó phải là tàisản của ngời khác, đang có sự quản lý Hành vi lấy đi tài sảncủa mình, do mình quản lý hoặc tài sản không còn nằmtrong sự quản lý của chủ tài sản nh tài sản bị bỏ quên, đánhrơi, tài sản vô chủ, hoặc tài sản mà chủ sở hữu đã từ bỏquyền sở hữu thì không phải là hành vi trộm cắp tài sản mà
Trang 16có thể cấu thành tội khác nh tội chiếm giữ trái phép tài sản(Điều 141 BLHS) Tài sản là đối tợng tác động của tội trộm cắptài sản phải đợc thể hiện dới dạng vật chất cụ thể có giá trị và
giá trị sử dụng, Điều 163 BLDS 2005 quy định: “Tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
“Vật” có thể trở thành đối tợng tác động của tội trộm cắp tài sản nếu nó nằm trong sự chiếm hữu của con ngời, “tiền”
bao gồm tiền Việt Nam và tiền nớc ngoài đang đợc lu hành
trên thị trờng, “giấy tờ có giá” gồm hai loại là giấy tờ có giá ghi
danh có ghi tên chủ sở hữu và giấy tờ có giá vô danh không ghitên chủ sở hữu, ai nắm giữ nó thì có quyền sở hữu nó, vìvậy chỉ có giấy tờ có giá vô danh mới có thể trở thành đối tợngtác động của tội trộm cắp tài sản vì khi lấy nó ngời phạm tộimới thực hiện đợc quyền của chủ sở hữu, còn với giấy tờ có giághi danh chỉ có chủ sở hữu mới có thể thực hiện đợc quyền sởhữu của mình nó không thể bị dịch chuyển một cách trái
phép bởi hành vi chiếm đoạt Đối với tài sản là “quyền tài sản”
nh quyền đòi nợ , nó tồn tại dới dạng vô hình không nhìnthấy sờ thấy nó gắn liền với một chủ thể nhất định, trình tựxác lập thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản đó tuân theoquy định pháp luật và không thể bị dịch chuyển trái phép
bởi hành vi chiếm đoạt nên “quyền tài sản” cũng không phải là
đối tợng tác động của tội trộm cắp tài sản
Tài sản là đối tợng tác động của tội trộm cắp tài sản phảitồn tại dới dạng một động sản theo quy định của BLDS Nhữngtài sản thuộc loại bất động sản có tính chất vật lý cố địnhkhông di dời đợc nh đất đai, nhà cửa không là đối tợng tác
động của tội trộm cắp tài sản Tuy nhiên có một số tài sản
Trang 17nếu tách riêng thì nó là động sản nhng luật dân sự quy định
là bất động sản do công dụng của nó nh cánh cửa gắn liền vớingôi nhà, cây cối trồng trên đất vẫn có thể là đối tợng tác
động của tội trộm cắp tài sản Cần lu ý là, đối với tài sản đặcthù pháp luật có quy định riêng nh: tàu bay, tàu thuỷ, vũ khíquân dụng, phơng tiện kĩ thuật quân sự, đất đai, chiến lợiphẩm không thể là đối tợng tác động của tội trộm cắp tàisản dù nó có bị hành vi phạm tội xâm hại tới, mà nó sẽ là đối t-ợng tác động của các tội phạm khác nh tội chiếm đoạt tàu bay,tàu thuỷ (Điều 221 BLHS), tội chiếm đoạt vũ khí quân dụngphơng tiện kĩ thuật quân sự (Điều 230 BLHS)
Nghiên cứu đối tợng tác động của tội phạm có ý nghĩaquan trọng vì thực tiễn chỉ ra rằng một trong những nguyênnhân dẫn đến việc xử lý cha đúng ngời đúng tội là do chaxác định đúng đối tợng tác động của tội phạm, còn nhầm lẫngiữa đối tợng tác động của tội này với đối tợng tác động củatội khác Vì vậy để đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệuquả thì phải xác định đúng đối tợng tác động của tội phạm
Để tìm hiểu về những biểu hiện bên ngoài của tội trộmcắp tài sản cần nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm vớinhững dấu hiệu pháp lý của nó
1.2.2 Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bênngoài của tội phạm bao gồm: Hành vi (khách quan) nguy hiểmcho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhânquả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm; cũng nhnhững biểu hiện bên ngoài khác liên quan đến việc thực hiện
Trang 18tội phạm nh: công cụ phơng tiện, địa điểm, thời gian phạmtội
Biểu hiện thứ nhất thuộc mặt khách quan của tội phạm làhành vi phạm tội BLHS quy định tội phạm phải đợc thể hiệnbằng hành vi, theo đó hành vi khách quan của tội phạm lànhững biểu hiện của con ngời ra bên ngoài thế giới khách quan
đợc ý thức kiểm soát và ý chí điều khiển, có tính nguy hiểmcho xã hội và đợc quy định trong BLHS Theo cách hiểu truyềnthống từ xa đến nay cũng nh thực tiễn đấu tranh phòngchống tội phạm, hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là
hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ngời khác “Chiếm
đoạt” dới góc độ pháp lý là việc cố ý chuyển dịch một cách trái
pháp luật tài sản của ngời khác thành tài sản của mình, làmcho chủ tài sản không có khả năng thực hiện đợc quyền chủ sởhữu đối với tài sản đó trên thực tế mặc dù về mặt pháp lýkhông làm cho chủ sở hữu mất đi quyền sở hữu tài sản củamình Hành vi chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản phải có
tính chất lén lút (đợc thực hiện bằng thủ đoạn lén lút) “Lén lút” đợc hiểu là hành vi cố ý giấu diếm, vụng trộm không để
