Bên cạnh việc phác thảo môi trường và cơ sở hạ tầng mà doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đang hoạt động, một phần quan trọng của báo cáo này là cung cấp thông tin về cách thức hoạt
Trang 1VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
TRUNG TÂM TƯ VẤN CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP
-
Dự án CARD 030/06 VIE: Xây dựng chiến lược nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NGÀNH THỨC ĂN CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM
PHẦN I: Sản xuất thức ăn chăn nuôi
Phạm Thị Liên Phương 1 , Nguyễn Thị Thịnh 1 , Donna Brennan 2 , Sally Marsh 2 , Bùi Hải Nguyên 1
1 Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Hà Nội
2 Khoa Kinh tế Nông nghiệp và Tài nguyên, Đại học Tây Úc
Hà Nội, tháng 4 năm 2010
Trang 2TÓM TẮT TỔNG QUAN
Xuất phát điểm của nghiên cứu này là từ các nghiên cứu trước đó về ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam với hạn chế về chi phí sản xuất cao và năng suất thấp Tuy nhiên, chưa từng có nghiên cứu nào xem xét sự khác biệt giữa các doanh nghiệp sản xuất theo quy
mô, vùng và hình thức sở hữu Bởi vậy, các giải pháp trước đây nhằm đẩy mạnh khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là các giải pháp chung chung chứ không cụ thể hóa cho từng loại doanh nghiệp Nghiên cứu này tập trung vào các doanh nghiệp cụ thể trong ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam trong đó tập trung đặc biệt vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) ở các vùng khác nhau
Báo cáo này cung cấp một bức tranh tổng quan về ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam Bên cạnh việc phác thảo môi trường và cơ sở hạ tầng mà doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đang hoạt động, một phần quan trọng của báo cáo này là cung cấp thông tin về cách thức hoạt động của các doanh nghiệp dọc chuỗi cung ứng, mô tả mối quan hệ với các nhà cung cấp nguyên liệu và các đối tượng khách hàng Số liệu được thu thập vào giữa năm 2008 với việc điều tra 62 doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi trên toàn quốc Thông tin thu thập được liên quan đến các hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp có quy mô khác nhau, các kênh phân phối và trình độ công nghệ sử dụng
Trọng tâm của bản báo cáo này là việc so sánh các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệp lớn trong các hoạt động sản xuất và kinh doanh như sử dụng nguyên liệu đầu vào, lưu kho, chủng loại sản phẩm, quản lý chất lượng và các loại khách hàng Các hoạt động này thể hiện cách thức mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn hơn Các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi được phân loại theo tiêu chí như sau: doanh nghiệp nhỏ có sản lượng dưới 10.000 tấn một năm, doanh nghiệp trung bình có sản lượng từ 10.000 đến dưới 60.000 tấn một năm và doanh nghiệp lớn có sản lượng từ 60.000 tấn một năm trở lên
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã khai thác các khía cạnh đánh giá khả năng cạnh tranh trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Cạnh tranh trong ngành không chỉ liên quan tới hiệu quả về mặt chi phí do tính kinh tế theo quy mô Cạnh tranh trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi còn liên quan đến các khía cạnh về chất lượng thức ăn (và nhận thức về chất lượng), các dịch vụ khi bán hàng, các kênh thu mua và phân phối mà doanh nghiệp
sử dụng
Trong nghiên cứu này chúng tôi đã tìm ra bằng chứng thống kê cho thấy chi phí sản xuất
tỷ lệ nghịch với quy mô, trong đó các doanh nghiệp nhỏ có chi phí sản xuất trên một kg sản phẩm đầu ra cao hơn về mặt thống kê so với các doanh nghiệp trung bình và các doanh nghiệp trung bình lại có chi phí sản xuất cao hơn các doanh nghiệp lớn Tuy nhiên chỉ riêng kết quả này không đủ nói lên hiệu quả kém của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Chẳng hạn, chúng tôi thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung sản xuất thức ăn đậm đặc nhiều hơn so với các doanh nghiệp lớn Sản xuất thức ăn đậm đặc đòi hỏi chi phí nguyên liệu đầu vào trên một đơn vị sản phẩm đầu ra cao hơn, do đó chi phí sản xuất trên 1 kg sản phẩm có thể cũng sẽ cao hơn đối với các doanh nghiệp sản xuất nhiều thức ăn đậm đặc hơn
Chúng tôi không tìm thấy bằng chứng thống kê cho thấy các doanh nghiệp nhỏ phải trả nhiều hơn cho các nguyên liệu thô đầu vào chính trong sản xuất thức ăn Các phân tích về giá mua nguyên liệu theo vùng cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa miền Bắc và miền Nam Kết quả của chúng tôi cho thấy chi phí cho nguyên liệu thô
Trang 3chiếm khoảng 80% tổng chi phí sản xuất thức ăn chăn nuôi Một phân tích về các chi phí ngoài chi phí nguyên liệu thô cho thấy các doanh nghiệp lớn có chi phí thấp hơn về mặt thống kê so với các doanh nghiệp nhỏ Các chỉ số khác trong báo cáo này cho thấy chi phí sản xuất thấp hơn ở các doanh nghiệp quy mô lớn có thể phản ánh hiệu quả cao hơn
Dữ liệu của chúng tôi chỉ ra rằng các doanh nghiệp nhỏ (sản xuất dưới 10.000 tấn thức ăn một năm) rất khó khăn để có thể duy trì cạnh tranh Số liệu cho thấy họ phải đối mặt với chi phí cao hơn và bán một số loại thức ăn ở mức giá thấp hơn về mặt thống kê, dẫn đến lợi nhuận thấp hơn đáng kể Điều này cũng được hỗ trợ bởi các báo cáo về thực trạng ngừng hoạt động ở các doanh nghiệp nhỏ,và theo quan sát của chúng tôi khi thực hiện cuộc điều tra, rất nhiều doanh nghiệp trong danh sách trước đây không còn hoạt động nữa Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các doanh nghiệp trung bình (sản xuất
từ 10.000 đến 60.000 tấn một năm) vẫn duy trì được khả năng cạnh tranh, họ có chi phí, chủng loại sản phẩm và giá cả tương tự với các doanh nghiệp lớn
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy chuỗi cung cấp/phân phối của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có sự khác biệt tương đối với các doanh nghiệp lớn trong ngành thức
ăn chăn nuôi Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tìm mua nguyên liệu thô và phân phối sản phẩm khác với doanh nghiệp lớn Họ thường giao dịch nhiều hơn với các hộ nông dân và
tư thương để thu mua nguyên liệu thô và phân phối sản phẩm Các doanh nghiệp lớn thường phụ thuộc nhiều hơn vào nhập khẩu (chẳng hạn như ngô) để đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu thô, trong khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ có xu hướng tìm mua nguyên liệu trong nước nhiều hơn Cũng có thể là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cung cấp hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ khác cũng hoạt động trong ngành chăn nuôi Quản lý chất lượng được thực hiện ở mức thấp hơn trong các doanh nghiệp nội địa so với các doanh nghiệp nước ngoài/ liên doanh, mặc dù hàm lượng đạm (ghi trên bao bì thức ăn) trong thức ăn chăn nuôi sản xuất bởi các doanh nghiệp trong nước không thấp hơn về mặt thống kê so với các doanh nghiệp nước ngoài Tuy nhiên, thực tế là các tiêu chuẩn tiên tiến quốc tế về quản lý chất lượng chẳng hạn như ISO hay HACPP chỉ được áp dụng tại các doanh nghiệp nước ngoài và liên doanh, chứng tỏ quy trình quản lý chất lượng tốt hơn đối với cả nguyên liệu thô và sản phẩm ở các doanh nghiệp nước ngoài/quy mô lớn
So với nhóm doanh nghiệp nội địa, các doanh nghiệp này cũng thường có phòng thí nghiệm kiểm soát chất lượng, có dây chuyền sản xuất riêng biệt, có hệ thống làm sạch tự động và sử dụng phần mềm phân chia tỷ lệ thức ăn với chi phí thấp nhất
Dựa trên những kết quả của nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra một số kiến nghị chính sách như sau đối với các nhà hoạch định chính sách:
• Cần tập trung vào việc quản lý chất lượng Để đạt được mục tiêu lâu dài về an toàn lương thực và tiềm năng xuất khẩu, chính phủ Việt Nam cần giải quyết các vấn đề chất lượng trong quá trình sản xuất các sản phẩm thức ăn chăn nuôi
• Cần giải quyết những rào cản đối với việc chuyển hàng hóa do việc kiểm soát của cảnh sát
• Đầu tư cho sản xuất nguyên liệu thô nội địa sử dụng trong sản xuất thức ăn chăn nuôi
• Cần mở rộng hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi
• Hỗ trợ và mở rộng vai trò của Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam (VAFA)
• Xem xét các khả năng có thể để chính phủ có thể cung cấp hỗ trợ về giá đối với nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra
Trang 4Chúng tôi đề xuất một số khuyến nghị sau đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong ngành:
• Các doanh nghiệp nhỏ cần tăng quy mô hoạt động
• Nâng cao nhận thức về các tiêu chuẩn quản lý chất lượng
• Tiếp tục tìm kiếm và khai thác các cơ hội thị trường chuyên biệt
• Xem xét các lợi thế từ việc đa dạng hóa và/hoặc cấu trúc mô hình hợp tác xã
• Hỗ trợ cho vai trò của Hiệp hội Thức ăn Chăn nuôi Việt Nam
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn chương trình CARD của Chính phủ Úc đã hỗ trợ kinh phí để thực hiện Dự án CARD 030/06 VIE: Xây dựng chiến lược nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi
Nhóm tác giả chân thành cảm ơn những đóng góp cho báo cáo nghiên cứu của các cán bộ nghiên cứu khác thuộc Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp: Phạm Tuyết Mai, Trần Công Thắng, Nguyễn Ngọc Quế, Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Nguyễn Anh Phong và Nguyễn Lệ Hoa
Nhóm tác giả cũng ghi nhận những thảo luận hữu ích của ông Lê Bá Lịch (VAFA), ông Trần Công Xuân (VPA), bà Bùi Thị Oanh (MARD) và ông Lã Văn Kính (VAAS phân viện phía Nam) cũng như các đại biểu tham gia hai hội thảo lấy ý kiến các bên liên quan
tổ chức vào tháng 12 năm 2009 tại Hà Nội và tháng 1 năm 2010 tại Thành phố Hồ Chí Minh Chúng tôi đã nhận được ý kiến góp ý về các vấn đề kỹ thuật của các chuyên gia Việt Nam nói trên và của TS Johanna Pluske (chuyên gia tư vấn kinh tế chăn nuôi) và
GS John Pluske (chuyên gia về dinh dưỡng vật nuôi từ Trường ĐH Murdoch, Tây Úc)
TS Johanna Pluske cũng đã đưa ra ý kiến phản hồi đối với các bản thảo của báo cáo này
và chúng tôi đánh giá rất cao các góp ý và bình luận hữu ích của bà
Cuối cùng, chúng tôi xin ghi nhận và cảm ơn đại diện của các doanh nghiệp tham gia điều tra vì sự hỗ trợ nhiệt tình cho công tác điều tra và cung cấp các thông tin chi tiết liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ANOVA Phân tích Phương sai
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CAP Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
