1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật việt nam hiện hành – một số vấn đề lí luận và thực tiễn

22 1,9K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 173 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đốivới những loại hợp đồng đó, việc tuân thủ hình thức là một yêu cầu bắt buộc và là một trong những điều kiện để hợp đồng có hiệu lực khoản 2 Điều 122, Điều 124 Bộ luật Dân sự - Để bổ s

Trang 1

- Việc xác định điều kiện có hiệu lực của một hợp đồng là rất quan trọng Bởi kể từ khi

có đầy đủ các điều kiện để có hiệu lực của hợp đồng thì quyền và nghĩa vụ của các bênmới phát sinh, và được pháp luật bảo vệ Căn cứ vào các quy định hiện hành, có hiệulực của hợp đồng được xác định tại nhiều thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào hình thứccủa hợp đồng, tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên, cũng như những quy định khác củapháp luật chuyên ngành Tuy nhiên, việc xác định điều kiên này trên thực tế cũng như

về mặt lý luận vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn và bất cập Đặc biệt là đối với nhữngloại hợp đồng mà pháp luật buộc phải tuân thủ theo một hình thức nhất định (buộc phảicông chứng, hoặc buộc phải công chứng và đăng ký với cơ quan có thẩm quyền) Đốivới những loại hợp đồng đó, việc tuân thủ hình thức là một yêu cầu bắt buộc và là một

trong những điều kiện để hợp đồng có hiệu lực (khoản 2 Điều 122, Điều 124 Bộ luật Dân sự

- Để bổ sung kiến thức và tăng sự hiểu biết nên em xin đi tìm hiểu kĩ về vấn đề này

thông qua việc lựa chọn đề bài số 05 : “ Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân

sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” Trong quá trình làm bài còn nhiều thiếu sót em kính mong thầy cô giáo góp ý

kiến để bài của em được hoàn thiện hơn

Em chân thành cảm ơn!

Trang 2

NỘI DUNG CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG

1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng

1.1 Khái niệm của hợp đồng

- Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các chủ thể dân sự nhằm làm phát sinh, thayđổi, chấm dứt quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự

1.2 Đặc điểm của hợp đồng

- Là sự thỏa thuận thống nhất ý chí của hai hoặc nhiều chủ thể dân sự:

+ Các bên trong hợp đồng có sự khác biệt về lợi ích thỏa thuận để hướng tới tiêu caonhất là hai bên cùng có lợi;

+ Các chủ thể phải bày tỏ ý chí của mình dưới một hình thức nhất định;

+ Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng (bao gồm cả trách nhiệm dân sự) docác bên thỏa thuận (trừ các quyền, nghĩa vụ được qui định bởi pháp luật);

+ Thỏa thuận có hiệu lực là nguyên tắc bắt buộc đối với các bên trong hợp đồng;

- Mục đích của hợp đồng là nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền dân sự,nghĩa vụ dân sự:

+ Sự thỏa thuận giữa các chủ thể là điều kiện cần nhưng chưa đủ nếu không có mụcđích làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự;

+ Mục đích của thỏa thuận không được trái pháp luật và đạo đức xã hội

1.3 Bản chất của hợp đồng

1.3.1 Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên

Không có hợp đồng nào mà không do thỏa thuận và không có hợp đồng nào được tạo ra

mà thiếu yếu tố thỏa thuận Bởi vậy, có ý kiến cho rằng, “yếu tố thỏa thuận của các chủthể là tiền đề của hợp đồng và được xem là tuyệt đối”

- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thỏa thuận là “sự nhất trí chung được thể hiện ở

chỗ không có một ý kiến đối lập của bất cứ một bộ phận nào trong số các bên liên quanđối với những vấn đề quan trọng và thể hiện thông qua quá trình mà mọi quan điểm củacác bên liên quan đều phải được xem xét và dung hòa.”

