Các doanh nghiệp sẽ vấp phải rất nhiều những khó khăn về: Trình độ quản lý, nguồn vốn, công nghệ, giá thành, nhân tài…Vậy làm thế nào để các doanh nghiệp trong nước xây dựng lợi thế cạnh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -***** -
LÊ THỊ LIỄU
VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY TNHH
TƯ VẤN ĐẦU TƯ- TƯ VẤN QUẢN LÝ VÀ QUẢN TRỊ
DOANH NGHIỆPChuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐỖ MINH CƯƠNG
Hà Nội - Năm 2014
Trang 2MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 8
1.1 Khái niệm và cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp 8
1.1.1 Khái niệm văn hoá 8
1.1.2 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp 8
1.1.3 Cấu trúc văn hóa doanh nghiệp 10
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành văn hoá doanh nghiệp 14
1.1.5 Vai trò của VHDN đối với sự phát triển của doanh nghiệp 15
1.2 Xây dựng VHDN 20
1.2.1.Quan điểm chủ yếu xây dựng VHDN 20
1.2.2.Quy trình xây dựng và phát triển một hệ thống VHDN 23
1.3 Tình hình VHDN của các doanh nghiệp Việt Nam 27
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN ĐẦU TƯ-TƯ VẤN QUẢN LÝ VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 31
2.1 Tổng quan về công ty TNHH Tư vấn đầu tư - Tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp 31
2.1.1 Giới thiệu quá trình hình thành về công ty 31
2.1.2 Tầm nhìn, mục tiêu và các giá trị 33
2.1.3 Lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh chính: 35
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 36
Trang 32.1.4 Khách hàng của công ty 40
2.1.5 Sản phẩm của công ty 41
2.1.6 Lãnh đạo công ty 42
2.2 Khảo sát thực trạng VHDN tại công ty TNHH Tư vấn đầu tư - Tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp 43
2.2.1 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong những năm gần đây 43
2.2.2 Nhận diện những biểu trưng VHDN đã hình thành tại công ty 45
2.2.3 Những biểu trưng VHDN công ty TNHH Tư vấn đầu tư – Tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp chưa xây dựng được 58
2.3 Kết quả khảo sát nhân viên của công ty về văn hoá doanh nghiệp 60
2.3.1 Ý kiến của nhân viên về vai trò của VHDN 60
2.3.2 Khảo sát về thực trạng VHDN tại công ty CMCG 61
2.4 Nhận xét về VHDN của công ty TNHH Tư vấn đầu tư - Tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp 63
2.4.1 Nhận xét ưu điểm và hạn chế trong việc xây dựng và phát huy VHDN 6tại công ty 63
2.4.2 Nguyên nhân 67
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN ĐẦU TƯ – TƯ VẤN QUẢN LÝ VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 70
3.1 Một số giải pháp hoàn thiện cấu trúc văn hóa doanh nghiệp tại công ty Tư vấn đầu tư – Tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp 70
3.1.1 Điều chỉnh một số biểu trưng VHDN hiện có 70
3.1.2 Xây dựng biểu trưng VHDN chưa có 71
3.2 Đề xuất một số giải pháp đối việc duy trì và phát triển văn hóa doanh nghiệp tại công ty 73
3.2.1 Tăng cường các biện pháp giám sát việc tiếp thu và duy trì VHDN 73
Trang 43.2.2 Tuyển dụng nhân viên gắn với định hướng giá trị của công ty 74
3.2.3 Bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực dựa trên các giá trị cốt lõi và nền tảng của VHDN 75
3.2.4 Thực thi hình tượng doanh nhân, nhà quản trị 78
3.2.5 Biểu dương cá nhân xuất sắc – hình tượng của doanh nghiệp 78
3.2.6 Tạo sự hoà đồng cho nhân viên 78
3.2.7 Tạo ra môi trường làm việc cởi mở, thân thiện, nhân văn 79
3.2.8 Các biện pháp khác 79
3.3 Kiến nghị với lãnh đạo công ty 80
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 CMCG Công ty Tư vấn quản lý, Tư vấn đầu tư - Quản trị
Trang 6DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2011 đến
năm 2013
43
2 Bảng 2.2 Thực trạng các lễ nghi của công ty 53
3 Bảng 2.3 Thực trạng hệ thống văn bản nội bộ của CMCG 54
Trang 7DANH MỤC HÌNH
1 Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty CMCG 38
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội trong nước
là sự hội nhập, giao lưu hợp tác kinh tế giữa các khu vực, các quốc gia trên toàn thế giới Đặc biệt là từ khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức Thương mại thế giới từ ngày 01/01/2007 đã mang lại cho các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều cơ hội, bên cạnh đó cũng đặt các doanh nghiệp đứng trước
sự cạnh tranh gay gắt với những đối thủ đến từ khắp nơi trên thế giới Các doanh nghiệp sẽ vấp phải rất nhiều những khó khăn về: Trình độ quản lý, nguồn vốn, công nghệ, giá thành, nhân tài…Vậy làm thế nào để các doanh nghiệp trong nước xây dựng lợi thế cạnh tranh của riêng mình, làm thế nào để tạo dựng uy thế, để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, nắm lấy cơ hội, vượt qua thách thức để có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất Muốn vậy các doanh nghiệp cần phải chọn con đường hội nhập cũng như đặt ra được chiến lược kinh doanh đúng đắn, phải quan tâm tới các vấn
đề thuộc môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp, khoa học kỹ thuật…Bên cạnh đó thì việc tạo lập một nền văn hóa mang bản sắc riêng của doanh nghiệp cũng vô cùng quan trọng
Xây dựng một nền văn hóa doanh nghiệp (VHDN) mạnh sẽ gắn kết các thành viên, khơi dậy niềm tự hào doanh nghiệp, tạo nên sức mạnh tinh thần, phát huy khả năng sáng tạo của các nhân viên, giúp cho hoạt động doanh nghiệp diễn ra trôi chảy, quá trình hoạt động kinh doanh thuận lợi đảm bảo hiệu quả hoạt động cao của doanh nghiệp VHDN, với tư cách là nền “tiểu văn hoá” của nền văn hoá dân tộc, cũng có những tác động đến doanh nghiệp giống như tác động của nền văn hoá dân tộc đối với một quốc gia Văn hoá dân tộc có thể là yếu tố kìm hãm sự phát triển của bất cứ quốc gia nào đặc biệt
Trang 9là khi nền văn hoá đó chứa đựng những giá trị mang tính lạc hậu, bảo thủ, đi ngược lại xu thế chung của thế giới Tương tự, VHDN cũng có thể kìm hãm doanh nghiệp đổi mới, mở rộng cho phù hợp với những thay đổi của thị trường trong và ngoài nước Chính vì vậy, một nền VHDN mạnh cũng chính
là mục tiêu mà các doanh nghiệp Việt Nam đang hướng tới
Nhận thức rõ được điều đó Công ty TNHH Tư vấn đầu tư - Tư vấn quản
lý và quản trị doanh nghiệp đã và đang từng bước gây dựng cho mình một nền VHDN Để VHDN trở thành giải pháp quản trị điều hành, góp phần củng cố
uy tín, nâng cao vị thế của công ty VHDN trở thành phẩm chất, đạo đức, nếp sinh hoạt và làm việc của cán bộ nhân viên, được toàn công ty quán triệt và thực hiện Để có thể tạo ra những biến đổi thực sự trong hành vi của mọi người, tạo ra những thay đổi cần thiết về môi trường làm việc, các phương pháp đánh giá hiệu quả và các hình thức khích lệ nhân viên trong toàn công
ty Đối với công ty TNHH Tư vấn đầu tư - Tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp cung cấp những dịch vụ mang tính chất vô hình liên quan đến việc quản lý và quản trị doanh nghiệp Cho nên việc xây dựng và để VHDN phát huy được tác dụng của nó cũng là một trong những phương pháp tự khẳng định năng lực của bản thân và nâng cao tính cạnh tranh của công ty đối với khách hàng.Tuy nhiên hiện nay VHDN của công ty còn vẫn thiếu sự thống nhất và đồng bộ; và chưa tạo được sự đặc trưng cũng như sự khác biệt cũng như tính cách riêng
Nhận thấy được tầm quan trọng của VHDN đối với các doanh nghiệp, nhất là đối với công ty TNHH Tư vấn đầu tư - Tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm mang tính chất vô hình Chính vì vậy tôi
đã chọn đề tài “Văn hóa doanh nghiệp tại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư Tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp”
Trang 10Nghiên cứu đề tài này cần trả lời các câu hỏi như sau:
Câu hỏi thứ nhất: Văn hoá doanh nghiệp là gì? Các yếu tố cấu thành văn hoá doanh nghiệp? Các cấp độ văn hoá doanh nghiệp?
