1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản theo quy định của bộ Luật hình sự Việt Nam năm 1999

112 996 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu Tội cướp tài sản nói chung và dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản nói riêng đã được nghiên cứu dưới các góc độ khoa học luật hình sự và tội phạm học ở những

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN ĐÌNH HẢI

DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG CỦA TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN ĐÌNH HẢI

DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG CỦA TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999

Chuyên ngành : Luật hình sự

Mã số : 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Hùng

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN VÀ

DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG CỦA TỘI CƯỚP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

9

1.1 Khái niệm tội cướp tài sản và dấu hiệu định khung của tội

cướp tài sản

9

1.1.1 Khái niệm dấu hiệu định khung và phân biệt dấu hiệu định

khung với dấu hiệu định tội và tình tiết tăng nặng, tình tiết

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

9

1.1.2 Khái niệm tội cướp tài sản và dấu hiệu định khung của tội

cướp tài sản trong luật hình sự Việt Nam

15

1.2 Khái quát lịch sử các quy định của pháp luật hình sự Việt

Nam về tội cướp tài sản và các dấu hiệu định khung của tội

cướp tài sản giai đoạn trước khi có Bộ luật hình sự năm 1999

23

1.3 Quy định của pháp luật hình sự một số nước về tội cướp tài

sản và dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản

31

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

HIỆN HÀNH VỀ DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG CỦA TỘI CƯỚP TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

37

2.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về dấu 37

Trang 4

hiệu định khung của tội cướp tài sản

2.2.1 Cướp tài sản có tổ chức (điểm a, khoản 2) 37 2.2.2 Phạm tội cướp tài sản có tính chất chuyên nghiệp (điểm b,

khoản 2)

40

2.2.3 Tái phạm nguy hiểm (điểm c, khoản 2) 41

2.2.4 Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác

(điểm d, khoản 2)

42

2.2.5 Dấu hiệu định khung căn cứ vào tỷ lệ thương tật, tổn hại sức

khỏe của người bị hại

2.2 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt

Nam hiện hành về dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản

55

2.2.1 Tình hình áp dụng pháp luật hình sự về tội cướp tài sản trong

những năm qua

55

2.2.2 Một số vướng mắc và tồn tại khi áp dụng các dấu hiệu định

khung của tội cướp tài sản

60

2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại trên 79

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ

CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG CỦA TỘI CƯỚP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

81

3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về

các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản

81

3.2 Tăng cường công tác hướng dẫn áp dụng, trong đó có hướng 89

Trang 5

dẫn áp dụng các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản

3.3 Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn và ý thức trách

nhiệm của cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp góp phần nâng

cao hiệu quả áp dụng pháp luật

92

3.4 Tăng cường quan hệ phối hợp của các cơ quan tiến hành tố

tụng (cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án) trên cơ sở thực

hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan

95

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự CTTP : Cấu thành tội phạm TAND : Toà án nhân dân TANDTC : Toà án nhân dân tối cao TNHS : Trách nhiệm hình sự

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống, tạo ra môi trường xã hội ổn định phục vụ công cuộc phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân, giữ vững kỉ cương pháp luật, sự nghiêm minh của pháp chế xã hội chủ nghĩa… là nhiệm vụ và mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra Những mục tiêu trên được cụ thể hóa thông qua Nghị quyết 09/NQ-CP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm và Chỉ thị số 37/2004/CT-TTg "Về việc tiếp tục thực

hiện Nghị quyết số 09/NQ-CP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội

phạm của Chính phủ từ nay đến năm 2010 ngày 08/11/2004

Bộ luật hình sự (BLHS) là một trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu của Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự, an toàn xã hội, chống lại mọi hành vi phạm tội, giáo dục người dân ý thức chấp hành và tuân thủ pháp luật

Trong những năm vừa qua, bên cạnh những thành tựu to lớn về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội chúng ta cũng không thể xem nhẹ vấn đề về sự gia tăng của tội phạm nói chung và các tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng

Trong các tội phạm xâm phạm sở hữu hiện nay, cướp tài sản là tội phạm gây hậu quả hết sức nghiêm trọng, là vấn đề gây nhức nhối đối với toàn

xã hội, tội phạm này vừa phổ biến, đa dạng về hình thức, đối tượng phạm tội lại vừa gây tâm lý hoang mang trong đại đa số bộ phận dân chúng, gây ảnh hưởng rất lớn tới trật tự an toàn xã hội Cướp tài sản là tội phạm xâm hại

Trang 9

nghiêm trọng tới cả quan hệ sở hữu và nhân thân, hành vi phạm tội thường được thực hiện một cách nguy hiểm, côn đồ, công khai với người bị hại, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, kỷ cương xã hội

Hiện nay, công cuộc cải cách tư pháp, Nhà nước ta đang không ngừng xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật nói chung và các quy định của pháp luật hình sự nói riêng Đây là một xu thế tất yếu và là nhiệm vụ chiến lược nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân

và vì dân, đồng thời thực hiện tốt các nhiệm vụ và các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra, cũng như các yêu cầu cấp bách được thể hiện thông qua các văn bản của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản

Việt Nam như Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 "Về một số nhiệm

vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới", Nghị quyết số 48-NQ/TW

ngày 24/05/2005 "Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt

Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020" và Nghị quyết số 49-NQ/TW

ngày 02/06/2005 "Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" Do đó, để

góp phần làm sáng tỏ những nội dung cũng như những tồn tại trong công tác

áp dụng pháp luật và phương hướng hoàn thiện về các dấu hiệu định khung quy định trong tội cướp tài sản theo quy định của BLHS năm 1999, chúng tôi

đã quyết định chọn đề tài "Dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999" để làm luận văn thạc sĩ

của mình

"Dấu hiệu hình sự" là những biểu hiện của tội phạm bao gồm những biểu hiện của hành vi phạm tội, những điều kiện, đặc điểm của người phạm tội, những hoàn cảnh, tình huống, đối tượng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện tội phạm qua đó phản ánh tính nguy hiểm của tội phạm, trách nhiệm hình sự (TNHS) của người phạm tội phản ánh quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm cũng như chính sách hình sự của Nhà nước Các "dấu hiệu hình sự" được người áp dụng luật sử dụng làm căn cứ để định tội, định khung cũng như quyết định hình phạt đối với người phạm tội Nếu thiếu những tình tiết cụ

Trang 10

thể, những căn cứ xác đáng có thể dẫn đến việc định tội danh, định khung hình phạt hay quyết định hình phạt không đúng, không phù hợp, làm cho hình phạt không đạt được mục đích khi áp dụng đối với người phạm tội Dấu hiệu định khung hình phạt là một trong những dấu hiệu hình sự phản ánh đầy đủ các đặc điểm nêu trên Tình tiết định khung hình phạt là những tình tiết của tội phạm phù hợp và thỏa mãn dấu hiệu định khung hình phạt (cấu thành tội phạm (CTTP) giảm nhẹ hoặc tăng nặng) của những tội cụ thể của BLHS Những tình tiết đó có thể là tình tiết thuộc về hành vi phạm tội, thuộc về đối tượng tác động của tội phạm, thuộc về nhận thức, thái độ của người phạm tội đối với việc phạm tội, thuộc về những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội… Những tình tiết đó có thể được quy định là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS

Do tính đa dạng của tội phạm, bên cạnh CTTP cơ bản (của một loại tội), nhà làm luật còn quy định thêm các dấu hiệu phản ánh tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội cao hoặc thấp với những khung hình phạt nặng hoặc nhẹ khác nhau so với khung hình phạt của CTTP cơ bản Những dấu hiệu đó được gọi là dấu hiệu (yếu tố) định khung hình phạt Khi các tình tiết của tội phạm thỏa mãn không những dấu hiệu định tội (CTTP cơ bản), mà còn thỏa mãn dấu hiệu có thêm của CTTP giảm nhẹ hoặc tăng nặng sẽ cho phép chuyển khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội từ khung hình phạt của CTTP cơ bản sang khung hình phạt của CTTP giảm nhẹ hoặc CTTP tăng nặng Hơn nữa, tội phạm là thể thống nhất không thể chia cắt, tất cả các tình tiết - biểu hiện của tội phạm đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Trong luật hình sự, hình phạt được Tòa án áp dụng nhằm mục đích không chỉ trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Mỗi loại tội danh đều quy định một khung hình phạt nhất định phù hợp với tính chất và mức độ của

