Do vậy, ĐTD vẫn được xem là một trongnhững khâu khó trong chuỗi các hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là vớinhững tội phạm mà dấu hiệu cấu thành tội phạm còn dễ gây nhầm lẫn với cáctội
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ QUANG NINH
ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ QUANG NINH
ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả đề cập trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn
rõ ràng và chính xác.
Tác giả luận văn
Lê Quang Ninh
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Cơ cấu của tình hình Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản so với tình
hình các loại tội phạm chung trên địa bàn khu vực miền ĐôngNam Bộ
Bảng 2.2 Cơ cấu của tình hình Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được tính
toán trên cơ sở diện tích của các tỉnh, thành khu vực miền ĐôngNam Bộ
Bảng 2.3 Thống kê số vụ án và số bị can, bị cáo bị khởi tố, truy tố và xét xử
về Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Phướcgiai đoạn 2014 – 2018
Bảng 2.4 Tình hình Tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh
Bình Phước giai đoạn 2014 – 2018
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về ĐTD luôn là một những nhiệm vụquan trọng của khoa học luật hình sự Việt Nam vì: Quá trình giải quyết vụ ánmột cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật vấn đề trách nhiệm hình sựcủa người phạm tội phụ thuộc rất nhiều vào việc cơ quan tư pháp hình sự cóthẩm quyền xác định tội danh đã được thực hiện trong thực tế khách quan cóchính xác hay không? Thực tiễn áp dụng PLHS cho thấy rằng nếu như trongtất cả các VAHS khi tội phạm được xác định chính xác không những sẽ gópphần làm cho hình phạt được quyết định đối với người phạm tội phù hợp vớitính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà người đó đãthực hiện và đảm bảo sức được thuyết phục mà còn làm cho hiệu quả củapháp luật và pháp chế XHCN cũng như uy tín của Tòa án và các cơ quan bảo
vệ pháp luật được nâng rõ rệt lên trước nhân dân và dư luận xã hội Ngoài ra,quá trình điều tra, truy tố và xét xử cho thấy, trong một số trường hợp các cơquan tư pháp hình sự cũng có thể ĐTD không được chính xác vì các quyphạm PLHS được ghi nhận trong luật thực định thường là các quy phạm dướidạng trừu tượng nhưng các tình huống diễn ra trong thực tế khách quan củađời sống xã hội thì lại rất phong phú và đa dạng nên không phải lúc nào cácnhà làm luật cũng có thể lường trước được tất cả mọi tình huống có thể xảy
ra Chính vì vậy, những vấn đề lý luận về ĐTD và thực tiễn áp dụng các quyphạm PLHS có liên quan đến việc ĐTD luôn được các nhà khoa học, các cán
bộ nghiên cứu và cán bộ thực tiễn của các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát vàTòa án… coi là những vấn đề đa dạng và phức tạp, đang được tranh luận vớinhiều quan điểm, ý kiến rất khác nhau
Trang 8Theo tinh thần của Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của BộChính trị: Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 thì việc ĐTD đúng làyêu cầu cần thiết phục vụ hiệu quả cho tiến trình cải cách tư pháp và đảm bảoquyền con người trong TTHS Thực tiễn giải quyết VAHS những năm quacho thấy, các vụ việc oan, sai chủ yếu bắt nguồn từ việc ĐTD sai, đánh giáchứng cứ phiến diện, chủ quan Do vậy, ĐTD vẫn được xem là một trongnhững khâu khó trong chuỗi các hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là vớinhững tội phạm mà dấu hiệu cấu thành tội phạm còn dễ gây nhầm lẫn với cáctội phạm khác hoặc gặp nhiều khó khăn trong việc xác định có haykhông hành vi phạm tội xảy ra hay chỉ đơn thuần là vi phạm dân sự, kinh tếnhư Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015.
Để ĐTD đối với tội phạm này chính xác là vấn đề không đơn giản bởi dễnhầm lẫn với các tội phạm khác nhất là ở những địa phương đang trên đà pháttriển về kinh tế như Bình Phước
Trong thời gian từ 2014 đến 2018, tình hình tội phạm xâm phạm sở hữunói chung và tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh BìnhPhước nói riêng có những diễn biến vô cùng phức tạp về tính chất nghiêmtrọng của hành vi phạm tội với 193 vụ/238 bị cáo trên tổng số 5315 vụ/10593
bị cáo chiếm 3,6% số vụ và 2,2 % số bị cáo nhưng mức độ hậu quả của hành
vi thì không hề nhỏ, gây ra sự phẫn nộ và bất bình trong quần chúng nhân dân.Thực tiễn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tàisản trên địa bàn tỉnh Bình Phước những năm vừa qua cho thấy về cơ bảnviệc ĐTD
được thực hiện tương đối đúng pháp luật Tuy nhiên, vẫn có một số trườnghợp giữa CQĐT, VKSND, TAND trong quá trình giải quyết vụ án có nhiềuquan điểm khác nhau về vấn đề ĐTD dẫn đến có nhiều vụ án phải trả hồ sơnhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết và ảnh hưởng đến nhiều đối tượng khácnhau Có trường hợp Tòa án quyết định tội danh đối với bị cáo khác với tội
Trang 9danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, cá biệt còn có trường hợp Tòa án tuyên bịcáo không phạm tội Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khácnhau nhưng trước hết và quan trọng nhất là một số trường hợp áp dụng khôngđúng, chưa xác định đầy đủ, khách quan hành vi phạm tội, nhận thức quy địnhcủa BLHS chưa đầy đủ nên dẫn đến việc ĐTD còn chưa chính xác, việc hủy
án, sửa án vẫn còn tồn tại ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc còn có sựnhầm lẫn giữa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản làm giảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nóichung, uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng Chính vì vậy, tác
giả chọn đề tài “Định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Tỉnh Bình Phước” làm đề tài
nghiên cứu của mình góp phần làm rõ những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễncho quá trình các cơ quan tiến hành tố tụng định tội danh đối với tội phạm nàytrong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Một số công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo liên quanđến đề tài nghiên cứu của tác giả đã được đề cập và công bố như:
Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm - quyển 1 của
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017, Nxb Hồng Đức,Thành phố Hồ Chí Minh
Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Tập 2 của Trường Đại học Luật Hà
Nội năm 2007, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Tập 2 của tác giả Đinh Văn Quế
Trang 10Lí luận chung về định tội danh của tác giả Võ Khánh Vinh năm 2013,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam của
tác giả Lê Văn Đệ năm 2004, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
Định tội danh (Lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập) của tác giả Lê
Cảm – Trịnh Quốc Toản năm 2015, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội
Phương pháp định tội danh với 538 tội danh trong Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2017 của tác giả Đoàn Tấn Minh – Nguyễn Ngọc Điệp năm 2018,
Nxb Lao động, Hà Nội
Định tội danh Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Hoàng Thị Kim Chi
năm 2017, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội
Định tội danh tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tế số liệu từ địa bàn thành phố Đà Nẵng của tác giả Ngô Văn Định năm
2015, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tế số liệu từ địa bàn tỉnh Đăk Lăk) của tác giả Trương Thị Đông năm 2015, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đều là những công trình cógiá trị về mặt lý luận khoa học và thực tiễn nhất định Tuy nhiên, nội dung cáccông trình trên mới chỉ hướng đến việc phân tích, nghiên cứu những vấn đề lýluận chung về tội phạm nói chung, về vấn đề định tội danh nói riêng Vấn đềĐTD tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa được nghiên cứu chuyên sâu vàriêng lẻ, đặc biệt là nghiên cứu về vấn đề ĐTD tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sảngắn với thực tiễn một địa bàn nhất định Vì vậy, theo đánh giá của tác giả, mặc