CARD Chương trình Hợp tác Phát triển về Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
CP Công ty Charoen Pokphand
DLP Cục Chăn nuôi
FAO Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GMP Thực hành Quản lý tốt
HACCP Phân tích mối nguy hại và kiểm soát các điểm tới hạn
ISO Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế
MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
MCP Mono Calcium Phosphate
NSD Không có sự khác biệt về mặt thống kê
SD Độ lệch chuẩn
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
SOE Doanh nghiệp Nhà nước
VAFA Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam
VAT Thuế giá trị gia tăng
VBARD Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
VND Đồng Việt Nam
Trang 6MỤC LỤC
TÓM TẮT i
DANH SÁCH CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
1 GIỚI THIỆU 10
1.1 Bối cảnh 10
1.1.1 Ngành chăn nuôi gia súc ở Việt Nam 10
1.1.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 10
1.1.3 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành thức ăn ở chăn nuôi ở Việt Nam 11
1.2 Mục tiêu 11
1.3 Các câu hỏi nghiên cứu 12
1.4 Phương pháp luận 12
1.4.1 Các nghiên cứu nền tảng 12
1.4.2 Thiết kế điều tra và địa bàn 13
1.4.3 Thiết kế mẫu 13
1.4.4 Thu thập số liệu và xử lí 14
1.5 Những hạn chế và cấu trúc của báo cáo 16
1.5.1 Những hạn chế 16
1.5.2 Cấu trúc 16
2 NHỮNG THAY ĐỔI GẦN ĐÂY TRONG NGÀNH THỨC ĂN CHĂN NUÔI VIỆT NAM 17
3 THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THỨC ĂN CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM 22
3.1 Các đặc điểm cơ bản 22
3.2 Sử dụng lao động và trả lương 24
3.3 Cơ sở hạ tầng 26
4 CƠ CẤU CHI PHÍ VÀ SỬ DỤNG NGUYÊN LIỆU THÔ 30
4.1 Cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp SX thức ăn chăn nuôi 30
4.2 Thu mua nguyên liệu thô 31
4.2.1 Giá phải trả cho nguyên liệu thô và phần trăm nguyên liệu thô từ các nguồn khác nhau 31
4.2.2 Các nhà cung cấp nguyên liệu thô 36
4.2.3 Phương thức thanh toán đối với việc mua nguyên liệu 37
5 Đầu ra của nhà máy 39
5.1 Các loại đầu ra 39
5.2 Lợi nhuận 42
5.3 Thị phần và cạnh tranh 43
5.4 Thành phần dinh dường và sử dụng chất phụ gia 43
6 CHUỖI CUNG CẤP 45
6.1 Các kênh phân phối- khoảng cách vận chuyển 45
6.2 Các kênh phân phối- đối tượng khách hàng 45
6.3 Tổng quan về nguồn cung đầu vào và các kênh phân phối đầu ra đối với cá doanh nghiệp quy mô khác nhau 48
6.3.1 Các nguồn cung ứng và các kênh phân phối đối với các nhà máy thức ăn chăn nuôi quy mô lớn 48
6.3.2 Các nguồn cung ứng và các kênh phân phối đối với nhà máy thức ăn chăn nuôi quy mô trung bình 49
6.3.3 Các nguồn cung ứng và các kênh phân phối đối với các nhà máy thức ăn chăn nuôi quy mô nhỏ 50
Deleted: 29 Deleted: 29 Deleted: 30
Deleted: 30 Deleted: 35 Deleted: 36
Trang 76.3.4 Tóm tắt nguồn cung ứng đầu vào và các kênh phân phối 50
6.4 Các phương thức thanh toán 51
6.4.1 Phương thức thanh toán đối với thức ăn hỗn hợp 51
6.4.2 Các phương thức thanh toán đối với thức ăn đậm đặc 52
6.5 Các dịch vụ Error! Bookmark not defined. 6.5.1 Dịch vụ đối với các đại lý 53
6.5.2 Dịch vụ đối với người chăn nuôi 54
6.6 Nhân tố quyết định giá thức ăn chăn nuôi 55
6.6.1 Định giá thức ăn chăn nuôi 55
6.6.2 Tỷ lệ hoa hồng 56
6.6.3 Thay đổi về giá bởi các doanh nghiệp trong năm 2007 57
6.7 Kiểm tra chất lượng sản phẩm 59
6.7.1 Cấp chứng chỉ và xét nghiệm Error! Bookmark not defined. 6.7.2 Phương pháp chế biến 61
6.7.3 Công thức sản phẩm 62
6.7.4 Khâu sau sản xuất và bảo quản 63
6.8 Vị trí, nguồn thông tin và các khó khăn trong quá trình vận chuyển hàng hóa 65 6.8.1 Vị trí của các doanh nghiệp 65
6.8.2 Các khó khăn mà các doanh nghiệp phải đối mặt trong quá trình vận chuyển hàng hóa 66
6.8.3 Các nguồn thông tin cho các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi 67
7 CÁC VẤN ĐỀ KHÁC 70
7.1 Cho vay Error! Bookmark not defined. 7.2 Lợi nhuận và đầu tư 71
7.3 Các vấn đề, cơ hội và khó khăn 73
8 TỔNG KẾT CÁC PHÁT HIỆN CHÍNH VÀ CÁC NGỤ Ý VỀ CHÍNH SÁCH 76
8.1 Các phát hiện chính 76
8.1.1 Các chi phí sản xuất 76
8.1.2 Doanh thu và các hoạt động sản xuất 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1 Số lượng doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi, tổng sản xuất thức ăn chăn nuôi (bao gồm thức ăn trộn sẵn) phân theo năng lực theo khu vực năm 2006 18
Hình 2 Giá trị nhập khẩu của Việt Nam về thức ăn động vật và nguyên liệu đầu vào cho chế biến thức ăn giai đoạn 2001 - 2008 20
Hình 3 Giá một số nguyên liệu thô để SX thức ăn chăn nuôi giai đoạn 2007-2008 21
Hình 4 Giá cả một số nguyên liệu thô và thức ăn hỗn hợp cho lợn của Công ty Proconco năm 2007 21
Hình 5 Phân bổ các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi theo quy mô sản xuất ở miền Bắc và miền Nam (%) 22
Hình 6 Quy mô lao động của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi: doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài 24
Hình 7 Quy mô lao động của các doanh nghiệp SX thức ăn chăn nuôi theo quy mô sản xuất 25
Hình 8 Mức lương trung bình cho lao động của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi theo quy mô sản xuất 26
Deleted: 53
Deleted: 59
Deleted: 62
Deleted: 67
Deleted: 71 Deleted: 71 Deleted: 72 Deleted: 74 Deleted: 77 Deleted: 77 Deleted: 77 Deleted: 78
Trang 8Hình 9 Chi phí mua nguyên liệu thô/tấn, theo hình thức sở hữu và quy mô sản xuất 31
Hình 10 Thành phần giàu năng lượng trên tỷ lệ phần trăm tổng nguyên liệu năng lượng
sử dụng 32
Hình 11 Thành phần giàu chất đạm trong tổng số nguyên liệu giàu chất đạm sử dụng 33
Hình 12 Nguyên liệu đầu vào sử dụng để sản xuất một tấn sản phẩm đầu ra theo quy mô
sản xuất 35
Hình 13 Các phương thức thanh toán nguyên liệu đầu vào phân theo quy mô sản xuất 37
Hình 14 Tỷ lệ phần trăm các doanh nghiệp trả thuế VAT cho nguyên liệu đầu vào phân
theo quy mô sản xuất 38
Hình 15 Tỷ lệ các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi hỗn hợp và thức ăn đậm đặc
40
Hình 16 Các nguồn cung ứng và các kênh phân phối cho các nhà máy thức ăn chăn nuôi
quy mô lớn ở Việt Nam 48
Hình 17 Nguồn cung ứng và các kênh phân phối cho các nhà máy quy mô trung bình ở
Việt Nam 49
Hình 18 Các nguồn cung ứng và kênh phân phối cho các nhà máy quy mô nhỏ 50
Hình 19 Tỷ lệ các nhà máy thức ăn chăn nuôi và các đại lý bán lẻ cố định giá, phân theo
qui mô sản xuất 56
Hình 20 Hoa hồng tính trên giá mà các đại lý bán (gồm cả các đại lý bán buôn và bán lẻ)
đối với sản phẩm của các nhà máy nhỏ, trung bình và lớn 57
Hình 21 Sự thay đổi về giá nhà máy của sản phẩm chính trong quí 2, 3, 4 và sự thay đổi
tổng thể trong năm 2006/2007, phân theo qui mô sản xuất 58
Hình 22 Các phòng thí nghiệp sử dụng xét nghiệm các nguyên liệu thô và các sản phẩm
phân theo qui mô nhà máy lớn, trung bình và nhỏ 60
Hình 23 Các phương pháp được các nhà máy sử dụng để làm sạch sản phẩm 62
Hình 24 Tổng số ngày và tỷ lệ ngày lưu kho của sản phẩm chính phân theo nhà máy, đại
lý và khác theo quy mô sản xuất 64
Hình 25 Tỷ trọng sản phẩm chính gần tới ngày hết hạn sử dụng 65
Hình 26 Tỷ lệ phần trăm các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi theo quy mô sản
xuất với các đặc điểm đa dạng về vị trí nhà máy 66
Hình 27 Tỷ lệ phần trăm các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đưa ra các khó
khăn quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự vận chuyển hàng hóa 67
Hình 28 Các nguyên nhân do các cơ sở sản xuất đưa ra về việc không thể vay nhiều hơn
70
Hình 29 Các ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi các doanh nghiệp kỳ vọng phát triển
mạnh trong tương lai, theo quy mô doanh nghiệp 73
Hình 30 Tỷ lệ phần trăm các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đã nói rằng chính
phủ nên hỗ trợ các lĩnh vực sau, tính theo quy mô doanh nghiệp 75
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Danh sách các doanh nghiệp sẵn sàng phỏng vấn và số lượng các doanh nghiệp
được phỏng vấn và tỷ lệ % các doanh nghiệp được phỏng vấn ở mỗi tỉnh trong toàn
dự án 14
Bảng 2 Các hình thức sở hữu: tổng số cơ sở sản xuất trong mẫu gốc; số lượng doanh
nghiệp trong mỗi phân loại và tổng số doanh nghiệp cung cấp thông tin nhất quán để
phân tích số liệu và tỷ lệ phần trăm của mẫu gốc cung cấp thông tin nhất quán 15
Bảng 3 Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008 17
Bảng 4 Sản xuất trong nước về các nguyên liệu đầu vào cơ bản cho sản xuất thức ăn chăn
nuôi và dự báo nhu cầu về đầu vào cho SX thức ăn (1000 tấn) 19
Deleted: 32
Deleted: 71
Deleted: 74
Deleted: 76
Trang 9Bảng 5 Số lượng nguyên liệu đầu vào nhập khẩu năm 2006 (nghìn tấn) 19
Bảng 6 Sản lượng thực tế và thiết kế của các cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi và tỷ lệ
phần trăm tận dụng công suất thiết kế năm 2007 phân theo quy mô và khu vực 23
Bảng 7 Doanh thu trung bình từ hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất thức
ăn chăn nuôi năm 2007 23
Bảng 8 Sở hữu/thuê đất và phần trăm đất do các doanh nghiệp SX thức ăn chăn nuôi sử
dụng phân theo quy mô và khu vực 26
Bảng 9 Phân phối của các doanh nghiệp sở hữu hoặc thuê đất và vị trí (phần trăm) 27
Bảng 10 Tỷ lệ phần trăm các doanh nghiệp có thiết bị lưu kho theo quy mô và khu vực
27
Bảng 11 Công suất trung bình (tấn) của các thiết bị lưu kho 28
Bảng 12 Thời gian, số lượng và vị trí của các nguyên liệu lưu kho của các doanh nghiệp
SX thức ăn chăn nuôi theo khu vực và quy mô 29
Bảng 13 Chi phí sản xuất (nghìn đồng/kg) và tỷ lệ trong tổng chi phí (%) 30
Hình 14 So sánh giá cả nguyên liệu thô phân theo quy mô, nguồn và địa điểm 33
Bảng 15 Phần trăm nguyên liệu thô mua từ các nguồn khác nhau theo quy mô sản xuất 34
Bảng 16 Phần trăm nguyên liệu thô mua từ các nhà cung cấp khác nhau theo quy mô sản
xuất của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi 36
Bảng 17 Tỷ trọng các doanh nghiệp sản xuất từng loại thức ăn chăn nuôi, chia theo qui
mô sản xuất và theo vùng 39
Bảng 18 Tỷ lệ các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi tổng hợp và chức năng cho các loại
vật nuôi 41
Bảng 19 Phân tích ANOVA về giá thức ăn nuôi lợn và gà (1000đ/kg): giá trị trung bình,
độ lệch chuẩn và phương sai giá theo vùng và quy mô sản xuất 41
Bảng 20 Lợi nhuận (triệu đồng) tính theo quy mô sản xuất 42
Bảng 21 Chi phí và lợi nhuận đối với các công ty phân nhóm dựa trên tầm quan trọng
của sản xuất thức ăn đậm đặc Error! Bookmark not defined.
Bảng 22 Hàm lượng protein của các sản phẩm chính và tỷ trọng các công ty sử dụng chất
phụ gia chia theo loại hình sở hữu 44
Bảng 23 Khoảng cách vận chuyển trung bình tính theo vùng và quy mô sản xuất 46
Bảng 24 Khối lượng và tỷ trọng thức ăn hỗn hợp bán cho các loại khách hàng khác nhau
chia theo các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi quy mô nhỏ, trung bình và
lớn 46
Bảng 25 Khối lượng và tỷ trọng thức ăn đậm đặc bán cho các đối tượng khách hàng khác
nhau chia theo các doanh nghiệp sản xuất thức ăn quy mô nhỏ, trung bình và lớn 47
Bảng 26 Phương thức thanh toán mà người mua thức ăn hỗn hợp sử dụng chi trả cho các
nhà máy thức ăn chăn nuôi chia theo quy mô 52
Bảng 27 Các phương thức thanh toán đối với thức ăn đậm đặc mua của các nhà máy
phân theo qui mô 53
Bảng 28 Tỷ lệ các nhà máy thức ăn chăn nuôi cung cấp các dịch vụ khác nhau cho các
đại lý 54
Bảng 29 Tỷ trọng các nhà máy thức ăn chăn nuôi cung cấp các dịch vụ khác nhau cho
người chăn nuôi 55
Bảng 30 Tỷ trọng các nhà máy thức ăn chăn nuôi ấn định giá bán cho các đại lý bán
buôn/thương nhân, phân theo qui mô sản xuất 55
Bảng 31 Nguyên nhân chính dẫn tới thay đổi về giá sản phẩm thức ăn chăn nuôi (tỷ lệ
các nhà máy nước ngoài, trong nước và tổng số nhà máy ) 58
Bảng 32 Tỷ lệ nhà máy có chứng chỉ chính thức 59
Bảng 33 Tỷ trọng các nhà máy có phòng thí nghiệm kiểm tra chất lượng và tỷ trọng các
xét nghiệm tiến hành trong các phòng thì nghiệm này 60
Deleted: 28 Deleted: 29
Deleted: 43
Deleted: 56
Trang 10Bảng 34 Tỷ lệ các nhà máy hoàn thành các kiểm tra khác nhau đối với nguyên liệu thô và
sản phẩm 61
Bảng 35 Thời gian hết hạn (số ngày) do các nhà máy quy định đối với các sản phẩm,
phân theo vùng 63
Bảng 36 Sự sắp xếp trung bình tầm quan trọng của đặc điểm vị trí 66
Bảng 37 Các nguồn thông tin quan trọng nhất cho các doanh nghiệp sản xuất thức ăn
chăn nuôi, theo quy mô doanh nghiệp 69
Bảng 38 Thông tin cho vay của các doanh nghiệp theo quy mô 70
Bảng 39 Tỷ lệ phần trăm của các khoản vay từ các nguồn, số tiền vay trung bình và thời
gian vay, theo quy mô của doanh nghiệp 71
Bảng 40 Tỷ lệ phần trăm các khoản vay cho thức ăn chăn nuôi/nguyên liệu thô, nhà
xưởng/trang thiết bị và các mục đích khác từ các nguồn vay khác nhau, theo quy mô
doanh nghiệp 72
Bảng 41 Các nguyên nhân chính mà các cơ sở sản xuất đưa ra giải thích về sự thay đổi
lợi nhuận trong năm 2007 và 2005 72
Bảng 42 Những kỳ vọng của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi cung cấp
nguyên liệu thô cho thị trường nội địa trong tương lai, theo quy mô doanh nghiệp 74
Trang 111 GIỚI THIỆU
1.1 Bối cảnh
1.1.1 Ngành chăn nuôi ở Việt Nam
Giá thức ăn chăn nuôi thế giới đã và đang tăng lên và xu hướng này dường như sẽ tiếp tục trong tương lai Có hai lý do chính dẫn tới giá thức ăn chăn nuôi tăng: thứ nhất, nhu cầu đối với thức ăn chăn nuôi tăng cao xuất phát từ nhu cầu cao hơn đối với thịt và các sản phẩm có liên quan; và thứ hai, nhu cầu tăng lên đối với ngô và các sản phẩm thô khác để sản xuất các sản phẩm nhiên liệu sinh học đang cạnh tranh với việc sử dụng các nguyên liệu thô này để sản xuất thức ăn chăn nuôi (Pluske, 2007)
Ở Việt Nam, ngành chăn nuôi giữ vai trò ngày càng tăng trong tổng GDP của ngành nông nghiệp với tỷ lệ đóng góp dao động từ 22,6% đến 25,5% trong giai đoạn 2001-2007 và dự kiến tăng lên 25% - 26% trong năm 2008 (Cục chăn nuôi, 2008) Ngành chăn nuôi đã tăng trưởng một cách nhanh chóng và tự phát và rất nhiều vấn đề đã nảy sinh do thiếu quy định: ví dụ có nhiều nhà sản xuất nhỏ lẻ, phân tán gặp phải các vấn đề về năng suất thấp, dịch bệnh bùng phát; và sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành chăn nuôi theo quy mô thương mại nhưng thiếu tầm nhìn về môi trường Hơn nữa, chi phí cho thức ăn chăn nuôi chiếm tới khoảng 75% tổng chi phí sản xuất của các hộ chăn nuôi
Trong thời gian gần đây, một trong những vấn đề “nóng” nhất mà ngành chăn nuôi phải đối mặt đó là xu hướng tăng giá thức ăn chăn nuôi Sự phụ thuộc lớn vào việc nhập khẩu các nguyên liệu thô như đậu tương và ngô, thuế nhập khẩu cao và năng suất thấp của các nguyên liệu này được coi là các nguyên nhân khiến giá thức ăn chăn nuôi trong nước tăng cao Giá thức ăn chăn nuôi công nghiệp ở Việt Nam cao hơn khoảng 10-15% so với các nước khác trong khu vực như Thái Lan hay Trung Quốc Ước tính Việt Nam nhập khẩu khoảng 20-30% về khối lượng nguyên liệu thô sử dụng cho sản xuất thức ăn chăn nuôi, tương đương với khoảng 45% tổng giá trị nguyên liệu thô (www.mard.gov.vn) Giá thức
ăn chăn nuôi cao ảnh hưởng trực tiếp đến các hộ chăn nuôi vì làm tăng chi phí sản xuất, đặc biệt là khi giá sản phẩm chăn nuôi tăng không đủ đề bù đắp phần tăng lên trong chi phí
1.1.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ 1 (DNVVN) ở Việt Nam
Thể hiện thế mạnh nội tại đầy ấn tượng, số lượng các doanh nghiệp Việt Nam đã tăng gấp
15 lần trong vòng 9 năm (1999-2008) (Đối thoại chính sách trực tuyến về con đường phát triển của DNVVN Việt Nam, 2010) Chiếm tới 97% trong tổng số hơn 400 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế Việt Nam, các DNVVN được ghi nhận là động lực phát triển của Việt Nam thời gian qua Tuy nhiên, các DNVVN chưa đóng góp được nhiều như kỳ vọng do tác động của khủng hoảng và suy thoái kinh tế cũng như những tồn tại vốn có trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam và những hạn chế nội tại của nhiều DNVVN
Những khó khăn như thiếu vốn, khó tiếp cận đất đai làm mặt bằng kinh doanh, công nghệ lạc hậu, năng lực cạnh tranh yếu, trình độ quản trị doanh nghiệp hạn chế và những khó khăn trong việc tiếp cận thị trường đã và đang là những cản trở lớn đối với các DNVVN Chính phủ Việt Nam gần đây đã công bố một loạt các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô
1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp và chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên (Điều 3, Nghị định 90/2001/NĐ-CP , ngày 23-11-2001)
Trang 12bằng cách bơm vốn và dỡ bỏ các thủ tục hành chính nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, không rõ các doanh nghiệp Việt Nam đã được hưởng lợi bao nhiêu từ những hỗ trợ này Số lượng các DNVVN ở Việt Nam vẫn đang tăng lên thay
vì dự báo 80% DNVVN gặp khó khăn và 20% sẽ biến mất (Đối thoại chính sách trực tuyến về con đường phát triển của DNVVN Việt Nam, 2010)
Trong bối cảnh những khó khăn của nền kinh tế toàn cầu và hội nhập quốc tế, việc đánh giá khả năng cạnh tranh của các DNVVN về phương diện vị trí, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trở nên ngày càng cấp thiết Những đánh giá này sẽ là nền tảng quan trọng để nhà nước đưa thêm hỗ trợ đối với sự phát triển của các DNVVN trong tương lai
1.1.3 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành thức ăn ở chăn nuôi ở Việt Nam
Năm 2008, các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi lớn trong đó có tập đoàn CP, Cargill và Proconco đóng góp gần 70% thị phần trên thị trường thức ăn chăn nuôi Việt Nam Nông dân Việt Nam cho rằng các doanh nghiệp lớn này là những người “làm giá” trên thị trường Các doanh nghiệp lớn cũng bị coi là những tác nhân làm tăng giá thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam do vị trí thống trị của họ trên thị trường này Vẫn còn có những câu hỏi mở về vai trò của các DNVVN trong ngành thức ăn chăn nuôi và liệu họ có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp lớn trong cơ cấu thị trường hiện tại hay không
Có nhiều cuộc thảo luận khác nhau về việc phân loại DNVVN nói chung, cũng như các DNVVN trong ngành thức ăn chăn nuôi nói riêng đã diễn ra Việc phân loại các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam thường dựa trên công suất thiết kế của các doanh nghiệp chứ ít khi dựa trên các tiêu chí như số lượng công nhân hay nguồn vốn của các cổ đông hoặc tài sản cố định, hay vốn, thường được sử dụng ở một số nước ASEAN Thêm vào đó, các cơ quan khác nhau như Bộ NN&PTNT, Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam (VAFA) và bản thân các doanh nghiệp sử dụng tiêu chí về công suất thiết kế để phân loại doanh nghiệp theo quy mô nhỏ, trung bình và lớn cũng không giống nhau Việc phân loại quy mô doanh nghiệp hiện vẫn còn nhiều tranh cãi
Cho tới nay, có rất ít các nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam và các kênh phân phối của họ Theo số liệu gần đây của VAFA, tính đến tháng 2/2009, có khoảng 40 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thức
ăn chăn nuôi trong nước có nguy cơ phải đóng cửa hoặc phá sản do chi phí phát sinh cao khi giá nhập khẩu tăng quá nhanh Có rất ít các nghiên cứu về khả năng cạnh tranh của các DNVVN khi so sánh với các doanh nghiệp lớn và đặc biệt về phương diện sử dụng nguyên liệu đầu vào và mức độ quan hệ với sản phẩm đầu ra Mục tiêu của nghiên cứu này là thu hẹp khoảng trống đó thông qua các thông tin về các hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp ở các quy mô khác nhau, các kênh phân phối và trình độ công nghệ của họ Những thông tin này là hết sức quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng các chính sách phù hợp cho ngành chăn nuôi trong những năm tới
1.2 Mục đích
Mục tiêu chính của cuộc điều tra các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi là nhằm cung cấp một đánh giá định lượng về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam Để đạt được mục tiêu đó, các mục đích nghiên cứu sau đây cần phải đạt được:
• Đưa ra đánh giá về các đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi và chi phí sản xuất, sản phẩm đầu ra và giá cả theo hình thức sở hữu, vùng và quy mô của doanh nghiệp;
Trang 13• Tìm ra bản chất của thông tin và dòng sản phẩm, tiêu chuẩn và quy trình quản lý chất lượng của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi; và
• Đánh giá khả năng cạnh tranh của các DNVVN so với các doanh nghiệp lớn
1.3 Các câu hỏi nghiên cứu
Trong suốt các hoạt động thuộc phạm vi của nghiên cứu này, một điều rõ ràng là các doanh nghiệp nhỏ thường được coi là sử dụng nguyên liệu có hàm lượng đạm thấp, giá rẻ (đôi lúc bị nhiễm bẩn), thiếu quản lý chất lượng và thiết bị nghèo nàn, và do đó họ thường bán sản phẩm ở mức giá tương đối thấp Khách hàng chủ yếu của các doanh nghiệp nhỏ thường là các hộ chăn nuôi và đại lý quy mô nhỏ, đặc biệt là ở vùng xa xôi Tuy nhiên, một số ý kiến lập luận rằng các DNVVN Việt Nam có thể tồn tại và cạnh tranh được trên các thị trường chuyên biệt giống như các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi quy
mô nhỏ ở Thái Lan
Do đó, trong nghiên cứu này, mục tiêu chính là nhằm có được cái nhìn sâu hơn về hoạt động sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói chung, đối với cả doanh nghiệp quy
mô nhỏ và lớn
Nghiên cứu này tập trung trả lời các câu hỏi sau:
• Có bằng chứng về tính kinh tế theo quy mô trong ngành sản xuất thức ăn chăn
nuôi ở Việt Nam hay không?
• Có sự khác biệt nào trong hoạt động sản xuất và thương mại giữa các doanh
nghiệp quy mô lớn và DNVVN về phương diện sử dụng nguyên liệu đầu vào, lưu kho, chủng loại sản phẩm, quản lý chất lượng, đối tượng khách hàng và loại hình dịch vụ cung cấp cho khách hàng?
• Các kênh thu mua nguyên liệu và phân phối sản phẩm đầu ra của các DNVVN có
và các doanh nghiệp lớn có sự khác nhau nào không?
• Các DNVVN trong nước cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài có quy mô
lớn hơn như thế nào?
• Có bằng chứng nào về giá nhập khẩu nguyên liệu đầu vào cao hơn so với nguyên
liệu trong nước?
• Có cơ hội nào cho các DNVVN Việt Nam có thể cạnh tranh trên các thị trường
chuyên biệt (chẳng hạn các doanh nghiệp nhỏ hơn hướng tới các khu vực vùng sâu, vùng xa) hay không?
• Đâu là những khó khăn mà các DNVVN Việt Nam hoạt động trong ngành sản xuất
thức ăn chăn nuôi đang phải đối mặt?