lộ ra do có ý gian [15, tr.467] “Lén lút” chiếm đoạt tài sản
trong tội trộm cắp tài sản là hành vi của một ngời cố ý thựchiện một việc làm bất minh, vụng trộm, giấu diếm không để
lộ ra cho ngời khác biết nhằm chiếm đoạt tài sản của ngời
khác, nó có đặc điểm khách quan là “lén lút” và ý thức chủ quan của ngời phạm tội cũng là “lén lút” Hành vi chiếm đoạt
đợc coi là “lén lút” nếu đợc thực hiện bằng hình thức có khả
năng không cho phép chủ tài sản biết khi hành vi này xảy ra,
ví dụ: lợi dụng lúc chủ nhà đi vắng, ngời phạm tội đã đột nhập
Trang 19vào nhà lấy trộm tài sản; ý thức chủ quan của ngời phạm tội là
“lén lút” nếu khi thực hiện hành vi chiếm đoạt ngời này có ý
thức che giấu hành vi mình đang thực hiện Việc che giấunày chỉ đòi hỏi với chủ tài sản còn với những ngời khác ngời
phạm tội có thể “lén lút” hoặc công khai thực hiện hành vi phạm tội Trong thực tế, hành vi “lén lút” chiếm đoạt tài sản
có thể đợc thực hiện dới những hình thức khác nhau: có thểngời phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt một cách giấudiếm vụng trộm, che giấu toàn bộ sự việc phạm tội, ví dụ:Nguyễn Thị H là ngời giúp việc cho gia đình anh N Nhân lúcchủ nhà đi vắng H đã lấy trộm tài sản nhà anh N rồi bỏ đi; cóthể ngời phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt công khai,trắng trợn không có ý che đậy giấu diếm hành vi phạm tội, họchỉ che giấu hành vi phạm tội với chủ tài sản: hoặc là côngkhai sự vi phạm pháp luật cuả hành vi phạm tội nh: ngời phạmtội ngang nhiên móc trộm ví của chủ tài sản ngay trớc sự chứngkiến của những ngời xung quanh nhân lúc chủ tài sản không
để ý, hoặc là công khai thực hiện hành vi chiếm đoạt nhngbản chất chiếm đoạt đã đợc che đậy, ví dụ: ngời phạm tội
đóng giả là nhân viên chở hàng của công ty đã ngang nhiênchở hàng ra khỏi công ty trớc sự chứng kiến của các nhân viêntrong công ty
Nh vậy, dù là hành vi chiếm đoạt đợc thực hiện công khai
hay giấu diếm thì đều có chung bản chất là “lén lút” chiếm
đoạt đối với chủ tài sản Trờng hợp hành vi chiếm đoạt đợcthực hiện công khai trớc mắt những ngời không có trách nhiệm
đối với tài sản hoặc không hiểu bản chất của hành vi thì vẫn
là trộm cắp tài sản Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội trộm
Trang 20cắp tài sản cho thấy, tuy ngời khác có mặt tại nơi xảy ra hành
vi trộm cắp tài sản nhng họ không hiểu đó là hành vi trộmcắp tài sản, không biết đó là ngời trộm cắp hay chủ tài sảnnên không để ý đến việc lấy tài sản đi nơi khác Hiện tợngnày xảy ra phổ biến vì ngời có mặt tại nơi xảy ra hành vitrộm cắp tài sản tởng rằng ngời trộm cắp là khách quen hoặcchủ tài sản, do đó ngời phạm tội chỉ có ý thức che giấu hành
vi phạm tội của mình với chủ tài sản chứ không có ý thức chegiấu đối với những ngời khác
Trên đây đã đề cập đến hành vi trộm cắp tài sản, đó là
hành vi “lén lút” chiếm đoạt tài sản đối với chủ tài sản, chủ tài
sản có thể là chủ sở hữu tài sản hoặc ngời có trách nhiệm đốivới tài sản (gọi là ngời quản lý tài sản) Chủ sở hữu tài sản theoquy định của pháp luật dân sự là ngời có đầy đủ ba quyềnnăng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạttài sản, những quyền năng này đợc pháp luật ghi nhận bảo vệ
và không bị giới hạn, gián đoạn Đối với ngời quản lý tài sản, trớc
hết “quản lý” đợc hiểu là trông coi giữ gìn theo những yêu
cầu nhất định (Theo Từ điển tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học,Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003) Nh vậy, ngời quản lý tài sản làngời đang nắm giữ, trông coi, bảo vệ tài sản nhng không phảichủ sở hữu và không có quyền định đoạt tài sản đó; ngờiquản lý tài sản có thể là ngời trực tiếp quản lý tài sản khi tàisản đang nằm trong sự chi phối trực tiếp của họ hoặc là ngờiquản lý gián tiếp khi họ không trực tiếp nắm giữ tài sản nhng
do tính chất công việc nên họ có trách nhiệm trông coi bảo vệtài sản (ví dụ: tiền của cơ quan do thủ quỹ trực tiếp quản lýnhng hết giờ làm việc bảo vệ có trách nhiệm trông coi số tài
Trang 21sản đó) hoặc khi tài sản đó là của cơ quan nhà nớc nhng để
ở nơi công cộng phục vụ sinh hoạt chung nh: công tơ điện dongời trông coi trạm biến áp quản lý nhng đợc đặt ở các cột
điện bên đờng Ngời quản lý tài sản cũng có thể là ngời quản
lý trong trờng hợp bình thờng khi đợc chủ sở hữu giao quản lýtài sản thông qua hợp đồng trông giữ tài sản, hoặc là ngờiquản lý tài sản trong trờng hợp đặc biệt khi có sự kiện pháp lýxảy ra sẽ phát sinh trách nhiệm quản lý tài sản (thực tế thờng