Trang 11

hành nguy hiểm cho xã hội gây ra Vì vậy, việc xác định đúng dấu hiệu định khung trong vụ án hình sự là hết sức quan trọng, bởi lẽ nó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thực hiện hành vi vi phạm cũng như mục đích và tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Trong phạm vi luận văn này

chúng tôi tập trung nghiên cứu về các dấu hiệu định khung được quy định

trong tội cướp tài sản theo quy định của BLHS năm 1999

2 Tình hình nghiên cứu

Tội cướp tài sản nói chung và dấu hiệu định khung của tội cướp tài

sản nói riêng đã được nghiên cứu dưới các góc độ khoa học luật hình sự và tội phạm học ở những mức độ khác nhau thông qua các công trình sau đây:

* Nhóm thứ nhất, trong các giáo trình, sách giáo khoa, sách chuyên

khảo: Giáo trình luật hình sự Việt Nam- Chương XX: Các tội xâm phạm sở

hữu, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân (2010) do GS.TS

Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên; Đinh Văn Quế - Bình luận khoa học Bộ luật hình

sự Phần các tội phạm- Phần thứ II: Các tội phạm cụ thể, tập II, Nxb tổng hợp

Thành phố Hồ Chí Minh (2006); TS Trần Minh Hưởng - Tìm hiểu Bộ luật

hình sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bình luận và chú giải - Chương IV: Các tội xâm phạm quyền sở hữu, Nxb Lao động, Hà Nội, 2002; Bình luật khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 (Phần các tội phạm) - Chương IV: Các tội xâm phạm sở hữu, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội do PGS.TS Phùng

Thế Vắc chủ biên (2001); Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội

phạm), Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

(2001) do GS.TSKH Lê Cảm chủ biên (tái bản năm 2003 và 2007); Giáo

trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm)- Chương IV: Các tội xâm phạm sở hữu, Cao Thị Oanh, Nxb Giáo dục (2010); Luật hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công

an nhân dân (1997); Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) do

GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội (2001);

Trang 12

Bình luận Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung năm 2009, ThS Đinh Thế Hưng - ThS Trần Văn Biên -

Viện Nhà nước và pháp luật - Chương XIV: Các tội xâm phạm sở hữu, Nxb

Lao động (2010); v.v

* Nhóm thứ hai, trong các luận án, luận văn, bài viết và đề tài khoa

học như: "Đấu tranh phòng, chống tội cướp tài sản trên địa bàn Hà Nội",

Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội của Đỗ Kim Tuyến

(2001); "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu", Luận án Tiến sĩ luật học của Nguyễn Ngọc Chí (2000); Võ Minh Tiến: "Đấu tranh

phòng chống tội cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi" - Luận văn Thạc

sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội (2006); Nguyễn Quảng

Nghĩa -"Hoạt động điều tra các vụ án cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Tây

của lực lượng Cảnh sát điều tra", Luận án tiến sĩ, Học viện Cảnh sát nhân

dân, Hà Nội (2002); Luận văn "Đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm sở

hữu có tính chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa" của Lê Thị Khanh - Đại

học Luật Hà Nội (2006); Dương Tuyết Miên - Tội phạm cấu thành hình thức

có giai đoạn phạm tội chưa đạt không?, Tạp chí Tòa án nhân dân (TAND), số

8/1997; Nguyễn Ngọc Chí - "Đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu" đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2/1998, bài "Các tội xâm phạm sở hữu

trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999" của Trương Quang Vinh, tạp chí

Luật học số 4/2000; v.v

Các công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên tạp chí cũng như sách chuyên khảo, giáo trình về tội cướp tài sản tuy có số lượng rất lớn nhưng thông thường tập trung đi sâu vào nội dung, quan tâm tới vấn đề lý luận về dấu hiệu định tội của tội cướp tài sản hoặc nhìn nhận vấn đề dưới góc độ tội phạm học, đấu tranh phòng ngừa tội cướp tài sản trên một địa bàn nhất định Cướp tài sản

và đặc biệt là các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản chỉ là một phần khá nhỏ được nêu ra và phân tích Vì vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của BLHS về các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản cũng như

Trang 13

đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về tội phạm này vẫn là vấn đề bổ ích và cần thiết trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó - các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản theo quy định của BLHS Việt Nam năm 1999

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản dưới góc độ luật hình sự, cả lý luận và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam, từ năm 2007 đến nay

4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam

về Nhà nước và pháp luật, về tội phạm và hình phạt; những thành tựu của các ngành khoa học như: Triết học, Luật hình sự, Tội phạm học…

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp hệ thống, lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn, điều tra xã hội học… qua đó rút ra những kết luận, đề xuất phù hợp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề cần nghiên cứu

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 14

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản theo quy định BLHS năm 1999; thực tiễn áp dụng dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về những dấu hiệu này

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản trong khoa học luật hình sự Việt Nam Luận văn làm rõ các vấn đề chung về các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản trong luật hình sự Việt Nam, phân tích khái quát sự hình thành và phát triển của các quy định pháp luật hình sự nước ta về các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản trong suốt chiều dài lịch sử; nêu ra một số tồn tại trong áp dụng quy định của pháp luật hình sự trong thực tiễn; phân tích thông qua thực tiễn xét xử về tội cướp tài sản trên toàn quốc từ năm 2007 đến năm

2010 để đánh giá, qua đó chỉ ra những vấn đề còn tồn tại, những bất cấp trong quy định của luật hình sự hiện hành, chỉ ra những sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó, từ đó tìm ra những phương hướng, giải pháp khắc phục, đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản trên cả

khía cạnh lập pháp và công tác thực tiễn

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận, có thể sử dụng để nghiên cứu, học tập Những đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS liên quan đến các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này

Trang 15

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về tội cướp tài sản và dấu hiệu định

khung của tội cướp tài sản trong luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về dấu

hiệu định khung của tội cướp tài sản và thực tiễn áp dụng

Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng

các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản trong luật hình sự Việt Nam

Trang 16

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN VÀ

DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG CỦA TỘI CƯỚP TÀI SẢN TRONG

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 KHÁI NIỆM TỘI CƯỚP TÀI SẢN VÀ DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG CỦA TỘI CƯỚP TÀI SẢN

1.1.1 Khái niệm dấu hiệu định khung và phân biệt dấu hiệu định khung với dấu hiệu định tội và tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

* Khái niệm dấu hiệu định khung

Dấu hiệu định khung hình phạt là dấu hiệu thuộc CTTP tăng nặng hoặc cấu thành tội phạm giảm nhẹ, cho phép xác định khung hình phạt giảm nhẹ hoặc tăng nặng so với mức hình phạt quy định trong CTTP cơ bản của những tội cụ thể trong BLHS Khi các tình tiết của tội phạm không những thỏa mãn dấu hiệu định tội (CTTP cơ bản) mà còn thỏa mãn dấu hiệu của CTTP giảm nhẹ hoặc tăng nặng sẽ cho phép chuyển khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội từ khung hình phạt của CTTP cơ bản sang khung hình phạt của CTTP giảm nhẹ hoặc CTTP tăng nặng

Các tình tiết làm căn cứ xác định TNHS là những biểu hiện của tội phạm bao gồm những biểu hiện của hành vi phạm tội, những điều kiện, đặc điểm của người phạm tội, những hoàn cảnh, tình huống, đối tượng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện tội phạm qua đó phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, TNHS của người phạm tội phản ánh quan điểm của Nhà nước về tội phạm, cũng như chính sách hình sự của Nhà nước Các tình tiết thực tế của vụ việc được người áp dụng luật làm căn cứ để định tội, định khung cũng như quyết định hình phạt đối với người phạm tội Nếu thiếu

Trang 17

những tình tiết cụ thể những căn cứ xác đáng có thể dẫn đến việc định tội danh, khung hình phạt hay quyết định hình phạt không đúng, không phù hợp Trong hoạt động của mình khi giải quyết các vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật về mặt nội dung theo trình tự định tội danh, định khung hình phạt và cuối cùng là quyết định hình phạt tương ứng với tội danh và khung hình phạt đã được xác định ở trên

Một hành vi vi phạm pháp luật hình sự khi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của một tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự, hành vi đó được chuyển khung hình phạt tăng nặng hay khung hình phạt giảm nhẹ khi đã thỏa mãn các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm cơ bản và các dấu hiệu định khung hình phạt (cấu thành tội phạm giảm nhẹ hoặc cấu thành tội phạm tăng nặng) của những tội cụ thể trong Bộ luật hình sự, đó là những tính tiết thuộc về hành vi phạm tội, thuộc về nhận thức, thái độ của người phạm tội đối với việc phạm tội, thuộc về những đặc điểm riêng biệt, phẩm chất cá nhân của người phạm tội [18, tr 14]