Câu hỏi thứ hai: Thực trạng vấn đề văn hoá doanh nghiệp tại công ty TNHH Tư vấn đầu tư tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp như thế nào? Những kết quả và tồn tại cũng như những nguyên nhân tồn tại đó
Câu hỏi thứ ba: Những quan điểm giải pháp nào cần thực hiện để nâng cao vai trò của văn hóa doanh nghiệp tại công ty TNHH Tư vấn đầu tư tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
VHDN gần đây đã được chú trọng trong quá trình kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Chính vì thế mà đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này trên tầm vĩ mô và vi mô có thể ra các công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Bộ môn Văn hóa kinh doanh (Đại học kinh tế quốc dân) – Văn hóa kinh doanh trong các doanh nghiệp ở Hà Nội, đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ, mã số B2004-38-81
Kiều Trọng Tuyến (chủ nhiệm)- Xây dựng văn hóa Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam để phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, đề tài nghiên cứu khoa học ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, năm 2005
Đỗ Minh Cương – “Văn hóa kinh doanh và Triết lý kinh doanh” – NXB Chính trị quốc gia, (2001) Nội dung nghiên cứu đề cặp đến các vấn
đề văn hóa kinh doanh, VHDN, triết lý kinh doanh…từ phương diện cơ sở
lý luận và thực tiễn của thế giới và Việt Nam
Trang 11Nguyễn Mạnh Quân – “Đạo đức kinh doanh và VHDN” – NXB Lao động – xã hội, (2004) và “Đạo đức kinh doanh và VHDN” – NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, (2007) Đây là giáo trình của Trường Đại học Kinh
tế Quốc dân Công trình này trình bày rõ khái niệm, biểu hiện, các dạng VHDN, nhấn tố tạo lập VHDN Ngoài ra công trình cũng đề cập đến vận dụng trong quản lý để xây dựng và phát triển VHDN
Đỗ Thị Phi Hoài – “VHDN” – NXB Tài chính, (2009) Công trình này đã trình bày các biểu hiện của VHDN, phân loại VHDN; nhận dạng VHDN trong các hoạt động kinh doanh
Dương Thị Liễu – “Văn hóa kinh doanh” – NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, (2011) Công trình này có đề cập đến khía cạnh VHDN, bao gồm khái niệm, các cấp độ VHDN, tác động của VHDN đến hoạt động kinh doanh; các nhân tố ảnh hưởng đến VHDN, giai đoạn hình thành và
cơ cấu thay đổi VHDN; các dạng VHDN Luận văn đã tham khảo tài liệu này khi xây dựng phần cơ sở lý luận
Th.S Lê Thị Bích Ngọc, Th.S Phan Tú Anh - “VHDN Học viện bưu chính viễn thông để phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”, Đề tài NCKH cấp Học viện (2010) Công trình này hệ thống một số vấn đề chung về VHDN; phân tích, đánh giá thực trạng VHDN của Học viện công nghệ bưu chính viễn thông thông qua các biểu trưng trực quan và phi trực quan Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp tiếp tục xây dựng, duy trì và phát triển VHDN Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông
Một số luận văn nghiên cứu về tình hình VHDN của doanh nghiệp lớn như VNPT:
+ Trần Thị Thu Hà - “VHDN Công ty Vinaphone” (2012)
+ Nguyễn Thị Hoa - “VHDN tại VNPT Bắc Giang” (2012)
Trang 12Lãnh đạo công ty TNHH Tư vấn đầu tư – Tư vấn quản lý và Quản trị doanh nghiệp cũng đã thấy được tầm quan trọng của VHDN, chính vì thế ngay từ khi mới thành lập cũng đã bắt đầu xây dựng văn hóa cho doanh nghiệp của mình Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống về văn hóa doanh nghiệp, chỉ ra thực trạng và đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện VHDN của Công ty TNHH Tư vấn đầu tư – Tư vấn quản lý và Quản trị doanh nghiệp
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu:
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề văn hoá doanh nghiệp, luận văn đánh giá thực trạng VHDN của công ty TNHH Tư vấn đầu
tư – Tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp để từ đó đề xuất các quan điểm
và giải pháp nhằm xây dựngvà hoàn thiện VHDN tại công ty
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Lý luận và thực tiễn về VHDN tại công ty TNHH Tư vấn đầu tư – Tư vấn quản lý và Quản trị doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp tại công ty TNHH tư vấn đầu tư – Tư vấn quản lý và Quản trị doanh nghiệp
+ Phạm vi không gian: công ty TNHH tư vấn đầu tư – Tư vấn quản lý
và Quản trị doanh nghiệp
+ Phạm vi thời gian: Số liệu của công ty từ năm 2009 trở lại đây
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, Luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau trong quá trình nghiên cứu:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để làm rõ bản chất
và biểu hiện cũng như quy trình xây dựng VHDN
- Phương pháp liên ngành giữa văn hóa học và quản trị học, xem xét các biểu hiện, vai trò của văn hóa trong lĩnh vực kinh doanh, trong hoạt động của doanh nghiệp như một hệ thống giá trị và như là một phương pháp để quản trị, phát triển doanh nghiệp một cách bền vững
- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chứng để đánh giá thực trạng VHDN, trên cơ sở đó nghiên cứu giải pháp duy trì và phát triển VHDN công
ty TNHH tư vấn đầu tư – Tư vấn quản lý và Quản trị doanh nghiệp để phát triển bền vững và hội nhập quốc tế
- Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế khi xem xét mối quan hệ giữa VHDN và hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH tư vấn đầu tư –
Tư vấn quản lý và Quản trị doanh nghiệp
Trang 14- Phương pháp khảo sát thực tế bằng bảng hỏi để xem xét ý kiến của cán bộ công nhân viên trong công ty TNHH tư vấn đầu tư – Tư vấn quản lý
và Quản trị doanh nghiệp để phân tích thực trạng và từ đó từ đó rút ra những nhận xét và đưa ra những kiến nghị và đề xuất nhằm duy trì và phát triển VHDN tại công ty
6 Nội dung nghiên cứu
Trong phần nghiên cứu gồm 3 phần
Phần mở đầu: Lý do, mục đích chọn đề tài; đối tượng, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của đề tài trong thực tiễn
Phần nội dung: Gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận về văn hóa doanh nghiệp
Chương 2: Khảo sát thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại công ty TNHH
Tư vấn đầu tư – Tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp
Chương 3: Một số kiến nghị và đề xuất hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp tại công ty TNHH Tư vấn đầu tư – Tư vấn quản lý và Quản trị doanh nghiệp
Phần kết luận: Nhấn mạnh lại các nội dung nghiên cứu cùng mục đích
của đề tài
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm và cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hoá là một phạm trù vô cùng phức tạp Sự phát triển của nó gắn liền sự phát triển tồn tại đời sống của nhân loại, là đặc trưng riêng của con người Trên thế giới có rất nhiều khái niệm về văn hoá
Theo UNESCO “ Văn hoá là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh vảm… khắc hoạ nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, quốc gia, xã hội… Văn hoá không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng…” [9,tr6]
Theo Hồ Chí Minh “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[9,tr6]
Theo E.Herriot “Văn hoá là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất
cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả”[9,tr9]
Với những khái niệm trên chúng ta thấy rằng văn hoá được nhìn nhận trên rất nhiều góc độ khác nhau Nó chứng tỏ được sự phong phú và đa dạng của văn hóa