là trờng hợp ngời đó tự nguyện đứng ra trông coi quản lý tàisản cho chủ sở hữu, ví dụ: khi chủ nhà đi vắng thì nhà bịcháy, hàng xóm đã dập đám cháy và bảo vệ tài sản cho chủnhà chờ khi chủ nhà về sẽ giao lại tài sản, hoặc khi chủ sở hữukhông có điều kiện bảo vệ tài sản của mình, ví dụ: A và B
đang đi xe trên đờng thì bị tai nạn, A ngất đi còn B vẫntỉnh táo, khi đó phát sinh trách nhiệm quản lý tài sản của B
đối với tài sản của A)
Trong những trờng hợp trên, bất kể đó là chủ sở hữu hayngời quản lý tài sản, ngời quản lý trực tiếp hay gián tiếp, ngờiquản lý trong trờng hợp bình thờng hay trờng hợp đặc biệt
thì ngời phạm tội muốn chiếm đoạt tài sản đều phải “lén lút”
với những ngời này
Nghiên cứu tính chất của hành vi chiếm đoạt tài sản có ýnghĩa quan trọng, giúp phân biệt tội trộm cắp tài sản với một
số tội phạm khác nhất là tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, ví
dụ sau đây sẽ làm sáng tỏ vấn đề trên: A và B đang cùngnhau đi trên đờng thì bị tai nạn giao thông, A bị thơng nặngnên ngất đi, B bị thơng nhng vẫn tỉnh táo, lúc này phát sinhtrách nhiệm quản lý tài sản của B Ngời phạm tội muốn trộm
Trang 22cắp tài sản thì phải “lén lút” với B, nếu lợi dụng tình trạng B
bị thơng không có điều kiện để bảo vệ tài sản mà ngờiphạm tội công khai lấy tài sản trớc mặt B thì là công nhiênchiếm đoạt tài sản Còn đối với trờng hợp cả A và B bị thơng
đều ngất đi không có ai đứng ra bảo vệ tài sản cho họ màngời phạm tội công khai lấy tài sản trớc sự chứng kiến củanhững ngời xung quanh thì vẫn là trộm cắp tài sản, ngời
phạm tội vẫn “lén lút” đối với chủ tài sản là A và B khi thực
hiện hành vi chiếm đoạt [20, tr.26]
Nội dung biểu hiện thứ hai thuộc mặt khách quan của tộitrộm cắp tài sản là hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tộiphạm Hậu quả nguy hiểm của tội phạm là thiệt hại do hành viphạm tội gây ra cho những quan hệ xã hội là khách thể bảo vệcủa luật hình sự, đợc thể hiện thông qua sự biến đổi tìnhtrạng bình thờng của các bộ phận cấu thành nên khách thể(đối tợng tác động của tội phạm) Bất kì tội phạm nào cũng cóthể gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhng dấuhiệu hậu quả của tội phạm không đợc phản ánh trong tất cả cáccấu thành tội phạm Dấu hiệu này chỉ đợc mô tả khi hành vichỉ có tính nguy hiểm cho xã hội nếu đã gây ra hậu quả nhất
định cho xã hội Tính chất và mức độ của hậu quả đợc xác
định bởi tính chất và mức độ biến đổi tình trạng bình ờng của đối tợng tác động của tội phạm Với những tội phạm màdấu hiệu hậu quả nguy hiểm đợc phản ánh trong cấu thành tộiphạm thì tội phạm đó sẽ có cấu thành vật chất
th-Đối với tội trộm cắp tài sản, hậu quả nguy hiểm cho xã hộithể hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thờng của tài sản
đợc gọi là thiệt hại về tài sản, thể hiện dới dạng tài sản bị
Trang 23chiếm đoạt Trong cấu thành tội trộm cắp tài sản, hậu quảcủa tội phạm là tài sản bị chiếm đoạt có giá trị ở mức nhất
định (từ năm trăm nghìn đồng trở lên- trong trờng hợp thôngthờng), dựa vào mức giá trị tài sản bị chiếm đoạt điều luật
đã phân chia thành các khung hình phạt tơng ứng với các mức
độ hậu quả đó
Nội dung biểu hiện thứ ba thuộc mặt khách quan của tộiphạm là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguyhiểm cho xã hội Theo nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam:một ngời chỉ phải chịu TNHS về hậu quả nguy hiểm cho xã hội
do chính hành vi của họ gây ra, tức là giữa hành vi phạm tội
và hậu quả có mối quan hệ nhân quả với nhau Luật hình sựViệt Nam không quy định thế nào là mối quan hệ nhân quả,nhng dựa vào cặp phạm trù nhân - quả của phép biện chứngduy vật có thể xác định đợc mối quan hệ nhân quả đó làhành vi nguy hiểm cho xã hội phải có trớc, là nguyên nhân gâynên hậu quả nguy hiểm cho xã hội; đồng thời hậu quả đóchính là kết quả của hành vi nguy hiểm cho xã hội Đối với tộitrộm cắp tài sản, hậu quả thiệt hại về tài sản (mất tài sản)chính là kết quả của hành vi trộm cắp tài sản
Khi nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm không thểkhông tìm hiểu về mặt chủ quan của tội phạm bởi lẽ tội phạm
là sự thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan, giữanhững biểu hiện bên ngoài và hoạt động tâm lý bên trong
1.2.3 Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản
Mặt chủ quan của tội phạm là những diễn biến tâm lý bêntrong của tội phạm bao gồm: lỗi của ngời phạm tội, mục đích
Trang 24phạm tội, động cơ phạm tội; trong đó lỗi là yếu tố đợc phản
ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm
Điều 8 BLHS quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc quy định trong Bộ luật hình sự, do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý ”.