dù có rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đề tài khác nhau đề cập đến vấn
đề về xác định tội phạm nói chung, việc ĐTD nói riêng Mặt khác, chưa cócông trình, đề
Trang 11tài nghiên cứu nào xem xét vấn đề định tội danh Tội Lừa đảo chiếm đoạt tàisản ở góc độ hoàn chỉnh, toàn diện gắn với địa bàn cụ thể như tỉnh BìnhPhước Mặc dù vậy, kết quả của những công trình nghiên cứu nêu trên là mộttrong những nguồn tài liệu cơ sở lý luận quan trọng mà tác giả có thể vậndụng, kế thừa và bổ sung để hoàn thiện cho đề tài nghiên cứu của mình.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về tội Lừa đảochiếm đoạt tài sản cũng như nghiên cứu vấn đề lý luận về định tội danh cũngnhư phân tích thực tiễn định tội danh Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản thôngqua các số liệu thống kê cụ thể, thông qua các vụ án thực tiễn xảy ra trên địabàn tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 2014 - 2018 để đưa ra một số kiến nghịnhất định nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
xử lý tội phạm này trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu đã được xác định như trên, để thực hiện đề tàicần thiết phải thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về định tội danh nói chung
và định tội danh tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Phân tích cơ sở pháp lý (quy định của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổsung năm 2017) về Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản để làm rõ các dấu hiệupháp lý đặc trưng của tội phạm này và so sánh với một số tội phạm khác cótính chất tương đồng được quy định trong Bộ luật hình sự
- Khảo sát thực tiễn, đánh giá những ưu điểm, hạn chế và phân tíchnguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động định tội danh Tội Lừa đảochiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Phước giai đoạn 2014 - 2018
Trang 12- Đưa ra yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động định tộidanh Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về định tội danh, quyđịnh của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản vàthực tiễn định tội danh trong các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trênđịa bàn tỉnh Bình Phước
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở tổng hợp số liệu tình hình giải quyếtcác vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trên địa bàn tỉnh Bình Phướctrong khoảng thời gian từ năm 2014 đến 2018 Đây là nguồn tư liệu quantrọng giúp cho việc phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động định tội danh TộiLừa đảo chiếm đoạt tài sản, từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận đó là phépbiện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhànước và pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòngchống các loại tội phạm, về chính sách hình sự đối với tội phạm nói chung vàđối với Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng Đồng thời, trong suốt quátrình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phươngpháp khác nhau như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê nhằm làm rõ nộidung vấn đề cần trình bày cũng như tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượnghoạt động ĐTD đối với tội phạm này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp tiếng nói khoa học vào hệ thống
lý luận về ĐTD Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài
Trang 136.2 Ý nghĩa thực tiễn
Bên cạnh những giá trị về mặt lý luận, trên thực tiễn kết quả nghiên cứucủa đề tài còn có thể được vận dụng như một tài liệu tham khảo trong quátrình nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại các cơ sở giáo dục trên cả nước.Thêm vào đó, đối với các cán bộ công tác thực tiễn, đặc biệt là cán bộ côngtác trong lĩnh vực hình sự, luận văn sẽ giúp ích một phần để cho việc vậndụng trong quá trình giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan tới việc ĐTDTội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thực tế
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu như sau:
Chương 1 Lý luận về định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theoquy định của pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2 Thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trênđịa bàn tỉnh Bình Phước
Chương 3 Yêu cầu và các giải pháp nâng cao chất lượng định tội danhtội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 14Chương 1
LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, ý nghĩa của định tội danh
1.1.1 Khái niệm định tội danh
Định tội danh là một vấn đề không phải là mới nhưng đối với nhữngngười làm công tác điều tra, truy tố, xét xử trong hoạt động tố tụng hình sự thìđây lại là vấn đề thời sự, có ý nghĩa vô cùng quan trọng được quan tâm hàngđầu Bởi vì có xác định tội danh đúng mới áp dụng pháp luật hình sự đúng, rabản án mới đúng pháp luật, người phạm tội mới cúi đầu nhận tội và mới đạtđược yêu cầu của việc xét xử là xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Quá trình áp dụng các quy phạm PLHS trên thực tế diễn ra phức tạp và
đa dạng, được thể hiện ở 3 giai đoạn như sau: Định tội danh, định khung hìnhphạt, và quyết định hình phạt Trong đó, định tội danh là một giai đoạn quantrọng nhất trong ba giai đoạn trên bởi vì định tội danh được tiến hành và thựchiện ở tất cả các giai đoạn của cả quá trình TTHS từ giai đoạn khởi tố, điềutra, truy tố, xét xử đến giai đoạn thi hành án
ĐTD là một trong những biện pháp đưa nội dung của Bộ luật hình sựvào đời sống xã hội, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòngngừa và chống tội phạm, qua đó góp phần thực hiện đường lối chính sáchhình sự của Đảng và Nhà nước ta ĐTD là sự xác nhận về mặt pháp lý sự phùhợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện trong thực tế khách quanvới các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong Bộluật hình sự Hay nói cách khác, ĐTD là việc xác định một hành vi cụ thể đã
Trang 15thực hiện thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của tội nàotrong số các tội phạm đã được quy định trong BLHS.
Do đó có thể đưa ra khái niệm ĐTD như sau: Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi p h ạ m t ộ i c ụ thể đã thực hiện với dấu hiệu của c ấ u th à n h t ộ i p h ạ m đã được quy định trong BLHSh tt p s : // h o c l u a t vn/w i k i/ bo - l u a t - hi n h - s u /
1.1.2 Ý nghĩa của hoạt động định tội danh
a Đối với hoạt động định tội danh đúng
ĐTD đúng là tiền đề cho việc phân hoá TNHS và cá thể hoá hình phạtmột cách công minh, có căn cứ pháp luật
ĐTD đúng sẽ đảm bảo cho việc thực hiện các nguyên tắc t i ến b ộ đ ượcthừa nhận trong hệ thống pháp luật nói chung của N h à n ư ớc ph áp q u y ền n hư:nguyên tắc pháp chế, trách nhiệm do i c á n h â n , lỗ bình đẳng trước pháp luậthình sự, n gu y ên t ắc c ô n g b ằng, nguyên tắc nhân đạo
ĐTD đúng thể hiện hoạt động có hiệu quả ý thức tuân thủ pháp luậttriệt để cũng như ý thức trách nhiệm trong hoạt động của các cơ quan có thẩmquyền, từ đó góp phần hiệu quả vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tộiphạm từ đó nâng cao uy tín, chất lượng hoạt động của các cơ quan có thẩmquyền tiến hành tố tụng cũng như hỗ trợ cho việc củng cố và tăng cường phápchế XHCN [9, tr 21]
ĐTD đúng là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác các quyphạm pháp l u ật TTHS Việt Nam về t ạm gi a m , về t h ẩm qu y ền đ i ề u t r a , x é t
x ử c ũng như một số hoạt động tố tụng khác qua đó góp phần hữu hiệu choviệc đảm bảo, bảo vệ các quyền tự do d â n c h ủ c ủa c ô n g d â n t rong lĩnh vực tư
p h áp h ìn h s ự
ĐTD đúng sẽ dẫn đến việc quyết định hình phạt đúng, là tiền đề choviệc ban hành một bản án đúng, chính xác, phù hợp với mức độ nguy hiểm
Trang 16cho xã hội của hành vi phạm tội, khiến bị cáo cũng như những người tham dựphiên tòa nói riêng, xã hội và công luận nói chung nhận thức đầy đủ về tínhnghiêm minh, công bằng, khách quan của pháp luật từ đó nâng cao hiệu quảtuân thủ, chấp hành pháp luật góp phần tăng cường hiệu quả công tác tuyêntruyền giáo dục pháp luật cho nhân dân.
