Tài liệu về ngành thức ăn chăn nuôi của Thái Lan là hạn chế và không có sẵn và do đó một chuyến đi nghiên cứu đã được lên kế hoạch cần phải được diễn ra một cách chắc chắn với vai trò cố
Trang 1Bởi
Tiến sĩ Jo Pluske
Tư vấn SciEcons ,
PO Box 1604 Subiaco WA 6904 AUSTRALIA
Tháng 9, 2007
Trang 2Tóm tắt
Giá của các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đang duy trì ở mức cao như là một hậu quả của việc tăng cầu, và do đó việc chăn nuôi sẽ cần phải được tính toán kỹ lưỡng hơn Ví dụ, các nhà dinh dưỡng động vật sẽ có một vai trò nổi bật trong việc công thức hoá các chế độ ăn uống mà theo các công thức này các thành phần thức ăn sẽ được kết hợp trong các hạt Tuy nhiên tính khả thi của việc phát triển chăn nuôi là khác nhau tại các nước đang phát triển và các nước phát triển và cũng phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố Như là một kết quả của sự hiểu cấu trúc và hoạt động của ngành thức ăn chăn nuôi tại các quốc gia khác nhau, trong đó sự sẵn có của thức ăn, chuỗi thức ăn và sự cạnh tranh sẽ là các điều kiện tiên quyết cần thiết để tạo nên một nền chăn nuôi nhanh hơn
Báo cáo này sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về lĩnh vực chăn nuôi toàn cầu với sự nhấn mạnh vào các nước đang phát triển và đặc biệt là Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan Nhu cầu đối với thức ăn trong nền chăn nuôi tập trung đang phát triển và sẽ tiêp tục phát triển Một kết quả theo đó là các nhà chăn nuôi động vật sẽ phải đối mặt với sự tăng lên của giá cả thức ăn chăn nuôi và các nhà sản xuất thức ăn sẽ cần phải quan tâm tới sự cạnh tranh và phản ứng lại một cách tương ứng Có thể là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) sẽ có vai trò trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi tại các nước đang phát triển, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tại các vùng sâu, vùng xa nơi mà hoạt động của các doanh nghiệp lớn là không có lợi nhuận Tuy nhiên, những chính sách phù hợp cần thiết được phát triển để bảo đảm rằng sự hiện hiện của các doanh nghiệp vừa và nhỏ này là đem lại lợi ích cho cộng đồng theo một cách tổng thể chứ không chỉ riêng gì trong lĩnh vực của nó Kết quả theo đó là các nhà hoạch định chính sách sẽ cần có đủ hiểu biết về các chuỗi cung có liên quan và những điều chỉnh về mặt thể chế khác có liên quan tới việc ra quyết định trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi và lĩnh vực chăn nuôi
Báo cáo này sẽ cung cấp một nền tảng hữu dụng cho những nghiên cứu tài liệu tiếp theo nếu cần thiết, và/hoặc thông tin mà nó sẽ có ích cho việc hướng dẫn các chương trình nghiên cứu được đề xuất cho nghiên cứu này Có khối lượng dồi dào các thông tin liên quan tới ngành thức ăn chăn nuôi toàn cầu và kết quả là một cuộc nghiên cứu trong 5 ngày chỉ có thể đề cập tới hầu hết những khía cạnh được bao hàm trong báo cáo này Ví dụ cụ thể hơn là, do trở ngại về mặt thời gian nên đã không thể xem nghiên cứu báo cáo IFPRI (2001) một cách chi tiết nhưng đã có thể sử dụng nó như một sự tham chiếu hữu ích trong báo cáo này để so sánh các kết quả được đưa ra Báo cáo của Ngân Hàng Thế giới (2002) về xây dựng những thể chế cho các thị trường cũng có thể được xem như một tài liệu tham chiếu để xác định Việt Nam đang nằm ở vị trí như thế nào xét về mặt phát triển thị trường Hơn nữa, những kết quả nghiên cứu cụ thể đã được lập thành tài liệu tại ACIAR (2004) Proceedings số 119 về quản
lý chuỗi cung thức ăn nông nghiệp tại các nước đang phát triển có thể cung cấp những gợi ý
có giá trị cho việc áp dụng đối với ngành thức ăn chăn nuôi
Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi và chăn nuôi động vật đang phát triển và có vẻ là các lớn nước ngoài sẽ thống trị thị trường thức ăn chăn nuôi Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có vai trò và thông tin sau có sẽ sẽ có ích cho việc đạt được những nghiên cứu mới
về chủ đề này:
1 Vì mục đích của dự án nghiên cứu này, các định nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa
và nhỏ trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi sẽ được phát triển bởi vì có thể là tác động đối với từng định nghĩa có thể là khác nhau và do đó chúng sẽ không được xếp vào cùng một nhóm Những xem xét về mặt không gian cũng có thể cần được hiểu đối với từng nhóm
Trang 32 Tài liệu về ngành thức ăn chăn nuôi của Thái Lan là hạn chế và không có sẵn và do
đó một chuyến đi nghiên cứu đã được lên kế hoạch cần phải được diễn ra một cách chắc chắn với vai trò cố gắng tìm hiểu về các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi vừa và nhỏ tại đó, như xác dịnh cho những doanh nghiệp tương ứng tại Việt Nam
3 Như đã đề cập ở trên, một vài tài liệu được liệt kê ra có thể được sử dụng như một tham chiếu để tìm ra ngành thức ăn chăn nuôi đã phát triển như thế nào theo thời gian Trong khi tài liệu này đã được nghiên cứu một cách tóm tắt trong báo cáo này, nếu cần thiết thì chúng sẽ được nghiên cứu chi tiết một cách độc lập
Trang 4Mục lục
Tóm tắt i
Danh mục hình vẽ minh hoạ v
Danh mục các bảng vi
1 Giới thiệu 1
2 Phương pháp luận 3
3 Các động cơ đối với những nhu cầu thức ăn chăn nuôi 3
3.1 Việc sản xuất thịt 3
3.2 Sự tiêu thụ thịt 5
3.3 Nhu cầu về thức ăn 6
4 Ngành thức ăn chăn nuôi toàn cầu 9
4.1 Toàn cảnh về ngành thức ăn chăn nuôi 9
4.2 Việt Nam và sản xuất thức ăn chăn nuôi 10
4.3 Việt Nam - Một trường hợp nghiên cứu lĩnh vực thức ăn chăn nuôi 16
4.4 Trung Quốc và việc sản xuất thức ăn chăn nuôi 17
4.5 Thái Lan và việc sản xuất thức ăn chăn nuôi 20
5 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ 22
5.1 Thế nào là một doanh nghiệp vừa và nhỏ? 22
5.2 Chính sách của các doanh nghiệp vừa và nhỏ 24
5.3 SMEs trong nền kinh tế 28
6 Thành phần của thức ăn chăn nuôi 28
6.1 Nguyên liệu thô 29
6.2 Những vấn đề về đầu vào tại các trạm nghiền thức ăn 30
7 Chất lượng thức ăn chăn nuôi và hiệu quả sản xuất 30
7.1 Chất lượng thức ăn chăn nuôi 30
7.2 Quy định về chất lượng thức ăn chăn nuôi 33
7.3 Hiệu quả của việc sản xuất thức ăn chăn nuôi 34
7.4 Sự ảnh hưởng của tự do báo chí đối với an toàn thực phẩm 36
8 Chuỗi cung cấp 36
8.1 Chuỗi cung cấp trong ngành chăn nuôi lợn 36
8.2 Xử lý và vấn đề lưu kho 43
8.3 Tổ chức theo không gian 44
9 Một khu vực sản xuất thức ăn gia súc mang tính cạnh tranh 44
9.1 Kinh tế quy mô ở ngành sản xuất thức ăn gia súc 45
9.2 Sự phát triển của một ngành sản xuất thức ăn gia súc mang tính cạnh tranh 46
Trang 59.3 Tư nhân hóa ngành chế biến thức ăn chăn nuôi: 52
9.4 Sức mua: 52
10 Đề xuất đối với những ngành phụ trợ cho nhành chế biến thức ăn chăn nuôi 53
10.1 Sự phát triển của ngành nhiên liệu hóa sinh trên toàn thế giới 53
10.2 Tác hại của thiếu thức ăn chăn nuôi 55
10.3 Nhập khẩu thành phẩm và nhập khẩu nguyên liệu sản xuất 56
10.4 Các thỏa thuận và chính sách hợp lý: 57
10.5 Nghiên cứu các số liệu: 58
11 Kết luận 58
12 Hạn chế 59
13 Khuyến nghị: 59
Trang 6Danh mục hình vẽ minh hoạ
Hình 1 Các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi thuộc sở hữu tư nhân ở Trung Quốc đang mở rộng 19 Hình 2 Hệ thống thể chế hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
28 Hình 3 Nutrace®, Tracking & Tracing 38
Hình 4 Một ví dụ về chuỗi cung cấp sản xuất thịt lợn trong đó Chuỗi A mô tả việc sản xuất và sử dụng vật liệu thô và Chuỗi B cho thấy chuỗi rộng hơn từ
nhà cung cấp đầu vào đến người tiêu dùng 39 Hình 5 Kênh tắt tại địa phương trong vùng đồng bằng sông Hồng 40 Hình 6 Lưu đồ buôn bán ngô từ Vùng núi phía bắc đến ĐB Sông Hồng 41
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 1 Xuất nhập khẩu thịt lợn đối với một số nước: 1.000 m3 (trọng lượng thịt sống tương đương) 4 Bảng 2 Lượng thịt tiêu thụ tính theo đầu người tại một số nước (kg/người) 6
Bảng 4 Các nguồn của thức ăn chăn nuôi đã được công thức hoá giành cho chăn nuôi
Bảng 5 Các hãng nghiền thức ăn gia súc đang thống trị sản xuất tại Việt Nam năm 2006
12 Bảng 6 Giá thức ăn chăn nuôi (2006) tại miền Bắc và miền Nam Việt Nam đối với một
Bảng 7 Tóm tắt những định nghĩa chủ yếu về các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các nước ASEAN-5 22 Bảng 8 Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ theo lao động và quy mô tài sản ở
Philippine 23 Bảng 9 Chi phí tối thiếu ước tính dành cho thức ăn chăn nuôi tại một số vùng ở Việt
Trang 81 Giới thiệu
OECD (2007) đã miêu tả nền nông nghiệp toàn cầu đang ở các đường viền bao quanh sự tăng trưởng một cách ổn định về mặt kinh tế trên phạm vi toàn cầu theo trung hạn, sự tăng trưởng chậm về dân số, sự tiếp tục của lạm phát thấp, và các thị trường mà đang phản ứng một cách toàn cầu trước những thách thức của ngành nhiên liệu sinh học đang thay đổi nhanh chóng Họ nhấn mạnh rằng sự tăng trưởng về mặt kinh tế toàn cầu được thúc đẩy chính bởi sự tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế ở các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga Thêm vào đó, sự tăng trưởng về mặt sử dụng các hàng hoá nông nghiệp như là kho nguyên liệu cho ngành nhiên liệu sinh học là một trong những nguyên nhân chính làm cho giá cả hàng hoá quốc tế đang cao hơn là trong các báo cáo trước của OECD Mặc cho những triển vọng của việc nhiên liệu sinh học tăng lên do sử dụng ngô, OECD (2007) dự đoán rằng sự tăng lên về nhu cầu đối với các hạt thô trên thị trường thế giới sẽ bị chi phối chủ yếu bởi sự tăng lên của nhu cầu thức ăn từ các ngành chăn nuôi đang phát triển thịnh vượng tại các nền kinh tế đang nổi lên như là Trung Quốc, Ấn Độ, và Argentina Thêm vào đó, do giá cả của ngô đang tăng lên nhanh chóng liên quan tới giá cả của các loạt hạt có dầu, cho nên có một nhu cầu đang tăng lên đối với các thức ăn dầu để thay thế cho ngô trong các khẩu phần của thức ăn chăn nuôi như là một nguồn năng lượng (OECD 2007)
Giá của các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôn đang duy trì ở mức cao như là một hậu quả của việc tăng cầu, và do đó việc chăn nuôi sẽ cần phải được tính toán kỹ lưỡng hơn Ví dụ, các nhà dinh dưỡng động vật sẽ có một vai trò nổi bật trong việc công thức hoá các chế độ ăn uống mà theo các công thức này các thành phần thức ăn sẽ được kết hợp trong các hạt Tuy nhiên tính khả thi của việc phát triển chăn nuôi là khác nhau tại các nước đang phát triển và các nước phát triển và cũng phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố Như là một kết quả của sự hiểu cấu trúc và hoạt động của ngành thức ăn chăn nuôi tại các quốc gia khác nhau, trong đó sự sẵn có của thức ăn, chuỗi thức ăn và sự cạnh tranh sẽ là các điều kiện tiên quyết cần thiết để tạo nên một nền chăn nuôi nhanh hơn
Việt Nam là một đất nước mà ở đó việc nghiên cứu đang thực hiện để giải quyết các vấn đề
đã nói ở trên Một hội thảo với mục đích bàn về ngành thức ăn chăn nuôi chuyên sâu ở Việt Nam đã được diễn ra tại Hà Nội vào ngày 7 tháng 8 năm 2007 Những đoạn sau đây sẽ tóm tắt vài tranh luận chung về những vấn đề chính đang phổ biến trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi
Tranh luận tập trung vào những chi phí thức ăn đã tăng lên và việc chăn nuôi, nhu cầu đang tăng lên đối với thị tại Việt Nam và các loại thuế Đặc biệt là đã nhận thấy rằng việc chăn nuôi ở Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu với 40% nguyên liệu được nhập khẩu (đậu nành, lạc) theo giá cả thế giới và các loại thuế (30% đối với bột đậu nành, 2% đối với ngô)
Với mục đích để phân loại các nhà máy thức ăn chăn nuôi theo sở hữu và phân loại theo các hang về khả năng, có rất nhiều nguồn thông tin khác nhau với nhiều con số Gợi ý rằng một doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất ở mức giữa 5 và 30 tấn/giờ trong khi một hãng lớn sản xuất sản xuất hơn 30 tấn/giờ Một gợi ý khác là một trạm nghiền nhỏ sản xuất từ 100 đến
300 tấn/tháng hoặc sản xuất dưới 3.000 tấn một năm hoặc sản xuất ít hơn 5 đến 10 tấn/giờ (một nhà sản xuất sẽ sản xuất lớn hơn 20 tấn/giờ; một hãng trung bình sẽ sản xuất từ 10 đến
