Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI 1986, nền kinh tế nước ta từng bước chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN do đó đã thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất xã hội, tạo ra
Trang 1.……… ***………
ĐINH QUỐC THẮNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN
TỪ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỦA TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2005
Trang 2.……… ***………
ĐINH QUỐC THẮNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN
TỪ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỦA TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 5.02.01
Người hướng dẫn khoa học : GS.TS Chu Văn Cấp
HÀ NỘI - 2005
Trang 3MỞ ĐẦU 1-Lý do chọn đề tài
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), nền kinh tế nước ta từng bước chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN do đó đã thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất xã hội, tạo ra một sự thay đổi lớn trong hoạt động của các doanh nghiệp, nhất là các DNNN, buộc các doanh nghiệp phải thay đổi cách nghĩ, cách làm … nâng cao hiệu quả SXKD đã trở thành yếu tố sống còn của các DNNN Để nâng cao hiệu quả SXKD của các DNNN Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách như: Chỉ thị số TTg ngày 21 tháng 4 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp đổi mới DNNN Nghị định 44/1999/CP ngày 29 tháng 6 năm 1998 của Chính phủ về chuyển DNNN thành CTCP Đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (9-2001), trong đó nhấn mạnh phải đẩy nhanh CPH DNNN mà nhà nước không cần nắm 100% vốn Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (1-2004) đã ghi: "Khẩn trương chuyển DNNN… hoặc CTCP" Như vậy sau CPH, các CTCP từ DNNN đã ra đời
20/CT-Các CTCP đã tăng khả năng huy động vốn, tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiên tiến, ứng dụng công nghệ hiện đại, tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả SXKD, tăng cường tính tự chủ , thay đổi cơ cấu sản xuất góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội, thúc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước Bên cạnh kết quả đã đạt được các CTCP từ DNNN cũng nảy sinh nhiều vấn đề bất cập cần tiếp tục giải quyết như : Làm thế nào SXKD có hiệu quả nhằm; Bảo toàn và phát triển được tài sản, vốn; Từng bước đổi mới kỹ thuật sản xuất và quản lý, giải quyết vấn đề lao động dôi dư
Ở tỉnh Nam Định các CTCP từ DNNN sau CPH cũng nằm trong tình trạng của các CTCP ra đời từ DNNN ở nước ta trong thời gian qua
Trang 4Xuất phát từ yêu cầu phát triển các CTCP từ DNNN của tỉnh Nam Định hiện nay và để có thể góp phần phát triển CTCP từ CPH DNNN Tác giả lựa
chọn vấn đề “Nâng cao hiệu quả SXKD của các CTCP từ DNNN của tỉnh
Nam Định” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế
2- Tình hình nghiên cứu đề tài
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương, một giải pháp nhằm đổi mới và phát triển DNNN đã diễn ra ở nước ta hơn một thập kỷ nay
Nó đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn Đã
có không ít các công trình nghiên cứu và công bố liên quan đến nội dung này
“Một số lý luận về CTCP và vận dụng vào Việt Nam”
Ngoài ra một số công trình khoa học cũng đã đi sâu nghiên cứu về cổ phần hóa nói chung và cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam; Đề tài khoa học cấp
bộ “ Những vấn đề lý luận và thực tiễn của cổ phần hóa khu vực kinh tế quốc doanh” của Ủy ban vật giá nhà nước…
Những công trình nêu trên đã nghiên cứu một cách tương đối hệ thống lý luận về CPH nói chung và CPH DNNN nói riêng, kinh nghiệm CPH của một
Trang 5số nước trên thế giới, thực trạng quá trình CPH ở Việt Nam, những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân
Liên quan đến vấn đề hiệu quả SXKD nói chung, đã có một số công trình, bài viết:
"Những vấn đề cơ bản về nâng cao hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội ở nước ta", (Hội thảo khoa học, tháng 10 năm 1979, do Viện nghiên cứu
kế hoạch hoá và định mức và tạp chí kế hoạch hoá tổ chức)
Nguyễn Sĩ Thịnh (chủ biên, 1985): "Hiệu quả kinh tế trong các xí nghiệp công nghiệp", NXB "Thống kê", Hà nội
Nguyễn Danh An, "Hiệu quả kinh tế - xã hội và lợi ích của người lao động trong lâm nghiệp" luận án phó tiến sỹ, năm 1989
Trần Hoàng Kim: "Thông tin kinh tế đối với SXKD của đơn vị cơ sở", thông tin chuyên đề, Trung tâm thông tin - Uỷ ban kế hoạch nhà nước, Hà nội,1993
Moshe Ortasse: "Vai trò của thông tin trong các xí nghiệp công nghiệp hiện đại", thông tin chuyên đề, Trung tâm thông tin - Uỷ ban kế hoạch nhà nước, Hà nội, 1993
Bùi Thanh Quang, "Nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của ngành cà phê trên địa bàn Tây Nguyên", luận án tiến sỹ kinh tế, Hà nội, 2002
Và một số luận văn tốt nghiệp đại học, cao cấp lý luận chính trị thuộc Khoa Kinh tế chính trị học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhìn chung các công trình nêu trên đã đề cập đến khái niệm, nội dung của phạm trù hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế - xã hội và cách tính hiệu quả kinh tế nói chung, các nhân tố ảnh hưởng, tác động đến nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội…
Các vấn đề nâng cao hiệu quả SXKD cảu các CTCP từ DNNN, cho đến nay còn ít tác giả nghiên cứu, hoặc vẫn chỉ dừng lại ở các nghiên cứu riêng lẻ
Trang 6đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành Đặc biệt vấn đề hiệu quả DNNN ở tỉnh Nam Định dưới góc độ Kinh tế - chính trị hiện còn ít công trình nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống Do đó, đề tài nghiên cứu vẫn cần thiết và
có ý nghĩa lý luận, thực tiễn đối với địa phương
3- Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1- Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu lý luận về CTCP và hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, công ty, luận văn đi sâu phân tích thực trạng hoạt động và hiệu quả SXKD của các CTCP từ DNNN của tỉnh Nam Định, trên cơ sở đó đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả SXKD của các CTCP trong thời gian tới
3.2- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích đã đề ra, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau :
- Làm rõ cơ sở lý luận về việc nâng cao hiệu quả SXKD của các CTCP từ DNNN
- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả SXKD của các CTCP từ DNNN của tỉnh Nam Định, nêu bật những vấn đề cần tiếp tục giải quyết
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả SXKD của các CTCP từ DNNN của tỉnh Nam Định trong những năm tới
4- Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Luận văn lấy các CTCP từ DNNN của tỉnh Nam Định làm đối tượng nghiên (Chủ yếu là các DNNN trong công nghiệp)
- Luận văn chỉ nghiên cứu hiệu quả SXKD của các CTCP dưới góc độ Kinh tế - chính trị, không nghiên cứu dưới góc độ Kinh tế chuyên ngành, tức
là chỉ làm rõ các phương hướng và những giải pháp nâng cao hiệu quả SXKD của các CTCP chủ yếu ở tầm vĩ mô
Trang 7- Về thời gian: Từ khi tỉnh Nam Định cổ phần hóa DNNN đến nay (Từ năm 1999 sau khi Chính phủ chính thức phê duyệt phương án sắp xếp đổi mới DNNN của tỉnh Nam Định tại văn bản số 53 CP-ĐMDN ngày 19-7-1999
5.2-Nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các nguồn tài liệu sau:
- Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã được công bố trên các sách, báo, tạp chí…
- Các kỷ yếu, hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài của luận văn
5.3-Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp của Kinh tế
- chính trị như: Trừu tượng hóa khoa học; Lô gích kết hợp với lịch sử; Phân tích và tổng hợp; Đồng thời coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn và phương pháp thống kê
6- Đóng góp của luận văn
- Góp phần luận giải phạm trù hiệu quả SXKD của CTCP từ DNNN
- Đánh giá sát thực hiệu quả SXKD của các CTCP từ DNNN của tỉnh Nam Định Trên cơ sở ấy đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả SXKD của các CTCP từ DNNN hiện nay của tỉnh Nam Định
Trang 8- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội ở địa phương và cho việc giảng dạy ở các trường Đại học và Cao đẳng những vấn đề có liên quan
7- Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 7 tiết
Chương 1 : Công ty cổ phần từ doanh nghiệp nhà nước và hiệu quả sản xuất
kinh doanh của công ty cổ phần
Chương 2 : Thực trạng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các công ty cổ
phần từ doanh nghiệp nhà nước của tỉnh Nam Định
Chương 3 : Phương hướng và giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của các công ty cổ phần từ doanh nghiệp nhà nước của tỉnh Nam Định
Trang 9Chương 1 CÔNG TY CỔ PHẦN TỪ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Công ty cổ phần và công ty cổ phần ra đời từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
1.1.1.Công ty cổ phần
* Lịch sử ra đời của công ty cổ phần
Trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại và hoạt động, trong đó có CTCP là một loại hình rất phổ biến CTCP ra đời là kết quả tất yếu của việc xã hội hoá sản xuất, của quá trình phát triển kinh tế thị trường ở các nước TBCN
Các CTCP đầu tiên được ra đời ở Tây Âu vào nửa cuối thế kỷ XVI do
sự phát triển của lực lượng sản xuất trong các công trường thủ công ở NiĐecTan (một trung tâm kinh tế lớn nhất Tây Âu lúc đó) đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp sản xuất len dạ, kéo theo sự phát triển nông nghiệp và thương nghiệp, đòi hỏi nhu cầu rất lớn về vốn vượt khỏi khả năng tích luỹ của mỗi cá nhân cho các hoạt động kinh tế Tình hình này đã thể hiện
rõ nhất ở nước Anh, vì đây là một nước có vị trí địa lý hết sức thuận lợi trong thương mại, có thể nắm được những luồng buôn bán quan trọng nhất trên thế giới; là nơi trung tâm kinh tế NiĐecTan di chuyển tới tạo nên sự thịnh vượng
về kinh tế Ở đây cả công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp đều phát triển mạnh nhất so với thế giới nói chung, cũng như so với các nước Tây Âu thời đó Sự phát triển đó tạo khả năng bành trướng của Anh ra các nước Khả năng này trở thành hiện thực khi các CTCP ra đời
Năm 1553, CTCP đầu tiên với số vốn 6.000 bảng Anh được thành lập bằng cách phát hành 240 cổ phiếu, mỗi cổ phiếu là 25 bảng để tổ chức đội buôn gồm 3 chiếc thuyền lớn tìm đường sang Ấn Độ theo hướng Đông - Bắc
Trang 10[60, tr 65] Do sức hấp dẫn về khả năng thu được lợi nhuận lớn từ thị trường
Ấn Độ , khoảng 100 thương nhân Anh đã góp vốn cổ phần thành lập công ty Đông Ấn vào năm 1600 Chuyến buôn đầu tiên của công ty này sang Ấn Độ được thực hiện vào tháng 1/1601 với số vốn cổ phần là 68.373 bảng Anh Đến năm 1617 vốn cổ phần của công ty đã lên tới 1.620.040 bảng Anh với 954 cổ đông và là công ty lớn nhất nước Anh hồi đó [60, tr 68]
Trong giai đoạn này ở Anh còn thành lập các CTCP khác như công ty Viêcginia, Hơtxơnbai, Plaimơt, NiuScôtlan… theo hướng phát triển thương mại và khai thác thị trường Bắc Mỹ Các CTCP này do thương nhân Anh đứng ra thành lập
Hiện tượng này cũng diễn ra ở Hà Lan Năm 1602 CTCP đầu tiên ở Hà Lan ra đời mang tên công ty Đông Ấn với số vốn đầu tiên là 6,5 triệu Guyđen, đây là công ty do Chính phủ đứng ra tổ chức bằng cách phân bổ cổ phần cho thương nhân ở các thành phố Thương nhân thành phố Amxtécđam đã được mua tới 1/2 số vốn ban đầu của công ty, thương nhân thành phố Mítđơnbuốc mua 1/4 số cổ phần Công ty này không chỉ được độc quyền trong việc buôn bán với Ấn Độ mà còn có các quyền lực đặc biệt như thay Nghị viện ký các thương ước, các hoà ước, gây chiến tranh, xây pháo đài Từ đó đã thu về cho
Hà Lan những món lợi nhuận khổng lồ [60, tr 80-81]
Từ những năm 70 của thế kỷ XVIII dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, nhu cầu tập trung vốn được đẩy nhanh một cách khác thường ở các ngành sản xuất mới có ưu thế về cạnh tranh và có khả năng thu được khối lượng lợi nhuận lớn, làm ra đời và phát triển các CTCP mới trong lĩnh vực sản xuất vật chất Ban đầu các CTCP có mặt ở các ngành xây dựng đường sắt, nhà máy điện, nhà máy luyện kim và cơ khí lớn, ở những công xưởng lớn và những nhà máy hoá chất Về sau các CTCP còn xuất hiện trong các ngành sản xuất nông nghiệp Chẳng hạn ở Đức từ năm 1894 các ngân hàng đã cho nông
Trang 11dân vay theo lối cầm cố bằng cổ phiếu để rồi chuyển quyền sở hữu ruộng đất cho sở giao dịch
Cùng với sự phát triển của các CTCP, các sở giao dịch chứng khoán cũng mọc lên một cách phổ biến tại các nước phương Tây
Bước sang giai đoạn CNTB độc quyền, nhất là từ khi ra đời của CNTB độc quyền nhà nước, CTCP phát triển rất nhanh ở khắp mọi ngành, lĩnh vực Chẳng hạn năm 1914 ở nước Mỹ có tới 83,2% sản lượng công nghiệp được sản xuất từ các CTCP, số công ty này lên tới 78.152 chiếm 28,3% tổng số doanh nghiệp công nghiệp Sự phát triển của CTCP tạo thành kết cấu chuỗi: công ty mẹ, công ty con, công ty cháu, hình thành một loạt tập đoàn doanh nghiệp vượt ra ngoài biên giới quốc gia
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các CTCP phát triển với những đặc điểm mới
- Chúng được sử dụng vào việc phát triển các công ty xuyên quốc gia
và đa quốc gia để liên hợp kinh tế và quốc tế hoá doanh nghiệp cổ phần thành lập các tập đoàn kinh doanh quốc tế
- Thu hút công nhân viên chức mua cổ phần, thực hiện cái gọi là
“CNTB nhân dân” vừa làm dịu mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, vừa để thu hút vốn xã hội một cách rộng rãi
Ví dụ: Năm 1975 trong 300 công ty Mỹ có 500.000 công nhân viên chức mua cổ phiếu; ở Cộng hoà Liên bang Đức 1/3 trong số 1000 gia đình công nhân viên chức có cổ phần
- Cơ cấu của các CTCP tại các nước ngày càng hoàn thiện, pháp luật ngày càng được kiện toàn Sự phát triển CTCP ở mỗi nước đều có đặc điểm riêng
Những điều nói trên cho thấy, từ khi ra đời đến nay CTCP đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm gắn chặt với trình độ phát triển của nền sản xuất xã
Trang 12hội hoá và trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường Sự ra đời và phát triển của CTCP không nằm trong ý muốn chủ quan của bất cứ lực lượng nào,
mà là một quá trình kinh tế khách quan do các nguyên nhân sau:
- Do sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và trình độ xã hội hoá thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất quy mô lớn đòi hỏi sự tập trung lớn
về vốn xã hội, trong khi một nhà tư bản riêng biệt dù có tích luỹ nhanh đến mấy cũng không thể nào đáp ứng nổi Cần phải có sự liên minh, tập trung nhiều tư bản cá biệt trong xã hội bằng cách góp vốn để cùng kinh doanh Sự tập trung vốn như vậy làm hình thành CTCP
- Do sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá đạt đến một trình
độ xã hội hoá nhất định thị trường vốn sẽ ra đời Cơ sở đầu tiên của thị trường này là tín dụng Tín dụng là quan hệ kinh tế dưới hình thức quan hệ tiền tệ, người chủ tiền cho người khác vay trong một thời gian nhất định để thu được một món tiền lời gọi là lợi tức
Tín dụng ra đời làm xuất hiện chức năng mới của tiền là chức năng sinh lợi tức Sự xuất hiện của tín dụng tất yếu làm hình thành một loại hình doanh nghiệp mới chuyên kinh doanh tiền tệ và tập trung cung - cầu về tiền tệ đó là ngân hàng
Tín dụng và ngân hàng ra đời không chỉ đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội mà còn tạo cơ sở trực tiếp thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các CTCP Theo nhận xét của C.Mác việc phát hành cổ phiếu trong các CTCP không thể nào thực hiện được nếu không có thị trường tiền tệ đã phát triển và nếu không có những doanh nghiệp và dân cư có nhu cầu bán quyền sử dụng vốn tiền tệ trên thị trường mà đây lại là những sản vật của tín dụng Thực tế còn cho thấy việc phát hành cổ phiếu của các công ty thực hiện thông qua các ngân hàng, đôi khi do bản thân các ngân hàng tiến hành
Trang 13Ví dụ: Ở Đức năm 1896 hầu hết các CTCP trong ngành điện lực được hình thành dưới sự giúp đỡ của các ngân hàng
Tóm lại: CTCP ra đời và phát triển hoàn toàn phù hợp với quy luật
khách quan, nó là kết quả tất yếu của quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tập trung vốn trong một khoảng thời gian ngắn với sự hạn chế của mỗi nguồn vốn riêng lẻ, có nguyên nhân sâu xa từ sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, được tác động trực tiếp bởi cạnh tranh và sự phát triển của các quan hệ tín dụng, ngân hàng
* Đặc điểm của CTCP
- Về quan hệ sở hữu: Đây là một hình thức tổ chức doanh nghiệp có nhiều chủ đồng sở hữu Vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là các cổ phần Cổ phần là phần vốn cơ bản của công ty thể hiện một lượng giá trị thực tế tính bằng tiền Số tiền cổ phần được ghi vào một tờ giấy gọi là cổ phiếu Cổ phiếu chứng minh tư cách thành viên của người góp vốn vào CTCP Những thành viên này gọi là cổ đông Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần ở mỗi CTCP Có hai loại cổ phiếu: ghi tên và không ghi tên người mua cổ phiếu Cổ phiếu có ghi tên thường được bán cho những người là sáng lập viên và thành viên của Hội đồng quản trị Cổ phiếu không ghi tên (vô danh) được bán rộng rãi cho mọi đối tượng trên thị trường và được
tự do chuyển nhượng Còn cổ phiếu có ghi tên chỉ được quyền chuyển nhượng khi có sự đồng ý của Hội đồng quản trị của CTCP Quyền, trách nhiệm và lợi ích của mỗi cổ đông ở CTCP phụ thuộc vào số lượng cổ phần
mà họ sở hữu trong công ty Cổ đông nào có số lượng cổ phần khống chế thì
sẽ nắm được quyền chi phối hoạt động của công ty
- Về quan hệ tổ chức và quản lý: do nhiều chủ đồng sở hữu nên các cổ đông không thể trực tiếp thực hiện vai trò chủ sở hữu của mình mà phải thông
Trang 14qua tổ chức đại diện làm nhiệm vụ trực tiếp quản lý công ty bao gồm Đại hội
cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành và Ban kiểm soát
Đại hội cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty Thông qua Đại hội, các thủ tục thành lập CTCP được tiến hành và điều lệ của công ty được xây dựng Các công việc hoạt động SXKD của công ty như bàn định phương hướng, tổng kết năm tài chính, phân chia lợi nhuận, bầu và bãi miễn thành viên Hội đồng quản trị và kiểm soát viên được quyết định
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty bao gồm từ 3 đến 12 thành viên, có toàn quyền nhân danh công ty quyết định các vấn đề liên quan đến mục đích và quyền lợi của công ty Chủ tịch Hội đồng quản trị do Hội đồng quản trị bầu ra, là người đại diện chủ sở hữu cao nhất của CTCP
Giám đốc là người điều hành hoạt động thường nhật của CTCP, chịu trách nhiệm trược Hội đồng quản trị trong các nhiệm vụ và quyền hạn được giao
Ban kiểm soát là những người kiểm tra, giám sát hoạt động của CTCP theo điều lệ và bảo vệ lợi ích của cổ đông, những người này không nằm trong Hội đồng quản trị và Ban giám đốc
Tuy nhiên sự phân công quyền lực giữa các bộ phận tổ chức của CTCP
ở mỗi nước có sự khác nhau, nhưng nguyên tắc chung là phải đảm bảo thực hiện quyền của chủ sở hữu, vai trò của chủ kinh doanh và sự kiểm tra của Đại hội cổ đông thể hiện ở những quy định trong điều lệ và hoạt động của ban kiểm soát
- Về quan hệ phân phối: Được thực hiện theo nguyên tắc vốn góp của các cổ đông và lợi nhuận của CTCP Sau khi chi phí các khoản chung cần thiết, phần còn lại là lợi nhuận được chia đều cho các cổ phần Lợi nhuận mà mỗi cổ đông thu được tỷ lệ thuận với lượng vốn góp của họ được gọi là lợi
Trang 15tức cổ phần Mức lợi tức cổ phần cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào trình
độ và kết quả kinh doanh của công ty
Qua những đặc điểm trên cho thấy, nếu ở các công ty khác người sở hữu tài sản đồng thời có thể là người tổ chức và quản lý hoạt động của công
ty, quan hệ với bạn hàng, thì ở CTCP người sở hữu tài sản là người sở hữu thuần tuý các cổ phiếu, việc điều khiển hoạt động và quản lý hoạt động của công ty là do Ban quản trị (hay Hội đồng quản trị) và có thể thuê giám đốc Chủ sở hữu chỉ thực hiện quyền sở hữu của mình qua việc thu lợi tức trên cơ
sở kết quả hoạt động của công ty, tham gia Đại hội cổ đông, quyết định các vấn đề có tính chiến lược của công ty Người giám đốc chỉ "đơn thuần điều khiển và quản lý vốn của người khác" chỉ là một người làm thuê, lao động của anh ta là lao động quản lý, giá cả của lao động được quy định trên thị trường giống như bất cứ lao động nào khác
Như vậy về bản chất CTCP là một hình thức tổ chức doanh nghiệp mà vốn của nó được hình thành từ sự đóng góp của nhiều người thông qua việc mua cổ phần do công ty phát hành
* Vai trò công ty cổ phần
Công ty cổ phần ra đời là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lực lượng sản xuất xã hội và là hình thức tổ chức doanh nghiệp rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường Từ khi ra đời đến nay, các CTCP đã đóng góp vai trò hết sức to lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội được thực tế lịch sử ghi nhận
- Công ty cổ phần làm cho quy mô sản xuất được mở rộng một cách nhanh chóng, sớm ra đời các doanh nghiệp lớn cần một lượng vốn lớn mà không một chủ thể riêng lẻ nào có thể thực hiện được Một khoản đầu tư vốn riêng lẻ ban đầu không đủ để xây dựng một doanh nghiệp lớn trong một thời gian ngắn Bởi vì việc tích tụ đưa vào tích luỹ của mỗi cá nhân diễn ra vô cùng chậm chạp Trong khi đó việc tập trung vốn của CTCP thông qua phát
Trang 16hành cổ phiếu để huy động vốn xã hội lại diễn ra rất nhanh Về điểm này trong bộ "Tư bản" C.Mác đã nhận xét: "Nếu cứ phải chờ cho đến khi tích luỹ làm cho một số tư bản riêng lẻ lớn lên tới mức có thể đảm đương được việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến nay (giữa thế kỷ XIX) thế giới vẫn chưa có đường sắt Ngược lại qua các CTCP, sự tập trung đã thực hiện được việc đó trong nháy mắt [11, tr 119]
- Công ty cổ phần ra đời sẽ thu hút rộng rãi vốn xã hội vào mở rộng SXKD Trong các CTCP, một cổ phần góp vốn được ghi trên một cổ phiếu (mệnh giá cổ phiếu) thường được quy định từ mức thấp nhất vì thế cách huy động vốn của CTCP không chỉ thu hút được vốn từ các nhà đầu tư lớn mà còn tạo ra cơ hội để mọi người có thể được mua cổ phiếu
Ở đây, CTCP có quan hệ trực tiếp tới sự phát triển của tín dụng ngân hàng C.Mác xác định rằng quan hệ tín dụng là cơ sở của quan hệ cổ phần Sự phát triển của CTCP là sự phát triển đầy đủ của chế độ tín dụng, có nghĩa là tiền vốn đã trở thành máu của nền kinh tế xã hội CTCP là một hình thức để thu hút vốn tiền tệ trong xã hội Sự khơi thông nguồn vốn qua CTCP là một
sự phản ánh tính chất xã hội hoá các hàng hoá yếu tố sản xuất, đây là tiêu chí của nền kinh tế hàng hoá phát triển
- Công ty cổ phần đẩy nhanh xã hội hoá sản xuất, thu hút đông đảo lực lượng xã hội vào quản lý, đồng thời vẫn đề cao vai trò quản lý chuyên nghiệp
Sự tổ chức của CTCP còn tạo điều kiện tập hợp nhiều lực lượng xã hội vào hoạt động quản lý chung Bằng việc mua cổ phiếu ở các CTCP, người lao động tham gia vào quản lý công ty với tư cách là chủ sở hữu đích thực
Trong CTCP do chức năng của vốn tách rời với quyền sở hữu vốn, nên cho phép sử dụng nhà quản lý chuyên nghiệp Hội đồng quản trị với tư cách đại diện chủ sở hữu, có thể thuê giám đốc điều hành hoạt động SXKD Giám đốc là một nghề, việc sử dụng giám đốc như vậy là điều kiện để phát huy tính
Trang 17chủ động sáng tạo của chủ quản lý, một yếu tố không thể thiếu được cho một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả trong kinh tế thị trường
-Việc ra đời của các CTCP với việc phát hành các loại chứng khoán và
sự chuyển nhượng, mua bán chứng khoán đến một mức độ nhất định sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán ra đời lại là nơi để cho các nhà kinh doanh có thể tìm kiếm được các nguồn đầu tư SXKD, là nơi dẫn các nguồn tiết kiệm của những người tích luỹ đến các nhà đầu tư, là cơ chế phân bổ các nguồn đầu
tư theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường, là cơ sở quan trọng để nhà nước thông qua đó sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu lựa chọn Thiếu thị trường chứng khoán sẽ không có nền kinh tế thị trường phát triển
- Công ty cổ phần tuy có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển kinh
tế xã hội, nhưng nó cũng có những hạn chế nhất định, chẳng hạn CTCP gồm đông đảo các cổ đông tham gia, nhưng trong đó đa số các chủ nhân không biết nhau và nhiều người trong họ không hiểu kinh doanh, mức độ tham gia góp vốn vào công ty có sự khác nhau, do đó mức độ ảnh hưởng của các cổ đông đối với công ty không giống nhau, điều đó có thể dẫn đến việc lợi dụng
và lạm dụng hoặc nảy sinh tranh chấp và phân hoá lợi ích giữa các nhóm cổ đông khác nhau CTCP tuy có tổ chức chặt chẽ, nhưng việc phân công về quyền lực hoặc chức năng của từng bộ phận trong hoạt động của công ty có hiệu quả lại rất phức tạp
Công ty cổ phần là tổ chức có tính dân chủ cao trong kinh tế phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn, nhưng quyền kiểm soát công ty trên thực tế vẫn ở trong tay các cổ đông lớn
Tóm lại: Nhận thức đúng sự ra đời và vai trò to lớn của CTCP có một ý
nghĩa hết sức quan trọng, vì thế ở nhiều nước Chính phủ đã ban hành các quy
Trang 18định có tính pháp lý nhằm bảo đảm cho các CTCP hoạt động Hình thức CTCP đã được các nhà tư bản lớn và các Chính phủ sử dụng, vừa để thu hút vốn một cách rộng rãi,vừa để làm dịu mâu thuẫn giữa lao động và tư bản Điều cần nhấn mạnh rằng sự ra đời và phát triển hình thức CTCP là biểu hiện mới của sự xã hội hoá quan hệ sản xuất
1.1.2 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần từ doanh nghiệp nhà nước
*Doanh nghiệp và doanh nghiệp nhà nước
- Doanh nghiệp nói chung
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được nhà nước cấp giấy phép thành lập, hoạt động theo luật doanh nghiệp, nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, hoặc phục vụ lợi ích công cộng cho xã hội, an ninh quốc phòng
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đều có nhiệm vụ chung là:
Tổ chức hoạt động kinh doanh tạo ra nhiều của cải vật chất, đáp ứng ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế; được kinh doanh những ngành mặt hàng mà pháp luật không cấm và những mặt hàng kinh daonh có điều kiện
Thực hiện đầy đủ các cam kết với khách hàng về số lượng, chất lượng, giá cả và phương thức mua bán thanh toán các sản phẩm và dịch vụ; giải quyết đúng đắn các quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh với nhau và lợi ích của nhà nước theo nguyên tắc hợp tác, cạnh tranh bình đẳng
và cùng có lợi
Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp; bảo toàn và tăng trưởng vốn; bảo vệ môi trường, môi sinh, bảo vệ sản
Trang 19xuất, bảo đảm an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội; chấp hành đúng pháp luật của nhà nước, thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán kinh doanh
- Doanh nghiệp nhà nước
Ở nước ta, DNNN là bộ phận cấu thành quan trọng của kinh tế nhà nước
Theo luật DNNN được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 20 tháng 4 năm 1995 thì: "DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao"
Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý
Doanh nghiệp nhà nước có quyền tổ chức bộ máy, tổ chức kinh doanh phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ nhà nước giao Có quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai tài nguyên và các nguồn lực khác do nhà nước đầu tư theo quy định của pháp luật, để thực hiện những mục tiêu kinh doanh hoặc hoạt động công ích của Nhà nước DNNN có nghĩa vụ sử dụng một cách có hiệu quả, bảo đảm và phát triển các nguồn vốn của Nhà nước; có nghĩa vụ thực hiện đúng chế độ và quy định quản lý về vốn, tài sản, các quỹ, về kế hoạch, hạch toán, chế độ kiểm toán và các chế độ khác do Nhà nước quy định, chịu trách nhiệm về tính xác thực và hợp pháp của các hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Thực tế sản xuất và tiêu dùng của xã hội, đòi hỏi hệ thống DNNN phải được tổ chức dưới hai hình thức:
+ Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc lấy thu bù chi và có lợi nhuận
Trang 20+ Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, là DNNN hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, trong một
số ngành, lĩnh vực nhất định như quốc phòng, an ninh, môi trường, y tế, văn hoá, giáo dục, thuỷ nông… nhằm phục vụ lợi ích chung cho sự phát triển toàn
xã hội, mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện làm hoặc không muốn đầu tư kinh doanh vì không thu được lãi Sự hoạt động của các doanh nghiệp này không phải theo cơ chế thị trường mà theo đơn đặt hàng của Nhà nước, được sự trợ giúp của Nhà nước
Trong những năm qua DNNN ở nước ta đã được củng cố và phát triển trong những ngành và lĩnh vực then chốt chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, thực hiện liên doanh liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ các thành phần kinh tế khác về vốn, công nghệ và tiêu thụ sản phẩm DNNN đã chiếm
tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu, trong nguồn thu của ngân sách Nhà nước DNNN là lực lượng quan trọng trong việc thực hiện các chính sách xã hội, khắc phục những hậu quả của thiên tai dịch bệnh, bảo đảm những nhu cầu thiết yếu cho xã hội, cho an ninh quốc phòng, góp phần chủ yếu để kinh
tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng thế và lực cho đất nước Tuy nhiên, hệ thống DNNN ở nước ta còn nhiều yếu kém, trong đó có vấn đề hiệu quả SXKD
Do đó, Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (tháng 1 năm 2004) nhấn mạnh: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của khu vực DNNN…kiên quyết đẩy mạnh CPH… Khẩn trương chuyển DNNN sang hoạt động theo chế độ công ty dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là Nhà nước hoặc CTCP"
* Công ty cổ phần ra đời từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Trang 21Công ty hoá, CPH, tư nhân hoá là 3 tên gọi khác nhau của cụng một sự việc: Nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp
- Công ty hoá (Corporatization) là một quá trình chuyển đổi từ DNNN thành doanh nghiệp hoạt động theo các chế định của luật công ty Kết quả của quá trình công ty hoá là biến DNNN thành công ty do Nhà nước sở hữu 100% (công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ là Nhà nước) và nó là biện pháp nâng cao hiệu quả của DNNN mà Nhà nước còn tiếp tục nắm giữ
- Tư nhân hoá (Privatization): theo nghĩa hẹp, tư nhân hoá được quan niệm là quá trình chuyển đổi sở hữu những tài sản thuộc DNNN cho tư nhân Quá trình này có thể thực hiện qua các giải pháp: bán tài sản DNNN, chuyển giao cho không cho công nhân, người lao động hoặc người quản lý trong doanh nghiệp Theo nghĩa rộng (đầy đủ), tư nhân hoá bao gồm quá trình chuyển đổi sở hữu và tổ chức quản lý DNNN theo những định chế của luật công ty hay luật doanh nghiệp, với nhiều biện pháp, chẳng hạn: bán toàn bộ hay một phần DNNN cho tư nhân để thành lập công ty tư nhân Hoặc phát mại các DNNN thua lỗ lớn mà nhà nước không cần nắm giữ quyền sở hữu…
- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Ở nước ta có nhiều quan niệm về cổ phần hóa DNNN, chẳng hạn: có quan niệm rằng cổ phần hóa là tư nhân hóa; cổ phần hóa là sự xác định chủ sở hữu đích thực của DNNN…
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, cổ phần hóa DNNN không phải là tư nhân hóa, mà là xã hội hóa, đa dạng hóa sở hữu Nhà nước, là qua trình chuyển hóa từ DNNN thành công ty cổ phần, tạo ra một mô hình kinh doanh hiện đại, theo đó mà đổi mới tổ chức sản xuất và cách thức quản lý doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả SXKD
Quá trình triển khai chủ trương cổ phần hóa DNNN ở nước ta
Trang 22Ngay từ những năm đầu đổi mới, Đảng ta đã sớm nhận thức thấy sự cần thiết phải cổ phần hóa một bộ phận DNNN Nghị quyết Trung ương lần 2, khóa VII, tháng 11 - 1991 đã ghi "chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty cổ phần quốc doanh mới, phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp"
Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa VIII, ngày 26-12-1991 cũng ghi rõ: "thí điểm cổ phần hóa một số cơ sở quốc doanh để rút kinh nghiệm và
có thêm nguồn vốn phát triển"
Thực hiện Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, ngày 8-6-1992, Chính phủ đã chọn 6 DNNN do Chính phủ chỉ đạo thí điểm và giao nhiệm vụ cho mỗi Bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chọn từ 1 đến 2 doanh nghiệp thí điểm chuyển thành công ty cổ phần
Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 84/TTCP, ngày 4-3-1993 về việc xúc tiến thực hiện thí điểm cổ phần hóa DNNN và các giải pháp đa dạng hóa hình thức sở hữu đối với DNNN Đến tháng 5-1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP - văn bản pháp lý đầu tiên quy định tương đối đồng bộ về các chính sách đối với DNNN cổ phần hóa Nghị định này đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 25/CP, ngày 26-3-1997 và được thay bằng Nghị định số 44/CP ngày 29-6-1998 về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần
Từ khi có chủ trương thí điểm cổ phần hóa (năm 1992) rồi mở rộng năm 1998, đến năm 1999, cả nước đã hoàn thành cổ phần hóa được 370 doanh nghiệp hoặc bộ phận DNNN, trong đó, các doanh nghiệp do địa phương quản lý chiếm 71%, Bộ, ngành: 19% và 10% là doanh nghiệp thuộc các Tổng công ty 91
Trang 23Đến giữa năm 2002, đã có 828 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp được cổ phần hóa Và đến đầu năm 2004 đã có khoảng 1200 DNNN được cổ phần hóa Theo lộ trình đã được phê duyệt (tháng 10-2003) thì đến năm 2005,
số DNNN sẽ được cổ phần hóa là 2043 (chiếm 44% số DNNN) Nghị quyết Trung ương 3, khóa IX ghi rõ: "chuyển DNNN sang hoạt động theo chế độ công ty Đẩy mạnh cổ phần hóa những DNNN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng tạo sự chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN"
Hòa chung với cả nước, tỉnh Nam Định, sau 6 năm thực hiện chủ trương đổi mới DNNN (1997-2003), đã sắp xếp đổi mới 110 doanh nghiệp trong số 135 DNNN của tỉnh, trong đó có 47 DNNN đã CPH và chuyển sang công ty cổ phần
1.2 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (CTCP)
1.2.1 Khái niệm và phân loại hiệu quả SXKD của doanh nghiệp
* Khái niệm kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh
Theo luật doanh nghiệp (năm 1999) “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ việc sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”
Như vậy kinh doanh là một quá trình bao gồm nhiều khâu trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, giữa các khâu này có mối quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau, kết quả hoạt động của mỗi khâu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các khâu còn lại trong quá trình kinh doanh Vì vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là nâng cao hiệu quả của tất cả các hoạt động của quá trình SXKD
Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng năm 1997, trang 510, cho rằng: kinh doanh là việc "tổ chức sản xuất, buôn bán sao cho sinh lợi" Người kinh
Trang 24doanh phải có những hoạt động, những tính toán, chi phí nhằm tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng các nhu cầu của thị trường theo nguyên tắc chi phí
bỏ ra ít, lợi nhuận thu được cao
Kinh doanh cũng được hiểu là một quá trình bao gồm nhiều khâu liên kết chặt chẽ với nhau: Từ nghiên cứu khảo sát nhu cầu thị trường, đến việc lựa chọn mặt hàng, lựa chọn đối tác, lựa chọn công nghệ kỹ thuật, tổ chức sản xuất, bán hàng… Công việc kinh doanh vì thế hết sức khó khăn, phức tạp Muốn kinh doanh có hiệu quả phải có đầy đủ các yếu tố vật chất, tinh thần, bản lĩnh, trí tuệ… và phải tuân theo những nguyên tắc nhất định
Hiệu quả SXKD được coi là yếu tố quyết định nhất đến sự thành bại của bất kỳ doanh nghiệp nào (cả tư nhân lẫn nhà nước) Tuy nhiên để xem xét, đánh giá một doanh nghiệp cụ thể làm ăn có hiệu quả hay không người ta
có thể xuất phát từ những quan điểm khác nhau:
- Có người căn cứ thuần túy vào các chỉ số kinh tế, tức là tình hiệu quả kinh doanh bằng hiệu số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả đó Từ góc độ này mà xem xét thì phạm trù hiệu quả đồng nhất với phạm trù lợi nhuận, hiệu quả sản xuất cao hay thấp tùy thuộc vào giá trị lợi nhuận được nhiều hay ít
- Có người lại đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở chủ yếu
là xem doanh nghiệp đó thỏa mãn như thế nào các yêu cầu của xã hội, và coi việc đáp ứng các nhu cầu của xã hội cao hơn các chỉ tiêu kinh tế Từ góc độ này mà xem xét thì có thể một doanh nghiệp nào đó lợi nhuận ít hoặc không
có lợi nhuận vẫn được coi là hoạt động có hiệu quả
- Hiệu quả SXKD là mức độ tiết kiệm chi phí và mức tăng kết quả, đây
là biểu hiện của bản chất chứ không phải là khái niệm hiệu quả SXKD
Trang 25- Hiệu quả SXKD là mức tăng của kết quả kinh doanh trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn kinh doanh Quan điểm này muốn quy hiệu quả kinh doanh về một chỉ tiêu tổng hợp nào đó
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được nhìn nhận như là một chỉ tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp; Nó không chỉ là thước đo lợi nhuận, thuần túy mang ý nghĩa kinh tế, mà cao hơn nữa nó còn là tiêu chuẩn để đo khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước những thử thách của các yếu tố thị trường, là cơ sở cơ bản
để quyết định doanh nghiệp đó tồn tại hay không tồn tại, phát triển tiếp hay phải chuyển hướng Nếu tiến hành kinh doanh bằng mọi giá để kiếm lời, doanh nghiệp có thể thu lợi nhuận lớn, nhưng xã hội phải chịu thiệt, lợi ích chung của nhân dân bị xâm phạm (như vấn đề quyền con người, vấn đề môi trường…), điều này Nhà nước cho phép
Vậy quan điểm đúng đắn nhất để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là phải căn cứ cả vào lợi nhuận doanh nghiệp thu được, kết quả nộp ngân sách hàng năm, cả vào việc chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật, khả năng tạo việc làm, thu nhập, đảm bảo đời sống cho công nhân lao động, những đóng góp cụ thể vì lợi ích cộng đồng… của doanh nghiệp Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa
IX, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, chỉ rõ:" Việc xem xét đánh giá hiệu quả của DNNN phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội; trong đó lấy suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh; lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích" Có thể coi đây là cơ sở phương pháp luận để luận giải phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 26Hiệu quả SXKD là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh Nó là thước đo ngày trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
Nếu hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả SXKD là hiệu số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó Trên góc độ này mà xem xét thì phạm trù hiệu quả có thể đồng nhất với phạm trù lợi nhuận
Như vậy, hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hóa, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình kinh doanh Nó phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được so với chi phí đã bỏ ra để đạt được kết quả đó trong từng thời kỳ
Yêu cầu của sản xuất kinh doanh là đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là tổng chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội Chi phí cơ hội chính là giá trị của việc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua, hay là giá trị của việc hy sinh công việc kinh doanh khác để thực hiện hoạt động kinh doanh này
Trên thực tế, doanh nghiệp đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh trong những trường hợp sau:
- Kết quả tăng, chi phí giảm hoặc giữ nguyên
- Kết quả tăng, chi phí cũng tăng nhưng tốc độ tăng của chi phí nhỏ hơn tốc độ tăng của hiệu quả Tuy nhiên trong những giai đoạn nhất thời khi doanh nghiệp bắt đầu sản xuất kinh doanh hay đổi mới công nghệ thì phải chấp nhận hiệu quả sản xuất kinh doanh giảm để rồi nâng dần hiệu quả trong
Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh =
Chi phí đầu vào
Trang 27giai đoạn dài về sau Đây chính là bài toán cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của doanh nghiệp
* Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh
Phân loại hiệu quả SXKD là việc làm hết sức cần thiết, nó là cách thức
để các CTCP xem xét đánh giá những kết quả mà mình đạt được và cũng là
cơ sở để thành lập các chính sách, chiến lược, kế hoạch hoạt động cho công
ty
Hiệu quả SXKD bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
- Hiệu quả kinh tế: là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của công ty hoặc của toàn xã hội để đạt được kết quả SXKD lớn nhất hoặc lợi ích xã hội lớn nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất
Hiệu quả kinh tế có thể đo lường, xác định được thông qua các chỉ tiêu
và được thể hiện bằng số liệu cụ thể
Hiệu quả kinh tế bao gồm hiệu quả sử dụng lao động, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, hiệu quả sử dụng tài sản Như vậy hiệu quả kinh tế mang tính chất định lượng và có hệ thống chỉ tiêu để xác định
Hiệu quả kinh tế bao gồm:
+ Hiệu quả cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân
Hiệu quả cá biệt là hiệu quả thu được từ hoạt động kinh doanh của từng công ty, với biểu hiện trực tiếp là lợi nhuận kinh doanh và chất lượng thực hiện những yêu cầu xã hội đặt ra
Hiệu quả kinh tế quốc dân được tính cho toàn bộ nền kinh tế, về cơ bản
nó là thu nhập quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà đất nước thu được trong mỗi thời kỳ so với lượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí
Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hôi chủ nghĩa, không những cần tính toán và đạt được hiệu quả trong SXKD
Trang 28của từng công ty, mà còn cần phải đạt được hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, mức hiệu quả kinh tế quốc dân lại phụ thuộc vào mức hiệu quả cá biệt Nghĩa là phụ thuộc vào sự cố gắng của mỗi người lao động và mỗi doanh nghiệp Đồng thời xã hội thông qua hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước cũng có tác động trực tiếp đến hiệu quả cá biệt, một cơ chế quản lý đúng tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả cá biệt, ngược lại một chính sách lạc hậu, sai lầm lại trở thành lực cản kìm hãm việc nâng cao hiệu quả cá biệt
+ Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí cá biệt
Hiệu quả chi phí tổng hợp thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh Hiệu quả chi phí bộ phận thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với lượng chi phí từng yếu tố cần thiết để thực hiện nhiệm vụ ấy (lao động, thiết bị, nguyên vật liệu )
Việc tính toán chỉ tiêu chi phí tổng hợp cho thấy hiệu quả hoạt động chung của công ty Việc tính toán chỉ tiêu chi phí bộ phận cho thấy sự tác động của những yếu tố hoạt động kinh doanh đến hiệu quả kinh tế chung
Về nguyên tắc, hiệu quả chi phí tổng hợp phụ thuộc vào hiệu quả của chi phí bộ phận
+ Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Trong hoạt động SXKD, việc xác định và phân tích hiệu quả nhằm hai mục đích:
Một là: Phân tích, đánh giá trình độ quản lý và sử dụng các loại chi phí trong kinh doanh
Hai là: Phân tích luận chứng về kinh tế - xã hội, các phương án khác nhau, trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó để đưa ra được phương án kinh doanh có hiệu quả nhất Hiệu quả tuyệt đối được tính toán
Trang 29cho từng phương án bằng cách xác định mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra khi thực hiện mục tiêu
Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối, hoặc so sánh tương quan các đại lượng thể hiện chi phí hoặc kết quả của các phương án khác nhau Cách phân loại này được sử dụng khá phổ biến
và rộng rãi trong việc thực hiện thẩm định các dự án mới đầu tư, với các công
ty đi vào hoạt động thì chỉ tiêu hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối trong hai mốc thời gian khác nhau
Giữa hiệu quả tương đối và hiệu quả tuyệt đối có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, song giữa chúng lại có tính độc lập tương đối Xác định được hiệu quả tuyệt đối sẽ là cơ sở để xác định hiệu quả tương đối Trên những cơ sở những chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của từng phương án, người ta so sánh mức hiệu quả ấy với nhau và mức chênh lệch của những phương án đó là hiệu quả tương đối
Tuy nhiên cũng có chỉ tiêu hiệu quả tương đối được xác định mà không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối, chẳng hạn việc so sánh giữa mức chi phí sản xuất của các phương án khác nhau để chọn ra phương án tốt nhất với chi phí thấp nhất
- Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là một chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt được về mặt xã hội và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Đối với các công ty thì hiệu quả xã hội được đánh giá thông qua việc thực hiện các chủ trương chính sách và các biện pháp xã hội của nhà nước như giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, các chính sách phúc lợi cho người lao động Hiệu quả xã hội thường là định tính và khó xác định cụ thể
Trang 30Hiệu quả xã hội mà SXKD mang lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp vào phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố vị thế của quốc gia trên trường quốc tế
- Giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết và luôn tác động qua lại lẫn nhau Nếu chỉ có hiệu quả kinh tế mà không có hiệu quả xã hội hoặc làm tổn hại đến hiệu quả xã hội thì đó là sự phát triển lệch lạc Hiệu quả xã hội chỉ có thể đạt được trên cơ sở có hiệu quả kinh tế Tuy nhiên muốn có hiệu quả kinh tế nhiều khi phải hy sinh một số lợi ích xã hội Chính vì vậy mà các công ty cần phải quan tâm đến lợi ích về kinh tế lẫn lợi ích về mặt xã hội, kết hợp hài hòa những lợi ích đó và luôn luôn xem xét chúng trong mối quan hệ tương hỗ nhau
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD của công ty
Để đánh giá hiệu quả SXKD của công ty trong cơ chế thị trường, hiện nay chúng ta có rất nhiều chỉ tiêu Hoạt động SXKD của công ty rất đa dạng
và phong phú Vì vậy muốn đánh giá đúng hiệu quả SXKD của công ty thì cần lựa chọn, phân tích chính xác, đúng đắn các chỉ tiêu vì thông qua các chỉ tiêu này ta có thể rút ra được kết luận về các công ty này hoạt động có hiệu quả hay không?
Sản xuất kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ việc sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Để tồn tại và phát triển thì hoạt động SXKD của công ty phải đạt hiệu quả mà hiệu quả cuối cùng của SXKD được phản ánh thông qua chỉ tiêu tổng lợi nhuận và hệ số doanh lợi (tỷ suất lợi nhuận) từ hoạt động SXKD
Thứ nhất, Các chỉ tiêu tổng quát:
Trang 31Chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, được xác định bằng công thức
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra
Chi phí đầu vào Chỉ tiêu này có thể lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng 1
Chỉ tiêu này phản ánh, cứ một đồng chi phí đầu vào trong kỳ phân tích thì thu được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra, chỉ tiêu này càng cao, càng lớn hơn 1 chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của công ty càng lớn và ngược lại càng kém hiệu quả Kết quả đầu ra, có thể được tính bằng chỉ tiêu tổng giá trị sản lượng, doanh thu, lợi nhuận… chi phí đầu vào có thể được tính bằng các chỉ tiêu: giá thành sản xuất, giá vốn hàng bán, giá thành toàn bộ, chỉ tiêu lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, vốn cố định
Trong quá trình hoạt động SXKD của công ty, hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề then chốt gắn liền với sự tồn tại và phát triển của các đơn vị kinh doanh, bởi vậy phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh sẽ đánh giá được chất lượng quản lý SXKD, vạch ra các khả năng tiềm tàng để nâng cao hơn nữa kết quả SXKD và sử dụng tiết kiệm vốn sản xuất
Hiệu quả sử dụng vốn SXKD của công ty là chỉ tiêu phản ánh kết quả tổng hợp nhất quá trình sử dụng các loại vốn, đó chính là sự tối thiểu hoá số vốn cần sử dụng và tối đa hoá kết quả hay khối lượng nhiệm vụ SXKD trong một giới hạn về nguồn nhân tài vật lực, phù hợp với hiệu quả kinh tế nói chung
HV =
G
V Trong đó: HV - Hiệu quả sử dụng vốn SXKD trong kỳ phân tích của doanh nghiệp
Trang 32G - Sản lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ hoặc doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
V - Vốn sản xuất bình quân dùng vào SXKD trong kỳ Nếu HV càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn SXKD của công ty càng cao
Muốn tăng HV phải tăng phải tăng giá trị sản lượng hàng hoá tiêu thụ hoặc doanh thu bán hàng, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm vốn SXKD
Để nâng cao hiệu quả vốn SXKD công ty cần tập trung các biện pháp:
- Giảm tuyệt đối những bộ phận vốn thừa không cần dùng
- Đầu tư hợp lý về TSCĐ
- Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của vốn lưu động
- Xây dựng cơ cấu vốn tối ưu
- Tiết kiệm các khoản chi phí, hạ giá thành sản phẩm
- Nâng cao năng suất lao động
- Nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng giá bán, tăng khối lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ, để tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Thứ hai, nhóm các chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh:
- Doanh thu: Doanh thu từ hoạt động SXKD là toàn bộ tiền bán sản phẩm, hàng hoá, cung ứng, dịch vụ sau khi trừ khoản triết khấu thanh toán, giảm giá bán hàng, hàng bán bị trả lại và được khách hàng chấp nhận thanh toán (không phân biệt đã thu hàng chưa thu được tiền)
Doanh thu thuần là phần còn lại của tổng doanh thu bán hàng thực tế
trong kỳ sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu, bao gồm giảm giá
bán hàng, hàng bán bị trả lại, thuế phát sinh trong khâu bán (gồm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu nếu có, thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp trực tiếp) Cụ thể doanh thu thuần được xác định như sau:
Trang 33Doanh thu thuần = (Tổng doanh thu bán hàng thực tế - Giảm giá bán hàng - Hàng bán bị trả lại - Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp)
Qua việc đánh giá chung tình hình doanh thu của công ty, chúng ta biết được xu hướng phát triển cũng như mức độ thực hiện mục tiêu về tổng doanh thu của công ty Mặt khác, qua tỷ trọng của từng loại doanh thu chiếm trong tổng số ta cũng có thể biết được việc tăng giảm doanh thu của công ty là do đâu và qua đó xác định trọng điểm của công tác quản lý công ty
Theo nguồn hình thành, lợi nhuận của công ty bao gồm các bộ phận cấu thành sau đây:
+ Lợi nhuận thu được từ hoạt động SXKD
+ Lợi nhuận thu được từ các hoạt động tài chính
+ Lợi nhuận thu được từ các hoạt động khác
Lợi nhuận thu được từ hoạt động SXKD là lợi nhuận thu được do tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ từ các hoạt động SXKD của công ty
Lợi nhuận thu được từ hoạt động SXKD thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng mức lợi nhuận của công ty, đây cũng là điều kiện, tiền đề công
ty thực hiện tích lũy cho tái SXKD mở rộng Đồng thời cũng là điều kiện tiền
đề để lập ra các quỹ của công ty như: Quỹ dự phòng mất việc làm, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi là điều kiện tiền đề để không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động
Trang 34Lợi nhuận thu được từ các hoạt động SXKD là chỉ tiêu phản ánh phần giá trị thặng dư hay kết quả kinh tế mà công ty thu được từ các hoạt động SXKD Chỉ tiêu này được gọi dưới dạng tổng quát là lãi kinh doanh và được xác định bằng công thức:
Lãi kinh doanh = Doanh thu kinh doanh - Chi phí kinh doanh
* Trong đó:
Doanh thu kinh doanh = Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ + Doanh thu hoạt động tài chính
Chi phí kinh doanh = Giá vốn hàng bán + Chi phí tài chính
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh thuần khoản thu nhập tăng thêm do hoạt động SXKD của doanh nghiệp mang lại
Lợi nhuận thuần được xác định bằng công thức:
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh = Doanh thu kinh doanh - (Chi phí kinh doanh + Chi phí bán hàng + Chi phí quản lý)
Chỉ tiêu này được dùng để phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch về tổng mức lợi nhuận của công ty
Thực lãi thuần (Lợi nhuận sau thuế) là nguồn thu nhập của công ty, dùng để phân phối cho các lợi ích người lao động, chủ sở hữu, tích lũy vốn để
mở rộng SXKD của công ty, để lập các quỹ như: Quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ dự phòng mất việc làm
Chỉ tiêu lãi kinh doanh là mục tiêu của mọi hoạt động sau SXKD của mỗi công ty, bởi vậy phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch chỉ tiêu lãi kinh doanh là yêu cầu cấp thiết của các công ty
Tổng mức lợi nhuận chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
- Khối lượng sản phẩm hàng hóa tiêu thụ
- Kết cấu về khối lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ
- Giá bán sản phẩm hàng hóa và dịch vụ
Trang 35- Chi phí kinh doanh
- Chi phí bán hàng
- Chi phí quản lý
- Thuế suất
Trên cơ sở xác định sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân
tố đến chỉ tiêu tổng mức lợi nhuận, tìm ra những biện pháp nhằm giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng giá bán, tăng tổng mức lợi nhuận cho công
ty
Thứ ba, nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD:
- Hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty, phản ánh năng lực sản xuất hiện có, trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật của công ty
Tài sản cố định là điều kiện quan trọng và cần thiết để tăng sản lượng, tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Bởi vậy việc phân tích tình hình sử dụng TSCĐ để có biện pháp sử dụng triệt để
về số lượng, thời gian và công suất của máy móc thiết bị sản xuất và TSCĐ khác là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình SXKD của công ty
Tài sản cố định của công ty bao gồm nhiều loại có vai trò và vị trí khác nhau đối với quá trình SXKD Chúng thường xuyên biến động về quy mô, kết cấu và tình trạng kỹ thuật
Hiệu quả sử dụng TSCĐ là mục tiêu của việc trang bị TSCĐ trong công
ty Nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ chính là kết quả của việc cải tiến tổ chức lao động và tổ chức sản xuất, hoàn chỉnh kết cấu TSCĐ, hoàn thiện những khâu yếu hoặc lạc hậu của quy trình công nghệ, đồng thời sử dụng có hiệu quả TSCĐ hiện có là biện pháp tốt nhất sử dụng vốn một cách tiết kiệm
và có hiệu quả Đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ ngoài các chỉ tiêu hệ số
Trang 36tăng giảm TSCĐ, hệ số đổi mới TSCĐ thì chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ có tính tổng hợp hơn
Hiệu suất sử dụng TSCĐ được tính bằng công thức:
Giá trị sản lượng sản phẩm
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Nguyên giá bình quân của TSCĐ
(TSCĐ: Tài sản cố định) Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng nguyên giá bình quân của TSCĐ tham gia vào quá trình SXKD thì tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản lượng sản phẩm Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ việc quản lý và sử dụng TSCĐ càng tốt, qua đó ta thấy:
Giá trị sản lượng sản phẩm = Nguyên giá bình quân của TSCĐ x Hiệu suất sử dụng TSCĐ
Từ công thức trên, chỉ tiêu sản lượng sản phẩm biến động do ảnh hưởng của hai nhân tố, đó là nguyên giá bình quân của TSCĐ và hiệu suất sử dụng TSCĐ Có thể vận dụng phương pháp thay thế liên hoàn để phân tích sự ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu giá trị sản lượng sản phẩm
Trong đó hiệu suất sử dụng TSCĐ là nhân tố phát triển sản xuất theo chiều sâu, luôn có xu hướng tăng lên
Hiệu quả sử dụng TSCĐ được tính toán bằng nhiều chỉ tiêu, nhưng phổ biến là các chỉ tiêu sau:
Tổng doanh thu thuần
Sức sản xuất của TSCĐ =
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá bình quân TSCĐ đem lại mấy đồng doanh thu thuần
Lợi nhuận trước thuế
Sức sinh lợi của TSCĐ =
Trang 37Nguyên giá bình quân TSCĐ
Chỉ tiêu sinh lợi của TSCĐ cho biết một đồng nguyên gốc bình quân của TSCĐ đem lại mấy đồng lợi nhuận trước thuế
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Suất hao phí TSCĐ =
Doanh thu thuần hay lợi nhuận thuần
Qua chỉ tiêu này ta thấy để có một đồng doanh thu thuần hoặc lợi nhuận thuần thì cần có bao nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ
- Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động (TSLĐ)
Hiệu quả chung về sử dụng TSLĐ được phản ánh qua các chỉ tiêu như sức sản xuất, sức sinh lợi của vốn lưu động (TSLĐ)
Tổng doanh thu thuần
Sức sản xuất của vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân
Sức sản xuất của vốn lưu động cho biết một đồng vốn lưu động đem lại mấy đồng doanh thu thuần
Lợi nhuận thuần
Sức sinh lợi của vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động làm ra mấy đồng lợi nhuận thuần trong kỳ
Trong quá trình SXKD vốn lưu động vận động không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn của công ty, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
Tổng số doanh thu thuần
Số vòng quay của vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân
Trang 38Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ Nếu
số vòng quay tăng, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại Chỉ tiêu này còn được gọi là "hệ số luân chuyển"
Thời gian của kỳ phân tích
Thời gian của 1 vòng luân chuyển =
Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng Thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn
Để tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, cần áp dụng đồng bộ các biện pháp nhằm rút bớt số vốn và thời gian vốn lưu lại ở từng khâu, từng giai đoạn trong quá trình kinh doanh Việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động có tác dụng làm giảm nhu cầu về vốn, cho phép làm ra nhiều sản phẩm hơn nữa, cụ thể:
Với một số vốn không tăng, có thể tăng được doanh số hoạt động, từ đó tạo điều kiện tăng thêm lợi nhuận nếu như công ty tăng được tốc độ luân chuyển
Doanh thu thuần = Vốn lưu động bình quân x Hệ số luân chuyển Như vậy trong điều kiện vốn không đổi, nếu tăng được hệ số luân chuyển sẽ tăng được tổng số doanh thu thuần
- Khả năng sinh lợi của vốn
Chỉ tiêu lợi nhuận của công ty là một chỉ tiêu đo lường, đánh giá thành tích của công ty sau một thời gian hoạt động kinh doanh Tuy vậy tổng số tiền lãi tính bằng số tuyệt đối chưa thể đánh giá được đúng đắn chất lượng tổ chức quản lý SXKD của công ty, bởi vì đối với các công ty có quy mô lớn sẽ thu được tổng số tiền lãi lơn hơn các công ty có quy mô SXKD nhỏ, chẳng hạn cả hai công ty cùng SXKD và kinh doanh một loại sản phẩm như nhau, nhưng một công ty có vốn đầu tư là 1 tỷ đồng, tiền lãi mỗi tháng là 100 triệu đồng,
Trang 39còn công ty kia chỉ có vốn đầu tư là 500 triệu đồng, mỗi tháng công ty này thu được tổng số tiền lãi là 80 triệu đồng Như vậy, hiệu quả SXKD của công ty sau lớn hơn công ty trước Bởi vậy cần tính toán và phân tích các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của vốn sản xuất, nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp
Chỉ tiêu mức doanh lợi theo vốn được xác định bằng công thức:
Lợi nhuận sau thuế
Mức doanh lợi theo vốn =
Tổng số vốn SXKD bình quân Chỉ tiêu này phản ánh, cứ một đồng vốn sản xuất bình quân dùng vào SXKD trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng tiền lãi Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn SXKD càng cao
Hệ số doanh lợi Lợi nhuận sau thuế Vốn lưu động
theo vốn lưu động trong vốn sản xuất
Hệ số doanh lợi của vốn SXKD cho biết một đồng doanh thu thuần đem lại mấy đồng lợi nhuận Số lợi nhuận đem lại trên một đồng doanh thu thuần càng lớn thì khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu càng tăng
Để nâng cao mức doanh lợi theo vốn SXKD thì phải nâng cao mức doanh lợi của vốn lưu động
- Hiệu quả sử dụng lao động
Chỉ tiêu năng suất lao động: chỉ tiêu này thể hiện mức năng suất lao động bình quân của doanh nghiệp thể hiện bằng giá trị được tính theo công thức:
Trang 40Doanh thu sản phẩm trong kỳ
Năng suất lao động =
Tổng số lao động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu kết quả SXKD trên một đồng chi phí tiền lương, chỉ tiêu này xác định hiệu quả sử dụng lao động của công ty
Kết quả SXKD Doanh thu sản phẩm trong kỳ =
trên một đồng chi phí lương Tổng quỹ lương thực tế trong kỳ
Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân tính cho một lao động
Lợi nhuận bình quân Lợi nhuận trong kỳ
=
tính cho 1 lao động Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Thứ tư, nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội
- Tăng thu ngân sách:
Nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước là thu từ hoạt động kinh tế của các đơn vị SXKD Các khoản thu ngân sách từ hoạt động kinh doanh của công ty bao gồm các khoản thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu đây là nguồn thu hết sức quan trọng để nhà nước đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội, chi phí cho an ninh quốc phòng và duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước
Công ty có quy mô càng lớn, hoạt động kinh doanh càng có hiệu quả thì càng có điều kiện đóng góp nhiều cho ngân sách nhà nước
Thu ngân sách là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự đóng góp của công ty cho nhà nước
- Tạo thêm việc làm, góp phần làm giảm thất nghiệp cho xã hội Là một nước đang phát triển, từ một nước nông nghiệp bước đầu đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ lệ thất nghiệp còn cao, do đó các công ty ngoài việc SXKD có lãi, tăng ngân sách cho nhà nước, mở rộng sản xuất tạo công ăn