ĐTD đúng sẽ đảm bảo hiệu quả hoạt động trấn áp tội phạm trên thực tế
b Đối với hoạt động ĐTD sai
ĐTD sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả tiêu cực như: không đảm bảođược tính công minh có căn cứ của pháp luật, truy cứu TNHS người vô tội, bỏlọt n g ư ờ i p h ạm tội , xâm phạm thô bạo danh dự nhân phẩm cũng như
Những vụ án oan sai xảy ra trên thực tế phần lớn là do ĐTD chưa chínhxác mà nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ việc đánh giá c h ứ n g cứ p hiến diện,thiếu thận trọng, nôn nóng khởi tố, bắt tạm giam hoặc do suy diễn chủ quancủa những người tiến hành tố tụng [8, tr 11 – 12]
1.2 Lý luận về định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc định tội danh Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.2.1.1 Khái niệm định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
ĐTD là một quá trình tư duy logic, là việc các chủ thể có thẩm quyềnxem xét, đánh giá sự phù hợp giữa hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế vớicác yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS nhằm quyết định
Trang 17hình phạt tương xứng với mức độ của hành vi phạm tội Do đó, ĐTD Tội lừađảo chiếm đoạt tài sản là quá trình các chủ thể có thẩm quyền xem xét, đánhgiá và sử dụng các quy định của PLHS và PLTTHS xác định hành vi củangười phạm tội có thỏa mãn các yếu tố cấu thành của Tội LĐCĐTS được quyđịnh tại Điều 174 BLHS hay không, từ đó quyết định mức hình phạt tươngứng phù hợp với mức độ, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành viphạm tội.
Như vậy, dựa trên cơ sở quy định tại Điều 8 BLHS, Điều 174 BLHS vàcác quy định của BLTTHS có thể hiểu định tội danh Tội LĐCĐTS như sau:
Định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự theo trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng hình sự quy định của các chủ thể có thẩm quyền được tiến hành trên cơ sở thu thập các tài liệu, chứng cứ để xác định hành vi chiếm đoạt tài sản, có hay không
có sự phù hợp giữa hành vi đã xảy ra với các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự để phán quyết làm tiền đề cho việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hình phạt
và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác.
1.2.1.2 Đặc điểm của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Từ định nghĩa trên có thể rút ra các đặc điểm của định tội danh TộiLĐCĐTS như sau:
Thứ nhất, ĐTD tội LĐCĐTS là hoạt động có tính logic nhằm xác định
có hay không sự tương đồng giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thựchiện và các dấu hiệu của Tội LĐCĐTS được quy định tại Điều 174 BLHS.Tính logic của quá trình định tội danh Tội LĐCĐTS được thể hiện ở quá trìnhcác cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết trước khi đưa rakết luận về tội danh của người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
đó là quá trình so sánh, đối chiếu sự phù hợp giữa hành vi với các yếu tố cấu
Trang 18thành tội phạm của Điều 174 BLHS để tìm ra điểm tương đồng Từ đó kếtluận hành vi đó có phải tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?
Thứ hai, quá trình hoạt động định tội danh Tội LĐCĐTS phải tuân thủnghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật của BLHS cũng như các quy phạmpháp luật của BLTTHS mà cụ thể là các cơ quan tiến hành tố tụng cụ thể hoácác QPPLHS vào đời sống thực tế Trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ cácchứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết của hành vi phạm tội đãthực hiện để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểmcho xã hội đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứngquy định tại Điều 174 BLHS Có thể nói đây là quá trình rất phức tạp và dễnhầm lẫn Chính vì vậy, để thực hiện được quá trình này có hiệu quả các cơquan tiến hành tố tụng phải tuân thủ những quy định của BLHS và BLTTHS,bên cạnh đó các cơ quan này cũng có thể sử dụng các biện pháp nghiệp vụ màpháp luật cho phép để xác định chính xác hành vi phạm tội LĐCĐTS Đó là
cơ sở để đưa ra mức hình phạt hợp lý nhất đối với người phạm tội
Thứ ba, với tư cách là một dạng của hoạt động áp dụng pháp luật hình
sự định tội danh Tội LĐCĐTS phải đảm bảo tính chính xác, khách quan tuyệtđối Mọi hành vi ĐTD sai sót dù là nhỏ nhất cũng có thể dẫn tới hậu quả lớncho cá nhân, gia đình và xã hội, do đó hoạt động này cần được tiến hành tuần
tự qua các bước là: Xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra trên thực
tế Tiếp theo là lựa chọn đúng điều khoản tương ứng trong Phần các tội phạmcủa BLHS quy định trách nhiệm đối với tội phạm LĐCĐTS để so sánh, đốichiếu và kiểm tra các dấu hiệu của cấu thành tội phạm này với các tình tiết cụthể của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện Cuối cùng là ra vănbản áp dụng pháp luật, trong đó đưa ra kết luận có căn cứ và đảm bảo sứcthuyết phục về sự phù hợp của hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt đã
Trang 19được thực hiện trong thực tế khách quan với cấu thành tội phạm cụ thể tạiĐiều 174 BLHS.
Thứ tư, ĐTD đối với Tội LĐCĐTS là hoạt động của các cơ quan Nhànước có thẩm quyền mang tính áp đặt một chiều đối với đối tượng bị áp dụng.Hoạt động định tội danh chỉ có thể được tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tốtụng là cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án mà không thể được tiến hànhbởi bất kỳ chủ thể nào khác Đối tượng bị áp dụng cũng không thể lựa chọn tộidanh cho mình mà chỉ có thể chấp nhận tội danh mà các cơ quan tiến hành tốtụng đã áp đặt trên cơ sở và theo quy định của pháp luật [8, tr 14 – 15]
1.2.1.3 Ý nghĩa của hoạt động định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạttài sản
Hoạt động ĐTD Tội LĐCĐTS được thực hiện trên thực tế một cáchchính xác sẽ mang lại nhiều ý nghĩa trên nhiều phương diện khác nhau, cụ thể:
- Ý nghĩa về phương diện chính trị - xã hội: Định tội danh đối với tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một hoạt động mang tính chính trị - xã hội sâusắc, thể hiện như sau:
Một là, việc quy định Tội LĐCĐTS trong BLHS có mục đích bảo vệquyền lợi về mặt kinh tế mà cụ thể là quyền sở hữu tài sản của công dân – đây
là quyền con người được pháp luật quốc gia và quốc tế ghi nhận Định tộidanh đúng đối với tội LĐCĐTS góp phần vào việc cụ thể hóa các cam kếtquốc tế của nhà nước Việt Nam là thành viên, nhất là các cam kết liên quanđến quyền con người mà Việt Nam đã tham gia ký kết
Hai là, định tội danh đối với Tội LĐCĐTS góp phần thể chế hóa đườnglối lãnh đạo của Đảng, các quy định của Hiến pháp, các quy định của phápluật, nhất là quy định của BLHS, BLTTHS góp phần củng cố lòng tin củangười dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, vào công lý, sự chí công, vô
tư của các cơ quan bảo vệ pháp luật; củng cố lòng tin của các nước trên thế
Trang 20giới, của các nhà đầu tư nước ngoài về tính minh bạch và đúng đắn của hệthống pháp luật Việt Nam góp phần nâng cao vị trí vai trò của Việt Nam trêntrường quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài.