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Các nghiên cứu nền
Một số hoạt động thuộc phạm vi dự án đã được triển khai trong các giai đoạn đầu của dự
án nhằm thu thập ý kiến về các vấn đề mà ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi đang phải đối mặt và những ý kiến này đã được sử dụng làm cơ sở cho việc thiết kế một cuộc điều tra các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
Trang 14Báo cáo của tác giả Pluske (2007) “Tổng quan ngành thức ăn chăn nuôi trên quy mô toàn cầu” được sử dụng làm tài liệu nền cho cuộc điều tra Báo cáo này kết luận rằng có thể các DNVVN đóng vai trò nhất định trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa nơi mà các doanh nghiệp lớn có thể không có lợi nhuận khi hoạt động ở đây Tuy nhiên, cần xây dựng các chính sách phù hợp
để đảm bảo rằng sự tồn tại của các DNVVN mang lại lợi ích cho xã hội xét về tổng thể chứ không chỉ cho riêng ngành này Và kết quả là các nhà hoạch định chính sách cần có hiểu biết nhất định về các chuỗi giá trị tương ứng và các cách tổ chức thể chế khác liên quan trong quá trình ra quyết định trong ngành sản xuất thức ăn và chăn nuôi
Để có thể hiểu được những vấn đề hiện nay mà các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi và các hộ chăn nuôi đang phải đối mặt, vào tháng 8 năm 2007, các nghiên cứu viên tham gia dự án này đã tới một số điểm nghiên cứu và gặp gỡ nhiều nhà lãnh đạo cấp cao trong ngành Các hoạt động này một lần nữa cho thấy sự khác biệt về cơ sở hạ tầng và đầu ra giữa các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi quy mô lớn với các DNVVN Ngoài ra các cuộc thảo luận với các hộ chăn nuôi và các nhà lãnh đạo trong ngành đã cung cấp cái nhìn sâu về các yếu tố quyết định đến nhu cầu đối với thức ăn chăn nuôi
1.4.2 Thiết kế và địa bàn điều tra
Phiếu điều tra các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi được thiết kế dựa trên ý kiến của tất cả các đối tượng liên quan tới dự án, được tiến hành điều tra thử và hoàn thiện sau khi thảo luận góp ý sôi nổi Điều tra được thực hiện dưới hình thức phỏng vấn trực tiếp một cán bộ lãnh đạo của từng doanh nghiệp Mỗi cuộc phỏng vấn thường kéo dài từ hai đến ba giờ Trong một số trường hợp, điều tra viên cần quay lại doanh nghiệp để hoàn tất hoặc làm rõ số liệu thu thập Các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi ở 7 tỉnh trong
cả nước được lựa chọn tham gia cuộc điều tra diễn ra từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2008
Để có cái nhìn tổng thể về các loại hình sản xuất thức ăn chăn nuôi và việc sử dụng thức
ăn chăn nuôi, một cuộc điều tra các hộ chăn nuôi lợn và gà cũng được xây dựng trong khuôn khổ của dự án này Cuộc điều tra hộ được thực hiện từ tháng 11 đến tháng 12 năm
2008 ở 6 trên 7 tỉnh tiến hành điều tra doanh nghiệp Các số liệu kết quả về hộ được trình bày và thảo luận trong phần II
Để bao quát một bộ phận tiêu biểu các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, công tác điều tra thực địa đã được thực hiện ở ba khu vực sinh thái, tại các tỉnh có các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi lớn nhất cả nước Các doanh nghiệp được điều tra ở Hà Nội, Hà Tây và Hưng Yên thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng; Đồng Nai và Bình Dương thuộc khu vực Đông Nam Bộ; Tiền Giang và Long An thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Ba khu vực này trước đó đã được xác định trong đề cương dự án và 6 trong số 7 tỉnh đã được nhóm nghiên cứu và chương trình CARD nhất trí lựa chọn làm đại diện cho mỗi khu vực Tỉnh Hưng Yên được thêm vào danh sách điều tra do thiếu các doanh nghiệp ở Hà Nội, xuất phát từ những thay đổi gần đây ở tỉnh này khi so sánh với số liệu năm 2006 (thời điểm tiến hành các lựa chọn tỉnh ban đầu) và do nhiều doanh nghiệp trong danh sách năm 2006 đến thời điểm điều tra đã ngừng hoạt động
1.4.3 Thiết kế mẫu
Căn cứ vào danh sách các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi trong năm 2006 do Cục Chăn nuôi cung cấp, cùng với những hạn chế trong ngân sách dự án, ban đầu chúng tôi dự định khảo sát tổng cộng 70 doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi và đại lí ở 6 tỉnh như đã nêu ở mục 1.4.2 Phương pháp chọn mẫu để đảm bảo lựa chọn đại diện của các doanh nghiệp nhỏ, trung bình và lớn, được xây dựng như sau:
Trang 15• Thu thập danh sách 241 doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi hoạt động năm
2006 (bao gồm cả địa điểm và công suất) từ Cục Chăn nuôi
• Một tiêu chí phân loại quy mô phân tầng được cụ thể hóa chia doanh nghiệp thành
5 nhóm dựa trên công suất sản lượng (tấn/năm: (1) <5.000; (2): >=5.000 và
<10.000; (3): >=10.000 và < 20.000; (4): >=20.000 và <80.000; và (5): >=80.000
tấn
• Dựa trên 70 doanh nghiệp được yêu cầu tham gia vào nghiên cứu này, số lượng
các doanh nghiệp theo mỗi quy mô lấy mẫu ở mỗi tỉnh được tính toán cân đối với
số lượng thực tế và phân bố quy mô doanh nghiệp ở 7 tỉnh điều tra
• Trong trường hợp một trong 5 nhóm quy mô không được đại diện ở một tỉnh (ví
dụ, mức công suất trên 80.000 tấn), doanh nghiệp ở tỉnh khác được thêm vào để
đảm bảo số lượng cần thiết Chẳng hạn, tỉnh Hưng Yên (thuộc khu vực Đồng bằng
sông Hồng) có những đặc điểm tương tự như Hà Nội và Hà Tây do đó được sử
dụng làm tỉnh thay thế;
• Các doanh nghiệp trong danh sách được lựa chọn ngẫu nhiên cho đến khi đạt được
số lượng mong muốn;
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp trong danh sách cung cấp đến thời điểm điều tra đã ngừng
hoạt động và không thể được thay thế bằng các doanh nghiệp khác tương đương do đó chỉ
có 62 doanh nghiệp được điều tra trong nghiên cứu này Phân bố mẫu cuối cùng của 7
tỉnh được trình bày trong Bảng 1
Bảng 1 Số lượng doanh nghiệp trong danh sách điều tra và số lượng doanh nghiệp
thực tế được điều tra, và tỷ lệ % các doanh nghiệp được điều tra ở mỗi tỉnh so với
tổng dự án
doanh nghiệp trong danh sách
Số lượng doanh nghiệp
đã điều tra
Tỷ lệ đã điều tra trong tổng số
1.4.4 Thu thập và xử lí số liệu
Trước mỗi cuộc điều tra, chúng tôi đã thu thập số liệu thứ cấp và thông tin tổng quan về
tình hình chăn nuôi và việc sử dụng thức ăn chăn nuôi ở từng tỉnh Trong quá trình điều
tra, đội ngũ điều tra viên giàu kinh nghiệm đã làm việc dưới sự giám sát chặt chẽ và được
kiểm tra ngẫu nhiên bởi nhóm nghiên cứu Thông tin do người được phỏng vấn cung cấp
đôi khi không thống nhất giữa các phần của bảng hỏi bởi do một số doanh nghiệp không
tự nguyện cung cấp một số thông tin nhất định Sau khi hoàn thành cuộc điều tra, công
Trang 16việc nhập liệu được thực hiện trên phần mềm Microsoft Access Khung nhập liệu được nhóm nghiên cứu thiết kế và chạy thử vào thời điểm cuộc điều tra diễn ra Bộ dữ liệu cuối cùng được chuyển sang phần mềm Stata™ kèm theo các ghi chú cho từng trường hợp cụ thể do đó công việc phân tích số liệu ở giai đoạn sau trở nên dễ dàng hơn
Như đã đề cập ở trên, một vài số liệu do các doanh nghiệp cung cấp không nhất quán Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra và làm sạch số liệu rất cẩn thận để đảm bảo rằng các phần tương ứng của số liệu là nhất quán Chẳng hạn, chúng tôi so sánh khối lượng nguyên liệu thô đầu vào với sản lượng đầu ra và trong một vài trường hợp khi số liệu này thực sự không nhất quán và chúng tôi không thể giải quyết được, chúng tôi buộc phải loại bỏ các thông tin khỏi mẫu phân tích Một trong những vấn đề về số liệu khác mà chúng tôi gặp phải đó là tính nhạy cảm đối với các câu hỏi về chi phí sản xuất Để giải quyết vấn đề này chúng tôi để người được phỏng vấn cơ hội trả lời chi phí sản xuất dưới dạng tỷ lệ phần trăm Sau đó, với các thông tin chi tiết về chi phí nguyên liệu thô đầu vào, chúng tôi có thể sử dụng số liệu về tỷ lệ phần trăm của chi phí sản xuất để tính ngược trở lại tổng chi phí sản xuất trong trường hợp người phỏng vấn không trả lời một cách trực tiếp Trong trường hợp người trả lời cung cấp thông tin về tổng chi phí nguyên liệu thô, chúng tôi tiến hành so sánh giữa số liệu tổng chi phí sản xuất được cung cấp với chi phí nguyên liệu thô đầu vào được tính toán là một phần trong quá trình kiểm tra chéo số liệu Cuối cùng mặc
dù tổng số mẫu điều tra là 62 doanh nghiệp, chỉ có số liệu của 44 doanh nghiệp được sử dụng để phân tích về quy mô và chi phí sản xuất
Bảng 2 mô tả phân bố quy mô mẫu ban đầu đối với mỗi hình thức sở hữu Ngoài ra, các doanh nghiệp cung cấp số liệu nhất quán về sản xuất có thể được phân chia theo quy mô Phân loại quy mô sản xuất dựa trên số liệu về sản lượng thức ăn chăn nuôi của các doanh nghiệp trong năm 2007 như sau: doanh nghiệp nhỏ có quy mô dưới 10.000 tấn/năm; doanh nghiệp trung bình: quy mô sản xuất từ 10.000 tấn đến dưới 60.000 tấn/năm và nhóm doanh nghiệp lớn có sản lượng từ 60.000 tấn trở lên Việc phân tích số liệu sơ bộ chỉ ra rằng cách phân loại mẫu này tạo ra một vài điểm khác biệt giữa nhóm doanh nghiệp lớn với nhóm trung bình - nhỏ và số lượng các doanh nghiệp nhỏ và trung bình là gần như tương đương Việc phân loại các DNVVN cho thấy rõ có những doanh nghiệp rất nhỏ chiếm tới một nửa trong tổng số các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong cuộc điều tra này
Khoảng 70% tổng mẫu điều tra được chấp nhận cung cấp các số liệu nhất quán về chi phí sản xuất và quy mô trong khi số còn lại bị loại bỏ (Bảng 2) Cụ thể, chúng tôi đã loại bỏ gần một nửa số doanh nghiệp trong nhóm có vốn đầu tư nước ngoài đăng kí trong quá trình làm sạch số liệu do họ không có câu trả lời hoặc không nhất quán trong phần trả lời
về chi phí sản xuất Trong báo cáo này tất cả các phân tích theo vùng và tình trạng sở hữu được thực hiện với tổng số mẫu là 62 nhưng chỉ có số liệu của 44 doanh nghiệp được sử dụng cho phần phân tích quy mô
Bảng 2 Theo hình thức sở hữu: tổng số doanh nghiệp trong mẫu ban đầu; số lượng doanh nghiệp ở từng quy mô và số doanh nghiệp cung cấp thông tin nhất quán cho việc phân tích số liệu; và tỷ lệ phần trăm trong mẫu ban đầu cung cấp thông tin nhất quán
Số lượng mẫu ban đầu Phân loại theo quy mô a
Tỷ lệ phần trăm so với mẫu ban đầu Theo tình trạng sở
Trang 17Doanh nghiệp nhà nước 3 1 1 1 3 100.0 Doanh nghiệp cổ phần
a: Phân loại theo quy mô dựa trên sản lượng thức ăn , DN nhỏ có sản lượng dưới 10.000 tấn/năm, DN
trung bình có sản lượng từ 10.000 đến dưới 60.000 tấn/năm, doanh nghiệp lớn có sản lượng trên 60.000
tấn/năm
1.5 Hạn chế và cấu trúc của báo cáo
1.5.1 Hạn chế của báo cáo
Một trong những hạn chế chính của báo cáo này là những khó khăn trong việc tiếp cận
các doanh nghiệp và thu thập một số thông tin Cụ thể, hầu hết các doanh nghiệp không