Nguyên tắc lỗi là nguyên tắc cơ bản trong luật hình sự ViệtNam, một ngời chỉ phải chịu TNHS về hành vi nguy hiểm choxã hội khi họ có lỗi trong khi thực hiện hành vi đó Ngời thựchiện hành vi bị coi là có lỗi nếu họ có sự tự do lựa chọn thựchiện hành vi đó trong khi họ có đủ điều kiện lựa chọn xử sựkhác phù hợp với đòi hỏi của xã hội Do vậy, lỗi đợc hiểu là thái
độ tâm lý của ngời phạm tội đối với hành vi và hậu quả nguyhiểm cho xã hội, đợc thực hiện dới hình thức cố ý hoặc vô ý
Về mặt hình thức, lỗi gồm hai yếu tố cấu thành là yếu tố
lý trí (thể hiện khả năng nhận thức của chủ thể) và yếu tố ýchí (thể hiện khả năng điều khiển hành vi của chủ thể) Căn
cứ vào đặc điểm cấu trúc tâm lý của hai yếu tố đó ngời tachia lỗi thành hai loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý Lỗi cố ý là trờng hợpngời phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình nguy hiểm cho xãhội, thấy trớc hậu quả của hành vi và mong muốn hậu quả xảy
ra (lỗi cố ý trực tiếp), hoặc thấy trớc hậu quả có thể xảy ra tuykhông mong muốn nhng có ý thức để mặc hậu quả xảy ra (lỗi
cố ý gián tiếp); lỗi vô ý là trờng hợp ngời phạm tội do cẩu thả màkhông thấy trớc khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hộimặc dù phải thấy trớc và có thể thấy trớc (lỗi vô ý do cẩu thả),hoặc tuy thấy trớc hành vi của mình có thể gây ra hậu quảnguy hiểm cho xã hội nhng cho rằng hậu quả không xảy rahoặc có thể ngăn ngừa đợc (lỗi vô ý vì quá tự tin) Đối với tội
Trang 25trộm cắp tài sản, lỗi của ngời phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp Vềmặt lý trí, ngời phạm tội nhận thức rõ hành vi phạm tội củamình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trớc hậu quả nguy hiểm cóthể xảy ra; về mặt ý chí: ngời phạm tội mong muốn hậu quảxảy ra, mong muốn chiếm đoạt đợc tài sản, hậu quả này ngờiphạm tội đã thấy trớc và nó hoàn toàn phù hợp với mục đích củangời phạm tội Việc xác định nhận thức chủ quan của ngờiphạm tội để xác định lỗi của họ là rất quan trọng: nếu ngờiphạm tội biết rõ tài sản bị chiếm đoạt đang có ngời quản lýthì sẽ phạm tội trộm cắp tài sản, còn nếu họ thực sự có sailầm cho rằng tài sản đó là của mình (ví dụ nh cầm nhầm tàisản ) hoặc tài sản đó không có chủ thì sẽ không phạm tộitrộm cắp tài sản Trong thực tế có trờng hợp một ngời đã lầmtởng tài sản của ngời khác là tài sản của mình nên lấy đi, tr-ờng hợp này không phạm tội trộm cắp tài sản, ví dụ: cơ quanyêu cầu các cán bộ phải mặc đồng phục, khi có ngời cởi áo đểtrong phòng làm việc ngời này tởng đó là áo của mình nên đãlấy đi Nhng nếu sau đó ngời này biết đó không phải là tàisản của mình mà lấy đi, giữ lại hoặc tự ý định đoạt tài sảnthì phải coi đó là hành vi trộm cắp tài sản Nh vậy, khi ngờiphạm tội thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, họ biết rõ tài sản
đó là của ngời khác mà vẫn chiếm đoạt Đối với việc xác định
ý thức chủ quan của ngời phạm tội trong trờng hợp “xâm phạm tài sản của Nhà nớc” đợc quy định là tình tiết tăng nặng
TNHS còn có nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm chorằng việc áp dụng tình tiết tăng nặng đó phụ thuộc vào ýthức chủ quan của ngời phạm tội, nếu họ biết rõ tài sản đó làcủa Nhà nớc mà vẫn chiếm đoạt thì áp dụng tình tiết tăng
Trang 26nặng đó, còn nếu họ không thể biết hoặc thực sự có sai lầmcho rằng tài sản đó là của công dân thì không áp dụng tìnhtiết tăng nặng đó, có quan điểm cho rằng cứ có hành vi
“xâm phạm tài sản của Nhà nớc” là áp dụng tình tiết tăng
nặng không cần xác định ý thức chủ quan của ngời phạm tội.Theo tác giả, việc xác định ý thức chủ quan của ngời phạm tộitrong trờng hợp này là điều cần thiết, nếu ngời phạm tội biết
rõ tài sản đó là của Nhà nớc mà vẫn chiếm đoạt thì áp dụng
tình tiết tăng nặng “xâm phạm tài sản của Nhà nớc”, nếu
ng-ời phạm tội không thể biết tài sản đó là của Nhà nớc hoặc họthực sự có sai lầm cho rằng tài sản đó không phải của Nhà nớcthì không áp dụng tình tiết tăng nặng đó, còn trong trờnghợp khi chiếm đoạt ngời phạm tội không cần biết tài sản đó làcủa Nhà nớc hay của công dân thì nếu tài sản đó là của Nhà
nớc sẽ áp dụng tình tiết tăng nặng “xâm phạm tài sản của Nhà nớc”, nếu tài sản đó không phải là tài sản của Nhà nớc thì
không áp dụng tình tiết tăng nặng đó, với cách hiểu nh vậy sẽhợp lý hơn đồng thời có tác dụng răn đe những ngời biết rõ tàisản đó là của Nhà nớc, có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội màvẫn chiếm đoạt
Biểu hiện thứ hai thuộc mặt chủ quan của tội trộm cắp tàisản là mục đích phạm tội Mục đích phạm tội đợc hiểu là kếtquả mà ngời phạm tội hớng tới, nhằm đạt đợc khi thực hiện tộiphạm Mục đích của ngời phạm tội trộm cắp tài sản là mục
đích chiếm đoạt Ngời phạm tội mong muốn chiếm đoạt đợctài sản của ngời khác biến nó thành tài sản của mình Hành vitrộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản, hành vi này đãthể hiện đợc mục đích của ngời phạm tội, tuy nó không đợc
Trang 27nhà làm luật quy định trong cấu thành tội phạm nhng nó làdấu hiệu bắt buộc, mục đích này luôn đợc đặt ra trớc khi ng-
ời phạm tội thực hiện tội phạm Ngoài ra còn phải kể đến
động cơ phạm tội, đó là động lực bên trong thúc đẩy ngờiphạm tội thực hiện tội phạm Động cơ phạm tội trong tội trộmcắp tài sản là động cơ vụ lợi, nhng đó không phải là dấu hiệubắt buộc trong cấu thành tội trộm cắp tài sản
Để tìm hiểu toàn diện về tội trộm cắp tài sản, cần tìmhiểu về độ tuổi và năng lực TNHS của ngời thực hiện hành viphạm tội
1.2.4 Chủ thể của tội trộm cắp tài sản
Theo quy định của BLHS: “Chỉ ngời nào phạm một tội đã
đợc Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình
sự ” (Điều 2 BLHS) và “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc quy định trong Bộ luật hình sự do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện ” (Điều 8 BLHS), có thể thấy
theo luật hình sự Việt Nam, chủ thể của tội phạm chỉ có thể
là con ngời cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội đợc quy địnhtrong BLHS Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Namphải là cá nhân, nhng không phải ai cũng có thể trở thành chủthể của tội phạm Tội phạm theo luật hình sự Việt Nam phải cótính có lỗi, do vậy chỉ những ngời có lỗi trong khi thực hiệnhành vi nguy hiểm cho xã hội mới có thể là chủ thể của tộiphạm, đó là ngời có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định.Năng lực TNHS là khả năng nhận thức và điều khiển hành vicủa mình theo đòi hỏi của xã hội, ngời có năng lực TNHS là ng-
ời khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhậnthức đợc tính chất nguy hiểm cho xã hội và có khả năng điều
Trang 28khiển đợc hành vi đó, do đó chỉ những ngời có năng lựcTNHS mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm Luật hình sựViệt Nam không quy định thế nào là ngời có năng lực TNHS
mà chỉ quy định những trờng hợp đợc coi là không có nănglực TNHS và tuổi chịu TNHS, theo đó một ngời khi đạt độtuổi luật định và không thuộc trờng hợp không có năng lựcTNHS thì đơng nhiên đợc coi là ngời có năng lực TNHS
Điều12 BLHS quy định: “Ngời từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, ngời từ đủ 14 tuổi nhng cha đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.
Khoản 3 Điều 8 BLHS quy định: “Tội phạm rất nghiêm trọng
là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mời lăm năm tù, tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy
là trên mời lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”
Ngoài hai dấu hiệu năng lực TNHS và tuổi chịu TNHS, một
số tội còn đòi hỏi chủ thể phải có những dấu hiệu đặc biệtgọi là chủ thể đặc biệt của tội phạm Đối với tội trộm cắp tàisản, chủ thể của tội phạm là chủ thể bình thờng, đó là ngời
có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định Theo đó, ngời từ
đủ 14 tuổi nhng cha đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội trộmcắp tài sản theo khoản 3, 4 Điều138 BLHS; ngời từ đủ 16 tuổiphải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản trong mọi trờng hợpphạm tội
Trang 29Nh vậy, chủ thể của tội trộm cắp tài sản là ngời từ đủ 14tuổi trở lên, có năng lực TNHS đã thực hiện hành vi trộm cắptài sản đợc quy định tại Điều 138 BLHS.
1.3 Đồng phạm và các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản
1.3.1 Đồng phạm trộm cắp tài sản
Tội phạm nói chung cũng nh tội trộm cắp tài sản nói riêngkhông chỉ thực hiện bởi một ngời mà có thể đợc thực hiện bởinhiều ngời mà giữa họ đã có sự thống nhất ý chí cùng thựchiện một tội phạm, trờng hợp phạm tội đặc biệt này trong khoahọc luật hình sự gọi là đồng phạm
“Đồng phạm là trờng hợp có hai ngời trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” (Điều 20 BLHS), do đó đồng phạm trộm
cắp tài sản là trờng hợp có hai ngời trở lên cố ý cùng thực hiệntội trộm cắp tài sản Từ khái niệm trên có thể rút ra một sốdấu hiệu về đồng phạm trộm cắp tài sản nh sau:
Thứ nhất, dấu hiệu về mặt khách quan: đồng phạm trộmcắp tài sản phải có từ hai ngời trở lên và những ngời này có
đủ điều kiện là chủ thể của tội phạm (từ đủ 14 tuổi trở lên
và không thuộc trờng hợp không có năng lực TNHS), ví dụ: A 17tuổi và B 19 tuổi đã cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tàisản có giá trị 10 triệu đồng; dấu hiệu thứ hai là những ngời
đồng phạm đó cùng thực hiện tội trộm cắp tài sản
Họ có thể tham gia thực hiện tội trộm cắp tài sản với mộttrong các hành vi sau: hành vi thực hành tội trộm cắp tài sản,ngời có hành vi này gọi là ngời thực hành; hành vi tổ chức việcthực hiện tội trộm cắp tài sản, ngời có hành vi này gọi là ngời