- Ý nghĩa về phương diện pháp lý: Bên cạnh ý nghĩa chính trị - xã hội
thì hoạt động định tội danh Tội LĐCĐTS còn có ý nghĩa pháp lý to lớn, thểhiện ở các điểm sau:
Thứ nhất, việc xác định đúng hành vi của một người có phải là hành vilừa đảo nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản hay không? Có thỏa mãn các dấuhiệu quy định tại Điều 174 BLHS hay không? Chính là cơ sở và là tiền đề để
áp dụng một loạt các quy định của PLHS và PLTTHS vào thực tiễn cuộcsống, thể hiện sự đánh giá khách quan, công bằng của pháp luật đối với hành
vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra trong thực tế
Thứ hai, định tội danh nói chung là định tội danh đối với tội LĐCĐTSnói riêng một cách chính xác là cơ sở để áp dụng đúng các thủ tục tố tụng nhưthẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử; áp dụng biện pháp tạm giam; thực hiệnđúng các loại thời hạn tố tụng; ra các quyết định tố tụng đúng, không bắt oan,bắt sai người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh tình trạngtội phạm bỏ trốn hay tẩu tán tang vật… Định tội danh sai làm giảm hiệu quảcủa công tác đấu tranh với loại tội phạm này, làm nảy sinh những quanniệm không đúng về thực trạng và các biện pháp đấu tranh với tội phạm,làm giảm uy tín của các cơ quan tư pháp
Thứ ba, định tội danh đúng với Tội LĐCĐTS là tiền đề cho việc quyếtđịnh hình phạt đúng, là tiền đề cho việc ban hành một bản án đúng, chính xác,phù hợp với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khiến bị cáocũng như những người tham dự phiên tòa và dư luận xã hội nhận thức đầy đủtính nghiêm minh, công bằng, khách quan của pháp luật Từ đó nâng cao hiệuquả tuân thủ, chấp hành pháp luật góp phần tăng cường hiệu quả tuyên truyền
Trang 21giáo dục về Tội LĐCĐTS cho nhân dân Trong chương các tội xâm phạm sởhữu thì Tội LĐCĐTS rất dễ bị nhầm lẫn, tức là dễ bị định tội danh sai so vớicác loại tội phạm khác Do đó, định tội danh đúng với tội phạm này là cơ sở
để Tòa án căn cứ vào các yếu tố khác nhau để quyết định hình phạt một cáchnghiêm minh và phù hợp [12, tr 11- 12]
1.2.2 Nội dung của định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội LĐCĐTS trên thực tế xảy ra ở tất cả các lĩnh vực với thủ đoạn vôcùng đa dạng và tinh vi xảo quyệt Do đó các cơ quan tiến hành tố tụng chứngminh có hay không Tội LĐCĐTS xảy ra là không hề đơn giản Hoạt độngđịnh tội danh đối với Tội LĐCĐTS phải được tiến hành chính xác từng bước,thận trọng, khách quan, khoa học với những nội dung cụ thể sau:
Bước thứ nhất là: Thu thập, kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứchứng minh sự thật của vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản đúng quy định củapháp luật tố tụng hình sự Trong thực tế, nhiệm vụ này chỉ đặt ra đối với hoạtđộng định tội danh của các chủ thể có thẩm quyền như Điều tra viên trực tiếpthụ lý điều tra vụ án, Kiểm sát viên được phân công giám sát vụ án và Thẩmphán xét xử vụ án Tiếp theo là trên cơ sở các tình tiết vụ án đã được làm rõ,các chủ thể có thẩm quyền phải phân tích một cách khách quan, toàn diện,đầy đủ các tình tiết đó để xác định những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giảiquyết vụ án cũng như đối với định tội danh Tội LĐCĐTS
Bước thứ hai là: Nghiên cứu, nhận thức đúng đắn các quy định củapháp luật hình sự nói chung như hiệu lực áp dụng, cơ sở trách nhiệm hình sự,các khái niệm về lỗi, các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự; quy định vềtội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 BLHS nói riêng; phânbiệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh
tế với các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt khác gần giống vớitội LĐCĐTS…
Trang 22Bước thứ ba là: So sánh, đối chiếu các tình tiết của vụ án đã được làm
rõ với quy định của Điều 174 BLHS để xác định sự tương đồng Các cơ quantiến hành tố tụng phải đối chiếu từng tình tiết của vụ án đã xảy ra với các dấuhiệu cấu thành tội phạm tương ứng của Tội LĐCĐTS được quy định tại Điều
174 BLHS Sau đó, phải so sánh, đối chiếu tổng thể tất cả các tình tiết của vụ
án với tổng thể các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội phạm LĐCĐTS Tiếptheo phải phát hiện, tìm ra sự đồng nhất giữa các tình tiết điển hình của vụ ánvới các dấu hiệu pháp lý được mô tả trong Điều 174 BLHS Trường hợp cócăn cứ khẳng định hành vi khách quan của vụ án xảy ra phù hợp với nhữngquy định tại Điều 174 BLHS là người phạm tội có hành vi lừa dối nhằm mụcđích chiếm đoạt tài sản của người khác… thì kết luận hành vi đó phạm tộiLĐCĐTS Trường hợp không có sự đồng nhất thì phải kiểm tra, đối chiếu lại.Sau khi xác định chắc chắn không có sự đồng nhất với cấu thành tội phạm TộiLĐCĐTS thì có thể chuyển sang kiểm tra các quy phạm PLHS khác để kếtluận có hay không có tội phạm xảy ra, nếu có tội phạm xảy ra không thuộctrường hợp Tội LĐCĐTS thì cấu thành tội phạm nào khác
Bước thứ tư là: Đưa ra kết luận về tội danh và ra quyết định áp dụngpháp luật đối với người đã thực hiện hành vi quy định tại Điều 174 Bộ luậthình sự Lúc này việc so sánh hành vi phạm tội với quy định tại Điều 174 tiếptục được thực hiện để xác định cấu thành tội phạm là cơ bản hay cấu thành tộiphạm tăng nặng trách nhiệm hình sự
Tóm lại, có thể nói rằng, việc phân chia các giai đoạn định tội danh nêutrên chỉ mang tính chất tương đối Các bước của quá trình định tội danh nhiềukhi cũng không rõ ràng mà có tính chất đan xen Trong nhiều trường hợp cácchủ thể định tội danh có sự lồng ghép giai đoạn này vào giai đoạn khác Cũng
có những trường hợp cá biệt như việc ĐTD đã được thực hiện xong nhưng lạiphải quay lại quy trình bắt đầu từ đầu để kiểm tra lại tính đúng đắn của kếtquả ĐTD hoặc để ĐTD được đúng đắn, phù hợp với sự thật khách quan và
Trang 23quy định của pháp luật nếu như chủ thể định tội danh có những sai lầm nào đótrong quá trình ĐTD.
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Để hoạt động định tội danh đối với các loại tội phạm nói chung và địnhtội danh đối với Tội LĐCĐTS nói riêng đảm bảo được tính chính xác, có căn
cứ, hợp pháp đòi hỏi quy trình tiến hành tố tụng phải được các chủ thể tiếnhành tố tụng thực hiện nghiêm túc, chính xác việc đánh giá phải khách quan,toàn diện với sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan,
cụ thể:
1.2.3.1 Các yếu tố khách quan
Yếu tố khách quan là những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chấtlượng của hoạt động định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Sự hoànthiện của PLHS và pháp luật TTHS là cơ sở, là nền tảng pháp lý quan trọng
để chủ thể có thẩm quyền quyết định việc định tội danh đối với Tội LĐCĐTSđược đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh trường hợp oan sai, sót lọt
do việc áp dụng pháp luật không chính xác
Trước hết hoạt động định tội danh đối với Tội LĐCĐTS phải căn cứvào những quy định của PLHS bởi vì tội phạm chỉ được quy định trongBLHS mà định tội danh đối với Tội LĐCĐTS là quá trình xác định hành viphạm tội của một người có thỏa mãn các dấu hiệu quy định tại Điều 174BLHS hay không? Thuộc khoản nào? Điểm nào của điều luật Ngoài ra, khitiến hành định tội danh đối với Tội LĐCĐTS cũng phải căn cứ vào những quyđịnh trong phần chung của BLHS như: những quy định về năng lực tráchnhiệm hình sự, các quy định về lỗi, về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự haycác giai đoạn thực hiện tội phạm… Đây là những quy định chung do đó cácchủ thể tiến hành hoạt động định tội danh phải tuân thủ và áp dụng để đảm
Trang 24bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa với hoạt động này và cũng là cơ sở
để quyết định hình phạt một cách chính xác
Thực tiễn đấu tranh phòng chống Tội LĐCĐTS cho thấy có trường hợphành vi lừa đảo kết thúc ở giai đoạn tội phạm chưa đạt, không phải tội phạmhoàn thành Do đó, khi tiến hành định tội danh đối với Tội LĐCĐTS ở giaiđoạn tội phạm chưa đạt cần nắm chắc chắn kiến thức lý luận về trường hợpphạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 BLHS để áp dụng PLHS một cáchchính xác Hay trường hợp vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra có nhiềuđối tượng tham gia tức là vụ án lừa đảo có đồng phạm thì các chủ thể có thẩmquyền phải xem xét vai trò của từng đối tượng khác nhau trên cơ sở quy địnhtại Điều 16 BLHS để xác định trách nhiệm của mỗi người từ đó đưa ra mứchình phạt tương ứng với mức độ thực hiện hành vi phạm tội
Bên cạnh các quy định của PLHS thì các quy định của pháp luật TTHScũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập, đánh giá, bảo quản chứng cứtrong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụngtrong các giai đoạn của quá trình tố tụng cũng ảnh hưởng đến chất lượng củahoạt động định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Ngoài ra hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS mà cụ thể lànhững nội dung liên quan đến việc áp dụng PLHS đối với Tội LĐCĐTS cũngảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạttài sản
1.2.3.2 Các yếu tố chủ quan
Yếu tố chủ quan là những nhân tố bên trong nhưng lại là nhân tố vôcùng quan trọng quyết định việc định tội danh đúng hay sai Yếu tố chủ quanquan trọng nhất đó chính là năng lực của chủ thể có thẩm quyền trong việcđịnh tội danh Hoạt động định tội danh đối với Tội LĐCĐTS chỉ có thể đượctiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng Mà những ngườitiến hành tố
Trang 25tụng bao gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và hội thẩm đó lànhững người có trình độ, có kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ phát hiện và xử lýtội phạm nên năng lực của bản thân họ là vấn đề quan trọng nhất quyết địnhtính chính xác của hoạt động định tội danh Định tội danh Tội LĐCĐTS làhoạt động tố tụng hình sự được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền khácnhau nên mỗi chủ thể phải có nền tảng kiến thức pháp luật hình sự, tố tụnghình sự cũng như các quy định khác của pháp luật nhất định, có đạo đức, cótinh thần trách nhiệm, am hiểu và vận dụng tốt các quy định đó vào trong các
vụ án thực tế cụ thể mới đảm bảo cho việc định tội danh Tội LĐCĐTS đượcchính xác Ngoài ra, Tội LĐCĐTS là loại tội phạm có nhiều điểm tương đồngvới pháp luật dân sự và bản thân tội phạm này cũng bắt nguồn từ các giaodịch dân sự nên để tránh việc hình sự hóa các quan hệ dân sự hay dân sự hóacác quan hệ hình sự thì các chủ thể có thẩm quyền cần phải có vốn kiến thứchiểu biết nhất định về pháp luật dân sự, về các giao dịch dân sự Từ đó mới cóthể kết luận đó là Tội LĐCĐTS hay là vi phạm pháp luật dân sự, kinh tế, hànhchính để có thể đưa ra kết luận chính xác về tội danh của người phạm tội
Bên cạnh đó hoạt động áp dụng pháp luật của các chủ thể tiến hành tốtụng trong việc định tội danh đối với Tội LĐCĐTS cũng có thể bị tác động, bịảnh hưởng bởi các lợi ích khác nhau Mỗi chủ thể có thẩm quyền cần có sựkiên định, bản lĩnh vững vàng để vượt qua những cám dỗ về lợi ích vật chất,lợi ích tinh thần cũng như những ảnh hưởng từ các chủ thể khác từ đó có sựchắc chắn trong việc nhận định hành vi của người phạm Tội LĐCĐTS mới cóthể đưa ra quyết định đúng đắn Chính vì vậy, chủ thể tiến hành tố tụng khiĐTD ngoài việc cần mạnh dạn đưa ra những quan điểm mang chính kiến cánhân và tìm cách để bảo vệ quan điểm đó thì còn cần có bản lĩnh chính trịvững vàng, hiểu biết về các quan điểm, đường lối, chính sách pháp luật củaĐảng, của Nhà nước, chủ động vận dụng sáng tạo, linh hoạt các quy định của
Trang 26pháp luật trong thực tiễn đối với việc giải quyết từng vụ án, tuân thủ sự chỉđạo của cấp trên đối với cấp dưới.
Để làm được điều này thì sự thay đổi trong cách thức tổ chức, quản lý
là điều rất cần thiết nhằm tạo ra sự độc lập giữa các cơ quan tiến hành tố tụngtrong quá trình giải quyết VAHS trên cơ sở có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ;
sự kết hợp và trao đổi ý kiến, quan điểm để đưa ra kết luận chính xác và thốngnhất về hành vi của người phạm tội, đồng thời cần có chính sách hậu cần,lương, thưởng hợp lý để đảm bảo điều kiện sống, làm việc của các chủ thểtiến hành tố tụng để họ an tâm công tác, làm việc và cống hiến, từ đó mới có
cơ sở để nâng cao chất lượng của hoạt động ĐTD
1.3 Cơ sở pháp lý của định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.3.1 Khái niệm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tổng kết từ thực tiễn công tác đấu tranh chống tội phạm của các cơquan chức năng cho thấy, tội LĐCĐTS là loại tội xảy ra khá phổ biến trong
cơ cấu tội phạm nói chung Tội phạm LĐCĐTS đang có những diễn biến hếtsức phức tạp, không chỉ gây thiệt hại nặng nề tới tài sản của nhà nước, củacông dân mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của xã hội,
đe dọa đến sự ổn định chính trị và công cuộc xây dựng đất nước Nhằm nângcao hiệu quả công tác đấu tranh chống loại tội phạm này nhất thiết các cơquan bảo vệ pháp luật phải nghiên cứu và hiểu rõ khái niệm tội LĐCĐTS vàcác vấn đề có liên quan
Tội phạm LĐCĐTS được quy định trong BLHS năm 2015 (Điều 174)không định nghĩa rõ thế nào là tội phạm LĐCĐTS, do đó để hiểu rõ khái niệm
về tội phạm LĐCĐTS thì trước hết tác giả đề cập đến khái niệm tội phạmđược quy định trong BLHS
Khoản 1, điều 8 BLHS năm 2015 quy định: “Tội phạm là hành vi nguyhiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực TNHS hoặcpháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập,
Trang 27chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợiích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự phápluật XHCN mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” [25, tr.4].