20 tấn/giờ)
Ghi nhận rằng có 145 thực thể đã đăng ký sản xuất ít hơn 5.000 tấn thức ăn/ năm không bao gồm những thực thể mà đã không đăng ký với Sở Kế hoạch và Đầu tư Các trạm nghiền nhỏ sản xuất khoảng 10% tổng thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam Một trạm nghiền nhỏ thường
Trang 9không có văn phòng và thường kinh doanh với một điện thoại di động thường bán cho các tiểu chủ vơi 1 hoặc 2 con lơn hoặc 100 con gà Thường thì họ không có thiết bị của riêng họ nhưng có thể thuê nó cùng với một vài nhà sản xuất nhỏ khác Họ hầu hết ở khu vực nông thôn và có thể bán thức ăn gia súc hoàn toàn hoặc cô đặc Thường thì đó là thức ăn cô đặc bởi vì những nông dân có các hạt riêng của họ (ngô hoặc gạo) do đó họ tự trộn thức ăn gia súc Các trạm nghiền nhỏ bán trực tiếp tới người nông dân và không có đại lý Thức ăn gia súc rẻ và thường có hàm lượng protein thấp (khoảng 10%), tuy nhiên lợn có thể vẫn tăng trưởng tốt Các trạm nghiền nhỏ có thức ăn bao gồm các chất gây ô nhiễm chẳng hạn như các sâu bọ và bào tử nấm tuy nhiên các nông dân thường không biết các vấn đề này Thường thì việc dán nhãn là không chính xác và không có hình phạt nào cho việc này cả
Cũng gợi ý rằng 45 doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phá sản và lĩnh vực này cần phát triển sản xuất hiệu quả và giảm giá thành hoặc các doanh nghiệp khác cũng sẽ gặp những khó khăn về mặt tài chính Các trạm nghiền nhỏ sẽ phá sản vì họ không có vốn đủ để duy trì sản xuất bởi việ đầu tư vào trang thiết bị Do đó thường thì họ đang dung các máy móc cũ không hiệu quả
và do đó mà chi phí sản xuất là quá cao Cũng như vậy chi phí đầu vào đã tăng lên 3 lần trong những năm gần đây Các hang lớn hơn có thể đối mặt với sự tăng chi phí này tốt hơn là các hang nhỏ Tuy nhiên một vài người tin rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ có một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế như nhiều người tại khu vực nông thông vẫn thường tin vào chúng và có vẻ thích hợp là làm như vậy thậm chí do sự phát triển của ngành chăn nuôi đang tăng lên
Thông tin về an toàn vệ sinh thực phẩm được phát trên TV và đài phát thanh và có chính sách đúng đắn để tăng chất lượng của thức ăn chăn nuôi Tuy nhiên, rất nhiều luật liên quan tới việc bảo đảm chất lượng có thể có nghĩa là việc thực thi là một vấn đề đặt ra
Hiện nay, Việt Nam đang sản xuất rất nhiều sản phẩm phụ và chúng có thể thích hợp là thức
ăn chăn nuôi nhưng tại giai đoạnh này có ít hiểu biết về việc làm thế nào để sử dụng chúng tốt nhất Thêm vào đó, nếu Việt Nam có thể tăng việc sử dụng các sản phẩm phụ thì nó sẽ làm giảm các vấn đề môi trường, tăng việc sử dụng lao động và tăng số lượng của thức ăn sẵn có
Đã có cuộc tranh luận xung quanh việc sử dụng đại lý Một vài người nghĩ rằng không cần thiết phải sử dụng đại lý để phân phối thức ăn chăn nuôi bởi vì nếu các hang lớn bán trực tiếp cho nông dân thì sẽ giảm được các chi phí Tuy nhiên, những người khác lại tin rằng các hang lớn không thích việc buôn bán với các cá thể nông dân
Vấn đề thay đổi dữ liệu trong khi báo cáo cũng đã được đề cập và nó sẽ thể hiện là có những khác biệt trong dữ liệu do các nguồn cung cấp và các báo cáo nhưng cũng có những khác biệt trong việc xác định thức ăn chăn nuôi là gì (cô đặc hay toàn phần) Dữ liệu cũng hạn chế đối với một số vùng tại Việt Nam và đặc biệt là ở vùng Đông Bắc Dữ liệu tại lĩnh vực thức
ăn chăn nuôi cũng có thể không phản ánh trung thực những gì đang diễn ra trên thực tế Các doanh nghiệp nhỏ có thể sản xuất thức ăn riêng của họ và các con số thì không được thống
kê Cũng như vậy, chất lượng của thức ăn là quan trọng và thường xuyên bị bỏ qua trong các
dữ liệu Thêm vào đó, ngày 1 Tháng 8 là ngày báo cáo tuy nhiên trong suốt năm có thể có sự lên xuống trong việc chăn nuôi và những lên xuống này không được ghi lại Các số liệu thường xuyên cao hơn trong suốt năm hơn là vào ngày báo cáo do có sự tăng lên trong sản xuất sau Tháng 8
Mục đích của báo cáo này là để khai thác chi tiết hơn các vấn đề được đề cập ở trên và để đưa ra một báo cáo để bàn về ngành thức ăn chăn nuôi trên phạm vi toàn cầu Chú ý đặc biệt
sẽ được giành cho yêu cầu đối với thức ăn trong các ngành chăn nuôi chuyên sâu, tính kinh
tế nhờ quy mô trong sản xuất thức ăn, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và vai trò của chính sách công trong việc hỗ trợ sự phát triển của một lĩnh vực có tính cạnh tranh
Trang 102 Phương pháp luận
Để đưa ra báo cáo này việc nghiên cứu tư liệu sẽ phải được tiến hành để đạt được những hiểu biết về ngành thức ăn chăn nuôi trên phạm vi toàn cầu Đặc biệt là các động cơ đối với những nhu cầu về ăn chăn nuôi sẽ được điều tra Thông tin gắn liền với Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan sẽ được tìm hiểu để xác định những điểm giống nhau và những bài học
mà có thể là hữu ích cho việc hiểu về lĩnh vực thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam Bản chất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các chính sách có liên quan tới vai trò của chúng trong nền kinh tế cũng sẽ được xem xét Thành phần thức ăn chăn nuôi, việc sản xuất và hiệu quả sẽ được nghiên cứu rộng rãi cùng với các chuỗi cung liên quan và tài liệu cạnh tranh Các vấn
đề mà lĩnh vực thức ăn chăn nuôi có thể đang đối mặt sẽ được điều tra một cách ngắn gọn Tại cuối báo cao, những đề xuất về những nghiên cứu trong tương lai liên quan đến lĩnh vực thức ăn chăn nuôi của Việt Nam cũng sẽ được đưa ra Thời gian giành cho nghiên cứu này là
5 ngày
3 Các động cơ đối với những nhu cầu thức ăn chăn nuôi
Tới một phạm vi rộng, việc sản xuất thịt và nhu cầu gián tiếp về thịt đã dẫn đến các nhu cầu
về thức ăn trong ngành chăn nuôi Do đó việc đạt được một số hiểu biết về thị trường thịt toàn cầu sẽ hữu ích để đạt được sự nhận thức về loại, chất lượng, khối lượng của thức ăn mà điều này sẽ được đòi hỏi đối với các ngành chăn nuôi toàn cầu
3.1 Việc sản xuất thịt
Den Hartog (2005) đề xuất rằng việc xuất khẩu thịt lợn đên lại lợi nhuận gấp 4 lần việc xuất khẩu các hạt Theo nền tảng này quy đổi hạt ra thịt có thể sẽ là một sự lựa chọn nhạy cảm đặc biệt đối với các nước mà có chi phí nhân công thấp và có một nền chăn nuôi tốt
Ba nước đang phát triển, Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil chiếm gần hai phần 3 tổng lượng thịt được sản xuất ở các nước đang phát triển (Steinfeld và Chilonda 2006) Tại Nam Mỹ, đặc biệt là Brazil, thức ăn có sẵn, nhân công rẻ và có ít những cản trở về đất đai và do đó việc chăn nuôi đang phát triển một cách nhanh chóng ở đó (Den Hartog 2005) Campbell (2006) báo cáo rằng Brazil có chi phí sản xuất thịt lợn thấp nhất trên thế giới do có chi phí nhân công thấp và các nguồn lực khác Ông ta đã ghi nhận suy nghĩ rằng sự tăng trưởng trong tương lai có thể sẽ bị chế ngự bởi bệnh lở mồm long móng tại Brazil và đồng tiền địa phương đang mạnh lên (Reale) Mặc dù khi Ông ta thăm Brazil có vẻ là các công ty liên kết lớn hơn đang phát triển rộng và đang nhắm đích xuất khẩu sang Nhật Bản và Châu Âu Một ví dụ của một đơn vị liên kết sản xuất là Perdigão Rio Verde tại Brazil Nó có đàn gia cầm lớn nhất và hoạt động sản xuất thịt lợn của loại này tại Nam Mỹ với một nhà máy giết
mổ 4 năm tuổi và nằm ở một khu liên hợp công-nông nghiệp cách đường lát 22 km (NFPC 2003) Khu liên hợp bao gồm những văn phòng công ty, một trạm nghiền, lò ấp trứng, nơi giết mổ, nhà máy xử lý nước thải, trung tâm phân phối và nhà xưởng giết mổ gia cầm và lợn
và có 4.000 người làm thuê (NFPC 2003) Các trang trại nuôi gia cầm có ký hợp đồng với đơn vị này nằm ngay gần nơi cung cấp hạt/thức ăn và trong phạm vi 52 km từ nhà máy (NFPC 2003)
Mặc cho những cơ sở chăn nuôi tiên tiến, FAS (2006) gợi ý rằng thịt lợn của Mỹ xuất khẩu sang Nga sẽ tăng vì Brazil sẽ không thể duy trì vị trí của mình trên thị trường Nga do bệnh lở
Trang 11mồm long móng Kết quả là Mỹ, cũng như là Canada và Châu Âu sẽ có khả năng thu lợi nhuận từ sự tham gia bị suy giảm của Brazil tại thị trường Nga (Bảng 1) FAS (2006) đã ghi nhận một điều rất quan trọng với Brazil la gia cầm được xuất khẩu từ Brazil tới Nga có thể tăng
Bảng 1 Xuất nhập khẩu thịt lợn đối với một số nước: 1.000 m3 (trọng lượng thịt sống tương đương)
Nguồn: FAS 2006
Dữ liệu năm 2006 là dữ liệu ban đầu Dữ liệu năm 2007 là dự b
Xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng lên từ năm 2003 đến năm 2004 tuy nhiên sau đó thì duy trì không thay đổi (Bảng 1) Bệnh tật và chất lượng có thể là một nhân tố làm giảm nhưng theo như Fabiosa (2005) giải thích, nhu cầu đối với thịt lợn đang tăng nhưng nhân tố giới hạn
là việc cung cấp hạt Để giải quyết sự tăng lên về nhu cầu của các sản phẩm từ động vật, Trung Quốc đã giải quyết vấn đề này bằng cách đề ra các cải cách về mặt cấu trúc thông qua việc phân quyền và tư nhân hoá điều mà đã làm tăng cả đầu tư tư nhân trong nước cũng như
là đầu tư trực tiếp nước ngoài, dẫn đến kết quả là một sự mở rộng về khả năng tạo ra năng suất của nó (Fabiosa 2005) Niềm hi vọng cũng là để tăng sản xuất thịt lợn trong khu vực các nhà sản xuất nhỏ, có một sự khác biệt giữa nội bộ các nhà sản xuất hiệu quả nhất và các nhà sản xuất kém hiệu quả nhất (Fabiosa 2005)
Như đã được đưa ra bởi (Dinh et al ?), tiểu chủ nuôi lợn chiếm khoảng 80% của lượng thịt
lợn được sản xuất tại Việt Nam, hệ thống này được xác định bằng các trang trại đang tăng lên từ 1 đến 3 lợn nái hoặc không nhiều hơn 15 lợn đang béo lên hoặc một sự kết hợp tương ứng của từng loại với định hướng để phát sinh thu nhập và để sản xuất phân bón hữu cơ cho
việc trồng trọt (Dinh et al ?) Bán lợn thịt đến các lò giết mổ địa phương hoặc bán lợn con
Trang 12cho các hang xóm khác hoặc cho những thưong lái trong làng là thực tiễn kinh doanh phổ
biến (Dinh et al ?) Những trang trại nuôi lợn bán thương mại (3 đến 10 lợn nái với 15 đến
50 lợn đang vỗ béo.) chiếm khoảng 15 % của tổng đàn lợn tại Việt Nam với những con lợn được nuôi bằng các sản phẩm phụ nông nghiệp kết hợp với những thức ăn công nghiệp chất
lượng cao (Dinh et al ?) Các trang trại thương mại góp phần vào chỉ 5% của lượng lợn
được nuôi ở Việt Nam và bao gồm các trang trại với hơn 30 lợn nái và trên 100 lợn đang vỗ béo với chế độ ăn đưwcj công thức hoá một cách thương mại và thường được cung cấp dưới
dạng toàn phần (Dinh et al ?) Như đã được ghi nhận như một ví dụ bởi (Dinh et al ?), các
chi phí của việc sản xuất thịt đối với các nhà chăn nuôi lợn thương mại tại tỉnh Hải Dương là khoảng 14.000 đồng/kg thịt tươi và là cao hơn so với chi phí của các tiểu chủ nhỏ (khoảng 10.000-11.000/kg thịt tươi) và do đó họ phải đạt các tiêu chuẩn về xuất khẩu để có thể bán với giá cao hơn hoặc là họ sẽ thua lỗ trên thị trường nội địa
Đàn gia cầm bán sinh kế chiếm khoảng 55% tổng đàn gia cầm tại Việt Nam với các loài gia
cầm chủ yếu là có nòi giống bản địa và các đàn thường ít hơn 50 con (Dinh et al ?) Người
ta ít quan tâm đến việc cho ăn uống, chăm sóc, kiểm soát bệnh tật và gia cầm được cho ăn bằng các loại hạt được sản xuất tại gia như là thóc, ngô, đồ thừa nhà bếp bất kể thứ gì mà chúng có thể bới được Các đàn gia cầm bán sinh kế chiếm 25% tổng số lượng gia cầm và các loại gia cầm này hoặc là giống địa phương hoặc là được lai giống và số lượng là từ 50
đến 200 con (Dinh et al ?) Các loại gia cầm được nuôi bằng các loại hạt được chính gia
đình sản xuất kết hợp với thức ăn công nghiệp và khẩu phần ăn và việc kiểm soát bệnh tật
được chú ý hơn so với các loại gia cầm ở tại các trang trại bán sinh kế (Dinh et al ?) Các
đàn gia cầm thương mại (20 % tổng đàn gia cầm tại Việt Nam) chủ yếu được hình thành và ở xung quanh các trung tâm tiêu thụ với gia cầm được nuôi nhốt và cho ăn thức ăn thương mại
(Dinh et al ?) Cỡ của trang trại thường hơn 200 con và các chăn nuôi thường áp dụng các
kỹ thuật tiên tiết vào việc cho ăn, cung cấp nước và kiểm soát bệnh tật (Dinh et al ?)
