Đoàn đại biểu bao gồm một đại diện của cơ quan lập chính sách Cục Chăn nuôi, một đại diện của Viện nghiên cứu Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam, đại diện của một doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 1Ministry of Agriculture & Rural Development
Dự án CARD 030/06 VIE Phát triển chiến lược tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi ngành
hàng thực phẩm: trường hợp thức ăn chăn nuôi
Báo cáo thăm quan học tập tại Thái Lan
9-13 Tháng 6, 2008
1 tháng 12 năm 2008
Trang 21 Giới thiệu
Chuyến thăm quan học tập đã được tổ chức từ ngày 9-13/6/2008 (Xem kế hoạch làm việc tại Thái Lan ở phụ lục I) Đoàn đại biểu bao gồm một đại diện của cơ quan lập chính sách (Cục Chăn nuôi), một đại diện của Viện nghiên cứu (Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam), đại diện của một doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực chế biến thức ăn gia súc và các thành viên của nhóm nghiên cứu làm việc tại Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp (CAP)/Viện Chính sách Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn và các chuyên gia của trường đại học Tây Úc (UWA) (tham khảo danh sách đoàn trong phụ lục II)
Chuyến thăm quan nghiên cứu có mục đích hiểu được:
• Tình hình sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Thái Lan
• Sự tham gia của các doanh nghiệp SME trong ngành thức ăn chăn nuôi tại Thái Lan
• Vai trò của chính sách công trong ngành thức ăn chăn nuôi tại Thái Lan
Chuyến thăm quan học tập do các thành viên nhóm nghiên cứu của CAP tổ chức, với
sự hỗ trợ của các cố vấn kỹ thuật của UWA Ông Teerasant Sirichayaporn, chủ tịch điều hành của Công ty Thức ăn chăn nuôi Thái Lan (Thai Feed Mills Public Company Limited) và ông Pornsil Patchrintanakul, chủ tịch Hiệp hội các nhà máy thức ăn chăn nuôi Thái Lan đã đón tiếp đoàn Đoàn thăm quan đã gặp gỡ Cục phát triển chăn nuôi Thái Lan (DLD), văn phòng chăn nuôi của FAO tại khu vực, Hiệp hội các nhà máy thức ăn chăn nuôi Thái Lan, gồm cả các nhà máy nhỏ và lớn đồng thời thăm quan một trang trại chăn nuôi bò sữa Thông tin chi tiết về các cuộc thăm quan và liên hệ có trong phụ lục 1
Các kết quả chính của chuyến thăm quan về 3 lĩnh vực quan tâm chính (nói trên) được ghi lại trong các phần 2, 3 và 4 sau đây Một số vấn đề chính sách của Việt Nam mà Văn phòng chăn nuôi khu vực của FAO tại Băng Cốc nêu ra được thảo luận trong phần 5, và các bài học chính được ghi lại trong phần 6
2 Sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Thái Lan
2.1 Sản xuất thức ăn chăn nuôi và sử dụng đầu vào
Tại Thái Lan, các công ty lớn, đặc biệt là CP Group chi phối phần lớn ngành chế biến thức ăn chăn nuôi Hiệp hội các nhà máy thức ăn chăn nuôi Thái Lan cho biết 56 thành viên trong hiệp hội (một số thành viên có hơn một nhà máy) sản xuất 70% trong tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi của cả nước Hầu hết thức ăn chăn nuôi được sản xuất cho tiêu thụ nội địa Cục phát triển chăn nuôi đã đưa ra danh sách tổng cộng 655 nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi – nhưng con số này bao gồm rất nhiều nhà máy nhỏ theo quy mô kiểu “nông dân” Ngoài ra, Công ty Thức ăn chăn nuôi Thái Lan cho biết cũng có nhiều nhà máy nhỏ không đăng ký hoạt động dưới hình thức đơn thuần là trộn các sản phẩm thức ăn với nhau (sử dụng thiết bị nghiền và đóng gói) và không
có sự kiểm soát của Cục chăn nuôi
Số lượng các nhà máy thức ăn chăn nuôi tại Thái Lan tương đối ổn định trong nhiều năm qua, cho thấy một ngành chế biến thức ăn chăn nuôi trưởng thành Điều thú vị là, giá thức ăn chăn nuôi trên thị trường nội địa từ năm 2003 đến nay do chính phủ Thái
Trang 3Lan kiểm soát thông qua Bộ thương mại (cụ thể là Vụ nội thương) Kế hoạch hàng năm về lượng đầu vào nguyên liệu thức ăn nhập khẩu do Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Thái Lan phê duyệt
Thái Lan thường tự chủ động trong nguồn nguyên liệu ngô và sắn để sản xuất thức ăn chăn nuôi, chỉ phải nhập khẩu các sản phẩm giàu protein như bột đậu tương, đậu tương, một phần bột cá và bột xương Các doanh nghiệp SME có thể lợi thế ở gần các nguồn nguyên liệu thô – mua bột gạo, mật đường từ khu vực địa phương (và thậm chí phần thừa từ sản xuất thức ăn cho vật nuôi trong nhà) Ví dụ, Hợp tác xã chăn nuôi bò sữa Mualek tìm tất cả nguyên liệu thô ở trong nước (trừ một số bột đậu tương nhập từ Achentina) – và tìm kiếm các nguồn nguyên liệu chất lượng cao nhưng với giá rẻ nhất – để giữ cho chi phí sản xuất ở mức thấp có thể Dưới đây là danh sách một số nguyên liệu thô của hợp tác xã:
• Cám lúa mỳ – từ Thái Lan
• Nhân cọ – từ miền Nam Thái Lan
• Hạt bông – từ miền Bắc Thái Lan
• Bột đậu tương – trong nước và nhập khẩu
• Sắn – trong nước
• ngô – trong nước – họ ký hợp đồng sản xuất ngô với các trang trại
• bột dừa – từ miền Nam Thái Lan
Thương lái đến tận các cơ sở xay xát để thu mua sản phẩm phụ - tuy nhiên các nhà máy sử dụng các nguyên liệu đầu vào này không thể cung cấp thức ăn cho các cơ sở chăn nuôi lợn được cấp chứng chỉ GMP Các doanh nghiệp SME sử dụng bất kỳ nguyên liệu nào họ tìm được – họ không thể cạnh tranh để có được các nguyên liệu
thô thông thường Các SME phải xem xét “sẽ làm gì với doanh nghiệp nhỏ của
mình?” Họ có thể là “nhà sản xuất thích hợp” sử dụng “nguyên liệu thô có thế mạnh”
Họ cần nhìn vào thị trường và cung cấp một dịch vụ nào đó cho nông dân
2.2 Chuỗi cung
Tình trạng sát nhập theo chiều dọc giữa các công ty lớn là rất cao – từ hợp đồng nông sản các nguyên liệu thô như ngô cho tới sản xuất thức ăn chăn nuôi và chế biến thực phẩm
Số lượng các nhà máy thức ăn chăn nuôi tại Thái Lan tương đối ổn định – không có nhiều công ty mới tham gia vào thị trường, và nhiều công ty cạnh tranh kém đã phải
ra khỏi ngành Chúng tôi đã tới thăm 2 doanh nghiệp SME là công ty chế biến thức ăn chăn nuôi Thái Lan và hợp tác xã chăn nuôi bò sữa Mualek
Đối với công ty chế biến thức ăn chăn nuôi Thái Lan, thị phần của công ty hiện rất thấp, ước tính từ 2-3%, nhưng công ty có kế hoạch trở thành nhà sản xuất thức ăn cho
bò lớn nhất cả nước Thức ăn cho bò là lĩnh vực mà theo FAO cho biết tập đoàn CP chưa chiếm ưu thế, và do đó thường được các nhà máy nhỏ chú trọng tới Công ty chế biến thức ăn chăn nuôi Thái Lan bán ra thị trường cho các đại lý và trực tiếp tới các trang trại quy mô lớn và trung bình với lượng tối thiểu là khoảng 20 tấn/tháng cho một khách mua Công ty cung cấp thức ăn dưới dạng bột không đóng gói cho một số trang trại
Trang 4Hợp tác xã chăn nuôi bò sữa bán sản phẩm cho các xã viên, các hợp tác xã chăn nuôi
bò sữa khác trong ngành, nhiều trang trại lớn do quân đội sở hữu, một trang trại của chính phủ và một trang trại tư nhân Hợp tác xã đang tìm kiếm mở rộng thị trường tới các đại lý ở Chiềng Mai Mỗi tháng, hợp tác xã cung cấp khoảng 900 tấn thức ăn chăn nuôi cho xã viên và 800 tấn còn lại cung cấp cho hệ thống các trang trại
2.3 Kiểm soát chất lượng
Hầu hết 56 thành viên của Hiệp Hội doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi Thái Lan (TFMA) đều có ít nhất tiêu chuẩn GMP (Tiêu chuẩn quản lý tốt sản xuất) được công nhận Doanh nghiệp nhỏ nhất của Hiệp hội có công xuất từ 5000– 6000 tấn/tháng (tương đương với doanh nghiệp có quy mô lớn và trung bình ở Việt Nam) Việc kiểm soát chất lượng thức ăn chăn nuôi được đặt dưới sự kiểm soát của DLD – TFMA không tham gia Thường xuyên có những phản hồi từ thị trường về chất lượng thức ăn cao hay thấp – các doanh nghiệp nhỏ cạnh tranh bằng giá
2.3.1 Đăng ký các sản phẩm thức ăn chăn nuôi và kiểm soát chất lượng
DLD (Phòng tiêu chuẩn và chứng nhận chăn nuôi) chỉ đưa ra cụ thể 4 chỉ tiêu cho mỗi loại thức ăn chăn nuôi: pro-tê-in, độ ẩm, chất béo và hàm lượng chất xơ Đây là những yêu cầu tối thiểu cho việc đăng ký công thức chế biến thức ăn chăn nuôi thương mại –
và tất cả các sản phẩm phải được đăng ký bởi DLD và các chỉ tiêu cụ thể (ghi ngoài nhãn) Phí đăng ký là 1000 Baht/một sản phẩm
DLD có trách nhiệm kiểm tra các sản phẩm này và có một quy trình cụ thể cho việc kiểm tra Các mẫu kiểm tra được lấy ngẫu nhiên từ các nhà máy ít nhất 3 lần/năm Mỗi mẫu này được chia ra thành ba phần: một phần cho phòng thí nghiệm của DLD, một phần cho DLD (trong trường hợp có tranh cãi) và một phần do doanh nghiệp giữ Chi phí của cuộc kiểm tra được chi bởi DLD: hàng năm có khoảng 4000 mẫu với chi phí 2000 Baht/mẫu – tổng ngân sách là 8 triệu Baht/năm Cuộc kiểm tra được tiến hành trong thư viện của DLD Cuộc kiểm tra được tiến hành theo một quy trình cụ thể (Nhóm A và nhóm B – có thể tham khảo tại ghi chép của DLD) và mỗi mẫu đảm bảo các yêu cầu sẽ được cấp đăng ký Có thể có 4 yếu tố dinh dưỡng được kiểm tra (khác với Việt Nam có 15 yêu cầu của việc đăng ký – trong đó DLD Việt Nam không kiểm tra về công suất) Các quy định khác liên quan đến an toàn thực phẩm do các công ty chịu trách nhiệm
DLD không chịu trách nhiệm thực hiện các hình thức xử phạt Nếu như sản phẩm không vượt qua cuộc kiểm tra, công ty và cảnh sát phải thông báo cho các cơ quan chức năng và vấn đề này có thể phải đưa ra Tòa án Một hình phạt tài chính hoặc ngồi
tù có thể được đưa ra – nhưng thường là phạt tài chính Giá trị phạt cao nhất lên đến
50000 Baht
Các doanh nghiệp được yêu cầu giữ bản ghi chép chính thức về quá trình kiểm tra và các bản ghi chép này được thông qua bởi nhân viên DLD Đây là một cách tiếp cận trong việc kiểm soát chất lượng thức ăn có sự kết hợp với việc thực hiện GMP và HACCP
2.3.2 Khuyến khích hệ thống GMP và HACCP
Trang 5DLD đang khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng hệ thống GMP và HACCP – đầu tiên các doanh nghiệp lấy chứng nhận GMP và sau đó có thể tiếp tục với hệ thống HACCP DLD cung cấp các khóa tập huấn – miễn phí đối với các doanh nghiệp – tập huấn 1 tuần được tổ chức 5 lần/năm
Trong năm 2007, 86 doanh nghiệp được công nhận GMP và 44 doanh nghiệp được công nhận HACCP ( trong tổng số 655 doanh nghiệp) Theo TFMA, hầu hết tất cả 56 thành viên ít nhất có chứng chỉ GMP
2.3.3.Sản phẩm xuất khẩu chỉ từ các “nông trường tiêu chuẩn”
Chỉ 35 doanh nghiệp cung cấp thức ăn chăn nuôi cho các “nông trường tiêu chuẩn” nơi có chứng nhận về quy trình sản xuất thịt để xuất khẩu EU đã thông qua tiêu chuẩn về an toàn thông qua việc kiểm tra hệ thống sản xuất bao gồm cả truy nguyên nguồn gốc Bằng cách này, Chính phủ Thái Lan (thông qua DLD) giữ được sự kiểm soát chất lượng chặt chẽ đối với các sản phẩm xuất khẩu An toàn thực phẩm là điều kiện đầu tiên (có thể tham khảo trong ghi chép của DLD với nguyên tắc chung của an toàn thực phẩm là mua nguyên liệu thông qua các nông trường và các lò giết mổ đã được kiểm tra)
2.4 Kiểm soát giá
Giá thức ăn chăn nuôi trong nước được kiểm soát bởi Chính phủ Thái Lan từ năm
2003 thông qua Bộ Thương mại (Vụ nội vụ và thương mại trong nước) Cơ quan này đưa ra mức giá tối đa mà các doanh nghiệp có thể áp dụng (tùy thuộc vào chi phí sản xuất của từng doanh nghiệp …)
FAO coi việc kiểm soát giá thức ăn chăn nuôi của Chính phủ Thái Lan là một điều
“bất thường”, điều này có thể gây ra những tác động bất thường đối với nông dân – những người thường xuyên phản đối lại việc tăng giá thức ăn chăn nuôi Thức ăn chăn nuôi được đưa vào danh sách các yếu tố “nhạy cảm” Chính phủ Thái Lan cần phải cân bằng giữa lợi ích của các doanh nghiệp và lợi ích của nông dân
Theo Hiệp hội các doanh nghiệp sản xuất thức ăn Thái Lan, giá thức ăn không thay đổi nhiều từ năm 2003, tuy nhiên hiện tại họ phải kết hợp với các yêu cầu của Chính phủ về việc tăng giá (do giá nguyên liệu tăng), điều này hiện nay đang được cân nhắc Hiệp hội các doanh nghiệp sản xuất thức ăn Thái Lan cho biết việc tăng giá của mỗi doanh nghiệp được coi là tương xứng với các doanh nghiệp – mặc dù họ đóng vai trò quan trọng trong quy trình ứng dụng
2.5 Vai trò của Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Thái Lan
Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Thái Lan (TFMA) có 56 thành viên Các thành viên phải trả phí thành viên 20,000 Baht/năm, không phụ thuộc vào công suất thiết kế của nhà máy Các thành viên của hiệp hội chiếm 70% tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi của Thái Lan Hiệp hội thức ăn chăn nuôi tự coi mình là một “tổ chức dịch vụ” - hỗ trợ các thành viên về mặt thông tin và đào tạo Các thành viên của hiệp hội “trao đổi thông tin và chia sẻ khó khăn” Hiệp hội cũng cho rằng họ là đầu mối cung cấp thông
Trang 6tin cho Chính phủ: “chúng tôi có tất cả thông tin cần thiết” – và hành động như một nhóm vận động hành lang cho các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi lớn, theo cách nói của Hiệp hội là “đề xuất chính sách”
Hiệp hội bao gồm ba tổ công tác: tổ mua nguyên liệu đầu vào, tổ xúc tiến thương mại
và tổ quản lý chất lượng Hiệp hội chịu ảnh hưởng lớn của các tập đoàn lớn, đặc biệt
là CP - cả Chủ tịch và Thư ký của Hiệp hội đều là nhân viên của CP FAO Châu Á Thái bình dương cũng ám chỉ tới điều này
Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Thái Lan đang điều phối một bản đề xuất xin tăng giá thức
ăn chăn nuôi lên Bộ Thương Mại Thái Lan, mặc dù theo Hiệp hội này, giá sẽ không đồng nhất giữa các công ty (mỗi công ty phải có đề xuất về giá riêng cho công ty mình)
Hiệp hội cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc đề xuất với chính phủ về lượng khô dầu đậu tương có thể nhập khẩu thông qua “quota” (với thuế suất nhập khẩu 4%) Quota chính thức rất nhỏ, và thuế suất nhập khẩu ngoài quota là rất cao (119%) Vì thế, các doanh nghiệp cần thông báo cho Hiệp hội thức ăn chăn nuôi (từ tháng Sáu năm trước) về khối lượng khô dầu đậu tương cần nhập khẩu trong năm tới, và Hiệp hội sẽ tính toán tổng số khô dầu đậu tưong cần đề xuất Sau khi đề xuất được “xem xét”, Hiệp hội sẽ thông báo cho các nhà máy thức ăn chăn nuôi về khối lượng được nhập khẩu
3 Sự tham gia của SMEs trong ngành thức ăn chăn nuôi Thái Lan
SMEs ở Thái Lan tập trung trong ngành thức ăn chăn nuôi cho đại gia súc vì họ không thể cạnh tranh được với CP và Betragro trong các lĩnh vực thức ăn chăn nuôi khác Một số SMEs trong lĩnh vực chăn nuôi (ví dụ trang trại lợn với 2000 đầu nái) sẽ có cơ
sở trộn thức ăn của riêng họ SMEs cần hướng tới phục vụ thị trường địa phương - sản xuất một lượng sản phẩm vừa đủ cho tiêu dùng nội địa Một số thông tin và nhận định sau đây thu được từ chuyến thăm hai SMEs tại Thái Lan
Công ty Thức ăn chăn nuôi Thái Lan (Thai Feed Mill Company) có công suất là 200,000 tấn/năm (18,000 tấn/tháng), sản xuất rất nhiều loại thức ăn chăn nuôi và có
110 lao động Nhà máy có chứng nhận GMP Công ty còn có 2 nhà máy khác và một
cơ sở chế biến thịt gà Theo tiêu chuẩn Việt Nam thì nhà máy này có thể được coi là
diện lớn (hơn là trung bình theo tiêu chuẩn Thái Lan)
Hợp tác xã bò sữa Mualek (Mualek Dairy Cooperative) được thành lập từ năm 1972
và có khoảng 800 thành viên (khoảng 20,000 đầu con gia súc bao gồm 8-9,000 bò sữa) HTX cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau bao gồm: marketing sản phẩm sữa, sản xuất thức ăn chăn nuôi, nhiên liệu, thú y và dịch vụ thụ tinh nhân tạo, xét nghiệm thai sản, tín dụng (theo sản lượng sữa bán ra), cung cấp rơm trong mùa khô HTX được sự
hỗ trợ của Cục chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp (DLD) cũng như các giáo sư tại trường Đại học (ví dụ như các giáo sư chăn nuôi của trường Đại học xây dựng công thức pha trộn cho HTX) Nhà máy thức ăn chăn nuôi của HTX được thành lập từ năm 2002 – dưới sự tài trợ của Ngân Hàng Phát triển Châu Á thông qua Bộ Nông nghiệp Thái Lan
- với chi phí kiến thiết ban đầu là 40 triệu Baht Nhà máy này sản xuất cả thức ăn dạng viên và dạng bột, tỷ lệ khoảng 50-50 Sản phẩm được “bảo đảm” bởi Bộ Nông nghiệp (chất lượng sản phẩm) Công suất của nhà máy là 10 tấn/giờ và tổng sản lượng
Trang 7khoảng 1700 tấn/tháng Công suất này theo tiêu chuẩn Việt Nam có thể coi là cỡ trung bình-nhỏ Sản phẩm được “làm theo đơn đặt hàng” và thường không lưu kho quá 1
tuần
3.1 Các thách thức đối với SMEs
Khi được hỏi về các thách thức đối với nhà máy thức ăn chăn nuôi, giám đốc điều hành của Nhà máy thức ăn chăn nuôi Thái Lan (Thai Feed Mill Company) trả lời:
“duy trì lượng hàng bán ra – chúng tôi buộc phải bán được trên mức hoà vốn” Cách tiếp cận thị trường tích cực này hoàn toàn khác so với cách tiếp cận truyền thống của các doanh nghiệp Việt Nam khi đuợc hỏi về thách thức đối với doanh nghiệp
3.2 Lợi thế của việc có các SMEs hoạt động trong ngành:
Theo công ty Thức ăn chăn nuôi Thái Lan, họ có lợi thế nhờ việc quy mô nhỏ, do vậy
họ có thể mua được nguyên liệu đầu vào với khối lượng nhỏ từ nguồn rẻ tiền hơn ở trong nước Chi phí cho nguyên liệu thô chiếm khoảng 80% tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp Thông thường nhà máy giữ tồn kho nguyên liệu trong khoảng 1 tháng, nhưng hiện tại, theo họ việc này rất khó (do giá nguyên liệu đang lên rất cao) Chiến lược của họ là mua nguyên liệu từ các trung gian trong nước Họ đã đào tạo cho các trung gian – “họ phải cung cấp nguyên liệu theo đúng yêu cầu chất lượng của chúng tôi”
3.3 Vấn đề chất lượng thức ăn chăn nuôi sản xuất bởi SMEs
Công ty thức ăn chăn nuôi Thái Lan cũng rất “nghiêm túc” với vấn đề chất lượng và
có một phòng thí nghiệm tương đối tốt với thiết bị phân tích NIR Nhân viên Cục phát triển chăn nuôi Thái Lan nhận xét rằng “một số thiết bị đã hơi cũ” Công ty tỏ ra có làm việc khá chặt chẽ với Cục phát triển chăn nuôi Thái Lan
3.4 Chiến lược được sử dụng bởi SMEs để cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong ngành
Như đã đề cập, Công ty thức ăn chăn nuôi Thái Lan đã coi “bán hàng và dịch vụ bán hàng” là thế mạnh của công ty Họ dự tính “cải thiện hoạt động chăn nuôi ở trang trại thông qua việc giảm giá thành sản xuất”, cho dù giá sản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty không hề thấp Công ty này cho rằng tỷ lệ quy đổi thức ăn chăn nuôi thành thịt (FCR) của công ty họ cao hơn của các đối thủ cạnh tranh Chiến lược bán hàng của công ty là định hướng vào Miền Bắc và miền Đông Bắc, trong khi các công ty khác chủ yếu tập trung vào miền Nam Công ty quảng cáo sản phẩm trên các báo về chăn nuôi Định hướng vào bán hàng trực tiếp cho các trang trại cũng là một chiến lược được hướng tới
Hợp tác xã chăn nuôi bò sữa Mualek thì hướng tới việc điều hành tốt HTX và cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau cho các thành viên HTX thể hiện sự tự tin về sản phẩm của họ (vì đã được thử nghiệm trên trang trại của các lãnh đạo hợp tác xã) Và họ đang xây dựng chiến lược cho việc mua nguyên liệu đầu vào Tiêu chuẩn vệ sinh của kho chứa hàng trong HTX không cao, và phòng thí nghiệm chỉ có các dụng cụ cơ bản HTX không dự trữ nhiều nguyên liệu đầu vào mà mua vào liên tục
Trang 84 Vai trò của khu vực công trong ngành thức ăn chăn nuôi Thái Lan
4.1 Chính sách hỗ trợ của chính phủ Thái Lan đối với doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi
Có một số chính sách hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, nhưng không hoàn toàn là dành riêng cho các doanh nghiệp nhỏ Cục phát triển chăn nuôi Thái Lan hỗ trợ về mặt đào tạo và tư vấn để hướng tới áp dụng tiêu chuẩn GMP và HACCP Các khoá đào tạo này được cung cấp miễn phí Cục phát triển chăn nuôi Thái Lan làm nhiệm vụ thanh tra các nhà máy thức ăn chăn nuôi để cung cấp chứng nhận GMP Tất cả các thí nghiệm kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi đều được thực hiện tại các phòng thí nghiệm của Cục phát triển chăn nuôi – hoàn toàn miễn phí đối với các nhà máy
Tín dụng được hỗ trợ thông qua một số kênh Ngân hàng nông nghiệp và công nghiệp (The Bank for Agriculture and Industry) có thể cung cấp tín dụng cho SMEs (với mức lãi suất ưu đãi thấp hơn 2% so với tỷ lệ thông thường) và “ngày hội lãi suất” Ngân hàng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ cung cấp tín dụng cho các SME có “kế hoạch kinh doanh” phù hợp với tiêu chuẩn “một địa phương một sản phẩm” (HTX chăn nuôi
bò sữa Mualek có khẩu hiệu này tại nhà máy thức ăn chăn nuôi) Chính phủ không cung cấp kho dự trữ nguyên liệu nào Nhân viên của Cục phát triển chăn nuôi Thái Lan nghĩ rằng “khu vực tư nhân chắc hẳn phải làm tốt hơn”
Chính phủ Thái Lan quản lý giá cả thức ăn chăn nuôi Chính phủ không áp dụng thuế
“vượt quota” (119%) cho khô dầu đậu tương trong nhiều năm qua, cho dù việc vượt quota vẫn diễn ra thường xuyên Việc xin miễn thuế nhập khẩu được Hiệp hội thức ăn chăn nuôi thực hiện hàng năm Thuế VAT cho nguyên liệu đầu vào không được áp dụng ở mức 0% - vì đây được coi là một “ngành kinh doanh đặc biệt” (kinh doanh nông nghiệp)
Hiệp hội thức ăn chăn nuôi của Thái Lan cũng nhận được sự hỗ trợ từ phía Bộ Thương Mại Thái Lan – ví dụ: có thể thuê một tư vấn để hỗ trợ các SMEs nâng cấp nhà máy (hỗ trợ kỹ thuật), và kiểm tra “kích cỡ” của sản phẩm thức ăn
Thêm vào đó, chính phủ Thái Lan đền bù 75% tổng giá trị thị trường cho sản phẩm chăn nuôi phải tiêu huỷ do dịch bệnh
5 Các vấn đề về chính sách cho Việt Nam được văn phòng FAO Châu Á Thái Bình Dương đưa ra
Văn phòng FAO cho rằng các SMEs hiện tại ở Việt Nam đang rơi vào tình trạng hết sức khó khăn, với việc mất giá của tiền đồng, lãi suất tín dụng cao và tỷ lệ lạm phát cao Thuế và lãi suất ưu đãi cần được cung cấp để cứu các doanh nghiệp này Đầu tư nội địa sẽ trở nên khó khăn hơn vì tín dụng sẽ bị thắt chặt để kiểm soát lạm phát Tập đoàn CP dự kiến tiếp tục mở rộng sản xuất tại Việt Nam Đầu tư nước ngoài sẽ thuận lợi hơn do sự giảm giá của tiền đồng CP hiện có 4 nhà máy ở Việt nam và hiện
có kế hoạch đầu tư thêm 30 triệu đô la Mỹ cho việc nâng cấp tổng công suất lên 600,000 tấn/năm - kể từ năm 2009
Trang 9Văn phòng FAO Châu Á Thái Bình Dương cho rằng có cơ hội cho ngành chăn nuôi Việt Nam Đàn vịt của Việt Nam rất lớn, nhưng dịch cúm gia cầm đang là một mối đe doạ Tuy nhiên, đầu tư cho nuôi vịt rất thuận lợi vì yêu cầu vốn đầu tư thấp Việt Nam hiện đang phải mua trâu bò từ Lào và Campuchia, lý do là gì? Các SMEs Việt Nam cần tìm cách thay thế nhập khẩu
Với việc tăng giá năng lượng hoá thạch, có khả năng việc dùng sức kéo động vật sẽ được sử dụng lại Do vậy, có cơ hội mới cho chăn nuôi trâu bò và thức ăn chăn nuôi cho trâu bò
Cần có chính sách cụ thể cho vấn đề năng lượng sinh học Chính phủ Thái Lan đang lập quy hoạch cụ thể cho khu vực trồng cây lương thực và cây nguyên liệu cho chế biến năng lượng sinh học Chính phủ Việt Nam cũng cần có được quy hoạch này
6 Bài học kinh nghiệm và khả năng áp dụng cho Việt Nam
6.1 Bài học kinh nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách
Cục phát triển chăn nuôi Thái Lan có chính sách riêng cho việc kiểm soát chất lượng thức ăn chăn nuôi cung cấp cho các trang trại chăn nuôi phục vụ xuất khẩu Các công
ty sản xuất thức ăn chăn nuôi để cung cấp cho các trang trại chăn nuôi thịt xuất khẩu
sẽ bị kiểm soát chất lượng rất chặt chẽ Tuy nhiên, cho cả các công ty phục vụ chăn nuôi xuất khẩu hay phục vụ chăn nuôi để cung ứng cho thị trường trong nước thì Cục phát triển chăn nuôi Thái Lan đều chịu trách nhiệm thực hiện các thí nghiệm kiểm tra chất lượng của thức ăn chăn nuôi trong hệ thống phòng thí nghiệm của Cục phát triển chăn nuôi, và tất cả các thí nghiệm này đều miễn phí Yêu cầu các doanh nghiệp phải giữ các ghi chép về kết quả kiểm tra chất lượng là một phương pháp quan trọng để quản lý chất lượng cũng như để giúp doanh nghiệp làm quen với các yêu cầu của GMP và HACCP Các khoá đào tạo miễn phí về GMP và HACCP có thể hữu ích trong việc khuyến khích các nhà máy thức ăn chăn nuôi áp dụng chứng chỉ GMP và HACCP Hiện tại, chính sách tương tự không được áp dụng ở Việt Nam do thiếu nguồn lực về tài chính và con người Hiện tại, cục chăn nuôi Việt Nam không tự thực hiện các cuộc kiểm tra chất lượng mà chỉ khuyến khích các đơn vị khác cung ứng dịch
vụ này
Chính phủ Thái Lan coi các nhà máy thức ăn chăn nuôi thuộc lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp, do vậy được hưởng mức thuế VAT là 0% Chính phủ Trung Quốc cũng
có chính sách tương tự Đây hẳn là một chính sách đúng đắn khuyến khích sản xuất và
hạ giá thành của sản phẩm thức ăn chăn nuôi
Thêm vào đó, chính phủ Thái Lan kiểm soát giá thức ăn chăn nuôi, đây cũng là một chính sách hay mà Việt Nam có thể tham khảo
6.2 Bài học cho các DNVVN
Thái độ đối với các thách thức và các cú sốc từ môi trường kinh doanh: Phương pháp
tiếp cận marketing của các SMEs Thái Lan dường như tích cực hơn Việt Nam Thay
vì chờ đợi sự hỗ trợ của chính phủ hay nơi nào khác, các doanh nghiệp Thái Lan tập trung vào việc làm thế nào để có thể bán trên mức hoà vốn
Trang 10Nguyên liệu pha trộn thức ăn: Cố gắng để mua nguyên liệu địa phương càng nhiều
càng tốt, tìm kiếm nguồn nguyên liệu với giá rẻ nhất và chất lượng tốt nhất có thể Đây cũng là một vấn đề đáng lưu tâm cho các doanh nghiệp Việt nam vì Việt Nam có khả năng tự sản xuất các nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi
Tìm kiếm thị trường ngách: SMEs luôn có khả năng tìm kiếm “thị trường ngách”, làm
một nhà sản xuất “hàng độc”, sử dụng các “nguyên liệu đầu vào đặc biệt”: nói theo cách khác, luôn có thị trường cho thức ăn chăn nuôi chất lượng cao và chất lượng thấp SMEs có thể cạnh tranh bằng giá và dịch vụ sau bán hàng cho người chăn nuôi
Mô hình hợp tác xã: Mô hình Hợp tác xã Mualek là một ví dụ tốt cho ngành thức ăn
chăn nuôi Việt Nam học tập Hợp tác xã đa dịch vụ có thể là một mô hình tốt có khả năng hoạt động tại Việt Nam
6.3 Vai trò tiềm năng của Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam
Các kinh nghiệm từ Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Thái Lan có thể là bài học để Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt nam học tập để có thể có một vai trò chính trị mạnh mẽ hơn Tuy nhiên, cần có sự thay đổi trong cấu trúc của Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam
để hiệp hội này có thể được hỗ trợ cả về mặt tài chính và tổ chức Chính phủ Việt Nam có chính sách khuyến khích sự tham gia tích cực của khu vực tư nhân, một vai trò tích cực hơn của Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam do vậy có thể được mong đợi trong tương lai