Như vậy văn hoá nó là một bộ phận trong đời sống của con người nó không chỉ là những giá trị tinh thần mà nó còn là giá trị vật chất được sử dụng làm nền tảng định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc và mỗi con người
1.1.2 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp
Trong xã hội rộng lớn các doanh nghiệp được coi như là những xã hội thu nhỏ Doanh nghiệp cũng có nền văn hoá riêng, nền văn hoá ấy chịu ảnh hưởng và đồng thời là một bộ phận cấu thành nên nền văn hoá chung
Trang 16Đã có khá nhiều khái niệm khác nhau về VHDN Có thể nêu một số khái niệm thường gặp như sau:
Theo Georges de Saite Marie, chuyên gia Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ, "VHDN là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kị các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp" [9,tr18]
Theo ILO – Tổ chức lao động quốc tế định nghĩa “ VHDN là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị , các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái
độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với tổ chức đã biết” [10,tr258]
Theo E.H Schein, chuyên gia nghiên cứu các tổ chức, "VHDN (hay văn hoá công ty) là tổng hợp những quan niệm chung mà thành viên trong doanh nghiệp học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh" [8,tr18]
Theo Tiến sĩ Dương Thị Liễu”VHDN là toàn bộ những nhân tố văn hóa được doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trọng hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó” [10,tr258]
Tiến sĩ Đỗ Phi Hoài cũng đưa ra khái niệm “Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó” [9,tr19]
Các định nghĩa trên đều đề cập đến những nhân tố tinh thần VHDN như các quan niệm chung, các giá trị, các huyền thoại, nghi thức …của doanh nghiệp nhưng chưa đề cập đến các nhân tố vật chất- nhân tố quan trọng của VHDN
Trang 17Dựa trên cơ sở tổng hợp các khái niệm của những trên tác giả đưa ra
khái niệm về văn hóa doanh nghiệp: “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các
giá trị vật chất và tinh thần được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích”
1.1.3 Cấu trúc văn hóa doanh nghiệp
Theo quan điểm một số nhà kinh doanh, VHDN vừa hữu hình vừa vô hình Nó có thể được thể hiện qua một sản phẩm hay dịch vụ cụ thể nhưng cũng có thể chỉ là cảm nhận rất chủ quan của một khách hàng hay cộng đồng kinh doanh đối với doanh nghiệp Cũng có ý kiến cho rằng VHDN không phải
là cái gì vô hình, ngược lại, thể hiện rõ trong lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp: trong mọi hành vi kinh doanh, giao tiếp của công nhân, cán bộ trong doanh nghiệp (kể cả trong nội bộ doanh nghiệp và với đối tác bên ngoài doanh nghiệp) và trong các hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp (từ mẫu
mã, kiểu đáng đến nội dung và chất lượng) Edgar H.Schein đã chia VHDN thành ba cấp độ khác nhau, các cấp độ đó thể hiện thể hiện được các giá trị của văn hóa trong doanh nghiệp hay nói cách khác đó là tính hữu hình của các giá trị văn hóa
* Thứ nhất những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp:
Bao gồm tất cả những hiện tượng mà một người nhìn, nghe và cảm thấy khi tiếp xúc với một tổ chức có nền văn hoá xa lạ như kiến trúc, logo, ngôn ngữ, công nghệ, sản phẩm, phong cách của tổ chức đó thể hiện qua cách ăn mặc, cách biểu lộ cảm xúc của nhân viên, những câu chuyện và những huyền thoại về tổ chức, các buổi lễ kỉ niệm hàng năm trong đó:
Trang 18Logo - một tác phẩm sáng tạo được thiết kế để thể hiện hình tượng về doanh nghiệp bằng ngôn ngữ nghệ thuật - là loại biểu trưng đơn giản nhưng
có ý nghĩa rất lớn nên được các DN rất chú trọng
Khẩu hiệu (slogan) : Là những câu ngắn gọn với ngôn từ đơn giản, dễ nhớ,
là sự diễn đạt cô đọng nhất Triết lý hoạt động, kinh doanh của doanh nghiệp
Nghi lễ/các Lễ hội: Đó là các hoạt động được tổ chức như các sự kiện văn hoá-xã hội chính thức, nghiêm trang, tình cảm nhằm thắt chặt các mối quan hệ tổ chức, nhấn mạnh các giá trị riêng của tổ chức, tôn vinh những tấm gương điển hình
Ngôn ngữ: Ngôn ngữ được các doanh nghiệp sử dụng như những câu chữ đặc biệt, ví von, ẩn dụ… để truyền tải một ý nghĩa cụ thể đến nhân viên của mình và những người hữu quan
Giai thoại, truyền thuyết, huyền thoại: Đó là những câu chuyện được thêu dệt, thêm thắt, hư cấu từ những sự kiện, những nhân vật có thực được các thành viên trong tổ chức cùng chia sẻ và nhắc lại với những thành viên mới Cho nhân viên thấy cần làm gì và tránh gì
Những câu chuyện truyền thống mang đậm tính dân tộc đặc thù của doanh nghiệp được kể đi kể lại nhiều lần nhằm giúp nhân viên nhớ và hiểu các tiêu chuẩn, giá trị văn hóa của doanh nghiệp
Kiến trúc trúc ngoại thất như kiến trúc cổng, mặt tiền trụ sở công ty, bố cục các bộ phận…
Kiến trúc nội thất như mặt bằng, quầy, bàn ghế, phòng, giá để hàng, lối
đi, vị trí công tắc điện, kiểu dáng bao bì, màu sắc của sản phẩm được sử dụng như biểu tượng và hình ảnh về Công ty, để tạo ấn tượng thân quen, thiện chí trong công ty
Ấn phẩm điển hình: Đó là những tài liệu chính thức như tài liệu giới thiệu về DN (trang Web), ấn phẩm định kỳ, bản tuyên bố sứ mệnh, báo cáo
Trang 19thường niên… Những tài liệu này giúp làm rõ mục tiêu của tổ chức, phương châm hành động, niềm tin và giá trị chủ đạo, triết lý quản lý, thái độ đối với lao động, người tiêu dùng, xã hội
Lớp thứ nhất này cũng bao gồm cả hành vi ứng xử thường thấy của nhân viên và các nhóm làm việc trong tổ chức Đây là cấp độ văn hóa có thể thấy ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên, nhất là các yếu tố vật chất như kiến trúc, bài trí, đồng phục…Cấp độ văn hóa này ảnh hưởng nhiều của tính chất công việc kinh doanh của công ty, quan điểm của người lãnh đạo… Tuy nhiên nó
là cấp độ dễ thay đổi và ít khi thể hiện được những giá trị thực sự trong văn hóa của doanh nghiệp
* Thứ hai những giá trị đƣợc chấp nhận:
Các giá trị được chấp nhận bao gồm những chiến lược, mục tiêu và các
triết lý của doanh nghiệp trong quá trình giải quyết các vấn đề để thích ứng với bên ngoài và hội nhập vào bên trong tổ chức
Những người khởi xướng, sáng lập ra doanh nghiệp và nhà lãnh đạo kế cận khi đề ra các quy định, nguyên tắc, triết lý, tư tưởng đều yêu cầu mọi thành viên phải tuân theo Trải qua thời gian áp dụng, các quy định, nguyên tắc, triết lý, tư tưởng đó sẽ dần trở thành niềm tin, thông lệ và quy tắc ứng
xử chung mà mọi thành viên đều thấm nhuần, tức là trở thành “những giá trị được chấp nhận”
Những “giá trị được chấp nhận” cũng có tính hữu hình vì người ta có thể nhận biết và diễn đạt chúng một cách rõ ràng, chính xác Chúng thực hiện chức năng hướng dẫn cho các thành viên trong doanh nghiệp cách thức đối phó với một số tình thế cơ bản và rèn luyện cách ứng xử cho các thành viên mới trong môi trường doanh nghiệp Hệ thống các giá trị này trở thành hiện thân của triết lý kinh doanh và là kim chỉ nam cho doanh nghiệp khi phải đối phó với những tình huống khó khăn
Trang 20* Thứ ba những quan niệm chung và ngầm định nền tảng:
Những quan niệm chung được hình thành và tồn tại trong một thời gian dài, chúng ăn sâu vào tâm lý của hầu hết các thành viên trong doanh nghiệp
và trở thành điều mặc nhiên được công nhận, hình thành nên niềm tin và lối sống tự nhiên của một tổ chức Nó gồm có:
+ Các giá trị nền tảng/ giá trị cốt lõi