sẵn sàng cung cấp thông tin chi tiết liên quan tới sản xuất và doanh thu Giống như các
cuộc điều tra doanh nghiệp khác, kết quả của cuộc điều tra này phụ thuộc rất nhiều vào
các yếu tố khách quan nằm ngoài tầm kiểm soát của nhóm dự án Mặc dù phương pháp
chọn mẫu là logic, song chúng tôi đã thực hiện các điều chỉnh lớn đối với cuộc điều tra
thực tế tùy thuộc vào tình trạng của các doanh nghiệp hiện tại cũng như sự sẵn sàng của
người được phỏng vấn khi trả lời các câu hỏi Do đó, công việc làm sạch và phân tích số
liệu gặp nhiều khó khăn và nhóm nghiên cứu đã mất nhiều thời gian thực hiện, với mong
muốn đảm bảo rằng thông tin ở các phần khác nhau của bảng hỏi phỏng vấn là nhất quán
Thứ hai, số lượng điều tra viên hạn chế và những khó khăn trong việc tiếp cận với lãnh
đạo các doanh nghiệp đã làm đứt quãng công việc điều tra ở các tỉnh Những khó khăn
này cùng với vị trí phân tán của 62 doanh nghiệp ở 7 tỉnh và 3 khu vực sinh thái của Việt
Nam khiến cho thời gian thực hiện điều tra kéo dài hơn so với dự kiến
Một khó khăn nữa đó là sự cần thiết phải loại bỏ ra ngoài phân tích một vài số liệu và
quan sát không nhất quán Kết quả sẽ có giá trị lớn hơn và độ tin cậy cao hơn với số mẫu
điều tra lớn hơn nhưng do hạn chế về ngân sách, cộng với những yêu cầu rộng về mặt nội
dung nghiên cứu, việc mở rộng quy mô mẫu không thể thực hiện được
1.5.2 Cấu trúc báo cáo
Báo cáo này ngoài chương mở đầu bao gồm 7 chương nữa Chương 2 là đánh giá tổng
quan về những thay đổi gần đây trong ngành thức ăn chăn nuôi Việt Nam, bao gồm một
số thảo luận về tình hình sản xuất, sự biến động giá của các loại thức ăn và nguyên liệu
thô Kết quả điều tra các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, bao gồm số liệu về các
thông tin chung, các hình thức sản xuất, việc sử dụng nguyên liệu thô, sản phẩm đầu ra và
chuỗi cung ứng cũng như các vấn đề liên quan (ví dụ như vận chuyển, liên lạc, tín dụng,
lợi nhuận và đầu tư, cơ hội, khó khăn) được trình bày từ chương 3 đến chương 7 Phần
tóm tắt các kết quả nghiên cứu chính và gợi ý chính sách cho ngành sản xuất thức ăn chăn
nuôi nói chung và các DNVVN nói riêng được trình bày ở chương cuối cùng
Trang 182 NHỮNG THAY ĐỔI GẦN ĐÂY TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỨC ĂN CHĂN NUÔI VIỆT NAM
Kể từ những năm 90, ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi Việt Nam đã phát triển nhanh chóng cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi Tốc độ tăng trưởng trung bình trong tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi có xu hướng tăng từ năm 2000, đạt trung bình khoảng 16,6% từ năm 2000 đến năm 2008 (Bảng 3)
Bảng 3 Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008
Tốc độ tăng trưởng (%)
Nguồn: Chiến lược Phát triển Chăn nuôi đến năm 2020 (Cục Chăn nuôi 2007), Nguyễn (2009)
Nhận thức lợi nhuận tiềm năng trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, ngày càng có nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước thiết lập hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam Ngoài ra, nhờ các chính sách đổi mới của Chính phủ Việt Nam cũng như khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài, các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi đa quốc gia như Cargill, CP, Proconco và Japfa đã bắt đầu hoạt động tại Việt Nam
Số liệu từ Cục chăn nuôi cho thấy, trong năm 2006, có 241 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi có đăng kí3 ở Việt Nam trong đó có 33 công ty nước ngoài, 10 công ty liên doanh và 198 doanh nghiệp nội địa Tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi (bao gồm cả thức
ăn quy hỗn hợp và thức ăn bổ sung) năm 2006 là 6612,4 nghìn tấn, chiếm khoảng 75% công suất thiết kế 8803,9 nghìn tấn (Hình 1) Khu vực đồng bằng sông Hồng, với gần một nửa doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi Việt nam đang hoạt động và có công suất lớn nhất trong 8 khu vực với tổng sản lượng thức ăn công nghiệp là là 2427,1 nghìn tấn (Hình 1) Khu vực Đông Nam bộ có sản lượng thức ăn chăn nuôi lớn nhất (3274,5 nghìn tấn) với việc các nhà máy sử dụng gần hết công suất (Hình 1) Khu vực sản xuất lớn thứ ba là đồng bằng sông Cửu Long (771,6 nghìn tấn), tiếp theo là khu vực Bắc Trung Bộ Khu vực
2 Tốc độ tăng trưởng giảm sút do sản lượng thức ăn cho gia cầm giảm khoảng 25-30% trong thời điểm dịch cúm gia cầm (Cục Chăn nuôi, 2006)
3 Tổng số cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi có đăng ký ở Việt Nam năm 2008 là 225, bao gồm 42 công ty nước ngoài, 12 liên doanh và 171 doanh nghiệp trong nước Khu vực đồng bằng sông Hồng và Đông Nam
Bộ vẫn là hai vùng sản xuất thức ăn chăn nuôi lớn nhất cả nước, đóng góp 45,8% và 28,9% tổng số các nhà
Trang 19sản xuất nhỏ nhất là Tây Nguyên với hai cơ sở nhỏ sản xuất khoảng 200 tấn Sự phát triển của ngành thức ăn chăn nuôi, với sự góp mặt của các doanh nghiệp lớn nước ngoài, đã dần làm thay đổi phương thức chăn nuôi gia súc và gia cầm truyền thống trong các hộ ở Việt Nam Nhiều hộ gia đình không còn sử dụng nguyên liệu thô tự túc để chăn nuôi Thay vào đó họ tăng cường sử dụng thức ăn công nghiệp ở các tỉnh phía Nam, hoặc trộn thức ăn công nghiệp với thức ăn thô để chăn nuôi ở miền Bắc
Red Ri
ver Del
North
Cent
ral Regio n
SoutCent
ral Co
ast
Central HighlandsSou
th Ea
st region
Mekong Ri
ver Del
ta
Total
Industrial feed production Capacity No of enterprises
Nguồn: Cục chăn nuôi, 2006
Hình 1 Số lượng doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi, tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp (bao gồm thức ăn bổ sung) so với công suất thiết kế theo khu vực năm
2006
Nguồn cung nguyên liệu nội địa cho cho sản xuất thức ăn chăn nuôi, đặc biệt là các nguyên liệu giàu đạm, còn hạn chế so với nhu cầu trong nước, do đó doanh nghiệp phải nhập khẩu để bù đắp vào lượng thiếu hụt Khối lượng nguyên liệu nhập khẩu đạt xấp xỉ 3 triệu tấn năm 2006, gần gấp đôi mức của năm 2005 (Bảng 4)
Ước tính có hơn 10 loại trong tổng số 22 loại nguyên liệu được các doanh nghiệp sản xuất thức ăn nhập khẩu Theo số liệu từ Cục chăn nuôi (2007), khối lượng nguyên liệu thô nhập khẩu để sản xuất thức ăn chăn nuôi năm 2006 đạt 3170,7 nghìn tấn (Bảng 5) với kim ngạch nhập khẩu 11,8 nghìn tỷ đồng và chiếm khoảng 40% trong tổng số 30,4 nghìn tỷ đồng giá trị sản lượng thức ăn công nghiệp nội địa Xu hướng nhập khẩu một số nguyên liệu thô tăng đáng kể trong hai năm gần đây, đặc biệt là với đậu tương, khô đầu đậu tương, bột cá, vitamin bổ sung, và trong nửa đầu năm 2009, trên 3.000 tấn nguyên liệu thức ăn đã được nhập khẩu Số liệu trong Bảng 5 cho thấy rõ ràng ngành sản xuất thức ăn
Trang 20chăn nuôi của Việt Nam phụ thuộc nhiều hơn vào việc nhập khẩu nguyên liệu thức ăn
giàu đạm so với các nguyên liệu giàu năng lượng Hơn nữa, ngành sản xuất thức ăn trong
nước chưa sản xuất được nguyên liệu để sản xuất thức ăn bổ sung và chất phụ gia
Bảng 4 Sản lượng trong nước của các nguyên liệu đầu vào chính cho sản xuất thức
ăn chăn nuôi và dự báo nhu cầu (1000 tấn)
Tổng sản lượng nguyên liệu đầu vào
Nguồn: Chiến lược Phát triển Chăn nuôi đến năm 2020, Cục chăn nuôi (2007)
Bảng 5 Khối lượng nguyên liệu đầu vào nhập khẩu năm 2006 (nghìn tấn)
Nguyên liệu đầu vào 2006 2007 2008 6 năm 2009 tháng đầu
4 Gạo tấm quy tương đương với 3% gạo, thóc để sản xuất thức ăn tương tương với 3% tổng số thóc và cám
tương đương 11% Tỷ lệ dành cho chăn nuôi của ngô là 90%, sắn và khoai tây 80% và đậu tương là 33% so
Trang 21Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu chế biến có xu hướng tăng lên đặc biệt là hai năm gần đây (Hình 2) Năm 2001, kim ngạch nhập khẩu chỉ ở mức dưới 200.000 nghìn
đô la Mỹ và đến năm 2007 giá trị đã tăng gấp 6 lần Kim ngạch nhập khẩu năm 2008 ước đạt trên trên 1.700.000 nghìn đô la Mỹ
và đang tiếp tục xu hướng đi lên Giá ngô trong nước tăng cùng với xu hướng tăng giá thế giới trong bối cảnh nhu cầu thế giới trong việc sản xuất ethanol đang tăng lên Khô dầu đậu tương chiếm khoảng 60% đến 70% tổng chi phí sản xuất thức ăn đậm đặc và 20-30% chi phí sản xuất thức ăn hỗn hợp Nguồn cung khô dầu đậu tương đến từ Mỹ, Ahentina và
Ấn Độ và nhìn chung giá đã tăng lên gấp đôi từ mức dưới 5.000 đồng/kg lên khoảng 10.000 đồng/kg trong thời gian từ tháng 3-2007 đến tháng 9-2008 Thêm vào đó, giá nguyên liệu Mono Calcium Phosphate (MCP) cũng tăng đều đặn trong thời gian này Giá bột cá dường như có xu hướng giảm trong năm 2007 nhưng sau đó bắt đầu tăng mạnh trở lại từ đầu năm 2008 Cần lưu ý tằng có sự tương đối giữa giữa giá bột cá nhập khẩu và giá sản xuất trong nước
Proconco, một liên doanh sản xuất thức ăn chăn nuôi lớn, đưa ra giá của một số nguyên liệu đầu vào và thức ăn hỗn hợp cho lợn (Hình 4) Dựa trên xu hướng tăng giá nguyên liệu trong suốt năm 2007, giá thức ăn chăn nuôi cũng theo xu hướng điều chỉnh đi lên khi giá đầu vào tăng (Hình 4) Ngoại trừ giá sắn chỉ tăng 10%, các nguyên liệu khác tăng giá đáng kể, đặc biệt là khô dầu đậu tương - sản phẩm đắt nhất với mức tăng giá trên 50% so với đầu năm 2007 Giá thức ăn hỗn hợp cho lợn từ 30 đến 60kg đã tăng khoảng 30% trong vòng 12 tháng Với mức tăng giá thức ăn hỗn hợp cao như vậy, có thể thấy những thay đổi trong chi phí nguyên liệu thô đầu vào đã chuyển cho người mua
Trang 22Rice bran Fish meal 60% domestic protein
Fish meal 60% import protein Argentina soybean cake
Nguồn: Cục chăn nuôi, 2008
Hình 3 Giá một số nguyên liệu thô cho SX thức ăn chăn nuôi giai đoạn 2007-2008
Maize Soybean cake Cassava Complete feed (30-60kg)
Nguồn: Cục Chăn nuôi 5
Hình 4 Giá nguyên liệu thô và thức ăn hỗn hợp cho lợn của Công ty Proconco năm
2007
5
Trang 233 THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THỨC ĂN CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM
3.1 Các đặc điểm chung
Hình 5 trình bày sự phân loại theo quy mô của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn điều tra
ở miền Bắc và miền Nam Phân loại theo quy mô sử dụng ở đây và trong toàn báo cáo là: doanh nghiệp lớn có sản lượng từ 60.000 tấn/năm trở lên (có 7 doanh nghiệp), doanh nghiệp quy mô trung bình có sản lượng từ 10.000 đến dưới 60.000 tấn/năm (mẫu là 20)
và doanh nghiệp sản xuất dưới 10.000 tấn/năm (mẫu bằng 17) được phân loại là quy mô nhỏ Nhìn chung quy mô sản xuất thức ăn có xu hướng lớn hơn ở miền Nam so với miền Bắc Một nửa số cơ sở sản xuất ở miền Bắc có quy mô nhỏ so với tỷ lệ 27% ở phía Nam Trong khi đó tỷ lệ doanh nghiệp trung bình và lớn đều cao hơn ở khu vực phía Nam Khoảng 45% doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi ở miền Nam có quy mô trung bình trong khi tỷ lệ này là 27% ở miền Bắc
Hình 5 Phân bổ doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi theo quy mô sản xuất ở miền Bắc và miền Nam (%)
Bảng 6 trình bày sự khác biệt giữa sản lượng thực tế và sản lượng thiết kế trong năm 2007 theo quy mô và khu vực của các cơ sở doanh nghiệp khảo sát cũng như tỷ lệ % sử dụng công suất thiết kế Theo khu vực, sản lượng trung bình thực tế của các DNVVN ở miền Bắc thấp hơn so với doanh nghiệp cùng loại ở miền Nam Có nhiều doanh nghiệp nhỏ ở miền Bắc hơn so với ở miền Nam (xem Hình 5) Các doanh nghiệp lớn ở miền Bắc có có sản lượng thực tế lớn hơn tương đối so với các doanh nghiệp cùng loại ở miền Nam (78.429 tấn so với 66.225 tấn) Tuy nhiên, sản lượng thức ăn chăn nuôi của các doanh nghiệp miền Bắc nói chung dường như thấp hơn so với các doanh nghiệp miền Nam (18.697 tấn so với 26.092 tấn)
Có một số đặc điểm tương tự trong việc sử dụng công suất thiết kế của các doanh nghiệp
ở tất cả các nhóm quy mô Ở cả hai miền, doanh nghiệp ở tất cả các nhóm quy mô sản xuất với mức thấp hơn một chút so với công suất thiết kế, ngoại trừ nhóm doanh nghiệp
Trang 24trung bình ở miền Bắc (sản lượng thực tế là 22.400 tấn so với công suất thiết kế 22.293
tấn) Doanh nghiệp lớn ở miền Bắc có khoảng cách lớn hơn giữa sản lượng thực tế (dưới
80.000 tấn) so với công suất thiết kế là 110.000 tấn Đáng chú ý, công suất thiết kế của
các doanh nghiệp lớn ở miền Bắc cao hơn rất nhiều so với chỉ tiêu này ở các doanh
nghiệp cùng loại ở miền Nam
Công suất thiết kế được sử dụng tối đa ở các doanh nghiệp quy mô trung bình ở miền Bắc
trong khi tỷ lệ sử dụng dường như thấp nhất đối với nhóm doanh nghiệp lớn (71,3%) Ở
miền Nam, tỷ lệ sử dụng công suất thiết kế tăng theo quy mô sản xuất, từ 89,4% đến
98,1%
Bảng 6 Sản lượng thực tế và công suất thiết kế của các doanh nghiệp sản xuất thức
ăn chăn nuôi và tỷ lệ phần trăm sử dụng công suất thiết kế năm 2007, phân theo quy
Tỷ lệ sử dụng công suất (%)
Sản lượng thực tế (tấn)
Công suất thiết kế (tấn)
Tỷ lệ sử dụng công suất (%)
Trung bình 22.400 22,293 100,5 24.818 26.691 93,0
Tổng số 18.697 22,519 83,0 26.092 27.630 94,4
Doanh thu từ các hoạt động khác nhau của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi
rất đa dạng giữa ba nhóm (Bảng 7) Các doanh nghiệp lớn phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt
động sản xuất thức ăn trong khi doanh nghiệp nhỏ có xu hướng đa dạng hóa hoạt động
của mình thông qua việc làm đại lí hoặc sản xuất thức ăn bổ sung với tỷ lệ doanh thu từ
các hoạt động này là 7,5% và 2,5% tương ứng Đối với hoạt động sản xuất, việc sản xuất
thức ăn đậm đặc quan trọng hơn tương đối ở các doanh nghiệp quy mô nhỏ so với doanh
nghiệp trung bình và lớn, và các doanh nghiệp nhỏ ít tập trung sản xuất thức ăn hỗn hợp
Tỷ lệ doanh thu từ thức ăn hỗn hợp là trên 50% đối với các nhà máy nhỏ trong khi tỷ lệ
này là trên 80% ở nhóm trung bình và lớn Xét về quy mô doanh thu từ hoạt động sản
xuất thức ăn hỗn hợp và đậm đặc lớn, các doanh nghiệp lớn có mức doanh thu gấp 7 lần
và nhóm trung bình gấp 5 lần so với nhóm quy mô nhỏ
Bảng 7 Doanh thu trung bình từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
Mua và bán thức ăn
Khác Tổng Thức ăn hỗn hợp Thức ăn đậm đặc
Mua và bán thức
ăn Khác
Nhỏ 10.505 4.404 1.293 255 16.458 53 37 7,5 2,5 Trung
Lớn 510.100 79.294 0 0 589.394 87 11 0,0 0,0
Tổng số 140.203 25.644 486 91 166.424 72 24 2,7 0,9
Trang 25Less than 100 100-300 employees More than 300 employees
Hình 6 Quy mô lao động của các doanh nghiệp thức ăn theo hình thức sở hữu
Hình 6 đưa ra một vài biểu thị về quy mô doanh nghiệp đối với toàn bộ 62 doanh nghiệp trong mẫu điều tra Số lượng lao động có thể được sử dụng là một biến số đại diện cho quy mô (xem chú thích 7): tức là các doanh nghiệp nhỏ có dưới 100 lao động, doanh nghiệp trung bình có từ 100-300 lao động và các doanh nghiệp lớn có trên 300 lao động
Sử dụng các tiêu chí này với tổng mẫu là 62 doanh nghiệp, 58,7% là doanh nghiệp nhỏ, 28,6% có quy mô trung bình và 12,7% là doanh nghiệp lớn Kết quả này so sánh với tiêu chí phân loại của chúng tôi về 44 doanh nghiệp trong đó 38,6% là doanh nghiệp nhỏ (sản xuất dưới 10.000 tấn/năm), 45,5% thuộc quy mô trung bình (sản xuất từ 10.000 tấn đến đến 60.000 tấn/năm), và 15,9% doanh nghiệp lớn (sản xuất trên 60.000 tấn/năm) Như vậy, kết quả phân loại doanh nghiệp lớn là tương đối giống nhau; phân loại của chúng tôi đối với các doanh nghiệp trung bình và nhỏ trong phần này được lựa chọn để chỉ ra có các doanh nghiệp rất nhỏ - chiếm một nửa trong tổng số các doanh nghiệp quy mô nhỏ-trung bình trong cuộc điều tra này
Hình 7 trình bày số lượng lao động của các doanh nghiệp theo cách phân loại của chúng tôi chia theo quy mô nhỏ, trung bình và lớn Chỉ có 14% các doanh nghiệp lớn có trên
6 Doanh nghiệp có sở hữu nước ngoài bao gồm cả liên doanh
7 Việt nam phân loại các DNVVN là các doanh nghiệp có dưới 300 lao động Ở phần tiếp theo chúng tôi đề xuất rằng các doanh nghiệp trung bình có trên 100 lao động
Trang 26300 lao động, phần nào phản ánh bản chất tập trung vốn của sản xuất thức ăn Tuy nhiên, một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp quy mô nhỏ và trung bình có dưới 100 lao động: 88% và 70% tương ứng
87.5
70
12.5 30.0
Less than 100 100-300 employees More than 300 employees
Hình 7 Phân bố lao động của các doanh nghiệp theo quy mô sản xuất
Hình 8 thể hiện mức lương trung bình trả cho lao động trong các doanh nghiệp nhỏ, trung bình và lớn Nhân viên văn phòng thường được nhận mức lương cao hơn so với công nhân trực tiếp và mức lương chênh lệch là đáng kể,, đặc biệt ở các doanh nghiệp lớn Xét theo quy mô sản xuất, trong các nhà máy lớn, mức lương của nhân viên văn phòng cao gần gấp đôi, và lương công nhân cao hơn gấp rưỡi so với nhóm doanh nghiệp nhỏ Nhìn chung, lao động gia đình thường có mức lương thấp hơn so với lao động đi thuê
Trang 27Total Family Hired Total Family Hired Total Family Hired
Admin/Technic/Marketing Factory workers
Hình 8 Mức lương trung bình của lao động tại các doanh nghiệp theo quy mô sản
xuất
3.3 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi có thể liệt kê bao gồm đất
đai, phương tiện bảo quản, các thiết bị chế biến Diện tích đất trung bình sở hữu hoặc đi
thuê của các doanh nghiệp thức ăn ở miền Bắc nhìn chung rộng hơn một chút so với các
doanh nghiệp miền Nam (Bảng 8) Các doanh nghiệp miền Bắc đang sử dụng gần 95%
tổng diện tích đất so với tỷ lệ 82,7% ở miền Nam
Theo quy mô sản xuất, diện tích đất thường có xu hướng tăng theo quy mô Tỷ lệ đất sử
dụng bởi các doanh nghiệp thức ăn cũng tăng lên khi quy mô tăng Nhận định này là đúng
đối với các nhà máy ở cả hai miền, ngoại trừ nhóm doanh nghiệp lớn ở miền Nam chỉ sử
dụng 59,5% tổng diện tích đất cho hoạt động sản xuất kinh doanh so với tỷ lệ 100% của
các doanh nghiệp lớn ở miền Bắc
Bảng 8 Diện tích đất sở hữu/đi thuê và phần trăm diện tích đất sử dụng của các
doanh nghiệp, phân theo quy mô và khu vực
Miền Bắc (n = 27) Miền Nam (n = 35)
Diện tích đất (m2) % sử dụng Diện tích đất (m2) % sử dụng
Các doanh nghiệp miền Nam thường có xu hướng đi thuê đất để sản xuất nhiều hơn
doanh nghiệp miền Bắc (Bảng 9) Khoảng 2/3 trong số các nhà máy sản xuất thức ăn chăn
nuôi ở miền Nam phải đi thuê đất so với 45,5% ở miền Bắc Theo quy mô sản xuất, các
Trang 28doanh nghiệp lớn thuê đất nhiều hơn hai nhóm còn lại: trong đó đáng chú ý là, tất cả các
nhà máy lớn ở miền Nam đều đi thuê đất để hoạt động sản xuất Các doanh nghiệp nhỏ và
trung bình thường có đất riêng để sản xuất kinh doanh, phần nào hạn chế việc mở rộng
quy mô sản xuất8
Trong số các doanh nghiệp lớn ở miền Nam đi thuê đất, chỉ có khoảng 1/3 đóng ở khu
vực nông thôn trong khi tỷ lệ này ở nhóm quy mô tương ứng ở miền Bắc là 75% Điều
này có nghĩa là các doanh nghiệp lớn ở miền Nam gặp một số bất lợi nhất định so với các
doanh nghiệp miền Bắc xét về phương diện chi phí thuê đất, vì tiền thuê đất thường cao
hơn ở khu vực thành thị Các doanh nghiệp nhỏ và trung bình ở cả hai miền - vốn ít đi
thuê đất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thường có xu hướng đặt tại khu vực nông
thôn nhiều hơn khu vực thành thị, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp trung bình (100% ở
miền Bắc và 61,5% ở miền Nam) Điều này chỉ ra rằng các nhà máy quy mô nhỏ và trung
bình có thể có chi phí thuê đất rẻ hơn so với các doanh nghiệp lớn Hơn nữa, các doanh
nghiệp nhỏ cũng có thể có một số lợi thế nhất định khi ở gần các vùng nguyên liệu và
khách hàng trong khi họ cũng gặp một số khó khăn về cơ sở hạ tầng như hệ thống đường
xá, trao đổi thông tin và nguồn điện cung cấp
Bảng 9 Phân bố các doanh nghiệp sở hữu hoặc thuê đất và địa điểm (%)
Miền Bắc (n=27) Miền Nam (n=35)
Các thiết bị bảo quản được phân loại thành thiết bị mở hoặc đóng9 Chỉ có tỷ lệ nhỏ doanh
nghiệp quy mô nhỏ và trung bình ở miền Nam cho biết có thiết bị bảo quản mở (Bảng
10) Tất cả các doanh nghiệp ở miền Bắc cho biết họ chỉ có thiết bị bảo quản đóng, và
100% các nhà máy, ngoại trừ nhóm quy mô trung bình ở miền Nam có thiết bị bảo quản
đóng Tỷ lệ doanh nghiệp có thiết bị bảo quản lạnh là thấp với 11% ở các doanh nghiệp
miền Bắc và 34% ở miền Nam
Bảng 10 Tỷ lệ doanh nghiệp có thiết bị bảo quản theo quy mô và khu vực
Miền Bắc (n = 27) Miền Nam (n = 35)
Thiết bị mở Thiết bị đóng Thiết bị mở Thiết bị đóng
8 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam thường sử dụng đất riêng của họ để sản xuất kinh doanh và dường
như gặp khó khăn khi đi thuê đất Đối với các doanh nghiệp đi thuê đất, họ gặp phải khó khăn trong giải
phóng mặt bằng và nhận tiền đền bù (Lê Xuân Bá và cộng sự 2007)
9 Thiết bị bảo quản mở bao gồm kho không có tường; thiết bị bảo quản đóng gồm kho có tường, nhà kho,
Trang 29Tổng số 0,0 100,0 27,3 86,4
Khi so sánh với miền Bắc, các doanh nghiệp miền Nam dường như có công suất bảo quản
lớn hơn: kết hợp cả hệ thống kho mở và kho đóng trung bình khoảng 13.357 tấn của
doanh nghiệp miền Nam so với 6.938 tấn của doanh nghiệp miền Bắc (Bảng 11) Tuy
nhiên các doanh nghiệp nhỏ ở miền Nam có công suất bảo quản thấp hơn các doanh
nghiệp cùng loại ở miền Bắc Cũng như phỏng đoán, công suất của các thiết bị bảo quản
có xu hướng tăng theo quy mô sản xuất
Bảng 11 Công suất trung bình (tấn) của các thiết bị bảo quản
Miền Bắc (n = 27) Miền Nam (n = 35) Thiết bị mở Thiết bị đóng Thiết bị mở Thiết bị đóng
Bảng 12 mô tả một số chỉ tiêu về việc bảo quản hai nguyên liệu thô chính là ngô (nguyên
liệu giàu năng lượng) và khô dầu đậu tương (nguyên liệu giàu đạm) theo vùng và quy mô
sản xuất Thời gian bảo quản trung bình có xu hướng ngắn hơn ở miền Bắc so với miền
Nam, đối với cả ngô và khô dầu đậu tương Điều này có thể liên quan đến thực tế là công
suất bảo quản ở miền Nam lớn hơn ở miền Bắc, ngoại trừ trường hợp của các nhà máy
nhỏ (Bảng 11) Số ngày bảo quản của các doanh nghiệp trung bình và lớn cũng dài hơn
Khối lượng lưu kho trung bình của nguyên liệu thô thấp hơn ở các doanh nghiệp nhỏ và
trung bình so với doanh nghiệp lớn và ở doanh nghiệp miền Nam so với miền Bắc (điều
này cũng có thể giải thích thời gian lưu kho lâu hơn ở miền Nam) Điều đáng chú ý là các
doanh nghiệp lớn dự trữ một lượng lớn khô dầu đậu tương so với ngô (10.150 tấn khô dầu
đậu tương so với 4.333 tấn ngô), trong khi đó các nhà máy nhỏ và trung bình dự trữ lượng
khô dầu đậu tương và ngô tương đương nhau Đây có thể là chiến lược thu mua của nhóm
doanh nghiệp lớn đối với khô dầu đậu tương nhập khẩu với công suất lưu kho lớn hơn
Phụ thuộc vào nhập khẩu được tính toán dựa trên tỷ lệ giữa khối lượng nguyên liệu đầu
vào từ các nguồn nhập khẩu (cả trực tiếp và gián tiếp) trên tổng khối lượng mua (Bảng
12) Nhìn chung, các nhà máy phụ thuộc lớn vào nhập khẩu khô dầu đậu tương (nguyên
liệu giàu đạm) hơn là nhập khẩu ngô (nguyên liệu giàu năng lượng) vốn thường được
trồng trong nước Tuy nhiên, tỷ lệ phụ thuộc vào việc nhập khẩu ngô ở các doanh nghiệp
miền Bắc tương đối cao hơn so với miền Nam Trong khi các doanh nghiệp nhỏ và trung
bình thường mua ngô từ các nguồn nội địa, thì các doanh nghiệp lớn thường nhập khẩu
trên ¼ lượng ngô sử dụng Chúng tôi đã xem xét nguồn ngô nguyên liệu theo quy mô
doanh nghiệp và nhận thấy có sự khác biệt đáng kể giữa các doanh nghiệp trong việc phụ
thuộc vào nhập khẩu Đối với khô dầu đậu tương, các doanh nghiệp trung bình và lớn
mua chủ yếu từ nguồn nhập khẩu trong khi chỉ có khoảng 70% trong tổng khối lượng
mua của doanh nghiệp nhỏ từ nguồn nhập khẩu
Trang 30Bảng 12 Thời gian, khối lượng và địa điểm nguyên liệu lưu kho của các doanh
nghiệp theo vùng và quy mô
Miền Nam (n=35)
Nhỏ (n=17)
Trung bình (n=20)
Lớn (n=7)
Thời gian lưu kho trung bình (ngày) 134 150 90 169 152 Khối lượng lưu kho trung bình (tấn) 2.406 2.134 206 2389 4333
Thiết bị lưu kho chính (%)
Thiết bị lưu kho chính (%)
1 Thiết bị mở 0,0 26,1 21,4 11,1 0
2 Thiết bị đóng 100,0 73,9 78,6 88,9 100
Khô dầu
đậu tương
Tỷ lệ phụ thuộc vào nhập khẩu (%) 97,5 99,5 71,5 95,4 100
Về thiết bị chế biến, nhiều nhà máy ở miền Bắc có hệ thống sản xuất tự động hơn so với các nhà máy ở miền Nam (25% so với 7,4%) Đáng chú ý, tất cả các doanh nghiệp nhỏ và trung bình ở miền Nam sử dụng thiết bị chế biến bán tự động và điều này cũng tương tự đối với các doanh nghiệp trung bình ở miền Bắc (xem Phụ lục, bảng A1) Các doanh nghiệp miền Nam có xu hướng sử dụng công nghệ nước ngoài nhiều hơn các doanh nghiệp ở miền Bắc (77,8% so với 59,3%) Tuy nhiên, tất cả các nhà máy lớn ở miền Bắc
sử dụng công nghệ nước ngoài trong khi chỉ có 37,5% nhà máy ở miền Nam ở quy mô tương tự áp dụng loại công nghệ này10 (xem Phụ lục, Bảng A2)
10
Trang 314 CƠ CẤU CHI PHÍ VÀ SỬ DỤNG NGUYÊN LIỆU THÔ
4.1 Cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi
Chi phí sản xuất được trình bày trong bảng 13 cao nhất đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ
nhất và kết quả này có sự khác biệt về mặt thống kê ở mức 5% Chi phí nguyên liệu thô là
cao nhất đối với các doanh nghiệp nhỏ mặc dù phương sai lớn có nghĩa rằng không có sự
khác biệt trong chi phí nguyên liệu đầu vào trung bình giữa doanh nghiệp nhỏ và doanh
nghiệp vừa Chi phí nguyên liệu thô của nhóm doanh nghiệp lớn thấp hơn về mặt thống
kê ở mức ý nghĩa 10%, có thể bởi nhờ vào công nghệ hiệu quả hơn Chi phí lao động
dường như cao hơn đối với các doanh nghiệp nhỏ hơn nhưng giá trị trung bình không có
sự khác biệt về mặt thống kê dựa trên phân tích của chúng tôi về phương sai Tương tự,
chi phí điện/chất đốt, sửa chữa/bảo dưỡng, kiểm soát chất lượng, chi phí thuê mướn và
quản lý trên một tấn sản phẩm không có sự khác biệt về mặt thống kê ở mức ý nghĩa 10%
Mặc dù chi phí tín dụng dường như cao hơn nhiều ở các doanh nghiệp nhỏ, song kết quả
này chủ yếu do có một doanh nghiệp có chi phí tín dụng rất cao, và phân tích phương sai
cho thấy không có sự khác biệt về mặt thống kê trong giá trị trung bình ở mức ý nghĩa
10% Các chi phí khác, bao gồm chi phí marketing và thuế, thấp hơn ở nhóm doanh nghiệp lớn nhất
Chi phí các loại đầu vào trên một kg sản phẩm ngoài nguyên liệu thô được trình bày ở
dòng thứ ba của bảng Tổng các loại chi phí này của nhóm doanh nghiệp nhỏ là 2050
đồng/kg sản phẩm đầu ra trong khi các doanh nghiệp lớn chỉ vào khoảng 970 đồng/kg sản
phẩm Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức 11% Chi phí sản xuất ngoài nguyên
liệu thô không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa nhóm quy mô trung bình và lớn
Bảng 13 Chi phí sản xuất (nghìn đồng/kg sản phẩm) và tỷ trọng trong tổng chi phí
(%)
DN nhỏ (n=13)
DN trung bình (n=20)
DN lớn (n=7)
Tổng chi phí 8,42 6,34 5,38 Nhỏ>TB>lớn (5%)
Nhỏ, TB>lớn (10%)
Nhỏ, TB>lớn (11%)
Chi phí lao động 0,44 5% 0,31 5% 0,32 6% n.s.d Điện và nhiên liệu 0,12 1% 0,16 3% 0,09 2% n.s.d Sửa chữa và bảo dưỡng 0,05 1% 0,06 1% 0,03 1% n.s.d Kiểm soát chất lượng 0,01 0% 0,02 0% 0,02 0% n.s.d Chi phí thuê đất 0,03 0% 0,03 0% 0,01 0% n.s.d Chi phí quản lí 0,21 2% 0,07 1% 0,16 3% n.s.d Chi phí tín dụng 0,44 5% 0,08 1% 0,06 1% n.s.d Chi phí khác 0,75 9% 0,55 9% 0,28 5% Nhỏ, TB>lớn
Nhìn chung, dường như có sự khác biệt nhỏ giữa ba nhóm quy mô doanh nghiệp khi xét
đến cơ cấu chi phí Chi phí nguyên liệu thô chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi phí sản
xuất và chi phí này cao hơn khi quy mô tăng: dao động từ 76% ở nhóm doanh nghiệp nhỏ
đến 82% trong nhóm doanh nghiệp lớn Chi phí lao động chiếm khoảng 5% đến 6% trong
tổng chi phí sản xuất nhưng không có sự khác biệt giữa các quy mô Tương tự, không có
Trang 32một sự khác biệt nào có ý nghĩa thống kê khi xét đến các chi phí thuộc nhóm ngoài nguyên liệu thô, ngoại trừ “các chi phí khác” Các chi phí khác, bao gồm chi phí vận chuyển, bao bì và thuế, thấp hơn ở các doanh nghiệp lớn so với các nhóm quy mô nhỏ hơn Doanh nghiệp nhỏ chi phí cho tín dụng ngang bằng với lao động (5%) nhưng mức chi phí này không có sự khác biệt về mặt thống kê so với các doanh nghiệp lớn hơn, có thể do phương sai lớn trong chi phí tín dụng đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ
4.2 Thu mua nguyên liệu thô
Kết quả nghiên cứu trong phần này so sánh giá mua nguyên liệu thô từ các nguồn khác nhau, phương thức thanh toán đối với các loại nguyên liệu thô, các hình thức mua và việc
dự trữ các loại nguyên liệu thô chính của các doanh nghiệp ở các quy mô khác nhau
4.2.1 Giá mua nguyên liệu thô và tỷ lệ nguyên liệu thô mua từ các nguồn khác nhau
Chi phí mua nguyên liệu thô trên một tấn thành phẩm đối với các doanh nghiệp lớn, trung bình và nhỏ theo các hình thức sở hữu được trình bày trong Hình 9 Nhìn chung, chi phí đầu vào trên một đơn vị sản lượng có xu hướng giảm khi quy mô tăng, đối với cả doanh nghiệp nước ngoài và nội địa
Tuy nhiên, các doanh nghiệp nước ngoài phải trả cao hơn doanh nghiệp trong nước xét tới chi phí mua nguyên liệu thô tính trên một đơn vị sản lượng Cụ thể, đối với các doanh nghiệp quy mô trung bình, chi phí mua nguyên liệu thô của nhóm doanh nghiệp nội địa chỉ là 4 triệu đồng/tấn sản lượng so với mức gần 6 triệu đồng/tấn của doanh nghiệp nước ngoài Xu hướng này cũng tương tự đối với các doanh nghiệp lớn khi so sánh giữa nhóm
sở hữu nước ngoài và nội địa
Trang 33các doanh nghiệp nhỏ, 32,4% đối với nhóm quy mô trung bình và 39,5% đối với nhóm lớn) Ngô cũng chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số các nguyên liệu giàu năng lượng sử dụng tại các doanh nghiệp lớn, tiếp theo là sắn (34,6%) Ngược lại, đối với sắn, tỷ trọng sử dụng ở nhóm doanh nghiệp lớn dường như thấp hơn so với hai nhóm còn lại (20,9% so với 27,7% và 24,1%) Cám (từ gạo, ngô và lúa mì) được sử dụng nhiều nhất ở nhóm doanh nghiệp nhỏ với 39,7% trên tổng khối lượng nguyên liệu giàu năng lượng sử dụng và thấp nhất ở nhóm quy mô trung bình (27,4%) Các đầu vào khác như gạo tấm được trộn với các nguyên liệu khác với tỷ lệ cao hơn ở các doanh nghiệp nhỏ và trung bình so với nhóm quy mô lớn
Thành phần các nguyên liệu giàu đạm được trình bày trong Hình 11 Khô dầu đậu tương
là nguyên liệu giàu đạm được sử dụng phổ biến nhất và được các doanh nghiệp lớn sử dụng nhiều hơn Các doanh nghiệp nhỏ và trung bình sử dụng khô dầu lạc (khoảng 10% trong tổng số nguyên liệu giàu đạm) trong khi nhóm doanh nghiệp lớn không sử dụng nguyên liệu này Tỷ lệ bột cá và bột thịt có xu hướng giảm theo quy mô, dao động từ 3,9% đến 9,9% đối với trường hợp bột cá và từ 4,4% đến 10,6% đối với bột thịt sử dụng
Hình 10 Thành phần các nguyên liệu giàu năng lượng theo tỷ trọng trên tổng nguyên liệu giàu năng lượng sử dụng
9.3
4.4 19.7
Trang 34Hình 11 Thành phần các nguyên liệu giàu đạm theo tỷ trọng trên tổng nguyên liệu
giàu đạm sử dụng
Tỷ trọng nguyên liệu thô sử dụng có sự thay đổi giữa các nhóm doanh nghiệp khi so sánh
về mức độ thay thế giữa nguyên liệu giàu năng lượng và nguyên liệu giàu đạm Trong khi ngô là nguyên liệu có tỷ trọng lớn nhất trong sản xuất thức ăn ở các doanh nghiệp lớn và trung bình thì cám lại là nguyên liệu được sử dụng nhiều nhất bởi nhóm quy mô nhỏ Đối với các nguyên liệu giàu đạm, khô dầu đậu tương luôn là nguyên liệu quan trọng nhất đối với doanh nghiệp ở tất cả các quy mô mặc dù tỷ lệ sử dụng nguyên liệu này trên tổng khối lượng nguyên liệu giàu đạm có sự khác nhau giữa các nhóm doanh nghiệp Kết quả này cho thấy mức độ thay thế cao hơn của các nguyên liệu giàu năng lượng (thường có nguồn gốc nội địa) so với nguyên liệu giàu đạm (thường được nhập khẩu)
Do chi phí nguyên liệu đầu vào phụ thuộc vào loại sản phẩm sản xuất, trong đó sản xuất thức ăn đậm đặc phải bỏ chi phí nhiều hơn do hàm lượng đạm cao hơn, nên rất khó đưa ra kết luận về tính không hiệu quả từ kết quả chi phí trung bình của nguyên liệu thô ở bảng
13 Trong bảng 14 chúng tôi phân tích chi tiết hơn về bản chất của việc mua nguyên liệu thô trên phương diện giá mua cùng loại nguyên liệu, nguồn cung cấp và xem xét liệu các yếu tố này có bị ảnh hưởng bởi quy mô doanh nghiệp hay khu vực hay không Có ít doanh nghiệp trả lời đầy đủ thông tin về giá nguyên liệu đầu vào theo nguồn.(Bảng 14) Kết quả chỉ ra rằng không sự khác biệt về mặt thống kê giữa giá của bất kỳ nguyên liệu thô nào theo quy mô doanh nghiệp (Bảng 14a) Kết quả phân tích thống kê có thể bị ảnh hưởng bởi quy mô mẫu nhỏ, nhưng mặc dù vậy thì độ lớn của phương sai giá trung bình