tổ chức; hành vi xúi giục ngời khác thực hiện tội trộm cắp tài
Trang 30sản, ngời có hành vi này là ngời xúi giục; hành vi giúp ngời khácthực hiện tội trộm cắp tài sản, ngời có hành vi này là ngời giúpsức, ví dụ: A có ý định trộm cắp tài sản nên bàn với B và nhờ
B đánh hộ chìa khoá để mở cửa vào nhà ngời khác trộm cắptài sản Trong trờng hợp này A và B là đồng phạm trộm cắp tàisản, A là ngời thực hành còn B là ngời giúp sức
Thứ hai, dấu hiệu về mặt chủ quan: trớc hết lỗi của nhữngngời đồng phạm trộm cắp tài sản là lỗi cố ý, mỗi ngời đồngphạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết vàmong muốn sự cố ý tham gia của những ngời đồng phạm khác(về lý trí, mỗi ngời đồng phạm biết hành vi của mình là nguyhiểm cho xã hội và đều biết những ngời khác cũng có hành vinguy hiểm cùng với mình, mỗi ngời đồng phạm còn thấy trớchậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra vàhậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện; về ýchí: những ngời đồng phạm cùng mong muốn có hoạt độngchung và cùng mong muốn hậu quả xảy ra); mục đích củanhững ngời đồng phạm khi thực hiện tội trộm cắp tài sản làmục đích chiếm đoạt tài sản
Trong thực tế, đồng phạm trộm cắp tài sản đợc thể hiệndới những hình thức khác nhau nh đồng phạm có thông mu trớc
và đồng phạm không có thông mu trớc, đồng phạm giản đơn
và phạm tội có tổ chức trong đó phạm tội trộm cắp tài sản có
tổ chức là hình thức đồng phạm rất phổ biến, gây thiệt hạilớn cho xã hội Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm màgiữa những ngời đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ với nhau,
có phân công nhiệm vụ cụ thể, phân hoá vai trò rõ ràng, có
sự chuẩn bị chu đáo cho việc thực hiện tội phạm cũng nh che
Trang 31giấu tội phạm do đó có khả năng cho phép thực hiện tội phạmtrong thời gian dài, liên tục gây hậu quả rất lớn, đặc biệt lớncho xã hội ở hình thức đồng phạm này, những ngời đồngphạm có sự thống nhất ý chí, quyết tâm thực hiện tội phạmcao, ý chí thực hiện tội phạm đến cùng và không có trờng hợp
tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Hiện nay, xuất hiện rất nhiều các băng, ổ nhóm chuyêntrộm cắp tài sản có ngời tổ chức lên kế hoạch cho việc thựchiện tội phạm gây thiệt hại lớn cho xã hội, ảnh hởng xấu đếntình hình an ninh trật tự xã hội, ví dụ vụ án Trần Văn A vàHoàng Văn B thờng trú tại Hà Nội đã thành lập băng nhómchuyên trộm cắp tài sản là máy vi tính với địa bàn hoạt độngchủ yếu là phờng Tân Mai và Hoàng Văn Thụ, chúng đã phâncông cho đàn em điều tra nghiên cứu kĩ mục tiêu, lên kếhoạch chu đáo cho việc thực hiện tội pham vì vậy chỉ trongkhoảng thời gian ngắn chúng đã liên tiếp thực hiện đợc nhiều
vụ trộm cắp máy tính với tổng trị giá tài sản lên đến vài trămtriệu đồng
Chính vì tính nguy hiểm cao hơn của hình thức đồngphạm này so với hình thức đồng phạm thông thờng nên điều
luật quy định tình tiết “phạm tội có tổ chức” là tình tiết
Trang 32trộm cắp tài sản, A là ngời thực hành còn B là ngời giúp sức(không hành động phạm tội).
1.3.2 Các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản
Tội phạm không phải lúc nào cũng đợc thực hiện đến cùng
mà có thể đợc thực hiện ở những mức độ khác nhau do nhiềunguyên nhân, trong khoa học luật hình sự gọi là các giai đoạnthực hiện tội phạm
Nghiên cứu các giai đoạn thực hiện tội phạm giúp xác định
đúng TNHS của ngời phạm tội, ở mỗi giai đoạn phạm tội BLHS
có quy định khác nhau về TNHS của ngời phạm tội Để nghiêncứu tội trộm cắp tài sản một cách toàn diện, cần nghiên cứu
về các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản
Theo đó, các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độthực hiện tội phạm cố ý bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tộicha đạt và tội phạm hoàn thành
* Chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản
Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn ngời phạm tội có hành vi tạo
ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm
nh-ng cha bắt đầu thực hiện tội phạm Thời điểm sớm nhất củagiai đoạn này là khi ngời phạm tội bắt đầu có hành vi tạo ranhững điều kiện vật chất hay tinh thần giúp cho việc thựchiện tội phạm có thể xảy ra hoặc xảy ra thuận lợi hơn, thời
điểm muộn nhất của giai đoạn này là trớc khi ngời phạm tộibắt đầu thực hiện hành vi phạm tội đợc phản ánh trong cấuthành tội phạm Tất cả những hành vi đợc thực hiện trong giai
đoạn này đều cha trực tiếp làm biến đổi tình trạng bình ờng của tài sản là đối tợng tác động của tội trộm cắp tài sản
th-để gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu là khách thể của tội
Trang 33phạm Hành vi chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản có thể lànhững hành vi sau: hành vi chuẩn bị công cụ phơng tiện phạmtội (ví dụ nh ngời phạm tội đã chuẩn bị sẵn kìm để cậy cửa
đột nhập vào nhà ngời khác lấy trộm tài sản), hành vi chuẩn
bị kế hoạch, thăm dò địa điểm phạm tội hay thăm dò làmquen nạn nhân, ngời bị hại (ví dụ: ngời phạm tội đóng giả làkhách lạ qua đờng làm quen chủ nhà và xin ngủ nhờ qua đêmvới ý định nửa đêm chờ chủ nhà ngủ say sẽ lấy trộm tài sản) ởgiai đoạn này ngời phạm tội cha có hành vi chiếm đoạt tài sảnnên họ chỉ phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản rất nghiêmtrọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng (theo quy định tại Điều 17BLHS)
Đối với tội trộm cắp tài sản có thể không có giai đoạnchuẩn bị phạm tội mà nhiều trờng hợp ngời phạm tội lợi dụng sơ
hở, chủ quan của chủ tài sản nên nảy sinh ý định trộm cắpchứ họ không có sự chuẩn bị từ trớc cho việc thực hiện tộiphạm, ví dụ: A đang đi chơi về thì nhìn thấy có chiếc xe
đạp dựng ngoài cổng nên đã dắt chiếc xe đó đi
* Phạm tội trộm cắp tài sản cha đạt
Phạm tội cha đạt là giai đoạn cố ý thực hiện tội phạm nhngkhông thực hiện đợc đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ýmuốn của ngời phạm tội
Ngời phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi chiếm đoạttài sản đợc mô tả trong cấu thành tội phạm nhng đã không thựchiện đợc đến cùng, hành vi phạm tội cha thoả mãn hết các dấuhiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm, có thể ng-
ời phạm tội mới thực hiện đợc hành vi đi liền trớc hành vi kháchquan nh ngời phạm tội đang mở khoá định đột nhập vào nhà
Trang 34lấy trộm tài sản thì bị chủ nhà phát hiện, hoặc ngời phạm tội
đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhng cha thực hiện
đợc đến cùng cha gây thiệt hại tài sản, ví dụ: ngời phạm tội
đang giấu tài sản vừa chiếm đoạt đợc thì bị chủ tài sản pháthiện thu giữ , ở đây ngời phạm tội không thực hiện đợc tộiphạm đến cùng là do nguyên nhân ngoài ý muốn chứ bảnthân ngời phạm tội muốn thực hiện tội phạm đến cùng nhằmchiếm đoạt đợc tài sản, do đó họ phải chịu TNHS về tội phạm
đó (theo quy định tại Điều 18 BLHS)
Trang 35* Tội trộm cắp tài sản hoàn thành
Tội phạm hoàn thành là giai đoạn phạm tội mà hành viphạm tội đã thoả mãn hết các dấu hiệu đợc mô tả trong cấuthành tội phạm Khi tội phạm hoàn thành đã thể hiện đầy đủbản chất nguy hiểm cho xã hội
Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất, tộiphạm hoàn thành khi đã gây ra hậu quả là thiệt hại tài sản.Nhng trên thực tế việc xác định thời điểm hoàn thành của tộitrộm cắp tài sản không đơn giản, còn nhiều ý kiến khácnhau Có ý kiến cho rằng tội phạm hoàn thành khi ngời phạm tội
đã tạo ra đợc khả năng thực hiện các quyền chiếm hữu, sửdụng, định đoạt tài sản cho mình, còn có ý kiến cho rằng tộiphạm hoàn thành khi chủ sở hữu mất khả năng thực hiện cácquyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình trênthực tế Có thể thấy rằng, hành vi chiếm đoạt tài sản là quátrình tạo khả năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chongời phạm tội đồng thời làm mất việc thực hiện các quyềnnăng đó trên thực tế của chủ sở hữu, song hai quá trình nàykhông phải lúc nào cũng diễn ra đồng thời, mà có khi ngờiphạm tội đã làm mất khả năng thực hiện quyền sở hữu của chủ
sở hữu nhng cha tạo ra đợc khả năng thực hiện các quyền đócho mình, ví dụ: ngời phạm tội đã lấy trộm đợc một số máymóc của xí nghiệp nhng do quá cồng kềnh nên còn giấu vàomột nơi cha mang đợc về nhà Khi chủ sở hữu mất đi khảnăng thực hiện các quyền của mình đối với tài sản thì quyền
sở hữu của họ đã bị xâm phạm, vì vậy thời điểm hoàn thànhcủa tội trộm cắp tài sản là kể từ khi chủ sở hữu mất khả năngthực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
Trang 36của mình trên thực tế, không cần biết ngời phạm tội đã thựchiện đợc các quyền đó hay cha.
Từ thực tiễn xét xử, có thể xác định thời điểm hoànthành tội trộm cắp tài sản dựa vào tính chất của tài sản bịchiếm đoạt nh sau: nếu tài sản nhỏ gọn dễ cất giấu thì thời
điểm hoàn thành tội phạm là kể từ khi ngời phạm tội đã cấtgiấu đợc tài sản đó, nếu tài sản cồng kềnh và có khu vực bảoquản riêng thì tội phạm hoàn thành kể từ khi ngời phạm tội đãmang tài sản ra khỏi khu vực bảo quản đó, nếu tài sản cồngkềnh và không có khu vực bảo quản riêng thì tội phạm hoànthành từ khi ngời phạm tội đã dịch chuyển tài sản khỏi vị tríban đầu Nếu căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt thì tộitrộm cắp tài sản hoàn thành ở một trong các thời điểm sau:khi ngời phạm tội đã chiếm đoạt đợc tài sản có giá trị từ nămtrăm nghìn đồng trở lên, khi ngời phạm tội đã chiếm đoạt đợc
tài sản có giá trị dới năm trăm nghìn đồng nhng đã “gây hậu quả nghiêm trọng”, hoặc “đã bị xử phạt hành chính về hành
vi chiếm đoạt”, hoặc “đã bị kết án về tội chiếm đoạt cha đợc xoá án tích”.
Đối với tội trộm cắp tài sản, đồng phạm và các giai đoạnthực hiện tội phạm có mối quan hệ với nhau, hiện đang cónhững quan điểm khác nhau xung quanh việc xác định đồngphạm ở giai đoạn tội phạm hoàn thành, có quan điểm cho rằng
ở giai đoạn tội phạm hoàn thành không còn đồng phạm, cóquan điểm lại cho rằng tội phạm hoàn thành vẫn có thể có
đồng phạm Theo tác giả, khi tội trộm cắp tài sản đã hoànthành nhng cha kết thúc vẫn có thể có đồng phạm bởi vì vấn
đề còn có thể tham gia tiếp là ngời đồng phạm hay không
Trang 37không phụ thuộc vào thời điểm tội phạm hoàn thành mà phụthuộc vào thời điểm tội phạm kết thúc, hơn nữa đối với đồngphạm trộm cắp tài sản những ngời đồng phạm đều hớng tớimục đích chung là chiếm đoạt đợc tài sản, biến tài sản đóthành tài sản của mình chứ họ không chỉ muốn dừng lại ởviệc hoàn thành tội phạm, song mục đích này trên thực tếkhông dễ gì đạt đợc, những ngời đồng phạm vẫn cần phốihợp hành động để chiếm đợc và kiểm soát đợc tài sản đó, vídụ: A đã lấy trộm đợc một số tài sản của một cơ quan nhng sợ
bị phát hiện nên đã đem giấu vào một nơi mà cha mang vềnhà (tội trộm cắp tài sản đã hoàn thành nhng cha kết thúc),hôm sau A gọi B đến giúp mình mang số tài sản đó về nhàrồi bán đi chia nhau, ở đây A và B là đồng phạm trộm cắp tàisản ở giai đoạn tội phạm đã hoàn thành nhng cha kết thúc
Nh vậy, qua việc tìm hiểu dấu hiệu pháp lý của tội trộmcắp tài sản có thể thấy: tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lútchiếm đoạt tài sản của ngời khác do ngời có năng lực TNHSthực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm hại đến quan hệ sở hữutài sản và những quan hệ xã hội khác (quan hệ xã hội liên quan
đến trật tự an toàn xã hội) đợc luật hình sự bảo vệ Tội trộmcắp tài sản có thể đợc thực hiện dới hình thức thông thờng, cóthể đợc thực hiện dới hình thức đồng phạm; nó có thể đợcthực hiện đến cùng khi ngời phạm tội đã chiếm đoạt đợc tàisản, làm chủ sở hữu không thể thực hiện đợc các quyền năngcủa chủ sở hữu trên thực tế hoặc có khi tội phạm đang đợcthực hiện nhng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của ngờiphạm tội mà tài sản cha bị chiếm đoạt Nghiên cứu một cáchtoàn diện, có hệ thống về tội trộm cắp tài sản sẽ giúp hiểu
Trang 38đúng bản chất của hành vi phạm tội, từ đó có đờng lối xử lý
đúng đắn đối với ngời phạm tội, đảm bảo sự công bằngnghiêm minh của pháp luật, góp phần đấu tranh phòng chốngtội phạm có hiệu quả
Trang 39Chơng 2: phân biệt tội trộm cắp tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác và trách nhiệm hình sự của
ngời phạm tội trộm cắp tài sản
2.1 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác
Tội trộm cắp tài sản và các tội xâm phạm sở hữu khác đợcxếp vào cùng một chơng: Các tội xâm phạm sở hữu, có kháchthể loại là quan hệ sở hữu tài sản, giữa chúng có những dấuhiệu giống nhau Về mặt lí luận có thể nhận biết tội phạmqua các dấu hiệu pháp lý đặc trng, song trên thực tế tội phạm
đợc thực hiện ở nhiều dạng khác nhau, việc nhận biết hành viphạm tội không đơn giản Thực tiễn xét xử tội phạm cho thấy,trong nhiều trờng hợp, các cơ quan tiến hành tố tụng do khôngnắm rõ bản chất hành vi phạm tội dẫn đến định tội danhkhông chính xác Để khắc phục tình trạng trên, điều quantrọng là cần hiểu đúng bản chất của hành vi phạm tội, trên cơ
sở đó phân biệt đợc các tội phạm với nhau
Khi nghiên cứu về tội trộm cắp tài sản, không chỉ tìmhiểu về dấu hiệu pháp lý của tội phạm mà còn phải phân biệt
đợc tội trộm cắp tài sản với các tội phạm khác, nhất là một sốtội phạm gần gũi với nó, đó là tội công nhiên chiếm đoạt tàisản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội cớp giật tài sản
2.1.1 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Trớc hết cần hiểu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành
vi công khai, ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của ngời khác do
Trang 40lợi dụng tình trạng họ không có điều kiện bảo vệ tài sản củamình.
Tội trộm cắp tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
có nhiều dấu hiệu giống nhau, đó là: cả hai tội đều xâmphạm đến khách thể bảo vệ của luật hình sự là quan hệ sởhữu tài sản thông qua việc tác động đến đối tợng là tài sảnlàm biến đổi tình trạng bình thờng của tài sản Cả hai tộiphạm đều có cấu thành vật chất, dấu hiệu hậu quả nguy hiểm
đợc phản ánh trong cấu thành tội phạm đó là thiệt hại về tàisản biểu hiện dới dạng tài sản bị chiếm đoạt, điều luật quy
định mức tối thiểu giá trị tài sản bị chiếm đoạt làm cơ sởtruy cứu TNHS, theo đó ngời có hành vi chiếm đoạt tài sản cógiá trị từ mức tối thiểu trở lên sẽ phải chịu TNHS về tội phạm t-
ơng ứng Về mặt chủ quan, lỗi của ngời phạm tội đều là lỗi cố
ý trực tiếp và mục đích phạm tội là mục đích chiếm đoạt tàisản Ngoài ra, ngời thực hiện hành vi phạm tội đều là chủ thểthờng có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định
Về điểm khác nhau giữa hai tội, có thể thấy điểm khácbiệt cơ bản nhất là về hành vi khách quan của tội phạm: hành
vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm
đoạt tài sản của ngời khác, còn hành vi khách quan của tộicông nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi công khai, ngangnhiên chiếm đoạt tài sản ngay trớc sự chứng kiến của chủ tàisản, thực tế thờng gặp một số trờng hợp sau:
Ngời phạm tội lợi dụng sơ hở, vớng mắc của chủ tài sản đểchiếm đoạt tài sản, ví dụ: A đi chơi về nhìn thấy B đangtắm dới sông, trên bờ dựng chiếc xe máy và có bộ quần áo vắttrên xe nên biết đó là xe của B A lại gần chiếc xe thấy chiếc