Nhìn chung tại Đông Á, Thái Lan, Malaixia và Philipine là đang trải qua một sự phát triển nhanh chóng tại lĩnh vực chăn nuôi, đặc biệt là nuôi lợn và gia cầm (Steinfeld và Chilonda 2006) Thái Lan đã trở thành một trong những nhà xuất khẩu hàng đầu về gà giò trên thế giới, và trước khi có cuộc khủng hoảng cúm gia cầm thì Thái Lan xếp thứ 5 vào năm 2003, sau Mỹ, Brazil, Pháp và Hà Lan (Steinfeld và Chilonda 2006) Tại Philipine, ngành chăn nuôi (bao gồm cả nuôi gia cầm) đã làm tăng gấp tổng giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp trong 20 năm qua (Steinfeld và Chilonda 2006) Tại Việt Nam, sự mở rộng của ngành chăn nuôi đã được thúc đẩy bởi sự tăng lên về cầu của các sản phẩm từ vật nuôi, được bắt nguồn
từ sự tăng lên của thu nhập dẫn đến việc thay đổi về khẩu vị và sở thích (Hall et al 2006)
3.2 Sự tiêu thụ thịt
Việc tiêu thụ thịt ở các nước đang phát triển đã tăng lên nhanh gấp 3 lần so với các nước phát triển từ những năm 70 đến những năm 90, phần lớn là được giải thích bởi tiêu dung ở Châu Á (FAO 2004) Từ năm 1995 đến 2020, khoảng 97,5% dân số toàn cầu tăng lên là ở các nước đang phát triển, cũng trong thời gian đó thì 84% dân số thế giới (khoảng 6,3 tỷ) sẽ sống ở các quốc gia đang phát triển và nhu cầu về thịt và sữa ở thế giới đang phát triển được
dự báo là sẽ tăng gấp đôi vào chậm nhất là năm 2020 (FAO 2004) Sự tăng trưởng về tiêu thụ thịt và sữa tại thế giới đang phát triển được dự báo là 2,8 và 3,3% hàng năm từ 1990 đến
2020, ngược lại là từ 0,6% đến 0,2% tại các nước đang phát triển (FAO 2004)
Trang 13Vào năm 2005, lượng tiêu thụ thịt trung bình tại Việt Nam là 34,2 kg/người, trên mức trung bình của Châu Á (33 kg/người) và vượt xa mức của các nước đang phát triển (28 kg/người), trong khi bình quân của thế giới là 39,9 kf/người (Hall et al 2006) Ví dụ sự tăng lên về
tiêu thụ thịt lợn tại Việt Nam trong 5 năm qua là khoảng 5 kg/người, trong khi con số này của Australia là khoảng giữa 1 đến 2 kg và ở Mỹ tiêu dung có vẻ đang giảm xuống (Bảng 2) Tiêu dung được hi vọng là sẽ tiếp tục tăng trưởng với sự tăng lên
của thu nhập tại Việt Nam (Hall et al 2006)
Bảng 2 Lượng thịt tiêu thụ tính theo đầu người tại một số nước (kg/người)
Nguồn: FAS (2006) Ghi chú: 1/ Dữ liệu của EU bao gồm 25 quốc gia thành viên cho tất cả các năm (p) sơ bộ; (f) dự báo
Giá của sản phẩm từ động vật tại Việt Nam giao động cao trong năm do yếu tố mùa (IFPRI 2001) Tại Miền Trung và Miền Bắc Việt Nam, những sự giao động theo mùa thường rõ hơn tại Miền Nam (IFPRI 2001) Hơn nữa, trong năm, giá cả có xu hướng tăng rõ rệt vào giữa Tháng 1 và Tháng 2, như là kết quả của sự tăng cầu mạnh về thịt trong dịp Tết (IFPRI 2001)
3.3 Nhu cầu về thức ăn
Nhu cầu về thức ăn là biến đổi theo một mức độ nào đó về nhu cầu thịt và do đó gián tiếp lên nhu cầu về thịt Như là dẫn chứng tại mục 3.1 và 3.2 ở trên, sản xuất và nhu cầu đều tăng lên rõ rệt tại một số nước và đặc biệt là tại một số nước đang phát triển Xem xét việc chăn nuôi lợn như một ví dụ, đã có sự tăng lên rõ rệt tại các nước đang phát triển như là Trung Quốc và Việt Nam (Bảng 3) Điều này là mặc cho một số vấn đề chính về sức khoẻ của động vật và sự thiết đất và chuyên môn hoá để tăng sản xuất thức ăn
Bảng 3 Tóm tắt về lợn giống tại một số nước (trên 1000 dân)
Trang 14Nguồn: FAS (2006)
Dữ liệu năm 2006 là sơ bộ Dữ liệu năm 2007 là dự báo
Trung Quốc đang trải qua thời kỳ mà lĩnh vực chăn nuôi tăng trưởng tốt, trên mức của các quốc gia còn lại trong vùng như Lào, Campuchia, Việt Nam và Philipine, các nước này cũng đang trải qua sự tăng trưởng tốt (hơn 50% trong 10 năm) (IFFT 2005) Trường hợn nghiên cứu sự thay đổi trong việc sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Trung Quốc là hứa hẹn nhiều thú
vị Fabiosa (2005) đưa ra một nét phác thảo về lĩnh vực thức ăn chăn nuôi và ghi nhận rằng việc triển vọng tối với lĩnh vực thức ăn trộn là rất lớn được thúc đẩy bởi sự phát triển của lĩnh vực nguyên liệu thô, như là ngô, đậu nành, cũng như là sự phát triển của lĩnh vực đầu ra cuối cùng, như là thịt lợn và gia cầm Với gần một nửa việc sản xuất thức ăn thương mại1được sử dụng để nuôi lợn, nhu cầu đối với thức ăn trộn là lớn được thúc đẩy bởi sự phát triển của lĩnh vực nuôi lợn (Fabiosa 2005) Nhu cầu về thức ăn cho lợn đã bị tác động bởi 2 nhân tố: sự mở rộng ngành nuôi lợn và việc chuyển đổi cấu trúc của ngành (Fabiosa 2005) Trong khoảng thời gian một thập kỷ thị phần về các trang trại lợn thiến đã giảm 14%, từ khoảng 95% xuống gần 81% (Fabiosa 2005) Thị phần các hộ gia đình chuyên môn hóa tăng 12% điểm, từ chỉ dưới 4% tới gần 15% (Fabiosa 2005) Vì thực tế chăn nuôi của các hệ thống sản xuất này là khá khác biệt so với nhau (đặc biệt là về tỷ lệ của các thức ăn trộn lẫn trong khẩu phần ăn), việc chuyển đổi cơ cấu đã có những tác động mạnh mẽ đến nhu cầu thức ăn chăn nuôi (Fabiosa 2005) Các hoạt động kinh doanh mà với ít hơn 31 con lợn thiến thì có được phần lớn nhất về khẩu phần ăn là các loại hạt thô, vào khoảng 57 đến 66% (Fabiosa 2005) Đối với loại sản xuất nhỏ, các nhà sản xuất có từ 31 đến 100 con lợn chiếm tỷ lệ cao nhất về
1 Một thức ăn dinh dưỡng toàn phần bao gồm 3 thành phần: nguồn năng lượng ( điển hình là các hạt m (thô), nguồn đạm (điển hình là các khẩu phần hạt dầu), và các chất phụ thêm (vitamin, khoáng chất,
thuốc) (Crook et al 1999) Như được xếp loại tại thông báo thống kê của Trung Quốc, thức ăn hỗn
hơn là một loại hỗn hợp dinh dưỡng toàn phần của các thành phần, thức ăn cô đặc bao gồm nguồn đạm và các chất phụ them được trộn lẫn sẵn, chất trộn lẫn sẵn bao gồm các chất phụ them kết hợp với
một chất rắn ăn được để làm cho chúng dễ dàng có thể được trộn đều (Crook et al 1999)
Trang 15các thức ăn hỗn hợp bán sẵn trong khẩu phần ăn, vào khoảng 20% (Fabiosa 2005) Các nhà sản xuất lớn vơới hơn 500 con có một nửa khẩu phần thức ăn là dưới dạng thức ăn hỗn hợp bán sẵn Fabiosa (2005) Fabiosa (2005) giải thích rằng đối với các cơ sở kinh doanh có ít hơn 100 con lợn , việc tăng quy mô của đàn sẽ tăng tỷ lệ hỗn hợp thức ăn thương mại trong khẩu phần ăn tuy nhiên do sự tăng lên của việc biến đổi thức ăn, sẽ làm giảm đi lượng thức
ăn trên mỗi con Vì quy mô tăng lên đối với các cơ sở kinh doanh có hơn 100 con lợn, tựu chung lại nhu cầu đối với thức ăn thương mại sẽ tăng lên vì một cách tổng quát thì đàn đang sẵn sàng đạt đầu ra có hiệu quả hợp lý (Fabiosa 2005) Xu hướng thực tế thu được từ việc tổng hợp dữ liệu về việc sử dụng thức ăn chăn nuôi đã chỉ ra rằng việc sử dụng thức ăn hỗn hợp trên một đơn vị thịt đầu ra đã tăng lên trung bình 7% hang năm trong vòng một thập kỷ qua (Fabiosa 2005) Điều này được minh chứng thêm bởi tỷ trọng đang tăng lên của việc tiêu thụ thức ăn chăn nuôi là ngô như một thức ăn hỗn hợp hơn là một loại hạt thô (Fabiosa 2005)
Từ khi Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001, đất nước này đã không ngừng nhập khẩu thức ăn chăn nuôi để duy trì sự tăng trưởng nhanh của ngành nuôi lợn và gia cầm (Steinfeld
và Chilonda 2006) Việc chăn nuôi cũng như là hoạt động nhập khẩu đã tăng lên với tổng lượng thức ăn được nhập khẩu tăng lên 0.4 tỷ tấn trong 10 năm kể từ năm 200, làm dấy lên
sự lo sợ rằng sự mở rộng của ngành chăn nuôi Trung Quốc có thể dẫn đến sự tăng đột biến
về giá và sự thiếu hụt trên phạm vi toàn cầu về ngũ cốc (Steinfeld và Chilonda 2006) Trung Quốc trên thực tế vẫn là nhà nhập khẩu thực phẩm, tuy nhiên điều này đang giảm dần, giảm 42% trong thập kỷ qua (Steinfeld và Chilonda 2006) Tại một số nước (ví dụ như các doanh nghiệp nuôi gia cầm ở Thái Lan), có một sự phụ thuộc rất lớn và ngày càng tăng vào bột đậu nành và bột cá với những lo ngại ngày càng tăng lên về sự tăng lên của chi phí của các đầu vào được nhập khẩu này (FAO 2004) Hậu quả là trong số những hộ gia đình chuyên môn hoá và các nhà sản xuất lợn với quy mô lớn, các loại chi phí của thức ăn chăn nuôi, ví dụ ở Trung Quốc là cao hơn ở Mỹ (Fabiosa 2005) Tuy nhiên, mọi bất lợi thế về chi phí mà các nhà chăn nuôi lợn Trung Quốc có trong chi phí thức ăn chăn nuôi là nhiều hơn là sự bù đắp được mang lại từ chi phí thấp của họ trong các thành phần còn lại như là chi phí của các nhà chăn nuôi lợn và nhân công lao động (Fabiosa 2005) Tuy nhiên, tại rất nhiều nước đang phát triển (ví dụ tại Ấn Độ), các cố gắng đang được thực hiện để tận dụng các nguồn nguyên liệu thức ăn gia súc phong phú tại địa phương, đặc biệt là các nguyên liệu có protein (FAO 2004)
Các hệ thống chăn nuôi hỗn hợp sẽ bị hạn chế về việc sử dụng một số loại thức ăn (chẳng hạn như là phế liệu của nhà hàng gia đình, (phổ biến ở rất nhiều nước đang phát triển) do những khó khăn trong việc xuất khẩu các sản phẩm từ các động vật được nuôi bằng các thức
ăn này (Zhou 2004) Zhou (2004) dự báo rằng việc chăn nuôi động vật tại các nước đang phát triển sẽ trở nên tập trung hơn vì các nông dân từ bỏ cách chăn nuôi truyền thống với quy
mô nhỏ do chi phí cơ hội cao đi cùng với nó và do đó nhu cầu đối với các loại ngũ cốc để chăn nuôi sẽ tăng lên nhiều hơn 2 lần, tăng từ 222 triệu tấn vào năm 1997/1998 tới 573 triệu tấn vào năm 2003 Điều này sẽ dẫn đến sự thiếu hụt về các loại ngũ cốc tại các nước đang phát triển ở mức từ 190 đến 265 triệu tấn vào năm 2015 và 2030 một cách tương ứng (Zhou 2004)
Le (2007) báo cáo rằng các nhà sản xuất ở Việt Nam đang phải đối mặt với sự tăng lên về giá cả của thức ăn chăn nuôi, chủ yếu là do việc nhập khẩu 1/3 tổng nhu cầu Bàn luận trong
Le (2007) tập trung vào sự tưới nước đang tăng lên và do đó làm tăng việc sản xuất ngô từ khoảng 3,5 tấn/ha/năm lên 11 tấn/ha/năm (như con số có thể đạt được ở Mỹ) và sự phát triển
Trang 16của ngành thuỷ sản Trong năm qua, giá của thức ăn cho gia cầm đã tăng từ 27.500 VNĐ lên 33.000 VNĐ/túi 25kg và túi thức ăn 25 kg của lợn tăng từ 40.000 VNĐ lên 50.000 VNĐ/túi (Le 2007)
Mục này đã đưa ra bằng chứng chứng minh rằng việc sản xuất thịt và tự tiêu thụ đặc biệt là tại các nước đang phát triển tại Châu Á đang tăng lên Do đó những nhu cầu về thức ăn chăn nuôi cũng đang tăng lên tại vùng này Có được những hiểu biết về chăn nuôi rồi sẽ tập trung vào mục tiếp theo
4 Ngành thức ăn chăn nuôi toàn cầu
Nhu cầu của toàn cầu đối với thức ăn chăn nuôi sẽ tăng và phụ thuộc vào tình hình kinh tế của một quốc gia, các nguồn lực, những quy định về kiểm dịch, sự bùng phát bệnh tật và sự phát triển của những ngành mới, điều này sẽ là khác nhau ở các vùng khác nhau Có một số lượng lớn dữ liệu có sẵn về ngành thức ăn chăn nuôi toàn cầu và để nghiên cứu sâu vào từng chủ đề này thì phụ thuộc vào phạm vi của nghiên cứu Tuy nhiên, một nghiên cứu tổng thể
về ngành thức ăn chăn nuôi cùng mới những chi tiết đặc trưng tập trung vào Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan và sẽ được đề cập trong phần tới
4.1 Toàn cảnh về ngành thức ăn chăn nuôi
Theo báo cáo của FAO (2004), khoảng 1.000 triệu tấn thức ăn cho động vật được sản xuất mỗi năm trên pham vi toàn cầu, bao gồm 600 triệu tấn thức ăn hỗn hợp (FAO 2004) Như năm 2004, hơn 80% số thức ăn này đã được sản xuất bởi 3.800 trạm nghiền thức ăn chăn nuôi, và 60% của tổng thức ăn chăn nuôi toàn thế giới là từ 10 quốc gia (FAO 2004) Như được thảo luận tại mục 10.1 dưới đây, sự cạnh tranh từ những ngành nhiên liệu sinh học đối với ngũ cốc cũng có thể tác động đến lĩnh vực thức ăn chăn nuôi
Thêm vào đó, giá của thức ăn chăn nuôi sẽ phụ thuộc vào sự tăng lên của sản xuất để bắt kịp nhu cầu Brazil đã chiếm lợi thế ngày càng tăng vì có chi phí sản xuất thức ăn thấp cho ngành chăn nuôi của mình và sẵn sàng tiếp tục là một nhà sản xuất quan trọng của ngành thực phẩm (Steinfeld và Chilonda 2006) Năm 2003, Brazil là nhà sản xuất thực phẩm lớn thứ 2 thế giới và cũng là nhà xuất khẩu đậu nành và bột đậu nành (NFPC 2003) Brazil cũng
là nhà sản xuất ngô lớn thứ 3 thế giới và đứng thứ 6 về kinh ngạch xuất khẩu trên thế giới (NFPC 2003) Nông nghiệp Brazil, chế biến thức ăn và marketing sản phẩm thức ăn nông nghiệp đều rất phát triển, được tổ chức tốt và rất cạnh tranh, đặc biệt là trong hoạt động thương mại quốc tế với sự thành công của ngành qua quá trình hội nhập, thương mại quốc tế của nước này chiếm 80% tổng sản xuất (NFPC 2003) Ví dụ Công ty Lar Agroindustrial Cooperative ở nằm ở phía Nam của Brazil khẳng định bản thân trên thị trường trong mặt hàng đậu nành, dầu và bột xay và các sản phẩm từ ngô, với 2 trạm nghiền thức ăn, một trạm nghiền sắn, một nhà máy chế biến rau, một đơn vị đóng trứng thương mại và một nhà máy chăn nuôi gia cầm (lĩnh vực lớn nhất của Công ty) với sở trường về các sản phẩm đã được nấu chín Công ty cũng đã xây dựng một trạm nghiền thức ăn giành riêng cho gà giò, là một phần của chương trình hợp tác cung cấp thông tin về sản phẩm đối với 388 nhà sản xuất (nằm trong phạm vi 40 km của nhà máy chế biến gia cầm), các doanh nghiệp này nhắm vào thị trường xuất khẩu (NFPC 2003) Chi phí vận chuyển thấp đối với tất cả các nhà sản xuất nằm trong phạm vi 40 km từ trạm nghiền thức ăn có hợp tác (NFPC 2003)
Trang 17Trong tương quan với Mỹ, các nước EU và Brazil, ngành chăn nuôi tập trung của Australia chỉ sử dụng hơn 10 triệu tấn thức ăn chăn nuôi hàng năm với hơn 50% là được sản xuất tại
120 trạm nghiền hoạt động liên kết với các nhà chăn nuôi và cá công ty chế biến thức ăn chăn nuôi thương mại (Spragg 2004) Do các điều kiện kiểm dịch nghiêm ngặt rất ít thức ăn chăn nuôi được nhập khẩu vào Australia và như được gián tiếp đề cập bởi Campbell (2006),
có sự ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng của ngành chăn nuôi ở đó
Sự đầu tư liên tục vào tất cả các nước của các Công ty lớn như Charoen Pokphand (CP) cũng
sẽ là rất quan trọng E-News (2007) báo cáo rằng CP đang lập kế hoạch xây một trạm nghiền với công suất 144.000 tấn/năm tại Lào để hỗ trợ cho hoạt động chăn nuôi gia cầm và lợn với công ty CP tại Lào của mình Nghề nuôi trồng thuỷ sản đang mở rộng đặc biệt là tại khu vực các nước Châu Á và điều này sẽ dẫn đến một nhu cầu tăng lên về thức ăn gia súc CP đang tăng cường lợi ích của mình tại các sản phẩm thức ăn cho thuỷ sản bằng cách bán các tài sản của nhà máy sản xuất thức ăn thuỷ sản tại Malaysia và đang tiến hành nhiều dự án nuôi trồng thuỷ sản tại Trung Quốc và đầu tư vào nghề nuôi cá tại Ấn Độ (E-News 2007)
Tóm lại, Brazil đang trở thành một nước tham gia nhiều vào thị trường thức ăn gia súc thế giới và ngành chăn nuôi động vật Có được sự hiểu biết sâu hơn về sự chuyển đổi ở cả 2 lĩnh vực ở nước này có thể đưa ra những thông tin liên quan cho Việt Nam Ở một thái cực khác Australia có một ngành chăn nuôi với quy mô nhỏ với những giới hạn về việc nhập khẩu thức ăn chăn nuôi Vấn đề thiếu hụt thức ăn chăn nuôi và giá cao sẽ là những nhân tố tác động quan trọng trong tương lai đối với ngành chăn nuôi ở đó Không chỉ quan trọng là có sự hiểu biết về điều gì đang xảy ra tại các nước khác nhau có liên quan đến việc sản xuất thức
ăn mà điều này cũng hữu dụng để biết đâu là một trong những lĩnh vực mà các công ty lớn
về thức ăn chăn nuôi đang lên kế hoạch tham gia và điều này sẽ được bàn đến nhiều hơn ở dưới đây
4.2 Việt Nam và sản xuất thức ăn chăn nuôi
Theo McCarty (2006), Việt Nam không có sự mất cân bằng đặc biệt về chính trị và kinh tế
và tính hợp pháp của nhà nước một đảng duy đang duy trì sức mạnh, dẫn tới tỷ lệ tăng cao của tăng trưởng kinh tế với những cố gắng đề ra để giải quyết những bất công bằng đang tăng (dân chủ cơ sở, chống tham nhũng, dân tộc thiểu số, phân quyền) Lời dự đoán an toàn
là chậm nhất là tới năm 2010 sẽ có sự tăng trưởng của GDP là 7%, nhiều hơn hoặc thấp hơn 2% do sự thay đổi của các biến ngoại sinh (McCarty 2006)
Từ khi bắt đầu quá trình Đổi mới vào năm 1986, đã có sự tăng trưởng ấn tượng về kinh tế tại Việt Nam, đặc biệt là trong nông nghiệp Livingstone 2000) Tình trạng của ngành nông nghiệp đã thay đổi một cách chóng mặt với sự khoán ruộng đất trong nông nghiệp theo Nghị Quyết số 10 năm 1988 của Đảng, điều này đã mang lại một sự giảm đói nghèo tuyệt đối một cách đáng kể nhưng không đều trên tất cả các vùng của đất nước (Livingstone 2000)
Số lượng lợn đã tăng lên và đặc biệt phổ biến ở Đồng bằng Sông Hồng, Khu Đông Bắc, Khu duyên hải Bắc Trung Bộ, và Đồng bằng Sông Mekông (Hall et al 2006) Vào năm 2004,
gia cầm là nổi bật tại Đồng bằng Sông Hồng, tiếp sau là Khu Đông Bắc và Khu
duyên hải Bắc Trung Bộ (Hall et al 2006) Sau thời gian bùng nổ dịch cúm gia cầm, hơn 15% đàn gia cầm của cả nước đã bị loại Mặc dù McCarty (2006) đã gợi ý rằng các
Trang 18chi phí kinh tế của bệnh dịch vì thế đã bị hạn chế tương đối, chúng có thể tăng lên đáng kể
với các chi phí kinh tế trực tiếp kết hợp với sự thiệt hại về đàn gia cầm và có nhiều tác động
gián tiếp lan rộng ra các ngành khác như là buôn bán gia cầm, nghiền thức ăn, các trang trại
chăn nuôi và cuộc sống Những thay đổi về cơ cấu tiếp tục vì những người nông dân hoặc là
tái tăng đàn dưới những điều kiện với của sản xuất hoặc chuyển sang các lĩnh vực khác (Hall
et al 2006)
Từ khi có sự ra đời của Luật đầu tư mới năm 1994, đầu tư vào ngành chăn nuôi đã tăng lên
chủ yếu là từ đầu tư của khu vực tư nhân (cả trong nước và nước ngoài) (IFPRI 2001) Do
máy móc và thiết bị lạc hậu, cũng như là các vấn đề về quản lý, Livingstone (2000) đã nghi
nhận rằng vào năm 1994, các trạm nghiền vỏ khô thuộc sở hữu nhà nước đã hoạt động ở
mức 20% công suất tuy nhiên sự tăng lên của các doanh nghiệp chế biến với quy mô nhỏ,
được xuất phát từ sự xuất hiện của các nhà doanh nghiệp, đã nhìn thấy sự xuất hiện của các
máy móc chế biến quy mô nhỏ Vào năm 1994, lượng tiêu thụ hang năm chỉ là 154.000 tấn,
với thức ăn thưong mại chiếm khoảng 25 % của tổng lượng thức ăn đậm đặc tiêu thụ, và
0.6% tổng lượng thức ăn và nguyên liệu thô được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi (IFPRI
2001)
Việc sản xuất thức ăn chăn nuôi đã tăng lên với tỷ lệ là 23% trong thời gian từ năm 1988 đến
1998 và tỷ lệ của việc tiêu thụ thức ăn thương mại đã tăng lên từ khoảng 1 đến 27% (IFPRI
2001) Đến năm 1999, việc sản xuất thương mại thức ăn chăn nuôi tại miền Nam Việt Nam
là khoảng 1.7 triệu tấn, với 10 trạm nghiền lớn nhất, trong đó 50% là thuộc sở hữu bởi khu
vực tư nhân ở địa phương, sản xuất gần 81% thức ăn chăn nuôi và việc sản xuất bởi các trạm
thuộc nhà nước là không đáng kể (IFPRI 2001)
Theo Tisdell và Wilson (2001), vào năm 2001, 2.6 triệu tấn thức ăn công thức giành cho vật
nuôi đã được cung cấp trực tiếp bởi các nhà chăn nuôi Việt Nam và 2.4 triệu tấn bởi các nhà
nghiền thức ăn thương mại (Bảng 4)
Bảng 4 Các nguồn của thức ăn chăn nuôi đã được công thức hoá giành cho chăn nuôi tại
Việt Nam năm 2001
Trực tiếp sản xuất bởi các nhà chăn nuôi 2.6 52
Các trạm nghiền sở hữu thuộc nước ngoài 1.4 28
Các trạm nghiền thuộc sở hữu nội địa 1.0 20
Nguồn: (Tisdell và Wilson 2001)
Theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tháng 5 năm 2004, đã có 196 nhà
sản xuất và trộn thức ăn chăn nuôi đang hoạt động tại Việt Nam, trong đó có 44 trạm nghiền
thức ăn chăn nuôi sản xuất thức ăn chăn nuôi trộn sẵn và 138 đến 152 trạm nghiền thức ăn
chăn nuôi, có 65 trạm nghiền thuộc về Hiệp hội sản xuất thức ăn chăn nuôi (Nguyen 2005)
Tại thời điểm đó, tổng công suất cảu các tạm nghiền thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam được ước
tính vào khoảng 5.4 triệu tấn với hầu hết các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi nằm ở phía nam
Việt Nam (Nguyen 2005) Các trạm này chiếm gần 43% số lượng tất cả các trạm nghiền trên
đất nước và gần 40% tổng lượng sản xuất thức ăn chăn nuôi (Nguyen 2005) Khu vực đồng
bằng Sông Hồng ở phía Bắc Việt Nam chiếm khoảng 26% số lượng trạm nghiềm và hơn
Trang 1935% lượng sản xuất (Nguyen 2005) Các hãng nghiền thức ăn chăn nuôi chủ chốt là Tập
đoàn CP (Thái Lan); Proconco (Pháp); Cargill (Mỹ); TTC (Đài Loan); New Hope (Trung
Quốc) và Tập đoàn Cheil Jedang (Hàn Quốc) cùng với một số các công ty Việt Nam như là
DABACO (Bắc Ninh), VINA, Thanh Bình, Long Châu (Đồng Nai), VIC (Hải Phòng), Hoàn
Duơng (Hà Nội), NOPICO An Khánh, Trạm nghiền thức ăn gia súc Ngọc Hồi, và AFIMEX
(An Giang) (Nguyen 2005)
Các công ty nước ngoài và các liên doanh thống trị lĩnh vực thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam
(Bảng 5) với nhà sản xuất lớn nhất là Proconco, một liên doanh giữa Việt Nam và Pháp,
công ty này đã được thành lập vào năm 1991 (Burch và Rickson 2006) Các doanh nghiệp
Việt Nam tham gia vào việc sản xuất thức ăn chăn nuôi cũng đã tăng lên đáng kể trong vòng
10 năm qua, tuy nhiên công suất của từng hãng thì vẫn còn nhỏ và ở khoảng 1.000 đến 5.000
tấn/năm (Burch và Rickson 2006Ít hơn một nửa thức ăn chăn nuôi được sản xuất ở nội địa là
từ các nguồn thương mại với phần còn lại bao gồm các phế thải gia đình và các nguồn khác,
và chủ yếu được dùng để nuôi lợn (Burch và Rickson 2006) ) Điều quan trọng là nhận ra
rằng thị phần trên được tính toán như là thị phần của lĩnh vực thương mại (Burch và Rickson
2006)
Bảng 5 Các hãng nghiền thức ăn gia súc đang thống trị sản xuất tại Việt Nam năm 2006
Công ty Công suất (tấn/năm) Thị phần
(%) Proconco (Liên doanh Pháp Việt) 600,000 15.5
CP Group (Thái Lan) 366,000 9.3
Japfa Comfeed (Indonesia) 150,000 (ước tính) 5.0
Nguồn: (Burch và Rickson 2006)
Burch và Rickson (2006) đã nhận thấy rằng trong khi tất cả các dữ liệu trên là đáng tin cậy
vào thời điểm viết nghiên cứu, cần phải có sự khuyến cáo bởi vì số liệu thống kê về thức ăn
chăn nuôi là đại diện cho công suất lắp đặt, trong khi thị phần của công ty được tính toán dựa
trên dữ liệu USDA đối với các mức sản xuất hàng năm Đó không phải là vấn đề khi mà tất
cả các công ty đều trải qua các điều kiện thị trường giống nhau, và tất cả đều hoạt động tại
các mức tận dụng công suất giống nhau tuy nhiên thị phần lại thay đổi theo thời giai vì các
công ty tiến hành những đầu tư mới (Burch và Rickson 2006)
Hiện nay, Việt Nam đang sản xuất khoảng 10 triệu mét khối thức ăn gia súc hang năm, với
33% là được sản xuất thương mại và phần còn lại được tự sản xuất tại gia bởi các nông dân
(Tran 2007) Theo Tran (2007), 3 trạm nghiền mới đã được đi vào hoạt động vào năm 2006
với mục tiêu giành một tỷ lệ lớn từ ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi tại gia đình mà hiện
nay nó đang chiến hơn 65% thị trường thức ăn chăn nuôi Thức ăn chăn nuôi được sản xuất
tại các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi, không giống như là thức ăn chăn nuôi được sản xuất
tại gia đình bởi các nông dân về lượng các sản phẩm từ rau và đồ ăn thừa, được lấy tứ từ các
chất đã được tiêu chuẩn hoá đây, trong đó ngô là thành phần đầu tiên (Tran 2007)
Trang 20Một cách cục bộ các doanh nghiệp chế biến với quy mô nhỏ đã mang lại lợi thế về trạng thái
ở gần kề cho các nông dân ở địa phương những người phải chế biến sản phẩm của họ (ví dụ gạo và đậu nành) cũng như là phải phân tán, những người tiêu dùng ở nông thông người mà mua bản phẩm (Livingstone 2000) Hall et al (2006) đã đồng ý rằng cũng có khả năng
giảm các chi phí của việc sản xuất thức ăn chăn nuôi với việc sử dụng ngày càng tăng lên những trạm nghiền thức ăn chăn nuôi ở địa phương với quy mô nhỏ bằng việc tạo ra sự tiếp cận ở địa phương tới thức ăn chăn nuôi với chất lượng và giá cả ổn định Thêm vào đó họ đã bảo vệ những hiểu biết ngày càng tăng lên về quản lý thức
ăn chăn nuôi và giảm thực phẩm chất lượng thấm và ghèo dinh dưỡng có sẵn ở địa phương (ví dụ một số nông dân nuôi lợn với quy mô nhỏ chỉ sử dụng thức ăn chăn nuôi là đồ thải trong gia đình) và do đó mà làm tăng tính cạnh tranh trong ngành chăn nuôi Livingstone (2000) gợi ý rằng có một cơ hội lớn cho việc sự hiện đại hoá ngành chế biến thông qua sự phát triển của chế biến được tiến hành bởi doanh nghiệp quy mô nhỏ Một lợi thế khác của các doanh nghiệp chế biến có quy mô nhỏ là chúng có thể có mặt ở địa phương, với doanh nghiệp chỉ là một góc cửa hàng, sự kết hợp của các hoạt động: xay gạo, trồng đậu nành, nghiền sắn, bóc vỏ lạc, bóc vỏ cà phê và thức ăn gia súc (Livingstone 2000) Tuy nhiên, Livingstone (2000) báo cáo rằng tín dụng có thể là một trở ngại lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs)
IFPRI (2001) khuyến cáo rằng các doanh nghiệp tư nhân ở địa phương có thể là quá nhỏ để
có thể cạnh tranh trong thời gian dài bởi vì các doanh nghiệp này chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trên thị trường thức ăn chăn nuôi cả nước khi so sánh với các trạm nghiền thuộc sở hữu nước ngoài Sự khác biệt về quy mô của các trạm nghiền nước ngoài và địa phương có thể được giải thích bằng sự thiếu tín dụng đối với việc mở rộng và xây dựng các trạm nghiền với các chi phí xây dựng là rất lớn khi phải tự bỏ vốn đối với các trạm nghiền tư nhân ở địa phương (IFPRI 2001) Kết quả là, tính sẵn có của vốn bị giảm cùng với dự thiếu cách tiếp cận với tín dụng đã thúc ép các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi xây dựng các trạm nghiền bé và thiếu hiệu quả (IFPRI 2001) Nếu như ngành thức ăn chăn nuôi tư nhân ở địa phương có tính cạnh tranh với các trạm nghiền thuộc sở hữu nước ngoại và thức ăn chăn nuôi được nhập khẩu trong thời gian dài thì cần phải kết hợp lại để làm tăng thị phần của nó trên thị trường thức ăn chăn nuôi ở địa phương (IFPRI 2001)
Thức ăn chăn nuôi được sản xuất bởi các trạm nghiền nước ngoài, tư nhân và nhà nước khác nhau về nhiều mặt bao gồm loại, chất lượng, giá sản phẩm (IFPRI 2001) Các trạm nghiền nước ngoài và các trạm nghiền lớn mới được xây dựng nhắm đích sản xuất và bán thức ăn đậm đặc, trong khi đó phần lớn các trạm nghiền tư nhân ở địa phương và thuộc sở hữu nhà nước thường sản xuất thức ăn toàn phần là chính (IFPRI 2001) Thức ăn gia súc được bán bởi các trạm nghiền thuộc sở hữu nước ngoài có mức protein cao hơn và gía bán cao hơn so với thức ăn gia súc cùng loại được sản xuất bởi các trạm nghiền tư nhân ở địa phương (IFPRI 2001) Kết hợp với tỷ lệ tận dụng công xuất thông thường cao hơn thông, có vẻ như
là các trạm nghiền tư nhân ở địa phương phần lớn là nhắm đích vào phần thấp hơn còn lại của thị trường bằng cách bán một lượng lớn hơn thức ăn chăn nuôi với chất lượng thấp hơn
và rẻ hơn cho các nhà chăn nuôi (IFPRI 2001) Trong khi chiến lược này có thể là phù hợp nhất đối với các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi ở thời điểm đó, các điều kiện thị trường được đưa ra, vì nhu cầu đối với thức ăn chăn nuôi chất lượng cao tăng, các máy xử lý thức ăn chăn nuôi của các tư nhân ở địa phương tính toán rủi ro của việc hoặc là nhắm đích một thị trường ngách nhỏ, đang bị thu hẹp đối với thức ăn chăn nuôi có giá rẻ hơn và chất lượng thấp hơn,
Trang 21hoặc là họ sẽ cần tăng một cách ổn định đầu tư của mình để thành công rực rỡ với các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi quy mô lớn (IFPRI 2001)
Trong khi chất lượng, cung và cầu thức ăn chăn nuôi thương mại đều đang tăng và giá cả lại đang giảm, ngành này bị tác động bởi một số vấn đề mà các vấn đề này đang kìm hãm sự phát triển của một ngành thức ăn chăn nuôi giàu có, có lãi và đang tác động sự thừa nhận thức ăn chăn nuôi thương mại của các nhà sản xuất (IFPRI 2001) Giá cả đối với thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam là cao hơn bởi các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là đối với các nguyên liệu thô giầu protein như là ngô và đậu nành (IFPRI 2001) với với ví dụ Mỹ đang có một lợi thế về các chi phí của thức ăn chăn nuôi (Hall et al 2006) Các loại thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam thường đắt hơn so với các nước trong vùng từ 20 đến 25% (Hall et al
2006) Ví dụ, thức ăn toàn phần giành cho lợn vỗ béo ở Việt Nam thì cao hơn khoảng 28% đối với ở Malaysia trong đầu năm 2000, và thức ăn mới bắt đầu cho gà giò là khoản 285 đô la Mỹ ở Việt Nam, và khoảng 213 đô la Mỹ ở Malaysia (IFPRI 2001) Góp phần làm cho chi phí của các nguyên liệu thô giầu protein cao hơn bao gồm các nhân tố kết hợp với sự sản xuất ở địa phương còn hạn chế, sản lượng thấp, và các loại thuế nhập khẩu (IFPRI 2001) Thức ăn thương mại ở Việt Nam hoạt động như là một một thị trường không có người thống trị, với rất ít người tham gia và sở hữu bị thống trị bởi nước ngoài với nhân công lao động chất lượng tốt hơn và các chi phí đầu tư cao hơn là khu vực nội địa (Hall et al 2006) Các trạm nghiền địa phương cung cấp gần 4.6 triệu tấn (40% tổng nhu cầu), và hơn 60% các nguyên liệu thô của thức ăn chăn nuôi là được nhập khẩu hang năm (Hall et al 2006)
Lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các nguyên liệu được nhập khẩu và trong quá khứ việc nhập khảu thức ăn chăn nuôi chủ yếu là protein, với nhu cầu năng lượng được cung cấp ngay tại địa phương (Tran 2007) Như được bàn bởi Livingstone (2000), việc đưa ngô vào Việt Nam vào năm 1996 tới các khu vực nghèo đã chuyển lĩnh vực thức ăn chăn nuôi đang có ý nghĩa rất bình thường ở khu vực này thành một
cơ sở thúc đẩy sự phát triển của chăn nuôi Tuy nhiên, trong những năm qua, việc nhập khẩu thức ăn, đặc biệt là ngô, đã phát triển mạnh mẽ bởi vì nhu cầu đối với việc sản xuất thức ăn chăn nuôi tiếp tục vượt lên trên việc cung cấp các loại hạt làm thức ăn chăn nuôi ở địa phương (Tran 2007) Việc sản xuất thức ăn chăn nuôi chiếm 80% tổng lượng tiêu thụ ngô ở Việt Nam với kim ngạch nhập khẩu năm 2006 tăng gần 200% so với năm 2005 do nhu cầu tăng (Tran 2007)
Vào năm 2006, Việt Nam đã trở thành một nước nhập khẩu hàng đầu về ngô từ Thái Lan với
số liệu được báo cáo bởi Hải quan Thái Lan là 125.000 tấn trong tổng số 306.000 tấn ngô được xuất khẩu từ Thái Lan vào năm 2006 là được nhập vào Việt Nam (Tran 2007) Các nguồn tin về công nghiệp tại Việt Nam đánh giá rằng con số trên có thể là 300.000 tấn, bởi vì
số liệu của hải quan không tính đến số container được vận chuyển hoặc chuyển tải qua Campuchia và Lào (Tran 2007) Argentina cũng tăng thị phần của mình từ 141.000 tấn vào năm 2005 lên 186.000 tấn vào năm 2006 Tuy nhiên Trung Quốc đã giảm 28% từ xuất khẩu năm 2005 (Tran 2007)
Hall et al 2006) đã nhận thấy rằng Việt Nam có một bất lợi thế cạnh tranh rất lớn về việc
trồng ngô và đậu nành do các nhân tố như: các điều kiện sinh thái học không thích hợp; cạnh tranh với các loại cây trồng có giá trị cao; đất đai không phù hợp; và không có đa dạng sinh
Trang 22học Kết quả là, các nhân tố này dẫn đến giá cả của thức ăn chăn nuôi thay đổi giữa miền
Bắc và miền Nam Việt Nam (Bảng 6) Để cải thiện tình hình này, Hall et al (2006) kiến
nghị rằng chính sách cần phải kết hợp các yếu tố khác mà có thể tác động đến sự phát triển
của cơ sở hạ tầng (đường xá, giao thông vận tải) tại các khu vực mà xét về mặt kinh tế là
thích hợp hơn đối với trồng ngô và đậu nành để hướng vào thị trường thức ăn gia súc
Bảng 6 Giá thức ăn chăn nuôi (2006) tại miền Bắc và miền Nam Việt Nam đối với một vài
nhóm vật nuôi và các giai đoạn chăn nuôi
Nhóm vật nuôi và các giai đoạn chăn
Miền Bắc
Miền Nam
Giá thức ăn cho lợn (VND/kg)
Bắt đầu (1-15 kg) 7724 7048 8400
Tiền trưởng thành (15-30 kg) 4305 4341 4200
Trưởng thành (30-60 kg) 4020 4140 3900
Kết thúc (60- off take) 3723 3596 3850
Lợn nái nuôi con 4168 4136 4200
Giá thức ăn cho gà (VND/kg)
Nguồn: (Hall et al 2006)
Với việc phải cạnh tranh giành đất từ công nghiệp, đất ở, và đất trồng các loại cây có giá trị
cao khác ngoài vật nuôi, câu trả lời là không đơn giản vì việc phân lại vung đất cho các mục
đích sản xuất thức ăn chăn nuôi (Hall et al 2006) Họ nhận ra rằng giá của thức ăn chăn nuôi
đang giảm theo sự suy giảm của các loại thuế giá trị gia tăng đánh vào thức ăn chăn nuôi
được nhập khẩu Tuy nhiên, Tran (2007) ghi nhận rằng các loại thuế thấp này tiếp tục gây áp
lực đối với giá nội địa, và điều này có thể dẫn tới sự tăng trưởng chậm hơn về sản xuất trong
các năm tới Có thể có sự tăng trưởng tiếp theo của sản lượng địa phương vào các năm tiếp
theo, tuy nhiên cạnh tranh từ ngô được sản xuất tại các nước có ít trở ngại đất đai và với khí
hậu tốt hơn cho việc trồng ngô chắc chắn sẽ có những tác động tiêu cực tới việc trồng ngô
của Việt Nam trong những năm tiếp theo (Tran 2007) Những hạn chế về cơ sở vật chất để
dự trữ và xử lý hạt cũng là các nhân tố tác động tới sự tăng trưởng trong tương lai (Tran
2007)
Trang 234.3 Việt Nam - Một trường hợp nghiên cứu lĩnh vực thức ăn chăn nuôi
Trong thời gian đầu Tháng Tám năm 2007, nhiều chuyến đi thực tế đã được tiến hành tại các khu vực xung quanh Hà Nội tại Việt Nam để tìm hiểu về lĩnh vực thức ăn chăn nuôi ở đó Một trạm nghiền có quy mô lớn thuộc sở hữu nước ngoài và một trạm nghiền nhỏ nội địa đã được đến thăm cùng với một doanh nghiệp trộn thức ăn chăn nuôi nhỏ và một trang trại nhỏ nơi sử dụng thức ăn chăn nuôi Tổng kết dưới đây sẽ cung cấp một cái nhìn về cách các doanh nghiệp này hoạt động2
Nhà máy thuộc sở hữu nước ngoài bắt đầu hoạt động vào năm 2002 và thuê 118 lao động
Họ sản xuất cả thức ăn đậm đặc và thức ăn toàn phần với 75% lượng thức ăn được sản xuất
là giành cho lợn và 25% là cho gia cầm Họ có 3 hệ thống sản xuất sản xuất thức ăn chăn nuôi (một là cho gia cầm, một cho lợn con và một cho lợn trưởng thành) và làm việc 2 ca, mỗi ca từ 8 đến 9 tiếng Giữa 2 ca họ tắt máy để bảo dưỡng và lau dọn Sản lượng là 30 đến
40 tấn/năm Họ sẽ tăng công suất nếu nhu cầu thức ăn chăn nuôi tăng tuy nhiên hiện nay họ đang sản xuất để đáp ứng nhu cầu Trong thời gian từ Tháng 8 đến Tháng 12 họ sản xuất tăng hơn vì nhu cầu là cao hơn Dự thay đổi nhẹ về nhu cầu trong năm tại Việt Nam là khác với Trung Quốc Nhu cầu từ Tháng 8 đến Tháng 11 tại Trung Quốc tăng nhiều do Tết Trung thu và Quốc Khánh Họ chỉ bán cho đại lý và không bán trực tiếp cho nông dân và không có khách hàng tại khu vực miền núi Họ không có bất kỳ nông dân nào ký hợp đồng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã hỏi tại sao họ không bán trực tiếp cho nông dân Gần như bởi vì là nông dân nghèo và đại lý trả họ tín dụng Đại lý phải trả cho công ty và điều này thì tốt hơn là cố gắng thu tiền từ nông dân
Trạm nghiền thức ăn nội địa bắt đầu sản xuất tại Việt Nam vào năm 1996 như là một công ty liên kết giữa tư nhân và nhà nước (Nhà nước sở hữu 45%, tư nhân sở hữu 55%) Có 4 công ty tại Miền Bắc Việt Nam và 2 công ty tại miền Nam Việt Nam và họ có Chứng chỉ về hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 Công ty sản xuất thức ăn toàn phần và thức ăn đậm đặc (đóng túi) và họ cũng có hợp đồng với người căhn nuôi gia cầm và lợn (tất cả nhu cầu thức
ăn chăn nuôi của những người này sẽ được họ cung cấp) Tổng sản lượng thức ăn cho lợn, gia cầm, cá và gia súc là vào khoảng 250.000 tấn/năm với 95% là được đóng thành dạng viên Trong đó, toàn bộ hợp chất khẩu phần ăn chiếm 85% tổng sản lượng với 15% là thức
ăn đậm đặc (nông dân thêm các loại hạt và các thức ăn khác nữa) Thức ăn cũng được cung cấp cho các đại lý để phân phối tới nông dân Trong khi bàn luận cần nghi nhớ là một sự thiếu hụt về đầu vào đang hạn chế sự tăng trưởng của công ty Ngô được nhập khẩu chủ yếu
từ Trung Quốc nhưng kiến nghị là ngô của Việt Nam có chất lượng tốt hơn và do đó Công ty
sẽ chỉ nhập khẩu ngô khi mà không có ở Việt Nam Tất cả đậu nành là được nhập khẩu từ Argentina, Brazil, Mỹ và Ấn Độ Đầu vào được mua dựa trên giá và chất lượng Trạm nghiền thức ăn có đủ khả năng dự trữ trong 8 tháng tuy nhiên nhận ra rằng việc dự trữ đầu vào cũng có thể là đắt đỏ phụ thuộc vào giá được trả cho họ Công ty đã tiếp cận một phóng thí nghiệm trên thực địa để kiểm tra chất lượng của đầu vào và đầu ra (ví dụ là protein, chất béo, độc tố, nấm, năng lượng và độ ẩm)
Một ví dụ về một doanh nghiệp nhỏ trộn thức ăn gia súc ngay ngoài Hà Nội trộn 100 tấn thức ăn đậm đặc/tháng và không sản xuất thức ăn toàn phần Điều này tương đương với 4 đến 5 tấn/ngày và việc sản xuất tăng nếu nhu cầu tăng Việc kinh doanh gặp một vấn đề là tìm kiếm đầu vào và không có nhiều không gian để dự trữ nhưng cố gắng mua hàng hoá đầu vào chất lượng tốt để bảo đảm rằng đầu ra sẽ có chất lượng cao Các trở ngại bao gồm việc
2 Chi tiết của các chuyến thăm này được dựa vào sự giải thích của tác giả tài liệu dịch
Trang 24thiếu không gian và chi phí sản xuất đã tăng lên gấp đôi kể từ khi sản xuất bắt đầu 5 năm trước đây, mặc dù là giá đầu ra không răng Công ty bán hàng cho đại lý cung cấp hàng ở các vùng núi sâu xa Công ty kiểm tra chất lượng bằng việc sử dụng các thí nghiệm và có chuyên gia kiểm tra chất lượng sản phẩm đầu ra Chi phí là 110.000 VND(6.90 USD)3/thí nghiệm về protein Hầu hết các trạm nghiền thức ăn nhỏ phải trả 100.000 VND (6.25 USD) để có được một thí nghiệm được tiến hành bởi Sở Nông nghiệp cho một năm (mặc dù là người giám đốc không biết là thí nghiệm này được tiến hành ở đâu) Ví dụ thí nghiệm thể hiện lượng protein
và độ ẩm và kiểm tra xem là nhãn hàng có đúng hay không Công ty sẽ bị phạt nếu dán nhãn sai tuy nhiên đó không phải là vấn đề lớn và khách hàng không phát hiện ra Kết quả là dù lượng thành phần trong hỗn hợp và không chỉ hỗn hợp đã thay đổi nhưng sẽ là vấn đề vì nếu lượng protein trong đầu vào thấp thì nó sẽ thấp ở đầu ra Không có việc tham nhũng đi cùng với những hình phạt này bởi vì khoản tiền phạt phải được nộp đến sở khác phụ trách vấn đề này
Một hộ gia đình với 1.700 con gà đẻ trứng chỉ ở ngay gần Hà Nội là một ví dụ về người mua thức ăn chăn nuôi Bàn luận được tập trung xung quanh giá của thức ăn khi mà nó được ghi nhận là giá đã tưng từ 90.000 VNĐ(5.26USD)/túi 25 kg vào năm 2006 lên 113.000 VNĐ (7.06 USD)/túi vào năm 2007 Thức ăn chăn nuôi được mua từ nhà sản xuất Dr Nupak (một công ty của Đài Loan cách Hà Nội khoảng 60 km) bởi vì có một thoả thuận làng sẽ mua thức
ăn chăn nuôi từ nhà cung cấp này, nó rẻ hơn các loại thức ăn khác và chất lượng là chấp nhận được Tuy nhiên đã có nhận thức được rằng hang Concord sản xuất thức ăn tốt nhất cho
gà và hang CP sản xuất thức ăn tốt nhất cho lợn nhưng giá thì quá cao
4.4 Trung Quốc và việc sản xuất thức ăn chăn nuôi
Trung Quốc là nước sản xuất lợn lớn nhất thế giới (Bảng 3) với các trạm nghiền thứ ăn được đặt một cách điển hình tại các khu vực chăn nuôi bởi vì việc vận chuyển và cơ sở hạ tầng có
liên quan là rất nghèo nàn (Crook et al 1999) Den Hartog (2005) đã đưa ra rằng vì Trung
Quốc tiếp tục tăng sản xuất thịt lợn, hơn 50% lượng thịt lợn được sản xuất trên thế giới trong tương lai là sẽ được sản xuất tại nước này
Khi Đảng Cộng sản lên nắm quyền tại đại lục năm 1949 thì vào thời điểm này Trung Quốc không có một ngành thức ăn chăn nuôi hiện đại và cơ khí hoá và sự phát triển đã không thực
sự diễn ra ở lĩnh vực này cho tới giữa những năm 1950 khi mà các nhà lãnh đạo Đảng Cộng
sản tập thể hoá nông nghiệp (Crook et al 1999) Các chính sách của chính phủ và thiếu sự
khuyến khích đối với các nhà sản xuất đã dẫn đến kết quả là tại các trạm nghiền gạo có quy
mô lớn của họ việc sản xuất cám gạo để làm thức ăn chăn nuôi diễn ra ở mức độ thấp (Crook
et al 1999) Từ năm 1976 đến 1985, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã chuyển chính sách cơ
bản của họ từ phụ thuộc chủ yếu vào kế hoạch trung ương, hạn chế hoạt động ngoại thương
và nhấn mạnh trọng tâm vào khả năng của bản thân sang dựa chủ yếu vào các thị trường, mở rộng ngoại thương, và sẵn sàng chấp nhận những ý kiến, kỹ thuật, thể chế, và kỹ thuật từ
phần còn lại của thế giới (Crook et al 1999) Kết quả là, chăn nuôi đã tăng lên và do đó, nhu cầu đối với thức ăn gia súc được sản xuất cũng tăng lên (Crook et al 1999)
Thêm vào đó Công xã nhân dân đã được thay thế bằng chính quyền ở các quận, huyện và các hợp tác xã kinh tế ở làng và nông dân đã được thuê các thửa đất trong thời gian dài, đã được bảo đảm nhiều hơn cho sự linh hoạt trong việc ra quyết định kinh tế của họ, và đã được
3 Tất cả các quy đổi trong mục này được tính theo tỷ giá 1USD=16.000 VND
Trang 25khuyến khích tối đa hóa thu nhập của mình (Crook et al.1999) Những điều này đang thay
đổi ở tầm trang trại, bên cạnh việc tư nhân hoá hoạt động trồng trọt, đã làm cho các gia đình
ở nông thôn có kiếm được và duy trì lợi nhuận từ việc chăn nuôi (Crook et al.1999) Các hệ
thống marketing cũng đã thay đổi và các thị trường nông thôn và thành thị cũng đã được mở cửa, tạo cho nông dân một nguồn mua thức ăn chăn nuôi và một lối ra cho việc đưa ra thị
trường các sản phẩm từ động vật (Crook et al 1999) Việc dỡ bỏ những hàng rào thương mại
và du lịch đã cho phép các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi nhập khẩu những nguyên liệu chính, kỹ thuật và thiết bị cũng như là các kỹ thuật gia từ Trung Quốc đã được phép đi ra nước ngoài để học hỏi làm quen với nhữn công nghệ nghiền thức ăn gia súc hiện đại hiện
nay (Crook et al 1999) Các hãng nước ngoài cũng được mời kết hợp với các thành phần kinh tế ở Trung Quốc để thành lập các nhà máy nghiên thức ăn gia súc hiện đại (Crook et al
1999) Ngành thức ăn chăn nuôi ở Trung Quốc, thực tế không tồn tại vào năm 1975, đã lớn
mạnh trong 2 thập kỷ và trở thành một trong những nhà sản xuất lớn nhất thế giới (Crook et
al 1999) Chính phủ đã giữ một vai trò chủ động, bằng cách ban hành kế hoạch hàng năm và
có tầm xa cho lĩnh vực thức ăn chăn nuôi, xây dựng và vận hành hang nghìn trạm nghiền thức ăn của mình, cho phép việc gián đoạn nộp thuế và đầu tư tài chính cho các trạm khác,
và khuyến khích các hang nước ngoài đầu tư vào các liên doanh (Crook et al 1999) Đầu ra
thức ăn chăn nuôi tăng lên từ gần như là con số không vào năm 1975 lên hơn 66 tỷ tấn vào năm 1998, đang mở rộng song song với sự tăng nhanh của sản lượng lợn và gia cầm (Crook
et al 1999)
Vào cuối những năm 80, các cơ quan của Chính phủ đã vận hành hơn 60% số lượng các trạm nghiền và mặc cho sự tăng lên nhanh chóng của các trạm nghiền tư nhân, vào năm 1997 các
cơ quan này vẫn chỉ sở hữu có 37% các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi ở Trung Quốc (Crook
et al 1999) Vào cuối những năm 1990, trong phạm vi của Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn, các trạm nghiền được điều hành ban đầu bởi Vụ Trang trại nhà nước (để cung cấp cho các trang trại thuộc sở hữu nhà nước), Vụ Thuỷ sản (để cung cấp cho ngành nuôi cá) và
vụ Chăn nuôi với Bộ Thương mại, chuyên môn hoá vào sản xuất thức ăn chăn nuôi hỗn hợp
(Crook et al 1999) Bộ hoá chất và Văn phòng dược tiến hành các hoạt động về thức ăn chăn
nuôi và Bộ Cơ khí, thường xuyên kết hợp với các thực thể khác, vận hành các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi để nắm được thực tế về hoạt động sản xuất thức ăn chăn nuôi phục vụ cho
việc sản xuất các thiết bị nghiền thức ăn chăn nuôi (Crook et al 1999) Bộ Ngoại thương đã
hợp tác với các hãng nước ngoài để xây dựng các liên doanh nghiền thức ăn chăn nuôi, và các đơn vị quân đội đã cùng nhau tiến hành chăn nuôi và quản lý các trang trại để cung cấp
thực phẩm cho quân nhân và đến năm 1996 họ đã có 50 trạm nghiền thức ăn (Crook et al
1999)
Các trạm nghiền theo mô hình hợp tác xã ở vùng ngoại ô và các làng thì thường được gọi là Các doanh nghiệp làng xã (TVEs), và được sở hữu tập thể bởi các nông dân và được quản lý
trên danh nghĩa bởi các công chức từ Bộ Nông nghiệp (Crook et al 1999) Trong những năm
80, rất nhiều các Doanh nghiệp làng xã nhỏ, không hiệu quả chống lại các áp lực cạnh tranh, các giám đốc của các doanh nghiệp mà còn tồn tại được thì đều là những người có năng lực
về tổ chức và sản xuất (Crook et al 1999)
Tại Trung Quốc, các trạm nghiền thức ăn có thể được phân chia thành 3 loại sở hữu: nhà nước; tập thể; và tư nhân, tư nhân thì bao gồm các liên doanh của tư nhân và liên doanh của nhà nước và tập thể, sở hữu đơn lẻ, và các loại sở hữu khác; và sở hữu nước ngoài gồm liên doanh giữa Trung Quốc và nước ngoài, các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi được đầu tư bởi
Trang 26Hồng Kông, Macao, và Đài Loan, và các trạm nghiền chỉ thuộc sở hữu nước ngoài (Fabiosa 2005) Xu hướng tư nhân hoá trong lĩnh vực này diễn ra rất nhanh chóng vào thập kỷ 90 (Fabiosa 2005) Tỷ lệ các trạm nghiền thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu tập thể đã giảm xuống còn là gần một nửa, tỷ lệ các trạm nghiền thuộc sở hữu tư nhân tăng từ 7 lên đến 45% trong cùng khoảng thời gian (Fabiosa 2005) Cần phải chú ý rằng mặc dù số lượng các trạm nghiền thuộc sở hữu nước ngoài là thấp so với tổng số các trạm nghiền, nhưng sản lượng đầu
ra của các hãng này có thể cao hơn bởi vì các trạm nghiền thuộc sở hữu nước ngoài thường
có quy mô lớn (Fabiosa 2005)
Các liên doanh và các hãng nước ngoài (chủ yếu là từ Thái Lan, Mỹ, Nhật Bản, Anh, và từ các vùng của Hồng Kông và Đài Loan) đã có ảnh hưởng to lớn đến các trạm nghiền thuộc sở hữu nhà nước và các hợp tác xã nghiền thức ăn chăn nuôi bởi việc xâm nhập các công thức
mới, các kỹ thuật nghiền, các cách quản lý và thực tế làm thị trường (Crook et al 1999) Hai
hãng dẫn về thức ăn chăn nuôi được phân phối trên phạm vi cả nước là CP (một liên doanh với nhà sản xuất Thái Lan) và Tập đoàn Hope (một công ty nội địa sở hữu nhiều trạm
nghiền) với một thị phần gộp vào là vào khoảng 15% vào năm 1998 (Crook et al 1999)
Bằng việc tăng sự cạnh tranh trong nội bộ ngành, các hãng nước ngoài và các liên doanh đã tạo ra một môi trường mà trong đó cả các trạm nghiền thuộc nhà nước và các trạm nghiền
hợp tác đều có ưu đãi lớn để đạt hiệu quả hơn (Crook et al 1999) Crook et al (1999) cũng
tin rằng ngành thức ăn chăn nuôi đã có tiềm năng để mở rộng nhanh, bởi vì Trung Quốc vừa sản xuất, vừa xuất khẩu máy nghiền thức ăn chăn nuôi
Từ khi Chính phủ Trung Quốc can thiệp vào cả hoạt động mua bán hạt và đậu nành trong nước và quốc tế, một vài trạm nghiền liên doanh và thuộc sở hữu nước ngoài đã gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các nhà cung cấp nguyên liệu thô đáng tin tưởng và do đó nhiều trạm nghiền thuộc sở hữu nước ngoài và liên doanh đã tập trung vào sản xuất các chất bổ
sung thêm vào đã được trộn sẵn (Crook et al 1999) Họ bán các loại nguyên liệu đắt đỏ và
công nghệ cao này cho các trạm nghiền địa phương và các trang trại có quy mô lớn để trộn
chúng với các loại bột của các loại hạt có dầu và các loại hạt (Crook et al 1999)
Nguồn: Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, Văn phòng quốc gia ngành thức ăn chăn nuôi
Ban nghiên cứu kinh tế, USDA (Từ Crook et al 1999)
Hình 1 Các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi thuộc sở hữu tư nhân ở Trung Quốc đang mở
rộng
Trang 27Vào cuối những năm 90, thức ăn chăn nuôi ban đầu được bán qua các cửa hàng ở địa phương, mặc dù một số trạm nghiền cũng bán trực tiếp cho các công ty chăn nuôi có quy mô
lớn (Crook et al 1999) Những khác biệt về thành phần nguyên liệu giữa các nhãn hàng là ít,
và các cửa hàng bán hàng của 2 hãng (Crook et al 1999) Mặc dù các nhà sản xuất thức ăn
chăn nuôi không sở hữu một cửa hàng bán lẻ nào, một vài trạm nghiền có quy mô lớn cũng
tổ chức các buổi hội thảo để đào tạo cho nông dân, nêu lên nhữn lợi ích của việc chăn nuôi
với một chế độ dinh dưỡng cân bằng (Crook et al 1999) Nhân viên của các cửa hàng bán
thức ăn chăn nuôi ở địa phương, được bổ sung kiến thức bởi những người tiến hành hội thảo,
đã thay thế một cách rộng rãi những đại lý thuộc sở hữu của nhà nước trong việc giải thích công nghệ chăn nuôi Rất nhiều trạm nghiền sử dụng đại diện để môi giới các hợp đồng bán hàng với các cửa hàng bán thức ăn chăn nuôi ở địa phương, và thỉnh thoảng với các những nhà chăn nuôi lớn, đề xuất một kế hoạch cung cấp dịch vụ toàn diện với các điều kiện về tín
dụng (Crook et al 1999) Do sự suy giảm nhanh gần đây của giá các sản phẩm từ động vật,
việc thu tiền thức ăn chăn nuôi đang trở thành vấn đề và do đó phần lớn các cửa hàng thức ăn chăn nuôi ở địa phương và phần lớn các nông dân ít được tiếp cận với tín dụng ngân hàng, những người đang phải đối mặt với những khó khăn về tài chính thường được phép gia hạn
thanh toán một thời gian (Crook et al 1999)
Do đó, thích hợp để kết luận rằng việc sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Trung QUốc đang có định hướng đầu ra theo địa bàn (Fabiosa 2005) Việc định hướng đầu ra của các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi có thể được giải thích bởi thực tế là có nhiều liên kết dọc quan trọng tribg việc sản xuất thức ăn chăn nuôi hơn là trong việc sản xuất hạt làm thức ăn chăn nuôi (Fabiosa 2005) Ví dụ, rất nhiều nhà nuôi lợn với quy mô lớn vận hành các trạm nghiền của riêng họ với thức ăn sản xuất ra còn dư được bán cho những nhà nuôi lợn hoặc nuôi gia cầm khác (Fabiosa 2005)
Dữ liệu chính thức của Trung Quốc chỉ ra rằng việc sản xuất của Trung Quốc chỉ là hơn 46 triệu tấn thức ăn hỗn hợp tại các trạm nghiền công nghiệp trong 9 tháng đầu năm 2006 với thức ăn trộn trước thêm vào là 15,4 triệu tấn và các chất bổ sung là hơn 3 triệu tấn dẫn đến sự suy giảm gần 3% so với cùng kỳ năm 2005 (E-News 2007) Thêm vào đó, nhà sản xuất thức
ăn chăn nuôi lớn nhất của Trung Quốc là tập đoàn New Hope, đang nhắm đích trở thành một công ty hội nhập tầm cỡ thế giới với trọng tâm tập trung vào kinh doanh chăn nuôi (hiện nay
nó đang thu lợi nhuận từ hoạt động chế biến lợn và gia cầm), và loại bỏ những lĩnh vực kinh doanh không cơ bản như là hoá chất (E-News 2007)
4.5 Thái Lan và việc sản xuất thức ăn chăn nuôi
Trong những năm 1960 và 1970, phần lớn dân số của Thái Lan tiến hành hoạt động nông nghiệp và nông nghiệp chiếm 36% GDP (Hanpongpandh 2001) Vào những năm cuối thập
kỷ 90, tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn hơn 10% mặc dù 50% lực lượng lao đọng vẫn hoạt động trong nông nghiệp (Hanpongpandh 2001) Những giới hạn vật chất của đất có thể trồng trọt được, tuy nhiên, đã buộc Thái Lan phải chuyển từ những hệ thống nông nghiệp theo quy
mô sang những hệ thống nông nghiệp theo chuyên sâu với việc đầu tư công, bao gồm đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và với đầu tư tư nhân tập trung vào phát triển nông nghiệp và sử dụng những đầu vào có giá trị cao (Hanpongpandh 2001)
Để tăng tăng giá trị của sản phẩm nông nghiệp, và do đó tăng doanh thu, và để giảm rủi ro và
sự bất định trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, nông công nghiệp đã ra đời, đầu tiên để
Trang 28cung cấp cho thị trường nội địa, và thứ hai là để cung cấp cho nhu cầu tại nước ngoài (Hanpongpandh 2001).Theo Hanpongpandh (2001) sự nhấn mạnh quá mức vào tăng trưởng thiếu cân bằng đã làm ghèo các làng ở ven đô mà các làng này cũng có quyền được hưởng sự thịnh vượng của đất nước và do vậy đã hướng sự chú ý của những nhà lập kế hoạch ở tầm vĩ
mô trừ sản xuất quy mô lớn sang các cơ sở nhỏ hơn
Các ngành có quy mô nhỏ và vừa đã được đẩy mạnh và tạo nên một nhóm chính của ngành công nghiệp với các thoả thuận ký kết hợp đồng phụ giữa các hãng có điểm tương đồng và các ngành có quy mô vừa và nhỏ đang trở nên phổ biến trên thị trường (Hanpongpandh 2001) Do đó OECF (hiện nay là Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản hay JBIC) cũng đã
mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong năm 2000, một chương trình mang tên Tiêu chuẩn chất lượng sản xuất nông nghiệp và Cải tiến quản lý đã được tài trợ bởi Chương trình tín dụng nông nghiệp của Ngân hàng phát triển châu Á (ASPL) đã cho phép nhiều sáng kiến về nhà máy nông công nghiệp được bắt đầu (Hanpongpandh 2001) Ví dụ là các dự án xây dựng các trạm nghiền gạo, các nhà máy hun khói cây để làm đồ mỹ nghệ và các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi (Hanpongpandh 2001) Tám chợ hợ tác trung tâm khu vực, hai trong mỗi 4 khu vực là được thiết kế để hoạt động như là các cửa hàng bán lẻ vùng cho tất cả 770 chợ hợp tác trung tâm ở mức gần quận (Tambon) rải rác khắp đất nước (Hanpongpandh 2001) Tăng trưởng trong sản xuất nông công nghiệp và xuất khẩu cùng với sự trỗi dậy của các nhà sản xuất các sản phẩm nông công nghiệp tư nhân ở quy mô vừa và nhỏ cũng đã mang lại cho các gia đình ở khu vực nông thôn
cơ hội được tham gia như là những người ký hợp đồng với các nhà sản xuất (Hanpongpandh 2001)
Một ví dụ về nhà sản xuất thịt gia cầm và các sản phẩm thức ăn chăn nuôi gia súc với quy
mô lớn là Charoen Pokaphand (thường được biết đến với tên viết tắt là CP), Công ty này đã
có ảnh hưởng trên toàn Thái Lan (Hanpongpandh 2001) Thêm vào đó, công ty này đã vận hành nhiều tập đoàn kinh doanh đa dạng các sản phẩm công nông nghiệp trên hơn 20 quốc gia bao gồm Myanmar, Campuchia, và Việt Nam (Hanpongpandh 2001) Lĩnh vực hoạt động của công ty là gia súc và cá; thức ăn cho gà và lợn; thiết bị và thuốc cho động vật; nuôi gà giò; khuyến khích nuôi gà; và hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thức ăn chăn nuôi động vật (Hanpongpandh 2001) Sản xuất thức ăn chăn nuôi là một trong những hoạt động chính của CP với hơn 100 nhà máy ở Trung Quốc, chỉ dưới 20 tại Thái Lan cũng như là nhiều nhà máy mới tại các nước láng giềng tiểu Vùng Sông Mekong (Hanpongpandh 2001)
Như được kiến nghị bởi Hanpongpandh (2001) ngoài Cp, nhiều công ty sản chế biến thức ăn với quy mô lớn và vừa đã xuất hiện và bao gồm cả các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi 9xem Phụ lục 1) Các hãng nông công nghiệp lớn và vừa này đã đóng góp cho khu vực nông thôn bằng việc tăng sử dụng lao động ở nông thôn, những người mà làm việc cho họ và những người có liên quan đến các hợp đồng ký kết với các trang trại (Hanpongpandh 2001)
Thái Lan có một số điểm tương đồng với Việt Nam về sản xuất thức ăn chăn nuôi và chăn nuôi tuy nhiên tài liệu về các ngành này ở Thái Lan là không có Để có một số hiểu biết về việc làm thế nào để các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi nhỏ có thể tồn tại và hoạt động có lãi trong mối quan hệ với những công ty lớn như là CP
Trang 295 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước khác nhau là khác nhau và do đó mà
những so sánh giữa chúng có thể không liên quan đến nhau Mục dưới đây sẽ cung cấp một
số nền tảng về các doanh nghiệp này và các chi tiết sử dụng liên quan từ một vài nước như là
những ví dụ
5.1 Thế nào là một doanh nghiệp vừa và nhỏ?
Định nghĩa cơ bản về một doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất khác biệt tại các nước, chẳng hạn,
các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các nước ASEAN-5 được xác định khác nhau về lao động,
tài sản, vốn cổ đông, doanh số và thậm chí là vốn cần thiết (Bảng 7) (Tamangan et al 2004)
Bảng 7 Tóm tắt những định nghĩa chủ yếu về các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các nước
ASEAN-5
Trung Quốc Dưới 100 lao động (Thay đổi theo ngành) Lao động
Indonesia Dưới hơn 100 lao động Lao động Malaysia RM 2.5 triệu và ít hơn
Dưới 75 lao động
Vốn cổ đông Lao động Philippines 100.000.000 Peso và ít hơn
Dưới 200 lao động
Tài sản Lao động Singapore Tài sản cố định để sản xuất trị giá S$ 12.000.000
và ít hơn
Ít hơn 100 lao động đối với lĩnh vực dịch vụ
Tài sản cố định Lao động Thái Lan 100 triệu Baht và ít hơn đối với các hãng cần
nhiều vốn Dưới 200 lao động đối với các hãng cần nhiều lao động
Vốn Lao động
Nguồn: Hall (1995)
Như vậy, tuỳ vào tiêu chuẩn được lựa chọn, một hãng có thể được phân loại là nhỏ theo một
tiêu chuẩn nhưng lại là trung bình theo tiêu chuẩn khác (Tamangan et al 2004) Theo cách
thông thường, những so sánh rộng giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các nước khác nhau
có thể hoàn toàn không thích hợp do những định nghĩa khác nhau đang được sử dụng
(Tamangan et al 2004) Trong khi làm nổi bật những khác biệt này, cần phải ghi nhớ rằng
các định nghĩa được chấp nhận bởi các nước chứ không phải theo thực tế ảnh hưởng một
cách cơ bản tới các vấn đề quan trọng xung quanh các doanh nghiệp này và các doanh
nghiệp vừa và nhỏ đang phải đối mặt (Tamangan et al 2004) Mặc dù là định nghĩa về doanh
nghiệp vừa và nhỏ là khác nhau ở các nước khác nhau, chúng có một điểm chung và điểm
này là điểm chính yếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đó là nhỏ một cách tương đối và
phần lớn các doanh nghiệp này thuê ít hơn 100 lao động (Tamangan et al 2004) Điều này
cho phép những so sánh chung tại các nền kinh tế khác nhau mặc cho những khác biệt giữa
các nền kinh tế này (Tamangan et al 2004)
Trang 30Nước Philippin áp dụng 2 tiêu chuẩn để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ, cụ thể là lao động và quy mô của tài sản (Bảng 8) tuy nhiên định nghĩa được dựa trên lao động đã được chấp nhận một cách rộng rãi hơn và có vẻ là thực tế hơn vì nó đã có vay mượn từ những so
sánh quốc tế (Tamangan et al 2004)
Bảng 8 Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ theo lao động và quy mô tài sản ở Philippine
Rất nhỏ 1-9 lao động tới Peso 3.000.000
Nhỏ 10-99 lao động Từ 3.000.001 - Peso 15.000.000
Vừa 100-199 lao động Peso 15.000.001 đến Peso
100.000.000 Lớn 200 trở lên lao động Peso 100.000.001 trở lên
Nguồn: Tamangan et al (2004)
Ban đầu, các doanh nghiệp có từ 1-99 lao động được xếp là doanh nghiệp nhỏ, trong khi các
doanh nghiệp có từ 100-199 lao động thì được xếp loại là vừa (Tamangan et al 2004) Sau
đó thì đã được thay đổi như sau các doanh nghiệp có từ 1-49 lao động thì là doanh nghiệp nhỏ, từ 5o-99 lao động thì là trung bình và doanh nghiệp có quy mô lớn là có từ 100 lao
động trở lên (Tamangan et al 2004) Các đơn vị sản xuất với từ 1-9 lao động thì thường
được gọi chung là hộ gia đình hoặc là các doanh nghiệp siêu nhỏ và nằm ngoài danh mục
doanh nghiệp vừa và nhỏ (Tamangan et al 2004)
Nhìn chung: các doanh nghiệp nhỏ ở Trung Quốc có từ 50 đến 100 lao động và doanh nghiệp cỡ vừa có từ 101-500 lao động; doanh nghiệp nhỏ ở Philippin có từ 10 đến 99 lao đọng và doanh nghiệp cỡ vừa có từ 100 đến 199 lao động; và ở Thái Lan các doanh nghiệp nhỏ có ít hơn 50 lao động và các doanh nghiệp cỡ vừa có từ 50 đến 200 lao động (Tamangan
et al 2004)
O’Donnell et al (2002) đã tiến hành một nghiên cứu tại Anh với 60 doanh nghiệp quy mô từ
nhỏ đến vừa đã xác định là: thuê lao động không quá 200 người và không ít hơn 10 lao động; được quản lý bởi chủ sở hữu; và và hãng phải có hoạt động trên 5 năm để loại trừ các hãng khác trong giai đoạn bắt đầu Mục tiêu của họ là để đạt được một số hiểu biết về sự đánh giá, tiêu chuẩn và dự duy trì lợi thế cạnh tranh trong hoàn cảnh của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thú vị là một vài giám đốc đã xem những hãng lớn hơn hoặc những hãng rất nhỏ sản xuất cùng sản phẩm là đối thủ cạnh tranh của mình Bởi vì các doanh nghiệp vừa và nhỏ có xu hướng phục vụ một phân đoạn thị trường mà những người cùng kinh doanh như mình với quy mô lớn hơn thường bỏ qua hoặc có thể là các đối thủ nhỏ hơn khong thể cung cấp ở các mức dịch vụ cao hoặc giá trị gia tăng cao bởi vì dù họ có chi phí thấp họ bán giá rất thấp
Trang 31đưa ra giá thấp trong ngành mình nhưng tất cả đều yêu cầu đưa ra một giá công bằng và những giá này đại diện cho giá trị tốt của tiền tệ Phần lớn các hãng cố gắng không ngừng quản lý chi phí và chỉ chi tiêu thêm khi thực sự cần thiết để bảo đảm rằng họ có để đạt được một vị trí về lợi thế so sánh Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang tham gia vào nghiên cứu của
O’Donnell et al (2002) đang hoạt động trên những thị trường ngách được xác định một cách
rõ ràng với những khả năng của mình, vì thế giảm số lượng đối thủ cạnh tranh và cho phép
họ chuyên môn hoá hơn trong việc sản xuất sản phẩm/dịch vụ của họ một cách hiệu quả
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở để thuê lao động, đặc biệt là tại các nền kinh tế đang phát triển như là Philippin và có một vai trò quan trọng trong sản xuất trông nghiệp và tăng trưởng kinh tế tại các nước kém phát triển, đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi trên
toàn thế giới (Tamangan et al 2004) Ví dụ các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ký kết hợp đồng
phụ (có mối liên kết với các hãng nước ngoài lớn hơn hoặc với các hãng nội địa có xuất khẩu) đã thúc đẩy sự lanh rộng của công nghiệp và sự tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ và các lĩnh vực phi nông nghiệp tại nông thôn nhiều nước (Tamangan et al 2004)
Bằng việc chia quá trình sản xuất thành nhiều công việc nhỏ, chuyên môn hoá, các công ty lớn được gọi là các “công ty mẹ”có khả năng khai thác tính hiệu quả của từng công ty ký hợp đồng phụ với mình bằng cách cho phép họ được lựa chọn quy mô sản xuất thích hợp với
từng công đoạn mà họ đảm nhận (Tamangan et al 2004)
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm phần lớn các doanh nghiệp và là người thuê nhân công chính tại các nền kinh tế đang phát triển, và là nền tảng cần thiết cho sự tăng trưởng kinh tế
bền vững và tăng thu nhập Tamangan et al 2004) Vào năm 2004, tỷ lệ việc làm được tạo ra
bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 70% tổng việc làm tại Philippin và tại Nhật Bản, tỷ
lệ này trong quá khứ đã từng là gần 80% (Tamangan et al 2004)
Tuy nhiên, so với các doanh nghiệp có quy mô lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các nền kinh tế này thường xuyên bị lãng quyên và thậm trí bị đối xử phân biệt xét về mặt quan tâm của chính phủ, tiếp cận với tài chính, quản lý và sự áp dụng marketing và công nghệ
(Tamangan et al 2004) Tamangan et al (2004) đưa ra giả thuyết rằng có một điều đặc biệt
đúng tại các nước đang phát triển là các doanh nghiệp có quy mô lớn thường xuyên được trao cho vai trò chủ đạo trong sự phát triển kinh tế và công nghiệp
5.2 Chính sách của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chính sách và chương trình đã được công thức hoá tại các quốc gia để phát triển và tăng sức mạnh của lĩnh vực vừa và nhỏ tuy nhiên được thay đổi tuỳ theo kinh nghiệm và yêu cầu của mỗi nước, và nhìn chung là khuyến khích xuất khẩu, phát triển thị trường, tăng cường việc
sử dụng công nghệ và tiếp cận tín dụng (Tamangan et al 2004) Theo Tamangan et al
(2004) các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần dựa vào thị trường nội địa và cũng phải định hướng xuất khẩu Một cách tương ứng, khung chính sách cho sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải gắn với toàn cầu hoá và tính cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ (Tamangan et al 2004)
Tại Philippin một phần quan trọng của pháp luật là Luật Magna Carta giành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã chính thức thừa nhận tầm quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã được thông qua thành luật vào năm 1991 (RA 6977) và sửa đổi vào năm 1997 (RA
Trang 328289) (Tamangan et al 2004) Luật Magna Carta đã được thiết kế riêng để thúc đẩy sự năng
động của lĩnh vực vừa và nhỏ, đặc biệt là các dự án sản xuất ở khu vực nông thôn và các dự
án nông nghiệp với 3 nguyên tắc chính của việc thiết lập nhịp độ phát triển của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ (Tamangan et al 2004) Đó là một bộ phận rất nhỏ của các luật lệ và sự
đơn giản hoá các thủ tục và các yêu cầu, sự tham gia của lĩnh vực tư nhân vào việc thực thi các chính sách về doanh nghiệp vừa và nhỏ và các chương trình, và sự kết hợp của những nỗ
lực từ chính phủ (Tamangan et al 2004)
Theo Tamangan et al (2004), chiến lược phát triển được xây dựng tại Philippin giành ưu
tiên cho 4 nhu cầu mang tính chiến lược trong sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ:
1 Thu hẹp trọng tâm vào các lĩnh vực ưu tiên đã xác định với những cố gắng để tập trung vào một số ngành quan trọng mà chúng thể hiện một sự tăng trưởng mạnh và tiềm năng xuất khẩu
2 Thúc đẩy những mối quan hệ cùng chia sẻ lợi nhuận giữa các doanh nghiệp nhỏ và lớn để thúc đẩy những hệ thống trao đổi hợp đồng phụ công nghiệp, tăng cường sức mạnh cho các hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo lập các mối quan hệ và hợp tác giữa các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn
3 Củng cố công nghệ và nghiên cứu và những sáng kiến phát triển bao gồm phát triển các chương trình giành cho quản lý và trang bị kỹ năng về kỹ thuật
4 Tăng cường sự tiếp cận với tài chính bằng cách phát triển những hệ thống tài chính mang tính chất đổi mới có sử dụng những nguồn không truyền thống và các hệ thống như là hợp tác xã và hiệp hội, và, tài trợ công bằng và vốn dự án một cách tương ứng
Sau hơn hai thập kỷ quan tâm và ủng hộ tại Philippin, với ngoại lệ giành cho một số công ty
có định hưởng xuất khẩu, rất nhiều công ty đã bị mô tả là có sản lượng thấp, hiệu quả thấp và không có khả năng đạt được tính kinh tế nhờ quy mô và có sự ảnh hưởng tới giá, sản lượng,
phân phối và thị trường (Tamangan et al 2004) Các doanh nghiệp này vẫn có thách thức về
sự phát triển nhân lực, công nghệ, sự tiếp cận tài chính, và nghiên cứu và phát triển
(Tamangan et al 2004) Tamangan et al (2004) giải thích rằng để giải quyết những lo lắng
đó Chính phủ Philippin đã nghiên cứu: luật pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách quốc gia và chính sách địa phương để bảo đảm môi trường cạnh tranh: khả năng của các ngân hàng trong việc nắm bắt và phục vụ những nhu cầu đặc biệt của những người vay nhỏ; các nguồn thay thế có tính đổi mới về tài chính, như là thị trường vốn; sự kết hợp lại để phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực nông thôn; thương mại điện tử để sử dụng tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ bao gồm sự cung cấp những phương thức học từ xa ví vụ như
là việc trao đổi thư từ, những khoá học trên máy vi tính/trên mạng; hội chợ nhượng quyền thương mại và đoàn đi tư vấn để tư vấn tại hiện trường Một Cơ quan quốc gia về đăng ký kinh doanh cũng đã được thiết lập để theo dõi hoạt động kinh doanh của các công ty từ khi thành lập đến khi đóng cửa và thiết lập những trung tâm doanh nghiệp vừa và nhỏ để trở
thành điểm kết nối để tiếp cận thông tin, đào tạo, tư vấn và các dịch vụ khác (Tamangan et
al 2004)
Đến cuối năm 1999, Chính phủ Nhật Bản đã đặt nền tảng cho các chính sách về doanh nghiệp vừa và nhỏ của mình bằng một luật cơ bản mà luật này tuyên bố rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp có quy mô nhỏ về số lượng, đã lạc hậu và không khác biệt và đặc biệt dễ bị đánh bại và vì vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần những chính sách
đặc biệt để hỗ trợ cho sự tăng trưởng (Tamangan et al 2004) Hậu qủa là, các chính sách
quen thuộc về doanh nghiệp vừa và nhỏ cơ bản là hướng đến mục đích xóa đi khoảng cách
Trang 33giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các doanh nghiệp lớn thông qua việc theo đuổi sự đạt được quy mô của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khi phát triển một chính sách hiện đại
hoá đồng đều cho từng ngành (Tamangan et al 2004) Tuy nhiên, với môi trường đang thay
đổi được mang lại bởi sự tăng trưởng và trưởng thành của nền kinh tế, sự đa dạng của các nhu cầu của người tiêu dung, cuộc cách mạng công nghệ thông tin, và tiến trình toàn cầu hoá, cách nhìn nhận truyền thống về các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các công cụ về chính sách trong quá khứ không còn thích hợp với tình hình hiện nay của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ (Tamangan et al 2004) Thay về tập trung vào những bất lợi của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ do quy mô của chúng, các chính sách hiện đại ngày nay được xây dựng dựa trên những điểm mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà được kết hợp với tính năng động và linh hoạt trong việc sản xuất từng lô nhỏ của một loạt các sản phẩm mà chúgn là nhu cầu
hiện tại của môi trường kinh tế (Tamangan et al 2004)
Bất kể khả năng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tự chống đỡ được, Chính phủ Nhật Bản nhận ra sự xuất hiện của những yếu tố không mong đợi nằm ngoài sự kiểm soát của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ (Tamangan et al 2004) Một vài trong số những yếu tố này đang
đột ngột thay đổi trong cấu trúc thương mại hoặc tỷ giá hối đoái, những hạn chế trong việc cung cấp các nguyên liệu thô, sự xuất hiện của những thảm hoạ lớn; và sự phá sản theo chuỗi
phản ứng được xuất phát bởi sự sụp đổ của doanh nghiệp có quy mô lớn (Tamangan et al
2004) Trong những tình huống này, chính phủ đã tiến hành các biện pháp trợ giúp khẩn cấp
như là một dạng của mạng lưới an toàn để ổn định những điều kiện kinh doanh (Tamangan et
al 2004)
Thái Lan, Malaysia và Indonesia đã học tập mô hình của Nhật Bản với những điều chỉnh để
thích hợp với môi trường văn hoá và xã hội của từng nước (Tamangan et al 2004) Ví dụ tại
Thái Lan, các doanh nghiệp có quy mô lớn được phép phát triển những công ty con mà các doanh nghiệp này có thể hoạt động trọng phạm vi cùng một cơ sở sản xuất và chưa cần phải
có sự tuyển dụng độc lập, cơ cấu lương và các điều kiện về dịch vụ (Tamangan et al 2004)
Pham (2006) đã giải thích rằng cuộc cải cách đã được phê chuẩn tại Đại hội lần VI của Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1986 và Đổi mới đã được thông qua bởi Ban Chấp hành Trung ương để chuyển nền kinh tế Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế dựa vào thị trường một cách rộng rãi Kết quả là, rất nhiều loại hình các hoạt động của kinh tế tư nhân đã được công nhận hợp pháp cùng với rất nhiều dào cản thương mại đã được giảm và giỡ bỏ (Pham 2006) Thêm vào đó, đầu tư nước ngoài cũng đã được hợp pháp hoá và cổ vũ (Pham 2006) Chính sách này đã là nền tảng đầu tiên cho sự phát triển của các công ty tư nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Pham 2006)
Trong lĩnh vực nông nghiệp, là kết quả của chính sách Đổi Mới, người nông dân đã được khuyến khích sử dụng các nguồn lực để sản xuất một cách hiệu quả hơn và lao động đã được chuyển từ lao động ẩn sang tự tuyển dụng, do đó đã khuyến khích các nông dân tăng sản xuất (Pham 2006) Từ đó, nền nông nghiệp Việt Nam đã bước vào một nấc thang phát triển mới hiệu quả hơn và tương đối (Pham 2006)
Lĩnh vực tư nhân của Việt Nam đã cơ bản được tạo nên bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), và số lượng các SMEs đã tăng lên nhanh nhanh chóng với hơn 120.000 SMEs đã được đăng ký từ năm 2000 đến năm 2004 (Pham 2006) Vào năm 2001, định nghĩa chính thức về SMEs đã được đề cập trong Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ mà theo đó