+ Quan niệm kinh doanh
+ Quan điểm phát triển
+ Hệ tư tưởng…
+ Niềm tin, các ngầm định vô thức, mặc định
Để hình thành những quan niệm chung này phải trải qua một quá trình hành động lâu dài, va chạm và xử lý nhiều tình huống trong thực tiễn Chính vì vậy khi những quan niệm chung đã hình thành nó rất khó bị thay đổi, trở thành lối sống tự nhiên của tổ chức Khi đó các thành viên trong doanh nghiệp cùng nhau chia sẻ và hành động theo đúng quan niệm chung
đó, họ sẽ rất khó chấp nhận những hành vi đi ngược lại Những quan niệm
và nền tảng tinh thần chung định hướng cho suy nghĩ, cảm nhận và hành vi của các thành viên trong cả mối quan hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Bản chất của nền VHDN nằm ở những quan niệm chung Nếu nhận biết văn hóa của một doanh nghiệp ở cấp độ một và cấp độ hai, chúng ta có thể hiểu được nền văn hóa đó ở bề nổi của nó, tức là khả năng suy đoán của mọi thành viên của doanh nghiệp sẽ “nói gì” trong một tình huống nào đó Chỉ khi nào nắm được lớp văn hóa thứ ba, chúng ta mới có khả năng dự báo họ sẽ “làm gì” khi vận dụng những giá trị này vào thực tiễn Đây chính
là phần nền tảng và cũng là phần khó xây dựng nhất của VHDN
Trang 211.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành văn hoá doanh nghiệp
1.1.4.1 Văn hoá dân tộc
Mỗi một doanh nghiệp là một bộ phận tồn tại trong nền văn hoá dân tộc, VHDN được coi là nền “tiểu văn hoá” Nhân viên của các doanh nghiệp chính là những cá thể của nền VH dân tộc Họ tồn tại trong nền VH dân tộc nào thì nào phương thức tư duy, hành động sẽ bị ảnh hưởng và chi phối bởi chính nền VH dân tộc đó Chính vì thế mà VHDN tất yếu bị ảnh hưởng bởi
VH dân tộc Khi xây dựng VHDN cần dựa trên nền tảng cơ sở VH dân tộc, cần giữ gìn và chọn lọc phát huy những bản sắc tốt đẹp của VH dân tộc điều này sẽ giúp các doanh nghiệp thành công Có thể lấy ví dụ về sự ảnh hưởng của văn hoá dân tộc nhật bản đến văn hoá của các doanh nghiệp Mỹ: Theo điều tra của hofstede [9,tr269], văn hoá Mỹ là nền văn hoá điển hình đề cao chủ nghĩa cá nhân Tại các công ty Mỹ cá nhân là người tự ra quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Thành tích cá nhân rất được coi trọng, người Mỹ thường nói “Nếu không tự mình bước bạn sẽ không thể đi xa hơn” Tự do cá nhân là một giá trị phổ biến ở Microsoft (công ty cổ phần máy tính hàng đầu thế giới) tự do cá nhân được khuyến khích tới mức tối đa, mọi người có thể đưa vật nuôi vào nơi làm việc, trong khi làm việc nhân viên có thể vừa giải trí như uống cà phê, nghe nhạc… Người Mỹ có thể sa thải nhân viên nếu họ không thấy cần thiết nữa
Việc xác định những giá trị văn hoá dân tộc phản ánh trong một nền VHDN là điều hết sức khó khăn vì văn hoá dân tộc là một phạm trù hết sức rộng lớn và trừu tượng Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến tác động của VHDN đến đời sống doanh nghiệp, song được biết đến nhiều nhất
là công trình của Geert Hofstede, chuyên gia tâm lý học người Hà Lan, Ông
đã cho ra đời cuốn sách nổi tiếng “Những ảnh hưởng của văn hoá” (Culture’s consequences) vào năm 1978 và liên tục được tái bản thời gian sau này Cuốn
Trang 22sách đề cập đến những tác động của văn hoá đến các tổ chức thông qua một
mô hình gọi là “Mô hình Hofstede”, trong đó tác giả đưa ra bốn “biến số” chính tồn tại trong tất cả các nền văn hoá dân tộc cũng như trong các nền văn hoá doanh nghiệp khác nhau, đó là: (1) Tính đối lập giữa cá nhân và chủ nghĩa tập thể; (2) sự phân cấp quyền lực; (3) tính cẩn trọng; (4) chiều hướng nam quyền đối lập nữ quyền
- Thứ nhất, sự đối lập giữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể: Bàn
về mức độ thể hiện tính đối lập giữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể ở các danh nghiệp thuộc các nước khác nhau Trong nền văn hoá mà chủ nghĩa
cá nhân được coi trọng, quan niệm cá nhân hành động vì lợi ích của bản thân hoặc của những người thân trong gia đình rất phổ biến Có nền văn hoá coi trọng chủ nghĩa tập thể, ngược lại, có nền văn hóa quan niệm con người theo quan hệ huyết thống hay nghề nghiệp thuộc về một tổ chức có liên kết chặt chẽ với nhau, trong đó tổ chức chăm lo cho lợi ích của các cá nhân, còn cá nhân phải hành động và ứng xử theo lợi ích của tổ chức Ở nước ta, tinh thần cộng đồng và quyết định tập thể không chỉ là một truyền thống mà còn là một
cơ chế lãnh đạo, quản lý chính thống trong hệ thống chính trị hiện nay
- Thứ hai, sự phân cấp quyền lực: Bên cạnh tính đối lập giữa chủ nghĩa
cá nhân và chủ nghĩa tập thể, Hofstede đề cập đến một biến số khác là sự
“phân cấp quyền lực” Nền văn hoá nào cũng có sự phân cấp quyền lực bởi thực tế các cá nhân trong một xã hội không thể giống nhau hoàn toàn về thể chất, trí tụê và năng lực Tuy nhiên, mức độ chấp nhận sự phân chia không cân bằng về quyền lực của các thành viên trong những nền văn hoá khác nhau lại không giống nhau Do vậy việc tìm hiểu biến số này cần tập chung vào việc so sánh mức độ chấp nhận sự phân cấp quyền lực giữa các nền văn hoá Trong một quốc gia, biểu hiện dễ thấy nhất của sự phân cấp quyền lực là chênh lệch về thu nhập giữa các thành viên và mối quan hệ độc lập hay phụ
Trang 23thuộc giữa cha mẹ-con cái, thầy-trò, thủ trưởng-nhân viên…Trong một doanh nghiệp, ngoài các yếu tố trên, sự phân cấp quyền lực còn có thể nhận biết thông qua các biểu tượng của địa vị (tiêu chuẩn dùng xe doanh nghiệp, có tài
xế riêng, được trang bị điện thoại di động), việc gặp gỡ lãnh đạo dễ hay khó
Đi đôi với sự phân cấp quyền lực là sự phân chia trách nhiệm giữa các cá nhân Trong cơ chế “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” của nước ta hiện nay
sự phân cấp quyền lực không rõ như các nước phát triển theo cơ chế lãnh đạo
cá nhân
- Thứ ba, tính đối lập giữa nam quyền và nữ quyền: Phản ánh mối quan
hệ giữa giới tính và vai trò của từng giới trong công việc Trong môi trường nam quyền, vai trò của giới tính rất được coi trọng (đồng nghĩa với việc phân biệt giữa nam và nữ) Nền văn hoá chịu sự chi phối của các giá trị nam tính truyền thống như: Sự thành đạt, quyền lực, tính quyết đoán…sẽ có những biểu hiện: Với thiên nhiên thì muốn chinh phục, với mọi người thì thiên về bạo lực, với môi trường xã hôi thì là độc tôn…Điều này có xu hướng ngược lại trong nền văn hoá bị chi phối bởi các giá trị nữ quyền Chịu ảnh hưởng của văn hóa Đông Á - các nền văn hóa theo tư tưởng Khổng Tử coi phụ nữ là
“tiểu nhân” song xã hội Việt Nam hiện nay vẫn có mức độ bình đẳng giới khá cao so với các nước trong khu vực Nhiều lãnh đạo doanh nghiệp, lãnh đạo chính trị cấp cao hiện nay là phụ nữ
- Thứ tư, tính cẩn trọng: Tính cẩn trọng phản ánh mức độ mà thành viên của những nền văn hóa khác nhau chấp nhận các tình thế rối ren hoặc sự bất
ổn Một trong những biểu hiện của tính cẩn trọng là cách suy xét để đưa ra quyết định Tư duy của người phương Tây mang tính phân tích hơn, trừu tượng hơn, giàu tính tưởng tượng hơn, trong khi cách nghĩ của người Châu Á lại mang tính tổng hợp hơn, cụ thể hơn, thực tế hơn Các thành viên trong nền văn hóa mang tính cẩn trọng cao thường không ngại chi tiền mua bảo hiểm
Trang 24cho an toàn lao động, tiền hưu trí; Giám đốc có trách nhiệm đưa ra các chỉ dẫn, còn sáng kiến của cấp dưới thường được cân nhắc rất kỹ lưỡng Phương pháp lãnh đạo “cầm tay chỉ việc” vẫn được áp dụng khá phổ biến trong quản trị doanh nghiệp và nhiều hình thức tổ chức khác
