1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi " pdf

28 366 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 677,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CARD Project 030/06 VIE: Tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi Sử dụng thức ăn công

Trang 1

CARD Project 030/06 VIE: Tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi

Sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn trộn của các hộ chăn nuôi

ở Việt Nam

Thông tin từ tóm lược chính sách này

dành cho Bộ trưởng và các ban ngành có

liên quan của Bộ Nông nghiệp & PTNT;

các Sở Nông nghiệp & PTNT các tỉnh

Mục đích

• Trình bày những kết quả nghiên cứu

liên quan đến việc sử dụng thức ăn

chăn nuôi của những hộ chăn nuôi gà

và lợn ở Việt Nam

• Đưa ra những gợi ý từ nghiên cứu về

việc sử dụng thức ăn công nghiệp và

thức ăn trộn hiện nay và trong tương

lai của những hộ chăn nuôi ở Việt

nam

Thông tin nền

Một cuộc điều tra 300 hộ chăn nuôi gà

và lợn ở các quy mô khác nhau đã được

Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông

nghiệp thực hiện năm 2009 trên phạm vi

6 tỉnh Một trong những mục tiêu chính

của cuộc điều tra là tìm hiểu việc sử

dụng thức ăn chăn nuôi theo quy mô hộ

Các hộ chăn nuôi được phân loại thành 3

quy mô: nhỏ, trung bình và lớn dựa trên

số lượng đầu con chăn nuôi năm 2008

Đối với các hộ chăn nuôi lợn, quy mô

nhỏ là những hộ nuôi dưới 50 con một

năm, và quy mô lớn là những hộ nuôi

trên 120 con một năm Việc phân loại

đối với những hộ chăn nuôi gà thì có sự

khác biệt giữa chăn nuôi gà thịt và chăn nuôi gà đẻ Đối với chăn nuôi gà đẻ, quy

mô nhỏ là những hộ nuôi dưới 1000 con một năm và quy mô lớn là những hộ nuôi trên 4000 con một năm Đối với chăn nuôi gà thịt, quy mô nhỏ là những

hộ nuôi dưới 500 con một năm và quy

mô lớn là những hộ nuôi trên 3000 con một năm

Chi phí thức ăn được coi là chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng chi phí chăn nuôi của

hộ Trong điều tra này, kết quả tính trung bình cho thấy chi phí thức ăn chiếm 79% tổng chi phí chăn nuôi đối với hộ chăn nuôi gà và 83% đối với hộ chăn nuôi lợn

Tỷ lệ cao của chi phí thứ ăn trong tổng cho phí chăn nuôi cho thấy việc sử dụng thức ăn hiệu quả là rất quan trọng trong chăn nuôi Trong tóm lược chính sách này, các kết quả nghiên cứu về việc sử dụng thức ăn và hiệu quả sử dụng thức

ăn trong chăn nuôi sẽ được đưa ra thảo luận

Sử dụng thức ăn chăn nuôi của hộ

Thức ăn công nghiệp được sử dụng phổ biến hơn ở những hộ quy mô lớn

và trong các giai đoạn đầu của chu kỳ chăn nuôi

Nhìn chung, có nhiều hộ hơn ở nhóm quy mô lớn hơn, ở các giai đoạn đầu so với các giai đoạn sau của chu kỳ chăn nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp Các

Trang 2

sự khác biệt theo quy mô cũng đúng khi

xét đến lượng thức ăn công nghiệp được

sử dụng: đó là những hộ quy mô lớn hơn

sử dụng nhiều thức ăn công nghiệp hơn

(cụ thể là lượng thức ăn cho ăn trên 1

con) Thức ăn công nghiệp được sản xuất

bởi các doan nghiệp nước ngoài được ưa

thích hơn so với thức ăn do các công ty

trong nước sản xuất, với trên 90% hộ

điều tra lựa chọn mua cả thức ăn đậm

đặc và thức ăn hỗn hợp nhãn hiệu nước

ngoài Nguyên nhân chính mà các hộ

chăn nuôi đưa ra cho sự lựa chọn này là

các thức ăn nhãn hiệu nước ngoài có chất

lượng tốt hơn và mang lại năng suất chăn

nuôi cao hơn

Đối với chăn nuôi gà: Phần lớn hộ điều

tra sử dụng thức ăn hỗn hợp ở cả 3 giai

đoạn chăn nuôi1: tuy nhiên, tỷ lệ chung

có xu hướng giảm dần từ giai đoạn 1 đến

giai đoạn 3 (90%, 63% và 52% đối với

gà thịt và 82%, 80% và 74% đối với gà

đẻ) Nhìn chung, quy mô càng lớn thì

các hộ càng có xu hưởng sử dụng thức

ăn hỗn hợp, và điều này đúng đối với tất

cả các giai đoạn chăn nuôi Đối với các

nhóm quy mô trung bình và lớn, tỷ lệ hộ

nuôi gà thịt sử dụng thức ăn hỗn hợp cao

ở tất cả các giai đoạn (trên 60%), trong

khi chỉ có 26% và 43% số hộ quy mô

nhỏ sử dụng thức ăn hỗn hợp ở giai đoạn

2 và 3 theo thứ tự Các hộ nuôi các giống

ngoại/ lai có xu hướng sử dụng thức ăn

hỗn hợp nhiều hơn những hộ nuôi các

giống gà địa phương, và những hộ nuôi

gà thả rông cũng có xu hướng sử dụng ít

thức ăn hỗn hợp hơn

Đối với chăn nuôi lợn: tỷ lệ hộ sử dụng

thức ăn hỗn hợp để nuôi lợn thịt cao hơn

so với nuôi lợn nái Đối với chăn nuôi

lợn nái, tỷ lệ hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp

nhìn chung là cao nhất vào giai đoạn

đang cho con bú với tỷ lệ 65% Đối với

1 Một lứa gà thường có 3 giai đoạn cho ăn Đối

với gà thịt, giai đoạn 1 kéo dài khoảng 29 ngày,

giai đoạn là 48 ngày tiếp theo và giai đoạn 3 là

40 ngày còn lại Đối với gà đẻ, độ dài của 3 giai

đoạn theo thứ tự là 94 ngày, 172 ngày và 250

Chỉ cho ăn thức ăn trộn không còn phổ biến nữa; thay vào đó cách thức chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp và cho ăn kết hợp thức ăn thô với thức ăn công nghiệp được sử dụng

Trừ một số ít hộ chăn nuôi gà chỉ cho ăn thức ăn trộn (9% đối với gà thịt và 18% đối với gà đẻ), một tỷ lệ lớn các hộ (kể

cả hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn) chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp: 53% đối với

gà thịt, 64% đối với gà đẻ; 43% đối với lợn nái, 77% đối với lợn con và 45% đối với lợn thịt Những hộ còn lại sử dụng cả

2 loại thức ăn này trong chăn nuôi Tỷ lệ thức ăn đậm đặc trong tổng lượng thức

ăn trộn ở vào khoảng 27% đối với các hộ chăn nuôi gà và 17% đối với các hộ chăn nuôi lợn thịt Thức ăn kết hợp được sử dụng nhiều hơn đối với những hộ chăn

nuôi lợn ở tất cả các giai đoạn

Hiệu quả của thức ăn công nghiệp so với thức ăn kết hợp (hỗn hợp + trộn)

Sử dụng số liệu điều tra về sử dụng thức

ăn chăn nuôi của hộ và khối lượng tăng trọng, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) được tính toán đối với các sản phẩm đầu

ra tương tự: gà thịt và lợn thịt Đối với chăn nuôi gà thịt, tỷ lệ FCR - số kg thức

ăn cho ăn trên 1 kg gà sản phẩm giảm dần khi quy mô tăng lên FCR đối với chăn nuôi gà thịt ở tất cả các hộ giảm dần từ giống gà địa phương cho đến giống lai và đến giống ngoại (3,94, 2,45

và 2,24 theo thứ tự) FCR cũng thấp hơn rất nhiều ở những hộ chỉ cho ăn thức ăn

2 Một lứa lợn thịt gồm 2 giai đoạn cho ăn chính: giai đoạn 1 (nuôi lợn con) kéo dài 60 ngày và giai đoạn 2 (nuôi lợn bột cho đến khi giết mổ) kéo dài 98 ngày

Trang 3

hỗn hợp so với những hộ cho ăn thức ăn

kết hợp, và cũng thấp hơn về mặt thống

kê ở những hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp

nhãn hiệu nước ngoài so với những hộ

sử dụng thức ăn nhãn hiệu nội địa trong

trường hợp của gà (2,94 so với 4,18)

Các tỷ lệ FCR đối với chăn nuôi lợn sử

dụng thức ăn hỗn hợp thấp hơn về mặt

thống kê đối với các hộ chăn nuôi quy

mô nhỏ (2,08) so với các hộ quy mô lớn

(2,92) FCR cũng thấp hơn về mặt thống

kê nếu cho ăn thức ăn hỗn hợp (2.65) so

với cho ăn thức ăn kết hợp (4,06), tuy

nhiên đối với các hộ chăn nuôi lợn, tỷ lệ

FCR ở những hộ sử dụng thức ăn hỗn

hợp nhãn hiệu nước ngoài không có sự

khác biệt về mặt thống kê so với những

hộ sử dụng nhãn hiệu nội địa

Tỷ lệ FCR cũng có thể được sử dụng

như là một tiêu chuẩn đo lường hiệu quả

sử dụng thức ăn Tuy nhiên, nên xem xét

đến chi phí thức ăn trên một kg thịt tăng

trọng khi tính đến hiệu quả kinh tế Nông

dân có thể sử dụng thức ăn rẻ dù FCR

cao hơn nhưng có chi phí trên một kg

tăng trọng thấp hơn Các kết quả của

nghiên cứu này cũng chỉ ra một vài sự

khác biệt rất thú vị giữa các hộ chăn nuôi

gà và hộ chăn nuôi lợn sử dụng các loại

thức ăn khác nhau, điều này nói lên rằng

có thể cần có những gợi ý chính sách

khác nhau cho từng loại sản phẩm và

từng hệ thống

Đối với chăn nuôi gà: nhìn chung, mặc

dù chi phí trung bình trên 1 ngày nếu chỉ

sử dụng thức ăn hỗn hợp cao hơn về mặt

thống kê so với dùng thức ăn kết hợp,

chi chí thức ăn trên 1 kg thịt tăng trọng

giữa những hộ chỉ cho ăn thức ăn hỗn

hợp và cho ăn kết hợp cũng thấp hơn về

mặt thống kê so những hộ chỉ cho ăn

thức ăn trộn (22.686 đồng so với 27.888

đồng) (Bảng 1) Kết quả này ủng hộ việc

sử dụng thức ăn công nghiệp đối với

chăn nuôi chi phí hiệu quả Chú ý rằng

sản xuất có hiệu quả về mặt chi phí cũng

nên cân nhắc đến giá bán sản phẩm, điều

này có thể phản ánh sự khác biệt sản

phẩm về mùi vị và chất lượng thức ăn

trong khẩu phần ăn của vật nuôi Tuy nhiên, điều này không được đưa vào xem xét trong các phân tích ở đây Các sự khác biệt về chi phí theo loại thức ăn không có ý nghĩa thống kê đối với các hộ quy mô nhỏ và trung bình, nhưng đối với các hộ quy mô lớn, chi phí một ngày nếu chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp thấp hơn về mặt thống kê so với cho ăn thức ăn kết hợp

Ảnh hưởng của nhãn hiệu thức ăn đối với chi phí thức ăn trên 1 kg thịt tăng trọng cũng được kiểm tra nhưng các sự khác biệt về giá trị trung bình lại không

có ý nghĩa thống kê Vì vậy, mặc dù FCR thấp hơn ở nhóm hộ sử dụng thức

ăn nhãn hiệu nước ngoài, nhưng giá loại thức ăn này cao hơn đã giúp cân bằng những lợi ích kinh tế so với thức ăn nhãn hiệu nội địa, tức là chi phí trên 1 kg thịt tăng trọng không thấp hơn so với nhóm thức ăn nhãn hiệu nước ngoài Các giá trị trung bình là 22.900 đồng đối với thức

ăn nhãn hiệu nước ngoài và 25.300 nghìn đồng đối với thức ăn nhãn hiệu nội địa nhưng các sự khác biệt này không có

ý nghĩa về mặt thống kê

Đối với chăn nuôi lợn: trong trường hợp

này, các sự khác biệt về chi phí trên 1 ngày giữa khẩu phần ăn chỉ sử dụng thức

ăn hỗn hợp và khẩu phần sử dụng thức

ăn kết hợp là có ý nghĩa thống kê (19.230 đồng so với 14.370 đồng) khi xét cho toàn bộ mẫu; và khi xét cho cả 3 quy mô chăn nuôi Tương tự như vậy, kết quả cũng cho thấy chi phí thức ăn trên 1 kg thịt tăng trọng cao hơn về mặt thống kê ở những hộ chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp so với những hộ cho ăn thức ăn kết hợp (23.580 đồng so với 20.150 đồng) khi xét trên tổng mẫu; và khi xét cho những hộ ở miền Bắc Các kết quả đối với trường hợp chăn nuôi lợn ủng hộ việc sử dụng thức ăn kết hợp (thường sử dụng những thức ăn tận dụng trong gia đình) vì các hộ có thể giảm được khoảng 3.400 đồng chi phí thức ăn trên 1 kg thịt tăng trọng Cũng như trước đó, các sự khác biệt có thể về giá bán của các loại

Trang 4

giống được nuôi theo các cách thức cho

ăn khác nhau không được đề cập

Các gợi ý đối với việc sử dụng thức ăn

của các hộ chăn nuôi

• Nhìn chung, các hộ chăn nuôi gà và

lợn quy mô lớn hơn có xu hướng sử

dụng thức ăn công nghiệp nhiều hơn

trong khẩu phần ăn của vật nuôi Khi

ngành chăn nuôi phát triển và có xu

hướng tập trung vào chăn nuôi quy

mô lớn hơn thì nhu cầu đối với thức

ăn công nghiệp cũng sẽ tăng lên

• Thức ăn công nghiệp được trình bày

bằng các kết quả ở trên cho thấy hiệu

quả chi phí cao hơn ở những hộ chăn

nuôi gà Tuy nhiên, có một vài bằng

chúng ủng hộ cho việc sử dụng chi

phí hiệu quả đối với thức ăn kết hợp

- đặc biệt là ở các hộ chăn nuôi lợn

Thức ăn kết hợp được sử dụng phổ

biến hơn bởi những hộ chăn nuôi quy

mô nhỏ và trung bình, và các kết quả

ủng hộ ý kiến cho rằng chiến lược sử

dụng loại thức ăn này có thể đem lại

hiệu quả về mặt chi phí Thức ă kết

hợp cũng có thể được sử dụng trong

chăn nuôi những sản phẩm có giá

bán cao hơn do chất lượng tốt hơn, ví

dụ như các giống gà địa phương

• Các doanh nghiệp sản xuất thức ăn quy mô nhỏ và trung bình có xu hướng cung cấp thức ăn chăn nuôi trực tiếp cho các hộ quy mô nhỏ, và các nhãn hiệu thức ăn nội địa được trình bày trong phần kết quả này cũng có hiệu quả chi phí trên một 1

kg thịt tăng trọng tương đương với các nhãn hiệu nước ngoài Tỷ lệ FCR cao hơn được bù đắp bởi giá thấp hơn của thức ăn nhãn hiệu nội địa Tính khả thi của việc thành lập 1 nhóm các hộ chăn nuôi và những nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi ở các vùng nông thôn bằng cách kết nối những hộ quy mô nhỏ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được điều tra

Tham khảo thêm

Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp,

2010 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam: Phần

1 Sản xuất thức ăn chăn nuôi Báo cáo cho

Dự án CARD 030/06

Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp,

2010 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam: Phần

II Sử dụng thức ăn chăn nuôi của các hộ chăn nuôi gà và lợn Báo cáo cho Dự án CARD 030/06

Trang 5

Bảng 1 Chi phí thức ăn trên một ngày và trên 1 kg thịt tăng trọng đối với chăn nuôi

gà thịt: theo vùng, quy mô và khẩu phần ăn (Nguồn: Điều tra hộ chăn nuôi, CARD

ăn hỗn hợp

Anova# (chi phí/kg theo cách thức cho ăn)

a Chi phí một ngày giữa các loại thức ăn xét trên toàn bộ mẫu là có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%

b Chi phí một ngày nếu chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp cao hơn về mặt thống kê ở miền Bắc, không có sự khác

biệt thống kê đối với trường hợp cho ăn kết hợp; chi phí trên 1 kg thịt tăng trọng cao hơn về mặt thống kê ở

miền Nam nếu cho ăn kết hợp nhưng không có khác biệt thống kê nếu chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp

c Chi phí một ngày không có khác biệt về mặt thống kê giữa các quy mô khi xét cho từng loại thức ăn, chi

phí trên 1 kg thịt tăng trọng không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các quy mô nếu chỉ cho ăn thức ăn

hỗn hợp, chi phí trung bình cho 1 kg thịt tăng trọng nếu cho ăn kết hợp cao hơn về mặt thống kê ở các hộ

quy mô lớn

* Chỉ có 2 hộ chăn nuôi ở quy mô lớn có sử dụng cách thức cho ăn kết hợp cả thức ăn trộn và thức ăn hỗn

hợp, do đó kết quả không được trình bày ở đây

# ANOVA là phân tích phương sai, nsd có nghĩa là không có sự khác biệt về mặt thống kê

Bảng 2 Chi phí thức ăn trên 1 ngày và trên 1 kg lợn thịt tăng trọng, theo vùng, quy

mô, và cách thức cho ăn (Nguồn: Điều tra hộ chăn nuôi, CARD, 2009)

Chi phí thức ăn trên 1 ngày (Nghìn đồng)

Chi phí thức ăn trên 1 kg thịt tăng trọng

(nghìn đồng)

Chỉ thức ăn hỗn hợp

Thức ăn trộn &

thức ăn hỗn hợp

Anova# (chi phí/ ngày theo cách thức cho ăn)

Chỉ thức ăn hỗn hợp

Thức ăn trộn &

thức ăn hỗn hợp

Anova# (chi phí/kg theo cách thức cho ăn)

Trang 6

CARD Project 030/06 VIE: Tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi

Những khó khăn mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành sản xuất

thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam đang phải đối mặt

Thông tin từ tóm lược chính sách này

dành cho Bộ trưởng và ban ngành có liên

quan của Bộ Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn, các sở Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn các tỉnh, Hiệp hội doanh

nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Mục đích:

• Trình bày những khó khăn chủ yếu

mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các doanh nghiệp lớn chiếm lĩnh thị

trường trong ngành sản xuất thức ăn

chăn nuôi, nhưng cũng còn rất nhiều

DNVVN hoạt động trong ngành này

Các DNVVN phải chịu áp lực rất lớn để

duy trì được khả năng cạnh tranh

Mới chỉ có rất ít các nghiên cứu về khả

năng cạnh tranh của các DNVVN so với

các doanh nghiệp lớn hơn và những khó

khăn mà các doanh nghiệp này gặp phải

Trong Tóm lược chính sách này, chúng

tôi sẽ trình bày một số khó khăn mà các

DNVVN DNVVN hoạt động trong

ngành chế biến thức ăn chăn nuôi đang

phải đối mặt Nghiên cứu gần đây đã chỉ

ra rằng sự hỗ trợ về tín dụng của Chính phủ cho các DNVVN này không đạt được nhiều hiệu quả vì nó tập trung chủ yếu vào các DNVVN ở 2 thành phố lớn nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (Thanh, 2010) Bởi vì nhiều doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi được đặt ở khu vực nông thôn, Quỹ hỗ trợ tín dụng sẽ không phát huy được hiệu quả trong việc vươn đến với các doanh nghiệp này Hơn thế nữa, nghiên cứu cũng cho thấy 75% các DNVVN tiếp cận với các khoản vay từ các nguồn không chính thức (Thanh, 2010)

Số liệu được thu thập từ cuộc điều tra 62 doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi được thực hiện năm 2008 bởi Trung tâm

Tư vấn Chính sách Nông nghiệp Trong phân tích này, các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi được phân loại như sau: Quy

mô nhỏ là các doanh nghiệp sản xuất dưới 10,000 tấn một năm; quy mô vừa là các doanh nghiệp sản xuất từ 10.000 tấn đến dưới 60.000 tấn một năm; và quy mô lớn là các doanh nghiệp sản xuất từ 60.000 tấn trở lên một năm Trong Tóm lược chính sách này, nói đến DNVVN là nói đến những doanh nghiệp ở cả quy

mô nhỏ và vừa, mặc dù có một vài kết quả được trình bày tách biệt cho các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp vừa

Trang 7

Các khó khăn mà DNVVN hoạt động trong

ngành đang phải đối mặt

Giới hạn trong tiếp cận nguồn tín dụng đầy đủ

Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các

doanh nghiệp nhỏ gặp khó khăn trong

việc tiếp cận với các khoản vay từ các

nguồn tín dụng chính thức Tỷ lệ các

DNVVN có thể vay được đủ vốn theo

nhu cầu thấp hơn so với tỷ lệ của các

doanh nghiệp vừa và lớn

Gần 70 % doanh nghiệp sản xuất thức ăn

chăn nuôi được điều tra trong dự án

CARD có vay vốn nhưng chỉ có 56%

trong số đó vay được đủ vốn theo nhu

cầu Tuy nhiên, tỷ lệ các doanh nghiệp

nhỏ có thể vay được đủ vốn theo nhu cầu

thấp hơn so với tỷ lệ của các doanh

nghiệp vừa và lớn (tỉ lệ này lần lượt là

40%, 64% và 67%) So sánh với các

doanh nghiệp lớn, DNVVN có xu hướng

vay vốn từ các ngân hàng thương mại

(trên 60%) hơn VBARD nơi họ có tiếp

cận với lãi suất thấp hơn Điều đó có

nghĩa rằng các doanh nghiệp này phải trả

chi phí cao hơn cho các khoản vay, điều

này làm tăng chi phí sản xuất

Trong cuộc điều tra, không có thế chấp

được tất cả các doanh nghiệp lớn và 2/3

số doanh nghiệp nhỏ lựa chọn như là lý

do quan trọng nhất khiến họ không vay

được đủ vốn theo nhu cầu Một nửa số

doanh nghiệp ở quy mô vừa đề cập đến

lãi suất cao như là nguyên nhân quan

trọng nhất khiến họ không vay được đủ

vốn theo nhu cầu, và số doanh nghiệp

còn lại chia điều cho 2 lý do: không có

tài sản thế chấp và thiếu các mối quan

Rất nhiều doanh nghiệp cho rằng Chính

phủ nên đưa ra nhiều sự hỗ trợ hơn đối

với các doanh nghiệp trong việc tiếp cận

nguồn tín dụng Đây là vai trò quan

trọng nhất của Chính phủ được đưa ra

bởi các doanh nghiệp trong điều tra Phát

hiện này phản ánh những khó khăn mà

các doanh nghiệp, đặc biệt là các

DNVVN, phải đối mặt khi vay vốn (lãi

suất cao, thủ tục hành chính, thiếu tài sản

thế chấp và giới hạn về khoản vay…) và

ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp là cần những chính sách để giải quyết những khó khăn về tín dụng

Thu mua và lưu trữ các nguyên liệu thô

Không có bằng chứng thống kê nào cho thấy các doanh nghiệp nhỏ trả nhiều hơn cho việc mua các nguyên liệu đầu vào

sử dụng trong sản xuất thức ăn chăn nuôi Cần chú ý rằng, những số liệu này không xét đến chất lượng của nguyên liệu được mua Tuy nhiên, có một điều

rõ ràng từ các số liệu là các DNVVN phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn nguyên liệu trong nước, đặc biệt là bột cá so với các doanh nghiệp lớn

Các DNVVN thường có quy mô kho chứa nhỏ hơn và khả năng dự trữ trong thời gian ngắn hơn so với các doanh nghiệp lớn Điều này có nghĩa họ phải mua nguyên liệu đầu vào thường xuyên hơn Điều này khiến họ dễ bị tổn thương hơn đối với việc tăng giá nguyên liệu Trong điều kiện thị trường nguyên liệu không ổn định, công suất kho chứa rộng hơn và khả năng lưu trữ trong thời gian dài hơn sẽ giúp đảm bảo cho các các doanh nghiệp lên kế hoạch cũng như kinh phí dự trù một cách hiệu quả

Tiếp cận đầy đủ về đất đai cho kinh doanh

Cả các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp lớn đều có xu hướng báo cáo rằng họ phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc tiếp cận đầy đủ về đất đai cho việc tổ chức các hoạt động kinh doanh Tiếp cận đất cho mục đích kinh doanh là vấn đề phổ biến thứ 2 (sau tiếp cận về tín dụng ) theo nhận định của các doanh nghiệp DNVVN là cần được sự trợ giúp của Chính phủ (hơn 20% số doanh

nghiệp )

Trở ngại trong vận chuyển hàng hóa

42% các doanh nghiệp nói rằng họ gặp khó khăn trong việc vận chuyển hàng hóa, và tỷ lệ này ở các doanh nghiệp lớn (61%) cao hơn so với các DNVVN Lệ

Trang 8

phí cầu đường, các rào cản về đường xá

liên huyện và liên tỉnh cùng với việc

kiểm soát của cảnh sát là những lý do

được cho là những rào cản quan trọng

nhất với việc vận chuyển hàng hóa của

67% doanh nghiệp nhỏ, 33% doanh

nghiệp vừa và 75% doanh nghiệp lớn

Thiếu năng lực trong việc thực hiện

kiểm soát về chất lượng đầy đủ

Trong cuộc điều tra 62 doanh nghiệp sản

xuất thức ăn chăn nuôi được thực hiện

bởi Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông

nghiệp năm 2008, các quy trình kiểm

soát chất lượng của các doanh nghiệp

nước ngoài, liên doanh và doanh nghiệp

lớn đã được chứng minh là tốt hơn ở cả 2

khâu kiểm tra nguyên liệu đầu vào và

sản phẩm đầu ra Rõ ràng là có những

vấn đề về kiểm soát chất lượng đối với

các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp

trong nước Rất ít các doanh nghiệp

được khảo sát đề nghị hỗ trợ về kỹ thuật,

kiểm soát chất lượng, tập huấn hoặc yêu

cầu sự trợ giúp từ Chính phủ Điều này

có thể sẽ là một viễn cảnh bất lợi cho các

DNVVN trong ngành thức ăn chăn nuôi

Kiểm soát chất lượng tốt hơn là cần thiết

đối với lĩnh vực này và dường như

không chắc chắn rằng sẽ có thể đạt được

một cách tự nguyện bởi phần lớn các

doanh nghiệp trong nước Các vấn đề về

kiểm soát chất lượng được đi sâu phân

tích hơn trong Tóm lược chính sách về “

Kiểm soát chất lượng trong ngành thức

ăn chăn nuôi ở Việt Nam”

Một số khuyến nghị

1 Các DNVVN nên được hỗ trợ thêm

về vốn vay Hơn 50% các doanh

nghiệp đồng ý rằng cần phải có sự

trợ giúp của Chính phủ trong việc

tiếp cận nguồn tín dụng Nghiên cứu

sâu hơn là cần thiết trong việc xác

2 Cải tiến các tiêu chuẩn kiểm soát

chất lượng của các doanh nghiệp nhỏ trong nước Hiện tại có một sự khác biệt lớn về các thủ tục kiểm soát chất lượng đang được thực hiện trong các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài Để cạnh tranh trong lĩnh vực này một cách lâu dài, hệ thống tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng của các DNVVN trong nước cần phải được cải thiện Một số khuyến nghị cụ thể hơn về việc cải thiện kiểm soát chất lượng sẽ được trình bày trong bản Tóm lược chính sách về “ Kiểm soát chất lượng trong ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt

Nam.”

3 Xây dựng các liên kết thị trường tốt

hơn giữa các DNVVN và các nhà cung cấp nguyên liệu Chiến lược này, cùng với cải tiến quản lý chuỗi cung ứng, có thể làm tăng chất lượng

và giảm chi phí của các nguyên liệu thô trong nước, mang lại lợi ích cho các DNVVN hoạt động trong ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi Mục tiêu là cải tiến chất lượng (ví dụng như các sản phẩm bột cá trong nước )

và giảm giá thành của các nguyên liệu thô trong nước

4 Đẩy mạnh vai trò của các DNVVN

đối với vấn đề tạo việc làm nông thôn DNVVN thường được đặt ở các vùng nông thôn nhiều hơn và do

đó cung cấp nhiều cơ hội việc làm trong khu vực nông thôn Chính phủ nên khuyến khích các DNVVN ở khu vực nông thôn thông qua cung cấp đất đai, cơ sở hạ tầng và hỗ trợ tín dụng

5 Các rào cản trong vận chuyển hàng

hóa do việc kiểm soát không đúng

Trang 9

quy cách của cảnh sát cần phải được

giải quyết Các rào cản không cần

thiết và các chi phí liên quan tới vận

chuyển hàng hóa làm gia tăng chi phí

trong ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt

Nam và kết quả là chi phí sản xuất

cao hơn cho cả các hộ chăn nuôi quy

mô nhỏ và quy mô sản xuất hàng

hóa Tham nhũng liên quan đến các

hoạt động của cảnh sát cần phải được

ngăn ngừa và giải quyết

6 Hỗ trợ củng cố vai trò của Hiệp hội

thức ăn chăn nuôi Việt Nam

(VAFA) VAFA có thể đóng vai trò

quan trọng và hữu ích cho các

DNVVN trong ngành này Hiệp hội

này đã giúp các DNVVN trong các

công thức chế biến thức ăn, và tư vấn

nhiều khía cạnh khác nhau cho sản

xuất, và vai trò này có thể được mở

rộng bao gồm cả việc hỗ trợ trong

việc cung cấp thông tin về thị trường

trong nước và quốc tế, thu mua

nguyên liệu (ví dụ như nhập nguyên

liệu thô) và cải tiến các thủ tục kiểm

soát chất lượng Cả các DNVVN và

các doanh nghiệp lớn nên thể hiện

vai trò trong việc thảo luận và phát

triển vai trò của VAFA trong tương

lai Chính sách bảo hộ cho ngành

thức ăn chăn nuôi nói chung và

DNVVN nói riêng nên được xem

xét Tư cách hội viên của Hiệp hội

thức ăn chăn nuôi nên bắt buộc cho

tất cả các doanh nghiệp sản xuất thức

ăn chăn nuôi đã đăng ký, và Hiệp hội

nên được củng cố với sự hỗ trợ của

chính phủ và khu vực tư nhân

Tham khảo thêm

Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp,

2010 Các DNVVN trong ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam: Phần 1 Sản xuất thức ăn chăn nuôi Báo cáo cho Dự án CARD 030/06

Thanh, Vo Tri, 2010 Hội nghị chuyên đề về

“Các chiến lược đối với DNVVN để vượt qua cuộc Khủng hoảng Kinh tế” Hiệp hội các kế toán viên được chứng nhận đủ tiêu chuẩn hành nghề và Báo Sài Gòn Thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh, 4/5/ 2010

Trang 10

CARD Project 030/06 VIE: Tăng cường khả năng cạnh trạn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi

Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành sản

xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam

Thông tin từ tóm lược chính sách này

dành cho Bộ trưởng và các nhà chức

trách có liên quan của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn, các sở Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh,

Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi, Hiệp hội

Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam và

các nhà quản lý của các doanh nghiệp

đang hoạt động trong ngành thức ăn

chăn nuôi

Mục đích

• Trình bày các kết quả nghiên cứu

liên quan đến khả năng cạnh tranh

của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

(DNVVN) đang hoạt động trong

ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam,

trường trong ngành sản xuất thức ăn

chăn nuôi, nhưng có rất nhiều các

DNVVN cũng đang hoạt động trong lĩnh

vực này Sức ép đè nặng lên các doanh

nghiệp nhỏ trong nước để duy trì được

khả năng cạnh tranh và có nhiều ý kiến

cho rằng họ không có khả năng cạnh tranh, tuy nhiên mới có rất ít các nghiên cứu về khả năng cạnh tranh của các DNVVN so với các doanh nghiệp lớn được thực hiện Trong tóm lược chính sách này, các kết quả của 1 nghiên cứu

về khả năng cạnh tranh của các DNVVN trong ngành thức ăn chăn nuôi sẽ được trình bày và thảo luận Số liệu phân tích

là từ 1 cuộc điều tra trên 62 doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi được thực hiện năm 2008 bởi Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp Trong các phân tích, các doanh nghiệp được phân loại theo cách sau: các doanh nghiệp nhỏ là những doanh nghiệp sản xuất dưới 10.000 tấn/năm; các doanh nghiệp vừa là những doanh nghiệp sản xuất từ 10.000 đến dưới 60.000 tấn/năm, và các doanh nghiệp lớn là những doanh nghiệp sản xuất từ 60.000 tấn/năm trở lên Trong tóm lược chính sách này, nói đến DNVVN là nói đến những doanh nghiệp

ở cả quy mô nhỏ và vừa, mặc dù có một vài kết quả được trình bày tách biệt cho các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp vừa

Khả năng cạnh tranh trong ngành thức

ăn chăn nuôi chịu tác động bởi chi phí sản xuất tương đối của các doanh nghiệp

ở các quy mô khác nhau Nghiên cứu này tập trung vào việc so sánh các DNVVN với các doanh nghiệp lớn về

Trang 11

các khía cạnh liên quan đến các hoạt

động sản xuất và kinh doanh của hộ, bao

gồm: sử dụng nguyên liệu đầu vào, lưu

trữ, các loại sản phẩm, kiểm soát chất

lượng, các kênh cung cấp và phân phối,

thị phần, các dịch vụ cung cấp và đối

tượng khách hàng Những hoạt động này

đưa ra những chỉ tiêu rõ ràng hơn về việc

làm sao các DNVVN có thể cạnh tranh

được với các doanh nghiệp lớn

Các kết quả về khả năng cạnh tranh

của các DNVVN

Các đặc điểm sản xuất và chi phí sản xuất

Số liệu thống kê trong nghiên cứu này

cho thấy chi phí sản xuất tăng tỷ lệ

nghịch với quy mô sản xuất Các doanh

nghiệp nhỏ có mức chi phí sản xuất trên

mỗi kg sản phẩm cao hơn đáng kể so với

doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp vừa

lại có mức chi phí sản xuất cao hơn

doanh nghiệp lớn Chi phí sản xuất trung

bình trên mỗi kg sản phẩm là 8.420

đồng, 6.340 đồng và 5.380 kg tương ứng

với các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn

Chỉ riêng chỉ số này không thể khẳng

định các doanh nghiệp lớn có hiệu quả

hơn Ví dụ, điều tra cho thấy các

DNVVN có tỷ lệ thức ăn đậm đặc trong

tổng sản lượng thức ăn sản xuất ra hàng

năm cao hơn so với các doanh nghiệp

lớn Về trung bình, doanh thu từ thức ăn

đậm đặc trong tổng doanh các doanh

nghiệp nhỏ chiếm tới 37%, so với 18% ở

các doanh nghiệp vừa và chỉ 11% ở các

doanh nghiệp lớn Trên 80% doanh thu

của các doanh nghiệp vừa và lớn là từ

thức ăn hỗn hợp Sản xuất thức ăn đậm

đặc đòi hỏi chi phí nguyên liệu thô đầu

vào trên 1 kg sản phẩm cao hơn nên chi

phí sản xuất cho 1 kg sản phẩm đầu ra

cũng cao hơn đối với những doanh

nghiệp sản xuất nhiều thức ăn đậm đặc

Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chi

phí nguyên liệu thô chiếm khoảng 80%

tổng chi phí sản xuất của các doanh

nghiệp Một phần tích về các chi phí

khác ngoài chi phí nguyên liệu thô cho

thấy, các doanh nghiệp lớn có mức chi phí đơn vị thấp hơn về mặt thống kê so với các doanh nghiệp nhỏ (970 đồng trên

1 kg so với 2.050 đồng trên 1 kg trong năm 2007), điều này cho thấy hiệu quả quy mô gắn với các doanh nghiệp lớn hơn

Các doanh nghiệp nhỏ sử dụng 19 lao động để sản xuất ra một tấn sản phẩm, so với khoảng 11 lao động được sử dụng ở các doanh nghiệp vừa và lớn, và sự khác biệt này là có ý nghĩa về mặt thống kê Điều này có thể nói lên hiệu quả sử dụng lao động thấp của các doanh nghiệp nhỏ, hay việc sử dụng vốn thay thế của các doanh nghiệp lớn hơn Điều này cũng nói lên rằng các doanh nghiệp nhỏ đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp việc làm

Lợi nhuận của các DNVVN

Chúng tôi không có đủ số liệu để so sánh lợi nhuận đối với loại sản phẩm Tuy nhiên, đối với sản xuất chung, chúng tôi thấy rằng các doanh nghiệp nhỏ chịu thua lỗ khoảng 70 đồng trên 1 kg sản phẩm đầu ra trong khi các doanh nghiệp trung bình và lớn thu được lợi nhuận lần lượt là 120 đồng và 100 đồng trên 1 kg sản phẩm đầu ra Sự khác biệt này là có

ý nghĩa về mặt thống kê

Các kết quả này chỉ ra rằng các doanh nghiệp nhỏ (sản xuất dưới 10.000 tấn một năm) rất khó khăn trong việc duy trì khả năng cạnh tranh Số liệu chỉ ra rằng

họ phải đối mặt với chi phí cao hơn và bán thức ăn hỗn hợp cho lợn ở mức giá thấp hơn đáng kể dẫn tới lợi nhuận trung bình của họ thấp hơn Điều này được chứng minh bởi các báo cáo về thực trạng các doanh nghiệp nhỏ ngừng hoạt động, và các quan sát của chúng tôi khi thực hiện cuộc điều tra, rất nhiều doanh nghiệp trong danh sách trước đây không còn hoạt động nữa

Trang 12

của họ nhiều hơn so với các doanh

nghiệp lớn Tín dụng hoặc các phương

thức trả chậm khi mua sản phẩm không

được xem là phương thức thanh toán

thông thường của các doanh nghiệp lớn,

ngược lại cả hai phương thức thanh toán

này đều là các phương thức thông

thường mà các DNVVN áp dụng Phần

lớn các giao dịch bán sản phẩm thức ăn

hoàn chỉnh và 75% giao dịch bán thức

ăn đậm đặc cho các đại lý bán buôn bởi

các công ty lớn được thực hiện theo

phương thức trả trước Chi phí tín dụng

là nguồn phí cộng thêm vào mà các

doanh nghiệp vừa và nhỏ phải chi trả so

với các doanh nghiệp quy mô lớn tuy

nhiên nó là chiến lược để đảm bảo các

đầu mối bán hàng Các doanh nghiệp

vừa là nhóm duy nhất tuyên bố mua các

nguyên liệu đầu vào qua hình thức

“thanh toán trả trước” với 15% số lượng

hàng thu mua sẽ được trả trước Phương

thức thu mua này sẽ giúp đảm bảo

nguồn cung bền vững đặc biệt là khi các

nguyên liệu khan hiếm và cũng có thể là

một chiến lược các doanh nghiệp vừa và

nhỏ sử dụng để đảm bảo nguồn cung đầu

vào Tuy nhiên, thực hiện chiến lược này

các doanh nghiệp phải trả thêm chi phí

Địa điểm

Các DNVVN thường được đặt ở các

vùng nông thôn nhiều hơn ở thành thị và

đặc biệt các doanh nghiệp vừa có xu

hướng cung cấp cho các khách hàng ở xa

khu vực sản xuất và những khách hàng

này thường là những hộ chăn nuôi nhỏ

Điều này cho thấy một số DNVVN tập

trung vào cung cấp cho các hộ chăn nuôi

nhỏ ở xa các thành phố lớn Các

DNVVN cũng sử dụng một tỷ lệ lớn các

nguyên liệu thô được sản xuất ở địa

phương Việc đặt địa điểm tại các vùng

nông thôn có thể giúp các DNVVN tiếp cận được với các nguồn cung đầu vào tại địa phương bao gồm cả những nguyên liệu đầu vào không phổ biến như gạo tấm, lạc và dầu hạt bông

Khác biệt trong chuỗi cung cấp

Nghiên cứu chỉ ra rằng các kênh cung cấp/ phân phối áp dụng bởi các DNVVN

và các doanh nghiệp lớn trong ngành thức ăn chăn nuôi tương đối khác nhau, điều này nói lên rằng họ thu mua nguyên liệu và phân phối sản phẩm từ/cho các phân đoạn thị trường khác nhau Không giống như các doanh nghiệp lớn, các DNVVN thu mua đầu vào hay bán sản phẩm đầu ra trực tiếp từ/cho các hộ gia đình nhỏ Các doanh nghiệp lớn phụ thuộc hơn vào nguồn nhập khẩu (ví dụ ngô) để đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu của họ trong khi các DNVVN có thể đảm bảo đủ nguồn cung nguyên liệu thô

từ thị trường trong nước

Các DNVVN có xu hướng đa dạng hóa nhiều hơn các hoạt động kinh doanh và ngoài ra họ bán sản phẩm cho nhiều đối tượng khách hàng bao gồm các doanh nghiệp khác, các đại lý và các hộ chăn nuôi Đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ hướng việc bán sản phẩm trực tiếp cho các hộ gia đình và doanh nghiệp vừa mục tiêu chủ yếu hướng và các đại lý bán lẻ Ngược lại, các doanh nghiệp lớn hầu hết phân phối sản phẩm của họ cho các đại lý bán buôn và các thương lái và chỉ thu mua nguyên liệu đầu vào từ các

cơ sở chế biến tư nhân và các doanh nghiệp nhà nước

Các dịch vụ cung cấp cho các đại lý và các hộ chăn nuôi

Các DNVVN cung cấp nhiều loại dịch

vụ khác nhau đi kèm với việc bán thức

ăn chăn nuôi cho các đại lý và các hộ chăn nuôi Các doanh nghiệp nhỏ có xu hướng cung cấp các dịch vụ giao hàng tới các đại lý nhiều hơn (so với các doanh nghiệp vừa và lớn), và cũng cung cấp các dịch vụ giao hàng tận nơi cho các hộ chăn nuôi như các doanh nghiệp

Trang 13

lớn Như đã đề cập trước đó, các

DNVVN cũng có xu hướng nhiều hơn

các doanh nghiệp lớn trong việc cung

cấp các dịch vụ về tín dụng/trả chậm cho

các đại lý

Các DNVVN ít cung cấp các dịch vụ thú

y, tư vấn dinh dưỡng và tài liệu khuyến

nông cho các hộ chăn nuôi hơn so với

các doanh nghiệp lớn, mặc dù có một tỷ

lệ lớn đáng kể các doanh nghiệp vừa và

nhỏ đưa ra các dịch vụ này Tuy nhiên,

giống như các doanh nghiệp lớn phần

lớn các DNVVN cũng cung cấp các dịch

vụ này đến các đại lý

Các gợi ý cho sự phát triển bền vững

của các DNVVN trong ngành

Các kết quả nghiên cứu chỉ ra các cách

tiếp cận có thể cân nhắc để đảm bảo sự

phát triển bền bững của các DNVVN

trong ngành

1 Các doanh nghiệp nhỏ cần tăng quy

mô sản xuất

Các kết quả ủng hộ ý kiến cho rằng các

doanh nghiệp vừa (sản xuất từ 10.000

đến 60.000 tấn/ năm) vẫn duy trì được

khả năng cạnh tranh, với các chi phí, kết

hợp sản phẩm và giá tương đương với

cách doanh nghiệp lớn Họ có chiến lược

bán hàng tập trung vào một nhóm đối

tượng khách hàng khác với nhóm doanh

nghiệp lớn (tức là các đại lý bán lẻ hơn

là các đại lý bán buôn) Các doanh

nghiệp nhỏ (sản xuất dưới 10.000 tấn

một năm) xem ra phải chịu áp lực rất lớn

để có thể tồn tại, và rất nhiều doanh

nghiệp sẽ cần tăng quy mô sản xuất để

duy trì được hoạt động

2 Cân nhắc các lợi thế đạt được từ 1

cấu trúc hợp tác

Các DNVVN nên xem xét các lợi thế có

thể liên quan đến 1 cấu trúc hợp tác, nó

cho phép họ hoạt động giống như các

doanh nghiệp lớn hơn và đạt được các

hiệu quả quy mô trong chi phí sản xuất

Một cấu trúc hợp tác có thể đem lại

những lợi thế liên quan đến việc đa dạng

hoá Một vài DNVVN ở Thái Lan đã đưa

ra một loạt các dịch vụ (chẳng hạn như cung cấp tín dụng, nhiên liệu, mua các sản phẩm đầu) cho các hộ chăn nuôi nhỏ và/hoặc những trang trại thương mại là thành viên của hợp tác xã và cung cấp và/ hoặc mua trực tiếp đến/ từ các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi Chiến lược này có thể được sử dụng để đảm bảo nguồn cung nguyên liệu thô và các nhóm khách hàng chính đối với các sản phẩm thức ăn chăn nuôi

3 Phát triển mạnh hơn các thị trường nhỏ/ thị trường chuyên biệt

Các kết quả chỉ ra rằng các DNVVN được đặt ở các vùng nông thôn nhiều hơn và có xu hướng bán sản phẩm cho các vùng xa khu vực sản xuất hơn so với các doanh nghiệp lớn Cần có nhiều nghiên cứu hơn về nguồn cung cấp thức

ăn chăn nuôi ở những vùng xa khu vực sản xuất chính, và làm sao để mở rộng được thị trường này thành một thị trường chuyên biệt một cho các DNVVN Các

cơ hội cũng có thể đặt ra đối với việc sản xuất ra những sản phẩm thức ăn chăn nuôi chuyên biệt phục vụ cho ngành chăn nuôi quy mô nhỏ hơn (chẳng hạn như vịt, gà và lợn giống địa phương, và bò) hơn là cạnh tranh lại với các công ty nước ngoài để cung cấp thức ăn cho chăn nuôi gà và lợn

4 Nguồn cung cấp trong nước về các nguyên liệu thô đầu vào là rất quan trọng đối với các DNVVN

Các DNVVN có xu hướng mua các nguyên liệu đầu vào từ các nguồn địa phương nhiều hơn, điều này chỉ ra rằng thị trường nguyên liệu trong nước là rất quan trọng đối với các DNVVN Việc quản lý tốt hơn chuỗi cung cấp có thể tăng chất lượng và giảm chi phí của các nguyên liệu thô trong nước từ đó mang lại lợi ích cho các DNVVN hoạt động trong ngành thức ăn chăn nuôi Một nghiên cứu sâu hơn về việc quản lý kênh cung cấp nguyên liệu đầu vào của các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi quy mô

Trang 14

vừa có thể cung cấp những kinh nghiệm

và bài học cần có cho việc phát triển bền

vững nguồn cung cấp nguyên liệu thô

cho các DNVVN trong ngành thức ăn

chăn nuôi

5 Cải tiến việc kiểm soát chất lượng

của các sản phẩm thức ăn chăn nuôi

sản xuất bởi các DNVVN

Chất lượng tốt hơn của các sản phẩm

được sản xuất bởi các DNVVN là yếu tố

quan trọng để giúp họ có được khả năng

cạnh tranh trong ngành Các đề xuất

chính sách cần có để tăng cường việc

kiểm soát chất lượng của các sản phẩm

thức ăn được phân tích rõ hơn trong một

Tóm lược chính sách riêng về “Kiểm

soát chất lượng trong ngành thức ăn chăn

nuôi ở Việt Nam”

6 Tập trung vào những thách thức mà

các DNVVN đang phải đối mặt

Nghiên cứu đã tìm thấy một số thách

thức mà các DNVVN trong ngành thức

ăn chăn nuôi phải đối mặt Những thách

thức này bao gồm khả năng tiếp cận tín dụng, mua và lưu trữ các nguyên liệu đầu vào, và thiếu khả năng để thực hiện việc kiểm soát chất lượng Các cách tiếp cận chính sách cần có để giải quyết những thách thức này được phân tích rõ hơn trong một Tóm lược chính sách riêng về “Các thách thức mà các DNVVN trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam đang phải đối mặt”

Tham khảo thêm

Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp,

2010 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam: Phần

1 Sản xuất thức ăn chăn nuôi Báo cáo cho

Dự án CARD 030/06

Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp,

2010 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam: Phần

II Sử dụng thức ăn chăn nuôi của các hộ chăn nuôi gà và lợn Báo cáo cho Dự án CARD 030/06

Ngày đăng: 22/06/2014, 16:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 Chi phí thức ăn trên 1 ngày và trên 1 kg lợn thịt tăng trọng, theo vùng, quy - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi " pdf
Bảng 2 Chi phí thức ăn trên 1 ngày và trên 1 kg lợn thịt tăng trọng, theo vùng, quy (Trang 5)
Bảng 1 Chi phí thức ăn trên một ngày và trên 1 kg thịt tăng trọng đối với chăn nuôi - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi " pdf
Bảng 1 Chi phí thức ăn trên một ngày và trên 1 kg thịt tăng trọng đối với chăn nuôi (Trang 5)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w