Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: MarginKhu di tích lịch sử Đền Hùng - Phú Thọ được thành lập theo Quyết định số: 89/QĐ-TTg ngày 12/7/2002 của Thủ tướng Chính Phủ nhằ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
NGÔ VĂN HIỆP
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC, XÁC ĐỊNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT LÂM SINH PHỤC HỒI TÀI NGUYÊN RỪNG KHU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
NGÔ VĂN HIỆP
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC, XÁC ĐỊNH MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT LÂM SINH PHỤC HỒI TÀI NGUYÊN RỪNG KHU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
T.S Trần Quốc Hưng
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Khoa Sau đại học cũng như của các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông lâm Thái nguyên Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ đó
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện của Ban quản lý khu di tích lịch sử Đền Hùng tỉnh Phú Thọ đối với tác giả trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp và các tài liệu cần thiết khác
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này./
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2010
Tác giả
Ngô Văn Hiệp
Trang 4Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, có tác dụng nhiều mặt đối
với đời sống, kinh tế - xã hội và sự sinh tồn của con ngươì.người Rừng cung cấp không
những sản phẩm có giá trị trực tiếp như gỗ, củi, tre nứa, nấm ăn, cây làm thuốc, chim,
thú rừng v.v , mà rừng còn có giá trị gián tiếp rất to lớn và vô cùng quý giá như khả
năng tự duy trì, bảo vệ môi trường sinh thái, điều hòa nhiệt độ làm cho mùa hè mát mẻ,
mùa đông ấm áp, điều hoà dòng chảy và độ ẩm không khí, điều hoà lượng CO2 trong
khí quyển, làm giảm những tai hoạ về lũ lụt và sự dâng nước biển trong tương lai Rừng
tự nhiên ở nước ta hiện nay hầu hết đều là rừng thứ sinh ở những mức độ thoái hoá khác
nhau Nguyên nhân chủ yếu là do con người khai thác lạm dụng, đốt nương làm rẫy
Những năm gần đây, thực hiện chủ trương chuyển đổi từ lâm nghiệp nhà nước tập
trung sang lâm nghiệp xã hội, chính phủ đã giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các
tổ chức, hộ gia đình để trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ Các chủ trương chính sách này
đã có tác dụng tích cực, rừng đã được bảo vệ và dần dần phục hồi trở lại, diện tích rừng
ngày càng tăng, đất trống đồi núi trọc giảm, theo số liệu công bố của Bộ Nông Nghiệp
& PTNT năm 2007, độ che phủ toàn quốc đã đạt 38,2% Các giải pháp kỹ thuật dựa
trên cơ sở lợi dụng triệt để khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên của thảm thực vật, cùng
với các giải pháp đúng đắn về chính sách đất đai, vốn, lao động đã góp phần nâng cao
độ che phủ của rừng trên phạm vi toàn quốc Tuy nhiên, do những nghiên cứu về rừng
tự nhiên, đặc biệt về rừng thứ sinh nghèo còn ít, thiếu tính hệ thống cho nên thiếu các
biện pháp kỹ thuật áp dụng cụ thể với từng vùng sinh thái khác nhau
Xét về tổng quan diện tích rừng tuy có tăng nhưng chất lượng và tính đa dạng
sinh học rừng tự nhiên nhiều nơi tiếp tục bị suy giảm, nhiều loài thực vật quí hiếm đã bị
mất, tạo nên các khu rừng tự nhiên kém chất lượng và chỉ còn tồn tại những loài cây
không có giá trị kinh tế Cùng với sự phát triển lâm nghiệp của cả nước nói chung với
xu thế hội nhập quốc tế, sản xuất lâm nghiệp phải bền vững và có tính cạnh tranh cao
Style Definition: TOC 1: Font: 14 pt, Not Bold, Do not check spelling or grammar, Tab stops: 6.69", Right,Leader: … Formatted: Level 1
Formatted: English (U.S.) Formatted: English (U.S.)
Trang 5Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Khu di tích lịch sử Đền Hùng - Phú Thọ được thành lập theo Quyết định số:
89/QĐ-TTg ngày 12/7/2002 của Thủ tướng Chính Phủ nhằm mục đích bảo vệ cảnh
quan, môi trường sinh thái, giữ nguồn nước, bảo vệ đất, bảo tồn đa dạng sinh học, diện
tích rừng tự nhiên và rừng phục hồi, biện pháp tác động khoanh nuôi bảo vệ là chủ yếu
chưa có những giải pháp kỹ thuật lâm sinh tác động hợp lý để nâng cao chất lượng của
rừng Xuất phát từ những hạn chế nói trên, tôi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu cơ sở
khoa học, xác định một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi tài nguyên rừng khu di
tích lịch sử Đền Hùng tỉnh Phú Thọ”
Formatted: Level 1
Formatted: Centered
Trang 6Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Odum E.P (1971) đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ hệ
sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, năm 1935 Khái niệm hệ sinh thái được làm
sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học [35]
Nghiên cứu cơ sở sinh thái cấu trúc rừng điển hình là Baur G.N (1964) đã nghiên
cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa trong đó đã đi sâu
nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng
mưa tự nhiên [32]
Catinot (1965) nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các
phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại
theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến tác giả cho rằng muốn ổn định hệ sinh thái
rừng nhất thiết phải nắm vững quy luật vận động, biết cách điều tiết mối qua hệ trong sự
phức tạp [33]
Theo các quan điểm trên, các tác giả đã làm sáng tỏ các khái niện về hệ sinh thái
rừng và đây là những cơ sở nghiên cứu các nhân tố cấu trúc đứng trên quan điểm sinh
thái học
Về mô tả hình thái cấu trúc rừng:
Rừng mưa nhiệt đới đã được nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu, như: Catinot
R (1965), Plaudy J Các tác giả đã biểu diễn hình thái cấu trúc rừng bằng những phẫu
diện đồ ngang và đứng Các nhân tố cấu trúc được mô tả theo các khái niệm: dạng sống,
tầng phiến Rollet (1971) đã đưa ra hàng loạt phẫu đồ mô tả cấu trúc hình thái rừng
Formatted: Level 1
Trang 7Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
mưa, như tương quan giữa chiều cao với đường kính D1.3, tương quan giữa đường kính
tán với đường kính D1.3 và biểu diễn chúng bằng các hàm hồi quy [32], [33]
Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng:
Với xu thế chuyển từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng, thống kê
toán học đã trở thành công cụ cho các nhà khoa học lượng hóa các quy luật của tự nhiên
và xã hội
Trong các nghiên cứu về rừng tự nhiên, nghiên cứu định lượng quy luật phân bố
số cây theo đường kính (N-D1.3), phân bố số cây theo chiều cao (N-H) phân chia tầng
thứ được nhiều tác giả thực hiện có hiệu quả, ngoài việc phản ánh cấu trúc nội tại của
lâm phần làm căn cứ đề xuất các biện pháp kinh doanh còn làm cơ sở để điều tra, thống
kê tài nguyên rừng
Nghiên cứu cấu trúc tầng thứ rừng tự nhiên có rất nhiều quan điểm:
Rừng tự nhiên có tầng tán không phân biệt rõ ràng, nên việc phân chia tầng tán
còn hạn chế: Đối với rừng mưa nhiệt đới nhiều tác giả chia 3 tầng: Tầng cây cao (tầng
vượt tán), tầng tán chính, tầng dưới tán Một số tác giả khác chia tầng tán rừng thành 5
tầng: Tầng trội, tầng chính, tầng dưới tán, tầng cây bụi và trảng cỏ (Walton, Myutt
Smith 1955) [33], [34]
Một nghiên cứu khác, Raunkiaer (1934) đã đưa ra công thức xác định phổ dạng
sống chuẩn được xác định theo tỷ lệ phần trăm giữa số lượng cá thể của từng dạng sống
so với tổng số cá thể trong một khu vực [32]
Phân bố số cây theo đường kính (N/D)
Nhà khoa học đầu tiên đề cập đến là Mayer (1934), Ông đã mô tả phân bố số cây
theo đường kính bằng phương trình toán học có dạng đường cong liên tục giảm, về sau
phương trình này lấy tên Ông (Phương trình Mayer) Ngoài ra còn có khá nhiều tác giả
khác đề xuất một số hàm toán học như: Loetsch (1973) dùng hàm Beta để nắm phân bố
thực nghiệm, J.L.F Batista & H.T.Z Docouto (1992) nghiên cứu rừng nhiệt đới ở
Marsanboo - Brazin dùng hàm toán Weibull để mô tả phân bố N/D [1] [2]
Trang 8Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Phân bố số cây theo chiều cao (N/H)
Phương pháp tính điển được nhiều nhà khoa học sử dụng là vẽ phẫu diện đồ Qua
đó sẽ nhận thấy sự phân bố, sắp xếp trong không gian của các loài cây điển hình là
Richards (1950) [34] Có nhiều dạng hàm toán học khác nhau để mô tả phân số này, tùy
thuộc vào điều kiện và kinh nghiệm mà các tác giả sử dụng các hàm toán học khác nhau
1.1.2 Tái sinh rừng tự nhiên
Trong phương thức áp dụng cho rừng đều tuổi của Malayxia (MUS, 1945), nhiệm
vụ đầu tiên được ghi trong lịch trình là điều tra tái sinh theo ô vuông 1/1000 mẫu Anh
(4 m2), để biết xem tái sinh có đủ hay không và sau đó mới tiến hành các tác động tiếp
theo [23]
Van steens (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng mưa nhiệt
đới: Tái sinh phân tán liên tục của loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của loài cây ưa sáng
[23], [26]
Do sự phát triển công nghiệp thế kỷ XIX, trong ngành lâm nghiệp của thế giới đã
hình thành xu hướng thay thế rừng tự nhiên bằng rừng nhân tạo năng suất cao nhằm đáp
ứng yêu cầu của nền kinh tế Nhưng sau thất bại về tái sinh nhân tạo ở Đức và một số
nước nhiệt đới mà Beard (1947) đã gọi là "bệnh sởi trồng rừng" do thiếu sinh tố sinh
thái học, nhiều nhà khoa học đã nghĩ tới việc quay trở lại với tái sinh tự nhiên [15]
Richards P.W (1952) đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản và
phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới, đã kết lúận cây tái sinh có dạng phân bố cụm,
một số có dạng phân bố Poisson Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên,
Barnard (1955) đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích
thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh [34]
Baur G.N (1962) [32] Đối với rừng nhiệt đới, các nhân tố như ánh sáng, độ ẩm
của đất, kết cấu quần thụ cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến
tái sinh, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây con, nhưng đối với
sự nầy mầm thì ảnh hưởng đó không rõ [32]
Formatted: Level 1
Formatted: English (U.S.)
Trang 9Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
1.1.3 Nghiên cứu về phục hồi
1.1.3.1 Quan điểm nhận thức về phục hồi rừng
Trước khi tìm hiểu thế nào là phục hồi rừng chúng ta cần hiểu rõ về quá trình suy
thoái rừng Sự suy thoái rừng được hiểu một cách khái quát: là quá trình dẫn đến phá vỡ
cấu trúc rừng, mất sự đa dạng của loài cây bản địa, các quá trình sinh thái đặc trưng nên
hiện trạng rừng tự nhiên và năng suất của chúng
Sự suy thoái rừng có thể xẩy ra ở nhiều hình thức và được biểu hiện ở nhiều qui
mô khác nhau Sự suy thoái xẩy ra khi các sự kiện phi tự nhiên gây ra những xáo trộn
trong các quá trình tự nhiên làm tổn hại đến sự cân bằng sinh thái Một số tác giả quan
niệm suy thoái rừng chỉ bao gồm sự giảm sút hoặc suy yếu khả năng sản xuất gỗ của
một diện tích rừng do ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là các hoạt động của
con người; sự giảm bớt về diện tích không thuộc khái niệm suy thoái rừng (Serna,1986)
Một số khác quan niệm suy thoái rừng bao gồm cả sự chuyển đổi mục đích sử dụng
rừng và sử dụng rừng theo kiểu bóc lột, dù cho nó thoả mãn các lợi ích kinh tế và xã hội
(Wil de Jong, Đỗ Đình Sâm, Triệu Văn Hùng, 2006) Grainger (1988) đã đưa ra khái
niệm suy thoái thảm thực vật bằng cách định nghĩa đó là một sự giảm sút tạm thời hoặc
vĩnh viễn về mật độ, cấu trúc, tổ thành loài hoặc năng suất của thảm thực vật Sự suy
thoái có thể là kết quả của các hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến thảm thực vật (như
khai thác, đốt cháy rừng, gió bão) hoặc các thành phần trong hệ sinh thái rừng nhưng
không ảnh hưởng trực tiếp đến rừng (như nước, tính chất đất và không khí) Trong môi
trường nhiệt đới, suy thoái rừng ở qui mô lớn và cường độ cao là hiện tượng thường xẩy
ra do sự bùng nổ về dân số và nhu cầu ngày càng cao về các sản phẩm gỗ nhiệt đới
trong quá trình phát triển của các quốc gia Rừng nhiệt đới đang trong quá trình giảm
sút với tốc độ chưa từng thấy và dẫn đến sự suy thoái của các hệ sinh thái Dù cho có sự
khác nhau về quan điểm trong việc định nghĩa về suy thoái rừng nhưng các tác giả đều
công nhận kết quả của quá trình suy thoái rừng là rừng thứ sinh nghèo (degraded
secondary forests)
Formatted: Level 1
Trang 10Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Phục hồi rừng có thể được hiểu một cách khái quát là quá trình ngược lại của sự
suy thoái Theo quá trình diễn thế, sau khi phải chịu những tác động phi tự nhiên phá vỡ
bằng sinh thái; với khả năng tự điều chỉnh tự nhiên và cơ chế nội cân bằng sinh thái thì
nó có xu hướng vận động thiết lập một trạng thái cân bằng mới (gần giống với trạng thái
ban đầu), quá trình này được gọi là diễn thế phục hồi Nhưng với những tác động quá
mạnh vượt ra ngoài ngưỡng tự điều chỉnh của hệ sinh thái rừng thì quá trình phục hồi lại
sẽ rất chậm hoặc thậm chí nó không xảy ra Lúc này cần những hoạt động của con
người nhằm thúc đẩy quá trình đó hoạt động mạnh nhất trong thời gian ngắn nhất Như
vậy, hoạt động phục hồi rừng được hiểu là các hoạt động có ý thức của con người nhằm
làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng Để phục hồi lại các hệ sinh thái rừng đã bị
thoái hoá, chúng ta có rất nhiều lựa chọn tuỳ thuộc vào từng đối tượng và mục đích cụ
thể Lamb và Gilmour (2003) đã đưa ra ba nhóm hành động nhằm làm đảo ngược quá
trình suy thoái rừng là cải tạo, khôi phục và phục hồi rừng Các khái niệm này được
hiểu như sau:
- Cải tạo hay là thay thế (reclamation or replacement): khái niệm này được hiểu là
sự tái tạo lại năng suất và độ ổn định của một lập địa bằng cách thiết lập một thảm thực
vật hoàn toàn mới để thay thế cho thảm thực vật gốc đã bị thoái hoá mạnh Ở vùng nhiệt
đới, các xã hợp thực vật được thay thế này thường đơn giản nhưng lại có năng suất cao
hơn thảm thực vật gốc Các lập địa rừng nghèo kiệt, trảng cây bụi… là đối tượng của
hoạt động này và cũng là những cơ hội cho việc thiết lập các rừng công nghiệp sử dụng
các loài cây nhập nội sinh trưởng nhanh hơn và có giá trị kinh tế cao hơn so với thảm
thực vật gốc
- Khôi phục (restoration): hiểu một cách chính xác về mặt lý thuyết thì khôi phục
lại một khu rừng bị suy thoái (rừng nghèo) là đưa khu rừng đó trở về nguyên trạng ban
đầu của nó Đưa về nguyên trạng bao gồm cả các thành phần thực vật, động vật và toàn
bộ các quá trình sinh thái dẫn đến sự khôi phục lại hoàn toàn tính tổng thể của hệ sinh
thái
Trang 11Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
- Phục hồi (rehabilitation): khái niệm phục hồi rừng được định nghĩa như là gạch
nối (trung gian) giữa cải tạo và khôi phục Trong trường hợp này, một vài cố gắng có
thể được thực hiện để thay thế thành phần dễ thấy nhất của thảm rừng gốc, đó thường là
tầng cây cao bao gồm cả các loài bản địa được thay thế bằng các loài có giá trị kinh tế
và sinh trưởng nhanh hơn
Ngoài ba nhóm hành động này, việc phục hồi rừng còn bao gồm:
- Trồng rừng (afforestation): trồng rừng được hiểu là sự chuyển đổi từ đất không
có rừng thành rừng thông qua trồng cây, gieo hạt thẳng hoặc xúc tiến tái sinh tự nhiên
(Smith, 2002)
Trồng lại rừng (reforestation): Là hoạt động trồng rừng trên đất không có rừng do
bị mất rừng trong một thời gian nhất định
Sự khác nhau giữa trồng lại rừng và trồng rừng nằm ở thời gian không có rừng
của đối tượng (đất trồng rừng), hoạt động trồng rừng ở đối tượng có thời gian rất lâu
không phải là rừng thì gọi là trồng rừng; còn hoạt động đó trên đối tượng mới không có
rừng trong thời gian ngắn thì gọi là trồng lại rừng Trong nhiều trường hợp, trồng rừng,
trồng lại rừng được hiểu đồng nghĩa với sự cải tạo (hay là sự thay thế) Theo chúng tôi
thì nên hiểu cải tạo rừng là hoạt động thay thế rừng nghèo kiệt thành rừng trồng có năng
suất cao hơn, còn trồng rừng và trồng lại rừng là hoạt động gây lại rừng trên đất trống
đồi núi trọc
Phục hồi rừng có thể được giải thích như một phương pháp phối hợp giữa các
hoạt động thay thế, phục hồi và khôi phục Hoạt động phục hồi có thể thay đổi tuỳ thuộc
vào mục đích, điều kiện của đối tượng (rừng nghèo) và rừng mong muốn đạt đến
1.1.3.2 Lược sử hình thành và phát triển của các biện pháp kỹ thuật phục hồi
rừng
Cùng với sự phát triển của nền lâm sinh học nhiệt đới các nhà lâm sinh đã không
ngừng nỗ lực để tìm một hướng đi an toàn cho rừng mưa nhiệt đới Cùng với sự phát
triển đó phục hồi rừng là vấn đề có bề dày lịch sử Nó được đề cập tới rất sớm từ 100
Formatted: Level 1
Trang 12Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
năm nay trên nhiều lĩnh vực quản lý núi đồi, đồng cỏ, rừng và sinh vật hoang dã Philip
năm 1883 đã xuất bản cuốn phục hồi rừng Leopold (1935) đã nghiên cứu phục hồi 24
ha đồng cỏ Ông cho rằng hệ sinh thái phải được bảo vệ một cách hoàn chỉnh, quần thể
sinh vật phải ổn định và đẹp
Đến thập kỷ 50 thế kỷ 20 nhiều nhà khoa học châu âu, bắc Mỹ và Trung Quốc
đều chú ý đến vấn đề môi trường, xây dựng một loạt các công trình phục hồi và phòng
chống sự thoái hoá khoáng sản, đất và nước bằng cách áp dụng các biện pháp sinh vật
Farnworth (1973) đã nêu ra phương hướng nghiên cứu phục hồi rừng mưa nhiệt đới
Nhiều hội nghị ở Mỹ năm 1975 đã đưa ra các biện pháp kỹ thuật, kế hoạch nghiên cứu
liên quốc gia về vấn đề này
Nhưng phục hồi hệ sinh thái rừng đã trở thành vấn đề nóng bỏng từ thập kỷ 80
của thế kỷ 20 Năm 1980 Cairn chủ biên cuốn “ Quá trình phục hồi hệ sinh thái bị tổn
thất” 8 nhà khoa học đã tham gia biên soạn nhiều vấn đề về sự tổn thất hệ sinh thái và
các biện pháp khắc phục Năm 1985 thành lập một hiệp hội khoa học phục hồi hệ sinh
thái quốc tế Lĩnh vực khoa học này đã bắt đầu từ đó Từ năm 1990 nhiều tác phẩm về
phục hồi hệ sinh thái của Peng Weilin đã được xuất bản
Do sự suy thoái rừng có rất nhiều mức độ nên các hoạt động phục hồi rừng cũng
rất đa dạng, điều này phụ thuộc vào hiện trạng của rừng khi tiến hành phục hồi Trong
lâm sinh nhiệt đới các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng rất đa dạng nhưng cơ sở xuyên
suốt của các biện pháp đó là việc vận dụng tái sinh tự nhiên hay nhân tạo hay sự vận
dụng cả hai hình thức tái sinh này phụ thuộc vào từng quốc gia, từng lập địa cụ thể
Có rất nhiều cách đưa ra lí do cần phải trồng rừng Năm 1944 Tansley đưa ra “giả
thuyết về diễn thế gia tốc”: ở các khu rừng mưa không phải là đâu đâu cũng có thể áp
dụng được những kĩ thuật tái sinh tự nhiên Tại một số nơi, có những diện tích rừng
rộng lớn đã bị phá huỷ do các cách khai thác cạn kiệt hoặc do canh tác tạm thời, trên
những lập địa như thế còn phải trải qua những thời gian dài thì diễn thế tự nhiên mới
sản sinh được những lớp rừng gỗ kinh tế và trồng rừng là phương sách đẩy nhanh quá
Trang 13Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
trình diễn thế đó Trong lịch sử có một số kiểu trồng rừng được áp dụng để khôi phục
rừng ở các nước nhiệt đới như sau:
- Trồng rừng kiểu Taungya (Psyllid):
Taungya có nguồn gốc từ Miến Điện và là một trong các đóng góp chủ yếu của
nhiệt đới cho nền lâm học thế giới Danh từ “taungya” có nghĩa là canh tác trên đồi núi
có tính chất tạm thời, hay nói cách khác là trồng trọt du canh, và cơ sở của trồng rừng
kiểu taungya là lợi dụng những người trồng trọt du canh để trồng nên những quần thể
rừng non sau khi những người trồng trọt bỏ lại đất không canh tác nữa
Kiểu Taungya đã được sử dụng chủ yếu ở các khu vực rừng nhiệt đới, có tính
chất phân mùa, nhưng nó vẫn được áp dụng ở các khu vực rừng mưa với một quy mô
không nhỏ Chẳng hạn như ở Ấn Độ (Krishnaswamy, 1952), Pakixtan (Ghani, 1957),
Công gô Kinsaxa (sở lâm nghiệp Công gô, 1958), và Nijerya (Redhead, 1960) Ở khu
Mayumbe của Công gô, người ta đã sử dụng một phương thức giống với taungya để
trồng chuối đưa ra thị trường bán lấy tiền
- Trồng dặm dưới tán kiểu quảng canh ( Extensive Enrichment Planting)
Thuật ngữ “trồng dậm dưới tán” bao hàm việc trồng các cây con vào trong rừng,
và trước khi cây con mọc lên vững vàng thì rừng càng ít phải chịu đựng sự can thiệp
càng tốt Trồng dậm dưới tán kiểu quảng canh được áp dụng nhiều ở các khu vực nói
tiếng Pháp tại Châu Phi Năm 1949 qua điểm lại các kết quả thu được trong trồng rừng
kiểu quảng canh, Brasnett đã kết luận rằng cách trồng dặm dưới tán đem lại một phương
pháp để tái sinh từng phần, hoặc để tăng tỷ lệ có giá trị loài cây ở nơi nào mà: 1) sự tái
sinh tự nhiên bị thiếu hụt và không thể thúc đẩy được một cách thích đáng; 2) có ít cây
có thể bán được đến mức là chăm sóc những đám cây tái sinh tự nhiên nằm rải rác thì
tổn phí còn đắt hơn là rừng có thể bù đắp được; 3) nơi nào mà không thấy có mặt loài
cây có giá trị
- Trồng dậm dưới tán kiểu thâm canh (Intensive Enrichment Planting)
Trang 14Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Khác hẳn với trồng rừng dưới tán kiểu quảng canh, kiểu trồng dậm dưới tán kiểu
thâm canh yêu cầu phải chăm sóc cho toàn bộ quần thể sau khi trồng Trồng rừng dưới
tán kiểu thâm canh nhằm thiết lập một quần thể có trữ lượng đầy đủ, nhưng đồng thời
cũng lợi dụng bất kì lớp cây tái sinh hợp yêu cầu nào có thể có mặt trong khoảnh trồng
cây, nói chung là trồng dậm dưới tán được áp dụng ở nơi nào mà lớp cây tái sinh này
thiếu hụt Kiểu trồng này đã được áp dụng ở nhiều nơi và vào nhiều thời điểm khác
nhau và thường đem lại kết quả rất thoả đáng Ở New South Wales, phương pháp này
đã được dùng để tạo ra một số các rừng trồng cao tuổi nhất và thành công nhất với loài
Araucaria cunninghamii, phương pháp này đã được dùng ở Xây lan (Holmes 1956 – -
1957 ), Ấn Độ (Krishnaswamy, 1952), Puectô Ricô và Malaysia
- Trồng rừng không tàn che bằng lao động trả công (Open Plantation by Direct
labour)
Kiểu tái sinh nhân tạo chủ yếu sau cùng được áp dụng ở các khu vực rừng mưa là
xây dựng những rừng trồng không tàn che bằng lao động trả công, ngược lại với cách
xây dựng các rừng này theo kiểu taungya Cách làm này là sử dụng một loạt loài cây
khác nhau, dưới những điều kiện biến đổi khác nhau Người ta đã lựa chọn rất nhiều
loài cây - Pinus radiata ở Tân Tây Lan, Araucaria spp ở Queensland và Tân Ghinê,
Tectona và Pinus spp Ở một số nơi tại Indonesya, Pinus caribaea ở Xurinam, …Kĩ
thuật này đại diện cho hình thức lâm sinh mang tính chất thâm canh nhất đã được tiến
hành và cũng là hình thức tốn nhất nhìn về số vốn phải bỏ ra, nhưng nó đã chứng tỏ là
đem lại lợi nhuận ở mức cao
Bên cạnh việc vận dụng tái sinh nhân tạo, việc vận dụng tái sinh tự nhiên cũng
diễn ra rất mạnh mẽ ở các khu vực rừng mưa trong việc phục hồi lại hệ sinh thái rừng
Nó được biểu hiện thông qua các hệ thống kỹ thuật lâm sinh gần với tự nhiên được áp
dụng ở các nước nhiệt đới hay chính là một số phương thức khai thác đảm bảo tái sinh
Những kỹ thuật này đại diện cho việc phục hồi lại rừng trong điều kiện còn hoàn cảnh
Trang 15Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
rừng, mục tiêu phục hồi còn gắn chặt với mục tiêu kinh tế từ gỗ của rừng Điển hình của
một số hệ thống kỹ thuật này là:
Ở Malayxia sau những năm 1940 - 1950 có phương thức rừng đều tuổi (MUS:
Malayan Uniorm System ) mà thực chất là một kiểu chặt trắng ở nhiệt đới MUS là một
kiểu chặt trắng của Malaysia ra đời và thực hiện rộng khắp ở những rừng cây họ Dầu
vùng đất thấp Phương thức này được dựa trên một tiền đề tái sinh của các loài cây
mong muốn đã có sẵn trên mặt đất rừng chưa khai thác MUS đòi hỏi những loài cây tái
sinh phải có khả năng thích ứng với sự giải phóng độ tàn che của tầng cây cao , đặc biệt
là sau khi khai quang tầng rừng giữa đồng thời phải giữ được độ che phủ của tầng lâm
hạ để khống chế cỏ dại Phương thức này được đánh giá là thành công ở vùng thấp Tuy
nhiên, khi xuất hiện cơ giới hoá trong khai thác , quá trình này đã làm tăng tổn hại cho
những cây còn lại Đồng thời, do nhu cầu về gỗ của Malaysia ngày càng cao dẫn đến
yêu cầu về khai thác rừng mạnh lên và đơn đ iệu hơn Trong một số năm gần đây , đất
rừng vùng thấp được chuyển sang mục tiêu sử dụng đất khác nêm MUS được mở rộng
tới những rừng cây họ Dầu ở trên núi cao hơn (Buschbacher, 1990) Tại những vùng
này MUS không thành công vì một số lý do:
- Địa hình, địa thế khó khăn
- Thiếu cây tái sinh mọc trên đất rừng trước khai thác
- Tái sinh hạt sau khai thác không chắc chắn vì thiếu nguồn giống
- Cây tái sinh bị chèn ép bởi các loài cây thứ yếu họ Cau d ừa, tre nứa v v
Sau thất bại này, ở Malaysia đã xuất hiện một vài biện pháp linh hoạt hơn nhưng
hiện chưa có cơ sở để đánh giá Ví dụ điển hình như phương thức chặt chọn Đây là
phương thức "chỉ thu hoạch những cây đã được lựa chọn" Xét về mặt lâm sinh, phương
thức này cố gắng giảm thiểu những tổn hại cho cây tái sinh trong lúc thu hoạch và xác
định chu kỳ khai thác hợp lý Hiện tại chu kỳ chặt của phương thức này là 25 - 35 năm
và lượng chặt tối thiểu là 32 cây/ha cho những cây có D1.3 50 cm ở những cây họ Dầu
và D1.3 45 cm cho các loài khác, (Thang & Tambong, 1990)
Formatted: Expanded by 0.4 pt
Trang 16Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Tại một quốc gia Nam Mỹ là Surinam có một thử nghiệm được tiến hành trong
vòng 17 năm giữa Trường Đại học Nông nghiệp Wagenigen (Hà Lan) và Trường Đại
học Tổng hợp Surinam hợp tác nghiên cứu xây dựng một phương thức điều chế có tên
gọi là "phương thức điều chế Celos " (CMS*
) Mục tiêu lâm sinh của CMS là tái sinh những loài cây mục đích , thúc đẩy sinh trưởng của những loài mong muốn và duy trì
cân bằng sinh thái quần thể nhằm giữ ổn định sản lượng bằng cách duy trì rừng càng
giống giai đoạn tự nhiên càng tốt Một điểm được nhấn mạn h là mục tiêu xử lý lâm
sinh có thể làm mất cân đối tỷ lệ các loài phi mục đích nhưng không tiêu diệt hẳn
chúng Ưu điểm nổi bật của CMS là bảo toàn đ ược cấu trúc rừng có hầu hết các cấp
tuổi, tạo ra được cách lựa chọ n trong điều chế rừng Những xáo trộn trong rừng được
hạn chế và dự trữ dinh dưỡng khoáng trong sinh khối chỉ bị vi phạm một phần trong
những tác động bắt buộc
Vẫn còn một số hệ thống biện pháp nữa sử dụng phương pháp lâm sinh để xúc
tiến tái sinh phục hồi lại rừng mà đã được G Baur [32] tổng kết khá đầy đủ trong tác
phẩm “Cơ sở sinh thái kinh doanh rừng mưa” Tuy nhiên, các phương pháp này được
xây dựng là do sự nhiệt tình và kinh nghiệm của các nhà lâm sinh nhiệt đới, chứ không
phải được xây dựng trên cơ sở các thí nghiệm có đối chiếu so sánh, cho nên đã có
những bài học thất bại ở một số nước Do vậy, khi áp dụng những kỹ thuật này cho một
vùng nào đó cần có những thăm dò, thử nghiệm và những điều chỉnh trước khi đưa vào
áp dụng một cách rộng rãi
1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Trần Ngũ Phương (1970) đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực
vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng
miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1965 rừng tự nhiên có nhiều tầng, khi tầng trên già
Formatted: Expanded by 0.2 pt
Formatted: Level 1
Trang 17Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp thay thế…trong mỗi chuỗi diễn thế tự nhiên
như vậy, số lần thay thế tối đa cũng chỉ có thể là 3, vì rừng nhiều tầng tối đa cũng chỉ có
thể có 3 tầng cây gỗ [26]
Thái Văn Trừng (1978) đã tiến hành phân chia thực vật rừng nhiệt đới thành 5
tầng: tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B)
và tầng cỏ quyết (C) Thái Văn Trường đã cải tiến và bổ sung phương pháp biểu đồ mặt
cắt đứng của Davit - Richards để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây
bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với tỷ lệ nhỏ hơn và ghi ký hiệu thành phần loài cây
của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và hậu vận cùng biểu đồ khí hậu, vị trí
địa lý và địa hình [30]
Trong những năm gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu định lượng về cấu
trúc rừng, nổi bật là các công trình của các tác giả: Đồng Sĩ Hiền (1974), Nguyễn Hải
Tuất (1975) ….Theo Đồng Sỹ Hiền (1974): “Tổng thể những cây hình thành một
khoảng rừng thuần nhất nhiều hay ít Vì thế trong thực tiễn, rừng tự nhiên nhiệt đới
nước ta, những cây dù khác loài, khác tuổi mọc thành rừng nghĩa là cùng nhau sinh
trưởng trên một diện tích nào đó với mật độ nhất định, hình thành một đơn vị sinh vật
học, một lâm phần có quy luật nhất định”
Phân bố số cây theo cỡ đường kính (N-D1.3)
Với rừng tự nhiên hỗn giao khác tuổi theo Đồng Sĩ Hiền (1974) cho thấy, dạng
tổng quát của phân bố N-D là phân bố giảm, nhưng do quá trình khai thác chọn thô
không theo quy tắc, nên đường thực nghiệm thường có dạng hình răng cưa và ông đã
chọn hàm Mayer để mô phỏng quy luât cấu trúc đường kính cây rừng, Nguyễn Hải Tuất
(1986) sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân bố thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay
sát cỡ đường kính bắt đầu đo [8], [24]
Bảo Huy (1993) đã thử nghiệm 4 dạng hàm cho từng loài ưu thế, Bằng lăng, Căm
xe, Kháo, Chiêu liêu ở rừng rụng lá và nửa rụng lá Bằng lăng khu vực Tây Nguyên đã
kết luận hàm phân bố khoảng cách thích hợp hơn các dạng phân bố khác [2]
Trang 18Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Trần Văn Con (1991), Lê Minh Trung (1991)….cho rằng hàm Weibull là thích
hợp hơn cả Theo Đào Công Khanh (1996) dạng tần số tích lũy thích hợp vì biến động
của đường thực nghiệm này nhỏ rất nhiều so với biến động số cây hay phần trăm số cây
ở các cớ kính [25], [9]
Việc nghiên cứu phân bố số cây theo cỡ kính N-D1.3 trong những năm gần đây
không chỉ phục vụ cho công tác điều tra như xác định trữ lượng lâm phần, tổng tiết diện
ngang, mà còn xây dựng cơ sở khoa học cho các giải pháp kỹ thuật lâm sinh trong nuôi
dưỡng, làm giàu rừng
Phân bố số cây theo cỡ chiều cao (N-H)
Theo nghiên cứu của Đồng Sỹ Hiền (1974) cho thấy, phân bố số cây theo chiều
cao (N/H) ở các lâm phần tự nhiên hay trong từng loài cây thường có nhiều đỉnh, phản
ánh kết cấu phức tạp của rừng chặt chọn Thái Văn Trừng (1978) [30] trong nghiên cứu
của mình đã đưa ra các kết quả nghiên cứu cấu trúc của tầng cây gỗ rừng loại IV Bảo
Huy (1993), [2] Đào Công Khanh (1996) [9]….các tác giả đều nhận xét chung là phân
bố N-H có dạng đường cong một đỉnh và nhiều đỉnh phụ hình răng cưa, mô tả bằng hàm
Weibul là thích hợp hơn cả
Tóm lại, các nghiên cứu về cấu trúc rừng thường mô hình hóa các quy luật kết
cấu lâm phần, và đề xuất các biện pháp tác động vào lâm phần nhưng lại ít hoặc chưa
chú ý đến các vấn đề sinh thái nên phần nào chưa đáp ứng được mục tiêu quản lý rừng
ổn định, lâu dài
1.2.2 Tái sinh rừng tự nhiên
Rừng nhiệt đới Việt Nam mang đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung
nhưng do bị tác động của con người nên nhưng quy luật tái sinh bị thay đổi
Khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác rừng, Phùng Ngọc Lan (1964)
đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn
Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm
[23]
Formatted: Level 1
Trang 19Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Trần Ngũ Phương (1965) kết luận: “ Trong quá trình một tầng nào đó của rừng
bắt đầu già cỗi thì tầng ấy đã chuẩn bị cho bản thân nó một lớp cây con tái sinh để sau
này sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong”, tác giả cũng rút ra các quy luật tái sinh tự
nhiên này biểu hiện không điều, khi có khi không, chỗ thưa chỗ dày, chỗ tốt, chỗ không
tốt như vậy mô phỏng theo thiên nhiên một cách thông minh và mô phỏng theo phương
pháp nhân tạo, làm như vậy, cấu trúc phân tầng của rừng luôn luôn đảm bảo về lượng
cũng như về chất [26]
Theo Vũ Đình Huề (1969) từ các kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở rừng miền
Bắc Việt Nam dựa vào mật độ tái sinh, Ông đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5
cấp, rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu Ông đã tổng kết: “Dưới tán rừng nguyên
sinh, tổ thành tầng cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ, dưới tán rừng thứ sinh tồn tại
nhiều loài cây gỗ kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo
nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng” Tác giả cũng đã xây dựng
biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho những đối tượng rừng lá rộng miền Bắc
Khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978) đã nhấn
mạnh tới ý nghĩa của điều kiện ngoại cảnh đến các giai đoạn phát triển của cây tái sinh
[30]
Nguyễn Văn Trương (1983) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc rừng với
lớp cây tái sinh tự nhiên trong rừng hỗn loài đã rút ra kết luận: Muốn cho rừng phát
triển liên tục trong điều kiện quy luật đào thải tự nhiên hoạt động rõ ràng lớp cây dưới
phải nhiều hơn lớp cây kế tiếp nó ở phía trên Điều kiện này không thực hiện được trong
rừng tự nhiên ổn định mà chỉ có trong rừng chuẩn sự tái sinh liên tục đã có sự điều tiết
khéo léo của con người [15]
Nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh của rừng tự nhiên ở Hữu Lũng – Lạng
Sơn và vùng Ba Chẽ - Quảng Ninh, Vũ Tiến Hinh (1991) nhận xét: Hệ số tổ thành tính
theo phần trăm số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên hệ chặt chẽ Đa phần các
Trang 20Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ thành của tầng cây tái sinh của
những loài cây đó cũng tăng theo [31]
Nghiên cứu sự biến động về mật độ và tổ thành loài cây trong các trạng thái thực
bì ở Quảng Ninh, Nguyễn Thế Hưng (2003): Trong lớp cây tái sinh tự nhiên ở rừng non
phục hồi thành phần loài cây ưu sáng cực đoan giảm nhường chỗ cho nhiều loài cây ưu
sáng sống định cư và có đời sống dài chiếm tỷ lệ lớn, thậm chí trong tổ thành cây tái
sinh đã xuất hiện một số loài cây chịu bóng sống dưới tán rừng như: Bứa, Ngát…sự có
mặt với tần số khá cao của một số loài cây ưa sáng định cư và một số loài cây chịu bóng
là dấu hiệu chuyển biến tích cực của diễn thế rừng Theo tác giả, khả năng tái sinh tự
nhiên của các trạng thái thực vật có liên quan nhiều đến độ che phủ, mức độ thoái hóa
của thảm thực vật, phương thức tác động của con người và tổ thành loài trong quần xã
[17]
Thảo luận, những kết luận từ các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và
ngoài nước có thể sử dụng để tham khảo cho những đề xuất biện pháp kỹ thuật tác động
vào rừng khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành thành phần thực vật thân gỗ tại khu
vực nghiên cứu
1.2.3 Nghiên cứu về phục hồi
1.2.3.1 Quan điểm nhận thức về phục hồi rừng
Quá trình hình thành nên rừng thứ sinh (Secondary forest) do diễn thế thứ sinh
(Secondary succession) ở nơi đã bị mất rừng là phục hồi rừng
Theo tác giả Trần Đình Lý (1995) [27], phục hồi rừng là một quá trình sinh địa
phức tạp gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ
(hoặc tre nứa) bắt đầu khép tán Nói một cách khác, phục hồi rừng là quá trình tái tạo lại
một hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu,
nó chi phối các quá trình biến đổi tiếp theo
Chỉ tiêu định lượng xác định rừng non thứ sinh phục hồi đối với rừng gỗ sử dụng
quan điểm của Trần Đình Lý (1995) [28] là: độ tàn che của cây gỗ có chiều cao từ 3m
Formatted: Level 1
Trang 21Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
trở lên đạt 0,3 Đối với rừng vầu, nứa theo tiêu chuẩn tại điểm c mục 2 điều 7 quy phạm
QPN 21-98 [4] độ che phủ đạt trên 80%, nhưng điểm bổ sung là độ che phủ tính cho cả
vầu, nứa và cây gỗ hỗn giao
Như vậy, phục hồi rừng là một quá trình bao gồm nhiều các biện pháp kỹ thuật
lâm sinh áp dụng liên hoàn nhằm mục đích thiết lập lại hệ sinh thái rừng, những hiểu
biết này được biểu hiện qua quá trình lịch sử hình thành các biện pháp kỹ thuật phục hồi
rừng được trình bày ở phần sau
1.2.3.2 Lược sử hình thành và phát triển của các biện pháp kỹ thuật phục hồi
rừng
Trước thực trạng diễn biến tài nguyên rừng như vậy , từ những năm đầu tiên của
thập kỷ 70, Tổng cục Lâm nghiệp đã ban hành một qui trình kỹ thuật rất nổi tiếng lúc đó
là qui trình "Tu bổ rừng" Đây là một giải pháp lâm sinh học được xây dựng dựa trên cơ
sở tổng kết những kinh nghiệm phục hồi rừng sau khai thác ở các Lâm trường quốc
doanh phía Bắc Bởi vậy, tu bổ rừng lúc đó được đánh giá là giải pháp kỹ thuật có tính
"thực tiễn" cao
Đối tượng tác động là rừng thứ sinh nghèo Đây là đối tượng được hình thành bởi
nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng tu bổ rừng nhấn mạnh vào đối tượng rừng tự nhiên
sau khai thác chọn thô Tu bổ rừng phải là một hệ thống các biện pháp kỹ thuật bởi vì
rừng sau khai thác chọn ở cường độ cao cấu trúc bị xáo trộn, quá trình phục hồi lại phải
trải qua những giai đoạn với những biến đổi phức tạp về thành phần loài cây , hình thức
tái sinh v.v Do vậy, sẽ không có một biện pháp kỹ thuật lâm sinh đơn lẻ nào đáp ứng
được tính phức tạp của quá trình phục hồi đó Hơn nữa, quá trình phục hồi rừng chịu sự
chi phối tổng hợp của các nhân tố ngoại cảnh Bởi vậy, các biện pháp kỹ thuật phải
được tác động một cách "tổng hợp" mới đáp ứng được nhu cầu của cây rừng trong qua
trình phục hồi Tính "liên hoàn" trong kỹ thuật tu bổ rừng thể hiện ở hai yếu tố : liên tục
giải quyết những mâu thuẫn trong quá trình phục hồi rừng và quá trình giải quyết những
mâu thuẫn đó được lặp đi, lặp lại nhiều lần
Formatted: Level 1
Trang 22Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Tu bổ rừng được đánh giá là giải pháp kỹ thuật lâm sinh rất có hiệu quả nhằm xúc
tiến tái sinh phục hồi rừng Bởi vì, những tác động kỹ thuật của nó được dựa trên một
thực tế là nếu biết tác động đúng qui luật , rừng sẽ "hoàn trả lại " cái chúng đã bị mất
Nhược điểm cơ bản của kỹ thuật này là thời gian và đầu tư trong những năm "tu bổ" kéo
dài Mặt khác, mục tiêu của tu bổ rừng là đúng nhưng trong kỹ thuật có nội dung "chặt
hết cây bụi thảm tươi " là không đúng vì trái với qui luật tự nhiên Có lẽ đây là một trong
những lý do dẫn đến biện pháp kỹ thuật này bị bãi bỏ
Cũng trong khoảng thời gian của những năm 1970 ý tưởng "khoanh núi nuôi
rừng" đã xuất hiện và về sau này từng bước ý tưởng đó được hoàn thiện và được áp
dụng phổ biến cho đến nay thông qua "kỹ thuật phục hồi rừng bằng khoanh nuôi " giải
pháp này được hiểu là sự "tận dụng triệt để khả năng tái sinh và diễ n thế rừng tự nhiên
để tạo lại rừng thông qua các biện pháp ngăn chặn có tính chất hành chính các tác động
từ bên ngoài như khai thác , chặt phá, chăn thả, lửa rừng v v " (Qui phạm tạm thời về
các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất Bộ Lâm nghiệp, năm 1988)
Theo cách định nghĩa này phục hồi rừng bằng khoanh nuôi thực chất là một giải pháp
kinh tế - xã hội trong đó bao hàm ý nghĩa lâm sinh học ở chỗ phải xác định được
tiêu chuẩn và điều kiện cho khoanh nuôi Khi phân tích tiêu chuẩn khoanh nuôi
rừng, Nguyễn Luyện (1993) có đưa ra 3 nội dung:
- Tiêu chuẩn về điều kiện tự nhiên
- Tiêu chuẩn về điều kiện sinh vật học
- Tiêu chuẩn về điều kiện kinh tế - xã hội
Trong 3 tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn về kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn khó xác định
nhất
Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi là một biện pháp ít chi phí nhưng mang lại lợi
ích kinh tế và lợi ích sinh thái cao, đặc biệt là phục hồi tính đa dạng sinh học của rừng
Đây còn là biện pháp áp dụng cho những nơi không có điều kiện áp dụng các giải pháp
kỹ thuật, cho những nơi có địa hình khó khăn, những nơi không có kinh phí đầu tư để
Formatted: Expanded by 0.3 pt
Trang 23Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
phục hồi rừng, … Tuy nhiên, nhược điểm của giải pháp này là thời gian cho khoanh
nuôi phục hồi rừng nên là bao nhiêu và nếu qua khoảng thời gian nhất định rừng không
phục hồi được theo ý muốn sẽ xử lý như thế nào?
"Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung " là tên
gọi đầy đủ cho một giải pháp tổng hợp về kỹ thuật kinh tế xã hội mới được Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành (QPN 21 - 98) Điều 2 của qui phạm này định
nghĩa "khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung tro ng qui phạm này được
hiểu là một giải pháp lợi dụng triệt để khả năng tái sinh , diễn thế tự nhiên để phục hồi
rừng thông qua các biện pháp bảo vệ, biện pháp kỹ thuật lâm sinh và trồng bổ sung cần
thiết"
Đối tượng áp dụng của giải pháp này là đất lâm nghiệp đã mất rừng Quá trình tái
sinh ở đây là “Bằng mọi cách để thu được tái sinh” Như ta đã biết Tái sinh luôn là một
mắt xích quan trọng, một khâu yếu nhất trong các phương thức lâm sinh Việc xúc tiến
tái sinh ở đây bao gồm cả hai , xúc tiến tái sinh tự nhiên và tái sinh nhân tạo (trồng bổ
xung) Như vậy, QPN 21 - 98 đã khắc phục được nhược điểm của qui phạm tạm thời
1998 và QPN 14 - 92 Trong qui phạm trước đây, khoanh nuôi phục hồi rừng được hiểu
theo nghĩa thụ động "chỉ cần bảo vệ mà không cần có tác động kỹ thuật trực tiếp " Yếu
tố con người ở đây chưa thể hiện rõ vai trò tích cực , nó hạn chế việc nghiên cứu để tìm
ra những tác động th úc đẩy một cách hữu hiệu quá trình tái tạo lại rừng trong một
khoảng thời gian xác định Nhưng ở QPN 21 - 98 có quy định rất rõ thời gian và tiêu
chuẩn cho từng đối tượng cần phục hồi Qua đó, đưa ra mục tiêu cụ thể cần phải đạt
được cho từng loại rừng trong một khoảng thời gian xác định
1.2.3.3 Nghiên cứu về khoanh nuôi và phục hồi rừng
Vào những năm 50 - 60 của thế kỷ trước vấn đề phục hồi rừng ở nước tra đã được
đặt ra với thuật ngữ ban đầu của nó “Khoanh núi nuôi rừng” Tuy nhiên vào các thập kỷ
tiếp theo lâm nghiệp việt nam lại đi theo các hướng trọng tâm khác nhau dẫn đến việc
“khoanh núi nuôi rừng” vẫn chỉ là một khẩu hiệu mặc dù cũng đã được đưa thành một
Formatted: Level 1
Trang 24Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
nội dung trong giáo trình môn lâm học giảng dạy cho sinh viên Lâm nghiệp khoá đầu
tiên, nhưng ngay cả khái niệm phạm vi đặt ra như thế nào? đối tượng là gì và ở đâu?
cũng chưa được định rõ Mãi đến giữa những năm 80 cái được gọi là “khoanh núi nuôi
rừng” mới được định hình và chuyển hướng theo cụm thuật ngữ mới là: “ phục hồi rừng
khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” hay “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng” Sự
chuyển hướng đó được chú ý bằng 2 đề tài nghiên cứu thuộc chương trình cấp Nhà
nước đó là:
+ Nghiên cứu phân loại đối tượng và đề xuất biện pháp phục hồi rừng bằng
khoanh nuôi, xúc tiến, tái sinh vùng lưu vực Sông Đà, chương trình lâm nghiệp tổng
hợp, mã số 04.01, giai đoạn 1986-1990
+ Trần Đình Lý và các cộng sự (1996) [27] Nghiên cứu xác định diện tích và hệ
thống biện pháp kỹ thuật cho việc khoanh nuôi phục hồi rừng Nghiên cứu đưa ra một
cách nhìn hệ thống và toàn diện về biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi phục hồi rừng Với
việc phân biệt rõ ràng giữa rừng và thảm thực vật, nghiên cứu đưa ra khái niệm khoanh
nuôi phục hồi rừng là “quá trình lợi dụng triệt để quy luật tái sinh và diễn thế tự nhiên
với sự can thiệp hợp lý của con người nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi lại rừng trong
một thời gian xác định theo mục đích đặt ra” Qua cách nhìn nhận đó xác định được đối
tượng cụ thể cho khoanh nuôi phục hồi rừng Xác định thời gian khoanh nuôi và tiêu
chuẩn cần đạt của rừng khoanh nuôi Xác định được nội dung công việc cần tiến hành
trong quá trình khoanh nuôi ở các mức độ khác nhau Nghiên cứu đã xây dựng được
bản quy phạm cho khoanh nuôi phục hồi rừng và xây dựng được danh lục sơ bộ gồm
155 loài cây bản địa có thể sử dụng cho việc khoanh nuôi và phục hồi rừng Đây là công
trình đầu tiên ở việt nam đề cập một cách hệ thống từ cơ sở khoa học đến quy phạm
khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt nam Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc xây
dựng quy phạm chưa xây dựng được quy trình khoanh nuôi cụ thể cho từng vùng và từng
loại hình rừng cụ thể
Trang 25Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Bên cạnh các đề tài đó có đề tài cấp cơ sở điều tra khảo sát hoặc nghiên cứu thí
nghiệm một số vấn đề có liên quan cũng được xúc tiến ở nhiều địa phưong như:
- Nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên thảm thực vật rừng và ứng dụng
phương thức khoanh nuôi phục hồi rừng ở Quảng Ninh (ĐHLN, 1993)
- Khả năng tái sinh diễn thế, quá trình sinh trưởng và phát triển của thảm thực vật
trên đất rừng thứ sinh sau nương rẫy tại Kon Hà Nừng (Viện STTNSV, 92)
- Đặc điểm sinh thái Lâm học rừng cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) ở Đông Nam
Bộ và một số định hướng bảo vệ khôi phục rừng (Viện ĐTQHR, 1991-1995)
- Một số loài cây bản địa có thể sử dụng trong khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt
Cùng với sức ép ngày một bức bách của yêu cầu và thực tiễn sản xuất các kết quả
của sự chuyển hướng đó là những tiền đề quan trọng cho sự đổi mới của vấn đề tái sinh
phục hồi rừng Đầu những năm 90, kết quả của sự chuyển hướng đã được pháp lý hoá
thông qua 3 tiêu chuẩn ngành thể hiện sự đổi mới của vấn đề này
Các tiêu chuẩn đó là :
- Quy phạm các giải pháp kỹ thuật Lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre
nứa(QPN 14-92), ban hành theo Quyết định số 200/QĐ- KT ngày 31/3/1993 của Bộ
Lâm nghiệp
- Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ
sung (QPN 21- 98), ban hành theo QĐ số 125/QĐ/ BNN/KHCN ngày 04/11/1998 của
Bộ Nông nghiệp và PTNT
Formatted: Expanded by 0.3 pt
Trang 26Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
- Quy định tạm thời nghiệm thu khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh
kết hợp trồng bổ sung, trồng rừng và chăm sóc rừng trồng, ban hành theo QĐ số
162/1999/QĐ-BNN-PTLN ngày 10/12/1999 của BNN& PTNT
Sự đổi mới ấy vừa khẳng định tầm quan trọng và chỗ đứng không thể thiếu được
của việc tái sinh phục hồi rừng trong hệ thống các giải pháp kỹ thuật Lâm sinh, vừa
xác lập một số cơ sở kỹ thuật nhằm thúc đẩy sản xuất theo định hướng đó Nhưng
chưa dừng lại ở những thành quả đó vẫn có nhiều tác giả tiến hành những nghiên cứu
chuyên sâu về lĩnh vực phục hồi rừng
Trần Xuân Thiệp (1991) [29], nghiên cứu “Vai trò tái sinh phục hồi rừng tự nhiên
ở các vùng miền bắc” đề tài tập trung vào sự biến đổi về lượng, chất lượng của tái sinh
tự nhiên và rừng phục hồi Qua đó, đánh giá hệ quả của tái sinh và vị trí phục hồi trong
kết cấu rừng tự nhiên ở các vùng Công trình đánh giá vai trò phục hồi rừng tự nhiên
đối với diễn biến diện tích rừng hỗn loài cây lá rộng thường xanh ở các vùng rừng miền
Bắc, đưa ra căn cứ khoa học và bổ xung nhận thức về công tác khoanh nuôi phục hồi
rừng nghèo kiệt ở các vùng
Đỗ Hữu Thư, Trần Đình Lý, Lê Đồng Tấn (1994) [10] dựa vào các trạng thái thực
bì đã được phân chia trên cơ sở bảng phân loại của Loeschau (1966) và Quy phạm thiết
kế kinh doanh rừng của Bộ Lâm Nghiệp và theo phương pháp của Thái Văn Trừng đã
nghiên cứu các trạng thái thực bì kiểu IA, IB, IC, IIA, IIB đưa ra nhận xét, trong suốt
quá trình phục hồi tự nhiên thảm thực vật rừng trước khi đạt tới giai đoạn thuần thục,
thành phần loài và số lượng cây gỗ trên một diện tích nhất định có xu hương giảm dần,
đơn giản hoá để tái ổn định Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của quá trình tự phục hồi
thảm thực vật rừng, quy luật này biểu hiện chưa rõ ràng và có thể có những xáo trộn
Lê Đồng Tấn (1993 - 1999) [11] nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên một số
quần xã thực vật sau nương rẫy tại Sơn La theo phương pháp kết hợp điều tra ô tiêu
chuẩn 400m2
cho các đối tượng là thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy và theo dõi ô
định vị 2000m2 Tác giả kết luận: mật độ cây tái sinh giảm dần từ chân đồi lên đỉnh đồi
Formatted: Expanded by 0.2 pt
Trang 27Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Tổ hợp loài cây ưu thế trên ba vị trí địa hình và 3 cấp độ dốc là giống nhau Sự khác
nhau chính là hệ số tổ thành các loài trong tổ hợp đó
Nguyễn Văn Thông (2000) [16], đưa ra kết quả phục hồi rừng tự nhiên tại trung
tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh cầu hai - Phú thọ Qua đó tác giả đã đưa ra được
ưu nhược điểm của các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng được áp dụng ở trung tâm từ
những năm 1960 tới nay Tác giả kết luận có thể sử dụng cả 3 biện pháp: cải tạo rừng,
làm giàu và khoanh nuôi rừng để phục hồi rừng tự nhiên Biện pháp làm giàu rừng và
cải tạo rừng giải quyết được vấn đề về mật độ và tổ thành Tuy nhiên, nó lại có một số
hạn chế là làm thay đổi khá lớn và lâu phục hồi lại hoàn cảnh rừng cũng như lâu phục
hồi khả phòng hộ và khả năng cải thiện môi trường, đầu tư tốn kém, kỹ thuật gây trồng
phức tạp Khi thất bại do chọn loài cây, biện pháp gây trồng không hợp lý thì hậu quả sẽ
rất lớn Biện pháp khoanh nuôi rừng có ưu điểm là chi phí đầu tư thấp, triển vọng thành
rừng cao, nhanh phát huy tác dụng mọi mặt của rừng nhưng có nhược điểm chỉ thực
hiện ở các diện tích rừng có số lượng, chất lượng tái sinh tự nhiên đảm bảo Nghiên cứu
này đưa ra được các ưu nhược điểm của các biện pháp phục hồi rừng ở cầu hai nhưng
lại chưa đưa ra được phương hướng giải quyết khắc phục các nhược điểm đó một cách rõ ràng
Phạm Đình Tam (2001) [19], nghiên cứu khả năng tái sinh phục hồi rừng sau khai
thác tại Kon Hà Nừng Nghiên cứu tiến hành xác định cường độ khai thác hợp lý nhằm
thúc đẩy lượng tăng trưởng hàng năm của lâm phần, cải thiện chất lượng của rừng và
xúc tiến quá trình tái sinh tự nhiên Từ đó, xây dựng quy phạm khai thác đảm bảo tái
sinh áp dụng cho rừng lá rộng thường xanh Khai thác với cường độ 30 - 50% trữ lượng
rừng, số loài cây giảm đi từ 7 - 10 loài; tuy nhiên trong tổ thành vẫn còn nhiều loài kém
giá trị kinh tế cần chặt bỏ Ở cả hai cường độ khai thác 30 và 50% trữ lượng đều đảm
bảo cho lâm phần tăng trưởng cả về số lượng cây và trữ lượng rừng Sau 20 năm, lượng
tăng trưởng ở công thức khai thác 50% lớn hơn ở công thức khai thác 30% Tình hình
tái sinh tự nhiên ở công thức 50% có nhiều triển vọng hơn
Trang 28Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Phạm Xuân Hoàn (2002) [20] tiến hành nghiên cứu phục hồi rừng bằng cây bản
địa Nghiên cứu đã đưa ra được những cơ sở khoa học và thực tiễn cho kỹ thuật xử lý
lớp cây tạo môi trường ban đầu nhằm hỗ trợ và thúc đẩy sinh trưởng cho lớp cây bản
địa được trồng dưới tán rừng Thông và Keo Sử dụng các phương pháp xác định nhu
cầu ánh sáng cho cây bản địa nhằm đảm bảo độ tin cậy khi quyết định các chỉ tiêu kỹ
thuật khi xử lý tầng cây cao Việc xử lý tầng cây cao chỉ nên tiến hành hai lần bao gồm
cả tỉa thưa và tỉa cành dựa trên những chỉ tiêu cụ thể về nhu cầu ánh sáng theo các giai
đoạn sinh trưởng của cây bản địa ở thời kì tạo rừng và giai đoạn cây bản địa tạo tán Để
tăng sự đa dạng sinh học, không loại bỏ tầng cây bụi thảm tươi dưới tán rừng khi chúng
không cạnh tranh với cây bản địa và chăm sóc những cây tái sinh của các loài khác xuất
hiện Có thể coi sự có mặt của những cây tái sinh này như một tiêu chuẩn để đánh giá
thành công trong phục hồi rừng bằng cây bản địa
Phạm Ngọc Thường - 2003, [21] đề xuất một số giải pháp kĩ thuật lâm sinh phục
hồi rừng sau nương rẫy ở hai tỉnh Thái nguyên - Bắc Kạn trên một số mô hình Mô hình
khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, mô hình này có thời gian phục hồi 7 - 8 năm cho biết
được mật độ cây tái sinh và số lượng cây tái sinh có triển vọng/ha Nhưng công trình
này không đưa ra số liệu về kích thước cây tái sinh và không có mô hình đối chứng nên
chưa đánh giá được hiệu quả của khoanh nuôi tái sinh tự nhiên đến mức nào Mô hình
khoanh nuôi xúc tiến tái sinh trồng bổ xung cho biết cây trồng bổ xung có tỷ lệ sống
cao, sinh trưởng tốt nhưng lại không đề cập tới tình hình tái sinh như thế nào thông qua
biện pháp kỹ thuật lâm sinh do vậy nó vẫn chưa minh chứng được hiệu quả của mô
hình
Phạm Quốc Hùng (2005) [5] tiến hành đề tài “Đánh giá khả năng tái sinh phục
hồi rừng vùng Đông bắc Việt Nam” Nghiên cứu tập trung vào đối tượng rừng phục hồi
ở độ cao < 700m trong đất liền Đề tài đưa ra được đặc điểm lâm học và đặc điểm tái
sinh dưới tán rừng của các trạng thái rừng phục hồi Tuy nhiên, trong vấn đề nghiên cứu
Trang 29Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
về đặc điểm cấu trúc của rừng phục hồi đề tài chưa đưa ra được hàm số phù hợp để mô tả
tương quan chiều cao và đường kính của rừng phục hồi
1.2.3.4 Thống kê các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng
Như vậy, ta có thể tổng kết ở Việt Nam hiện nay có một số biện pháp kỹ thuật áp
dụng chính cho phục hồi rừng là:
Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ xung
Đây là một giải pháp sử dụng triệt để khả năng diễn thế tái sinh tự nhiên để phục
hồi rừng thông qua các biện pháp khoán bảo vệ, biện pháp kỹ thuật lâm sinh và trồng bổ
xung khi cần thiết Phạm vi áp dụng được cho cả ba loại rừng phòng hộ, đặc dụng và
sản xuất Đặc biệt, đã xác định rõ địa bàn áp dụng là nơi đã có quy hoạch sử dụng đất
chính thức và đã có chủ thực sự
Kỹ thuật làm giàu rừng
Làm giàu rừng được hiểu là một giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm cải thiện tỷ lệ
cây mục đích ở rừng nghèo mà không loại bỏ thảm rừng cũ và các cây non mục đích có
sẵn (Phạm Xuân Hoàn 2003) Mục đích của làm giàu rừng là tạo ra một lâm phần mới
với cây trồng làm giàu chiếm ưu thế được trồng hỗn giao với các loài cây có giá trị kinh
tế có sẵn trong thảm rừng cũ Đối tượng của làm giàu rừng là rừng nghèo kiệt thuộc
trạng thái IIIA1, có cấu trúc bị phá vỡ hoàn toàn; số lượng cây tái sinh mục đích không
bảo đảm về số và chất lượng Biện pháp kỹ thuật bao gồm: làm giàu rừng theo rạch và
làm giàu rừng theo đám
Cải tạo rừng
Cải tạo rừng là việc thay thế thảm thực vật gốc bằng một thảm thực vật hoàn toàn
mới có năng suất và chất lượng cao hơn thảm thực vật gốc Cũng tương tự như làm
giàu rừng, cải tạo rừng có thể dựa vào thảm thực vật cũ để điều chỉnh ánh sáng cho cây
trồng và cũng có thể để lại các cây có giá trị kinh tế của thảm rừng cũ Tuy nhiên điểm
khác nhau ở đây là cường độ và sự khác biệt giữa thảm thực vật rừng mới với thảm thực
vật cũ Trong làm giàu rừng thảm thực vật chỉ được bổ xung thêm các loài có giá trị
Formatted: Level 1
Trang 30Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
kinh tế, trong khi đó thì cải tạo rừng hầu như thay thế hoàn toàn thảm thực vật rừng cũ
Trong nhiều trường hợp cải tạo rừng còn đồng nghĩa với việc trồng rừng mới sau khi
khai thác thảm rừng cũ
Đối tượng của cải tạo rừng bao gồm các diện tích rừng nghèo kiệt thuộc kiểu rừng
và trạng thái rừng, tiềm năng tái sinh thấp, cây gỗ có chất lượng kém Có những khoảng
trống lớn trong rừng
Khai thác đảm bảo tái sinh
Bản chất của việc khai thác rừng là lấy ra khỏi rừng những thế hệ cây già cỗi bắt
chước quá trình chết đi tự nhiên để tác động sớm hơn nhằm tận dụng gỗ và tạo điều
kiện cho thế hệ cây tái sinh phát triển Vận dụng triệt để quy luật này quy chế khai thác
gỗ và lâm sản được ra đời theo quyết định số 02/1999 và bổ xung lại sửa đổi lại theo
quyết định 40/2005 Quy chế quy định từng đối tượng rừng khai thác ứng với từng luân
kỳ khai thác và cường độ khai thác kèm theo đó là cấp kính khai thác tối thiểu tùy theo
từng đối tượng kinh doanh rừng
Thảo luận
Tính đa dạng và phong phú của các điều kiện lập địa và các trạng thái rừng nghèo
kiệt của Việt Nam là căn cứ để đề xuất một cách tiếp cận phục hồi rừng Sự phân hóa về
khí hậu, các kiểu thảm thực vật hiện tại và các vùng đầu nguồn cho phép phân chia rừng
của Việt Nam thành các vùng sinh thái lâm nghiệp khác nhau, trong mỗi vùng cần có
những hệ thống biện pháp phục hồi khác nhau Ngoài những căn cứ trên trong thực tiễn
cần phải chú ý tới đặc điểm kinh tế xã hội của vùng, mỗi hệ thống biện pháp đều phải
tương thích với đặc điểm kinh tế xã hội để gắn chặt việc phục hồi rừng với mục tiêu
phát triển của từng địa phương Điều này cho thấy cần phải có những chính sách linh
hoạt tạo điều kiện cho việc thực hiện phục hồi rừng
Bên cạnh đó cũng cần phải có những cơ chế khai thác rừng một cách bền vững sử
dụng tối đa tiềm năng giá trị của rừng Cần có những nghiên cứu về Quản lý sử dụng
Trang 31Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
rừng bám chặt theo các quy luật sinh thái, cần kiểm soát đƣợc đầu ra đầu vào của hệ
sinh thái rừng, nhằm tạo lập và duy trì trạng thái cân bằng động của hệ sinh thái rừng
Phú Thọ mặc dù có diện tích rừng tự nhiên khá lớn nhƣng rất ít công trình nghiên
cứu về vấn đề này Vì vậy đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học, xác định một số biện
pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi tài nguyên rừng khu di tích lịch sử Đền Hùng tỉnh Phú
Thọ” Sẽ là một phần bổ sung thông tin nhằm có đƣợc các giải pháp tốt nhất việc nâng
cao chất lƣợng rừng và duy trì hệ sinh thái rừng ở Phú Thọ nói chung và ở khu di tích
lịch sử đền Hùng nói riêng
Trang 32Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Vị trí địa lý và địa hình
Khu di tích lịch sử Đền Hùng nằm trong vùng đất thấp phía Tây Bắc thành phố
Việt Trì thuộc địa phận xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, nằm trong
vùng tam giác công nghiệp Việt Trì - Bãi Bằng - Lâm Thao, cách thành phố Việt
Trì 12km, các thủ đô Hà Nội 80km về phía Tây Bắc
Theo quyết định 63/TTg ngày 8 tháng 2 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ Toàn
bộ khu di tích lịch sử Đền Hùng có tổng diện tích là 1.625ha, được chia thành 3 vùng:
- Vùng trung tâm và vùng bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 285ha chủ yếu thuộc xã
Hy Cương và xã Phù Ninh Khu trung tâm bao gồm núi Nghĩa Lĩnh, núi Vặn, hồ Lạc
Long Quân và một số gò đồi như Kinh Quy, Đồng Lềnh lớn, Đồng Lềnh bé, Cao Phầy,
Cầu Lồ, Cao Đô, Trọc lớn, Trọc bé, Phân Đậu, Phân Đăng, Phân Bùng, Hình Nhân,
Hóc Cọc, Núi Nỏn, Gò Cong, Gò Đốt, Gò Tròn, Đỗ Lưới
- Vùng đền có diện tích 1.340ha, gồm 05 xã: Hy Cương, Tiên Kiên, Chu Hoá (Lâm
Thao), Phù Ninh, Kinh Đức (Phù Ninh)
Formatted: Heading 1, Left, Line spacing: single
Formatted: Heading 1
Formatted: Level 1
Formatted: Expanded by 0.4 pt
Trang 33Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
* Về địa hình: Hầu hết các gò đồi trong khu vực đều thấp (chiếm 70-80% diện
tích) trừ hai núi Nghĩa Lĩnh và núi Vặn khá cáo và có độ dốc giao động trong khoảng
30-40 độ Đô cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Theo kết quả nghiên cứu của Trạm Nông hoá thổ nhưỡng Vĩnh Phú năm 1996 Khu
I và khu II của khu di tích lịch sử Đền Hùng thành các tiểu vùng theo các độ dốc sau:
- Độ dốc < 10 độ, có diện tích 28,53ha bao gồm đồi thấp và đất bồi tụ
- Độ dốc 10-15 độ, có diện tích 15,40ha bao gồm Hình Nhân, Phân Đăng, Phân
Bùng
- Độ dốc 15-20 độ, có diện tích 38,18ha bao gồm đền Giếng, Phân Trà, Công quán
- Độ dốc 20-25 độ, có diện tích 38,68ha bao gồm Trọc Bé, Cầu Lồ
- Độ dốc >25 độ, có diện tích 83,2ha bao gồm núi Đền, núi Vặn, Trọc lớn, Phân
Đậu
2.2 Điều kiện tự nhiên
2.2.1 Đặc điểm khí hậu
Theo tài liệu quan trắc của trạm khí tượng Việt Trì, khí hậu khu vực Đền Hùng
mang đặc tính chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam - thuộc khí hậu Á nhiệt đới gió
mùa Mốc năm có thể chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng bắt
đầu từ tháng 4 đến tháng 10, thường có mưa, chiếm 70-80% lượng mưa trong cả năm
Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thường mưa ít có gió lạnh
- Nhiệt dộ:
+ Nhiệt độ không khí trung bình năm là 23,1o
C
+ Nhiệt độ không khí trung bình tháng cao nhất là: 28,3oC vào tháng 6 và tháng 7
+ Nhiệt độ không khí trung bình tháng thấp nhất là 15,7o
Trang 34Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Hầu hết các tháng trong năm đều có nắng, tuy nhiên phân bố không đều: Số giờ
nắng nhiều nhất và nóng nhất tập trung vào tháng 4 đến tháng 10 (Mùa móng) Số giờ
nắng ít nhất tập trung vào tháng 1 đến tháng 3 (thuộc mùa lạnh) Tổng số giờ nắng trong
năm là 1.662 giờ
- Mây:
+ Số ngày trời nhiều mây nhất là tháng 3 (25,9 ngày)
+ Số ngày trời mây ít nhất là tháng 10 (10,7 ngày)
+ Tổng số ngày nhiều mây là 170 ngày
- Mưa:
+ Mưa chủ yếu vào mùa nóng, thỉnh thoảng có mưa đá Mưa cao nhất vào tháng
7,8 Tổng lượng mưa trung bình năm là 1.850mm
+ Lượng mưa trung bình tháng cao nhất là 382,5mm ( tháng 7)
+ Lượng mưa trung bình tháng thấp nhất là 24,9mm (tháng 12)
- Gío:
+ Gío bị phân hướng do điều kiện địa hình tự nhiên Gío chủ đạo trong khu vực là
Đông - Đông Nam và gió Tây Bắc với tần suất đáng kể
+ Tốc độ gió trung bình năm là 1,8m/s
+ Tốc độ gió trung bình tháng lớn nhất: 2,4m/s (tháng 4)
+ Tốc độ gió mạnh nhất: 40m/s (tháng 6)
2.2.2 Thuỷ văn
- Khu di tích lịch sử Đền Hùng có hệ thống ao hồ khá phong phú, dễ kiến tạo đặc
biệt có nhiều hồ vừa có tiềm năng thuỷ lợi vừa có giá trị cảnh quan và điều hoà khí hậu
như: hồ Gò Cong, hồ Lạc Long Quân, hồ đập Nhà Bìa, hồ Hóc Trai, hồ Nhà Chìa, hồ
In, hồ Nhà Nhen Nhưng mực nước hồ không ổn định, mùa khô mực nước giảm
- Các suối trong khu vực phát triển thành 2 hệ thống:
Bắt nguồn từ trung tâm uốn nếp đồi núi Hùng (núi Nghĩa Lĩnh) Trục uốn nếp đồi
núi Hùng là nét đường phân thuỷ từ dây hệ thống suối phía Tây đổ ra sông Hồng hướng
Formatted: French (France) Formatted: Level 1
Trang 35Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
chảy ĐB - TN, hệ thống suối phía Đông đổ ra sông Lô hướng chảy TN-ĐB, là suối hẹp
co dạng chữ U Độ dốc của suối tương đối thoải, tốc độ chảy chậm, phần lớn các suối
đều được cải tạo để sử dụng tưới tiêu
- Sông: có 2 con sông lớn, sông Lô cách Đền Hùng khoảng 6,5km về phía
Đông Bắc, sông Hồng (sông thao) cách Đền Hùng 5,5km về phía Tây Nam
- Về nguồn nước ngầm trong khu vực: Theo kết quả bản đồ địa chất thuỷ văn TL:
1/25000, trữ lượng nước ngầm mạch sâu ở đây hạn chế và phân bố không đều trong
vùng Nguyên nhân do vùng này kiến tạo núi trẻ, dưới sâu là đá gốc và granít không
chứa nước và thấm nước Vì vậy dừ kẹt giữa hai con sông, sông Hồng và sông Lô
nhưng ngầm mạch sâu vẫn rất ít, trữ lượng nước ngầm mạch nông cũng không lớn, khối
lượng thay đổi mãnh liệt theo mùa: Mùa mưa ở các vùng ruộng nước ngầm cách mặt đất
khoảng 0,5m, mùa khô xuống thấp cách mặt đất 5-7m Nguồn nước này chủ yếu sử
dụng cho nhu cầu nhỏ
2.2.3 Về thổ nhưỡng
Dựa vào nguồn gốc phát sinh của đất, theo tài liệu của trạm Nông hoá thổ nhưỡng
(Sở Nông nghiệp và PTNT Phú Thọ) khu vực Đền Hùng gồm 3 loại đất chính:
- Đất Feralit phát triển trên đá Gnai, chiếm diện tích khoảng 137,27ha (87,3%)
- Đất dốc tụ 5,09ha (2,3%)
- Đất Feralit xói mòn từ sỏi đá với diện tích 22,9ha (10,37%)
Do nguồn gốc của đá mẹ nên đa số diện tích đất đồi khu vực Đền Hùng có thành
phần cơ giới là thịt nhẹ hoặc thịt trung bình
Đất trong khu vực nghiên cứu đã bị phong hoá mạnh, tầng đất màu bị rửa trôi và
xói lở Diện tích đất bị xói mòn mạnh chiếm khoảng 54,82% Mức độ xói mòn phụ
thuộc vào độ dốc và có thể bị hạn chế nhờ lớp che phủ thực vật và phương thức canh tác
nông nghiệp của người dân Tuy nhiên, đất trong khu vực này thường thiếu nước vào
mùa khô
* Về lý tính: Đất xấu, tầng đất mỏng Đất Feralit/Gnai bao gồm:
Formatted: French (France), Expanded by 0.3 pt
Formatted: French (France)
Formatted: Level 1
Trang 36Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
- Dưới 70cm có khoảng 105,5ha
- Từ 70-120cm có khoảng 50,7ha
- Trên 120cm có khoảng 20,6ha
Loại đất Feralit/sỏi đá chiếm khoảng 23,0ha, có độ kết vón 30-60% có thể phân
vùng các loại đất như sau:
- Đất xấu, khô kiệt, kết cấu rời rạc, chai lỳ, chai cứng, không thuận lợi cho cây
trồng, phân bố tại đồi Trọc lớn, Trọc bé, Gò Lật, Phân Trà và một phần diện tích núi
Đền
- Đất có lý tính thuộc gò Hình Nhân và Phân Đăng
* Về hoá lý: Đất nghèo mùn, nghèo đạm, lân dễ tiêu nghèo đến rất nghèo, Ka li
tổng số và dễ tiêu từ nghèo đến trung bình Đất có độ chua cao, pHKCL từ 4,1-4,5
Chính phương thức canh tác của người dân ở đây đã dân tới đất càng ngày nghèo
chất dinh dưỡng do họ chỉ mới biết khai thác mà chưa có biện pháp tích cực nhằm cải
tạo và chống xói mòn đất
2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội - văn hoá
Phạm vị khu di tích lịch sử Đền Hùng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt có
tổng diện tích 1.625ha gồm 3 khu: Khu I và khu II là 285ha, khu III là 340ha
Khu I: Toàn bộ núi Nghĩa Lĩnh, gồm khu vực Đền và rừng nguyên sinh bao quanh
có diện tích 32ha Nơi đây được coi là đất phát tích, là cái nôi của dân tộc Việt Nam
Đây là khu Bảo tồn, tôn tạo di tích (còn gọi là vùng lõi khu Trung tâm)
Khu II: Vùng bảo vệ cảnh quan khu di tích có diện tích 253ha bao gồm khu vực I
Đây là khu chỉnh trang, xây dựng các công trình tưởng niệm, công trình văn hoá, du lịch
nhằm tôn tạo khu vực di tích và phục vụ yêu cầu lễ hội Khu I và khu II là khu rừng cám
Quốc gia bảo vệ di tích lịch sử Đền Hùng
Formatted: Norwegian (Bokmål)
Formatted: Level 1
Trang 37Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
Khu III: Vùng đệm với diện tích 1.340ha gồm 5 xã: Hy Cương, Kim Đức, Phù
Ninh, Chu Hoá, Tiên Kiên Đây là khu vùng đệm tạo thắng cảnh thiên nhiên và bảo vệ
môi trường khi di tích lịch sử Đền Hùng
* Khu trung tâm (Khu I và II là khu rừng cấm Đền Hùng):
- Dân số: Tổng dân số 5 xã là 62.689 người (số liệu tháng 1/2008) Trong khu I và
II có khoảng 246 gia đình với 1.030 nhân khẩu sinh sống Các hộ gia đình phân bố như
sau: 15 gia đình sống trong khu I gồm 5 hộ phía Bắc và 10 hộ phía Tây (thuộc phân
Trà), các hộ gia đình còn lại nằm trong khu vực II Tỉ lệ sinh đẻ cao (2,1% năm) Mỗi
năm có 7-9 cặp vợ chồng xin đăng ký kết hôn Do vây tính đến trước năm 1945, mới chỉ
có 15 hộ thì đến năm 1995 tức là sau 50 năm con số trên đã tăng lên 231 hộ (tức là tăng
gấp 16 lần)
- Điều kiện sinh hoạt: Trong khu vực này, khoảng 60% là nhà xây cấp 4 hoặc mái
bằng, còn lại là nhà lá Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Đất thổ cư bình
quân khoảng 1 sào Bắc Bộ (360m2/hộ), vườn hẹp, chỉ có khoảng 10% gia đình có ao
Nguồn nước sinh hoạt không hợp vệ sinh và nguồn nước cũng rất khan hiếm Có
khoảng 40% gia đình có hố xí xây, còn lại là hố xí tạm đổ tro, không đảm bảo vệ sinh
- Nghề phụ: Trong khu vực này, đời sống nhân dân còn nghèo Nghề phụ không
phát triển ngoại trừ xã Hy Cương có nghề sơn mài truyền thống nhưng không được duy
trìn phát triển Ngoài ra còn một số hộ gia đình nuôi tơ tằm và ong mật
- Dịch vụ: Dịch vụ của hai thôn thực sự sôi động và các dịp lễ hộ hàng năm Trong
dịp lễ hội, hầu hết các gia đình tại hai thôn đều tham gia ở mức độ khác nhau Riêng xã
Hy Cương có khoảng 500 hộ gia đình tham gia dịch vụ bán hương, khánh, vàng mã
phục vụ lễ hội và bán cho khách viếng thăm Tuy nhiên, các dịch vụ trên vẫn còn manh
mún, đơn giản và thu nhập thấp Hàng hoá chủ yếu là đặt cất từ Bắc Ninh, Hà Nội, Bắc
Giang và những nơi khác đưa về Chưa tổ chức sản xuất tại chỗ được
Nông nghiệp:
- Trồng trọt: Dân cư trong khu vực chủ yếu là trồng lúa nước nhưng năng suất rất
thấp 150-200kg/sào Bắc Bộ trên diện tích bình quân thấp là 240m2/đầu người Ngoài ra
Formatted: Indent: First line: 0.39", Line spacing: Exactly 22 pt
Trang 38Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
các hộ gia đình còn canh tác trên đất dốc bậc thang những loại hoa màu khác như sắn,
lạc, khoai, đậu Trong vườn nhà, các hộ gia đình đã trồng thêm các cây ăn quả như
chanh, cam, quýt nhưng chưa có quy hoạch nên giá trị kinh tế chưa cao Đặc biệt do
chưa có cơ sở thu mua, chế biến sản phẩm nên hạn chế sự phát triển nông nghiệp
nông thôn
- Chăn nuôi: Có khoảng 99% các hộ gia đình chăn nuôi gia súc và gia cầm như:
Trâu, bò, gà, vịt Tuy nhiên tại 2 thôn chủ yếu là nuôi bò (khoảng 250 con) để tạo sức
kéo và sinh sản bán giống Họ đem trâu bò chăn thả tại các bờ bụi, mương máng và tại
các khu rừng được giao khoán bảo vệ
- Lâm nghiệp: Hoạt động lâm nghiệp tại khu vức trên hầu như không đáng kể Mới
chỉ có 15% hộ nhân khoán bảo vệ rừng với tổng diện tích 70ha Mức khoán trong
năm thứ nhất là 6kg gạo/tháng/ha và từ năm thứ 2 là 4-3kg gạo/tháng/ha (giá trị này
được quy đổi ra tiền thời giá để thanh toán)
Kết quả hoạt động như trên đã đưa đến cơ cấu thu nhập của hai thôn như sau:
+ Trồng trọt (chủ yếu là lúa, màu): 50%
Tuy nhiên theo phân tích của Ngân hàng Thế giới đặt ra (WB, 1995) thì có tới 99% số hộ ở đây
thuộc diện nghèo đói (cứ dưới 1.100.000đ/người/năm là đói nghèo)
Theo Tổng cục thống kê đưa ra cứ dưới 600.000đ/người/năm thuộc diện nghèo đói
có tới 70% so hộ trong vùng thuộc diện đói nghèo
Như vậy kinh tế dân cu trong khu di tích lịch sử Đền Hùng là một trong những
vùng nghèo nhất so với các thôn trong cả nước
Formatted: Norwegian (Bokmål), Expanded by 0.2 pt
Formatted: Norwegian (Bokmål)
Formatted: Norwegian (Bokmål), Expanded by 0.2 pt
Formatted: Norwegian (Bokmål)
Formatted: Norwegian (Bokmål), Condensed by 0.8 pt
Formatted: Norwegian (Bokmål)
Trang 39Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
* Khu đệm: (Khu vực cảnh quan - 1.340ha)
- Dân số: Theo số liệu thống kê của Cục thống kê tỉnh Phú Thọ đến tháng 12 năm
2008 dân số của 5 xã là 62.617 người (10.438 hộ gia đình) chiếm 16,2 dân số toàn
huyện Phong Châu Tỉ lệ dân số tự nhiên trung bình là 1,88% (toàn huyện là 1,84%)
Riêng hai xã Hy Cương và Kim Đức tỉ lệ này có cao hơn tới 2,45%
- Kinh tế: Nông nghiệp là nguồn sống chính trong đó trồng trọt chiếm vai tròn quan trọng
- Trồng trọt: Diện tích, sản lượng một số cây trồng chính trong năm 2008 thể hiện tại bảng sau:
Bảng 2.1: Diện tích, sản lượng một số loại cây trồng chính tại khu đệm
Đơn vị Cưong Hy Kim Đức Phù
Ninh
Chu Hoá
Tiên Kiên
Diện tích lúa
- Năng suất
- Sản lượng
ha Tạ/ha tấn
222,0 25,83 537,5
274,5 27,05 742,5
378,49 22,36 846,5
282,0 26,99 761,3
482,41 32,84 1.584,4 Diện tích ngô
- Sản lượng
ha tấn
10,0 30,5
12,0 21,1
5,0 15,0 Diện tích khoai lang
- Sản lượng
ha tấn
20,0 110,0
2,7 8,37
3,0 11,1
36,4 159,6
31,2 172,5 Diện tích sắn
- Sản lượng
ha tấn
30,0
312
100,0 1050,0
70,0 805,0
39,0 390,0
96,0 816,0 Diện tích cây thực phẩm, rau,
đậu
ha 60 69,4 58,8 42,38 19,40 Diện tích chè
-Sản lượng
ha tấn/búp tươi
0,80 2,16
6,00 14,40
2,50 6,75
3,00 7,2
5,20 14,3 Diện tích mía
- Sản lượng
ha tấn
7,5 367,5
4 176,0
Formatted: Condensed by 0.5 pt Formatted Table
Trang 40Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin
(Nguồn só liệu Khu di tích lịch sử Đền Hùng)
Nhìn chung năng suất các loại cây trồng thấp, vì vậy sản lượng lương thực, nguồn thu
nhập chính của các hộ gia đình thấp như: lúa khoảng 320-500kg/người/năm Các cây công
nghiệp như chè, mía có sản lượng không đáng kể, chưa thành hàng hoá mà chủ yếu để tự sử
dụng dạng tự cung tự cấp
+ Chăn nuôi: Chăn nuôi của các xã vùng đệm thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.2: Tình hình chăn nuôi của các xã vùng đệm Con
(Nguồn só liệu Khu di tích lịch sử Đền Hùng)
Đơn vị Cương Hy Kim Đức Phù Ninh Chu
Hoá
Tiên Kiên
Diện tích lúa
- Năng suất
- Sản lượng
ha Tạ/ha tấn
222,0 25,83 537,5
274,5 27,05 742,5
378,49 22,36 846,5
282,0 26,99 761,3
482,41 32,84 1.584,4 Diện tích ngô
- Sản lượng
ha tấn
10,0 30,5
12,0 21,1
5,0 15,0 Diện tích khoai lang
- Sản lượng
ha tấn
20,0 110,0
2,7 8,37
3,0 11,1
36,4 159,6
31,2 172,5 Diện tích sắn
- Sản lượng
ha tấn
30,0
312
100,0 1050,0
70,0 805,0
39,0 390,0
96,0 816,0 Diện tích cây thực phẩm,
0,80 2,16
6,00 14,40
2,50 6,75
3,00 7,2
5,20 14,3 Diện tích mía
- Sản lượng
ha tấn
7,5 367,5
4 176,0
Formatted: Font: 12 pt Formatted Table
Formatted: Condensed by 0.3 pt