1.1.4.2 Nhà lãnh đạo
Nhà lãnh đạo không chỉ là người quyết định cơ cấu tổ chức và công nghệ của doanh nghiệp, mà còn là người sáng các biểu tượng, các ý thức hệ, ngôn ngữ, niềm tin, nghi lễ và huyền thoại của doanh nghiệp… Qua quá trình quản lý và xây dựng doanh nghiệp hệ tư tưởng và tính cách của lãnh đạo sẽ được phản chiếu lên văn hoá doanh nghiệp Trong cùng một doanh nghiệp các thế hệ lãnh đạo khác nhau sẽ tạo ra những giá trị khác nhau Mức độ ảnh hưởng của hai đối tượng lãnh đạo đối với sự hình thành văn hoá doanh nghiệp
là người sang lập và nhà lãnh đạo kế cận Trong đó người sáng lập là người quyết định hình thành hệ thống giá trị VH căn bản của doanh nghiệp và những người lãnh đạo kế cận là người làm nên sự thay đổi của VHDN
Khi người lãnh đạo thay đổi đồng nghĩa với việc VH của doanh nghiệp
sẽ thay đổi, thay đổi ở mức độ nào còn phụ thuộc vào bản than người lãnh đạo
đó Bởi vì cá tính, tài năng, quan điểm, triết lý kinh doanh của người lãnh đạo
sẽ ảnh hưởng đến cách quản lý của họ Hai nhà lãnh đạo khác nhau thì tất yếu
sẽ tạo nên những hệ giá trị khác nhau
Để hình thành nên hệ thống giá trị, niềm tin và đặc biệt là quan niệm chung trong toàn doanh nghiệp đòi hỏi một quá trình lâu dài, thông qua nhiều hình thức khác nhau, có thể liệt kê một số cách thức sau đây:
+ Tăng cường tiếp xúc giữa nhà lãnh đạo và nhân viên: Có thể coi quá trình tiếp xúc này là quá trình giáo dục, truyền đạt những giá trị, niềm tin, quy tắc của nhà lãnh đạo tới nhân viên Qua thời gian, những giá trị và quy tắc sẽ
Trang 25được kiểm nghiệm và công nhận, trở thành “hệ thống dẫn đạo” chung cho toàn doanh nghiệp
+ Sử dụng những câu chuyện kể, huyền thoại, truyền thuyết…như một phương thức hiệu quả để truyền đạt và nuôi dưỡng những giá trị văn hóa chung Các doanh nghiệp thành đạt lâu dài đều lưu truyền các câu chuyện, giai thoại, truyền thuyết trong đó người sáng lập và lãnh đạo công ty đầu tiên
là anh hùng hoặc nhân vật xuất chúng
1.1.4.3 Những giá trị tích luỹ
Có những giá trị VHDN không thuộc về văn hoá dân tộc, cũng không phải do người lãnh đạo sáng lập ra mà do tập thể nhân viên trong doanh nghiệp tạo dựng nên được gọi là những kinh nghiệm học hỏi Hình thức của những kinh nghiệm học hỏi này thường rất phong phú, phổ biến là: Những kinh nghiệm tập thể của doanh nghiệp, những giá trị được học hỏi từ các doanh nghiệp khác, những giá trị văn hoá được tiếp nhận trong quá trình giao lưu với nền văn hoá khác, những giá trị do một hay nhiều thành viên mới mang lại, hay những xu hướng trào lưu xã hội mới…
1.1.5 Vai trò của VHDN đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Văn hóa được xem là nền tảng, vừa là mục tiêu vừa là động lực làm cho sự phát triển của con người và xã hội ngày càng thăng bằng và bền vững hơn, văn hoá có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, của các tổ chức cũng như toàn bộ cộng đồng.Văn hóa có ảnh hưởng khác nhau đối với sự phát triển của một quốc gia một dân tộc Bởi vì văn hóa dân tộc có thể đem lại lợi ích, động lực cho sự phát triển đồng thời văn hóa dân tộc mà lạc hậu, bảo thủ thì có thể kìm hãm sự phát triển của một quốc gia VHDN là một bộ phận của văn hóa dân tộc nó cũng có tác động tương tự đối với sự phát triển của một doanh nghiệp Chính vì thế phải xem xét tác động của nó
Trang 26trên hai khía cạnh đó là một nền văn hóa mạnh thì có lợi ích, tác động như thế nào và nền văn hóa yếu thì nó ảnh hưởng như thế nào tới sự phát triển của doanh nghiệp từ đó mới thấy được vị trí vai trò của VHDN trong suốt cả quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
1.1.5.1 Tác động của nền VHDN mạnh
+ VHDN tạo nên bản sắc của doanh nghiệp nó giúp phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác VHDN là tạo nên nhận dạng chung cho các thành viên trong doanh nghiệp Rất dễ dàng để nhận ra phong cách, giá trị và cách hành
xử của các thành viên trong nhưng doanh nghiệp có văn hóa tốt và rõ ràng
+ VHDN tạo ra môi trường làm việc thân thiện thu hút nhân tài và tăng cường sự gắn bó của người lao động đối với doanh nghiệp
Nhiều doanh nghiệp lầm tưởng rằng cứ trả lương cao là sẽ thu hút, duy trì được người tài Tuy nhiên, tiền lương mới chỉ là một phần, mà quan trọng
là nhân viên có cảm thấy hứng thú khi được làm việc trong môi trường doanh nghiệp hay không, có cảm nhận được bầu không khí thân thuộc trong doanh nghiệp hay không Chính vì vậy, một nền VHDN có chất lượng sẽ thu hút được những nhân viên có năng lực, có trình độ gắn bó với doanh nghiệp
+ VHDN khích lệ quá trình đổi mới và sáng chế
Tại những doanh nghiệp mà môi trường văn hoá ngự trị mạnh mẽ sẽ nảy sinh sự tự lập đích thực ở mức độ cao nhất, nghĩa là các nhân viên được khuyến khích để tách biệt ra và đưa ra sáng kiến, thậm chí cả các nhân viên cấp cơ sở Doanh nghiệp phải nhấn mạnh sự cam kết gắn bó của mình với con người có tinh thần đổi mới và sáng chế, một quan niệm triết lý đã đóng vai trò là động lực chủ đạo trong sự thành công của công ty Thứ nhất, phải có những con người có khả năng cao, có tinh thần đổi mới và sáng chế cao trong khắp tổ chức Thứ hai, tổ chức phải có những mục tiêu và sự lãnh đạo làm phát sinh
Trang 27nhiệt tình ở tất cả mọi cấp Những nhân viên trong đơn vị quản lý quan trọng tự bản thân phải nhiệt tình với những người cộng sự của họ dù ở cấp nào đi nữa
1.1.5.2 Tác động của nền VHDN yếu và xấu
Với một nền VHDN yếu hoặc xấu nó sẽ có tác động kìm hãm doanh nghiệp đổi mới, mở rộng cho phù hợp với những thay đổi của thị trường trong
và ngoài nước
Một nền VHDN yếu thể hiện ở tính chuyên quyền độc đoán và hệ thống
tổ chức quan liêu gây nên không khí thụ động sợ hãi của nhân viên, khiến họ
có thái độ thờ ơ chống đối lãnh đạo Như thế làm cho nhân viên không có niềm tin ở doanh nghiệp họ Doanh nghiệp muốn thay đổi chiến lược, muốn
mở rộng thị trường, nhưng các thành viên lại không chấp nhận (nói cách khác
là không làm quen được) chiến lược mới và cố bám lấy những giá trị, niềm tin, truyền thống vốn là nền tảng của VHDN cũ, điều này nhất định sẽ gây khó dễ cho hoạt động kinh doanh, thậm chí còn là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại hay suy yếu của doanh nghiệp
Một nền văn hóa xấu thể hiện ở những cung cách làm ăn chụp giật, chơi xấu đối thủ cạnh tranh, hoặc doanh nghiệp không thực hiện những trách nhiệm xã hội điều này sẽ làm cho doanh nghiệp mất uy tín trên thị trường sẽ không có sự phát triển bền vững
1.2 Xây dựng văn hoá doanh nghiệp
1.2.1 Quan điểm chủ yếu xây dựng VHDN
VHDN là nền tảng cho sự phát triển của doanh nghiệp Như trên đã nói, VHDN là bản sắc riêng, là bộ gen được duy trì, kế thừa và trường tồn qua nhiều thế hệ thành viên, nó là tài sản tinh thần, chất keo kết dính các thành viên lại với nhau Vì vậy, doanh nghiệp nào biết chú trọng xây dựng nền văn
Trang 28hoá doanh nghiệp thực sự thì doanh nghiệp ấy phát triển bền vững Trong quá trình xây dựng và phát triển văn hoá doanh nghiệp, cần có nhận thức rõ ràng
về một số quan điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, người chủ (người sáng lập) hay nhà quản trị cấp cao nhất
doanh nghiệp đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp Bên cạnh đó, sự chia sẻ đồng thuận và cùng nhau thực hiện công việc của mọi thành viên trong doanh nghiệp cũng là yếu tố không thể thiếu
VHDN chỉ có thể tạo lập khi người chủ sáng lập hay nhà quản trị cấp cao nhất doanh nghiệp có đủ sức, đủ tài để sáng tạo ra hệ thống giá trị, xác lập
ý nghĩa hoạt động của doanh nghiệp Họ phải là người khởi xướng, cổ vũ, bênh vực và lan truyền các giá trị văn hoá trong khắp các doanh nghiệp Người chủ trước hết phải hiểu thấu đáo và sâu sắc các giá trị mà họ khởi xướng, sau đó phải gương mẫu và thực hiện nghiêm túc những tập tục, thói quen và tuân thủ những chuẩn mực chung Tuy nhiên, người chủ sáng lập doanh nghiệp không nhất thiết là một cá nhân
Thứ hai, VHDN là tài sản tinh thần của doanh nghiệp, không thể
muốn mà xây dựng được ngay trong ngày một ngày hai mà đòi hỏi một quá trình phấn đấu bền bỉ, gian khổ, hình thành nên những những quan niệm giá trị, xu hướng tâm lý và sắc thái văn hoá chung của doanh nghiệp Điều đó đòi hỏi phải có sự hiểu biết về văn hóa dân tộc, có năng lực tổng kết thực tiễn, phát hiện những hành vi tiêu biểu, những giá trị cao đẹp…khuyến khích mọi người làm theo, thực hiện duy trì và nuôi dưỡng lâu bền để trở thành truyền thống, tập tục và những thói quen không gì thay đổi được
Thứ ba, VHDN do toàn thể các thành viên trong doanh nghiệp tạo
nên Vì thế, xây dựng VHDN đòi hỏi phải giáo dục văn hoá cho các thành viên trong doanh nghiệp, nâng cao tri thức, trình độ đạo đức, thẩm mỹ…làm cho họ hiểu và thấm nhuần những chuẩn mục và giá trị cơ bản của văn hoá
Trang 29doanh nghiệp Chỉ khi nào các thành viên hiểu rõ được các giá trị, các chuẩn mực, truyền thống, tập tục…trong nền VHDN của mình, thừa nhận nó và tự giác tuân thủ thì khi đó doanh nghiệp mới thành công trong việc xây dựng cho mình một nền văn hoá thực sự
Thứ tư, xây dựng VHDN chỉ được coi là thành công khi nó tạo ra
được sức mạnh thực tiễn từ sự nỗ lực cống hiến của doanh nghiệp đó trong hoạt động kinh doanh; khi doanh nghiệp đó đưa ra thị trường những sản phẩm
có hàm lượng văn hóa cao, có sự hàm chứa tổng hợp các giá trị chân - thiện -
mỹ đối với họ đồng thời với cả xã hội VHDN không chỉ có chức năng đối nội
mà quan trọng hơn là chức năng đem lại cho cộng đồng, xã hội sự an toàn, thịnh vượng, giá trị và sự sáng tạo Vì vậy, đạo đức kinh doanh, trách nhiệm
xã hội là những tiêu chí đầu tiên để đánh giá về một hệ thống VHDN Tiêu chuẩn cao hơn nữa, khó hơn nữa cần nhìn vào sản phẩm và dịch vụ hiện thực của doanh nghiệp Những công ty tạo ra các sản phẩm tốt đẹp như Iphone, Ipad hay xe BMW thì nhân viên không thể thiếu sự nuôi dưỡng của một nền VHDN giàu tính nhân văn và hướng tới sự hoàn hảo
Thứ năm, VHDN phải được tiếp cận như là một bộ phận cấu thành của
hệ thống quản trị doanh nghiệp, có nghĩa là VHDN phải được xây dựng trong
sự gắn bó chặt chẽ với hệ thống quản trị doanh nghiệp Không thể có một nền VHDN thực sự nếu như các yếu tố khác của hệ thống quản trị doanh nghiệp không được xác lập phù hợp như cơ cấu tổ chức, sứ mệnh và mục tiêu của doanh nghiệp, hệ thống quản trị nhân sự, công tác kiểm soát…và VHDN được xây dựng cũng có mục tiêu để nâng cao chất lượng và hiệu quả của quản trị doanh nghiệp đó
Thứ sáu, VHDN không phải là cái nhất thành bất biến; là cái phù hợp,
ổn định và cần thiết đối với doanh nghiệp này có thể trở nên bất hợp lý, không phù hợp với doanh nghiệp khác Vì vậy, khi nghiên cứu tham khảo kinh
Trang 30nghiệm xây dựng VHDN không được tuỳ tiện áp dụng (bắt chước) các triết
lý, giá trị, chuẩn mực, hành vi ứng xử…của nền văn hoá khác hay của tổ chức (doanh nghiệp) khác trong doanh nghiệp của mình Mặt khác, khi đã được xây dựng, VHDN không như một pháo đài bê tông bất định Nó có thể bền vững, trường tồn với thời gian song khi môi trường kinh doanh có sự thay đổi sâu sắc thì không tránh khỏi nhu cầu tổng kết, đánh giá và cả sự sửa đổi, bổ sung
và tái cấu trúc khi thực sự cần thiết
1.2.2 Quy trình xây dựng và phát triển một hệ thống VHDN
Xây dựng VHDN không phải là ngày một ngày hai có thể làm được, nhiều chủ doanh nghiệp và cả các nhà tư vấn đều chung quan điểm: rất khó đề xây dựng văn hoá doanh nghiệp, vì nó tốn quá nhiều công sức, tiền của Xây dựng VHDN thông thường trải qua các giai đoạn sau:
Thứ nhất, phổ biến kiến thức thức chung: Đây là bước chuẩn bị tinh
thần quan trọng cho quá trình xây dựng VHDN Việc xây dựng VHDN thành công hay không đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả tập thể doanh nghiệp từ lãnh đạo cho đến từng nhân viên Giai đoạn này tập trung vào việc phổ biến kiến thức chung về VHDN, các yếu tố cấu thành, ý nghĩa của VHDN cho mọi thành viên Mục đích của giai đoạn này giúp cho thành viên trong doanh nghiệp hiểu về VHDN và ý thức được lợi ích của nó đối với sự phát triển của bản thân và doanh nghiệp Sự hiểu biết về VHDN của mỗi thành viên trong doanh nghiệp sẽ tạo nên sự đồng thuận cao, giúp cho việc xây dựng VHDN sớm gặt hái được nhiều thành công
Thứ hai, định hình VHDN: VHDN không hình thành cùng lúc với
việc hình thành doanh nghiệp, nó chỉ có thể được nhận dạng sau vài năm hoạt động Đây là giai đoạn hình thành những yếu tố của VHDN Việc định hình VHDN bao gồm việc xây dựng: cấu phần của nó, cả các biểu hiện
Trang 31hữu hình và vô hình như như kiến trúc, bố trí nơi làm việc, logo, slogan, quy chế, triết lý kinh doanh, các giá trị cốt lõi… Đồng thời cần xây dựng
cơ sở, thể chế pháp lý cho hoạt động cuả doanh nghiệp Bản chất của sự lãnh đạo, quản trị doanh nghiệp bằng VHDN của nó là đức trị nên cần cố một hệ thống pháp trị làm điểm tựa và hỗ trợ cho nó, vì vậy xây dựng VHDN cần:
- Xây dựng hệ thống văn bản quản lý cho doanh nghiệp: Đó là một hệ
thống các văn bản thể hiện mối quan hệ pháp lý, quan hệ quản lý và quan hệ lao động trong nội bộ doanh nghiệp hoặc quan hệ của doanh nghiệp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác Văn bản nội bộ doanh nghiệp gồm có các loại chính như sau: Điều lệ doanh nghiệp; Thoả ước lao động tập thể; Nội quy lao động; Qui chế hoạt động của Hội đồng thành viên, Đại Hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị; Quy chế hoạt động của ban điều hành; Quy chế tài chính doanh nghiệp; Quy chế bảo mật thông tin kinh doanh; Hợp đồng lao động…Mỗi văn bản nội bộ của doanh nghiệp có một ý nghĩa khác nhau, tổng thể chúng hợp thành một hệ thống thống nhất và hoàn chỉnh Các nhà quản lý doanh nghiệp cần phải có một cách nhìn chiến lược và khoa học trong việc xác định vai trò của từng văn bản nội bộ của mình Hãy làm sao để doanh nghiệp truyền đạt được ý tưởng, mục đích của mình trong các văn bản nội bộ
và tổ chức thực hiện chúng một cách có hiệu quả chính là góp phần quan trọng để làm nên thành quả kinh doanh và phát triển bền vững
Qua hệ thống văn bản nội bộ của doanh nghiệp chúng ta cũng có thể đánh giá được văn hoá của doanh nghiệp đó
- Xây dựng cơ chế khen thuởng kỹ luật: Việc khen thưởng, đề bạt vào
các chức danh, các biểu tượng về địa vị và các tiêu chí đề bạt cần nhất quán với các tuyên bố về nhiệm vụ, về giá trị mà doanh nghiệp hướng tới
Trang 32Thứ ba, Triển khai xây dựng VHDN: Xây dựng VHDN cần được tiến