* Phân biệt dấu hiệu định khung với dấu hiệu định tội và tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

- Sự khác nhau giữa dấu hiệu định khung với dấu hiệu định tội

Dấu hiệu định tội là những biểu hiện của tội phạm phù hợp với dấu hiệu CTTP cơ bản của tội cụ thể trong BLHS

Hoạt động định tội (hay định tội danh) là hoạt động nhận thức, là quá trình xem xét, xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện có là tội phạm hay không (nếu có là tội gì?) trên cơ sở đối chiếu các tình tiết thực tế của hành vi với các dấu hiệu của CTTP, tìm ra sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện với CTTP cụ thể đã được quy định trong BLHS Nếu các dấu hiệu trong CTTP cụ thể được thỏa mãn thì hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện là hành vi phạm tội và hành vi đó mang tội danh mà

Trang 18

CTTP đó phản ánh Đối với một tội danh, nhà làm luật mô tả trong các điều luật phần các tội phạm dấu hiệu đặc trưng của tội phạm làm cơ sở pháp lý cho việc xác định và phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác, giữa tội phạm với không phải là tội phạm Mỗi tội danh đều phải có một CTTP cơ bản CTTP cơ bản có thể chỉ mô tả một loại trường hợp phạm tội với một dạng hành vi hoặc với nhiều dạng hành vi khác nhau, CTTP cơ bản cũng có thể mô tả nhiều trường hợp phạm tội khác nhau với những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khác nhau Một hành vi chỉ có thể được coi là hành

vi phạm tội nếu đảm bảo các yếu tố về mặt khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm được luật hình sự quy định Hành vi đó phải thỏa mãn là hành vi nguy hiểm cho xã hội vi phạm pháp luật hình sự do người

có năng lực TNHS, đủ tuổi thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý Căn cứ vào các yếu tố đó, đối chiếu với các thành tố được mô tả trong CTTP cơ bản để cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành định tội đối với một hành vi cụ thể Tình tiết định tội là tình tiết thực tế của vụ án cụ thể được sử dụng để xác định người phạm tội trong vụ án đó đã phạm tội gì Các tình tiết xác định TNHS luôn gắn với sự kiện phạm tội, phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội Khi các tình tiết phù hợp và thỏa mãn dấu hiệu CTTP cơ bản của tội phạm cụ thể trong BLHS sẽ cho phép xác định được người phạm tội đã phạm tội gì, theo

điều nào trong BLHS Ví dụ, xem xét trường hợp người đã có hành vi dùng vũ

lực đối với người khác Dùng vũ lực đối với người khác là dùng sức mạnh vật chất tấn công người khác; mặc dù hành vi dùng vũ lực là hành vi có tính nguy hiểm đáng kể; mặc dù bản chất của sự tấn công là bất hợp pháp Cho dù tình tiết "dùng vũ lực", "tấn công" phù hợp với dấu hiệu "dùng vũ lực", "tấn công" trong CTTP của tội hiếp dâm (Điều 111), tội cướp tài sản (Điều 133) nhưng cái đó vẫn chưa nói lên điều gì Khi xem xét, làm rõ những tình tiết khác như: Việc dùng vũ lực được thực hiện bởi người là nam giới; việc dùng vũ lực nhằm "đè bẹp", "làm tê liệt" sự kháng cự của người là nữ giới để "giao cấu"

Trang 19

với người đó - "giao cấu với người phụ nữ trái với ý muốn của họ" Những tình tiết này cho thấy hành vi dùng vũ lực (nói trên) phù hợp và thỏa mãn các dấu hiệu CTTP của tội hiếp dâm Điều đó cho phép khẳng định người có hành

vi nói trên đã phạm tội hiếp dâm (Điều 111) Trường hợp trên được tiếp tục xem xét và xác định nạn nhân của tội phạm là em gái 15 tuổi - nạn nhân của tội phạm là trẻ em thì hành vi phạm tội hiếp dâm trong trường hợp này phù hợp và thỏa mãn các dấu hiệu CTTP của tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112) Tương tự vậy đối với trường hợp người dùng vũ lực nhưng trong những trường hợp pháp luật cho phép (như bắt người phạm tội quả tang, phòng vệ chính đáng, thi hành án tử hình…) thì không phạm tội bởi hành vi dùng vũ lực đó không thỏa mãn bất cứ CTTP nào mà BLHS quy định

Như vậy, ý nghĩa của các tình tiết định tội thể hiện ở chỗ các tình tiết

đó cho phép xác định được người phạm tội đã phạm tội gì, theo điều nào trong BLHS Qua đó có thể áp dụng TNHS cho người phạm tội, dấu hiệu định tội là là những vấn đề cần quan tâm và giải quyết đầu tiên của các cơ quan tiến hành tố tụng khi xem xét một vụ án hình sự, định tội danh là bước đầu tiên trong quá trình tố tụng (xét trên khía cạnh khoa học luật hình sự), khi hành vi thỏa mãn CTTP cơ bản được quy định trong bộ luật hình, nếu thỏa mãn CTTP cơ bản rồi, tiếp sau đó sẽ xem xét tới các dấu hiệu định khung được quy định trong cùng một điều luật nhưng có những tình tiết khác làm tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS của người phạm tội trước khi nghiên cứu về hình phạt áp dụng đối với người phạm tội

Tình tiết định khung hình phạt là những tình tiết của tội phạm phù hợp và thỏa mãn dấu hiệu của CTTP giảm nhẹ hoặc CTTP tăng nặng của những tội cụ thể trong BLHS

Do tính đa dạng của tội phạm, cũng như sự cần thiết nhằm phản ánh đúng tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, sự phân hóa TNHS cũng như tăng tính giáo dục, đánh giá khả năng cải tạo của người phạm tội bên cạnh CTTP

Trang 20

cơ bản (của một loại tội) nhà làm luật còn quy định thêm các dấu hiệu phản ánh tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn hoặc thấp so với khung hình phạt của CTTP cơ bản Những dấu hiệu đó được gọi là dấu hiệu (yếu tố) định khung hình phạt Khi các tình tiết của tội phạm không những thỏa mãn dấu hiệu định tội (CTTP cơ bản) mà còn thỏa mãn dấu hiệu của CTTP giảm nhẹ hoặc tăng nặng sẽ cho phép chuyển khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội từ khung hình phạt của CTTP cơ bản sang khung hình giảm

nhẹ hoặc tăng nặng Ví dụ, các tình tiết trong hành vi phạm tội giết người của

một người không những thỏa mãn dấu hiệu mặt khách quan, mặt chủ quan, khách thể, chủ thể của tội giết người (khoản 2 Điều 93) mà còn thỏa mãn dấu hiệu quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 93 Trường hợp này sẽ cho phép chuyển khung hình phạt áp dụng đối với người đó từ khoản 2 sang khoản 1 Điều 93 BLHS Các tình tiết đó được gọi là tình tiết định khung hình phạt Nói cách khác, đó chính là các tình tiết có ý nghĩa định khung hình phạt đối với tội phạm

- Sự khác nhau giữa dấu hiệu định khung hình phạt với các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Ngoài ý nghĩa định tội, định khung hình phạt, các tình tiết của tội phạm còn phản ánh mức độ nguy hiểm khác nhau của các trường hợp phạm tội cụ thể (trong khung hình phạt); phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội và qua đó phản ánh mức độ TNHS của người phạm tội Do vậy, các tình tiết này được BLHS quy định làm căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội Các trường hợp phạm tội trên thực tế thuộc một tội danh tuy có cùng những đặc điểm đặc trưng nhất định nhưng có sự khác nhau

về mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội Cho nên, đòi hỏi phải có những khung hình phạt khác nhau cho cùng một loại tội danh để đảm bảo có sự phân hóa TNHS ngay trong một điều luật và qua đó tạo điều kiện cá thể hóa TNHS trong thực tiễn áp dụng Trên thực tế, mỗi tội danh có một khung hình phạt

Trang 21

cho trường hợp phạm tội bình thường Khung hình phạt này được biểu hiện thông qua khung hình phạt cơ bản Bên cạnh khung hình phạt này nhà làm luật căn cứ vào tình hình tội phạm và yêu cầu đấu tranh phòng chống của mỗi loại tội phạm, có thể xây dựng một hoặc nhiều khung hình phạt nặng hơn hoặc nhẹ hơn Đó là các khung hình phạt tăng nặng hoặc khung hình phạt giảm nhẹ

Để xác định trường hợp phạm tội cụ thể (đã được định tội danh) có thỏa mãn dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng hoặc dấu hiệu định khung hình phạt giảm nhẹ hay không người áp dụng phải đối chiếu dấu hiệu này với các tình tiết thực tế của hành vi phạm tội, theo đó, tình tiết định khung hình phạt là tình tiết thực tế phù hợp với dấu hiệu định khung hình phạt [15, tr 125]

Thông thường đối với những tội phạm phổ biến, tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với những tội phạm, nhóm tội phạm khác, tính chất, mức độ thực hiện hành vi được thể hiện đa dạng, đe dọa tới nhiều quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì số lượng khung hình phạt nhiều hơn so với các loại tội khác

Khác với các dấu hiệu định tội và dấu hiệu định khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS là các tình tiết được quy định tại Điều 46

và Điều 48 BLHS Hành vi phạm tội cụ thể nếu có tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS thì mức độ TNHS mà người phạm tội phải gánh chịu theo

đó cũng giảm xuống hoặc tăng lên so với các trường hợp khác trong phạm vi khung hình phạt áp dụng với người phạm tội Tình tiết định tội được phản ánh trong CTTP cơ bản của mỗi loại tội Tình tiết định khung hình phạt được phản ánh trong CTTP giảm nhẹ hay tăng nặng của mỗi loại tội Còn các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS được quy định chung tại Điều 46 và Điều 48 BLHS Số lượng cũng như tính đa dạng của các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ là cao hơn so với các tình tiết định khung được quy định trong các điều luật cụ thể, trên thực tế các dấu hiệu định khung cũng thường là có

Trang 22

khung hình phạt nặng hơn so với hình phạt quy định tại CTTP cơ bản Khi xử

lý một vụ án hình sự, tình tiết định tội là dấu hiệu phải quan tâm tới trước khi tìm hiểu các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại Điều 46, Điều 48 BLHS bởi BLHS năm 1999 đã quy định các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS đã được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt Đối với các tình tiết giảm nhẹ TNHS khiquyết định hình phạt, tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án, trong khi đó các dấu hiệu định khung thì Tòa án phải áp dụng đúng theo quy định của luật hình sự mà không được phép thêm hay bớt các dấu hiệu này

1.1.2 Khái niệm tội cướp tài sản và dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản trong luật hình sự Việt Nam

* Khái niệm tội cướp tài sản

Trong khoa học luật hình sự và tội phạm học, tội phạm và nội dung của khái niệm tội phạm là những vấn đề quan trọng nhất, nó phản ánh rõ nét

và đầy đủ bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị - xã hội, cũng như những đặc điểm pháp lý của luật hình sự quốc gia, đồng thời, nó còn "được xem như

là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và không phải là tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lý khác " [19, tr 9]

Theo pháp luật hình sự hiện hành ở nước ta, khái niệm tội phạm được các nhà làm luật ghi nhận trong Điều 8 BLHS Việt Nam năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) Theo đó, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các

Trang 23

quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

Do đó, khái niệm một tội phạm cụ thể - tội cướp tài sản, chính là sự cụ thể hóa khái niệm tội phạm (chung) đã nêu ở trên Trên cơ sở tổng kết các quan điểm khác nhau trong khoa học và căn cứ vào các quy định của BLHS

năm 1999 hiện hành, khái niệm tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe

dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quan hệ nhân thân thông qua việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe người bị hại và xâm hại đến quyền sở hữu tài sản

Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 133 BLHS năm 1999 So với BLHS năm 1985 thì Điều 133 BLHS năm 1999 có nhiều sự sửa đổi, bổ sung, nhất là các yếu tố định khung hình phạt, quy định cụ thể hơn Tội cướp tài sản gồm 05 khoản, dấu hiệu định khung về hậu quả là tài sản bị chiếm đoạt đã được định lượng cụ thể và tỷ lệ thương tật của nạn nhân cũng được quy định

rõ ràng và chi tiết, tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng thuận tiện trong việc áp dụng vào thực tiễn

a/ Khách thể của tội cướp tài sản

"Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định" [12, tr 349] Khách thể của tội cướp tài sản bao gồm cả quan hệ tài sản

và quan hệ nhân thân, hành vi cướp tài sản cùng một lúc xâm hại hai khách thể, khách thể bị xâm phạm trước là quan hệ nhân thân thông qua việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe người bị hại và xâm hại đến quyền sở hữu tài sản Đây cũng là đặc điểm phân biệt giữa tội cướp tài sản và các tội phạm khác, các tội mà người phạm tội tuy có dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực

Trang 24

hoặc các hành vi khác làm nạn nhân không còn khả năng điều khiển hành vi nhưng không với mục đích chiếm đoạt tài sản

b/ Mặt khách quan của tội cướp tài sản:

Mặt khách quan của một tội phạm bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của tội phạm nếu điều luật quy định và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của tội phạm Hành vi trong tội cướp tài sản tồn tại ở những dạng sau:

* Hành vi dùng vũ lực:

Hành vi dùng vũ lực là hành vi (hành động) mà người phạm tội đã thực hiện, tác động vào cơ thể của nạn nhân như đấm, đá, đâm, chém, bắn, bóp cổ, trói đó là những hành động bằng sức mạnh vật chất gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản Hành vi dùng vũ lực có thể làm cho nạn nhân bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe hoặc có thể làm nạn nhân chết, nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích đáng kể Thông thường, người phạm tội dùng vũ lực chủ yếu với người có trách nhiệm đối với tài sản, đặc biệt là chủ tài sản, tuy nhiên cũng có trường hợp để đạt được mục đích của mình mà người phạm tội còn dùng vũ lực đối với bất cứ người nào mà về ý thức chủ quan họ cho rằng cản trở việc chiếm đoạt tài sản của mình Đối với những vụ cướp có đồng phạm thì không nhất thiết tất cả những người thực hành vi trong đồng phạm phải cùng dùng vũ lực, có thể có người chỉ đe dọa dùng vũ lực, hoặc không dùng vũ lực mà chỉ thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong khi những người khác dùng vũ lực thì trên thực tế đều bị truy cứu tội cướp tài sản với vai trò người thực hành

* Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản:

Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi dùng lời nói hoặc hành động nhằm đe dọa người bị hại nếu không đưa tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện ngay Ví dụ: hành vi dí dao vào cổ, dương súng đẻ bắn nếu

Trang 25

người bị hại không giao tài sản thì sẽ bị đâm, bắn ngay lập tức Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, việc phân biệt giữa tội cướp tài sản và cưỡng đoạt tài sản phụ thuộc rất nhiều việc xác định chuẩn xác hành vi đe dọa dùng vũ lực

"ngay tức khắc" Nếu đe dọa dùng vũ lực nhưng không "ngay tức khắc" thì đó

là dấu hiệu của tội cưỡng đoạt tài sản Ngay tức khắc là ngay lập tức, không chần chừ với ý thức làm cho nạn nhân tin rằng nếu nạn nhân không giao tài sản cho người phạm tội thì sẽ bị dùng vũ lực ngay lập tức "Khả năng này không phụ thuộc vào lời nói hoặc hành động của người phạm tội mà nó tiềm

ẩn ngay trong hành vi của người phạm tội" [27, tr 36] Việc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc với ý thức phải khiến nạn nhân bị tê liệt ý chí, không còn khả năng kháng cự do sợ bị nguy hiểm tới tính mạng, sức khỏe của mình nên phải giao nộp tài sản Tuy nhiên, vì vũ lực chưa xảy ra nên việc đanh giá người phạm tội có dùng vũ lực hay không, trong trường hợp người bị hại không giao tài sản lại là một vấn đề phức tạp Thông thường người phạm tội không bao giờ nhận mình sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc nếu người phạm tội không giao tài sản hoặc không để mình lấy tài sản Vì vậy, để xác định trường hợp người phạm tội đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hay không, ngoài lời khai của người phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào các tình tiết của vụ án, như: không gian, thời gian, hoàn cảnh lúc xảy ra sự việc, công cụ, phương tiện người phạm tội sử dụng, tương quan lực lượng giữa hai bên…

* Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được:

Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được là hành vi không phải dùng vũ lực, không đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng lại làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được Để xác định hành vi này, trước hết, phải xuất phát từ phía người bị hại, phải là người bị tấn công nhưng không phải do hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc mà bị tấn công bằng hành vi khác

Trang 26

Các hành vi này là hành vi tấn công khác hẳn với việc dùng

vũ lực và đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, hậu quả là làm nạn nhân không còn ý thức bảo vệ tài sản của mình cũng như không còn khả năng quản lý được tài sản của mình nữa, khi đó người phạm tội không còn gặp bất cứ trở ngại nào trong việc chiếm đoạt tài sản nữa [20, tr 164]

Các hành vi này có thể là cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc mê, xịt

ê te, hóa chất, chuốc cho uống rượu say Ngoài ra "lâm vào tình trạng không thể chống cự được" cũng có thể hiểu là người tấn công đã dùng các biện pháp làm cho nạn nhân tuy biết việc chiếm đoạt nhưng không có cách nào ngăn cản được hành vi chiếm đoạt tài sản đó, ví dụ: Trong trường hợp người bị tấn công bị trói cả hai chân, hai tay, nhét giẻ vào miệng nên không thể kêu cứu hay chống cự được, bị nhốt trong phòng mà không có cách nào thoát ra ngoài bảo vệ tài sản Bên cạnh đó, trong những trường hợp cụ thể, có thể có những yếu tố khác thuộc về mặt khách quan của tội cướp mà có ý nghĩa trong việc định khung hình phạt và quyết định hình phạt: như các dấu hiệu về hậu quả, mối quan hệ nhân - quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm, thời gian, địa điểm phạm tội, phương tiện, công cụ phạm tội

c/ Chủ thể của tội cướp tài sản

"Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể, có năng lực TNHS và đủ

độ tuổi theo quy định của pháp luật Ngoài ra chủ thể của tội phạm có thể có thêm dấu hiệu mang tính chất tùy nghi, đó là các chủ thể đặc biệt trong một số tội quy định tại phần các tội phạm của Bộ luật hình sự" [5, tr 345] Trong tội cướp tài sản, người phạm tội phải là người đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực TNHS Tội cướp tài sản theo quy định của BLHS năm 1999, khung hình phạt nhẹ nhất đã có mức cao nhất thỏa mãn tội phạm rất nghiêm trọng, theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 1999 thì người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa

đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Trang 27

d/ Mặt chủ quan của tội cướp tài sản:

Mặt chủ quan của tội phạm là đặc điểm tâm lý bên trong của cách xử sự có tính chất tội phạm xâm hại đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự tức là thái độ tâm lý của chủ thể được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện đối với hậu quả của hành vi đó Mặt chủ quan của tội phạm có dấu hiệu bắt buộc là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải có lỗi và có hai dấu hiệu tùy nghi là dấu hiệu động cơ phạm tội và mục đích phạm tội [5, tr 367] Lỗi của người phạm tội cướp tài sản là người lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội biết rõ hành vi của mình là gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác, biết rõ tài sản là tài sản của người khác nhưng vẫn muốn chiếm đoạt tới cùng và biến tài sản đó thành của mình

Người phạm tội không chỉ cố ý thực hiện hành vi phạm tội mà còn phải có mục đích chiếm đoạt tài sản thì mới là tội cướp tài sản Ý thức chiếm đoạt của người phạm tội có trước khi thực hiện hành vi khách quan được mô

tả trong CTTP Nếu người phạm tội thực hiện những hành vi đó nhưng không với mục đích chiếm đoạt tài sản mà với mục đích khác (như gây thương tích, giết người ) nhưng sau đó nạn nhân bỏ chạy và để lại tài sản, người phạm tội mới nảy ra ý định chiếm đoạt tài sản đó thì đây không chắc phải là trường hợp cướp tài sản mà tùy từng trường hợp người phạm tội bị truy cứu về các tội phạm tương ứng Thực tiễn xét xử cũng có nhiều trường hợp tuy lúc đầu người phạm tội không có ý định chiếm đoạt tài sản, nhưng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội đã nảy sinh ý định ý định chiếm đoạt và sau đó tiếp tục có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt bằng được tài sản, thì hành vi chiếm đoạt tài sản vẫn bị coi là phạm tội cướp tài sản Đó là trường hợp chuyển hóa từ tội phạm khác sang tội cướp tài sản Như vậy mục đích giữ lại tài sản đã chiếm đoạt được bằng cách dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc có hành vi khác làm cho nạn

Trang 28

nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được cũng là cướp tài sản Tuy nhiên trong thực tiễn, việc phân biệt giữa "hành hung để tẩu thoát" với hành hung để giữ bằng được tài sản trong một số trường hợp là rất khó khăn, vì nó xảy ra một cách đan xen liên tiếp với nhau, nhất là đối với tài sản gọn nhẹ, có thể cất giấu trong người được Hiện nay, thường vẫn coi là chuyển hóa từ tội khác sang tội cướp tài sản nếu người phạm tội đã có tài sản trong tay, bị chủ

sở hữu hoặc người quản lý tài sản giằng giật lại tài sản mà người phạm tội cố tình dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm giữ bằng được tài sản đã chiếm đoạt Đối với tài sản gọn nhẹ có thể cất giấu trong người được, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết tài sản đã bị người phạm tội chiếm đoạt được trước đó để đâu nhưng vẫn đuổi theo nhằm bắt người phạm tội, đồng thời lấy lại tài sản đã bị chiếm đoạt Trong quá trình đuổi bắt, bị người phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc thì trong thực tiễn xét xử thường không coi là hành vi cướp tài sản bị chuyển hóa thành mà chỉ coi là hành vi hành hung để tẩu thoát Thông thường, khi bị truy cứu TNHS thì người phạm tội thường chỉ thú nhận là muốn mau chóng thoát khỏi sự truy đuổi chứ không còn để ý đến tài sản, các trường hợp tài sản lớn, cồng kềnh…để chống trả được chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản thì nhất thiết người phạm tội phải "tạm thời" không nắm giữ tài sản đó nữa nên việc xác định chuyển hóa không khó khăn như những tài sản nhỏ gọn Việc chứng minh được hành vi chống trả của người phạm tội nhằm giữ bằng được tài sản trong trường hợp này là rất khó, bởi về mặt khách quan hành vi của người phạm tội chỉ là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc Xét trên bình diện có lợi cho người phạm tội thì thông thường các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ truy cứu người phạm tội về hành vi "hành hung để tẩu thoát"

* Khái niệm dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản

Dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản là dấu hiệu thuộc CTTP tăng nặng của tội cướp tài sản cho phép xác định khung hình phạt tăng nặng so với mức hình phạt quy định trong CTTP cơ bản

Trang 29

Khi các tình tiết của tội phạm không những thỏa mãn dấu hiệu định tội (CTTP cơ bản) được quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS năm 1999 mà còn thỏa mãn dấu hiệu của CTTP tăng nặng sẽ cho phép chuyển khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội cướp tài sản từ khung hình phạt của CTTP cơ bản (khoản 1 Điều 133) sang khung hình phạt tăng nặng Ví dụ: Một người thực hiện hành vi dung vũ lực đối với người khác để chiếm đoạt chiếc

xe máy của nạn nhân Trong trường hợp hành vi của người này không nhưng thỏa mãn CTTP cơ bản của tội cướp tài sản (quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS năm 1999) mà còn thỏa mãn các dấu hiệu quy định tại các khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 133 BLHS năm 1999 (với mức cao nhất của khung hình phạt cao hơn), những tình tiết đó cho phép chuyển khung hình phạt của người phạm tội sang CTTP tăng nặng của tội cướp tài sản, người phạm tội sẽ phải chịu TNHS tương ứng với các khung hình phạt mà hành vi của mình thỏa mãn

Các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản theo quy định của BLHS Việt Nam năm 1999 bao gồm:

- Có tổ chức;

- Có tính chất chuyên nghiệp;

- Tái phạm nguy hiểm;

- Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ

lệ thương tật từ 11% đến 30%;

- Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

- Gây hậu quả nghiêm trọng

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ

lệ thương tật từ 31% đến 60%;

Trang 30

- Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

- Gây hậu quả rất nghiêm trọng

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ

lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

- Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

- Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Hành vi cướp tài sản thỏa mãn những dấu hiệu định khung tăng nặng hình phạt là những hành vi có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn các trường hợp phạm tội cướp tài sản thông thường (phạm tội cướp tài sản không có các dấu hiệu định khung tăng nặng hình phạt), những hành vi này thường để lại hậu quả lớn cho xã hội, thể hiện khả năng giáo dục và cải tạo không cao của người phạm tội, đòi hỏi phải áp dụng hình phạt thích đáng đối với người phạm tội để đảm bảo yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này Nội dung và ý nghĩa của những dấu hiệu định khung này sẽ được tác giả luận văn đề cập cụ thể trong Chương 2

1.2 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN VÀ CÁC DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG CỦA TỘI CƯỚP TÀI SẢN GIAI ĐOẠN TRƯỚC KHI CÓ BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

Trong lịch sử phát triển của đất nước, pháp luật của các triều đại phong kiến Việt Nam luôn luôn chú trọng tới việc bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị Tuy nhiên ở thời kỳ này các quy tắc xử sự chung chỉ được thể hiện qua các chiếu chỉ, dụ, sắc lệnh của Nhà vua mà chưa được pháp điển hóa thành các quy định thành văn mang tính hệ thống Việc pháp luật thành văn được phát triển khoảng từ đầu thế kỷ XI, thời nhà Lý Trong sách Đại Việt sử

kí toàn thư Ngô Sĩ Liên viết:

Trang 31

Trước kia, việc kiện tụng trong nhà nước phiền nhiễu, quan lại giữ luật pháp câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí nhiều người bị oan uổng quá đáng Vua lấy làm thương xót, sai trung thu san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách Hình thư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu Sách làm xong xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện…[25, tr 14]

Thời nhà Trần, Hình luật cũng khá được chú trọng, tuy nhiên do ảnh hưởng nhiều yếu tố đặc biệt là do thời gian và chiến tranh nên cho tới nay các

bộ hình luật này đều bị thất truyền Trong hơn 360 năm tồn tại, triều đại nhà

Lê đã để lại những thành tựu hết sức to lớn và có ý nghĩa đặc biệt trong lĩnh vực pháp luật và điển chế Trong đó có thể kể tới các đạo luật "Quốc Triều Hình luật", "Quốc triều luật lệnh", "Lê triều quan chế", "Thiên Nam Dư Hạ",

"Hồng Đức Thiện Chính" v.v… Tuy nhiên, nổi bật và quan trọng nhất trong

số các đạo luật thời này là Bộ "Quốc Triều Hình luật", gồm 6 tập được hoàn thiện dưới thời vua Lê Thánh Tông "Quốc Triều Hình luật" là thành tựu chung của toàn bộ nền pháp luật thời Lê với nhiều lần được bổ sung và hoàn chỉnh Đạo luật này điều chỉnh không chỉ các quan hệ trong lĩnh vực hình sự, tuy nhiên do những hạn chế khách quan mà chế tài do vi phạm các quan hệ xã hội được đạo luật bảo vệ đều là những chế tài mang tính hình sự "Quốc Triều Hình luật" có các quy định riêng về các tội phạm trong lĩnh vực hình sự, trong

đó có tội cướp được được xây dựng nằm trong chương "Đạo tặc" Cụ thể, tội cướp được quy định tại Điều 16, quyển IV:

Những kẻ ăn cướp, nghĩa là ban đêm cầm khí giới giết người lấy của, thủ phạm thì xử chém; kẻ tòng phạm xử giáo; ngoài việc phải đền tang vật ăn cướp, điền sản phải sung công Cướp của lại giết người thì xử chém bêu đầu; tòng phạm xử chém, phải nộp tiền đền mạng và phải đền tiền tang vật gấp đôi trả cho nhà chủ bị cướp Kẻ chứa chấp kẻ cướp lâu ngày thi bị xử đồng đội, mới

Trang 32

khoảng 10 ngày thì xử giảm một bậc, đều phải bồi thường một phần

ba nộp vào kho Kẻ biết việc mà không cáo giác thì xử tội đồ làm chủng điền binh [25, tr 21]

Như vậy, theo quy định trên người bị coi là phạm tội cướp khi dùng

vũ lực, vũ khí tấn công để chiếm đoạt tài sản của người khác Trong điều luật

có quy định luôn cả các chế tài dân sự, việc bồi thường cho người bị hại và nộp phạt cho triều đình khi phạm tội, quy định hình phạt đối với cả kẻ đồng phạm, với người không tố giác và che giấu tội phạm trong cùng một điều luật Nghiên cứu điều luật có thể thấy dấu hiệu định khung tăng nặng duy nhất được nhà làm luật quy định đối với người thực hiện hành vi cướp là trường hợp cướp của mà gây chết người với hình phạt là bị chém bêu đầu Ngoài ra, tại Điều 18 quyển số IV, nhà làm luật quy định một trường hợp khác của tội cướp phải bị chém bêu đầu, tuy nhiên dấu hiệu này được quy định tại một

điều luật riêng biệt và có thể hiểu là dấu hiệu định tội: "Ăn cướp mà lại hiếp

dâm thì xử chém bêu đầu, tội chém; điền sản kẻ phạm tội đền trả cho nhà khổ chủ" Như vậy, có thể nhận thấy đạo luật quy định khá chi tiết về tội cướp tài

sản với chế tài hình sự rõ ràng áp dụng đối với người phạm tội, tuy nhiên trường hợp đủ dấu hiệu định tội nhưng kẻ cướp gây thương tích nặng cho nạn nhân lại không có chế tài tăng nặng Điều luật cũng không để cho các quan lại khi xét xử được phép " tùy nghi" áp dụng các chế tài khác nhẹ hơn, hoặc có nhiều tình tiết giảm nhẹ cũng như tăng nặng so với "cấu thành tội phạm cơ bản" Trong một điều luật khác được quy định trong chương đạo tặc về hành

vi về mặt khách quan được hiểu là tội cướp hay cưỡng đoạt tài sản Tuy nhiên, điều luật lại quy định hành vì đó thỏa mãn dấu hiệu của tội trộm cắp, với chế tài được giảm hơn so với hành vi dũng vũ lực: "Dọa nạt người để lấy của thì khép vào tội trộm mà giảm một bậc, dẫu sự dọa nạt không đáng sợ, nhưng người có của vẫn sợ mà phải đem cho, thì người dọa lấy của cũng phải tội như thế, chưa lấy được của cải, thì xử 60 trượng, biếm hai tư" [25]

Trang 33

Hoàng Việt Luật Lệ (hay còn gọi là Luật Gia Long) được xây dựng và hoàn thiện dưới Triều vua Gia Long - nhà Nguyễn, Luật Gia Long được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định của Bộ luật nổi tiếng nhất trong lịch sử đất nước khi đó là Bộ "Quốc Triều Hình luật", nhưng với số lượng chương, điều lớn hơn, điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội Hình luật cũng được quy định rất cụ thể và chi tiết Hành vi cướp được quy định tại phần Hình luật thuộc quyển 12 cùng với nhiều hành vi chiếm đoạt tài sản khác (như trộm cắp, cưỡng đoạt tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản…) được mô tả kèm theo đó là hình phạt được áp dụng và có giải thích rõ các quy định trong điều luật của Triều đình Tại mục 2 của Phần Đạo tặc Trung có quy định về hành vi "Bạch trú sang đoạt" (Sang đoạt ban ngày) với lời giải thích người ý không có hung hăng lấy là sang đoạt, người lấy với thái độ hung hăng

là cướp, cụ thể như sau:

Phàm giữa ban ngày mà sang đoạt tiền của người ta, không

kể tang vật, phạt 100 trượng, đồ 3 năm, tính số tang vật mà luận tội,

hễ nặng thì thêm tội trộm cắp hai bậc Mút tội là 100 trượng, lưu

300 dặm, làm người bị thương, thủ lãnh bị chém giam chờ, kẻ a tùng, mỗi đứa giảm một bậc so với thủ lãnh và bên cánh tay, mặt xâm hai chữ "sang đoạt" [37]

Như vậy so với quy định về cướp tài sản trong "Quốc Triều Hình luật" thì "Hoàng Việt Luật lệ" có quy định cụ thể hơn về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có đồng phạm, có phân biệt giữa người chủ mưu và những người phạm tội còn lại, trong đó người chủ mưu phải chịu hình phạt nặng hơn các trường hợp khác Điều luật còn có quy định trường hợp không cướp được của định chiếm đoạt, chiếm đoạt được của cải khác không có ý định chiếm mà đem trả lại của cải đó thì được miễn tội, chứ không bị truy cứu

về hành vi phạm tội chưa đạt, do đó chế tài không đặt ra theo ý thức chủ quan trong mục đích chiếm đoạt tài sản của người thực hiện hành vi chiếm

đoạt,"nếu sang đoạt không được, của vật đoạt được đem trả lại khổ chủ thì

Trang 34

khỏi xét tội" Hoàng Việt Luật lệ cũng quy định một số trường hợp mà theo

pháp luật hiện đại từ các tội chiếm đoạt khác được chuyển hóa thành tội

cướp "Nếu ăn trộm chống cự lúc bị bắt và gây thương tích cho người thì

phạt chém, được của hay không được của đều chém", ở đây Luật không quy

định rõ trường hợp chống cự lại nhằm bỏ trốn hay nhằm giữ bằng được tài sản Luật còn có thêm quy định mới trường hợp được coi là dấu hiệu định tội, tuy nhiên trong điều khoản cụ thể nhà làm luật lại định tội cho hành vi này là

"cướp giựt mạnh"

Phàm cướp giựt mạnh nhưng không lấy được tiền, đều phải phạt 100 trượng, lưu 3000 dặm, được tiền của người chủ nó, thì không chia thủ, tong đều chém hết, tuy về sau theo tang vật, buộc tội theo cố ý Không chia xử theo tang vật là cứ phạt 100 trượng, lưu đày 3000 dặm Những lần không thực hiện trộm, lại cũng không chia tang vật, chỉ phạt 100 trượng Nếu bỏ thuốc mê để lấy của người thì tội đồng vậy, nếu lấy được tiền thì xử chém [37, tr 559] Hành vi này được quy định trong tội cưỡng đạo Tại các điều luật cụ thể tuy không có quy định rõ ràng về các tình tiết định khung của tội cướp nhưng tại phần giải thích cho mỗi điều luật có thể hình dung ra các quy định liên quan đến chế định này Về hành vi cướp bóc mang tính chuyên nghiệp và

có tổ chức luật quy định "Tổ chức đánh cướp lớn trên sông, biển thì chiểu theo luật lệ, chém ngay, bêu đầu", hay "Phàm kẻ bạo trộm cầm cung tên, quân khí ban ngày, ban mặt đón đường cướp của Nếu tang chứng rõ ràng thì không chia ra nhiều ít, được tiền hay không đều y luật xử chém Bêu đầu chỗ y gây cướp bóc để cảnh cáo mọi người" Một số tình tiết định khung liên quan đến hành vi, thủ đoạn, cộng cụ và phương thức phạm tội như:

Trộm bạo, giết người, phóng lửa đốt nhà của người ta, dâm

ô với vợ con người ta, đánh cướp nhà ngục, thương khố và liên can đến thành trì, nha môn, tập hợp 50 người trở lên thì không kể là

Trang 35

cướp, trộm được tiền hay không đều chiếu theo luật cướp được tiền,

xử chém ngay Liền đó làm bản văn tâu lên cho vua quyết đoán là chém bêu đầu để cánh cáo [37]

Thời kỳ thuộc địa, thực dân Pháp áp dụng pháp luật hà khắc, chủ yếu nhằm đàn áp các phong trào và các cá nhân yêu nước, các quan hệ xã hội được điều chỉnh cả bằng các sắc luật cũ của triều đại phong kiến bù nhìn và các quy định mới được ban hành bởi chế độ thực dân Cách mạng tháng Tám thành công, chính phủ non trẻ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành một loạt các sắc lệnh, các quy định khác của pháp luật nhằm trừng trị các tội phản cách mạng, do điều kiện khách quan mà các các văn bản pháp luật trong lĩnh vực hình sự, trong đó có quy định về các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội cướp tài sản nói riêng và chế tài hình sự chưa được quy định cụ thể Giai đoạn sau Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội khác phát sinh trong đời sống Tội cướp và hình phạt cho người phạm tội này được quy định tại Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970 (Điều 4) và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970 (Điều 3), trong đó hành vi được cho là cướp tài sản chỉ được mô tả "kẻ nào dùng bạo lực để chiếm đoạt ", hành vi chiếm đoạt tài sản bằng cách đe dọa dùng vũ lực và các biện pháp khác làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được đều không được nhắc đến Năm

1985, lần đầu tiên Luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ra đời, đây là bước phát triển đột phá trong tiến trình xây dựng luật pháp của đất nước ta Với 24 chương, 280 điều luật, điều chỉnh các quan hệ

xã hội trong lĩnh vực hình sự, trước khi BLHS năm 1999 ra đời, BLHS năm

1985 đã trải qua 04 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989,1991,1992 và

1997 nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn Hành vi cướp tài sản được quy định tại tại hai điều, căn cứ vào dấu hiệu chủ tài sản bị thực hiện hành vi cướp, đó

là tại Điều 129 quy định về tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa (nằm tại chương

Trang 36

V quy định về các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa) và tại Điều 151 tội cướp tài sản của công dân (quy định tại Chương VI về các tội xâm phạm sở

hữu của công dân) Điều 129 BLHS năm 1985 quy định: "Người nào dùng vũ

lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, thì bị phạt tù từ năm năm tới mười lăm năm" [30] Như

vậy xét về mặt khách quan, dấu hiệu định tội của tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa được mô tả rất chi tiết và khá chính xác với ba hành loại hành vi dùng

vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc và làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa Khoản 2 Điều 129 BLHS năm 1985 (được sửa đổi, bổ sung năm 1997) quy định có 05 dấu hiệu định khung trong tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa với mức cao nhất của khung hình phạt là tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình đó là: a/ Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b/ Dùng vũ khí hoặc phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm khác;c/Gây thương tích nặng, gây tổn hại nặng cho sức khỏe của người khác hoặc gây chết người;d/Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác; và đ/Tái phạm nguy hiểm Xét về dấu hiệu định tội, tội cướp tài sản của công dân chỉ khác với tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa ở điểm căn cứ vào đối tượng của tội phạm là tài sản của nhà nước hay tài sản khác, tuy nhiên hình phạt của tội cướp tài sản của công dân được quy định nhẹ hơn so với tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa

"Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm tới bảy năm" Các dấu hiệu

định khung của tội cướp tài sản của công dân được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm tới mười lăm năm: a/ Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b/ Sử dụng vũ khí hoặc phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm khác; c/Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây chết người;

Trang 37

d/Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác Phạm tội trong trường hợp gây thương tích nặng, gây tổn hại nặng cho sức khỏe của người khác, gây chết người, tái phạm nguy hiểm hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình Thực tiễn xét xử thời kỳ này thì thấy nhiều trường hợp không thống nhất trong áp dụng luật hình sự về các tội phạm mang tính chiếm đoạt (như cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp, lừa đảo) đã dùng bạo lực để chiếm đoạt cho bằng được tài sản định chiếm đoạt hoặc để tẩu thoát Nhiều Tòa án đã coi mọi trường hợp nói trên là cướp tài sản, ngược lại có Tòa án lại chỉ coi việc dùng bạo lực là tình tiết tăng nặng của việc chiếm đoạt chứ không kết án kẻ phạm tội về tội cướp tài sản Để khắc phục tình trạng này ngày 19/04/1989 Hội đồng thẩm phán TANDTC đã ban hành Nghị quyết số 01/ NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng thống nhất như sau: a/Nếu

là trường hợp do chưa chiếm đoạt được tài sản mà kẻ phạm tội dùng vũ lực hay đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản cho bằng được, thì cần định tội là cướp tài sản b/ Nếu là trường hợp kẻ phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản rồi, nhưng chủ tài sản hoặc người khác đã lấy lại được tài sản đó hoặc đang giành giật tài sản đang ở trong tay kẻ phạm tội, mà kẻ phạm tội dũng vũ lực, hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản cho bằng được, thì cần định tội là cướp tài sản Đối với các trường hợp trên đây chỉ cần kết án người phạm tội về một tội là cướp tài sản và coi việc chiếm đoạt (chưa thành hoặc đã thành) trước khi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực là tình tiết diễn biến của tội phạm c/ Nếu việc dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) là nhằm để tẩu thoát (kể cả khi tẩu thoát cùng với tài sản đã chiếm đoạt được), thì không kết án người phạm tội

về tội cướp tài sản ,và tùy trường hợp mà kết án họ về tội phạm xảy ra trước khi dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) và coi việc dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) là tình tiết " hành hung để tẩu thoát" (tình tiết định khung hình phạt cao hơn theo các điều 131, 132, 154, 155 BLHS) Nếu việc dùng vũ

Trang 38

lực dẫn tới hậu quả là chết người thì người phạm tội bị kết án thêm về tội giết người Nếu hậu quả của việc dùng vũ lực là gây cố tật nặng hoặc gây thương tích dẫn đến chết người thì kẻ phạm tội bị kết án thêm về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 109 BLHS

1.3 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN VÀ DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG CỦA TỘI CƯỚP TÀI SẢN

Cướp tài sản là tội phạm phổ biến được quy định trong luật hình sự ở bất cứ quốc gia nào Luật hình sự các nước đều quy định chi tiết về nội dung cũng như những chế tài áp dụng đối với người phạm tội nhằm bảo vệ các quan

hệ sở hữu, quyền, lợi ích hợp pháp của chủ tài sản, trừng trị người phạm tội

* Tội cướp tài sản và các dấu hiệu định khung của tội cướp trong luật hình sự Cộng hòa Dân chủ nhân dân Trung Hoa

Trong luật hình sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa không quy định cụ thể tên tội là tội cướp tài sản mà chỉ có quy định tại Điều 123 nằm trong Chương V Tội xâm phạm sở hữu

Điều 123 BLHS Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa quy định

"Người nào dùng vũ lực, đe dọa hoặc các biện pháp khác để cướp đoạt tài sản thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm, và bị phạt tiền" Như vậy, hành vi thỏa mãn CTTP cơ bản của tội cướp tài sản theo quy định của luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa bao gồm ba loại dùng vũ lực, đe dọa dùng

vũ lực và các biện pháp khác Hành vi "các biện pháp khác" nhằm cướp đoạt tài sản được hiểu có thế là đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được như tiêm thuốc mê, cho uống thuốc ngủ, thôi miên bằng hóa chất…Nhà làm luật sử dụng luôn thuật ngữ "nhằm cướp đoạt tài sản" chứ không dùng thuật ngữ "chiếm đoạt tài sản" Hình phạt tiền được áp dụng bắt buộc đối với người phạm tội Về dấu hiệu định khung của tội cướp, luật Hình sự Trung Hoa quy định như sau:

Trang 39

…Nếu có một trong những tình tiết dưới đây thì bị phạt tù

từ mười năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình, và bị phạt tiền và tịch thu tài sản: 1/ Vào nhà người khác để cướp; 2/ Cướp giật ở chỗ giao thông công cộng; 3/ Cướp nhà băng hoặc tổ chức tiền tệ khác; 4/ Cướp nhiều lần hoặc cướp đoạt với số lượng lớn; 5/ Cướp đoạt dẫn đến gây thương tích nặng hoặc tử vong cho người khác; 6/ Giả mạo là cảnh sát quân sự để cướp; 7/ Dùng vũ khí để cướp; 8/ Cướp những đồ dùng cho quân sự hoặc những đồ vật kinh tế để cứu nguy, cứu nạn [1]

Như vậy có thể nhận thấy luật luật hình sự Trung Hoa quy định các dấu hiệu định khung của tội cướp chủ yếu căn cứ vào hậu quả của hành vi phạm tội, đối tượng bị xâm mà không có nhiều quy định dấu hiệu định khung tăng nặng liên quan đến nhân thân người phạm tội Phạt tiền hoặc tịch thu tài sản là hình phạt bắt buộc kèm theo hình phạt tù

* Tội cướp tài sản và các dấu hiệu định khung của tội cướp trong luật hình sự Malaysia

Điều 390 Luật hình sự Malaysia quy định về tội cướp tài sản như sau:

"Cướp tài sản là hành vi trộm cắp hoặc là tống tiền Trộm cắp được coi là

"cướp" nếu để nhằm thực hiện tội trộm cắp hoặc trong khi thực hiện tội trộm cắp hoặc trong khi mang tài sản vào trộm cắp hoặc định mang tài sản đó đi vào mục đó mà cố ý giết, gây thương tích hoặc khống chế người khác hoặc đe dọa ngay lập tức các hành vi đó Tống tiền được coi là "cướp" nếu người phạm tội thực hiện việc tống tiền bằng cách đe dọa giết, gây thương tích hoặc khống chế bất hợp pháp ngay tức khắc người bị đe dọa hoặc người khác khiến

họ phải giao nộp tài sản" Luật quy định rõ các hành vi được coi là phạm tội cướp tài sản, định nghĩa hành vi cướp tài sản bằng việc mô tả các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác và nêu cả trường hợp chuyển hóa từ các tội mang tính chiếm đoạt

Trang 40

khác thành tội cướp khi thỏa mãn các dấu hiệu hành vi được mô tả trong điều luật, cụ thể là chuyển hóa từ tội trộm cắp và tội tống tiền thành tội cướp tài sản

Dấu hiệu định khung trong tội cướp tài sản nằm tại các điều quy định

về hình phạt đối với hành vi cướp Một số hành vi cướp tài sản với tính chất

và mức độ nguy hiểm cao hơn lại được quy định tại những điều luật khác, hình phạt cho mỗi loại hành vi cướp tài sản cũng được quy định riêng chứ không nằm chung trong cùng một điều luật mô tả hành vi cướp tài sản đó

"Khi 5 người trở lên cùng thực hiện hoặc định thực hiện tội cướp, hoặc khi tổng số người thực hành và số người giúp sức cho việc thực hiện tội cướp là

từ 5 người trở lên, thì mỗi người thực hành, người dự mưu hoặc người giúp sức được coi là phạm tội "cướp có băng nhóm" (Điều 391) hay "Người nào phạm tội cướp có băng nhóm kèm theo giết người trong khi phạm tội cướp có băng nhóm thì bị phạt tử hình hoặc bị phạt tù đến hai mươi năm kèm theo đánh roi" (Điều 396) Hình phạt áp dụng với tội cướp tài sản nhẹ hơn đáng kể với tội cướp có băng nhóm, phạm tội cướp tài sản thì bị phạt tù từ mười năm kèm theo phạt tiền; nếu thực hiện tội cướp trong khoảng thời gian mặt trời lặn

và mặt trời mọc thì bị phạt tù từ mười bốn năm kèm theo phạt tiền hoặc kèm theo đánh roi; phạm tội cướp có băng nhóm thì bị phạt tù đến 20 năm kèm theo phạt đánh roi

* Tội cướp tài sản và các dấu hiệu định khung của tội cướp trong luật hình sự Liên bang Nga

Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 162 BLHS Liên bang Nga với hai khoản quy định về các dấu hiệu định khung tăng nặng hình phạt Cướp là dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khỏe

để tấn công nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác Hành vi được coi là cướp khi thỏa mãn dấu hiệu hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để tấn công nhằm chiếm đoạt tài sản chứ không cần xét tới hành vi "đe dọa dùng

vũ lực ngay tức khắc", đó là điểm khác biệt so với tội cướp trong luật hình sự

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tư pháp (1998), "Luật hình sự của một số nước trên thế giới", Dân chủ và pháp luật, (Số chuyên đề) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự của một số nước trên thế giới
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 1998
2. Lê Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
3. Lê Cảm (2002), "Chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm và mô hình lí luận của nó trong pháp luật hình sự Việt Nam", Dân chủ và pháp luật, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm và mô hình lí luận của nó trong pháp luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2002
4. Lê Cảm (2004), Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2004
5. Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự phần chung, (Sách chuyên khảo sau Đại học), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự phần chung
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
6. Chính phủ (1998), Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày 31/7 về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày 31/7 về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
7. Chính phủ (2004), Nghị quyết số 09/NQ-CP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm của Chính phủ từ nay đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 09/NQ-CP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm của Chính phủ từ nay đến năm 2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
14. Trần Văn Độ (1999), "Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về các giai đoạn thực hiện tội phạm", Tòa án nhân dân, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về các giai đoạn thực hiện tội phạm
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 1999
15. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
16. Nguyễn Ngọc Hòa (2007), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và cấu thành tội phạm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2007
17. Phạm Mạnh Hùng (1995), "Thế nào là lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp? ", Tòa án nhân dân, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế nào là lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Năm: 1995
18. Nguyễn Văn Hương (2003), "Vấn đề tình tiết hình sự trong Bộ luật hình sự", Luật học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tình tiết hình sự trong Bộ luật hình sự
Tác giả: Nguyễn Văn Hương
Năm: 2003
19. Trần Minh Hưởng (2002), Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính
Tác giả: Trần Minh Hưởng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
20. Trần Minh Hưởng (2002), Tìm hiểu BLHS nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bình luận và chú giải, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu BLHS nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bình luận và chú giải
Tác giả: Trần Minh Hưởng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm - Dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản theo quy định của bộ Luật hình sự Việt Nam năm 1999
Bảng 2.1 Thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm (Trang 63)
Bảng 2.2: Thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm - Dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản theo quy định của bộ Luật hình sự Việt Nam năm 1999
Bảng 2.2 Thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm (Trang 64)
Bảng 2.3: Thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm - Dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản theo quy định của bộ Luật hình sự Việt Nam năm 1999
Bảng 2.3 Thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm (Trang 65)
Bảng 2.4: Thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm - Dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản theo quy định của bộ Luật hình sự Việt Nam năm 1999
Bảng 2.4 Thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w