là khá nhỏ và do đó kết quả này ủng hộ cho độ tin cậy của kết quả phân tích Việc phân tích về giá mua theo vùng cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa miền Bắc và miền Nam (Bảng 14b) Nhìn chung, giá của các nguyên liệu giàu năng lượng vào khoảng 3500 đồng/kg, mặc dù giá sắn rẻ hơn đáng kể Các nguyên liệu giàu đạm, như khô dầu đậu tương và bột cá, thường có giá cao ít nhất gấp đôi so với giá các nguyên liệu giàu năng lượng Giá nguyên liệu nhập khẩu và nguyên liệu sản xuất trong nước cũng sẽ được phân tích ở mức tổng thể, trong đó cả hai nguồn nhập khẩu trực tiếp và gián tiếp được gộp thành một nguồn (Bảng 14c) Không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa giá ngô nhập khẩu và ngô sản xuất nội địa Giá trung bình của khô dầu đậu tương nội địa dường như khác với giá sản phẩm nhập khẩu, mặc dù phân tích về phương sai cho thấy không có sự khác biệt về mặt thống kê, có thể do phương sai rất lớn trong giá nhập khẩu được phản ánh vào sự khác biệt trong chất lượng Tương tự, mức giá trung bình của bột
cá nhập khẩu dường như cao hơn so với nguyên liệu nội địa nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê
Bảng 14 So sánh giá nguyên liệu thô phân theo quy mô, nguồn cung cấp và vùng
a So sánh giá theo quy mô và nguồn đối với các sản phẩm chính:
Nhỏ Trung bình Lớn Anova Nhỏ TB Lớn Ngô: Trong nước 3.750 (647) 3.942 (667) 4.050 (386) nsd 6 12 7 Ngô: Tất cả các nguồn 3.750 (647) 3.941 (667) 3.998 (380) nsd 6 12 8 Gạo: Trong nước 3.750 (1156) 3.636 (447) 4.128 (667) nsd 4 5 2 Sắn: Trong nước 2.450 (659) 2.753 (482) 2.472 (664) nsd 7 9 6 Cám mì: Tất cả các nguồn 3.503 (831) 3.687 (1241) 3.917 (1152) nsd 8 4 9 Cám gạo: Tất cả các nguồn 3.309 (784) 3.166 (411) 3.161 (879) nsd 6 7 4 Khô dầu đậu tương: Tất cả các 6.233 (1176) 6.901 (2292) 7.190 (2278) nsd 10 13 9
Trang 35nguồn
Bột cá: Tất cả các nguồn 9.368 (3495) 11.685 (3149) 11.420 (1429) nsd 7 8 5
b So sánh giá theo vùng, nguồn cung cấp, các sản phẩm chính và nguồn:
Giá trung bình (đồng/kg) Số lượng mẫu
Ngô: Trong nước 4.100 (283) 3.828 (688) nsd 9 16
Sắn: Trong nước 2.600 (418) 2.574 (634) nsd 5 17
Khô dầu đậu tương: Giá trung
Bột cá: Giá trung bình 11.250 (957) 10.697 (3.364) nsd 4 16
c So sánh giá theo nguồn cung cấp, các nguyên liệu nhập khẩu chính:
Giá trung bình (đồng/kg) Mẫu Nội địa Nhập khẩu Anova Nội địa Nhập khẩu
Bột cá 10.429 (2,957) 13.900 (3.024) nsd 14 18 Bảng 15 trình bày tỷ lệ nguyên liệu thô được mua từ nguồn trong nước và nước ngoài
Các nguyên liệu giàu năng lượng chẳng hạn như ngô chủ yếu được mua trong nước tuy
nhiên các nhà máy lớn thường ít mua từ nguồn này hơn so với hai nhóm quy mô nhỏ Các
nhà máy ở tất cả các quy mô cũng mua cám sản xuất trong nước, song nhà máy quy mô
lớn mua ít hơn, mặc dù giá cám sản xuất trong nước cao hơn giá nhập khẩu Ngược lại,
khô dầu đậu tương chủ yếu được các nhà máy nhập khẩu trực tiếp (100% đối với nhóm
quy mô lớn và 58,2% đối với nhóm trung bình) hoặc mua sản phẩm nhập khẩu tại thị
trường trong nước (71,4% ở nhóm doanh nghiệp nhỏ)
Bảng 15 Tỷ lệ nguyên liệu thô mua từ các nguồn khác nhau theo quy mô sản xuất
Khô dầu đậu tương Trong nước nhập khẩu 71.4 37.2 0.0 Khô dầu đậu tương Nhập khẩu trực tiếp 0.2 58.2 100.0
a “Trong nước nhập khẩu” tức là nguyên liệu nhập khẩu được cung cấp từ một nhà cung cấp trong nước
Có một thực tế là nguồn cung nguyên liệu giàu đạm sản xuất trong nước không đủ đáp
ứng nhu cầu, đặc biệt đối với khô dầu đậu tương Các DNVVN mua một lượng khô dầu
Trang 36đậu tương sản xuất trong nước với tỷ lệ tương ứng là 28,5% và 4,6% Bột cá là nguyên liệu giàu đạm duy nhất có nguồn gốc chủ yếu từ thị trường trong nước Số liệu thứ cấp từ Cục chăn nuôi đã cho thấy khoảng 2/3 lượng bột cá sử dụng cho sản xuất thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc nội địa
Việc phân tích giá nguyên liệu thô đầu vào chỉ ra rằng có sự khác biệt nhỏ về giá giữa các nhóm quy mô khác nhau Điều này có nghĩa là phải có một lý do khác giải thích tại sao chi phí nguyên liệu thô đầu vào trung bình cao hơn ở nhóm doanh nghiệp nhỏ Nếu không
có tình trạng lãng phí nhiều nguyên liệu trong các doanh nghiệp nhỏ, thì lời giải thích hợp
lý nhất đó là các doanh nghiệp nhỏ tập trung vào sản xuất thức ăn đậm đặc nhiều hơn do
đó phải mất chi phí cao hơn cho nguyên liệu đầu vào Tỷ lệ sản xuất sản phẩm đầu ra và lợi nhuận theo quy mô sẽ được thảo luận ở phần sau
Hình 12 mô tả hiệu quả của việc sử dụng nguyên liệu thô và lao động để sản xuất 1 tấn thức ăn chăn nuôi cho các nhóm doanh nghiệp quy mô khác nhau Số lượng lao động trên một đơn vị đầu ra có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các nhóm quy mô nhỏ và trung bình, trong đó nhóm trung bình cần ít lao động hơn với 11 lao động để sản xuất 1 tấn sản phẩm so với 19 lao động ở nhóm quy mô nhỏ Điều này có thể phản ánh hiệu quả sử dụng lao động thấp ở các doanh nghiệp nhỏ do quy mô hoạt động hoặc có thể phản ánh sự phụ thuộc lớn hơn vào quy trình sản xuất tự động (tức là thay thế vốn) của các doanh nghiệp lớn Chỉ số về khối lượng đầu vào trên 1 đơn vị sản phẩm đầu ra nhìn chung vào khoảng trên dưới 1 cho thấy số liệu là nhất quán trong các phần khác nhau của cuộc khảo sát (Hình 12) Kết quả dao động quanh mức 1 có thể phản ánh mức đưa thêm vào hoặc rút bớt đi từ khối lượng lưu kho Tuy nhiên, các kết quả chỉ ra rằng không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa khối lượng nguyên liệu sử dụng theo quy mô doanh nghiệp
Medium (n=20)
Large (n=7)
tonne
0 4 8 12 16
Trang 374.2.2 Đối tượng cung cấp nguyên liệu thô
Trong nghiên cứu này các nguyên liệu đầu vào nhìn chung thường do các cơ sở chế biến
tư nhân cung cấp, tiếp theo là các thương nhân (Bảng 16) Nông dân và thương nhân
dường như cũng có vai trò trong việc cung cấp nguyên liệu thô cho các doanh nghiệp nhỏ
và trung bình song không cung cấp cho các doanh nghiệp lớn Các công ty thuộc sở hữu
nhà nước là đối tượng cung cấp cám duy nhất cho các doanh nghiệp sản xuất thức ăn lớn
Cụ thể đối với từng loại nguyên liệu đầu vào:
• Ngô chủ yếu được mua từ các cơ sở chế biến tư nhân nơi cung cấp khoảng 80,5% cho
các doanh nghiệp lớn và trên 50% cho hai nhóm quy mô còn lại Thương nhân và
nông dân cũng cung cấp ngô cho các doanh nghiệp nhỏ và trung bình nhưng không
cung cấp cho nhóm quy mô lớn
• Sắn: các doanh nghiệp thức ăn quy mô nhỏ và trung bình phụ thuộc vào thương nhân
và nông dân là các nhà cung cấp chính nguyên liệu sắn, trong khi doanh nghiệp lớn
mua 100% lượng sắn từ các cơ sở chế biến tư nhân
Bảng 16 Tỷ lệ nguyên liệu thô mua từ các nhà cung cấp khác nhau theo quy mô sản
xuất của doanh nghiệp
Loại nguyên liệu Nông dân Thương
lái
Cơ sở chế biên tư nhân
DN Nhà nước Khác
Khô dầu đậu tương 0,0 0,0 68,3 12,0 19,7
• Cám: Điểm đáng chú ý là trong khi cả doanh nghiệp nhỏ và trung bình mua toàn bộ
cám từ các cơ sở chế biên tư nhân, thì các doanh nghiệp lớn mua 100% lượng cám từ
các công ty nhà nước
• Khô dầu đậu tương: Tương tự như ngô, khô dầu đậu tương được mua từ 3 nguồn khác
nhau (nông dân, thương nhân và các cơ sở chế biến tư nhân) nhưng các cơ sở chế biến
tư nhân chiếm ưu thế trên thị trường cung cấp sản phẩm này
Tóm lại, thương nhân và nông dân với tư cách là người cung cấp nguyên liệu trực tiếp
cho các doanh nghiệp nhỏ và trung bình có thể có vai trò quan trọng xét trên phương diện
tạo việc làm cho nông dân và các thương nhân Phát hiện này cho thấy sự khác biệt đáng
kể trong chuỗi cung ứng giữa doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp nhỏ/trung bình
Trang 384.2.3 Phương thức thanh toán đối với việc mua nguyên liệu
Các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi có xu hướng áp dụng phương thức thanh toán chính
là “mua đứt bán đoạn” khi mua nguyên liệu thô, tuy nhiên tỷ lệ giảm dần từ nhóm quy mô nhỏ đến quy mô lớn hơn: 73%, 55% và 50% tương ứng (Hình 13) “Trả sau” là phương pháp thanh toán phổ biến thứ hai với 25% tới 30% doanh nghiệp lựa chọn Các doanh nghiệp quy mô lớn lựa chọn “trả sau” nhiều hơn hình thức “mua đứt bán đoạn” có thể giải thích bằng việc họ thường có mối quan hệ chặt chẽ hơn với các nhà cung cấp, có uy tín cao hơn và hơn nữa có thể có khả năng trả nợ tốt hơn so với các doanh nghiệp nhỏ Chỉ có các doanh nghiệp quy mô trung bình mua nguyên liệu đầu vào sử dụng hình thức thanh toán “trả trước”: trong đó 15% lượng nguyên liệu đầu vào mua được trả trước Phương thức thanh toán này giúp đảm bảo nguồn cung ổn định, đặc biệt trong trường hợp nguyên liệu đầu vào khan hiếm
Pay on credit
Trang 405 ĐẦU RA CỦA DOANH NGHIỆP
5.1 Chủng loại sản phẩm
Thức ăn cho lợn là loại phổ biến nhất, với 82,2% các doanh nghiệp thuộc nhóm nhỏ và tất
cả các doanh nghiệp trong nhóm trung bình và nhóm lớn tham gia sản xuất (Bảng 17) Sản phẩm phổ biến thứ hai là thức ăn cho gà, sau đó là thức ăn cho bò, trong đó các doanh nghiệp quy mô lớn hơn tham gia sản xuất 2 loại sản phẩm này nhiều hơn (Bảng 17) Đáng chú ý, một tỷ lệ đáng kể doanh nghiệp sản xuất các loại thức ăn khác như thức
ăn bổ sung, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc nhóm lớn với 71,4% tham gia vào hoạt động sản xuất này Tỷ lệ doanh nghiệp sản xuất thức ăn cho cá tương đối thấp, nhưng có nhiều doanh nghiệp quy mô vừa tham gia hơn so với các doanh nghiệp quy mô lớn (25%
so với 14,3%) Như vậy, có thể kết luận rằng quy mô càng lớn, doanh nghiệp càng có xu hướng đa dạng hoá các sản phẩm thức ăn chăn nuôi
Bảng 17 Tỷ lệ doanh nghiệp sản xuất từng loại thức ăn chăn nuôi, theo qui mô sản xuất và theo vùng
Quy mô Vùng TĂ cho lợn TĂ cho gà TĂ cho bò TĂ cho cá Loại khác
tế là các vùng nuôi cá quy mô lớn thường tập trung nhiều hơn ở khu vực phía nam Khi thức ăn chăn nuôi được phân chia thành thức ăn hỗn hợp và thức ăn đậm đặc, không phân biệt chủng loại dành cho loại gia súc nào, tất cả các doanh nghiệp lớn tham gia sản xuất cả thức ăn hỗn hợp và thức ăn đậm đặc (Hình 15) Trong nghiên cứu này, tất cả các doanh nghiệp thuộc nhóm quy mô trung bình đều tham gia sản xuất thức ăn hỗn hợp và hầu hết (95%) trong số đó sản xuất thức ăn đậm đặc (Hình 15) Tỷ lệ thấp hơn các doanh nghiệp nhỏ sản xuất thức ăn hỗn hợp và thức ăn đậm đặc và kết quả này nhất quán với số liệu trong Bảng 7 cho thấy các doanh nghiệp nhỏ có xu hướng đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của họ ngoài hoạt động sản xuất đơn thuần Tuy nhiên có nhiều hơn các doanh nghiệp nhỏ sản xuất thức ăn đậm đặc hơn so với thức ăn hỗn hợp (82,4% so với 64,7%) Điều này giải thích tại sao nhóm doanh nghiệp nhỏ có chi phí nguyên liệu thô đầu vào cao hơn