hành từng bước yêu cầu phải đồng bộ và kiên trì, từ tuyên truyền những quan điểm, hệ giá trị cho đến thực hiện các chuẩn mực hành vi phải được tổ chức một cách khéo léo Doanh nghiệp có thể tổ chức các phòng trào, phương thức tôn vinh hành vi văn hóa, góp phần xây dựng văn hóa theo đúng định hình doanh nghiệp Giai đoạn này doanh nghiệp có thể phải đối mặt với những thay đổi, những khó khăn, vướng mắc, bước đầu lãnh đạo doanh nghiệp có thể phải ban hành những quy chế để bắt buộc thực hiện Sau một thời gian, từ
vị thế bắt buộc, nhân viên có thể thực hiện tự nguyện, đây chính là dấu hiệu của thành công Song song với việc điều chỉnh những yếu tố vô hình, doanh nghiệp cần tiến hành thay đổi những yêu tố hữu hình như kiến trúc, mầu sắc, nội thất văn phòng, nghi thức sao cho phù hợp với định hướng xây dựng VHDN mình Kết quả giai đoạn này sẽ dần dần hình thành những đặc trưng văn hóa của doanh nghiệp, giúp các thành viên nhận biết giá trị văn hóa của doanh nghiệp mình
Thứ tư, ổn định và phát triển VHDN: Bất cứ một yếu tố văn hóa nào khi
xây dựng đầy đủ các cấu phần và triển khai trong thực tế hoạt động của doạnh nghiệp cũng cần có sự theo dõi, tổng kết và điều chỉnh cho phù hợp
Về mặt nguyên tắc, không có gì là không thay đổi kể cả những cái ít thay đổi như VHDN Nhưng khác với sự thay đổi của một dự án hay chiến lược kinh doanh, sự thay đổi nội dung của VHDN đòi hỏi phải làm thận trọng hơn, cần
có sự đồng thuận cao hơn trong toàn bộ nhân sự của doanh nghiệp Lãnh đạo doanh nghiệp là người quyết định VHDN nhưng nó sống được hay không lại phụ thuộc vào sự chấp nhận, niềm tin và sức mạnh của mọi thành viên Các hoạt động văn hóa lúc này sẽ phát huy tác dụng tích cực như là công cụ trong việc quản lý điều hành doanh nghiệp Nhưng khi chiến lược và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp không đạt mục tiêu nhiều năm, chắc chắn lãnh đạo
Trang 33phải xem xét lại VHDN của mình Như trường hợp doanh nghiệp taxi Mai Linh, sự mất thị phần và kinh doanh thua lỗ kéo dài buộc lãnh đạo của nó phải xem lại nội dung VHDN đã chuẩn chưa và việc thực hiện trong thực tế của doanh nghiệp đã đúng như những gì họ tuyên bố chưa Để giúp cho lãnh đạo theo dõi, quản trị được sự thay đổi này, nhiều doanh nghiệp lớn như PetroVietnam, FPT… đã thành lập bộ phận chuyên trách giúp Hội đồng quản trị
Thực tiễn ở các doanh nghiệp phát triển bền vững cho thấy, trong quá trình triển khai VHDN vào thực tế hoạt động, cùng với sự gương mẫu, nêu gương của lãnh đạo, vai trò của nhân viên rất quan trọng; họ thường có nhiều sáng kiến, cách làm khiến các nội dung, giá trị của VHDN trở thành hiện thực, đi đến thực tế sản xuất kinh doanh và đời sống của lực lượng lao động Hãy tạo ra những cơ hội để các nhân viên có thể triển khai ý tưởng của mình, biến các ý tưởng tốt của từng thành viên thành hành động chung của doanh nghiệp Đến khi VHDN đã bước vào giai đoạn trưởng thành và khi môi trường kinh doanh vĩ mô có sự thay đổi lớn như giai đoạn 4- 5 năm qua thì doanh nghiệp cần tổ chức đánh giá VHDN mình, xác định những yếu tố văn hóa nào nên duy trì, yếu tố nào cần thay đổi và bổ sung các nội dung mới
Tóm lại, xây dựng VHDN đem lại lợi ích lớn cho bộ phận lãnh đạo,
cho đội ngũ cán bộ nhân viên và cho cả khách hàng và xã hội Một doanh nghiệp có một nền VHDN mạnh và đẹp sẽ tạo ra một môi trường nhân văn tốt đẹp thu hút, giữ chân được nhiều nhân tài, động viên được toàn thể đội ngũ nuôi dưỡng lý tưởng và niềm tin, không ngừng cố gắng phấn đấu trong hoạt động kinh doanh, cống hiến cho xã hội những sản phẩm và dịch vụ có đầy đủ tính chân thực, thiện và đẹp Một VHDN được xây dựng đầy đủ, đúng cách sẽ giúp bộ phận lãnh đạo, quản lý không chỉ nhận thức rõ sứ mệnh, mục tiêu chiến lược mà còn có phương thức điều hành, quản trị tự nhiên, nền nếp, được
Trang 34lòng nhân viên và phát huy được sức mạnh cộng đồng, dân chủ trong doanh nghiệp
Tuy nhiên, xây dựng, duy trì và phát triển VHDN là một quá trình phấn đấu gian khổ, phải vượt qua nhiều thử thách, đòi hỏi sự gương mẫu, dấn thân của trước hết từ người/ bộ phận sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp Không thể có niềm tin vào việc thực hiện sự cam kết của doanh nghiệp từ phía nhân viên và khách hàng nếu người lãnh đạo “nói một đằng, làm một nẻo” Vì vậy, không có nhiều doanh nghiệp hiện thực hóa được lý luận về VHDN; tình trạng xây dựng VHDN một cách dở dang, hình thức, thiếu khoa học…còn nhiều
1.3 Tình hình VHDN của các doanh nghiệp Việt Nam
Nhìn chung, văn hóa công sở và VHDN của nước ta còn có những mặt hạn chế nhất định Đó là một nền văn hóa được xây dựng trên nền tảng dân trí thấp, môi trường làm việc có nhiều bất cập, dẫn đến có những cái nhìn ngắn hạn, chưa có quan niệm đúng đắn về cạnh tranh và hợp tác, chưa có tính chuyên nghiệp, còn bị ảnh hưởng bởi các tàn dư của nền kinh tế bao cấp, chưa
có cơ chế dùng người thỏa đáng vời từng vị trí làm việc, có sự bất cập trong giáo dục và đào tạo Mặt khác, văn hóa doanh nghiệp Việt Nam còn có các yếu tố khác chi phối như: Nền sản xuất nông nghiệp nghèo nàn và ảnh hưởng của tàn dư đế quốc, phong kiến
Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam có thể khái quát như sau: [23]
Thời phong kiến, đế quốc, lịch sử đã ghi lại tên tuổi của những doanh nhân như Bạch Thái Bưởi được coi là “vua vận tải đầu thế kỷ XX”, Nguyễn Sơn Hà chủ hãng sơn Resistanco đã dùng thương hiệu của mình đánh bại nhiều hãng sơn đương thời Trần Chánh Chiếu đã chủ trì nhiều cơ sở kinh doanh, Trương Văn Bền với nhãn hiệu xà phòng Cô Ba nổi tiếng Thời đó,
Trang 35với phong trào canh tân đất nước đã kích thích nhiều người Việt lập ra những hãng buôn lớn, đề cao tinh thần dân tộc trong kinh doanh Qua đó có thể khẳng định, trên khắp đất nước ta trong những năm bị đế quốc thống trị, đã có nhiều doanh nhân thấu hiểu được nỗi đau mất nước, thân phận nô lệ, nên quyết tâm đề cao tinh thần dân tộc trong kinh doanh - đó là một nội dung cơ bản của văn hóa doanh nghiệp thời đó
Thời kỳ thực hiện thể chế kế hoạch hóa tập trung, văn hóa trong các doanh nghiệp không thể hiện rõ nhưng trong thời kỳ này cũng xuất hiện một
số mô hình kinh doanh có hiệu quả, đã nêu lên một số nét đặc trưng của văn hóa doanh nghiệp thời kỳ đó, tinh thần dám nghĩ dám làm, năng động sáng tạo vươn lên khắc phục khó khăn, thiếu thốn và là tiền đề văn hóa doanh nghiệp cho thế hệ doanh nhân, doanh nghiệp ngày nay kế thừa và phát triển
Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12 – 1986) và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được chấp nhận mở ra cho các doanh nghiệp, doanh nhân nước ta những điều kiện mới có ý nghĩa quyết định để từng bước hình thành văn hóa doanh nghiệp phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội ở nước ta, đó là văn hóa doanh nghiệp Việt Nam và là động lực để phát huy sức mạnh dân tộc cho công cuộc chấn hưng đất nước Mọi người được tự do phát huy tài năng, trí tuệ trong kinh doanh, làm giàu chính đáng cho mình và cho đất nước Công cuộc đổi mới đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển dân doanh, đội ngũ doanh nhân mới, hình thành và phát triển văn hóa doanh nhân mới, mở đường cho sự hình thành và phát triển của VHDN Việt Nam
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, văn hóa doanh nghiệp Việt Nam có 4 đặc điểm nổi bật :
Trang 36Thứ nhất tính tập thể: Quan niệm tiêu chuẩn đạo đức của doanh nghiệp
là do toàn thể thành viên doanh nghiệp tích luỹ lâu dài cùng nhau hoàn thành,