Về khái niệm tội phạm LĐCĐTS cũng đã được đề cập rất nhiều trongcác công trình nghiên cứu của nhiều tác giả với nhiều khái niệm khác nhau.Căn cứ vào những quy định của BLHS có thể đưa ra khái niệm về tộiLĐCĐTS như sau:
“Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là loại tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố
ý bằng các thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin nhầm nên trao tài sản để người phạm tội chiếm đoạt”.
1.3.2 Dấu hiệu pháp lý của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 BLHS 2015như sau:
1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối CĐTS của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi CĐTS mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của BLHS 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
Trang 282 Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan,
tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3 Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4 Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
Trang 29c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Căn cứ vào quy định tại Điều 174 BLHS, có thể nhận thức các dấu hiệucủa cấu thành tội phạm này như sau:
- Khách thể của tội LĐCĐTS: Cũng tương tự như các tội xâm phạm sở
hữu có tính chất chiếm đoạt khác được quy định trong BLHS nhưng tộiLĐCĐTS không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đếnquan hệ sở hữu cụ thể là quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ
- Mặt khách quan của tội LĐCĐTS: Mặt khách quan của tội LĐCĐTS
là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác và tạo cho mình khảnăng định đoạt tài sản của người đó một cách gian dối Đó là hành vi dùng thủđoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tàisản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt Hai dấu hiệu đặc trưngcủa tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt
Hành vi phạm tội của tội LĐCĐTS gồm hai hành vi khác nhau là hành
vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt có liên hệ chặt chẽ với nhau Hành vi lừa dối
là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt làmục đích và là kết quả của hành vi lừa dối Tội phạm dùng những hành vi cụthể đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản làm cho họ tin và tựnguyện giao tài sản cho người phạm tội, tin rằng việc giao tài sản hoàn toànhợp pháp Thủ đoạn gian dối của người phạm tội phải luôn luôn có trước khi
có việc giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội
Thông thường hành vi chiếm đoạt xảy ra kế tiếp ngay sau hành vi gian
Trang 30định về mặt thời gian Trong trường hợp này tội phạm hoàn thành khi hành vichiếm đoạt đã xảy ra.
Gian dối là thủ đoạn đặc trưng cơ bản của tội LĐCĐTS nhưng khôngphải là dấu hiệu duy nhất của tội phạm, mà ngoài thủ đoạn gian dối, ngườiphạm tội còn phải có hành vi chiếm đoạt tài sản thì mới đủ yếu tố cấu thànhtội LĐCĐTS
Hậu quả của tội phạm là thiệt hại về tài sản, cụ thể là giá trị tài sản bịchiếm đoạt Đối với trường hợp người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản
có giá trị lớn hoặc rất lớn thì dù người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sảnvẫn bị coi là phạm tội LĐCĐTS nhưng những trường hợp ấy là trường hợpphạm tội chưa đạt Trường hợp người phạm tội có ý định chiếm đoạt giá trị tàisản dưới hai triệu đồng, tuy chưa chiếm đoạt được nhưng lại thuộc trường hợpgây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếmđoạt hoặc đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt chưa được xoá án tích thì cũng
đã cấu thành tội LĐCĐTS, nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, nếu mớichuẩn bị phạm tội thì chưa cấu thành tội LĐCĐTS
- Mặt chủ quan của tội phạm: Mặt chủ quan của tội LĐCĐTS bao gồm
các yếu tố: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội biếtmình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để cóthể chiếm đoạt được tài sản Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờcũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo,đây là điểm phân biệt với cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Vì trong một số trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sảnthì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thôngqua một hình thức giao dịch nhất định
- Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội LĐCĐTS là người có đủ năng
lực TNHS và đạt độ tuổi theo luật định
Trang 311.3.3 Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác
Quá trình nghiên cứu thực tiễn cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụnggặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh nói chung và địnhtội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nói riêng, đặcbiệt là đối với các trường hợp mà hành vi của người phạm tội không thể hiệnhết các yếu tố cấu thành tội phạm một cách đặc trưng Đối với những trườnghợp này, đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải có trình độ lý luận, có kinhnghiệm thực tiễn vững chắc trên cơ sở phân tích, đánh giá, tổng hợp các yếu
tố của vụ án, áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự một cách linh hoạt
vi cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản; chủ thể của cả hai tội này có thể làbất kỳ cá nhân nào trong xã hội có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ điềukiện về độ tuổi theo quy định của BLHS
Bên cạnh những điểm tương đồng ấy thì hai tội này có những biểu hiệnkhác nhau về dấu hiệu trong mặt khách quan của tội phạm, như sau:
Một là: Sự khác nhau về dấu hiệu “dùng thủ đoạn gian dối” để chiếmđoạt tài sản Hành vi gian dối ở tội LĐCĐTS là hành vi đưa ra những thôngtin sai sự thật bằng những thủ đoạn rất đa dạng như qua lời nói, sử dụng giấy
tờ giả, giả danh người khác để người có tài sản tin đó là thật và tự nguyệngiao tài sản cho người có hành vi gian dối Hành vi gian dối này luôn có trước
Trang 32hành vi nhận được tài sản từ người khác, có trước hành vi chiếm đoạt tài sảnhay nói cách khác là hành vi gian dối chính là điều kiện để thực hiện hành vichiếm đoạt, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích của hành vi gian dối.
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tộicũng dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, hành vi giandối trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ xuất hiện sau khingười có hành vi gian dối đã nhận được tài sản do người có tài sản tín nhiệmgiao cho Việc nhận được tài sản của người khác là hoàn toàn ngay thẳng,hợp pháp thông qua những hợp đồng có thể bằng miệng, bằng văn bản màngười có tài sản giao cho để sử dụng, sửa chữa, vận chuyển, bảo quản…Hành vi gian dối trong Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xuất hiệnsau khi người có hành vi gian dối đã nhận được tài sản từ người khác, cònđối với tội LĐCĐTS thì hành vi gian dối xuất hiện trước khi người có hành
vi gian dối nhận tài sản
Hai là, sự khác biệt về thời điểm hoàn thành tội phạm Đối với TộiLĐCĐTS, người phạm tội có ý thức chiếm đoạt tài sản ngay từ đầu và để đạtđược mục đích ấy họ chủ động thực hiện hành vi gian dối để nhận được vàsau đó chiếm đoạt tài sản Tội LĐCĐTS hoàn thành tại thời điểm người phạmtội nhận được tài sản từ người có tài sản
Đối với lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hành vi chiếm đoạt tàisản thể hiện bằng việc người phạm tội không trả lại tài sản cho người có tàisản như cam kết trong hợp đồng, đến hẹn phải trả tài sản nhưng người phạmtội không trả lại tài sản mà chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối Do đó, tội lạmdụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoàn thành khi người phạm tội cố ý khôngthực hiện nghĩa vụ phải trả lại tài sản (theo hợp đồng) cho người giao tài sản
mà mình đã chiếm đoạt tài sản đó
Trang 33Ba là, việc giao nhận tài sản giữa người có tài sản với người phạm tội.Trong Tội LĐCĐTS thì người có tài sản tự giác giao cho người phạm tội đã
có hành vi gian dối, người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để tạo dựng lênnhững điều giả tạo, không đúng sự thật nhưng người có tài sản lại tin nhữngđiều đó là sự thật mà tự giác giao tài sản cho người phạm tội hay nói cáchkhác là do người có tài sản đã bị người phạm tội lừa dối mà tự nguyện, tự giácgiao tài sản
Đối với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì khi giao tài sảnngười có tài sản hoàn toàn biết rõ và tin tưởng vào khả năng thực tế của ngườiphạm tội có đủ mọi điều kiện thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng đã cam kết nên
đã tín nhiệm giao tài sản [37, tr 34-36]
1.3.3.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội cướp giật tài sảnTội LĐCĐTS và Tội cướp giật tài sản có hành vi khách quan khác nhauhoàn toàn nhưng trên thực tế đối với tội cướp giật tài sản vẫn có những trườnghợp người phạm tội đã có hành vi gian dối trước khi chiếm đoạt tài sản Do
đó để tránh nhầm lẫn khi định tội danh đối với hai tội này cần phân biệt haitội như sau:
Thứ nhất: Về mục đích của thủ đoạn gian dối: Tội LĐCĐTS ngườiphạm tội chỉ chiếm đoạt được tài sản khi dùng thủ đoạn gian dối và chỉ códùng thủ đoạn gian dối mới chiếm đoạt được tài sản Còn đối với tội cướpgiật tài sản: Người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để tiếp cận tài sản gầnchủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản rồi nhanh chóng giật lấy tài sản
Thứ hai: Về ý thức của nạn nhân khi hành vi chiếm đoạt xảy ra: TộiLĐCĐTS sau khi người phạm tội chiếm đoạt tài sản được một khoảng thờigian nhất định nạn nhân mới phát hiện được là mình bị lừa đảo Đối với Tộicướp giật tài sản thì ngay tại thời điểm người phạm tội thực hiện việc chiếmđoạt tài sản một cách nhanh chóng thì chủ quản lý tài sản đã nhận biết được
Trang 34việc chiếm đoạt còn người phạm tội thì công khai chiếm đoạt và nhanh chóngtẩu thoát.
Thứ ba: Việc chuyển giao tài sản giữa nạn nhân và người phạm tội:Người bị hại tự nguyện chuyển giao quyền quản lý tài sản hoặc quyền sở hữu
về tài sản cho người thực hiện hành vi lừa đảo sau khi bị người phạm tội thựchiện hành vi gian dối Đối với tội cướp giật tài sản: Người có tài sản không cóhành vi chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển giao quyền quản lý tài sảncho người phạm tội ngoài phạm vi kiểm soát của họ mà người có tài sản chỉchuyển giao sự quản lý tài sản tạm thời cho người phạm tội và họ vẫn kiểmsoát được việc người phạm tội đang nắm, giữ tài sản đó Còn người phạm tộisau khi nắm, giữ được tài sản thì thực hiện hành vi chiếm đoạt đối với tài sản
đó [37, tr 39]
1.3.3.3 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội cướp tài sản
Sự khác nhau của hai tội phạm này thể hiện ở tội cướp tài sản là hành
vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làmcho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm mụcđích chiếm đoạt tài sản Còn Tội LĐCĐTS là hành vi dùng thủ đoạn gian dốilàm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản mìnhđang sở hữu hoặc quản lý cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó
Dấu hiệu nhận biết hai tội này có sự khác nhau cơ bản như sau:
Tội cướp tài sản có cấu thành hình thức chỉ cần sử dụng các hành vi nóitrên nhằm chiếm đoạt tài sản là tội phạm đã hoàn thành, không kể ngườiphạm tội có chiếm đoạt được tài sản như mong muốn hay không
Còn Tội LĐCĐTS có đặc điểm nổi bật là người bị chiếm đoạt tài sản tựnguyện giao tài sản cho người phạm tội và họ cho rằng việc giao tài sản cho
họ là hoàn toàn hợp pháp Hành vi phạm tội của tội phạm này bao gồm haihành vi kế tiếp nhau, là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt Lừa dối là
Trang 35hành vi đưa thông tin không phù hợp với thực tế khách quan nhằm làm ngườitiếp nhận thông tin cho nó là thật Hành vi lừa dối có thể thực hiện qua lời nói,qua xuất trình giấy tờ giả mạo Chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành
vi lừa dối
1.3.3.4 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội trộm cắp tài sảnTội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 BLHS có những điểmkhác biệt cơ bản với tội LĐCĐTS như sau:
Thứ nhất: Ý nghĩa của thủ đoạn gian dối đối với việc chiếm đoạt tàisản: Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì thủ đoạn gian dối có ý nghĩaquyết định đối với việc chiếm đoạt tài sản, người phạm tội chỉ chiếm đoạtđược tài sản khi dùng thủ đoạn gian dối và chỉ bằng thủ đoạn gian dối mớichiếm đoạt được tài sản
Đối với tội trộm cắp tài sản: Thủ đoạn gian dối không có ý nghĩa quyếtđịnh đối với việc chiếm đoạt tài sản Người phạm tội chỉ dùng thủ đoạn giandối để tiếp cận tài sản gần chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản rồi lén lútlấy tài sản của nạn nhân Chính hành vi “lén lút lấy tài sản” của người phạmtội mới là hành vi quyết định đối với việc chiếm đoạt tài sản
Thứ hai: Việc chuyển giao tài sản giữa người quản lý tài sản và người phạm tội: Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người quản lý tài sản tựnguyện chuyển giao quyền quản lý tài sản hoặc chuyển giao quyền sở hữu vềtài sản cho người thực hiện hành vi lừa đảo sau khi người phạm tội thực hiệnhành vi gian dối Sự tự nguyện này xuất phát từ niềm tin giả tạo được xâydựng bằng thủ đoạn gian dối của người phạm tội
Đối với tội trộm cắp tài sản: Người quản lý tài sản không có hành vi tựnguyện chuyển giao tài sản cho người phạm tội Nếu có xảy ra việc chuyểngiao tài sản một cách tự nguyện cho người phạm tội thì việc chuyển giao này
là hoạt động thực hiện một nghĩa vụ nhất định của người quản lý tài sản một
Trang 36đáng, đúng đắn, ngay thẳng, không phải là kết quả của thủ đoạn gian dối củangười phạm tội.
1.3.3.5 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lừa dối khách hàng
Tội lừa dối khách hàng quy định tại Điều 198 BLHS 2015 xâm phạmTrật tự quản lý kinh tế, kinh doanh thương mại và lợi ích của người tiêu dùng.Trong khi đó tội LĐCĐTS xâm phạm quyền sở hữu của con người Đây là haitội phạm mà khách thể của tội phạm là hoàn toàn khác nhau nhưng trên thực
tế cũng dễ nhầm lẫn trong việc định tội danh của tội phạm vì hai tội này cónhững điểm tương đồng đó là đều thực hiện hành vi phạm tội bằng thủ đoạngian dối để chiếm đoạt tài sản.Tuy nhiên hai tội này có những điểm khác biệt
cơ bản như:
Về hành vi: Tội LĐCĐTS người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối làmcho người có tài sản tin tưởng vào sự gian dối mà tự nguyện trao tài sản chongười phạm tội Đối với tội lừa dối khách hàng người phạm tội dùng thủ đoạngian dối trong việc mua, bán hàng hóa hoặc cung cấp các dịch vụ mà cân,đong, đo, đếm, tính gian hàng hóa, dịch vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác
để lấy tiền của khách hàng
Về chủ thể: Chủ thể của Tội LĐCĐTS có thể là bất kỳ chủ thể nào thỏamãn: có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định Còn chủ thểcủa Tội lừa dối khách hàng chủ thể phạm tội chỉ có thể là những người làmnghề mua, bán hàng hóa
Trang 37Chương 2
THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC VÀ NHỮNG HẠN CHẾ
2.1 Thực tiễn định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Phước
2.1.1 Khái quát tình hình điều tra, truy tố, xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Phước
Theo số liệu thống kê hàng năm của TAND tỉnh Bình Phước từ năm
2014 đến 2018 cho thấy tình hình tội phạm LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh diễn rakhá phức tạp và có xu hướng gia tăng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hộivới phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp, giá trị tài sản bị chiếmđoạt ngày càng lớn, cụ thể như sau:
Năm 2014, CQĐT khởi tố 49 vụ với 58 bị can, Viện kiểm sát truy tố 47
vụ với 56 bị can và Tòa án xét xử 47 vụ với 55 bị can, đình chỉ 1 vụ 1 bị can,tạm đình chỉ 1 vụ 2 bị can
Năm 2015, CQĐT khởi tố 31 vụ với 39 bị can, Viện kiểm sát truy tố 31
vụ với 39 bị can và Tòa án xét xử 29 vụ với 37 bị can, đình chỉ 1 vụ 1 bị can,tạm đình chỉ 1 vụ 1 bị can
Năm 2016, CQĐT khởi tố 37 vụ với 55 bị can, Viện kiểm sát truy tố 35
vụ với 53 bị can và Tòa án xét xử 35 vụ với 53 bị can, đình chỉ 1 vụ 1 bị can,tạm đình chỉ 1 vụ 1 bị can
Năm 2017, CQĐT khởi tố 44 vụ với 49 bị can, Viện kiểm sát truy tố 43
vụ với 48 bị can và Tòa án xét xử 43 vụ với 48 bị can, đình chỉ 1 vụ 1 bị can
Trang 38Năm 2018, CQĐT khởi tố 49 vụ với 59 bị can, Viện kiểm sát truy tố
48 vụ với 54 bị can và Tòa án xét xử 48 vụ với 54 bị can, tạm đình chỉ 1 vụ
4 bị can
Như vậy, trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong khoảng thời gian 5 năm từnăm 2014 đến năm 2018 CQĐT đã tiến hành khởi tố 210 vụ với 260 bị can;Viện kiểm sát truy tố 203 vụ với 250 bị can; Tòa án tỉnh đã xét xử 200 vụ với
247 bị cáo phạm tội LĐCĐTS [Xem Bảng 2.3 - Phần phụ lục]
Tóm lại: Tình hình tội phạm LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Bình Phướcthời gian qua có xu hướng tăng dần cả về số vụ và số bị cáo cho thấy tìnhhình tội phạm đang có chiều hướng diễn biến khá phức tạp So sánh tình hìnhtội phạm này với tình hình tội phạm chung trên địa bàn tỉnh và khu vực miềnĐông Nam Bộ thì tỷ lệ tội phạm không cao nhưng hàng năm có xu hướngtăng dần cả về tính chất và mức độ của tội phạm [Xem Bảng 2.1, 2.2 - Phầnphụ lục] Qua số liệu thống kê cụ thể trên đã phần nào cho thấy thực trạng phổbiến của tình hình tội phạm LĐCĐTS xảy ra trên địa bàn tỉnh Bình Phướcthời gian qua, tuy nhiên, một vấn đề đáng quan tâm hiện nay là loại tội phạmnày đang có xu hướng diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xãhội, chủ thể của nó có thể là bất kỳ ai, bất kỳ chủ thể nào và phần lớn đốitượng phạm tội thường là những người có học vấn, có trình độ và thườngngoan cố cũng như luôn tìm mọi cách để che dấu hành vi phạm tội nhằmchiếm đoạt cho được tài sản, trong đó tài sản trong những vụ án LĐCĐTS giátrị tài sản bị chiếm đoạt rất lớn Chính những thiệt hại về mặt vật chất thườngrất lớn dẫn tới những hệ lụy không nhỏ của tội phạm này, tuy nhiên, thời gianqua trên địa bàn tỉnh Bình Phước hoạt động định tội danh đối với tội phạmnày còn nhiều vấn đề hạn chế, thể hiện qua số vụ án bị đình chỉ và tạm đìnhchỉ hàng năm với tội phạm này vẫn còn xảy ra
Trang 392.1.2 Kết quả định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo cấu thành cơ bản trên địa bàn tỉnh Bình Phước
Định tội danh theo cấu thành cơ bản hay nói cách khác là định tội danhđối với tội phạm hoàn thành là việc so sánh, đối chiếu hành vi nguy hiểm cho
xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể trongPhần các tội phạm của BLHS quy định, từ đó xác định và tìm ra sự tươngđồng
Do đó, định tội danh đối với Tội LĐCĐTS theo cấu thành cơ bản là sựđánh giá về mặt pháp lý hình sự hành vi chiếm đoạt tài sản đã xảy ra trên cơ
sở so sánh, đối chiếu và kiểm tra để xác định sự giống nhau giữa các dấu hiệucủa hành vi ấy với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của Tội LĐCĐTS quyđịnh tại Điều 174 BLHS
Đánh giá về mặt pháp lý các dấu hiệu thuộc yếu tố khách thể của tộiLĐCĐTS bao gồm:
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự xáclập và bảo vệ và bị tội phạm xâm hại đến Khách thể của tội phạm là mộttrong bốn yếu tố cấu thành tội phạm mà hoạt động ĐTD bắt buộc phải tiếnhành kiểm tra, so sánh, đối chiếu trước khi đánh giá về mặt pháp lý các yếu tốkhác như mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm và chủ thểcủa tội phạm
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảngnhiệm kỳ 2016 – 2021 trên địa bàn tỉnh Bình Phước thời gian qua cho thấynhững mặt tích cực trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm tuynhiên vẫn còn những hạn chế như: tình hình tội phạm tuy được kiềm chếnhưng còn diễn biến phức tạp, các tranh chấp dân sự vẫn có xu hướng gia tăng
và tính chất ngày càng tinh vi Tuy số lượng ĐTV, KSV, Thẩm phán TANDhai cấp còn thiếu nhiều so với biên chế được phân bổ, số Thẩm phán hết
Trang 40nhiệm kỳ chờ tái bổ nhiệm lâu nhưng với tinh thần nỗ lực, quyết tâm trongcông tác,