Trang 3

- Bản chất của sự thỏa thuận của là kết quả của sự thống nhất giữa ‘ý chí’ với ‘sự bày tỏ

ý chí’ của mỗi bên, đặt trong mối liên hệ thống nhất với sự ‘ưng thuận’ tương ứng củamột hoặc các bên khác, tạo thành sự ‘đồng thuận’ của các bên, nhằm đạt một mục đíchxác định Bởi thế, có ý kiến cho rằng, “thỏa thuận là sự trùng hợp ý muốn của các bên

về một điều gì đó mà các bên mong muốn đạt được”

- Tóm lại, thông qua sự thỏa thuận các bên đã làm nên hợp đồng, tức làm phát sinh,thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng Vì vậy, thỏa thuậnvừa là tiền đề làm nên hợp đồng, vừa là yếu tố cơ bản cho sự tồn tại của hợp đồng

1.3.2 Hợp đồng là thỏa thuận để tạo ra sự ràng buộc pháp lý giữa các bên

- Một sự thỏa thuận không phải là hợp đồng, nếu không tạo nên hiệu lực ràng buộc giữacác bên Bởi vậy, dấu hiệu thứ hai thể hiện bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữacác bên phải nhằm tạo ra một sự ràng buộc pháp lý, tức là sáng tạo ra các quyền vànghĩa vụ mới, ngoài những quyền và nghĩa vụ luật định, hoặc làm thay đổi hay chấmdứt các quyền, nghĩa vụ ấy

- Như vậy, mọi hợp đồng đều là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng không phải sự thỏathuận nào của các bên cũng là hợp đồng Chỉ những thỏa thuận tạo ra một sự ràng buộcpháp lý mới được coi là hợp đồng Bởi vậy, “sự thỏa thuận” và “sự tạo ra một ràng buộcpháp lý” là hai dấu hiệu cơ bản tạo nên bản chất của hợp đồng Nghiên cứu bản chấthợp đồng là tiền đề lý luận để xác định các điều kiện có hiệu lực (hay tính hợp pháp)của hợp đồng, nguyên tắc tự do hợp đồng, giá trị pháp lý của hợp đồng, trình tự giao kếthợp đồng, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và các vấn đề pháp lý quan trọng kháccủa chế định hợp đồng, đặc biệt là hiệu lực hợp đồng

CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG

- Theo Điều 121 BLDS: “giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn

phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

- Như vậy, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự chính là điều kiện có hiệu lựccủa giao dịch dân sự Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được xác định tại Điều

122, BLDS 2005

Trang 4

- Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là tổng hợp những yêu cầu pháp lý nhằm đảm bảo

cho hợp đồng được lập đúng bản chất đích thực của nó Đây là những điều kiện cần vàcũng là tiền đề pháp lý nhằm đảm bảo cho hợp đồng được xác lập hợp pháp

- Hiệu lực hợp đồng là một phạm trù pháp lý quan trọng, nhưng các dấu hiệu pháp lýđặc trưng của khái niệm này chưa được làm sáng tỏ, cả về lý luận cũng như thực tiễnpháp lý ở Việt Nam

- Hiệu lực của hợp đồng là vấn đề pháp lý rất phức tạp, không thể chỉ qui định trongmột vài điều luật là có thể điều chỉnh hết được các vấn đề cần điều chỉnh Tính chấtphức tạp của vấn đề hiệu lực hợp đồng được thể hiện trên toàn bộ quá trình, từ khi thiếtlập đến khi chấm dứt hợp đồng, tạo thành một cơ chế pháp lý phức hợp

Xuất phát từ bản chất của hợp đồng, pháp luật của Việt Nam qui định hợp đồng phảituân thủ các điều kiện bắt buộc: chủ thể hợp đồng phải có năng lực hành vi dân sự; nộidung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạođức xã hội; các bên hoàn toàn tự nguyện Sau đây là các điều kiện cụ thể:

1 Điều kiện về chủ thể của hợp đồng.

1.1 Chủ thể tham gia hợp đồng là cá nhân.

- Chủ thể của hợp đồng (hay chủ thể của quan hệ hợp đồng) là những người tham giaxác lập, thực hiện hợp đồng, có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và phải chịutrách nhiệm về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó Để tham giaxác lập, thực hiện hợp đồng, các hệ thống pháp luật đều qui định chủ thể phải có nănglực chủ thể nhất định Theo đó, yêu cầu về chủ thể tham gia hợp đồng “có năng lựchành vi dân sự” là một trong những điều kiện tiên quyết để hợp đồng có hiệu lực Chủthể tham gia giao dịch dân sự (hợp đồng) phải có “năng lực hành vi dân sự” ( điểm a,khoản 1 Điều 122) Năng lực hành vi dân sự để tham gia xác lập, thực hiện hợp đồngcủa các chủ thể khác nhau là không giống nhau

- Đối với cá nhân:

+ Người từ đủ 18 tuổi, không bị mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lựchành vi dân sự thì được coi là người có năng lựa hành vi dân sự đầy đủ Người có năng

Trang 5

lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền tham gia mọi giao dịch dân sự và cũng đồngthời phải gánh chịu mọi trách nhiệm và nghĩa vụ phát sinh từ hành vi pháp lý mà họthực hiện Nhưng cũng có những quy định hạn chế quyền tự định đoạt của những người

có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngườiđược đại diện Đó là :

- Bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cấm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịchkhác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ không được sự đồng ý củangười giám sát việc giám hộ ( Điều 69 BLDS 2005);

- Đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác ( khoản 3 Điều 69 BLDS);

- Các giao dịch giữa người giám hộ và được giám hộ có liên quan đến tài sản của ngườiđược giám hộ ( khoản 3 Điều 9 BLDS 2005);

- Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia vào hợp đồng phụ thuộc vào mức độ nănglực hành vi dân sự của họ Theo quy định của BLDS 2005, cá nhân có năng lực hành vidân sự đầy đủ thì được tự mình xác lập, thực hiện các hợp đồng dân sự (Điều 19);

+ Người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi là người có một phần năng lựchành vi dân sự thì việc xác lập, thực hiện các hợp đồng của họ phải được người đại diệntheo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, phùhợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác;

+ Cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật cóquy định khác (Điều 20);

+ Người dưới 6 tuổi và người mất năng lực hành vi dân sự là người không có năng lựchành vi dân sự và không có quyền tham gia xác lập và thực hiện mọi giao dịch dân sự.Tuy nhiên để đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ, những người đại diện theo phápluật của họ có quyền xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự nhằm thỏa mãn nhu cầuvật chất hoặc tinh thần của những người này (Điều 21, 22 BLDS 2005);

Trang 6

+ Người bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì phải có người giám hộ vàmọi giao dịch liên quan đều phải được xác lập, thực hiện thông qua người giám hộ(Điều 22);

+ Người bị tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự thì các giao dịch liên quantới tài sản của họ phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các giaodịch phục vụ nhu cầu hàng ngày, với những hợp đồng liên quan tới tài sản của người bịhạn chế năng lực hành vi dân sự thì phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật( Điều 23 BLDS 2005)

Như vậy, có thể nói khả năng tham gia hợp đồng dân sự của người bị hạn chế nănglực hành vi dân sự tương đương với khả năng tham gia giao dịch dân sự của người cónăng lực hành vi dân sự một phần Nhìn chung, để có thể xác lập, thực hiện các hợpđồng, chủ thể là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự thích ứng với loại giao dịchhoặc loại hợp đồng mà chủ thể đó tham gia

1.2 Chủ thể tham gia hợp đồng là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.

- Đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác: Pháp nhân là những tổ chức có đủ cácđiều kiện được qui định tại Điều 84 BLDS 2005 Các pháp nhân là chủ thể đầy đủ củaquan hệ pháp luật dân sự, có năng lực chủ thể mang tính chuyên biệt, được tham gia xáclập, thực hiện các giao dịch phù hợp với mục đích và phạm vi hoạt động của pháp nhân.Mục đích và phạm vi hoạt động của pháp nhân được thể hiện trong điều lệ, hoặc quyếtđịnh thành lập pháp nhân (Điều 88) Hộ gia đình và tổ hợp tác là chủ thể hạn chế củaLuật Dân sự Hai loại chủ thể này tham gia các giao dịch phù hợp với phạm vi hoạtđộng của nó Phạm vi hoạt động của tổ hợp tác được thể hiện trong hợp đồng hợp tác( Điều 111) Phạm vi hoạt động của hộ gia đình do pháp luật qui định (Điều 106) Phápnhân, hộ gia đình, tổ hợp tác là những thực thể xã hội chứ không phải là một con người

tự nhiên, nên năng lực hành vi dân sự của các chủ thể này không biểu hiện trực tiếpbằng hành vi và ý chí của một con người cụ thể nào đó, mà được thể hiện bởi ý chungcủa các thành viên và được thực hiện thông qua hành vi của người đại diện, nếu hành vi

đó được thực hiện nhân danh chủ thể, trong phạm vi đại diện, và tương ứng với phạm vi

Trang 7

hoạt động của chủ thể đó Pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập, thực hiện hợpđồng thông qua người đại diện hợp pháp, nhưng phải đúng ‘phạm vi đại diện’ và phảiphù hợp với giới hạn về “lĩnh vực hoạt động” của các chủ thể

2 Điều kiện về mục đích, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã xội.

- BLDS 2005 thừa nhận nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận (Điều 4) Nhưng để bảo

vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của ngườikhác, BLDS 2005 cũng qui định một số trường hợp hạn chế quyền tự do của các bêntrong việc thiết lập hợp đồng Theo đó, nội dung và mục đích của hợp đồng (giao dịch

dân sự) “không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội” (Điểm b, khoản 1 Điều 122) Hợp đồng (giao dịch dân sự) “có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu” (Điều 128).

- Điều cấm của pháp luật “là những quy định của pháp luật kh`ông cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định” Và, “ đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” ( Điều 128)

- Quy phạm đạo đức và quy phạm pháp luật cùng là những quy phạm xã hội có chungmục đích là điều tiết hành vi con người, có chung đặc điểm là những quy tắc xử xựchung, là tiêu chuẩn đánh giá hành vi con người Tuy nhiên quy phạm đạo đức chỉ lànhững quy phạm mang tính chất đánh giá xấu tốt, đáng khen, đáng chê… trong đó khiquy phạm pháp luật không chỉ là cơ sở mang tính bắt buộc cho xử sự của những ngườitham gia vào quan hệ xã hội đó Quy phạm pháp luật là quy phạm thành văn mang tínhquyền lực chính trị: thể hiện ý chí của gia cấp thống trị và được bảo đảm hực hiện bằngsức mạnh cưỡng chế của nhà nước Giữa pháp luật và đạo đức có mối quan hệ bổ sung,trợ giúp cho nhau trong quá trình điều chỉnh hành vi của con người

- Một hợp đồng dân sự muốn được coi là có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dungcủa hợp đồng dân sự đó phải không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái vớitruyền thống đạo đức xã hội

Trang 8

- Khái niệm nội dung của hợp đồng là một khái niệm rất rộng Khi xem xét về nội dung

và mục đích của hợp đồng dân sự cũng cần phải nhìn vào tính xác thực của nó có khảthi hay không Tính xác định và tính khả thi của hợp đồng dân sự chính là tính xác định

và tính khả thi của các điều khoản của hợp đồng dân sự, như: đối tượng của hợp đồng làtài sản hay công việc; số lượng, chất lượng của đối tượng đó; giá và phương thức thanhtoán; thời hạn, địa điểm thực hiện hợp đồng (Điều 402) Bất kỳ điều khoản nào trong số

đó vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì hợp đồng cũng bị coi là

vô hiệu

3 Điều kiện trong sự tự nguyện ( ý chí của chủ thể) trong hợp đồng.

- Đây là điều kiện được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc “ tự do, tự nguyện cam kết,thỏa thuận”, một trong những nguyên tắc cơ bản của luật dân sự được ghi tại Điều 4BLDS

- Bản chất của hợp đồng dân sự là hành vi có ý chí làm phát sinh quyền và nghĩa vụ

mà các bên mong muốn đạt được do vậy bản chất của hợp đồng dân sự là tự nguyện xáclập hợp đồng dân sự, thể hiện qua sự thống nhất giữ ý chí và tuyên bố ý chí của chủ thể

mà không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ một tác động từ bên ngoài

- Tự nguyện xác lập, thực hiện hợp đồng là việc chủ thể tự mình quyết định là cótham gia hay không tham gia vào hợp đồng theo nguyện vọng của cá nhân mình, màkhông chịu sự chi phối hay sự tác động, can thiệp chủ quan nào từ những người khác.Pháp luật đòi hỏi những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng phải hoàn toàn tựnguyện Tự nguyện nghĩa là phải có tự do ý chí, tự do “bày tỏ ý chí” và phải có “sựthống nhất giữa ý chí với sự bày tỏ ý chí” Không có tự do ý chí và sự bày tỏ ý chí hoặcphá vỡ tính thống nhất giữa hai yếu tố này thì sẽ không có sự tự nguyện

- Hợp đồng do chủ thể xác lập, thực hiện không tự nguyện, thì có thể bị vô hiệu hoặcđương nhiên vô hiệu

- Pháp luật dân sự Việt Nam dựa trên cơ sở tuyên bố ý chí chỉ ra những trường hợp giaodịch dân sự vô hiệu do xác lập thiều sự tự nguyện của một trong các chủ thể, bao gồm :

3.1 Hợp đồng giao kết do sự giả tạo

Trang 9

- Theo Điều 129 BLDS 2005: “ Điều 129 BLDS 2005 quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này”.

- Trong trường hợp xác lập hợp đồng dân sự giả tạo nhằm chốn tránh trách nhiệm vớingười thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu”

- Như vậy có thể hiểu :

+ giao dịch được xác lập nhằm che dấu một giao dịch khác thể hiện ý chí đích thực củachính các bên

+ Giao dịch được xác lập trên cơ sở hành vi gian dối

+ Giao dịch mà các bên “tự nguyện” tham gia nhưng mục đích giao dịch được thể hiệnkhông phù hợp với mục đích các bên thật sự quan tâm, hướng tới, mong muốn đạt được( yếu tố giả tạo được biểu hiện thông qua dấu hiệu các bên thông đồng với nhau để tạonên sự thống nhất giữa ý chí và tuyên bố ý chí của các bên xác lập hợp đồng)

131 BLDS 2005:

“Khi một bên có lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự

mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịc dân sự vô hiệu.

Trang 10

Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo Điều 132 của Bộ luật này”

3.3 Hợp đồng được giao kết trên cơ sở của sự lừa dối, đe dọa.

- Hợp đồng xác lập do bị lừa dối: “Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó” (Điều 132).

- Biểu hiện của sự lừa dối là hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật khiến cho bênkia tin vào các thông tin đó mà xác lập hợp đồng bất lợi cho họ hoặc trái với nguyệnvọng đích thực của họ

- Pháp luật Việt Nam qui định ba trường hợp lừa dối là lừa dối về chủ thể, lừa dối vềđối tượng và lừa dối về nội dung của hợp đồng Khi xem xét hành vi lừa dối, tòa ánthường không chỉ dựa vào tính chất “cố ý” cung cấp thông sai sự thật của một bên màcòn dựa vào hoàn cảnh cụ thể và khả năng nhận thức, hiểu biết của bên kia so với mộtngười có năng lực nhận thức bình thường Vấn đề có hay không có sự cố ý cung cấpthông tin sai sự thật cũng là vấn đề gây nhiều tranh cãi Một hành vi cung cấp thông tinsai sự thật được hiểu là một bên cố ý nói cho bên kia biết những thông tin về chủ thể,đối tượng, nội dung của hợp đồng mà những thông tin ấy là không đúng với thực tếkhách quan, nhưng mức độ sai biệt tới đâu là lừa dối, thì có nhiều cách hiểu Một sự imlặng thường cũng không bị coi là lừa dối Nhưng nếu bên cung cấp thông tin có nghĩa

vụ phải cung cấp thông tin mà vẫn im lặng nhằm mục đích bỏ qua sự thật thì cũng bịcoi là có lừa dối, hoặc chí ít cũng có lỗi làm bên kia nhầm lẫn giao kết hợp đồng

- Hợp đồng giao kết do bị lừa dối có thể bị tòa án tuyên bố vô hiệu khi sự lừa dối đó “dohành vi cố ý” của một bên hoặc của người thứ ba gây ra và đó là nguyên nhân “làm chobên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung” của hợp đồng

mà giao kết hợp đồng trái với nguyện vọng đích thực của họ

- Hợp đồng xác lập bởi sự đe dọa: “ là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba là cho bên kia buộc phải thực hiện giao dich nhằm trách thiệt hia về tính mạng, sức khỏe danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng,con của

Trang 11

mình” (khoản 2 Điều 132) Biểu hiện của sự lừa dối là hành vi cố ý cung cấp thông tin

sai sự thật khiến cho bên kia tin vào các thông tin đó mà xác lập hợp đồng bất lợi cho

họ hoặc trái với nguyện vọng đích thực của họ

3.4 Hợp đồng giao kết khi một bên không nhận thức và làm chủ được hành vi.

- Xác lập hợp đồng trong lúc không nhận thức, điều khiển được hành vi: “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu” (Điều 133) Một người bình thường, vào thời điểm giao kết hợp

đồng, đã ở trong tình trạng bị bệnh tâm thần, bệnh thần kinh tới mức không nhận thức,điều khiển được hành vi của mình hoặc đang sử dụng chất ma túy hoặc các chất kíchthích khác dẫn đến việc mất khả năng nhận thức tạm thời… thì được xem là không tựnguyện xác lập, giao kết hợp đồng.Vấn đề pháp lý đặt ra là người này phải chứngminh được là vào lúc xác lập hợp đồng, họ đang ở trong tình trạng không có khả năngnhận thức, điều khiển được hành vi của mình

- Có thể nói rằng, “tự nguyện giao kết hợp đồng là yếu tố cơ bản để các bên xác lập quan hệ hợp đồng” vì bản chất của hợp đồng vốn là sự thống nhất ý chí của các bên

thông qua sự thỏa thuận tự do và tự nguyện Do vậy, hợp đồng xác lập thiếu yếu tố tựnguyện thì đương nhiên vô hiệu (nếu được xác lập do giả tạo) hoặc có thể bị vô hiệu(trong các trường hợp còn lại)

- Tóm lại, các yếu tố chủ thể, nội dung và mục đích, sự tự nguyện của các bên là nhữngyếu tố quan trọng góp phần vào quá trình hình thành và tồn tại của hợp đồng Năng lựchành vi của chủ thể là yếu tố nhằm đảm bảo chủ thể có tư cách độc lập để tự mình xáclập, thực hiện hợp đồng; nội dung và mục đích là những điều khoản, căn cứ để thựchiện hợp đồng; tự nguyện là yếu tố đảm bảm cho hợp đồng được tạo ra đúng ý chí đíchthực của các bên Bởi vậy, đây là ba yếu tố pháp lý quan trọng được pháp luật qui định

là điều kiện bắt buộc của mọi hợp đồng- Ngoài ra còn có một số trường hợp khác xáclập thiếu yếu tố tự nguyện cũng bắt gặp trong thực tiễn như :

+ Hợp đồng giả cách

Ngày đăng: 22/01/2016, 09:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w