có tính tập thể
Thứ hai, tính quy phạm: Văn hóa doanh nghiệp có công năng điều
chỉnh kết hợp: trong trường hợp lợi ích cá nhân và doanh nghiệp xảy ra xung đột thì công nhân viên chức phải phục tùng các quy phạm, quy định của văn hóa mà doanh nghịêp đã đề ra, đồng thời doanh nghiệp cũng phải biết lắng nghe và cố gắng giải quyết hài hòa để xóa bỏ xung đột
Thứ ba, tính độc đáo: Doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau, doanh
nghiệp khác nhau ở cùng một quốc gia đều cố gắng xây dựng văn hóa doanh nghiệp độc đáo trên cơ sở văn hóa của vùng đất mà doanh nghiệp đang tồn tại Văn hóa doanh nghiệp phải bảo đảm tính thống nhất trong nội bộ từng doanh nghiệp, nhưng giữa các doanh nghiệp khác nhau cần phải tạo nên tính độc đáo của mình
Thứ tư, tính thực tiễn: Chỉ có thông qua thực tiễn, các quy định của văn
hóa doanh nghiệp mới được kiểm chứng để hoàn thiện hơn nữa Chỉ khi nào văn hóa doanh nghiệp phát huy được vai trò của nó trong thực tiễn thì lúc đó mới thực sự có ý nghĩa
Để phát huy ưu thế của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế toàn cầu, khi đối mặt với các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải xem xét và kiện toàn hơn nữa vấn đề văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp khi được xây dựng hoàn thiện không những kích thích sức phát triển sản xuất mà còn có ý nghĩa quan trọng
để xây dựng uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp Hiện nay, việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở nước ta cần chú ý đồng bộ 5 phương diện sau:
Trang 37Hai là, xây dựng quan niệm hướng tới thị trường Việc các doanh
nghiệp phải trở thành doanh nghiệp tự chủ để phù hợp với kinh tế thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh chóng hình thành quan niệm thị trường linh động, sát với thực tiễn, không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh
Ba là, xây dựng quan niệm khách hàng là trên hết Doanh nghiệp hướng
ra thị trường nói cho cùng hướng tới khách hàng Phải lấy khách hàng làm trung tâm, là người quyết định sự thành bại của DN Do vậy VHDN củng phải hướng tổ chức vào phục vụ khách hàng và coi đó là một giá trị cốt lõi của DN
Bốn là, xí nghiệp trong quá trình phát triển phải tăng cường ý thức đạo
đức chung, quan tâm đến phúc lợi và an sinh xã hội trong DN, chăm sóc chu đáo tới nguồn nhân lực của mình
Năm là, xây dựng tinh thần trách nhiệm xã hội của DN Một doanh
nghiệp không những phải coi sản phẩm của mình là một bộ phận làm nên quá trình phát triển nhân loại mà còn phải coi việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp mình là một bộ phận của văn hóa nhân loại Doanh nghiệp đóng góp cho xã hội không chỉ ở số lượng của cải mà còn phải thỏa mãn được nhu cầu văn hóa nhiều mặt của xã hội hiện đại như tích cực ủng hộ, tài trợ cho sự nghiệp giáo dục, văn hóa, xã hội, thúc đẩy khoa học - kỹ thuật phát triển và tiến bộ, hoạt động từ thiện, đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng Thông qua các hoạt động nhân đạo và văn hóa này hình ảnh doanh nghiệp sẽ trở nên tốt đẹp hơn, uy tín của doanh nghiệp được nâng lên đáng kể
Trang 38CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VHDN TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN ĐẦU TƯ-TƯ VẤN QUẢN LÝ VÀ QUẢN TRỊ
DOANH NGHIỆP
2.1 Tổng quan về công ty TNHH Tư vấn đầu tư - Tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp
2.1.1 Giới thiệu quá trình hình thành về công ty
Công ty TNHH Tư vấn đầu tư - Tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp được thành lập năm 2004 Căn cứ theo:
Luật Doanh nghiệp số 13/1999/QH10 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 12/06/1999 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp
Điều lệ Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tư vấn Quản lý - Quản trị Doanh nghiệp được các thành viên sáng lập Công ty thông qua ngày 15 tháng
và các quy định hiện hành của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 39Vốn điều lệ Công ty: Vốn điều lệ Công ty là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) Việt Nam
Trong quá trình hoạt động, Công ty Tư vấn đầu tư – Tư vấn quản lý và quản trị doanh nghiệp có nhiều sự điều chỉnh thích nghi với sự biến động của môi trường Bên cạnh việc bổ sung, cắt giảm các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh như: Phân phối rượu vang nho Italia tại Việt Nam, kinh doanh Café, bất động sản… Năm 2006, một năm với nhiều thành tựu nổi bật, Công ty mở văn phòng đại diện tại Hà nội và TP Hồ Chí Minh
+) Hà Nội : Số 49 Ngõ Núi Trúc, đường Núi Trúc, Quận Ba Đình +) TP Hồ Chí Minh: 4B, tầng 4, toà nhà Green, 62A Phạm Ngọc Thạch, Quận 3
Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tư vấn Quản lý - Quản trị Doanh nghiệp là công ty tư vấn cung cấp các dịch vụ tư vấn trong các lĩnh vực: Tư vấn quản trị doanh nghiệp, tư vấn thủ tục pháp lý, tư vấn pháp lý sở hữu trí tuệ, nghiên cứu và phát triển thị trường
Đội ngũ chuyên gia tư vấn của công ty đầy nhiệt huyết, năng động và sáng tạo, trình độ học vấn cao, kinh nghiệm nhiều năm, được đào tạo chuyên sâu bởi công ty Tư vấn hàng đầu Đan mạch – DIBD và các tổ chức Quốc tế Những người sáng lập Công ty trước đây từng là chuyên gia tư vấn cho Chương trình Phát triển Doanh nghiệp tư nhân (PSD) của Đại sứ quán Đan Mạch (RDE), là nhà quản lý của Trung tâm Giới thiệu việc làm Thanh niên Thành phố Hà Nội (HYESC), là người sáng lập Công ty Dịch
vụ hỗ trợ doanh nghiệp (BSS), đồng thời là những chuyên gia tư vấn độc lập cho một số dự án do quỹ DANIDA, ADB, ODA và Ngân hàng Thế giới tài trợ
Trang 402.1.2 Tầm nhìn, mục tiêu và các giá trị
* Tầm nhìn của công ty: Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam và xu
hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các doanh nghiệp tư nhân Các doanh nghiệp tư nhân từ khi khởi nghiệp đến lúc thành công phải qua nhiều giai đoạn từ hình thành đến ổn định và phát triển bền vững Để đi đến thành công, nhất thiết tất cả các doanh nghiệp đang phát triển phải có được những nền tảng về mặt pháp lý, quản lý hiệu quả, thông tin thị trường và những chiến lược đầu tư sáng suốt
* Định hướng chiến lược
Trở thành công ty tư vấn chuyên nghiệp và uy tín Hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp và tối đa hoá lợi ích cho khách hàng bằng việc cung cấp các dịch vụ tư vấn ở các lĩnh vực: Nghiên cứu và phát triển thị trường, thiết lập và phát triển các dự án, dịch vụ tư vấn pháp lý - quản lý - quản trị doanh nghiệp
* Mục tiêu của Công ty
Mục tiêu của Công ty là hỗ trợ tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) và giúp các doanh nghiệp thu được lợi nhuận tối đa trong các hoạt động giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B)
và doanh nghiệp với khách hàng (B2C) thông qua việc cung cấp các dịch vụ
tư vấn chuyên nghiệp trong các lĩnh vực: Khởi sự và quản lý doanh nghiệp, tư vấn dự án, nghiên cứu khả thi và các dịch vụ tư vấn hợp tác chiến lược
* Giá trị: Mong muốn của công ty là trở thành một trong những nhà
cung cấp dịch vụ tư vấn ưu việt nhất tại Việt Nam Công ty luôn luôn đổi mới
và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng Đạo đức nghề nghiệp của công ty được minh chứng thông qua những gì công ty đã, đang và sẽ làm cho khách hàng của mình với 4 nguyên tắc làm việc: