Hình thức tấn công rất đa dạng tấn công từ chối dịch vụ làm tê liệt hoạt động của trang web bị hại; lợi dụng lỗ hổng bảo mật của các trang web để chiếm quyền điều khiển máy chủ, sau đó t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HOÀNG NAM
TộI Sử DụNG MạNG MáY TíNH, VIễN THÔNG, PHƯƠNG TIệN ĐIệN Tử THựC HIệN HàNH VI CHIếM ĐOạT TàI SảN
theo quy định của pháp LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HOÀNG NAM
TộI Sử DụNG MạNG MáY TíNH, VIễN THÔNG, PHƯƠNG TIệN ĐIệN Tử THựC HIệN HàNH VI CHIếM ĐOạT TàI SảN
theo quy định của pháp LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyờn ngành: Luật Hỡnh sự và Tố tụng Hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐỖ NGỌC QUANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Hoàng Nam
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 10
1.1 Những khái niệm có liên quan 10
1.1.1 Khái niệm về mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử 10
1.1.2 Khái niệm về chiếm đoạt tài sản 11
1.1.3 Khái niệm về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 13
1.2 Đặc điểm của tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 18
1.3 Bản chất của tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 20
1.4 Phân biệt tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với những tội khác chiếm đoạt tài sản 21
1.4.1 Phân biệt Tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS) 21
1.4.2 Phân biệt với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS) 22
1.4.3 Phân biệt với các tội xâm phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông 24
1.5 Sự phát triển của Luật hình sự Việt Nam về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 24
Trang 51.5.1 Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1999 24
1.5.2 Giai đoạn từ 1999 đến 2015 27
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 33
2.1 Các dấu hiệu pháp lý về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 33
2.1.1 Khách thể của tội phạm 33
2.1.2 Mặt khách quan của tội phạm 39
2.1.3 Mặt chủ quan của tội phạm 57
2.1.4 Chủ thể của tội phạm 58
2.1.5 Hình phạt được áp dụng đối với tội phạm 59
2.2 Thực tiễn áp dụng luật hình sự đối với tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 60
2.2.1 Những kết quả đạt được 60
2.2.2 Những hạn chế, thiếu sót 73
2.2.3 Những nguyên nhân gây nên những hạn chế, thiếu sót 80
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 85
3.1 Sự cần thiết, cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự về xử lý đối với tội phạm sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 85
3.1.1 Tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 85
Trang 63.1.2 Nguyên nhân của tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính,
viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt
tài sản 86
3.1.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với tội phạm sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 87
3.2 Các giải pháp hoàn thiện luật hình sự 90
3.2.1 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 90
3.2.2 Tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự 2015 về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 94
3.3 Các giải pháp đối với các cơ quan tiến hành tố tụng về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 98
3.3.1 Nâng cao trình độ đối với những người tiến hành tố tụng 98
3.3.2 Trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các cơ quan tiến hành tố tụng 100
KẾT LUẬN 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật Hình sự CNTT: Công nghệ thông tin CTTP: Cấu thành tội phạm PLHS: Pháp luật hình sự TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TNHS: Trách nhiệm hình sự VKSND: Viện Kiểm sát nhân dân
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thực tiễn đời sống xã hội trên thới giới cho thấy loại tội phạm trong lĩnh vực CNTT đang trở thành mối nguy hại lớn trên thế giới gây thiệt hại mỗi năm khoảng 400 tỷ USD, cao hơn số tiền mà tội phạm buôn bán ma túy thu được Cứ 14 giây lại có một vụ liên quan đến tấn công mạng, Interpol đánh giá loại tội phạm này nguy hiểm thứ 2 sau tội phạm khủng bố [50]
Ở nước ta nói chung, một trong những quốc gia có tốc độ phát triển cao nhất thế giới trên lĩnh vực CNTT, với hàng chục triệu người sử dụng thường xuyên đang là một “miếng mồi ngon” cho bọn tội phạm trong lĩnh vực CNTT tấn công Thời gian gần đây, lực lượng công an Việt Nam đã triệt phá hàng loạt các vụ án do tội phạm trong lĩnh vực CNTT thực hiện, qua các vụ án này cho thấy loại tội phạm này ngày càng công khai, táo tợn và tinh vi hơn Sự gia tăng cả về số lượng, mức độ nguy hiểm của loại tội phạm này thực sự đang rất đáng báo động với rất nhiều vụ tấn công, cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng Internet, phát tán virus, phần mềm gián điệp, mã độc hại có chủ đích với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng Hình thức tấn công rất đa dạng (tấn công từ chối dịch vụ làm tê liệt hoạt động của trang web bị hại; lợi dụng lỗ hổng bảo mật của các trang web để chiếm quyền điều khiển máy chủ, sau đó thay đổi giao diện của trang web bị tấn công; xâm nhập trái phép hệ thống thông tin để thu thập, trộm cắp, sửa đổi dữ liệu hoặc phá hủy cơ sở dữ liệu của trang web, chiếm đoạt tài sản…)
Thực tế cho thấy trong những năm gần đây, đặc biệt là thời gian từ năm
2012 trở lại đây trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã sảy ra một số vụ tội phạm sử
dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi
phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản của tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh và
Trang 9như vụ Gold 889; bán hàng ảo trên mạng (MB 24); chiếm đoạt tài sản của cá nhân thông qua mạng face book, điện thoại di động… đã để lại hệ lụy không nhỏ với số lượng tiền chiếm đoạt lớn trong một thời gian ngắn… Cường độ hoạt động của tội phạm không ngừng gia tăng Chúng thực hiện nhiều thủ đoạn khác nhau, liên hệ với nhau để trao đổi, tìm các thủ đoạn tinh vi để thực hiện hành vi một cách tinh vi, các đối tượng đã gây ra nhiều thiệt hại cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh; đồng thời gây ảnh hưởng lớn đến trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân trên địa bàn tỉnh gây dư luận hoang mang trong nhân dân và ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh
Trước tình hình đó, để xử lý đối với tội phạm sử dụng mạng máy tính,
viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; Bộ luật
Hình sự của nước ta đã có quy định về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều
226 b) nhưng chưa được áp dụng một cách hiệu quả Việc phát hiện tội phạm còn gặp nhiều khó khăn Khi đã phát hiện tội phạm và đưa ra xử lý lại thiếu các
cơ sở pháp lý để áp dụng Hơn nữa quy định của BLHS còn nhiều điểm chưa được hoàn thiện để phù hợp hơn trong thực tế đấu tranh với loại tội phạm này khiến cho việc điều tra, xử lý loại tội phạm này còn gặp nhiều khó khăn Khi đưa ra xét xử thì cũng chưa thống nhất về định tội danh và một số trường hợp còn xử lý chưa nghiêm đối với các hành vi của bị cáo Nguyên nhân của những hạn chế trên là do nhận thức về tội phạm tại điều 226b là chưa đầy đủ, thiếu những văn bản cụ thể hướng dẫn chi tiết những quy định của điều luật này Do
đó việc nghiên cứu tội phạm quy định tại điều 226b là yêu cầu có tính cấp thiết
Vì vậy tác giả đã chọn đề tài “Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)”,
làm nội dung nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ luật học của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài là tội phạm phi truyền thống, ra đời cùng với nền công nghệ cao và có khả năng gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội không bị giới hạn
về không gian Vậy nên, các nước có nền khoa học công nghệ tiên tiến hiện nay đã dành sự quan tâm đáng kể đến việc xây dựng quy phạm pháp luật làm
cơ sở đấu tranh chống tội phạm này, đặc biệt ở Liên minh châu Âu và Mỹ [68] Tuy nhiên, những văn bản pháp luật đã được xây dựng hầu như quy định chế tài ít nghiêm khắc đối với tội phạm này hoặc điều chỉnh một phạm vi rộng, không phân biệt giữa tội phạm trong lĩnh vực tin học với các tội phạm truyền thống có liên quan đến tin học… Cho đến nay, có rất ít công trình khoa học tại Việt Nam nghiên cứu về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Tác giả sắp xếp theo từng
nhóm công trình có liên quan đến luận văn như sau:
Thứ nhất: Các công trình nghiên cứu dưới dạng tài liệu chuyên khảo,
tham khảo, giáo trình, bình luận khoa học Đây là những tài liệu mang tính chất phổ biến cung cấp tri thức lý luận cơ bản nhất liên quan đến đề tài tác giả nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sách chuyên khảo:
“Giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập (Phần các tội phạm)” của PGS.TSKH
Lê Cảm (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007); Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 tập 1 “(Nxb Lao động, Hà Nội năm 2009” của TS Trần Minh Hưởng và đồng tác giả; So sánh Bộ luật Hình
sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015 (Nxb Hồng Đức) của TS Đỗ Đức
Hồng Hà (chủ biên và đồng tác giả; Các công trình trên chủ yếu nêu một cách khái quát và ngắn gọn những dấu hiệu pháp lý cũng như hình phạt của tội
phạm quy định tại điều 226b; “Tội phạm trong lĩnh vực Công nghệ thông tin”
Trang 11(Nxb Tư pháp, Hà Nội năm 2007) của TS Phạm Văn Lợi và đồng tác giả đã
đề cập tới đặc điểm của tội phạm CNTT nói chung, quy định của các quốc gia
và tổ chức trên thế giới trong đó có tội phạm chiếm đoạt tài sản bằng các thiết
bị công nghệ cao
Thứ hai: các công trình nghiên cứu thể hiện qua các luận án tiến sĩ và
các công trình nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành có thể kể đến như:
“Tội trộm cắp tài sản và đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam” - Luận án tiến sĩ luật học của TS Hoàng Văn Hùng bảo vệ tại Trường Đại học
Luật Hà Nội năm 2007; “Xác định tội trộm cắp tài sản đối với người lắp đặt thiết bị thu phát viễn thông để thu lợi bất chính là có căn cứ” của tác giả Đỗ Văn Chỉnh, Tạp chí Tòa án nhân dân số 19 năm 2004; “Chưa có căn cứ để truy cứu TNHS đối với hành vi lắp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông trí phép”
của tác giả TS Lê Đăng Doanh, Tạp chí Tòa án nhân dân số 17 năm 2004;
“Về định tội danh đối với hành vi làm, sử dụng thẻ tín dụng giả hay các loại thẻ khác để mua hàng hóa hoặc rút tiền tại các máy trả tiền tự động của các ngân hàng” của tác giả TS Lê Đăng Doanh, Tạp chí Tòa án nhân dân số 17 năm 2006; Lắp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông để thu lợi cước điện thoại trái phép - có thể bị truy tố về tội Kinh doanh trái phép của tác giả Trần Vũ Hải, Tạp chí Tòa án nhân dân số 22 năm 2004; “Về hành vi lắp đặt, sử dụng thiết
bị viễn thông trái phép để thu cước điện thoại - phạm tội gì” PGS.TS Dương
Tuyết Miên, Tạp chí Tòa án nhân dân số 17 năm 2004… Đề cập tới tội phạm chiếm đoạt tài sản bằng công nghệ cao có các công trình như: Tội phạm công nghệ cao dưới góc nhìn của "cảnh sát bàn phím" của Thiếu tướng Nguyễn Hòa Bình, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát đăng trên Công an nhân dân online là người chỉ đạo lực lượng cảnh sát phòng chống tội phạm công nghệ cao; Nhận diện tội phạm sử dụng công nghệ cao trong quản lý nhà nước
Trang 12và một số giải pháp Đàm Thanh Thế PGS.TS, Thư ký, Văn phòng Chính phủ đăng trên tạp chí điện tử Cảnh sát nhân dân Chuyên đề Thông tin Tô ̣i pha ̣m
học - Số 3/2015; “Tội phạm công nghệ thông tin và sự khác biệt giữa tội phạm công nghệ thông tin với tội phạm thường” của tác giả Đặng Trung Hà,
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3 năm 2009 chủ yếu so sánh tội phạm có sử dụng thiết bị công nghệ cao và tội phạm truyền thống
Có thể nhận thấy tất các các công trình trên không đề cập cụ thể hay
mô tả chi tiết về các hành vi phạm tội cụ thể liên quan đến sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài mà chỉ nghiên cứu tội phạm CNTT dưới góc độ chung chung, đặc biệt là công trình nghiên cứu về tội phạm sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện
tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ) Để góp phần làm rõ thêm dấu hiệu pháp lý đặc trưng của loại tội phạm này, tạo nên sự thống nhất trong cách hiểu làm tiền đề cho hoạt động nghiên cứu và áp dụng pháp luật Chính vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề nghiên cứu như trên càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Đồng thời xác định những điểm bất cập, chưa hợp lý trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống đối với loại tội phạm này Từ đó, luận văn cũng đề xuất một số giải pháp mang tính thể chế nhằm hoàn thiện quy định về các tội phạm sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và các giải pháp mang tính thiết chế nhằm
nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với loại tội phạm này trên thực tế
Trang 134 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ nội hàm các khái niệm có liên quan đến
tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản;
Thứ hai, nghiên cứu lược sử các quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản;
Thứ ba, nghiên cứu và đánh giá thực trạng của việc thực thi các quy
định của pháp luật hình sự về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; phát hiện những vướng mắc
và bất cập cần khắc phục trong các quy định của Luật thực định được quy định tại Điều 226b về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản;
Thứ tư, đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp
luật hình sự về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản;
Thứ năm, đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao
hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong mối tương quan với công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý
luận về tội phạm lĩnh vực CNTT được quy định trong BLHS năm 1999 và tội
sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được quy định trong BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009; BLHS 2015 và thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội phạm này trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 14Trong Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 có 05 tội danh có liên quan đến một số hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số Tuy nhiên, chỉ có 01 tội danh trong lĩnh
vực này có liên quan đến chiếm đoạt tài sản tại Điều 226b: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Do vậy, luận văn tập trung vào nghiên cứu những quy định
về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 226b BLHS
Phạm vi thời gian: các số liệu thống kê sử dụng trong luận văn được
tiến hành thu thập từ năm 2012 đến tháng 6 năm 2017
5 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích tài liệu: sử dụng để hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tội sử dụng mạng máy
tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; đánh giá thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đối với tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ Phương pháp tổng kết thực tiễn, sử dụng để nghiên cứu
tổng kết đánh giá những kết quả, tài liệu thu thập được từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Phương pháp chuyên gia, sử dụng để tham khảo ý kiến của cán bộ thực tiễn, các chuyên gia
nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến các tội xâm phạm về quyền sở hữu nói chung và các tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Việc nghiên cứu được thực hiện dựa trên báo cáo tổng kết hàng năm của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử tỉnh Phú Thọ trong thời gian từ năm 2012 đến năm tháng 6 năm 2017
Trang 156 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Có thể khẳng định, Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo dưới góc độ pháp luật Hình sự và Tố tụng hình sự, có sự tiếp thu tri thức của các công trình khoa học đã được công bố trước đây về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Vì thế, những đóng góp mới của luận văn được thể hiện ở một số điểm cơ bản sau:
6.1 Về mặt lý luận
Thứ nhất, làm rõ nội hàm các khái niệm có liên quan đến tội phạm sử
dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; nghiên cứu lược sử các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản
Thứ hai: Việc nghiên cứu đề tài góp phần làm cơ sở lý luận khoa học
và thực tiễn áp dụng pháp luật về tội phạm quy định tại điều 226b BLHS
Thứ ba: Phân tích một cách toàn diện các quy định trong BLHS và văn
bản hướng dẫn thi hành về tội phạm quy định tại Điều 226b BLHS Tìm ra những hạn chế trong quy định pháp luật về điều 226b BLHS
6.2 Về mặt lập pháp
Thứ nhất: Nêu được quy định của điều 226b BLHS năm 1999, sửa đổi,
bổ sung năm 2009 và những điểm mới tại điều 290 BLHS năm 2015
Thứ hai: Đưa ra các mặt còn hạn chế của điều 226b và khó khăn,
vướng mắc trong thực tiễn áp dụng
Thứ ba: Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại điều 226b và một số
nội dung để hoàn thiện BLHS 2015 về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290)
Trang 166.3 Về mặt thực tiễn
Thứ nhất: Đánh giá thực trạng của việc thực thi các quy định về tội sử
dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, mà cụ thể là điều 226b BLHS; đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật xử lý đối với tội phạm này nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm này trên thực tế
Thứ hai: Là tài liệu tham khảo cho các cán bộ, công chức ngành Công
an, Kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; tài liệu tham khảo cho sinh viên đại học, học viên cao học; tài liệu tuyên truyền để phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật sử dụng công nghệ cao
7 Cấu trúc của luận văn
Dựa trên đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tác giả dự kiến cấu trúc của luận văn như sau:
Chương 1 Nhận thức chung về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Chương 2 Quy định của Luật Hình sự Việt Nam về tội sử dụng mạng
máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Chương 3 Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình
sự đối với tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Trang 17Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI SỬ DỤNG MẠNG
MÁY TÍNH, VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ
THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1.1 Những khái niệm có liên quan
1.1.1 Khái niệm về mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử
Mạng là khái niệm chung dùng để chỉ mạng viễn thông (cố định, di động, Internet), mạng máy tính (WAN, LAN) [7, tr.2] Mạng máy tính: là tập hợp nhiều máy tính kết nối với nhau, có thể chia sẻ dữ liệu cho nhau Do hiện nay
mạng máy tính được phát triển khắp nơi với những ứng dụng ngày càng đa dạng cho nên việc phân loại mạng máy tính là một việc rất phức tạp Người ta
có thể chia các mạng máy tính theo khoảng cách địa lý ra làm hai loại: Mạng diện rộng (là mạng được thiết lập để liên kết các máy tính của hai hay nhiều khu vực khác nhau như giữa các thành phố hay các tỉnh) và Mạng cục bộ (là mạng được thiết lập để liên kết các máy tính trong một khu vực như trong một
truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch
vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng), dịch vụ ứng dụng viễn thông (là dịch vụ sử dụng đường truyền dẫn viễn thông hoặc
mạng viễn thông để cung cấp dịch vụ ứng dụng trong lĩnh vực công nghệ thông tin, phát thanh, truyền hình, thương mại, tài chính, ngân hàng, văn hóa, thông tin, y tế, giáo dục và lĩnh vực khác) [41, tr.1]
Trang 18Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự [37, tr.1] Theo khái niệm này thì “Phương tiện điện tử” đã
bao gồm cả thiết bị số vì theo quy định tại khoản 11 Điều 4 Luật Công nghệ
Thông tin: Thiết bị số: Là thiết bị điện tử, máy tính, viễn thông, truyền dẫn, thu phát sóng vô tuyến điện và thiết bị tích hợp khác được sử dụng để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số [38, tr.1]; Những
thiết bị này phải đáp ứng được các yêu cầu là tác động được vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc tác động vào được thiết bị số, phương tiện điện tử khác để chiếm đoạt được tài sản
1.1.2 Khái niệm về chiếm đoạt tài sản
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt bao gồm 8 tội phạm được quy định từ điều 133 đến điều 140 BLHS Các tội này có cùng đặc điểm xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác bằng hành vi chiếm đoạt với các thủ đoạn khác nhau Nói cách khác, các tội phạm này có cùng hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi chiếm đoạt tài sản, sự khác nhau giữa chúng
chỉ là thủ đoạn chiếm đoạt tài sản
Hành vi chiếm đoạt có những đặc điểm làm cho chủ tài sản mất khả năng thực hiện quyền sở hữu, đồng thời tạo khả năng cho người phạm tội có thể thực hiện được việc chiếm giữ, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản
đó Việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản được thực hiện bằng hành vi chiếm đoạt là trái với các căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản quy định của
Bộ luật dân sự, nên nó bị coi là bất hợp pháp Vì vậy, về mặt pháp lý việc chuyển dịch tài sản một cách trái pháp luật không thể làm cho người chiếm đoạt trở thành chủ sở hữu đối với tài sản, chủ sở hữu tuy mất đi khả năng thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt nhưng họ không bị mất đi quyền sở hữu đối với tài sản Hành vi chiếm đoạt là một quá trình được bắt
Trang 19đầu từ khi người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt và kết thúc khi đã tạo
ra cho mình khả năng thực hiện các quyền của quyền sở hữu và cũng có nghĩa
là chủ sở hữu đã mất đi khả năng thực hiện các quyền đó Quá trình này sảy ra dài hay ngắn tùy thuộc vào tính chất tài sản và thủ đoạn chiếm đoạt Chẳng hạn: Chiếm đoạt bằng thủ đoạn dùng vũ lực thì quá trình đó ngắn hơn việc chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối Hành vi chiếm đoạt với nội dung là một quá trình được thể hiện ở những thủ đoạn chiếm đoạt khác nhau, tùy thuộc vào mối quan hệ cụ thể giữa người chiếm đoạt và tài sản bị chiếm đoạt Hành
vi chiếm đoạt tài sản không chỉ cấu thành các tội xâm phạm sở hữu mà còn có thể cấu thành những tội khác trong BLHS tùy thuộc vào tính chất tài sản và mục đích của người thực hiện hành vi chiếm đoạt Vì vậy, chỉ cấu thành các tội xâm phạm sở hữu khi chiếm đoạt các tài sản là đối tượng của các tội xâm
phạm sở hữu và không có mục đích chống chính quyền
Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt phải còn nằm trong sự quản lý của chủ sở hữu Thiếu đặc điểm này, thì tài sản không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt, như trường hợp tài sản của chủ sở hữu bị thất lạc Vì vậy, chỉ khi tài sản còn đang do chủ sở hữu quản lý mới là đối tượng của hành vi chiếm đoạt, mới làm mất khả năng chiếm giữ, sử dụng,
định đoạt tài sản của chủ sở hữu
Chiếm đoạt là hành vi được người phạm tội thực hiện có chủ đích nên lỗi của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là cố ý trực tiếp Người phạm tội biết tài sản thuộc sở hữu của người khác và đang trong sự quản lý của họ, nhưng vẫn thực hiện hành vi chiếm đoạt và mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình hoặc người khác mà mình quan tâm Vì vậy, những trường hợp lầm tưởng là tài sản của mình hoặc tài sản không có người quản lý hay không có mục đích chiếm đoạt tài sản đều không phải là hành vi chiếm đoạt Những trường hợp này không CTTP hoặc sẽ CTTP khác chứ
Trang 20không phải các tội chiếm đoạt tài sản Hành vi chiếm đoạt tài sản phải thỏa
mãn những đặc điểm trên, nếu thiếu một trong các đặc điểm đó sẽ không phải
là hành vi chiếm đoạt và do đó không cấu thành các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Trên thực tế, xác định hành vi chiếm đoạt không phải trường hợp nào cũng đơn giản Từ việc xác định không đúng hành vi chiếm đoạt có thể dẫn đến xác định sai lầm giữa phạm tội với vi phạm, giữa tội
phạm này với tội phạm khác
Như vậy, chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc của một nhóm người
hoặc cho người khác mà mình quan tâm [28, tr.230]
1.1.3 Khái niệm về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Cũng như bất kỳ một thành tựu khoa học nào của nhân loại, khi mà các thành tựu càng được ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội thì càng dễ bị lợi dụng, sử dụng hoặc là mục tiêu của giới tội phạm Các thành tựu do công nghệ thông tin đem lại cũng không nằm ngoài quy luật đó, nên trong thế giới
mà công nghệ thông tin đã tạo nên cho con người đã hình thành một khái niệm mới về loại tội phạm - tội phạm về công nghệ thông tin hay còn được biết đến với các tên khác nhau như: tội phạm mạng (cyber crimes), tội phạm tin học hay tội phạm liên quan đến máy tính (computer crimes) Đây là những khái niệm mới không chỉ đối với Việt Nam chúng ta mà còn đối với nhiều nước trên thế giới Do vậy, ngay từ việc sử dụng thuật ngữ đến việc đưa ra khái niệm, đặc điểm đến việc xếp những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào bị liệt kê vào danh sách của loại tội phạm này cũng còn có nhiều ý kiến không đồng nhất Đây hiện được xem là một trong những mối quan ngại của cả cộng đồng thế giới và là một thử thách mới đối với các nhà làm luật cũng như các
cơ quan thực thi pháp luật trong việc định ra những quy định phù hợp để có
Trang 21thể phòng ngừa và trấn áp một cách có hiệu quả loại tội phạm này Trong nghiên cứu khoa học, đã từng có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu về khái niệm tội phạm trong lĩnh vực CNTT Nổi bật lên có hai quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất được hiểu trên nghĩa rộng, thì việc phân loại thế
nào là tội phạm công nghệ thông tin cần dựa trên vai trò của máy tính trong tội phạm Theo quan điểm này thì tội phạm tin học bao gồm những tội phạm
có sự liên can, dính líu của máy tính tới tội phạm với ba vai trò: Máy tính là công cụ phạm tội; Máy tính là vật trung gian để cất giấu, lưu trữ những thứ đã chiếm đoạt được
Theo quan điểm này thì rất nhiều các loại tội phạm truyền thống cũng đều bị coi là tội phạm công nghệ thông tin hay tội phạm tin học, đặc biệt là những tội sử dụng máy tính, mạng máy tính làm công cụ, phương tiện phạm tội, ví dụ như tội đánh bạc trên mạng, tội cung cấp các dịch vụ mại dâm trực tuyến, tội truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy trên mạng Một trong những khái niệm rộng nhất về tội phạm máy tính thể hiện quan điểm theo nghĩa rộng này
được Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đưa ra như sau: "Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin là bất cứ các hành vi vi phạm pháp luật hình sự nào có liên quan đến việc sử dụng các hiểu biết về công nghệ máy tính trong việc phạm tội, điều tra hoặc xét xử” [30, tr.27] Theo khái niệm này thì bất cứ tội phạm
nào cũng có thể được xếp vào loại tội phạm máy tính vì chỉ cần trong quá trình điều tra các điều tra viên sử dụng máy tính để tìm kiếm thông tin cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của khái niệm
Quan điểm hiểu tội phạm tin học theo phạm vi rộng cũng vấp phải một vấn đề khó khăn đó là cụ thể hoá các hành vi phạm tội cụ thể từ đó xác định tội danh cụ thể cho các hành vi này Đây là công việc không dễ dàng vì khi định tội danh xét về bản chất nhiều tội danh lại trùng với các tội danh truyền
Trang 22thống như tội lừa đảo, đánh bạc , có khác chăng ở đây là việc sử dụng công
cụ là mạng máy tính mà thôi [14] Các nhà khoa học theo quan điểm này cho
rằng, Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết
bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là việc một người hoặc một nhóm người sử dụng thiết bị điện tử công nghệ cao qua các mạng máy tính, mạng viễn thông để thực hiện hành vi lén lút hoặc lừa đảo nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác Quan điểm này tiếp cận tội phạm từ vấn đề bản
chất Đó là người phạm tội sử dụng các phương tiện nêu trên để thực hiện hành vi nhằm mục đích cuối cùng là chiếm đoạt được tài sản Nhưng quan điểm này cũng vấp phải một vấn đề khó khăn đó là cụ thể hoá các hành vi phạm tội cụ thể từ đó xác định tội danh cụ thể cho các hành vi này
Quan điểm thứ hai, được hiểu theo nghĩa hẹp, cho rằng tội phạm công
nghệ thông tin chỉ là tội phạm được thực hiện và gây hậu quả trên môi trường, trên thế giới ảo do thành tựu của khoa học công nghệ tin học đem lại và nó hoàn toàn khác với các loại tội phạm truyền thống trước kia [30, tr.28] Trên thế giới hiện nay đã xuất hiện thêm nhiều hành vi được coi là tội phạm công nghệ thông tin khác hiểu theo phạm vi hẹp này như: tội vào cửa bằng mật khẩu ăn cắp; tội sao chụp bất hợp pháp các chương trình phần mềm; tội đe doạ tấn công hệ thống máy tính Phương pháp tiếp cận theo phạm vi hẹp này tuy có ưu điểm là định rõ được tội danh cần xử lý nhưng lại có nhược điểm là rất dễ bỏ sót tội phạm, nhất là trong bối cảnh công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão như hiện nay Một ví dụ điển hình trên thế giới hiện nay đang tranh cãi về việc có coi hành vi trộm cắp, lừa đảo các tài sản mà người chơi có được khi chơi trò chơi trực tuyến hay không Nếu nhìn dưới góc độ thế nào là tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành, thì các "tài sản" ảo này là hoàn toàn không giá trị vì nó thực chất không phải là tài sản vì chỉ là những thứ được tạo ra trong thế giới ảo do một phần mềm máy tính (những
Trang 23người xây dựng lên trò chơi trực tuyến) nghĩ ra Tuy nhiên, nếu xét dưới góc
độ các tài sản này là do người chơi đã bỏ nhiều công sức để tạo lập được, cùng với tính chất có thể "chiếm hữu, sử dụng và định đoạt" (thực chất chiếm hữu,
sử dụng và định đoạt ở đây cũng chỉ là tương đối) và đặc biệt là những tài sản này có thể quy đổi sang giá trị thực (có thể bán cho những người chơi khác) thì chúng lại thực sự cần được coi là một tài sản thực và cần được pháp luật bảo vệ trước các hành vi như lừa đảo, trộm cắp như đối với các tài sản hữu hình khác
Mặt khác, nếu chỉ coi tội phạm tin học giới hạn trong phạm vi thế giới
ảo, môi trường điện tử do công nghệ thông tin đem lại thì đối với những tội phạm truyền thống sử dụng thành tựu công nghệ thông tin đem lại thực hiện hành vi phạm tội, việc truy tìm dấu vết, chính sách ngăn ngừa, đấu tranh đối với hành vi này sẽ không có gì khác so với các phương pháp xử lý truyền thống, trong khi về bản chất thì các hành vi phạm tội này khác hẳn, như kẻ phạm tội tống tiền trên mạng trong và sau khi thực hiện hoàn toàn có thể xoá sạch toàn bộ dấu vết tội phạm bằng kỹ thuật công nghệ tin học gây không ít khó khăn cho hoạt động thu thập dấu vết nếu các phương pháp thu thập, bảo quản chứng cứ không thay đổi phù hợp
Như vậy, mỗi quan điểm về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin đều có những khiếm khuyết nhất định, vì vậy, trên thế giới hiện nay vẫn chưa có được một khái niệm về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin đầy đủ được mọi người cùng nhất trí Trong khuôn khổ cuộc họp lần thứ
10 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về ngăn chặn và xử lý tội phạm được tổ chức tại thành phố Viên (áo) từ ngày 10/10/2000 đến ngày 17/10/2000, một cuộc hội thảo đã được tổ chức để bàn về vấn đề tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và việc định nghĩa về tội phạm này được chia thành hai quan điểm [30, tr.31]:
- Thứ nhất, tội phạm công nghệ thông tin theo nghĩa hẹp: Tội phạm
Trang 24trong lĩnh vực công nghệ thông tin là các hành vi phạm tội sử dụng máy tính
và mạng máy tính với mục đích xâm phạm đến an toàn của hệ thống máy tính
và quy trình lưu trữ dữ liệu của hệ thống đó Loại tội phạm theo định nghĩa này
có thể được hiểu là loại tội phạm mới có quan hệ trực tiếp đến máy tính, mạng
máy tính, làm ảnh hưởng và gây thiệt hại cho người sử dụng [30, tr.31-32]
- Thứ hai, tội phạm công nghệ thông tin được hiểu theo nghĩa rộng: Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin là các hành vi phạm tội sử dụng máy tính hoặc các phương pháp khác có liên quan đến máy tính, mạng máy tính, bao gồm các loại tội phạm như chiếm giữ bất hợp pháp và đe doạ hoặc làm sai lệnh thông tin bằng phương pháp sử dụng mạng máy tính Loại tội phạm theo
định nghĩa này là rất rộng, bao gồm nhiều loại hành vi của tội phạm truyền thống được thực hiện với sự trợ giúp của công cụ máy tính mà phổ biến hiện nay như các hành vi lừa đảo, trốn lậu cước viễn thông, mạo danh [30, tr.32]
Theo tác giả luận văn, tội phạm công nghệ thông tin chỉ là tội phạm được thực hiện và gây hậu quả trên môi trường thế giới ảo do thành tựu của khoa học công nghệ tin học đem lại hay hiểu đơn giản hơn là trên mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử và nó hoàn toàn khác với các loại tội phạm truyền thống trước kia Nếu chỉ coi tội phạm tin học giới hạn trong phạm vi thế giới ảo, môi trường điện tử do công nghệ thông tin đem lại thì đối với những tội phạm truyền thống, các hành vi phạm tội này khác hẳn về bản chất Vì vậy, cần phải có một khung pháp lý và hệ thống quy phạm pháp luật hình sự riêng để điều chỉnh BLHS năm 1999 nước ta có đề cập đến quan điểm này nhưng tại thời điểm đó, mạng máy tính, mạng viễn thông của nước
ta còn lạc hậu, kỹ thuật chưa phát triển nên mới chi đề cập đến một số tội danh nhất định như: tội tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình vi-rút tin học (Điều 224); tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử (Điều 225); tội sử dụng trái phép thông tin trên
Trang 25mạng và trong máy tính (Điều 226) Năm 2009, BLHS 1999 đã được sửa đổi,
bổ sung, qua đó, sửa đổi các Điều 224, 225, 226 BLHS, bổ sung các tội: Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác (Điều 226a); Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b) Theo đó, các tác giả khoa học cũng như một số nhà lập
pháp đưa ra quan điểm là liệt kê tất cả các hành vi, thủ đoạn, cách thức phạm tội của tội phạm thực hiện để chiếm đoạt tài sản của người khác Tuy nhiên, quan điểm này cũng có mặt hạn chế là mặc dù đã nhấn mạnh được việc đưa ra tất cả các hành vi riêng biệt của tội phạm để chứng minh rằng đây là loại tội phạm mới có hành vi riêng biệt nhưng quan điểm này đã miêu tả quá chi tiết
về mặt hành vi trong khi một khái niệm khoa học cần phải ngắn gọn, súc tích
và chỉ ra được đầy đủ vấn đề về tội phạm
Trên cơ sở phân tích các quan điểm của các nhà khoa học, đồng thời với sự nghiên cứu của mình, tác giả luận văn đưa ra khái niệm tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt
tài sản như sau: Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi sử dụng các phương tiện trên
để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu mang tính chất chiếm đoạt được pháp luật hình sự bảo vệ
1.2 Đặc điểm của tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có một số đặc điểm nổi bật như sau:
Đặc điểm về phương tiện phạm tội: người phạm tội sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin để thực hiện mục đích chiếm đoạt tài sản Đây là đặc điểm
Trang 26cơ bản và quan trọng của tội này Vai trò của mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử là không thể thiếu được
Hành vi của người phạm tội bao gồm hai giai đoạn: 1) giai đoạn thứ nhất: dùng các thiết bị công nghệ thông tin để tác động vào mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử hoặc một người nào đó; 2) giai đoạn thứ hai: Tác động đến tài sản của người khác, thực hiện hành vi chiếm đoạt Hành vi thực hiện ở giai đoạn thứ nhất tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi ở giai đoạn thứ hai được thực hiện dễ dàng hơn
Mục đích của người phạm tội là chiếm đoạt tài sản Mục đích chiếm đoạt tài sản là một đặc điểm, một dấu hiệu quan trọng của tội này Người phạm tội
có thể thực hiện hành vi sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin để đạt được nhiều mục đích khác nhau nhưng hành vi nào thực hiện nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản mới là hành vi phạm tội thuộc điều 226b BLHS
Tài sản trong tội này bao gồm các tài sản thông thường (vật, tiền, giấy tờ
có giá) và tài sản ảo Tài sản ảo chính là điểm khác biệt của tội phạm sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản so với các tội phạm thông thường khác Tuy là các đoạn mã, những “bit
“số, các thông tin thể hiện được trên máy tính, phương tiện điện tử nhưng các tài sản ảo được sử dụng trong giao dịch dân sự; có nhiều loại tài sản ảo có thể quy đổi ra thành tiền hay nói một cách khác, tài sản ảo có thể trị giá được bằng tiền thông qua những quy tắc quy đổi riêng giữa các chủ thể, người sở hữu cũng có đầy đủ các quyền sở hữu đối với tài sản này
Người phạm tội có thể được thực hiện bằng bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất của hành vi phạm tội, chủ thể trực tiếp thực hiện tội phạm sử dụng công nghệ cao phải là những người có tri thức và kỹ năng cần thiết để trực tiếp khai thác, sử dụng thiết bị, công cụ, phương tiện công nghệ hoặc trực tiếp
Trang 27Đó là một số đặc điểm khái quát nhất về tội phạm sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Vì tội này quy định bốn nhóm hành vi nên đối với mỗi hành vi cụ thể, ngoài những đặc điểm này, tội phạm còn có những đặc điểm riêng và sẽ được tác giả trình bày cụ thể trong Chương 2 của luận văn này
1.3 Bản chất của tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Các tội phạm truyền thống như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng các hành vi thông thường không có sự hỗ trợ của mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử Khi CNTT phát triển thì các hành vi, thủ đoạn nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác cũng có những biểu hiện mới Những thiết bị CNTT hiện đại có vai trò giúp cho mục đích chiếm đoạt tài sản của tội phạm đạt được một cách dễ dàng Các phương tiện thực hiện tội phạm chỉ làm thay đổi dạng hành vi thực hiện chứ không làm thay đổi bản chất của tội phạm
Mục đích của tội phạm là nhằm chiếm đoạt tài sản Mục đích này của người phạm tội chi phối việc thực hiện hành vi của họ Tài sản là đối tượng mà người phạm tội hướng tới và còn đang nằm trong sự sở hữu của người chủ sở hữu Tất cả các hành vi phạm tội, phương tiện phạm tội, thủ đoạn phạm tội, được sử dụng đều hướng tới việc chuyển dịch quyền sở hữu từ người này sang người khác, làm cho chủ tài sản mất khả năng thực hiện quyền sở hữu của mình đồng thời tạo cho người chiếm đoạt quyền đối với tài sản đó Mục đích này phù hợp với mục đích của nhóm tội có tính chất chiếm đoạt thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu
Trong tội này, mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử không là đối tượng tác động của tội phạm mà tài sản mới chính là đối tượng tác động của tội phạm Mục đích chiếm đoạt tài sản đã thễ hiện rõ cái mà tội phạm muốn
Trang 28tác động tới Mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử cũng bị tác động nhưng sự tác động đó là để nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tác động đến tài sản Việc xâm nhập vào các mạng máy tính, viễn thông hay lắp đặt các phương tiện máy móc là điều kiện giúp cho việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được dễ dàng hơn
Như vậy, theo quan điểm của tác giả thì bản chất của tội phạm quy định tại điều 226b chính là một tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, vì mục đích của tội phạm là chiếm đoạt tài sản, tài sản là đối tượng mà người phạm tội hướng tới và mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử đóng vai trò phương tiện phạm tội
1.4 Phân biệt tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với những tội khác chiếm đoạt tài sản
1.4.1 Phân biệt Tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS)
Trước năm 2009, hành vi sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được quy định trong BLHS, thì một số hành vi của tội phạm này được đưa ra xét xử theo tội trộm cắp tài sản Trên thực tế, sau năm 2009 khi BLHS bổ sung Điều 226b về tội
sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, vẫn có một số vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn nhầm lẫn đến việc định danh sai tội phạm Về cơ bản hai tội này
có một số điểm chung như: người phạm tội thực hiện hành vi một cách lén lút; mục đích phạm tội là chiếm đoạt tài sản đang có chủ sở hữu; xâm phạm tới quan hệ sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ và thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý Do đó, việc phân biệt tội phạm quy định tại điều 226b với tội trộm cắp tài sản là điều cần thiết Những điểm khác biệt giữa hai tội phạm này được thể hiện như sau:
Trang 29Thứ nhất: Điểm khác biệt cơ bản giữa hai tội phạm này là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội Nếu như tội phạm sử dụng các phương tiện là mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản và bị xử lý theo quy định tại Điều 226b BLHS sử dụng phương tiện phạm tội là mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì ở Tội trộm cắp tài sản, người phạm tội không cần thiết phải sử dụng các phương tiện này
Thứ hai: Về tài sản Tài sản trong tội trộm cắp tài sản thường là vật, tiền, giấy tờ có giá Tuy nhiên ngoài các tài sản thông thường đã nêu, tài sản trong tội phạm quy định tại Điều 226b BLHS về sử dụng phương tiện phạm tội là mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản mà người phạm tội hướng tới còn có một tài sản đặc biệt đó là tài sản ảo Ví dụ: Nguyễn Văn H đã vào trụ sở UBND huyện để trộm cắp tài sản, trong đó có tài sản là 01 chiếc máy tính sách tay (laptop) trong máy tính có mật khẩu truy cập vào tài khoản của ngân hàng Nếu hành vi của Nguyễn Văn H chỉ trộm cắp máy laptop để bán lấy tiền thì
đó là hành vi trộm cắp tài sản thuộc điều 138 BLHS; Nếu hành vi của Nguyễn Văn H khai thác dữ liệu trên máy laptop và mật khẩu truy nhập vào tài khoản ngân hàng lưu giữ trong máy để thực hiện việc chiếm đoạt tài sản thì hành vi
ấy vi phạm quy định tại điều 226b
1.4.2 Phân biệt với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS)
Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của
cơ quan, tổ chức, cá nhân Hành vi lừa đảo ở đây thể hiện ở việc sử dụng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật về một sản phẩm, một vấn
đề, lĩnh vực trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu trên mạng nhằm tạo niềm tin cho người
Trang 30chủ tài sản, người quản lý tài sản, làm cho họ tưởng là thật và mua, bán hoặc đầu tư vào lĩnh vực đó Về cơ bản, hành vi lừa đảo quy định tại điều 139 và Điểm c khoản 1 Điều 226b BLHS đều có điểm giống nhau là thực hiện hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản Trong đó, hành vi lừa dối là tiền đề để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Trên thực tế, đã từng có trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi lừa đảo trong thương mại điện tử nhưng lại bị xét
xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Do đó, cần thiết phải phân biệt hai tội phạm này để đảm bảo tính chính xác trong việc truy tố, xét xử tội phạm trên thực tế Một số điểm khác biệt giữa hai tội phạm này được thể hiện như sau:
Thứ nhất, về phương tiện phạm tội và môi trường phạm tội Trong tội phạm quy định tại Điều 226b BLHS, mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số đóng vai trò là công cụ, phương tiện phạm tội để người phạm tội thực hiện hành vi lừa dối trên môi trường mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác Điều đáng nói là với công cụ, phương tiện phạm tội nêu trên, người phạm tội có thể thực hiện hành vi phạm tội ở bất cứ nơi nào, bất kể thời gian nào Còn đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội không bắt buộc phải có sự tham gia của các phương tiện này
Thứ hai, về tài sản Tài sản trong tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá còn tài sản trong tội phạm quy định tại điều 226b BLHS ngoài những tài sản đã nêu trên còn có tài sản ảo
Thứ ba, về chủ thể Khác với các tội phạm thông thường khác, chủ thể của tội phạm quy định tại điều 226b BLHS hầu hết là những người am hiểu về cách thức vận hành mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử để qua đó khai thác và áp dụng một cách thành thạo vào trong hành vi phạm tội Khi đã thực hiện tội phạm quy định tại Điều 226b thì thường thường, tỷ lệ thành công trong mỗi lần phạm tội là rất cao và gây rất nhiều khó khăn cho công tác
Trang 31điều tra, truy tố Ví dụ: Hành vi làm giả thẻ ngân hàng để chiếm đoạt tài sản trước đây chúng ta truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Điều 139 BLHS
1.4.3 Phân biệt với các tội xâm phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông
Đối với các tội được quy định tại Điều 224, 225, 226, 226a, thì điểm khác biệt giữa tội phạm sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện
tử mà cụ thể là quy định tại Điều 226b với các tội này lại nằm ở mục đích phạm tội
Như đã phân tích ở trên, mục đích phạm tội của tội phạm quy định tại Điều 226b BLHS là chiếm đoạt tài sản
BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 chưa đưa nhóm tội phạm được quy định tại Điều 224, 225, 226, 226a thành một nhóm tội phạm quy định cụ thể về nhóm tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông Tuy nhiên việc quy định nhóm tội phạm này tại Chương XIX BLHS cũng đảm bảo sự hợp lý bởi nhóm tội phạm này đều có đặc điểm chung là xâm phạm an toàn trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông Mặc dù mục đích phạm tội của mỗi tội đều khác nhau nhưng ngoại trừ Điều 226b, các tội phạm còn lại không có mục đích chiếm đoạt tài sản Nếu thực hiện hành vi phạm tội khi sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử mà không có mục đích chiếm đoạt tài sản thì không phạm tội quy định tại Điều 226b BLHS
1.5 Sự phát triển của Luật hình sự Việt Nam về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
1.5.1 Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1999
Các tội phạm trong lĩnh vực tin học là loại tội phạm còn rất mới mẻ so với chiều dài phát triển của luật hình sự thế giới nói chung và Việt Nam nói
Trang 32riêng Bộ luật Hình sự năm 1999 lần đầu tiên đưa vào các quy định về tội phạm trong lĩnh vực tin học, thậm chí trước đó trong các bản dự thảo cuối cùng của Bộ luật cũng chưa xem xét đưa ra vấn đề này Nó chỉ được Tổng cục Bưu điện trình lên khi toàn văn Bộ luật Hình sự đã được thông qua
Pháp luật mỗi nước luôn gắn liền với sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học công nghệ, phong tục tập quán của nước đó Vì vậy, mỗi quốc gia điều chỉnh pháp luật nói chung, pháp luật hình sự và pháp luật
về khoa học công nghệ nói riêng theo những nguyên tắc khác nhau phù hợp với giai đoạn lịch sử và tùy theo sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học công nghệ và phong tục tập quán nước đó
Ở nước ta, sự chuyển biến nhận thức về vai trò của CNTT từ các cấp lãnh đạo cao nhất đã được cụ thể hóa bằng những chỉ thị, nghị quyết, quyết định, luật Những văn bản đó đã có tác động tích cực đến sự phát triển của CNTT tại Việt Nam
Nhìn chung, tin học hóa mọi mặt của đời sống xã hội là một chính sách chiến lược của Đảng và Nhà nước Những nhận thức kịp thời đó đã tích cực thúc đẩy và tạo điều kiện cho CNTT phát triển Cùng với sự phát triển và những lợi ích mà CNTT đem lại, chúng ta cũng đương nhiên phải chấp nhận những mặt trái, hậu quả tiêu cực của nó đối với xã hội Một yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần phải có hành lang pháp lý đủ mạnh để khuyến khích mặt tích cực
và hạn chế mặt tiêu cực của sự phát triển này Đáp ứng yêu cầu này, Đảng và Nhà nước ta một mặt đã ban hành các văn bản nhằm thúc đẩy sự phát triển của CNTT, mặt khác, xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm điều tiết và khắc phục những tiêu cực, vi phạm diễn ra trong lĩnh vực này
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với các vi phạm trong lĩnh vực tin học được thể hiện trực tiếp qua Bộ luật Hình sự năm 1999 và hệ thống các văn bản hành chính Việc hình sự hóa các vi phạm này thể hiện thái độ
Trang 33nghiêm khắc, kiên quyết không khoan nhượng của Đảng và Nhà nước ta Có như vậy mới đảm bảo hạn chế được mặt trái của sự phát triển CNTT
Bên cạnh đó, tất cả những hành vi vi phạm trong lĩnh vực CNTT đều bị coi là nghiêm cấm Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động khoa học và công nghệ là: “Lợi dụng hoạt động công nghệ cao gây phương hại đến lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; Thực hiện hoạt động công nghệ cao gây hậu quả xấu đến sức khỏe, tính mạng con người, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc; hủy hoại môi trường, tài nguyên thiên nhiên; Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ về công nghệ cao; Tiết lộ, cung cấp trái pháp luật bí mật về công nghệ cao; Giả mạo, gian dối để được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước trong hoạt động công nghệ cao; Cản trở trái pháp luật hoạt động công nghệ cao [39, Điều 8] Lợi dụng hoạt động khoa học và công nghệ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; gây thiệt hại đến tài nguyên, môi trường, sức khỏe con người; trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc; Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; chiếm đoạt, chuyển nhượng, chuyển giao bất hợp pháp kết quả khoa học và công nghệ; Tiết lộ tài liệu, kết quả khoa học và công nghệ thuộc danh mục bí mật nhà nước; lừa dối, giả mạo trong hoạt động khoa học và công nghệ; Cản trở hoạt động khoa học và công nghệ hợp pháp của tổ chức, cá nhân [43, Điều 8] Cản trở hoạt động hợp pháp hoặc hỗ trợ hoạt động bất hợp pháp về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; cản trở bất hợp pháp hoạt động của hệ thống máy chủ tên miền quốc gia; phá hoại cơ sở hạ tầng thông tin, phá hoại thông tin trên môi trường mạng; Cung cấp, trao đổi, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm mục đích sau đây: Chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân; Kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, kích động dâm ô,
Trang 34đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc; Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác đã được pháp luật quy định; Xuyên tạc, vu khống, xúc phạm
uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân; Quảng cáo, tuyên truyền hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục cấm đã được pháp luật quy định Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động công nghệ thông tin; sản xuất, lưu hành sản phẩm công nghệ thông tin trái pháp luật; giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác; tạo đường dẫn trái phép đối với tên miền của
tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp tên miền đó [38, Điều 12] Những hành vi vi phạm trong lĩnh vực CNTT phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nghiêm khắc,
có thể là trách nhiệm pháp lý hành chính hoặc trách nhiệm pháp lý hình sự
Tuy nhiên trong giai đoạn này pháp luật hình sự Việt Nam cũng chỉ quy định tội phạm tin học xâm phạm tới sự an toàn trong hoạt động của mạng máy tính điện tử; vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính; xâm phạm vào những quy định về sử dụng thông tin trên mạng và trong máy tính được quy
định tại các điều Điều 224 Tội tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình
vi - rút tin học, Điều 225 Tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và
sử dụng mạng máy tính điện tử, Điều 226 Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính Trong giai đoạn này các tội phạm sử dụng phương
tiện liên quan đến CNTT như mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt chưa được quy định trong BLHS
và các cơ quan tố tụng khi giải quyết các tội này thường áp dụng để xét xử theo Điều 138 BLHS 1999 về tội “trộm cắp tài sản” hoặc Điều 139 BLHS
1999 về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
1.5.2 Giai đoạn từ 1999 đến 2015
Ngày 19 tháng 11 năm 1997, Việt Nam chính thức hòa mạng internet với thế giới; sự phát triển của CNTT và nhu cầu sử dụng internet của người
Trang 35dân không ngừng tăng cao, theo ước tính hiện nay Việt Nam có gần 50 triệu người sử dụng Internet, đạt tỷ lệ trên 53% dân số, cao hơn mức trung bình thế giới là 46,64% [73] Với số lượng người sử dụng internet như vậy, CNTT, Viễn thông đã trở thành một lĩnh vực mà các đối tượng phạm tội tập trung khai thác, sử dụng để thực hiện tội phạm So với thế giới tội phạm sử dụng công nghệ cao nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam xuất hiện muộn hơn nhưng lại có những thủ đoạn tinh vi do tính chất toàn cầu hóa của mạng internet, mạng viễn thông Do đó việc bổ sung các tội về tội phạm công nghệ thông tin vào Bộ luật Hình sự là hết sức cần thiết Do vậy trong Bộ Luật Hình sự năm 1999 của nước ta đã có 3 điều luật liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin (điều 224, 225, 226) Tuy nhiên, Tội phạm công nghệ cao lại xuất hiện “rầm rộ” khoảng 3,4 năm trở lại đây và ngày càng có chiều hướng
gia tăng; thống kê giai đoạn từ năm 2010-2014, cho thấy: “Tổng số vụ và bị cáo tội phạm công nghệ cao là 156 vụ với 612 bị cáo, với tổng số tiền các bị cáo chiếm đoạt hơn 859 tỷ đồng Trung bình mỗi năm ở Việt Nam xảy ra 31
vụ án với 122 bị cáo là TPCNC, mỗi vụ án có khoảng 4 bị cáo tham gia và số tiền bị TPCNC chiếm đoạt mỗi năm là 172 tỷ đồng Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, cứ 1.000 bị cáo tòa án xét xử thì có 01 bị cáo là TPCNC; tỷ lệ trên
là không lớn nhưng do TPCNC có sự gia tăng rất nhanh về số lượng, thường xuyên thay đổi phương thức, thủ đoạn phạm tội nên đã gây khó khăn cho việc điều tra, khám phá tội phạm, do đó phần ẩn của tội phạm này là rất lớn, nên mức độ nguy hiểm và hậu quả của tội phạm gây ra thực sự chưa thể thống kê, đánh giá xác đáng được Diễn biến của tình hình TPCNC, qua so sánh định gốc cho thấy xu hướng tăng mạnh của THTP do TPCNC thực hiện trong những năm qua, nếu lấy năm 2010 là năm định gốc thì đến năm 2014 TPCNC tăng 269% số vụ và tăng 729% số bị cáo Dùng phương pháp so sánh liên kế thấy rõ xu hướng gia tăng liên tục số lượng bị cáo TPCNC hàng năm trung bình gia tăng so với năm trước là 71,16%” [53]
Trang 36Tính chất nguy hiểm của loại tội phạm này chính là mối đe dọa của an ninh chính trị Nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã phát hiện nhiều thông tin mật, nhạy cảm đã bị đánh cắp và nhiều hệ thống thông tin trọng yếu đã bị tấn công hủy diệt, bởi những tác nhân bên ngoài và bị sử dụng để tấn công phá hoại hệ thống cơ sở hạ tầng trọng yếu có liên quan, chiếm đoạt tài sản và là
phương tiện để bọn tội phạm thực hiện các hành vi phạm tội
Trước sự gia tăng của loại tội phạm này, mà các quy định tại ba điều luật trên lại không bao quát hết mọi hành vi phạm tội thực hiện thông qua sử dụng công nghệ thông tin, nhất là các hành vi phạm tội công nghệ cao đang xảy ra một cách phổ biến mà hành lang pháp luật liên quan đến vấn đề này vẫn còn thiếu cũng là nguyên nhân chính khiến nhiều cơ quan tố tụng phải lúng túng khi xử lý những vụ việc này Để đấu tranh có hiệu quả đối với loại tội phạm này, trên cơ sở dự báo các hành vi phạm tội liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ Luật Hình sự được Quốc hội thông qua vào ngày 19-6-2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2010 đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự tập trung vào việc tiếp tục hoàn thiện các quy định tại các Điều 224, 225, 226 và bổ sung thêm 2 tội mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin Đó là:
Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng viễn thông, mạng máy tính, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác (Điều 226a) và Tội sử dụng mạng viễn thông, mạng máy tính, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b) Có thể thấy đây chính là những cố gắng của các cơ quan chức năng nhằm tạo ra hành lang pháp lý ngăn chặn các nguy cơ cao từ lĩnh vực tội phạm công nghệ thông tin Đặc biệt Điều 224, 225 và 226 cũng có sửa đổi cơ bản về tên gọi cũng như những hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm của những điều luật này Năm 2012, liên ngành Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ thông tin và truyền thông, Viện kiểm sát
Trang 3710/2012/TTLT-BCA-BQP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012 hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông Đây là những quy định hoàn toàn mới,
do đó, mục đích của tác giả luận văn mong muốn góp phần phân tích điều luật
để hiểu và áp dụng đúng các quy định của Bộ luật hình sự, Thông tư hướng dẫn nêu trên về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin Đồng thời nêu lên một
số vướng mắc có thể gặp phải khi áp dụng những quy định này
Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã có sửa đổi, bổ sung kịp thời các tội phạm liên quan đến lĩnh vực CNTT Cụ thể như sau: Sửa đổi, bổ sung các Điều 224, 225, 226 BLHS năm 1999
Thứ nhất: Về tên gọi của điều luật Đối với ba tội danh đã được quy
định trong Bộ luật hình sự năm 1999, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật năm 2009 đã bổ xung một số hành vi vào các Điều luật này: Tội tạo ra
và lan truyền, phát tán các chương trình vi rút tin học (Điều 224) được sửa tên điều luật thành “Tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số”; Tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử (Điều 225) được sửa tên điều luật thành “Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số”; Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226) được sửa tên điều luật thành “Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet”
Thứ hai: Một số quy định bổ sung vào các điều luật trên Việc sửa đổi
ba điều luật nêu trên đều theo hướng thiết kế điều luật cụ thể hơn, rõ ràng hơn, đưa thêm một số hành vi vào ngay tên gọi của các điều luật như: Theo Điều 224 “Tội tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình vi rút tin học” chỉ có quy định hành vi tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình vi rút tin học một cách chung nhất, thì Luật sửa đổi đã bổ sung thêm một cách cụ
Trang 38thể và quy định rõ về “tính năng gây hại” cho cả mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số Điều 225 quy định về các hành vi vi phạm các quy định
về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử, Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi và thay bằng theo hướng cụ thể và mở rộng hơn đó là thay thế cụm từ “khai thác”, “sử dụng” bằng cụm từ “cản trở” hoặc “gây rối” không chỉ đối với mạng máy tính mà còn cả đối với cả mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số Tương tự như vậy, tại Điều 226 cũng được bổ sung thêm hành vi sử dụng trái phép thông tin trên mạng viễn thông, mạng Internet
Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung cũng đưa thêm vào cấu thành tăng nặng một số tình tiết định khung như "có tổ chức", "tái phạm nguy hiểm", "đối với
hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ an ninh, quốc phòng" [40, Điều 224, khoản 2-3]; "Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet”, "Đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước, hệ thống thông tin phục vụ an ninh quốc phòng", "Đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng, hệ thống thông tin điều khiển giao thông" [40, Điều 225, khoản 2-3]; "Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet" "Thu lợi bất chính từ một trăm triệu đồng trở lên" [40, Điều 226] Cả ba điều luật này đều được sửa đổi theo hướng tăng nặng hình phạt tiền từ “năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng" lên từ “hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng” (khoản 1 Điều 224, và 225) và từ
“năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng” lên "từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng" [40, Điều 226, khoản 1] Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung của Điều 224 và 225 không có sự sửa đổi so với luật cũ, nhưng hình phạt tiền
là hình phạt bổ sung của Điều 226 đã nâng từ "ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng" lên "từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng"
Thứ ba: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm
Trang 39226a và 226b cụ thể: Điều 226a Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác quy định: Người nào cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc bằng phương thức khác truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác chiếm quyền điều khiển; can thiệp vào chức năng hoạt động của thiết bị số; lấy cắp, thay đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử dụng trái phép các dịch vụ, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ… Điều 226b Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản quy định: Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện một trong những hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm: a)
Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; b) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của
cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản; c) Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán
cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân; d) Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Về tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số [40, Điều 224]; tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet [40, Điều 226]; tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản [40, Điều 226b]
Kế thừa quy định của BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung 2009, BLHS năm
2015 đã có quy định tại Điều 290 về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản [45, Điều 290]
Trang 40Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI SỬ DỤNG
MẠNG MÁY TÍNH, VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN
ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
2.1 Các dấu hiệu pháp lý về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
2.1.1 Khách thể của tội phạm
Khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội được nhà nước xác định cần được bảo vệ bằng những quy phạm pháp luật hình sự [54, tr 69]
Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản xâm hại các khách thể đó là: an toàn mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số và quan hệ sở hữu [32, tr.152]
Trong trường hợp nhiều quan hệ xã hội cùng bị gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thì chỉ xác định một loại tội đối với hành
vi nguy hiểm cho xã hội đó Để xác định được loại tội này phải căn
cứ vào khách thể bị xâm hại trực tiếp Trong trường hợp nhiều quan
hệ xã hội cùng bị gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thì quan hệ
xã hội được coi là khách thể trực tiếp là quan hệ xã hội mà sự gây thiệt hại cho quan hệ xã hội đó, căn cứ vào tất cả các mặt như tính chất quan trọng của quan hệ xã hội, mức độ bị gây thiệt hại, mục đích chủ quan của kẻ phạm tội thể hiện được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi [54, tr.74]
Các nhà làm luật đã xác định khách thể trực tiếp của tội phạm này
chính là an toàn của hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thông An toàn của mạng máy tính, mạng viễn thông được hiểu là sự bảo vệ thông tin và các hệ thống thông tin tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc