Lê Quang Vình Tên đề tài luận văn: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất giải pháp cấp nước phòng chống lũ lụt và giảm nhẹ thiên tai trên lưu vực sông Thạch Hãn – Ô Lâu Tác giả
Trang 1LÊ THỊ THÚY LIỄU
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC, PHÒNG CHỐNG LŨ LỤT
VÀ GIẢM NHẸ THIÊN TAI TRÊN LƯU VỰC SÔNG
THẠCH HÃN – Ô LÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
LÊ THỊ THÚY LIỄU
XUẤT GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC, PHÒNG CHỐNG LŨ LỤT
VÀ GIẢM NHẸ THIÊN TAI TRÊN LƯU VỰC SÔNG
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LÊ THỊ THÚY LIỄU LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI – 2015
Trang 5Quản lý Tài nguyên nước với đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất giải pháp cấp nước, phòng chống lũ lụt và giảm nhẹ thiên tai trên lưu vực sông Thạch Hãn – Ô Lâu” đã được hoàn thành
Đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học TS Bùi Nam Sách – Viện Quy hoạch Thủy lợi và PGS.TS Lê Quang Vinh – Trường Đại học Thủy lợi đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp những tài liệu, những thông tin cần thiết cho tác giả hoàn thành Luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Thủy lợi, các thầy giáo, cô giáo Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước, các thầy giáo, cô giáo các bộ môn đã truyền đạt những kiến thức chuyên môn trong quá trình học tập
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Viện Quy hoạch Thủy lợi và các đồng nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ, cung cấp các tài liệu cần thiết và đóng góp ý kiến để tác giả hoàn thành luận văn
Tuy nhiên do khối lượng đề tài tính toán lớn nên còn một số tồn tại và thiếu xót Tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo và giúp đỡ của các thầy, cô giáo cũng như những ý kiến đóng góp của bạn bè và của đồng nghiệp
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn tấm lòng của những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn
Hà nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Lê Thị Thúy Liễu
Trang 6Học viên cao học: Lớp CH21Q11
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Nam Sách
PGS.TS Lê Quang Vình
Tên đề tài luận văn: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất giải
pháp cấp nước phòng chống lũ lụt và giảm nhẹ thiên tai trên lưu vực sông Thạch Hãn – Ô Lâu
Tác giả xin cam đoan đề tài luận văn được làm dựa trên các số liệu, tư liệu được thu thập từ nguồn thực tế, được công bố trên báo cáo của các cơ quan Nhà nước, được đăng tài trên các tạo chí chuyên ngành, sách, báo… để làm cơ sở nghiên cứu Tác giả không sao chép bất kỳ một luận văn hoặc một đề tài nghiên cứu nào trước đó
Hà nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Lê Thị Thúy Liễu
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lưu vực sông Thạch Hãn – Ô Lâu nằm trên địa bàn 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế bao gồm 2 lưu vực sông chính là sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu nối với nhau bằng sông Vĩnh Định Tổng diện tích tự nhiên toàn vùng là 372.485 ha với dân số tính đến năm 2013 là 525.280 người Vùng có tiềm năng phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản và là vùng trọng điểm kinh tế của tỉnh Quảng Trị nhưng lại có vị trí chịu ảnh hưởng rất mạnh của các yếu tố tiêu cực do thiên tai gây
ra như: hạn hán, lũ lụt, cát bay, cát nhảy, xâm nhập mặn của nước biển
Trong nhiều năm qua, Nhà nước đã đầu tư xây dựng nhằm phát triển thủy lợi phục vụ phát triển sản xuất trong vùng, đến nay đã xây dựng được 234 công trình với năng lực thiết kế là 31.808,4 ha, thực tế tưới được 18.243,2 ha mới đạt khoảng 56% diện tích cần tưới, số diện tích còn lại phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên Vì thế, vào mùa khô tình trạng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt vẫn xảy ra thường xuyên và rất nghiêm trọng kéo theo các hiện tượng thiên tai khác như nhiễm mặn nguồn nước, cát bay, cát nhảy làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân Vào mùa mưa, việc tiêu thoát cho vùng đồng bằng các huyện Hải Lăng, Triệu Phong và Phong Điền vẫn chưa được giải quyết nên tình trạng ngập úng còn xảy ra
Như vậy đề tài “Nghiên cứu ứng dụng cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất giải pháp cấp nước, phòng chống lũ lụt và giảm nhẹ thiên tai trên lưu vực sông Thạch Hãn – Ô Lâu” là rất cần thiết và có ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu và phân tích cơ sở khoa học các giải pháp kỹ thuật được đề xuất
có thể ứng dụng trong thực tế để giải quyết chủ động vấn đề cấp thoát nước cho nông nghiệp, sinh hoạt và các ngành kinh tế khác, hạn chế tác hại của lũ lụt, cát bay, cát nhảy góp phần giảm nhẹ thiên tai cho lưu vực sông Thạch Hãn – Ô Lâu
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ứng dụng
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống công trình thủy lợi cấp thoát nước cho nông nghiệp, sinh hoạt và các ngành kinh tế khác; công trình hạn chế tác hại của lũ lụt, cát bay, cát nhảy góp phần giảm nhẹ thiên tai cho lưu vực sông Thạch Hãn – ô Lâu
Phạm vi nghiên cứu bao gồm 9 huyện, thị của tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế đó là: TP Đông Hà, TX Quảng Trị, Hải Lăng, Triệu Phong, 6 xã Hướng Hóa, Cam Lộ, 10 xã huyện Gio Linh và 9 xã huyện Phong Điền
4 Nội dung nghiên cứu
quan đến đề tài đã được nghiên cứu
kinh tế xã hội, hiện trạng thủy lợi, những khó khăn của yếu tố tự nhiên
Lâu và cơ sở khoa học của các giải pháp đề xuất bao gồm tính toán yêu cầu cấp nước cho các đối tượng sử dụng nước, tính toán cân bằng nước, cơ sở khoa học của các giải pháp đề xuất, giải pháp cấp nước cụ thể cho từng vùng
thiên tai cho lưu vực sông Thạch Hãn – Ô Lâu và cơ sở khoa học của các giải pháp
đề xuất bao gồm tính toán tiêu nước vùng nghiên cứu, cơ sở khoa học của các giải pháp, giải pháp tiêu nước cụ thể cho từng vùng, giải pháp hạn chế cát bay, cát nhảy, phòng chống lũ lụt và giảm nhẹ thiên tai vùng nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp điều tra
nghiên cứu, bao gồm:
nghiên cứu đề tài
Trang 10- Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội và định hướng phát triển kinh tế
- xã hội của các địa phương nằm trong lưu vực nghiên cứu
các công trình phòng chống, giảm nhẹ thiên tai đã có trên lưu vực nghiên cứu
- Hiện trạng sử dụng đất và xu hướng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trên lưu vực
b Phương pháp phân tích thống kê
- Phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến đề tài
đã điều tra thu thập được để rút ra vấn đề chung có thể áp dụng cho đề tài
- Tổng hợp, phân tích các số liệu và các tài liệu đã điều tra, thu thập được
chảy năm thiết kế, mô hình mưa tưới, mưa tiêu ứng với tần suất thiết kế cũng như một số chỉ tiêu tính toán khác
- Nghiên cứu, tính toán, tìm nguyên nhân của các mâu thuẫn đang tồn tại để từ
đó đề xuất giải pháp cấp nước, phòng chống lũ lụt và giảm nhẹ thiên tai trên lưu vực sông Thạch Hãn – Ô Lâu
c Phương pháp chuyên gia
Phỏng vấn hoặc xin ý kiến của một số nhà khoa học ở Trung ương và địa phương về những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn trong đó
có giải pháp cấp nước, phòng chống lũ lụt và giảm nhẹ thiên tai trên lưu vực sông Thạch Hãn – Ô Lâu
d Phương pháp tính toán bằng phần mềm
Luận văn sẽ nghiên cứu ứng dụng một số phần mềm phù hợp với khả năng của tài liệu sẽ thu thập được để tính toán yêu cầu cấp nước, tiêu thoát nước và tính toán cân bằng nước cho lưu vực sông Thạch Hãn – Ô Lâu
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hìn h nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1 Tổng quan
Trên thế giới và tại Việt Nam những năm gần đây, tình hình khí hậu có nhiều diễn biến phức tạp cùng với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức làm cho
biển và lũ lụt gây ra nhiều khó khăn đến tình hình sản xuất nông nghiệp và đời sống
tổng quan kết quả nghiên cứu tổng kết từ các công trình khoa học liên quan đến đề tài đã được nghiên cứu ứng dụng
1.1.2 Đề tài nghiên cứu khoa học
Đề tài “ Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ, xây dựng
Bắc và Bắc Trung Bộ” thuộc Chương trình Khoa học công nghệ cấp Bộ:“ Nâng cấp,
từng bước hiện đại hóa, đa dạng hóa mục tiêu khai thác sử dụng các công trình thủy lợi” Giai đoạn 2001 – 2005 do PGS TS Vũ Văn Thặng – Viện Khoa học Thủy lợi chủ nhiệm
Ưu điểm: Kết quả nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp KHCN ứng dụng
vật liệu, kết cấu phù hợp cho các loại hình công trình trữ, dâng nước vùng có nguồn thường xuyên và không có nguồn thường xuyên
Nhược điểm: Mặc dù địa bàn nghiên cứu của hai đề tài NCKH nói trên bao
gồm cả lưu vực sông Thạch Hãn – Ô Lâu nhưng do nội dung và kết quả nghiên cứu phần lớn dựa trên cơ sở các số liệu điều tra khảo sát thực tế trước thời điểm nghiên cứu, kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu ở tầm vĩ mô và mang tính chất gợi ý Các đề tài này chưa đề xuất được các giải pháp cụ thể có thể
áp dụng phù hợp với đặc thù riêng của lưu vực nghiên cứu trong luận văn cũng như chưa nêu được cơ sở khoa học của các giải pháp đề xuất
Trang 121.1.3 Dự án điều tra và Quy hoạch thủy lợi
1 Dự án điều tra cơ bản: “Điều tra hiện trạng môi trường sinh thái các vùng đất cát và đầm phá ven biển miền Trung nhằm chống sa mạc hóa, bảo vệ môi trường sinh thái” do Trung tâm Khoa học và Triển khai kỹ thuật thủy lợi thuộc
trường ĐHTL thực hiện từ năm 1997 đến 2000 Địa điểm điều tra bao gồm các tỉnh ven biển Trung bộ từ Quảng Bình đến Bình Thuận
Ưu điểm: Căn cứ vào kết quả điều tra, dự án đã đề xuất một số giải pháp cơ
bản nhằm sa mạc hóa, tạo nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng ven biển miền Trung
Nhược điểm: Dự án này mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá hiện trạng môi
trường sinh thái cho toàn bộ vùng ven biển miền Trung trong đó có khu vực hạ lưu sông Thạch Hãn – Ô Lâu ở thời điểm cách đây trên 15 năm Các giải pháp đề xuất cũng chỉ mang tính gợi ý, chưa phân tích cơ sở khoa học cũng như khả năng ứng dụng của giải pháp đề xuất
2 Dự án: “Rà soát quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Thạch Hãn – Ô Lâu” do
Viện Quy hoạch Thủy lợi thực hiện năm 2008 theo Quyết định số
Ưu điểm: Dự án dựa trên định hướng phát triển kinh tế xã hội của vùng, khả
năng đáp ứng và phòng chống thiên tai của các công trình thủy lợi đề xuất giải pháp cấp, thoát nước cho nông nghiệp, sinh hoạt, giải pháp phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai do các hình thức thiên tai khác gây ra
Nhược điểm: Tuy nhiên với tình hình thực tế hiện nay quy hoạch đã không
còn phù hợp, cần thiết phải nghiên cứu các dự án mới Kết quả nghiên cứu của dự
án mới chỉ đề xuất được một số giải pháp công trình, kinh phí đầu tư và tiến độ thực hiện quy hoạch theo mục tiêu quy hoạch được cấp có thẩm quyền duyệt, chưa có nghiên cứu cơ sở khoa học của các giải pháp đã đề xuất
1.1.4 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
Đề tài luận văn thạc sĩ kỹ thuật “ Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật để duy trì và phát triển trong sử dụng nguồn nước lưu vực sông Trí tỉnh Hà Tĩnh” do
Trang 13học viên Lê Thị Mai thực hiện năm 2005; đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn của các biện pháp cấp thoát nước, phòng chống lũ lụt và giảm nhẹ thiên tai áp dụng cho lưu vực sông Bến Hải tỉnh Quảng Trị” do học viên Trương Thị Quỳnh Chi thực hiên năm 2005 và đề tài “ Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn của các giải pháp cấp thoát nước, phòng chống lũ lụt và giảm nhẹ thiên tai áp dụng cho lưu vực sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế” do học viên Đặng Tiến Diện, thực
hiện năm 2011
Ưu điểm: Các đề tài luận văn thạc sĩ nói trên đã đề xuất được một số giải
pháp thủy lợi áp dụng cho các lưu vực sông Trí tỉnh Hà Tĩnh, lưu vực sông Bến Hải tỉnh Quảng Trị và lưu vực sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế Kết quả nghiên cứu của các luận văn nói trên cũng đã nêu và phân tích được cơ sở khoa học của các giải pháp đã đề xuất nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra
Nhược điểm: Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các đề tài nói trên mới chỉ
giải quyết cho một lưu vực cụ thể (không thuộc lưu vực nghiên cứu của luận văn này), các giải pháp đã đề xuất phần lớn dựa trên cơ sở các số liệu điều tra khảo sát thực tế trước thời điểm nghiên cứu, phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng lưu vực sông cụ thể tại thời điểm nghiên cứu Mỗi lưu vực sông có các điều kiện tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội khác nhau Kết quả nghiên cứu của các luận văn nói trên chỉ mang tính chất tham khảo và định hướng nghiên cứu cho luận văn này
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU
2 1 Điều kiện tự nhiên
2 1.1 Vị trí địa lý
Lưu vực sông Thạch Hãn-Ô Lâu nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, với toạ độ: 16o18’ đến 17o10’ Vĩ độ Bắc và 106o32’ đến 107o24’ Kinh
độ Ðông
Phía Bắc giáp lưu vực sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị
Phía Nam giáp huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Phía Ðông giáp biển Ðông
Vùng nghiên cứu nằm trong địa giới hành chính của 9 huyện, thị của tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế: thị xã Đông Hà, thị xã Quảng Trị, Hải Lăng, Triệu Phong, 6 xã Hướng Hoá, Đakrông, Cam Lộ, 10 xã huyện Gio Linh và 9 xã huyện Phong Điền Tổng diện tích tự nhiên toàn lưu vực là 372.485 ha
2 1.2 Đặc điểm địa hình
Vùng nghiên cứu có địa hình rất phức tạp: Núi cao, trung du và đồng bằng
Sơn đến miền đồi bát úp, loại địa hình này có diện tích chiếm tới 45-50% diện tích
tự nhiên toàn vùng Độ cao trung bình từ 250m-1.000m, địa hình dốc, hiểm trở, phân cắt mạnh, quá trình xâm thực và rửa trôi mạnh Ðịa hình ở đây thích hợp cho
khu nhỏ dạng bình nguyên như vùng Cùa (Cam Lộ) Ðộ dốc vùng núi bình quân từ
15o÷18o Cao độ cao nhất của dạng địa hình vùng đồi là +150 m Cao độ bình quân +70m
hệ thống sông, chạy dọc theo Quốc Lộ 1A Địa hình tương đối bằng phẳng, có cáo
độ từ -0,5m đến +3,0m Diện tích vùng đồng bằng chiếm khoảng 11% tổng diện
Trang 15tích tự nhiên toàn vùng nghiên cứu Đây là vùng đất nông nghiệp sản xuất trọng điểm của vùng
- Vùng cát ven biển: Dải cát này chạy dọc từ cửa Việt đến cửa Lác theo dạng cồn cát Cao độ bình quân của các cồn cát từ +4÷+6 m Dạng cồn cát này có nguy
cơ di chuyển chiếm chỗ của đồng bằng Diện tích vùng cồn cát này khoảng 20.000
ha
2 1.3 Đặc điểm địa chất
Ðịa tầng: phát triển không liên tục các trầm tích từ Paleozoi hạ tới Kainozoi trong đó trầm tích Paleozoi chiếm chủ yếu, gồm 9 phân vị địa tầng, còn lại 6 phân
vị thuộc Meôzoi và Kainozoi
Cấu tạo địa chất của vùng được chia thành 3 vùng rõ rệt là vùng đồi núi, vùng đồng bằng và vùng cát ven biển
Vùng đồi núi: chủ yếu là nền sa thạch và sa diệp thạch có tầng phong hoá vừa (10 ÷20)m, nhiều đồi tầng phong hoá (3÷5)m
Vùng đồng bằng: địa chất của vùng đồng bằng chủ yếu là nền mềm, các lớp đất thường gặp là đất thịt các loại, đất sét và cát pha, xen kẽ có các lớp cát mịn, cát chảy hoặc bùn
Vùng cát ven biển và nội đồng: cấu tạo địa chất vùng này chủ yếu là lớp cát trên mặt dày khoảng (5÷10) m Thành phần cơ giới của cát chủ yếu là hạt mịn và vừa, dưới tác dụng của gió và nước lũ có thể bị di động trong không trung và di chuyển xuống vùng thấp gây lấp các vùng đồng ruộng, ở cửa suối hoặc vùng đồi
Ngoài ra vùng nghiên cứu còn một số mỏ khoáng sản nằm phân bố rải rác và trữ lượng không nhiều
2 1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng
dài từ Gio Linh đến Hải Lăng Vỏ phong hoá chủ yếu phát triển trên trầm tích biển
và phù sa sông
+ Tiểu vùng cồn cát, bãi cát: phân bố dọc bờ biển Địa hình đụn cát có dạng lượn sóng, độ dốc nghiêng ra biển Các đụn cát có độ cao từ 1m đến vài chục mét
Trang 16+ Tiểu vùng đất nhiễm mặn: được tạo thành dưới tác động của thuỷ triều phân
bố ở địa hình thấp, bậc thềm phù sa ven sông mực nước ngầm nông
sông thuộc địa phận huyện Gio Linh, Cam Lộ trên vỏ phong hoá Mazma Trong vùng gò đồi, nhiều nơi là đất trống, đồi trọc Ðất đai ở những nơi không có cây bị rửa trôi khá mạnh
+ Tiểu vùng đất đỏ Bazan: thuộc khu vực Tân Lâm, Cùa Diện tích khoảng 10.200 ha Ðất có tầng dày trên 1,2 m có tới 6.300 ha Ðây là một trong hai khối Bazan lớn nhất của tỉnh Quảng Trị và có nhiều tiềm năng phát triển cây công nghiệp dài ngày như hồ tiêu, cà phê, cao su
+ Tiểu vùng đồi thấp sa phiến thạch giáp đồng bằng: được hình thành trên đá
mẹ sa phiến thạch, tầng mỏng bị bào mòn mạnh, thực vật nghèo nàn Vùng đất này phù hợp với trồng cây lâm nghiệp để tái tạo môi sinh môi trường
địa hình dạng lượn sóng, chia cắt yếu, đất đai phù hợp cho phát triển trồng cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu và cao su
2 1.5 Đặc điểm mạng lưới sông ngòi vùng nghiên cứu
Vùng nghiên cứu gồm có 2 lưu vực sông chính là Thạch Hãn và Ô Lâu, hai lưu vực này nối với nhau bởi sông Vĩnh Định và đổ ra biển tại Cửa Việt và đổ ra
phá Tam Giang tại Cửa Lác
156km Sông chảy quanh co uốn khúc, hướng chảy của sông thay đổi có đoạn
quanh dẫy núi Da Ban khi về tới Ba Lòng sông chuyển hướng Ðông Bắc và đổ ra biển tại cửa Việt Toàn bộ diện tích lưu vực 2.660km2 Sông Thạch Hãn có các nhánh chính Rào Quán, Vĩnh Phước, Sông Hiếu (Cam Lộ)
sông Thạch Hãn
Trang 17+ Sông Vĩnh Phước: diện tích lưu vực 293 km2, đổ vào sông Thạch hãn ở hạ lưu đập Thạch Hãn tại Triệu Giang
vùng hạ du sông tại Triệu Độ
độ cao 900m, sông chảy theo chiều Bắc - Nam, đến Hoà Mỹ sông bắt đầu chảy
cầu Mỹ Chánh và đổ vào phía Tam Giang tại cửa Lác Diện tích lưu vực sông Ô Lâu tính đến cửa Lác là 700 km2 và tính đến Cầu Nhi là 503 km2 Sông dài 65 km
Từ Vân Trình đến cửa Lác sông Ô Lâu nhận thêm nhánh Vĩnh Định, sông làm trục tải nước Bắc Nam Phần đồi núi sông Ô Lâu là những nhánh suối nhỏ đến cửa ra lòng sông dốc theo dạng sông vùng đồi thấp, cách đường 1A khoảng 7km lòng sông
hạ thấp dần và cao độ đạt -2,0 tại cầu Mỹ Chánh Phần hạ du sông Ô Lâu đã có hệ thống đê bao chống lũ Hè Thu và cửa ra đã xây dựng đập Cửa Lác để giữ nước ngọt trong mùa kiệt cung cấp cho nhu cầu dùng nước của các cánh đồng thuộc Phong Điền và Hải Lăng
Ngoài ra trong vùng còn có một số sông nhỏ như:
2.1 6 Đặc điểm khí hậu, khí tượng
Vùng nghiên cứu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa; mang đầy đủ sắc thái
Trang 18Tây khô nóng gây hạn hán nghiêm trọng, bão cát gây cát bay, cát nhảy lấp đồng ruộng Trong năm có hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa khô từ tháng 12 tới tháng 8 năm sau, mùa mưa từ tháng 9 tới tháng 11 Sau đây là một số đặc điểm chính về khí hậu, khí tượng lưu vực nghiên cứu
ít nhất vào tháng I, II; nhiều nhất từ tháng V
2 Nhiệt độ không khí: Trung bình năm nhiệt độ không khí từ 22oC - 25oC Tháng có nhiệt độ cao nhất là thường là 2 tháng VI và VII, tháng có nhiệt độ thấp nhất thường là tháng I
3 Độ ẩm tương đối: Ðộ ẩm tương đối bình quân nhiều năm nằm trong
khoảng từ 82%÷87% Vào mùa mưa (tháng VIII tới tháng III) độ ẩm tương đối đạt cao nhất, đặc biệt là trong tháng XII, độ ẩm tại Khe Sanh đạt 91%
với tốc độ bình quân đạt 2,0-2,2m/s Từ tháng XII đến tháng III gió mùa Tây Bắc đạt 1,7-1,9m/s Gió Tây khô nóng là thời kỳ nóng nhất tỉnh Quảng Trị hoạt động vào khoảng tháng IV tháng V
Trang 19Bảng 2.1: Đặc trưng khí hậu tại trạm Khe Sanh, Đông Hà
Tháng
Trạm Khe Sanh
Nhiệt độ (oC)
Độ ẩm (%)
Số giờ nắng (h)
Bốc hơi (mm)
Tốc độ gió (m/s)
Độ ẩm (%)
Số giờ nắng (h)
Bốc hơi (mm)
Tốc độ gió (m/s)
Trang 206 Đặc trưng mưa: Mưa trong vùng phụ thuộc nhiều vào yếu tố địa hình
Lượng mưa hàng năm nằm trong khoảng 2.000 ÷ 2.800 mm Trị số này tăng mạnh theo hướng từ Ðông sang Tây và từ Bắc xuống Nam, tập trung chủ yếu vào các
ra các trận mưa ngắn ngày, cường độ tập trung, gây ngập lụt gọi là lũ tiểu mãn
Cường độ mưa trong một ngày đạt khá lớn và thường xảy ra vào tháng X hoặc tháng XI Theo tài liệu thực đo tại Ðông Hà là 447,5mm (ngày 2/X/1998) tại Thạch Hãn 464,2mm (24/X/1978)
Bảng 2.2: Lượng mưa trung bình tháng tại các trạm
2 1.7 Các đặc trưng thủy văn dòng chảy
Theo kết quả nghiên cứu và tính toán của Viện QHTL các đặc trưng thủy văn dòng chảy của lưu vực sông Thạch Hãn – Ô Lâu như sau:
nước có thể gấp 1,5 đến 1,6 lần năm trung bình Nhưng có những năm ít nước như
năm 1998 chỉ đạt lượng dòng chảy bằng 0,7 – 0,75 năm trung bình nước Lượng
Trang 21dòng chảy các tháng mùa lũ (tháng X, XI) lớn hơn rất nhiều so với các tháng mùa
cạn (tháng VII, III, tháng IV)
Bảng 2.3: Phân phối dòng chảy năm tại trạm Gia Vòng
ngày 10/X Tháng X/1990 cũng xảy ra lũ lớn trên sông Thạch Hãn, nhưng mực nước lớn nhất tại Thạch Hãn chỉ ở mức 7,04m (X/1990) thấp hơn mực nước lũ 1983
tỉnh đồng bằng Bắc Bộ từ 2 tới 3 tháng và kéo dài tới 8 tháng Dòng chảy kiệt nhất
nhất là tháng 8/1982, mô số dòng chảy kiệt chỉ có 2,14 l/s km2
Bảng 2.5: Dòng chảy tháng kiệt nhất tại trạm Gia Vòng
(km 2 )
Qo Tháng kiệt (m 3 /s)
Mo tháng kiệt (l/skm 2 )
/s)
Trang 222 2 Hiện trạng kinh tế - xã hội
2 2.1 Dân số và cơ cấu dân cư
Lưu vực sông Thạch Hãn-Ô Lâu bao gồm phạm vi 117 xã thuộc 9 huyện, thị của 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Dân số tính đến 2013 là 525.280 người, với diện tích tự nhiên 3.724,75km2, mật độ dân số bình quân toàn vùng 138 người/km2 Dân số tập trung đông nhất ở thị xã Đông Hà, thị xã Quảng Trị, các thị trấn Gio Linh, Cam Lộ, Hải Lăng, Ái Tử, Krông Klang, Phong Điền
2 2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế
2.2.2.1 Tổng quan
Ngành kinh tế chủ đạo trên lưu vực vẫn lấy nông nghiệp làm nền tảng để phát triển, tuy nhiên cơ cấu kinh tế đã có những chuyển biến tích cực trong những năm qua Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày một tăng, tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế có xu hướng giảm dần
dựng tăng 21,5%, nông lâm ngư nghiệp 4,8%, dịch vụ tăng 9,3% GDP bình quân đầu người đạt 7,647 triệu đồng Nhìn chung tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng nghiên cứu trong những năm qua đạt mức khá cao, duy trì tương đối ổn định qua các thời
kỳ Ngành công nghiệp - xây dựng tăng trưởng nhanh, đặc biệt những năm gần đây Kinh tế nông nghiệp vẫn duy trì được tăng trưởng khá ổn định (4,4-4,5%)
2.2.2.2 Nông nghiệp
Theo số liệu thống kê năm 2013, tổng diện tích tự nhiên trong vùng là
372.485ha, diện tích đất nông nghiệp chiếm 61,4%, đất phi nông nghiệp chiếm 9,6% và đất chưa sử dụng còn tới 28,95%
Trang 23Bảng 2.6: Hiện trạng sử dụng đất năm 2013
Ngành trồng trọt vẫn là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nông nghiệp Năm 2013 tỷ trọng trồng trọt chiếm tới 70,5% giá trị sản xuất nông nghiệp Trồng trọt phát triển theo hướng đa dạng hóa cây trồng vừa thâm canh tăng năng suất
Theo thống kê, diện tích, năng suất, sản lượng các loại trong 5 năm gần đây như sau:
Trang 24Bảng 2.7: Diễn biến diện tích – năng suất – sản lượng một số cây trồng chính
Trang 25Trong diện tích cây lương thực hàng năm, lúa chiếm 79,4%, còn lại là màu Tổng sản lượng lương thực năm 2013 là 197.000 tấn Bình quân đầu người 383 kg thóc/năm Diện tích cây công nghiệp dài ngày đều có xu hướng tăng: cao su ở Cam
Lộ và Gio Linh; cà phê, hồ tiêu ở Hướng Hóa, Cam Lộ, Gio Linh
2.2.2.3 Chăn nuôi
Ngành chăn nuôi phát triển tương đối ổn định nhưng tăng trưởng không cao, giá trị sản xuất đạt bình quân 4,9%/năm thời kỳ 2007-2011 Tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp chiếm 24-25% Riêng năm 2013, tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp giảm xuống còn 22,3% Số lượng gia súc gia cầm trong các năm gần đây như sau:
+ Rừng sản xuất có diện tích là 61.079ha
- Nuôi trồng thủy sản đang được chú trọng phát triển nhằm phát huy lợi thế về biển, sông, hồ, đầm và đạt được những bước chuyển biến tích cực so với thời kỳ
Trang 26trước
- Diện tích nuôi nước ngọt ở sông, ao hồ tự nhiên, ao hồ đào tiếp tục được mở rộng đạt 878,3 ha năm 2013
đều, chưa đảm bảo quanh năm
2.2.2.6 Công nghiệp
Ngành công nghiệp phát triển khá đa dạng, đang từng bước trở thành ngành động lực phát triển kinh tế của vùng Các ngành công nghiệp chính như: công nghiệp vật liệu xây dựng và khai khoáng; công nghiệp chế biến giá trị sản xuất chiếm từ 33-40% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp; công nghiệp cơ khí – điện – điện tử giá trị sản xuất chiếm 22% giá trị sản xuất ngành công nghiệp; công nghiệp dệt may và các ngành công nghiệp khác chiếm tỷ trọng 3,9% giá trị sản xuất ngành công nghiệp
Trên địa bàn vùng nghiên cứu đã hình thành các khu công nghiệp có tổng diện tích 93,7 ha như Nam Đông Hà, Quán Ngang, Phong Điền, cơ sở hạ tầng một
số khu, cụm công nghiệp cơ bản được hoàn thiện và đang phát huy hiệu quả Thời gian qua, phát triển công nghiệp đạt mức tăng trưởng khá cao, thời kỳ 2007-2011, tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp đạt bình quân 19%/năm
Tuy nhiên ngành công nghiệp vẫn có những thách thức lớn: cơ sở hạ tầng kĩ thuật hạn chế; trang thiết bị và trình độ công nghệ còn lạc hậu
2.2.2.7 Năng lượng
Nguồn điện cung cấp cho các huyện chủ yếu từ điện lưới quốc gia qua trạm biến áp Đông Hà và các trạm nguồn khác như Vĩnh Linh, Lao Bảo, Hải Lăng (Diên Sanh) Công trình thuỷ lợi- thủy điện Quảng Trị (công trình Rào Quán) đã hoàn thành năm 2008 có công suất 64 MW đã được xây dựng cơ bản hoàn thành và đi vào hoạt động là nguồn điện bổ sung lớn cho Quảng Trị và điện lưới quốc gia
2.2.2.8 Giao thông
- Giao thông đường bộ
+ Quốc lộ 1A- là tuyến giao thông huyết mạch chạy xuyên suốt vùng nghiên
Trang 27cứu từ Bắc xuống Nam, nối các huyện thị đất liền với chiều dài 74km
+ Tuyến đường Quốc lộ 9: Xuất phát từ cảng Cửa Việt đến cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, tổng chiều dài 118,2km
Ðây là những tuyến đường huyết mạch thúc đẩy thông thương buôn bán và đi lại giữa Quảng Trị với các tỉnh khác trong vùng cũng như với nước bạn Lào
+ Đường huyện và giao thông nông thôn: Mạng lưới giao thông nông thôn liên
xã, liên thôn được mở rộng và xây dựng mới hoàn chỉnh theo qui hoạch
cứu, có ga đỗ Ðông Hà, Phò Trạch Ðây cũng là một tuyến giao thông quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của vùng
- Giao thông thủy:
Vùng nghiên cứu có 2 hệ thống sông lớn là Thạch Hãn và Ô Lâu có thể cho phép tàu thuyền trọng tải vài chục tấn đi lại dễ dàng
2 2.3 Y tế, văn hóa, giáo dục
- Viễn thông - bưu điện: Cùng với sự phát triển của ngành viễn thông, đến nay 100% số xã, thị trấn có điện thoại
gần đây, số lượng trường lớp, học sinh năm sau cao hơn năm trước.Tình hình dân trí của nhân dân ngày càng được cải thiện
khám đa khoa khu vực, trạm điều dưỡng và trạm y tế phường xã đã đáp ứng được phần nào nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân địa phương
Tuy nhiên các xã vùng sâu vùng xã thuộc các huyện Hướng Hoá, Ðakrông, Phong Điền việc tiếp cận với y tế còn rất khó khăn do thiếu cơ sở hạ tầng, thiếu đội ngũ y bác sỹ, khoảng cách từ nhà đến các trạm xá xã còn xa xôi…
Trang 282 3 Hiện trạng thủy lợi
2 3.1 Phân vùng thủy lợi
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Quy hoạch Thủy Lợi lưu vực nghiên cứu được chia thành 7 vùng như sau:
1 Lưu vực sông Hiếu gồm 17 xã thuộc huyện Gio Linh, 8 xã huyện Cam Lộ,
7 phường thuộc thị xã Đông Hà và 2 xã thuộc huyện Hướng Hóa Tổng diện tích tự nhiên là 79.270,6 ha trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 16.816,6 ha
2 Lưu vực sông Vĩnh Phước - Ái Tử: gồm 2 phường thuộc TX Đông Hà, 6 xã thuộc Triệu Phong, 3 xã thuộc Cam Lộ Tổng diện tích tự nhiên là 37.550 ha, trong
đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 3.971ha
Tổng diện tích tự nhiên là 26.370ha trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 1.974 ha
4 Vùng Thượng lưu Thạch Hãn: Gồm 8 xã Hướng Hóa, 6 xã Đakroong, 2 xã thuộc Hải lăng Tổng diện tích tự nhiên là 108.848 ha trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 5.111 ha
5 Vùng sau đập Thạch Hãn: Bao gồm 17 xã huyện Hải lăng, 2 phường thuộc
TX Đông Hà, 12 xã thuộc huyện Triệu Phong Tổng diện tích tự nhiên là 45.523 ha trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 13.209 ha
6 Vùng lưu vực sông Ô Lâu: Gồm 10 xã thuộc huyện Phong Điền và 3 xã thuộc huyện Hải Lăng Diện tích đất tự nhiên là 61.309 ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 8.028 ha
7 Vùng cát Nam Thạch Hãn: Bao gồm 5 xã thuộc huyện Triệu Phong, 5 xã Hải Lăng và 4 xã thuộc Phong Điền Diện tích đất tự nhiên là 13.614 ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 2.025 ha
Trang 292.3.2 Hiện trạng công trình cấp nước tưới
Gồm toàn bộ lưu vực sông Hiếu, là một nhánh của sông Thạch Hãn và bao gồm cả vùng cát ven biển thuộc huyện Gio Linh
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 16.816,6ha, diện tích canh tác hiện tại 10.719,7ha Trong vùng hiện tại đã xây dựng được một hệ thống công trình thủy lợi
PL1.3) với năng lực thiết kế tưới 6.715 ha, thực tế tưới được 3.627 ha: Đạt tỷ lệ 53,2% so với thiết kế; 31,5% so với diện tích canh tác và 20,7% so với diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong vùng Trong vùng có một số hệ thống thủy lợi tương đối lớn như:
- Hồ Trúc Kinh có diện tích lưu vực 49,6 km2, dung tích điều tiết 21x106 m3xây dựng năm 1993÷1997 hoàn thành với nhiệm vụ tưới cho 2.350 ha trong đó có cấp nước cho trạm bơm nhỏ dọc sông Cánh Hòm Khả năng tưới hiện tại của hồ 1.350 ha do thiếu nguồn Hiện tại mái thượng lưu đập lún sụt nhiều chỗ Kênh chính
và một số tuyến kênh cấp 1 chạy dọc theo bờ sông Hiếu nên đóng vai trò như một tuyến đê ngăn lũ hàng năm bị xói lở, vỡ trôi
- Hồ Hà Thượng: Diện tích lưu vực 19 km2, dung tích hữu ích 10,2 triệu m3
thiết kế tưới cho 650 ha trong đó có 70 ha của Gio Châu vùng Nam Bến Hải Thực
tế quản lý những năm qua hồ luôn đầy nước nhưng diện tích tưới chỉ được 300 ha
do kênh mương qua vùng cát bị vỡ Kênh chính đi qua vùng trũng và có địa chất xấu Tại đoạn K7+500 hàng năm thường bị lũ làm vỡ trôi, cần nghiên cứu để có biện pháp công trình tại đây phù hợp hơn Trên kênh chính có 3 cầu máng trong đoạn từ K3+500 đến K4+500, hiện tại 3 cầu máng này bị hư hỏng cả thân máng và
2 mố, cần được xử lý để đảm bảo an toàn trong mùa lũ
Hệ thống công trình có những tồn tại sau: tràn sự cố không có, đập chính mới làm giai đoạn 1, mái còn quá dốc Để bổ sung nguồn nước tưới cho vùng đông cánh
ở vùng đông Cánh Hòm là rất cấp bách, vùng này có 5 xã mà chưa có hệ thống thuỷ
Trang 30lợi nào đảm bảo nước sinh hoạt và nước để sản xuất nông nghiệp cho nhân dân trong vùng
đập phụ trước đây đã được xử lý chống thấm, nhưng chưa triệt để Khi hồ tích nước cao thấm vẫn xuất hiện nhiều vùng trên mái đập Hệ thống này cần được sửa chữa
và nâng cấp
tốt nhưng hệ thống đầu mối cần hoàn chỉnh và hệ thống kênh mương cần cải tạo
bồi lắng, sạt lở cần được đầu tư nâng cấp
hồi quy từ các khu tưới Hà Thượng, Trúc Kinh, và nước trên sông Hiếu, sông Cam
Lộ Ðáng kể nhất là trạm bơm Cam Lộ lấy nguồn từ sông Hiếu, theo thiết kế tưới cho 970 ha bờ Bắc sông Hiếu gồm các xã: Cam Tuyền, Cam Thanh, Cam Thuỷ, Cam Hiếu, phường Đông Thanh, Đông Giang Do nguồn nước thiếu, phần đuôi kênh tưới trạm bơm Cam Lộ đã nhường nhiệm vụ cho hồ Trúc Kinh Hiện nay, trạm bơm này đang hoạt động tốt, tuy nhiên nguồn nước trong vụ hè thu do dòng chảy cơ bản sông Cam Lộ nhỏ nên diện tích tưới vụ này chỉ được 300 ha Vụ đông xuân tưới được 800 ha Các trạm bơm còn lại hầu hết là thiếu nguồn trong vụ hè thu
Nguyên nhân chính các công trình tưới chưa đảm đương được nhiệm vụ thiết
kế là:
2350 ha, năng lực thực tế 1.350 ha
- Tỷ lệ tưới lúa của các công trình chiếm tới 80% diện tích tưới thiết kế
mương chỉ đạt 0,50-0,55 tưới còn lãng phí
- Nhiều công trình trên kênh còn thiếu, nhiều đoạn kênh, đặc biệt là kênh cấp
3, kênh nội đồng bị dân đục phá lấy nước gây thất thoát lớn
Trang 31- Quản lý khai thác công trình còn chưa khoa học, dẫn đến tốn nước tưới, ý thức dùng nước của dân còn kém
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong vùng là 3.971ha, diện tích hiện đang
(xem phụ lục 1 bảng PL1.4; PL1.5; PL1.6) với năng lực thiết kế tưới 2.173 ha, thực
tế tưới được 984 ha, đạt tỷ lệ 51,3% so với thiết kế Công trình thủy lợi mới đáp ứng được 29,2% đất nông nghiệp và 53,5% diện tích canh tác Trong đó:
- Hồ Ái Tử được xây dựng năm 2000 diện tích tưới thiết kế 1.041ha, hiện chưa phát huy hết nhiệm vụ đã giao mới tưới được 350ha
kế đã giao Nguyên nhân: Do công trình xây dựng có chất lượng kém, phần đầu mối
bị hư hỏng, hệ thống kênh mương bằng đất phải cải tạo hàng năm rất tốn kém
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp hiện tại 1.974ha, diện tích hiện canh tác 902,4ha Hiện tại đã xây dựng được 2 hồ chứa, 6 đập dâng (xem phụ lục1 bảng PL1.7; PL1.8) với năng lực thiết kế 260ha, thực tế tưới được 132 ha: Đạt tỷ lệ 50,8% so với thiết kế; 14,6% so với diện tích canh tác và 6,8% so với diện tích sản xuất nông nghiệp
Các công trình trong vùng đều là công trình nhỏ, nhiều công trình phần đầu mối hư hỏng, kênh mương xuống cấp cần được tu sửa Hiện trạng các công trình tưới trong vùng như sau:
Nằm về phía thượng lưu đập Thạch Hãn, đây là các xã miền núi thuộc thuộc
2 huyện Hướng Hóa và Đakrong Ðặc điểm vùng này là diện tích canh tác nằm rải rác không tập trung Diện tích đất nông nghiệp hiện tại 5.111ha, diện tích hiện đang canh tác 4.221,3ha
Công trình thủy lợi hiện tại có 1 hồ chứa, 20 đập dâng, 1 trạm bơm (xem phụ lục 1 bảng PL1.9; PL1.10; PL1.11) với diện tích thiết kế 459,9 ha, thực tưới 105,3
Trang 32ha, đạt tỷ lệ 23% Các công trình hầu hết mới xây dựng từ năm 2000 trở lại đây, phần đầu mối vẫn hoạt động tốt, tuy nhiên kênh mương chưa được kiên cố hóa gây tổn thất lớn
Như vậy so với diện tích canh tác hiện tại thì có tới 3.732 ha canh tác chưa được tưới Hiện trạng tưới của các công trình trong vùng như sau:
nhất tỉnh Quảng Trị, được xây dựng năm Hệ thống tưới Nam Thạch Hãn có diện
phụ Hệ thống kênh gồm: 1 kênh chính 6 kênh cấp 1 và hệ thống cấp 2, trong đó: + Kênh chính dài 16,4 km
lượt như sau: 14 km; 14 km; 15,38 km; 13,6 km
Chiều dài toàn bộ hệ thống kênh 85 km bao phủ hầu hết diện tích canh tác của huyện Hải Lăng, Triệu Phong và thị xã Quảng Trị
Tuy nhiên hiện nay do nhiều nguyên nhân hệ thống này chỉ tưới được 8.700ha cho vụ Đông Xuân và 5.000ha cho vụ Hè Thu của huyện Hải Lăng, Triệu Phong và Thị xã Quảng Trị Nguyên nhân chính là do:
- Diện tích thiết kế của hệ thống quá lớn so với thực tế
- Lưu lượng mùa kiệt nhỏ, khi tính toán thiết kế lưu lượng nhỏ nhất 13,6 m3
Trang 33- Kênh chính dài, chỉ có 3,4 km kênh chính được kiên cố hoá Hiện nay nhiều loại tảo và rong rêu phát triển rất mạnh trong lòng kênh, hạn chế khả năng chuyển tải nước trong kênh Việc thu dọn rong rêu trong lòng kênh mất rất nhiều thời gian
và tiền của
đặc biệt trong mùa lũ, do đó mặt cắt kênh bị thu hẹp, đáy bị bồi lấp, tổn thất nước trong kênh lớn Hầu hết các kênh cấp 1 hiện nay mặt cắt không đúng với thiết kế Cho đến nay chỉ có một số đoạn kênh cấp 1 được kiên cố hoá
- Thiếu nhiều công trình trên kênh
Sau năm hạn lịch sử 1998, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã cho xây dựng đập cao
su trên đỉnh tràn Nam Thạch Hãn, dung tích điều tiết tăng thêm 10 triệu m3 để điều tiết cho mùa kiệt Hiện nay đã hoàn thành công trình thủy lợi-thủy điện Rào Quán, đây là công trình lợi dụng tổng hợp, có nhiệm vụ cung cấp điện và bổ sung lưu
trình đáy Zđáy=-2,04m, Zđỉnh=+1,5m Phía cuối sông Ô Lâu có đập Cửa Lác: Tại
vị trí đổ ra đầm phá của sông Ô Lâu, quy mô 67 cửa x 2,4m, cao trình đáy
Vĩnh Ðịnh hoạt động tưới bổ sung cho hệ thống Nam Thạch Hãn
Ngoài ra trong vùng này còn có 14 công trình hồ chứa vừa và nhỏ, 16 đập dâng để trữ nước tưới trong mùa kiệt, 4 trạm bơm tưới tiêu có công suất nhỏ từ (450-1000)m3/giờ Cho đến nay, hầu hết các công trình trong vùng đều phát huy tác dụng Tuy nhiên một số công trình do xây dựng đã lâu, quá trình sử dụng đã bị xuống cấp, hư hỏng nhiều Một số công trình kênh mương chưa hoàn chỉnh nên hiệu xuất tưới chưa cao
Gồm diện tích xã Hải Chánh của huyện Hải Lăng và các xã thuộc huyện Phong Điền Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 8028ha, diện tích hiện đang canh tác
Trang 346.384ha Trong vùng đã xây dựng 12 hồ chứa, 30 đập dâng, 52 trạm bơm (xem phụ lục1 bảng PL1.15; PL1.16; PL1.17) Diện tích thiết kế của các công trình 2569,5 ha, diện tích tưới thực tế 1109,5ha: Đạt tỷ lệ 56% so với thiết kế; 44,5% so với diện tích canh tác và 37,6% so với diện tích sản xuất nông nghiệp (diện tích chưa được tưới
là 2320 ha) Hiện trạng các công trình trong vùng:
- Công trình thủy lợi lớn nhất trong vùng là hồ Hòa Mỹ với Flv=37 km2, diện tích tưới thiết kế 2.150 ha, hiện tại tưới được 1.500 ha, nhưng hầu hết là tưới cho lưu vực sông Bồ, phần tưới cho lưu vực Ô Lâu chỉ có 288 ha
cần tu sửa
chủ yếu là đất trồng màu Công trình cấp nước tưới cho vùng gồm các hồ trên cát (trằm) là các vùng trũng tự tạo trên cát có chứa nước Đáng kể nhất là 5 trằm lớn với diện tích tưới từ 120-150 ha như trằm Mỹ Xuyên, Trằm Thôn Niềm, Trằm Thiềm, Trằm Nải, ngoài ra còn có một số hồ cát nhỏ Đây là một nguồn nước dự trữ lớn được dùng để tưới hỗ trợ vào những thời điểm khan hiếm nước
Ngoài ra trong vùng còn có các số trạm bơm tưới và tưới tiêu kết hợp lấy nước của sông Ô Lâu, sông Ô Giang để tưới cho các xã ven sông
Sở Thủy lợi Quảng Trị thì lượng nước ngầm đó có quanh năm trong cát, mùa mưa lượng nước đó có cách mặt cát từ 0,8-1,0m.So với diện tích canh tác hiện tại, diện tích tưới thực tế của các công trình toàn vùng mới đạt 45,8 % Ðiều này chứng tỏ
Trang 35việc tưới trong vùng chưa chủ động Các công trình chưa phủ hết diện tích hiện có, thêm vào đó do các công trình xây dựng đã lâu nên không đạt được
Bảng 2.9: Tổng hợp hiện trạng công trình tưới vùng nghiên cứu
Số
CT
Ftk (ha)
Ftt (ha)
Số
CT
Ftk (ha)
Ftt (ha)
Số
CT
Ftk (ha)
Ftt (ha)
2 3.3 Hiện trạng cấp nước sinh hoạt - công nghiệp - đô thị
Các điểm công nghiệp hiện nay hầu hết tập trung tại thị xã Ðông Hà và đoạn đầu đường 9 Công nghiệp ở đây chủ yếu là vật liệu xây dựng (xi măng) và công nghiệp lắp máy Hiện tại cụm công nghiệp thị xã Ðông Hà hiện tại sử dụng chung với cấp nước sinh hoạt Cho đến nay nước cấp cho công nghiệp ở đây khá ổn định, đảm bảo số lượng và chất lượng
2.3.3.2 Cấp nước đô thị và nông thôn
- Cấp nước đô thị:
+ Thị xã Ðông Hà, thị trấn Gio Linh đang sử dụng nguồn nước mặt trên sông
không ổn định vì dựa vào lưu lượng cơ bản của sông Vĩnh Phước Như năm 1998 bị hạn, toàn thị xã thiếu nước, một tuần chỉ cấp được 2 ngày còn lại phải ưu tiên cho bệnh viện, nhà khách
+ Thị xã Quảng Trị, thị trấn Ái Tử sử dụng nước từ nhà máy nước Quảng Trị
Trang 36+ Thị trấn Krông Klang, Hải Lăng sử dụng nguồn nước mặt trên sông Đakroong và sông Nhùng bằng hình thức cấp nước tập trung
nguồn nước tự nhiên (nước mặt, nước ngầm) Theo chương trình nước sạch nông thôn của tỉnh Quảng Trị hiện nay đã cung cấp được nguồn nước sạch cho 59,7% số dân trong vùng dự án nhưng tập trung chủ yếu ở vùng đồi núi Vùng ven biển nơi nước ngầm tầng sâu bị nhiễm mặn chưa cấp nước cho dân được, vẫn nhờ vào nguồn nước từ các kênh mương thấm xuống tầng nông
2 3.4 Hiện trạng công trình tiêu nước và phòng chống lũ
2.3.4 1 Hiện trạng tiêu thoát
Do đặc điểm địa hình vùng nghiên cứu đã hình thành các vùng tiêu: Vùng gò đồi và các vùng có triền đất cao, vùng đồng bằng và vùng cát ven biển Vùng có cao trình từ 1,5-2,0m trở lên chủ yếu là tiêu tự chảy ra các kênh trục hoặc đổ trực tiếp ra sông Thạch Hãn, Ô Lâu, Vĩnh Định, ra biển Và vùng tiêu úng ở đồng bằng thấp trũng có cao trình dưới 1,5m phải tiêu bằng động lực như vùng trũng Hải Lăng, Phong Điền giáp sông Ô Lâu, Ô Giang và Vĩnh Định
Vùng nghiên cứu có diện tích tự nhiên là 372.475 ha, trong đó diện tích tiêu
tự chảy hoàn toàn trên vùng đồi núi cao ra các sông chiếm tới 90% Diện tích phải xây dựng công trình kênh, cống tiêu có khoảng 10%
Trong vùng có 3 thời kỳ cần phải tiêu úng là:
- Thời kỳ xuống giống vụ Đông Xuân, cuối tháng 12 phải tiêu tạo nền, đây là thời kỳ thường do những diện tích bị úng là do ruộng đất thấp, trũng, thuỷ triều cao không tiêu tự chảy được nên còn ngập sâu không thể xuống giống được
năng suất cây trồng đang chuẩn bị vào vụ thu hoạch, cần phải tiêu thoát kịp thời để tránh tổn thất cho nhân dân
- Thời kỳ cuối tháng 8 đầu tháng 9 thường xảy ra những trận lũ sớm cũng là thời kỳ chuẩn bị thu hoạch lúa Hè Thu, cũng cần phải tiêu để đảm bảo cho thu hoạch
Trang 37Trong vùng có 2 cửa tiêu chính là: Cửa Việt Yên cửa ra của sông Vĩnh Định
đổ ra sông Thạch Hãn và sau đó đổ ra biển tại Cửa Việt; Cửa thứ hai là cửa Lác là cửa của sông Ô Lâu đổ ra Phá Tam Giang trước khi ra biển Hiện Nay tại Việt Yên
và Cửa Lác đã xây dựng 2 công trình đập Việt Yên và đập Cửa Lác có nhiệm vụ gạn triều tiêu úng cho vùng hạ lưu Thạch Hãn-Ô Lâu
Hiện trạng các vùng tiêu trong lưu vực nghiên cứu như sau:
chảy, vùng này cao độ phổ biến từ +5m đến +600m Vùng này có diện tích tự nhiên 38.777,98 ha
này có cao độ phổ biến từ +5m đến +700m Diện tích tự nhiên là 71.990,38 ha
tích tự nhiên vùng lã.797,93 ha
chảy, cao độ phổ biến từ +5 đến + 750m Diện tích tự nhiên là 129.657,6 ha
- Vùng V: Vùng kẹp giữa kênh chính N1, sông Cựu Vĩnh Định và sông Thạch Hãn Khu này tiêu hoàn toàn bằng hình thức tự chảy, cao trình phổ biến từ +2,9m đến +4,5m Diện tích tự nhiên là 7.876,35 ha
Tân Vĩnh Định và sông Ô Giang Vùng này chia nhỏ thành 2 tiểu vùng: tiểu vùng 1 tiêu tự chảy và tiểu vùng 2 tiêu bằng động lực
+ Tiểu vùng VI-1: Vùng kẹp giữa kênh N2A, kênh chính, sông Tân Vĩnh Định và đường TL8 Vùng có cao độ phổ biến từ +1,5m đến trên +3,0m tiêu tự chảy
ra sông Vĩnh Định sau đó ra Cửa Lác Diện tích tư nhiên tiểu vùng là 8.286,6 ha
+ Tiểu vùng VI- 2: Vùng kẹp giữa sông Ô Giang, sông Tân Vĩnh Định và đường TL8 Hiện nay vùng tiêu bằng 13 trạm bơm Diện tích tự nhiên là 3.673,11
ha
Trang 38- Vùng VII: Vùng kẹp giữa sông Ô Giang, sông Ô Lâu Diện tích đất tự nhiên là 2.010,36 ha Cao độ phổ biến từ +0,0m đến +1,5m Vùng này phải tiêu hoàn toàn bằng động lực
- Vùng VIII: Vùng kẹp giữa đê cát, sông Vĩnh Định và sông Ô Lâu Diện tích
tự nhiên là 11.918,54 ha Hiện nay vùng tiêu bằng 16 trạm bơm tiêu, tưới tiêu kết hợp
ha Hiện nay tiêu bằng 6 trạm bơm tiêu, tưới tiêu kết hợp
- Vùng X: Vùng cồn cát ven biển Diện tích tự nhiên là 14.150,99 ha cao độ thoải ra biển có thể tiêu bằng các kênh thoát nước và đê bao khoanh vùng hiện có
từ +6 đến +650m tiêu hoàn toàn bằng hình thức tự chảy Diện tích tự nhiên vùng là 75.181,64 ha
Hiện tại có 7 trạm bơm tiêu, 35 trạm tưới tiêu kết hợp và trên 100 cống dưới
đê tập trung chủ yếu ở vùng trũng Hải Lăng, Triệu Phong và Phong Điền làm nhiệm
vụ tiêu thoát Diện tích thực tế tiêu của các trạm bơm trong vùng mới được 3.810ha,
việc tiêu thoát chưa hiệu quả Hiện trạng tiêu úng trong các vùng được nêu trong bảng PL1.18
2.3.4 2 Hiện trạng công trình chống lũ:
Vùng nghiên cứu nằm trong khu vực có nhiều điều kiện phát triển sản xuất tránh né lũ chính vụ, do vậy hướng sản xuất nông nghiệp chủ yếu là tập trung vào hai vụ Đông Xuân và Hè Thu Các công trình chống lũ lụt cũng mới chỉ chú ý tới chống lũ cho sản xuất nông nghiệp Các công trình phúc lợi xã hội, các khu dân cư
và khu vực hành chính, cơ quan chủ yếu là tránh lũ bằng biện pháp tôn cao nền hoặc lựa chọn vùng đất cao để xây dựng, do vậy có thể nói công trình chống lũ chính vụ hầu như không có mà chỉ có hệ thống công trình chống lũ Hè Thu cho sản xuất nông nghiệp và các công trình chống lở bờ sông cửa sông của từng đoạn sông một
Trang 39- Đê chống lũ Hè Thu: Hầu hết các sông trong vùng đã hình thành hệ thống đê chống lũ Hè Thu, là các tuyến đê tự phát xây dựng do nhu cầu của các huyện để ngăn chống lũ Hè thu với tổng chiều dài đê là 96,6km Tiêu chuẩn chống lũ phấn đấu chống với mức nước lũ Hè Thu P=10% Nhưng cho đến nay hầu hết các đê về cao độ, mặt cắt các đê đều không đủ tiêu chuẩn chống với mức lũ trên và cũng không theo văn bản pháp quy của đê điều
- Đê ngăn cát: Hiện nay đã hình thành tuyến đê từ xã Triệu Trạch (huyện Triệu Phong) đến xã Điền Lộc (Phong Điền) dài gần 40km, có nhiệm vụ ngăn cát tràn và nước biển tràn vào trong đồng
xây dựng được hồ Rào Quán, khống chế diện tích lưu vực Flv=159km2 có dung tích trữ Wtb=163 triệu m3trong đó dung tích phòng lũ là 30 triệu m3
Còn lại hầu hết là hồ chứa vừa và nhỏ có tác dụng cắt lũ trực tiếp cho nhánh suối ở hạ du hồ chứa nhưng so với toàn lưu vực lớn không có tác dụng vì quy mô lưu vực của hồ chứa chỉ chiếm 1% đến 3% tổng diện tích lưu vực của sông
- Các công trình điều tiết lũ khác:
+ Đập An Tiêm: Đập được xây dựng trên sông Cữu Vĩnh Định cách sông Thạch Hãn 1,5km (tại vị trí kênh chính Thạch Hãn cắt qua) có quy mô 20 cửa x 6m, cao trình đáy Zđáy=+3m, cao trình đỉnh Zđỉnh=+8m Nhiệm vụ của công trình này:
Phân lũ từ sông Thạch Hãn trong mùa lũ chính vụ sang sông Vĩnh Định để bảo vệ kênh chính Thạch Hãn
Không cho lũ Hè Thu và Tiểu Mãn từ sông Thạch Hãn đổ vào sông Vĩnh Định để bảo vệ sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng Nam Thạch Hãn
+ Đập Việt Yên: Ở cuối sông Cựu Vĩnh Định có quy mô 12cửa x 2,7m, cao trình đáy Zđáy=-2,04m, Zđỉnh=+1,5m Công trình có nhiệm vụ gạn triều, tiêu úng cho vùng đồng bằng Nam Thạch Hãn Bắc Ô Lâu
+ Đập Cửa Lác: Tại vị trí đổ ra đầm phá của sông Ô Lâu, quy mô 67 cửa x 2,4m, cao trình đáy Zđáy=-1,7m, Ztràn=+0,6m Công trình có nhiệm vụ ngăn mặn, giữ ngọt trong mùa kiệt và thoát lũ trong mùa mưa (xem chi tiết tại bảng PL 2.19)
Trang 402 4 Những khó khăn của yếu tố tự nhiên
2 4.1 Hạn hán
Năm 1998 là năm hạn lịch sử trong vùng, theo thống kê tình trạng hạn trong
vụ Hè Thu ở tỉnh Quảng Trị như sau:
+ Lúa Hè Thu gieo cấy: 16.011 ha, bị hạn: 11.831 ha, mất trắng: 9.200 ha + Lúa vụ 10 gieo cấy 4.898 ha, ngô 506 ha, khoai lang 770 ha, sắn 3.715,5 ha, màu khác 299 ha, rau các loại 300 ha đều bị hạn nặng và mất trắng
+ Ðậu xanh gieo trồng 1435 ha, bị hạn 1.435 ha
+ Lạc gieo trồng 466 ha, bị hạn 466 ha
+ Cao su: 1.117 ha, chết khoảng 620 ha, bị giảm năng suất do hạn là 2.400 ha + Cà phê: 149 ha chết ; 648 ha bị hạn giảm năng suất 50%
+ Hồ tiêu có hiện tượng mềm thân 479 ha/800 ha
thường bị hạn, nhất là trong vụ hè thu Tình trạng thiếu nước dẫn đến giảm diện tích
và năng suất trong vụ hè thu Diện tích lúa vụ Hè Thu năm cao nhất chỉ bằng 82% diện tích lúa Đông Xuân và năng suất chỉ bằng 87% năng suất lúa Đông Xuân Ðó
là chưa kể đến ảnh hưởng của hạn đến con người, gia súc và các loại cây trồng khác
2 4.2 Úng lụt
Lượng mưa bình quân năm trong vùng từ 2000 – 2.800mm, thời gian mưa lũ tập trung chủ yếu vào 3 tháng từ tháng IX đến tháng XI hàng năm với tổng lượng mưa chiếm tới 70-80 % tổng lượng mưa năm Thời kỳ này trong vùng thường chịu ảnh hưởng của bão có mưa lớn trên diện rộng, lượng mưa kéo dài từ 3-5 ngày với cường suất lớn gây lũ lụt nghiêm trọng, nhất là vùng hạ du sông Thạch Hãn, Ô Lâu
Tháng V và tháng VIII hàng năm thường xảy ra các trận mưa ngắn ngày với cường độ tập trung, gây ngập lụt cục bộ trong đồng ảnh hưởng xấu đến phát triển nông nghiệp trong vùng