1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang

123 808 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 3,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN KHU R

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN KHU RỪNG VĂN HÓA LỊCH SỬ TÂN TRÀO, HUYỆN SƠN DƯƠNG,

TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN KHU RỪNG VĂN HÓA LỊCH SỬ TÂN TRÀO, HUYỆN SƠN DƯƠNG,

TỈNH TUYÊN QUANG

Ngành: Lâm Học

Mã số: 60 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Công Quân

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn “Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp chủ yếu quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang” được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên theo chương trình đào tạo Cao học chuyên ngành Lâm học Khoá 20 (niên khóa 2012-2014)

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ, giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Đào tạo sau Đại học, Khoa Lâm nghiệp, các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; các thầy, cô giáo tham gia giảng dạy lớp Cao học Lâm học Khóa 20; các đồng chí, đồng nghiệp nơi tác giả công tác; chính quyền địa phương và các cơ quan, đơn vị trong khu vực nghiên cứu và bạn bè và gia đình của tác giả

Nhân dịp này, tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó Đặc biệt là tác giả xin có lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo TS Trần Công Quân - người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quý báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong suốt thời gian học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn

Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hường

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của vấn nghiên cứu 4

1.2 Những nghiên cứu về QLBVR trên thế giới 5

1.3 Những nghiên cứu về QLBVR ở Việt Nam 10

1.4 Công tác QLBV rừng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 19

1.5 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội KRVHLS Tân Trào 22

1.5.1 Điều kiện tự nhiên 22

1.5.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực rừng di tích lịch sử văn hóa Tân Trào 25

1.5.3 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực rừng VHLS Tân Trào 31

1.6 Một số kết luận rút ra từ nghiên cứu tổng quan 33

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Nội dung nghiên cứu 34

2.2 Giới hạn về phạm vi nghiên cứu 34

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 34

2.2.2 Về địa điểm nghiên cứu 34

Trang 6

2.3 Phương pháp nghiên cứu 35

2.3.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài 35

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 36

2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40

3.1 Hiện trạng tài nguyên rừng khu RVHLS TÂN TRÀO 40

3.1.1 Diện tích đất đai và tình hình sử dụng đất 40

3.1.2 Hiện trạng thảm thực vật rừng 44

3.1.3 Tài nguyên động thực vật rừng và phân bố của các loài quý hiếm 49

3.2 Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát triển rừng khu di tích lịch sử Tân Trào 54

3.2.1 Về công tác tổ chức, quản lý 54

3.2.2 Về thể chế, chính sách trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng khu di tích lịch sử Tân Trào 59

3.2.3 Một số tác động của người dân đến rừng 63

3.2.4 Đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ rừng Khu RVHLS Tân Trào 65

3.3 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần quản lý, bảo vệ và phát triển Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào 67

3.3.1 Một số giải pháp cụ thể khắc phục những nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng VHLS Tân Trào: 67

3.3.2 Một số giải pháp một số giải pháp tổng hợp nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào 69

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 83

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

ĐDSH : Đa dạng sinh học

FAO : Food and Agriculture Organization (Tổ chức Nông nghiệp

và Lương thực của Liên hợp quốc) FSC : Forest Stewardship Council (Hội đồng quản trị rừng quốc tế) GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

ITTO : International tropical timber organisation (Tổ chức gỗ nhiệt

đới quốc tế)

IUCN

: International Union for Conservation of Nature and Natural Resources (Liên minh Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế)

JICA : Japan International Cooperation Agency (Cơ quan hợp tác

quốc tế Nhật Bản) KRVHLS : Khu rừng Văn hóa lịch sử

LNXH : Lâm nghiệp xã hội

LSNG : Lâm sản ngoài gỗ

NLG : Nguyên liệu giấy

NN & PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

PCCCR : Phòng cháy chữa cháy rừng

PRA : Đánh giá nông thôn có sự tham gia

QLBVR : Quản lý bảo vệ rừng

QLRBV : Quản lý rừng bền vững

RIDP : Dự án đa dạng hóa thu nhập nông thôn Tuyên Quang (Rural

income diversification) RVHLSTT : Rừng văn hóa lịch sử Tân Trào

SWOT : Điểm mạnh-Điểm yếu-Cơ hội-Thách thức

UBND : Uỷ ban nhân dân

VHLS : Văn hóa lịch sử

WWF : Tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã thế giới

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Thu nhập, đời sống các hộ thuộc các xã khu rừng DTLSTT 26

Bảng 3.1: Diện tích đất đai, tài nguyên các xã Khu rừng VHLS Tân Trào 40

Bảng 3.2: Diện tích Rừng đặc dụng, Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào 41

Bảng 3.3: Trữ lƣợng rừng Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào 41

Bảng 3.4: Hiện trạng chủ quản lý đất đai Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào 42

Bảng 3.5: Diện tích các kiểu thảm thực vật rừng 48

Bảng 3.6: Thành phần thực vật rừng trong khu rừng đặc dụng 49

Bảng 3.7: Tổng hợp 10 họ thực vật có số loài lớn nhất 50

Bảng 3.8: Tổng hợp 10 chi thực vật có số loài lớn nhất 50

Bảng 3.9: Các loài thực vật quý hiếm trong KRVHLS Tân Trào 51

Bảng 3.10: Tính đa dạng của động vật rừng trong KRVHLS Tân Trào 52

Bảng 3.11: Các loài thú quý hiếm trong Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào 53

Bảng 3.12: Các loài chim quý hiếm trong Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào 54

Bảng 3.13: Các loài bò sát quý hiếm trong Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào 54

Bảng 3.14: Kết quả công tác tuyên truyền, ký cam kết bảo vệ rừng 56

Bảng 3.16: Kết quả trồng rừng Khu RVHLSTT, giai đoạn 2009-2013 60

Bảng 3.17: Đất sản xuất nông nghiệp của 3 thôn 63

Bảng 3.18: Thu nhập - đời sống của 3 thôn trong Khu rừng VHLS Tân Trào 64

Bảng 3.19: Tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng năm 2012-2013 64

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài 36 Hình 3.1: Biểu đồ hiện trạng chủ quản lý đất lâm nghiệp khu vực

RVHLS Tân Trào 43 Hình 3.2: Nhân dân xã Trung Yên, huyện Sơn Dương 59

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Rừng là tài nguyên quý của mỗi quốc gia, là lá phổi xanh của nhân loại Tất

cả mọi hoạt động của đời sống xã hội đều có liên quan đến rừng Vì thế, có thể nói:

"rừng là nguồn của nước, nước là nguồn của sự sống" Rừng có vai trò quan trọng, ngoài việc cung cấp các sản phẩm hữu hình như gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ, rừng còn

có chức năng sinh thái vô cùng quan trọng, như: Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, điều tiết nguồn nước, hạn chế lũ lụt, chắn sóng, chắn cát bay, đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, du lịch … và tham gia điều hòa khí hậu toàn cầu bằng cách hấp thụ CO2, tích lũy carbon và cung cấp oxi

Tuyên Quang là một tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp lớn 446.926 ha (chiếm

tỷ lệ 76,17% diện tích tự nhiên toàn tỉnh), trong đó, diện tích có rừng (đến 31/12/2013) là 408.551 ha, độ che phủ rừng 64,5% [3], là một trong những tỉnh có

độ che phủ rừng cao trong cả nước Thực hiện Công văn số 1720/TCLN-BTTN ngày 06/11/2013 của Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc góp ý báo cáo Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng bền vững 03 khu rừng đặc dụng tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020; Đây là khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào (gọi tắt là KRVHLS Tân Trào) Khu di tích lịch sử với các địa danh như: lán Nà Lừa, cây đa Tân Trào, đình Hồng Thái, Bảo tàng, hang Bòng và nơi có trụ

sở Bộ Tài chính ở thôn Cầu Bì, xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương…Tân Trào lịch

sử, nơi cội nguồn cách mạng Việt Nam, nơi mà cách đây hơn 60 năm về trước, Trung ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ đã ở làm việc, lãnh đạo và quyết định nhiều

sự kiện trọng đại của đất nước

KRVHLS Tân Trào thuộc huyện Sơn Dương (vùng ATK), cách trung tâm Thành phố Tuyên Quang 45 km KRVHLS Tân Trào nằm trên địa bàn 5 xã là: Tân Trào, Bình Yên, Lương Thiện, Trung Yên, Minh Thanh Toàn vùng có diện tích 14.942 ha, trong đó đất lâm nghiệp là 10.910 ha, chiếm 73%, trong đó: Diện tích đất có rừng là 9.664 ha, đất chưa sử dụng đã quy hoạch cho lâm nghiệp 1.246 ha Đây là khu rừng giáp ranh với các địa phương Định Hóa, Đại Từ (Thái Nguyên),

Trang 11

Yên Sơn (Tuyên Quang) nên việc quản lý, bảo vệ rừng rất khó khăn Những năm gần đây được sự quan tâm của Nhà nước, giao thông của khu vực đi lại thuận tiện, tuy nhiên đây cũng là khó khăn cho công tác bảo vệ rừng KRVHLS Tân Trào có

đa dạng sinh học cao với rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm, nhiều loài cây thuốc quý, là nơi phục hồi, lưu giữ các nguồn gen phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, học tập; đồng thời KRVHLS Tân Trào giữ vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và điều tiết nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của địa phương, góp phần quan trọng trong phát triển và ổn định kinh tế, xã hội của 5 xã ATK huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã được tỉnh và

Sở NN&PTNT Tuyên Quang quan tâm và chỉ đạo thực hiện Tuy nhiên, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trong khu vực vẫn bộc lộ nhiều vấn đề hạn chế; rừng vẫn tiếp tục bị khai thác trái phép và diễn biến phức tạp, chất lượng rừng tự nhiên ngày càng suy giảm; công tác giao, khoán rừng, đất rừng còn nhiều bất cập; cơ

sở hạ tầng kỹ thuật của lâm nghiệp vẫn còn thấp kém; hiệu quả sản xuất lâm nghiệp vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh Để góp phần giải quyết những

vấn đề nêu trên, việc thực đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất một số giải

pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang” thực sự có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn

- Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần quản lý, bảo vệ và phát triển Khu rừng VHLS Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Trang 12

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Góp phần nghiên cứu cơ sở khoa học đánh giá được thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở thực tiễn về tình hình vi phạm Lâm luật, khả năng về mọi mặt của người dân địa phương và tình hình quản lý thi hành Luật, Thông tư, Nghị quyết, các quyết định từ trung ương đến địa phương của cá cơ quan chức năng, đặc biệt là Ban quản lý rừng văn hoá lịch sử Tân Trào, đề tài đã đề xuất được một

số giải pháp chủ yếu để quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng tại Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của vấn nghiên cứu

Trong thời gian gần đây, quản lý rừng bền vững (QLRBV) đã trở thành một nguyên tắc đối với quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới Hiện tại có hai định nghĩa đang được sử dụng ở Việt Nam:

Theo ITTO (tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế), QLRBV là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản

lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm

và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội [6]

Theo Tiến trình Hensinki, QLRBV là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác [6]

Theo các định nghĩa trên, thì QLRBV được hiểu là hoạt động nhằm ngăn chặn được tình trạng mất rừng, mà trong đó việc khai thác, lợi dụng rừng không mâu thuẫn với việc duy trì diện tích và chức năng đầy đủ của rừng (sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ gia dụng, lâm sản ngoài gỗ ; phòng hộ môi trường, bảo vệ đầu nguồn, bảo vệ chống cát bay, chống sạt lở đất ; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ di tích lịch sử danh lam thắng cảnh ) Quản lý rừng bền vững nhằm phát huy đồng thời những giá trị về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường của rừng, cụ thể:

Bền vững về kinh tế là bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất,

hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng; duy trì và phát triển diện tích, trữ lượng rừng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất rừng) [6]

Trang 14

Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật

pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân, với cộng đồng địa phương [6]

Bền vững về môi trường là bảo đảm kinh doanh rừng duy trì được khả năng

phòng hộ môi trường và duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối với các hệ sinh thái khác.[6]

Đồng thời hiệu quả về môi trường của rừng hoàn toàn có thể xác định được bằng giá trị kinh tế Bởi vì, thực chất việc nâng cao giá trị về môi trường sinh thái của rừng sẽ góp phần làm giảm những chi phí cần thiết để phục hồi và

ổn định môi trường sống Như vậy, quản lý sử dụng rừng bền vững đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách, một giải pháp quan trọng cho sự tồn tại lâu dài của xã hội loài người và thiên nhiên

1.2 Những nghiên cứu về QLBVR trên thế giới

Vấn đề quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã được các nước có nền kinh tế phát triển như: Thụy Điển, Nhật Bản, Pháp,… quan tâm từ rất sớm Chính phủ các nước này đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm xây dựng và phát triển quỹ rừng của quốc gia như: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển lâm nghiệp, hỗ trợ các hoạt động lâm sinh, cho vay vốn với lãi suất thấp,… Tuy nhiên, hiện nay tài nguyên rừng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đang ngày càng suy giảm cả về số lượng và chất lượng Theo thống kê của tổ chức FAO, trong vài chục năm gần đây, trên thế giới đã mất đi khoảng trên 200 triệu ha rừng tự nhiên, đồng thời nhiều diện tích rừng còn lại trong tình trạng thoái hóa nghiêm trọng cả về đa dạng sinh học và chức năng sinh thái [12] Việc bảo vệ tài nguyên rừng chính là bảo vệ những điều kiện sinh thái cần thiết để duy trì các hoạt động sản xuất và đời sống của người dân Nhưng việc cố gắng quản lý bảo vệ nghiêm ngặt các khu rừng thường gây nên những thua thiệt trước mắt cho cá nhân, cộng đồng dân cư địa phương với nguy cơ thiếu đất canh tác, nhu cầu về lâm sản phục vụ cuộc sống (thực phẩm, gỗ củi ) không được đáp ứng Do đó, công tác quản lý rừng bền vững (viết tắt là QLRBV) phải hướng đến phục vụ được các nhu cầu xã hội nói chung và cộng đồng dân cư

Trang 15

sống gần rừng nói riêng Việc đáp ứng các nhu cầu đó phải được thực hiện thường xuyên, liên tục và ổn định lâu dài Theo Brundtland, thì phát triển bền vững là “sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến các khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng được các nhu cầu của họ” [6]

Trong giai đoạn đầu của thế kỷ 20, hệ thống quản lý tài nguyên rừng tập trung đã thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia phát triển [33] Trong giai đoạn này, vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng ít được quan tâm Vì vậy, họ chỉ biết khai thác tài nguyên rừng lấy lâm sản và đất đai để canh tác nông nghiệp, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng đã dẫn đến tình trạng khai thác quá mức tài nguyên rừng và làm cho tài nguyên rừng ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà lâm học Đức (G.L.Hartig - 1840; Heyer - 1883; Hundeshagen - 1926) cũng đã nghiên cứu và đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đều tuổi; các nhà lâm học Pháp (Gournand - 1922) và Thuỵ Sỹ (H.Biolley - 1922) đã nghiên cứu và đề ra phương pháp kiểm tra điều chỉnh sản lượng với rừng khai thác chọn khác tuổi [33]

Hiện nay, theo ước tính của Tổ chức Nông lương Liên Hợp quốc (FAO) thì mỗi năm 130.000

, trong tương lai không xa, mỗi ngày chúng ta sẽ phải nói lời chia tay với 100 loài [32]

Để ngăn chặn tình trạng mất rừng, bảo vệ và phát triển vốn rừng, bảo tồn ĐDSH trên phạm vi toàn thế giới, cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức, tiến hành nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước về bảo vệ và phát triển rừng trong đó có Chiến lược bảo tồn (năm 1980 và điều chỉnh năm 1991), Tổ chức

Gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO năm 1983), Chương trình hành động rừng nhiệt đới (TFAP năm 1985), Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển (UNCED tại Rio

de Janeiro năm 1992), Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật quý hiếm (CITES), Công ước về Đa dạng sinh học (CBD, 1992), Công ước về thay đổi khí hậu toàn cầu (CGCC, 1994), Công ước về chống sa mạc hoá (CCD, 1996), Hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997) [33]

Trang 16

và tương lai, cùng với Diễn đàn về rừng được thành lập năm 2000, Liên Hợp quốc

đã quyết định chọn năm 2011 là “Năm quốc tế về rừng” với mục tiêu chính là thúc đẩy việc quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tất cả các loại rừng; đồng thời, tăng cường cam kết chính trị lâu dài giữa các quốc gia dựa trên “Tuyên bố Rio” (1992), các nguyên tắc trong Chương trình nghị sự 21 về công tác chống phá rừng Thông qua các hoạt động trong “Năm quốc tế về rừng” tại các quốc gia và khu vực, Liên Hợp quốc mong muốn độ che phủ rừng trên toàn thế giới sẽ gia tăng đáng kể thông qua quản lý rừng bền vững, bao gồm bảo vệ, phục hồi trồng rừng và tái trồng rừng, cùng những nỗ lực ngăn chặn suy thoái rừng Đồng thời, giảm những tác động kinh

tế - xã hội và môi trường đến rừng bằng cách cải thiện sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng [32]

Năm 2005 chức ITTO tổ chức đánh giá thực trạng quản lý rừng nhiệt đới, kết quả kể từ năm 1988, công tác QLRBV đã đạt được tiến độ đáng kể, đặc biệt việc quy hoạch lâm phận ổn định, ban hành chính sách QLRBV và xây dựng phương án điều chế rừng Tuy nhiên, tỷ lệ rừng sản xuất là rừng tự nhiên trong khuôn khổ QLRBV hiện vẫn còn rất thấp và phân bố không đồng đều Chẳng hạn tại Châu Á, ước tính chỉ khoảng 12% lâm phần rừng tự nhiên quản lý bền vững và chỉ 5% lâm phần rừng sản xuất là rừng tự nhiên được cấp chứng chỉ QLRBV1 Điều này gắn với kết quả điều tra khảo sát tài nguyên rừng cho thấy việc quy hoạch diện tích rừng - đặc biệt là rừng có chức năng bảo tồn và bảo vệ - đã góp phần đáng kể vào công tác QLRBV[14]

Với mong muốn tái lập một lâm phận sản xuất ổn định của các nước sản xuất các sản phẩm gỗ nhiệt đới, đồng thời các khách hàng tiêu thụ sản phẩm gỗ nhiệt đới lại có mong muốn các nhà sản xuất phải điều tiết việc khai thác rừng sao cho đáp ứng các chức năng sinh thái toàn cầu, từ đó đã thúc đẩy sự hình thành hệ thống QLRBV Vấn đề đặt ra là phải xây dựng những tổ chức đánh giá QLRBV và Hội đồng quản trị rừng thế giới đã được thành lập để xét công nhận tư cách của các tổ chức xét và cấp chứng chỉ rừng [27]

1

theo ITTO 2006

Trang 17

Hiện nay trên thế giới có một số quy trình cấp chứng chỉ rừng đang hoạt động như Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC), Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC) của Châu Âu, Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (SFI) của Bắc Mỹ, Hội tiêu chuẩn Canada (CSA), Quy trình chứng chỉ quốc gia CertforChile của Chile, Viện nhãn sinh thái Indonesia (LEI), và Hội đồng chứng chỉ

gỗ Mã Lai (MTCC) Hai quy trình đang hoạt động ở cấp toàn cầu là FSC và PEFS, trong khi đó các quy trình khác chỉ hoạt động ở cấp vùng hoặc quốc gia [5]

Hiện nay, ở các nước đang phát triển, khi sản xuất nông lâm nghiệp còn chiếm vị trí quan trọng đối với người dân nông thôn, miền núi, thì quản lý rừng theo hình thức phát triển lâm nghiệp xã hội đang là một trong những mô hình được đánh giá cao trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái

Với mục đích quản lý bền vững, các khu bảo vệ (protected areas) được thành lập ngày càng nhiều, nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm đến việc quản lý bền vững các khu bảo vệ Nhiều chính sách và giải pháp được đưa ra để áp dụng quản lý rừng bền vững Năm 1996, tại Vườn quốc gia Bwindi Impenetrable và Mgahinga Gorilla thuộc Uganda, Wild và Mutebi đã nghiên cứu giải pháp quản lý, khai thác bền vững một số lâm sản và quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên giữa Ban quản lý vườn và cộng đồng dân cư

Trong báo cáo "Hợp tác quản lý với người dân ở Nam Phi - Phạm vi vận động" của Moenieba Isaacs và Najma Mohamed (2000) đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững tại Vườn quốc gia Richtersveld chủ yếu dựa trên hương ước (Contractual Agreement) quản lý bảo vệ tài nguyên, trong đó người dân cam kết bảo vệ đa dạng sinh học trên địa phận của mình còn chính quyền và Ban quản lý hỗ trợ người dân xây dựng hạ tầng và cải thiện các điều kiện kinh tế - xã hội khác

Nhằm bảo vệ bền vững tài nguyên rừng tại Vườn Quốc gia Kruger của Nam Phi (2000), Chính phủ đã trao quyền sử dụng đất đai, chia sẽ lợi ích từ du lịch cho người dân và ngược lại người dân phải tham gia quản lý và bảo vệ tài nguyên tại Vườn quốc gia

Trang 18

Theo Shuchenmann (1999), tại Vườn quốc gia Andringitra của Madagascar,

để thực hiện quản lý rừng bền vững, Chính phủ đảm bảo cho người dân được quyền chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi để sử dụng tại chỗ, cho phép giữ gìn những tập quán truyền thống khác như có thể giữ gìn các điểm thờ cúng thần rừng Ngược lại, người dân phải đảm bảo tham gia bảo vệ sự ổn định của các

hệ sinh thái trong khu vực

Tại Khu bảo tồn Hoàng gia Chitwan ở Nepal, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên vùng đệm phục vụ cho du lịch Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên là khoảng 30 - 50% thu được từ du lịch hằng năm sẽ được đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng[35]

Cuộc điều tra đánh giá tài nguyên rừng của FAO năm 2005 đã cho thấy một nghịch lý, trong khi diện tích rừng được quy hoạch bảo tồn và bảo vệ tăng lần lượt 6,4 triệu và 3,4 triệu ha/năm, thì trên thế giới mỗi năm vẫn mất khoảng 5,8 triệu ha rừng nguyên sinh - một diện tích tương đương với 1/3 quốc gia Campuchia Việc quy hoạch các diện tích rừng, mặc dù không theo tiêu chí QLRBV, là một bước tiến đầu tiên quan trọng trong quá trình hướng tới tính bền vững [14]

Trong thời gian vừa qua, nhiều nước trên thế giới đã khá thành công trong việc cấp chứng chỉ rừng nên đã góp phần đáng kể QLRBV Tính đến tháng 11 năm 2007, Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) đã cấp 913 chứng chỉ rừng cho 78 nước với tổng diện tích 93.898.717 ha Trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, FSC đã cấp

81 chứng chỉ với diện tích 3.144.345 ha trong đó Trung Quốc, Newzelands, Indonesia, Úc là các nước dẫn đầu về diện tích rừng được cấp chứng chỉ [34]

Thực tế cho thấy, Chứng chỉ rừng đã được các nước trên thế giới biết đến và

sử dụng từ khoảng 20 năm trở lại đây; trong khi đó, ở Việt nam hiện nay khái niệm Chứng chỉ rừng đang còn là rất mới mẻ với cán bộ, người dân hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp

Trang 19

1.3 Những nghiên cứu về QLBVR ở Việt Nam

Là một đất nước đang phát triển, có diện tích đất lâm nghiệp chiếm khoảng 50% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc [4] [3], nên tài nguyên rừng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, rừng ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và đời sống kinh tế của một

bộ phận dân số của cả nước

Trong thời kỳ trước năm 1945 tài nguyên rừng Việt Nam khá phong phú, nhu cầu lâm sản của con người còn thấp, mức độ tác động của con người vào tài nguyên rừng chưa cao, vấn đề QLRBV chưa được đặt ra Trong thời kỳ này, toàn

bộ rừng nước ta là rừng tự nhiên đã được chia theo các chức năng để quản lý, sử dụng như sau [17]:

+ Rừng chưa quản lý: Là những diện tích rừng ở những vùng núi hiểm trở, dân cư thưa thớt, nhà nước thực dân chưa có khả năng quản lý, người dân được tự

do sử dụng lâm sản, đốt nương làm rẫy Việc khai thác sử dụng lâm sản đang ở mức

tự cung tự cấp, lâm sản chưa trở thành hàng hoá

+ Rừng mở để kinh doanh: Là những diện tích rừng ở những vùng có dân cư

và đường giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản Những diện tích rừng này được chia thành các đơn vị như khu, từ khu được chia thành các lô khai thác và theo chu kỳ, sản lượng do hạt trưởng lâm nghiệp quản lý, đấu thầu khai thác

+ Rừng cấm: Là những diện tích rừng sau khai thác, cần được bảo vệ để tái sinh trong cả chu kỳ theo vòng quay điều chế, cũng có thể là khu rừng có tác dụng đặc biệt cần được bảo vệ

Trong giai đoạn nửa sau của thế kỷ XX, Việt Nam đã mất đi hàng triệu hecta rừng, đó là nguyên nhân chủ yếu gây ra những biến đổi khí hậu, gia tăng tần suất và mức độ thiệt hại của hạn hán, lũ lụt Dẫn đến hằng năm nhà nước phải đầu tư nhiều

tỉ đồng để củng cố đê điều và chống lũ Đồng thời, mất rừng đã gây nên sự xói mòn mạnh và sự thoái hóa một số diện tích đất đồi núi

Ngoài các nguyên nhân mất rừng do sự gia tăng dân số, thiếu thốn về lương thực, phá rừng lấy đất canh tác, khai thác lâm sản quá mức, rừng Việt Nam còn bị

Trang 20

ảnh hưởng bởi sự huỷ diệt trầm trọng của 2 cuộc chiến tranh kéo dài đã làm cho tài nguyên rừng bị giảm sút vì bom đạn, chất độc hoá học tàn phá nặng nề Nếu như diện tích rừng của nước ta năm 1945 là 14,3 triệu ha, tỷ lệ che phủ rừng là 43% thì đến năm 1976 chỉ còn 11,2 triệu ha, tỷ lệ che phủ rừng còn 33,8%

Từ sau hoà bình lập lại rừng được chia thành 3 chức năng để quản lý sử dụng

đó là rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Tổ chức quản lý sử dụng 3 loại rừng được hình thành và phát triển từ năm 1986 [17] Trong thời kỳ này, hoạt động của ngành lâm nghiệp đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Ngay sau khi hoà bình lập lại, toàn bộ diện tích rừng và đất rừng ở miền Bắc được quy hoạch vào các lâm trường quốc doanh Nhiệm vụ chủ yếu là khai thác lâm sản để phục vụ cho nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế và của nhân dân, việc xây dựng và phát triển vốn rừng tuy có đặt ra nhưng chưa được các đơn vị sản xuất kinh doanh lâm nghiệp quan tâm đúng mức Cùng với mức độ tăng nhanh về dân số, tình trạng chặt phá rừng tự nhiên lấy đất sử dụng canh tác nông nghiệp, lấy các sản phẩm gỗ, củi và các lâm sản khác càng diễn ra nghiêm trọng hơn Những hình thức quản lý và sử dụng tài nguyên rừng như trên đã làm cho tài nguyên rừng nước ta bị tàn phá một cách nặng nề (diện tích rừng đã bị giảm 5,0 triệu ha từ năm 1945 đến 1995), trung bình mỗi năm giảm 0,1 triệu ha Giai đoạn từ năm 1946 - 1960, công tác bảo vệ và phát triển rừng chủ yếu là khoanh nuôi bảo vệ, hướng dẫn nông dân miền núi sản xuất trên nương rẫy, ổn định công tác định canh, định cư, khôi phục kinh tế sau chiến tranh Giai đoạn 1961 - 1975 QLBVR được đẩy mạnh, khoanh nuôi tái sinh rừng gắn chặt với định canh, định cư Công tác khai thác rừng đã chú ý đến thực hiện theo các quy trình, quy phạm, đảm bảo xúc tiến tái sinh tự nhiên Nhìn chung, công tác QLBVR được thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương Sau ngày thống nhất đất nước, Nhà nước quản lý toàn bộ tài nguyên rừng thông qua các lâm trường quốc doanh, người dân và cộng đồng đã bị tách rời khỏi các hoạt động quản lý, sử dụng tài nguyên rừng Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng suy thoái tài nguyên rừng một cách nhanh chóng ở nước ta Vào khoảng năm

1990 - 1995, rừng Việt Nam ở mức thấp nhất, diện tích rừng chỉ còn 9,3 ha, tỷ lệ che phủ rừng 28,2% [23]

Trang 21

Theo tài liệu trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020, hoạt động sản xuất của ngành lâm nghiệp giai đoạn 1996 - 2005, đang chuyển đổi mạnh mẽ từ nền lâm nghiệp quốc doanh, theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền lâm nghiệp xã hội hoá với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và hoạt động theo cơ chế của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, do đó ngành lâm nghiệp đã tham gia tích cực tạo việc làm, cải thiện đời sống cho gần 25% dân số của Việt Nam sống trên địa bàn rừng núi, góp phần bảo đảm an ninh chính trị xã hội, tạo đà phát triển chung cho đất nước trong các năm qua Công tác bảo vệ và phát triển rừng trên phạm vi toàn quốc đã từng bước đạt được những tiến bộ, tình trạng suy thoái về diện tích và chất lượng rừng được ngăn chặn, diện tích rừng tăng từ 9,30 triệu ha năm 1995 lên 12,61 triệu ha năm 2005

và 13,2 triệu ha năm 2009 Hiện nay bình quân mỗi năm trồng mới được 200.000

ha rừng Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đạt 2.000.000 m3/năm để cung cấp nguyên liệu cho chế biến hàng lâm sản xuất khẩu và tiêu dùng trong nước [21]

và đến cuối năm 2012 tỷ lệ che phủ rừng của nước ta đạt 40,7% [3]

Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những tồn tại, đặc biệt diện tích rừng tuy có tăng nhưng chất lượng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị suy giảm, ở một số nơi diện tích rừng tiếp tục bị tàn phá [21]

Do yêu cầu về chức năng bảo tồn và phòng hộ của rừng ngày càng trở nên quan trọng, để đảm bảo môi trường bền vững phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội nên các hoạt động lâm nghiệp đặc biệt quan tâm đến 2 loại rừng đặc dụng và phòng

hộ Quốc hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông qua Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2010 tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc Hội Khóa

X bằng Nghị quyết số 08 ngày 5.2.1997, với mục tiêu trồng 2 triệu ha rừng phòng

hộ, đặc dụng và 3 triệu ha rừng sản xuất Kết quả, sau 12 năm triển khai dự án, nhờ

sự quan tâm chỉ đạo và có nhiều chủ trương, giải pháp cụ thể của Chính phủ, đến nay công tác bảo vệ rừng và tạo rừng mới đã đạt được nhiều kết quả Số vụ vi phạm pháp luật liên quan đến rừng có xu hướng giảm, năm 2010 giảm 46% so với năm

1998 Tổng diện tích đã trồng và khoanh nuôi tái sinh rừng trong thời gian thực hiện

Trang 22

dự án là 4.675.006ha, đạt 93,5% kế hoạch Trong đó, trồng rừng đạt 2.450.010ha, khoanh nuôi tái sinh rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đạt 1.283.350ha, diện tích trồng cây công nghiệp và cây ăn quả là 941.464ha, đạt 94% kế hoạch Độ che phủ rừng đã tăng

từ 32% năm 1998 lên 39,5% diện tích cả nước năm 2010 [31], khi kết thúc dự án 661

Trong quá trình phát triển lâm nghiệp, quan niệm “Quản lý rừng bền vững” ở Việt nam mới được hình thành từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 20 Từ

đó đến nay, vấn đề quản lý rừng bền vững luôn là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt nam [34] Điều đó được thể hiện trong các văn bản pháp luật, các chỉ thị nghị quyết của Chính phủ cũng như trong các quy chế, quy trình, quy phạm của ngành Cụ thể:

- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi 2004): Việc sửa đổi Luật Bảo vệ

và phát triển rừng năm 2004 dựa trên quan điểm áp dụng quản lý rừng bền vững với tất cả các khu rừng ở Việt Nam Đây là đạo luật quan trọng nhất về lâm nghiệp Trong đó tại Điều 9 đã quy định các hoạt động để đảm bảo quản lý rừng bền vững: Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo phát triển bền vững về kinh

tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định;

- Luật Bảo vệ Môi trường, năm 2005: Trong Chương IV: Bảo tồn và sử

dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, có 7 điều (từ Điều 28 đến Điều 34) đã đưa ra những quy định liên quan tới quản lý rừng bền vững thuộc các lĩnh vực, như: Điều tra, đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Bảo vệ thiên nhiên; Bảo vệ đa dạng sinh học; Bảo vệ và phát triển cảnh quan thiên nhiên; Bảo

vệ môi trường trong khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Phát triển năng lượng sạch;

- Luật Đất đai, năm 2003: đã quy định: Việc sử dụng đất phải tôn trọng các

nguyên tắc sau đây: Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh (Điều 11);

Trang 23

- Hệ thống các văn bản dưới luật, như:

+ Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện trồng mới 5 triệu ha rừng

+ Quyết định 245/1998/QĐ - TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ

về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất Lâm nghiệp

+ Nghị định số 48/2002/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 18/HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định danh mục thực vật, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ;

+ Nghị định 139/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

+ Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/1/2006 của Chính phủ quy định về phòng cháy chữa cháy rừng

+ Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

+ Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về tổ chức

và quản lý hệ thống rừng đặc dụng; và Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định chi tiết thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP

+ Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

+ Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính Phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học

+ Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2001 về việc ban hành quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên Nay đã được thay thế bằng Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng

+ Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

Trang 24

+ Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày 17/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010

+ Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 của Thủ Tướng Chính phủ Phê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020; và Thông tư số 51/2012/TT-BNNPTNT ngày 19/10/2012 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng quy định tại Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 của Thủ Tướng Chính phủ

+ Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/12/1012 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng;

+ Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ

về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020

+ Chỉ thị 12/2003/CT-Ttg ngày 16/5/2003 về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng;

+ Thông tư số 56/1999/TT/BNN-KL ngày 30/3/1999 của Bộ NN&PTNT về hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, làng, bản, ấp

+ Quyết định số 40/2005/QĐ-BNN ngày 7/7/2005 của Bộ NN&PTNT về việc ban hành quy chế về khai thác gỗ và lâm sản khác

+ Quyết định Số: 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/2/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020

Và nhiều các văn bản pháp quy khác được Bộ Nông nghiệp & PTNT, liên bộ

và chính quyền các địa phương ban hành về những vấn đề liên quan đến quản lý và bảo vệ rừng Những văn bản quy phạm đó đã và đang giúp các địa phương và ngành Lâm nghiệp quản lý bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả hơn

Đồng thời, trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều quan tâm đến công tác quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng bằng các giải pháp chính sách, tổ chức quản lý và xã hội hoá nghề rừng Cụ thể đã thực hiện cắt

Trang 25

giảm sản lượng khai thác tiến tới đóng cửa rừng tự nhiên, đẩy mạnh và phát triển rừng trồng sản xuất, phát triển kinh tế trang trại, phát triển lâm nghiệp theo hướng

xã hội hóa nghề rừng, Việc thiết lập các khu rừng đặc dụng, xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án trồng rừng và bảo vệ rừng phòng hộ cũng rất được quan tâm

Thấy được tầm quan trọng và giá trị to lớn của tài nguyên rừng và ĐDSH, từ năm 1962 Nhà nước ta đã thành lập rừng cấm Cúc Phương, đây là rừng đặc dụng đầu tiên của nước ta Hiện nay, Việt Nam đã thành lập được 30 vườn quốc gia, 54 khu bảo tồn thiên nhiên, 11 khu bảo tồn loài, 45 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng nghiên cứu khoa học, thực nghiệm với tổng diện tích quy hoạch gần 2,2 triệu

ha Với mục đích bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên đa dạng sinh học quan trọng, quý hiếm, đặc hữu, hệ thống rừng đặc dụng đã và đang được Nhà nước đầu tư bảo

vệ chặt chẽ và nghiêm ngặt thông qua lực lượng kiểm lâm, các ban quản lý vườn quốc gia và khu bảo tồn [13]

Hiện nay, nhận thức của con người về lợi ích vai trò của rừng đã ngày càng đầy đủ hơn, tuy thế, nhưng việc phục hồi những diện tích rừng tự nhiên đã mất lại gặp rất nhiều khó khăn do hạn chế về mặt kinh tế, kỹ thuật phục hồi rừng và đôi khi

là tư duy, ý thức, đạo đức của một bộ phận những người có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Vì vậy, công tác quản lý tài nguyên rừng bền vững càng trở nên cấp thiết hơn Nếu tình trạng suy thoái tài nguyên rừng không chấm dứt, rừng trồng thay thế rừng tự nhiên ngày càng nhiều thì nguy cơ mất cân bằng sinh thái, giảm tính đa dạng sinh học sẽ ngày càng lớn mạnh hơn, từ đó dẫn đến nhiều tổn thất về kinh tế, xã hội và đặc biệt là môi trường

Trong nhiều năm qua, nền kinh tế nước ta đã có nhiều khởi sắc, an ninh lương thực được đảm bảo, hơn thế, Việt Nam đang là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới; đồng thời hiện nay, nhiều loại chất đốt (than, điện, ga ) đã thay thế một phần gỗ củi Do đó có thể nói công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng có nhiều thuận lợi hơn trước Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách

để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc (chương trình 327) thực hiện từ năm 1993-1998; tiếp đó là Dự án

Trang 26

trồng mới 5 triệu ha rừng được thực hiện từ năm 1998-2010, và hiện nay là Kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020) nhằm mục tiêu là xây dựng

và bảo vệ rừng để đảm bảo an toàn môi trường sinh thái, đồng thời đáp ứng nhu cầu lâm sản phục vụ cho nền kinh tế quốc dân

Trong bản Chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp Việt nam, giai đoạn

2006-2020, đã khẳng định quan điểm phát triển lâm nghiệp là: Quản lý, sử dụng và phát triển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển lâm nghiệp Các hoạt động sản xuất lâm nghiệp phải dựa trên nền tảng quản lý bền vững thông qua quy hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng rừng Phải kết hợp bảo vệ, bảo tồn và phát triển với khai thác rừng hợp lý Đồng thời, trong Chiến lược cũng đã đề ra 5 chương trình hành động, trong đó Chương trình quản lý và phát triển rừng bền vững là Chương trình trọng tâm và ưu tiên số 1 Đồng thời trong Chiến lược đã đặt ra nhiệm vụ: Quản lý bền vững và có hiệu quả 8,4 triệu ha rừng sản xuất, trong đó 4,15 triệu ha rừng trồng và 3,63 triệu ha rừng tự nhiên Phấn đấu

Trang 27

Trên địa bàn toàn quốc đã có nhiều công trình nghiên cứu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững; một số đề tài nghiên cứu đã bước đầu đề xuất các giải pháp cụ thể áp dụng cho một số vùng như:

- Đánh giá tình hình khai thác sử dụng lâm sản ngoài gỗ và đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống của

Suree và Đào Thị Minh Châu (2004) [9], các tác giả đã đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của việc khai thác, sử dụng lâm sản ngoài gỗ đồng thời đã nêu ra được một

số giải pháp về xã hội và kỹ thuật nhằm quản lý rừng bền vững ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống;

- Quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững lưu vực sông Sê San của Phạm

Đức Lâm và Lê Huy Cường 1998 [15], các tác giả đã đưa ra các giải pháp về quản

lý và sử dụng tài nguyên rừng bền vững tại lưu vực sông Sê San;

- Nghiên cứu phát triển bền vững vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn Quốc gia của Trần Ngọc Lân và cộng sự (1999) thực hiện tại Vườn Quốc gia Pù

Mát [17], các tác giả đã đề xuất một số giải pháp về mặt xã hội và kinh tế để phát triển bền vững vùng đệm của Vườn Quốc gia Pù Mát;

- Nghiên cứu giải pháp quản lý rừng bền vững tại BQL rừng phòng hộ Hướng Hóa-Đakrông, tỉnh Quảng Trị của Lê Thiên Vinh (2007) [33]

- Sử dụng đất tổng hợp bền vững của Nguyễn Xuân Quát năm 1996 [18], tác

giả đã phân tích tình hình sử dụng đất, các mô hình sử dụng đất bền vững, mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt Nam, đồng thời đã đề xuất tập đoàn cây trồng nhằm sử dụng bền vững và ổn định đất rừng;

- Quản lý bền vững rừng khộp ở EaSúp - Đắc Lắc của Hồ Viết Sắc 1998

[19], tác giả đã đề xuất một số giải pháp về xã hội và quản lý nhằm quản lý bền vững rừng khộp ở Ea Súp - Đắc Lắc;

- Du canh với vấn đề QLBVR ở Việt Nam của Đỗ Đình Sâm 1998 [20], tác

giả đã phản ánh thực trạng du canh, đánh giá sự ảnh hưởng của nó đồng thời nêu lên một số giải pháp chính sách về định canh và biện pháp kỹ thuật canh tác trên đất dốc nhằm quản lý rừng bền vững ở Việt Nam;

Trang 28

Tuy các kết quả nghiên cứu liên quan đến quản lý rừng ở khu vực nghiên cứu

còn chưa đầy đủ, nhưng đó sẽ là những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất một số giải pháp chủ yếu quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

1.4 Công tác QLBV rừng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc, có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, đặc biệt là có lợi thế về đất đất lâm nghiệp chiếm 76,17% diện tích tự nhiên toàn tỉnh

Cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở rất quan tâm đến phát triển lâm nghiệp của tỉnh Đã thành lập Ban chỉ đạo các dự án trồng rừng (327, 661) cấp tỉnh và các Ban phát triển rừng cấp cơ sở Đặc biệt, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang

(khoá XIV) đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 30/11/2006 về phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020; Kết luận Số 30-KL/TU ngày 02/8/2011 về nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2011-2015, định hướng đến 2020, trong đó, đã đề ra các giải pháp

nhằm đạt được mục tiêu: tăng nhanh tỷ trọng kinh tế lâm nghiệp đóng góp một phần vào giá trị tổng sản xuất nông nghiệp của tỉnh và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xoá đói giảm nghèo và tiến tới làm giàu bằng nghề rừng

Trong thời gian vừa qua, công tác bảo vệ và phát triển rừng của Tuyên Quang đã đạt được một số kết quả như sau:

- Công tác quy hoạch: Năm 2007, Tuyên quang đã hoàn thành quy hoạch và

cắm mốc ranh giới phân 3 loại rừng với tổng diện tích đất lâm nghiệp là 445.847,9 ha, với cơ cấu: Rừng phòng hộ chiếm 31%; rừng đặc dụng chiếm 11% diện và rừng sản xuất: chiếm 58% Sau một thời gian thực hiện quy hoạch, thực tế đã bộc lộ một số tồn tại, như: Diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng còn cao trong cơ cấu các loại rừng của tỉnh, trong khi nhu cầu sử dụng đất rừng sản xuất trong nhân dân là rất lớn; mặt khác, từ năm 2007 đến nay một phần diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp đã được UBND tỉnh phê duyệt chuyển đổi sang mục đích khác không phải là lâm nghiệp trong lâm phận rừng phòng hộ và rừng sản xuất nằm hầu hết ở các

Trang 29

huyện, thành phố dẫn đến tình trạng số liệu quản lý đất lâm nghiệp bị sai lệch, ranh giới đất lâm nghiệp chưa đúng với thực tế Do đó, năm 2012, Tuyên Quang đã thực hiện rà soát, điều chỉnh quy hoạch phân ba loại rừng Kết quả, tổng diện tích đất lâm nghiệp sau rà soát là 446.926,17 ha, trong đó, diện tích rừng đặc dụng biến động từ 48.881,66 ha (trước điều chỉnh) giảm còn 47.023,55 ha (sau điều chỉnh); diện tích rừng phòng hộ biến động từ 141.677,29 ha (trước điều chỉnh) giảm còn 127.124,41 ha (sau điều chỉnh); Tổng diện tích rừng sản xuất biến động từ 256.367,22 ha (trước điều chỉnh) tăng lên 272.778,21 ha (sau điều chỉnh)

Đồng thời Quy hoạch phát triển lâm nghiệp tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2011-2020, với tổng diện tích đất lâm nghiệp, xác định đến năm 2020, đất lâm nghiệp là 445.718 ha, trong đó: (1) Rừng phòng hộ: 127.124 ha; chiếm 28,5% diện tích đất lâm nghiệp; trong đó: đất có rừng 119.614 ha; đất chưa có rừng 6.817 ha; đất khác là: 693 ha (1) Rừng đặc dụng: 46.981 ha chiếm 10,5% diện tích đất lâm nghiệp; trong đó: đất có rừng 45.950 ha; đất chưa có rừng 766 ha; đất khác là 265

ha (1) Rừng sản xuất: 271.613 ha chiếm 60,9% diện tích đất lâm nghiệp; trong đó: đất có rừng 233.627 ha; đất chưa có rừng 35.860 ha; đất khác là 2.126 ha

Riêng Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào, được thành lập theo Quyết định

số 41-TTg ngày 24/01/1977 của Thủ tướng Chính phủ "Về việc Quy định các khu rừng cấm", theo đó: Tên khu rừng cấm là Tân Trào (núi Hồng) huyện Sơn Dương, tỉnh Hà Tuyên (nay là Tuyên Quang); chức năng của khu rừng: Bảo vệ di tích lịch sử; phạm vi ranh giới: Toàn bộ núi Hồng: Khu vực từ đèo Re đến đỉnh núi Hồng, núi Tống Thịnh Phía đông nam giới hạn bởi suối Mỏ Chẹ thuộc khu vực Bảo tàng; diện tích khi đó là 1.081 ha Theo Quyết định số: 1770 /QĐ - CT ngày 31/12/2012 của UBND tỉnh Tuyên Quang “Về việc điều chỉnh quy hoạch phân 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng, sản xuất) tỉnh Tuyên Quang” và Quyết định số: 523/QĐ -

CT ngày 31/12/2012 của UBND tỉnh Tuyên Quang “Về việc phê duyệt phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011 - 2020”, Rừng đặc dụng Tân Trào có diện tích 3.892,70 ha, trên địa bàn 5 xã: Tân Trào: 2.289,57 ha, Minh Thanh: 125,36 ha, Trung Yên: 1.061,66 ha, Bình Yên: 68,06

Trang 30

ha và Lương Thiện: 348,05 ha, nhưng chưa có quy hoạch tổng thể về bảo tồn và phát triển bền vững, chưa quy hoạch phân khu chức năng và chưa có quy hoạch vùng đệm, chưa thành lập Ban quản lý khu rừng

- Công tác giao rừng gắn với giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân:

Từ khi thực hiện Luật Đất đai sửa đổi năm 2003 và Nghị định 181/NĐ-CP, ngành Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức và hộ gia đình sử dụng lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp Đặc biệt khi có dự án Đa dang hóa thu nhập nông thôn (RIDP) hỗ trợ, đã lập phương án giao đất và tổ chức giao đất lâm nghiệp được 66 xã, riêng Dự án RIDP đã giao được 26.538 hộ, cấp được 41.483 giấy chứng nhận với 52.058,88 ha Tính đến nay trên địa bàn toàn tỉnh, gần 29,09% diện tích đất lâm nghiệp đã được giao và cấp GCNQSDĐ cho các chủ quản lý Trong đó: Đã giao cho 02 tổ chức: 48.494,43 ha (Vườn Quốc gia Tam Đảo 6.078,4 ha và Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Hang 42.416,03 ha); cho thuê đất cho 12 tổ chức 7.125,97 ha (gồm các công ty lâm nghiệp, các công ty cổ phần, Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm cây NLG và Đại học Nông lâm Thái Nguyên); cấp 76.614 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các

hộ gia đình, cá nhân, với diện tích là 74.442,48 ha

Sau khi được giao đất giao rừng, thì nhận thức của người dân về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã chuyển biến rõ rệt, không còn tình trạng coi rừng là của chung mà đã tập trung đầu tư bảo vệ và phát triển rừng trên diện tích đất được giao; các

vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng giảm đi rõ rệt Mặt khác việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp là cơ sở pháp lý quan trọng để các tổ chức, cá nhân có tăng cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng để đầu tư cho phát triển rừng

- Công tác bảo vệ rừng: Trong giai đoạn năm 2000-2010 đã khoán bảo vệ

rừng phòng hộ và đặc dụng được 1.645.808 lượt ha (Rừng đặc dụng: 460.289 lượt ha; Rừng phòng hộ: 1.185.519 lượt ha)

- Công tác trồng rừng: Từng bước chuyển đổi phương thức trồng cây lâm

nghiệp thuần túy quảng canh sang trồng rừng thâm canh và nông lâm kết hợp với các giống mới năng suất cao hơn Kết quả:

Trang 31

Từ năm 2000-2010 toàn tỉnh trồng được: 102.225 ha, đạt 100,8% kế hoạch; bình quân trồng được 8.518 ha/năm Trong đó: Trồng rừng phòng hộ, đặc dụng: 18.680,9 ha; đạt 82% kế hoạch; trồng rừng sản xuất: 82.201 ha, đạt

100,7% kế hoạch (trong đó trồng rừng sản xuất được hỗ trợ từ ngân sách là 21.216 ha, từ nguồn vốn vay tín dụng 23.516 ha, vốn tự có 37.469 ha); Trồng

cây phân tán (quy diện tích): 22.559 ha

Từ năm 2011 đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 59.200 ha rừng (bình quân mỗi năm trồng được 14.800 ha), trong đó: Trồng rừng sản xuất được 52.760 ha; trồng rừng phòng hộ - đặc dụng được: 3.925 ha và trồng cây phân tán (quy diện tích) được 2.515 ha

- Công tác khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng: Tuyên Quang chủ yếu áp

dụng biện pháp khoanh nuôi bảo vệ rừng Kết quả, giai đoạn 2000-2010 diện tích khoanh nuôi toàn tỉnh được 54.735 ha, trong đó khoanh nuôi tái sinh tự nhiên được 54.735 ha, thành rừng 41.956 ha (đạt 76,6%)

- Khai thác lâm sản: Theo số liệu thống kê của tỉnh: Giai đoạn 2000 - 2010,

toàn tỉnh đã khai thác được 1,65 triệu m3 gỗ các loại; 13,3 triệu ster củi; Khai thác tre nứa các loại 30 triệu cây; Lâm sản ngoài gỗ: Song mây, Mộc nhĩ, Trẩu, vỏ quế, Măng tươi và một số lâm sản khác như lá Cọ, dược liệu, nhựa Trám, Trẩu đạt khoảng 150 ngàn tấn các loại; và từ năm 2011 đến nay, tỉnh Tuyên Quang đã khai thác được 1,06 triệu gỗ các loại và khoảng 60 nghìn tấn tre nứa các loại

Trong thời gian vừa qua, cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã quan tâm đến QLRBV và chứng chỉ rừng; đã có

01 doanh nghiệp (Công ty Lâm nghiệp Hàm Yên) đang tiến hành các bước để đề nghị được cấp chứng chỉ rừng, nhưng đến nay chưa hoàn thành

1.5 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội KRVHLS Tân Trào

1.5.1 Điều kiện tự nhiên

1.5.1.1 Vị trí địa lý

Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào trên địa bàn 5 xã: xã Tân Trào, Trung Yên, Minh Thanh, Bình Yên và Lương Thiện, thuộc khu ATK (an toàn khu) Tân Trào, huyện Sơn Dương Có toạ độ: từ 210

43' 54" đến 210 50' 52" Vĩ độ Bắc; từ 1050 23' 56" đến 1050 31' 23'' Kinh độ Đông

Trang 32

- Phía Đông giáp huyện Định Hoá và huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;

- Phía Tây giáp xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương;

- Phía Nam giáp xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương;

- Phía Bắc giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào gồm 34 khoảnh, 3.892,70 ha; trong đó: Tân Trào: 22 khoảnh, với 2.289,57 ha; Trung Yên: 6 khoảnh, với 1.061,66 ha; Minh Thanh: 01 khoảnh, với 125,36 ha; Bình Yên: 1 khoảnh, với 68,06 ha và Lương Thiện:

4 khoảnh, với 348,05 ha

1.5.1.2 Địa hình, địa chất và thổ nhưỡng

a) Địa hình

Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào nằm trong kiểu địa hình núi trung bình thấp (dưới 700 m); độ cao trung bình toàn khu vực là 400 mét Địa hình Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào chia thành một số kiểu sau:

- Kiểu địa hình vùng núi trung bình và núi thấp: Phân bố ở phía Đông của

các xã: Tân Trào, Trung Yên, phía Đông Bắc xã Lương Thiện và khu vực tiếp giáp với huyện Định Hoá và huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Địa hình chia cắt phức tạp với các đỉnh cao từ 500 m đến xấp xỉ 700m, độ dốc lớn, trên 250, cao nhất là đỉnh núi Khau Nhì (độ cao 686 m) thuộc địa phận các xã Trung Yên và Tân Trào huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

- Kiểu địa hình vùng núi đá và lẫn đá lộ đầu: Phân bố ở các xã: Tân Trào, Trung

Yên, có độ dốc trung bình trên 300, càng lên đỉnh độ dốc càng lớn; độ cao phổ biến khoảng 250m đến 300m, chạy dọc bờ sông Phó đáy; địa hình cực kỳ hiểm trở nhưng cũng rất hùng vĩ Hướng sử dụng là bảo vệ tốt hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi

- Kiểu địa hình vùng đồi cao: Phân bố ở hầu hết ở các xã; độ cao trung bình

từ 200m đến 300m, độ dốc trung bình 200 - 250; vùng này thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp, trồng cây gỗ lớn kết hợp trồng rừng nguyên liệu

- Kiểu địa hình vùng đồi thấp và thung lũng: Phân bố ở hầu hết các xã, kiểu

địa hình là đồi bát úp, độ cao dưới 200m, xen kẽ là các thung lũng Vùng này thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp và trồng rừng nguyên liệu

Trang 33

b) Địa chất, thổ nhưỡng

(1) Địa chất: Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào có các loại đá mẹ chính là: Phiến thạch sét, Sa thạch, Granit và Đá vôi

(2) Thổ nhưỡng: Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào có các loại thổ nhưỡng sau:

- Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm: Có diện tích 175,17 ha, chiếm 4,5%,

phân bố dọc theo triền sông Phó Đáy, Ngòi Thia qua địa phận các xã: Trung Yên, Tân Trào, Bình Yên, huyện Sơn Dương; tầng đất dày trên 1m Đây là diện tích trồng cây lương thực và cây hòa mầu hàng năm

- Đất phù sa ven sông suối: Là do tích tụ phù sa của các sông suối, như:

Sông Phó Đáy, suối Ngòi Thia và các suối nhỏ bắt nguồn từ các khe nước được tích

tụ và lắng đọng lại qua thời gian dài, có diện tích 233,56 ha, chiếm 6% Đất có tầng phù sa dày, có màu xám đen, hàm lượng đạm, lân và kali ở mức trung bình, loại đất này nằm ở vùng có độ dốc thấp (< 30) nên thích hợp cho các loại cây lương thực và loại cây hoa màu

- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: Diện tích 311,42 ha, chiếm 8%, phân

bố rải rác dưới chân địa hình đồi núi, độ dốc thấp (8-150); dốc tụ được hình thành ở các thung lũng thấp do sự ngưng tụ và rửa trôi các sản phẩm từ trên đồi xuống, đất

có màu nâu vàng, thành phần cơ giới thịt nhẹ, lẫn nhiều mảnh đá dăm sắc, cấu tượng tầng đất tơi xốp; thường bị ngập về mùa mưa lũ nhưng lại bị hạn về mùa khô, phù hợp với trồng lúa và cây màu ngắn ngày

- Đất feralit bi biến đổi do trồng lúa nước: Được hình thành trong quá trình

cải tạo trồng lúa nước, với diện tích 136,24 ha, chiếm 3,5%; loại đất này phân bố chủ yếu ở vùng tiếp giáp với đồi núi, thung lũng sông suối, đất có thành phần cơ giới thịt nặng đến sét thích hợp với trồng lúa, mía Do vậy cần bố trí cây trồng thích hợp để có hiệu quả kinh tế cao

- Đất feralit đỏ vàng: Diện tích 1.751,72 ha, chiếm 45%, phân bố ở hầu hết

các xã trong khu vực, diện tích lớn, tầng đất dày, cấu trúc tơi xốp, thoát nước tốt, một diện tích lớn đã được khai thác trồng chè, cọ và cây nông nghiệp, một số diện tích nhỏ đã trồng rừng nguyên liệu

Trang 34

- Đất feralit vàng nhạt: Phát triển trên phiến đá sa thạch tập trung ở các khu

vực đồi bát úp, thấp thoải, với diện tích 1.167,81 ha, chiếm 30% Đất có tầng đất dày, có nhiều mùn, đây là loại đất có diện tích lớn phù hợp với nhiều loại cây chè và cây lâm nghiệp

- Đất feralit sẫm chân núi đá vôi: Phân bố ở chân núi đá, đất nghèo mùn,

đạm trung bình, thường bị khô do mất nước, có diện tích 116,78 ha, chiếm 3%

1.5.1.3 Khí hậu, thuỷ văn

a) Khí hậu: Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào có đặc điểm khí hậu nhiệt đới

gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á - Trung Hoa và chia làm 2 mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 - 240C Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.800mm, phân bố không đều trong năm Mùa mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm, lượng mưa chiếm khoảng 86% lượng mưa của cả năm; mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 14% lượng mưa của cả năm Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.500 giờ Các tháng mùa Đông có số giờ nắng thấp, khoảng 40 - 60 giờ/tháng Các tháng mùa Hè có số giờ nắng cao, khoảng từ 140 - 160 giờ Độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 85 đến 87% Có 2 hướng gió chính: Mùa Đông là hướng gió Đông Bắc hoặc Bắc; mùa Hè là hướng Đông Nam hoặc Nam

b) Thủy văn: Trong khu vực có 3 sông, ngòi chính: Sông Phó Đáy chảy qua địa

phận từ xã Trung Yên, Minh Thanh, Tân Trào, Bình Yên; hướng chảy từ Đông Bắc xuống Tây Nam, chiều dài gần 7 km Ngòi Thia hợp lưu từ suối núi Khau Nhì và Tống Thinh, tại Nà Lừa rồi đổ ra sông Phó Đáy Suối Vực Vầm (suối Lê) chảy từ hướng tây bắc xuống đông nam qua địa phận xã Minh Thanh rồi đổ ra sông Phó Đáy Hệ thống sông suối đều có nước chảy quanh năm, cung cấp đủ nước cho sản xuất nông lâm nghiệp Ngoài ra, trong khu vực còn có khoảng 80 ha các ao hồ, suối, đập, là nguồn dự trữ nước cho sản xuất nông nghiệp trong mùa khô hạn

1.5.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực rừng di tích lịch sử văn hóa Tân Trào

1.5.2.1 Nguồn nhân lực

a) Dân số: Các xã thuộc Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào có 5.012 hộ,

20.152 khẩu, tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm là 1,16% Dân cư phân bố không đều, các thôn bản tập trung ở thung lũng, gần sông suối, nơi có địa hình bằng phẳng, có khả năng làm ruộng nước và dọc theo các trục đường giao thông

Trang 35

b) Dân tộc: Các xã thuộc Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào, có các dân tộc:

Tày, Kinh, Nùng, Dao, Cao Lan, Mông, Sán Dìu, Hoa cùng chung sống hoà thuận, trong đó: Các dân tộc có tỷ lệ cao là: Tày 8.462 khẩu (chiếm 42,0%), Kinh 3.984 khẩu (chiếm 19,8%), Dao 3.744 khẩu (chiếm 18,6%) và một số dân tộc khác; dSân tộc Mông có tỷ lệ thấp nhất (chiếm 0,1%)

c) Lao động - việc làm: Các xã Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào có lượng

lao động dồi dào; tổng số lao động toàn vùng là 9.922 lao động, trong đó lao động nông lâm nghiệp 9.291 người (chiếm 93,6%), nhưng chủ yếu là lao động trong ngành nông lâm nghiệp chưa qua đào tạo, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp đã qua đào tạo rất thấp (333 người, chiếm 3,3 %)

1.5.2.2 Về phát triển kinh tế

a) Về tình hình thu nhập và kinh tế hộ gia đình:

Bảng 1.1: Thu nhập, đời sống các hộ thuộc các xã khu rừng DTLSTT

Kinh tế hộ Tổng

SL

LT (tấn)

Bình quân (Kg /người /năm)

Tổng

số hộ

Hộ giàu

Hộ khá

Hộ Trung bình

Hộ nghèo

Số

hộ

Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Quy hoạch rừng đặc dụng Tân Trào và điều tra bổ sung năm 2014)

Số liệu bảng trên cho thấy: Toàn vùng, chỉ có 134 hộ giàu, 734 hộ khá, 1.434 hộ trung bình và 2.710 hộ nghèo (chiếm 54,1%), mức sống dân cư các xã trong vùng còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao

b) Thực trạng sản xuất nông nghiệp

Khu vực kinh tế nông nghiệp có tăng trưởng tương đối ổn định, có xu hướng phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường, nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích, nâng cao chất lượng sản phẩm:

Trang 36

- Trồng trọt: Theo số liệu thống kê từ năm 2005 đến năm 2013 diện tích gieo trồng không tăng nhưng sản lượng các loại cây trồng liên tục tăng Cây lương thực chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, năm 2013 diện tích gieo trồng cây lương thực là 1.164,4 ha, tổng sản lượng đạt 9.340 tấn, tăng 9,5% so với năm

2005 Lương thực bình quân đầu người đạt 469 kg/người, về cơ bản đáp ứng đủ cho nhu cầu về lương thực và có dự trữ

- Chăn nuôi: Chăn nuôi có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Trong những năm qua, các cấp chính quyền đã quan tâm chú trọng đến giống gia súc, gia cầm mới, có năng suất và chất lượng cao; hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, phòng chống rét và tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm nên chăn nuôi trong vùng

có tốc độ tăng trưởng ngày càng cao, tạo tiền đề để phát triển kinh tế lâm nghiệp Đến nay, đàn trâu 4.224 con, đàn Bò 2.131 con, đàn Lợn 15.993 con, đàn gia cầm 152,3 nghìn con Diện tích ao hồ thả cá 86,9 ha

- Cây công nghiệp: Chè là một trong những cây công nghiệp quan trọng của

huyện Sơn Dương và của tỉnh Tuyên Quang, là cây có thu nhập ổn định, góp phần xoá đói giảm nghèo cho các hộ trong vùng Tổng diện tích chè của các xã Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào có 575,1 ha, năng suất chè đạt 62,1 tạ/ha, sản lượng 3.571 tấn chè búp tươi

Nhóm cây công nghiệp hàng năm như mía phát triển tốt; các cây lạc, đỗ tương phát triển không ổn định

c) Cơ sở hạ tầng

(c1) Giao thông: Các xã thuộc Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào có Quốc

lộ 2C chạy qua, nối liền Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào với các huyện của tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Nội, Bắc Cạn, Thái Nguyên Ngoài quốc lộ 2C còn có đường liên xã, đường trục thôn, đường ngõ xóm và đường nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp

(c2) Thủy lợi: Các xã thuộc Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào có 23 hồ

chứa, 23 đập tràn, 6 đập va, 8 phai tạm, với tổng số kênh mương dài 114,9 km (trong đó kênh mương đã kiên cố hoá 56 km), đảm bảo tưới cho 8.472 ha, đạt 74% diện tích lúa cả năm

Trang 37

Tuy đã hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp nhưng chất lượng các công trình đang bị xuống cấp, 50% hệ thống kênh mương chưa được kiên cố hóa vì vậy hiệu suất sử dụng không cao, thường chỉ đạt 60% - 70% công suất thiết kế; cần đầu tư xây dựng mới và nâng cấp các công trình thuỷ lợi để đáp ứng nhu cầu nước tưới cho sản xuất nông nghiệp

(c3) Điện: Tất cả các xã đều có điện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện

là 99,44%, số còn lại sống phân tán, xa trung tâm, điều kiện kinh tế khó khăn nên không có khả năng kéo đường dây điện về nhà; một số hộ ở gần nguồn nước sử dụng máy thủy điện nhỏ

(c4) Nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn: Nguồn nước sinh hoạt của

nhân dân chủ yếu là nước giếng và nước khe, suối Trong những năm gần đây Chương trình 135, Chương trình nước sạch nông thôn đã đầu tư xây dựng được một số công trình cấp nước sinh hoạt cho nhân dân như công trình nước tự chảy, giếng khoan Số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh là 3.638 hộ (đạt 72%), số

hộ còn lại sử dụng nước chưa đảm tiêu chuẩn vệ sinh đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân đặc biệt là người cao tuổi và trẻ em

1.5.2.3 Về Văn hoá - xã hội

a) Văn hoá - thông tin: Mạng lưới thông tin, văn hoá của các xã trong vùng

tương đối hoàn thiện; 100% số xã đều có điểm Bưu điện văn hoá xã, được phủ sóng điện thoại di động, sóng phát thanh truyền hình, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận kịp thời với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương

b) Giáo dục - Đào tạo: Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học đạt 99,9%; tỷ lệ học

sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 96,47% Toàn khu có 01 trường Phổ thông dân tộc nội trú; các xã đều có các trường giáo dục từ mầm non đến trung học cơ sở Tuy nhiên cơ sở vật chất trường học còn thiếu nhất là trường mẫu giáo nên việc huy động trẻ trong độ tuổi đi nhà trẻ còn khó khăn; tỷ lệ học sinh sau khi tốt nghiệp THCS tiếp tục học tại các trường PTTH còn thấp do cự ly đi học xa, điều kiện kinh

tế của các gia đình còn khó khăn

Trang 38

1.5.2.4 Về an ninh, quốc phòng, di tích lịch sử văn hoá và cảnh quan

a) Về an ninh, quốc phòng

Các xã trên địa bàn Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào đã kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh; đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng khu vực phòng thủ huyện vững mạnh:

- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đặc biệt là an ninh nông thôn luôn được đảm bảo; làm tốt công tác phòng, chống tội phạm, phòng chống ma túy và tệ nạn xã hội

b) Về di tích lịch sử văn hoá

Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào - Thủ đô khu giải phóng, thủ

đô kháng chiến nằm trên địa bàn hai huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Đây là khu di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia, gắn liền với hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận, các

bộ, ban, ngành, ghi dấu những sự kiện trọng đại của đất nước trong thời kỳ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945 và trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược Tân Trào với những địa danh nổi tiếng như: Lán Nà Nưa (Nà Lừa), Cây Đa Tân Trào, Đình Tân Trào, Đình Hồng Thái, Lán Hang Bòng, đã đi vào lịch sử, là niềm vinh dự, tự hào của nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang và đồng bào cả nước Di tích lịch sử Tân Trào được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt với tổng số trên 138 điểm di tích lịch sử, văn hoá, trong đó 5 xã trên địa bàn Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào có 104 điểm, cụm di tích lịch sử, văn hoá, cụ thể:

- Xã Tân Trào, huyện Sơn Dương có 33 di tích Nằm trong căn cứ địa Việt Bắc, đã vinh dự được chọn là Thủ đô khu giải phóng, trung tâm căn cứ địa cách mạng của cả nước, nơi Trung ương Đảng, Bác Hồ ở, làm việc để lãnh đạo cách mạng thành công Nơi đây, đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại, quyết định vận mệnh của dân tộc: Thành lập khu giải phóng, thống nhất Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và cứu quốc quân thành Quân giải phóng; hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng (từ 13 - 15/8/1945) quyết định Tổng khởi nghĩa; họp Quốc dân đại hội (tiền thân của Quốc hội Việt Nam) bầu Uỷ ban quân giải phóng - tức Chính phủ

Trang 39

lâm thời do Bác Hồ làm Chủ tịch, quy định Quốc kỳ, Quốc ca; đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc bản quân lệnh số 1 của Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc, chỉ huy đơn vị giải phóng tiến về giải phóng thủ đô Hà Nội

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát đi từ Tân Trào, hơn hai mươi triệu đồng bào cả nước đã nhất tề đứng lên làm nên thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, đưa dân tộc ta tiến vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

- Xã Trung Yên, huyện Sơn Dương có 17 di tích Cụm di tích Trung Yên, huyện Sơn Dương: Trung Yên là một trong các xã an toàn khu (ATK) có nhiều cơ quan đóng trụ sở làm việc trong cuộc kháng chiến chống Pháp như: cơ quan Bộ Nội

vụ, Bệnh xá 303, cơ quan Mặt trận Liên Việt, cơ quan Thường trực Quốc hội Đặc biệt, thôn Chi Liền, xã Trung Yên là nơi đồng chí Tôn Đức Thắng cùng hai cơ quan Mặt trận Liên Việt, Thường trực Quốc hội đã ở và làm việc từ cuối năm 1952 đến tháng 10 năm 1954

- Xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương có 32 di tích, như: Sân bay Lũng Cò, nơi đón phái đoàn Đồng Minh đến gặp chí Hồ Chí Minh tháng 7/1945; nơi ở và làm việc của Nha Công an từ tháng 4/1947 đến tháng 9/1950; nơi ở và làm việc của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam từ năm 1947 đến năm 1954; nơi ở và làm việc của Bộ Canh nông từ năm 1948 đến năm 1951; nơi ở và làm việc của Bộ Tài chính từ năm 1949 đến năm 1954 và nơi ở và làm việc của nhiều bộ ngành trung ương khác

- Xã Bình Yên, huyện Sơn Dương có 16 di tích, như: Khu di tích Phủ Chủ tịch - Phủ tướng phủ ở thôn Lập Binh, xã Bình Yên là nơi ở và làm việc của Phủ chủ tịch, Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ; nơi đây, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiều quyết sách quan trọng của cách mạng Việt Nam, đưa cuộc kháng chiến của dân tộc vượt qua từng chặng đường gian khổ đi đến thắng lợi hoàn toàn

- Xã Lương Thiện, huyện Sơn Dương có 6 di tích

Các di tích lịch sử luôn được các cấp, các ngành và nhân dân trân trọng, bảo

vệ và tôn tạo; tuy nhiên hầu hết các điểm di tích lịch sử công tác tôn tạo còn hạn chế; mới dừng lại ở việc xây nhà bia tưởng niệm (trừ Nha Công an ở xã Minh Thanh)

Trang 40

1.5.3 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực rừng VHLS Tân Trào

1.5.3.1 Cơ hội và thuận lợi

a) Về điều kiện tự nhiên:

- Điều kiện khí hậu, thời tiết của khu vực có tổng tích nhiệt cả năm khá lớn, độ ẩm không khí cao, thuận lợi cho sự nảy mầm của hạt giống và tái sinh tự nhiên; lượng mưa tập trung vào một số tháng trong năm, thuận lợi cho công tác trồng, chăm sóc rừng

- Phần lớn diện tích đất là Đất feralit đỏ vàng và Đất feralit vàng nhạt phù hợp với nhiều loại cây lâm nghiệp phát triển; đồng thời, đất đai quy hoạch cho rừng đặc dụng Tân Trào có nhiều diện tích còn mang tính chất đất rừng, thuận lợi cho công tác phát triển rừng

- Địa hình hiểm trở của một số dãy núi là cơ hội để bảo vệ tốt sự đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi

- Diện tích rừng trong khu vực chủ yếu là bảo vệ nguồn nước cho Sông Phó đáy, Ngòi Thia và Suối Vực Vầm (suối Lê) là những cảnh quan gắn liền với khu di tích lịch sử đặc biệt quốc gia, do đó là cơ hội để kêu gọi, tìm kiếm các dự án đầu tư và các nguồn vốn viện trợ của các tổ chức trong nước và quốc tế cho xây dựng hạ tầng và phát triển vốn rừng

b) Về điều kiện kinh tế - xã hội:

- Khu vực nghiên cứu có nguồn lao động dồi dào, người dân có tính cần cù, chịu khó và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông, lâm nghiệp

- Bình quân lương thực đầu người cao hơn bình quân toàn tỉnh, thuận lợi cho phát triển chăn nuôi, cải thiện đời sống, giảm phụ thuộc vào tài nguyên động vật, thực vật rừng

- Địa bàn nghiên cứu có nhiều di tích lịch sử cấp quốc gia cần được bảo tồn, bảo vệ, đặc biệt có xã Tân Trào là xã điểm nông thôn mới của cả nước, do đó công tác bảo vệ và phát triển rừng, phát triển kinh tế - xã hội được các cấp, các ngành trong và ngoài tỉnh quan tâm, có nhiều cơ hội thu hút được nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế cho phát triển kinh tế-xã hội của địa phương nói chung, trong đó có bảo vệ và phát triển rừng

Ngày đăng: 08/01/2015, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1997), Báo cáo tổng kết quy hoạch, tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết quy hoạch
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 1997
4. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2013), Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013 về việc “Phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2013
9. Đào Thị Minh Châu, Suree (2004), Đánh giá tình hình khai thác sử dụng lâm sản ngoài gỗ và đề xuất giải pháp quản lý bền vững ở vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, Đại học Vinh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình khai thác sử dụng lâm sản ngoài gỗ và đề xuất giải pháp quản lý bền vững ở vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống
Tác giả: Đào Thị Minh Châu, Suree
Năm: 2004
11. Nguyễn Văn Đẳng (1998), “Diễn văn khai mạc Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng”, Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn văn khai mạc Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng”, "Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
Tác giả: Nguyễn Văn Đẳng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
12. Võ Đại Hải (2005), “Một vài Kinh nghiệm quản lý rừng trồng bền vững trong các dự án trồng rừng Việt - Đức kfw” (bài đăng trên website Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam http://vafs.dungnq.com/2005/07/mot-vai-kinh-nghiem-quan-ly-rung-trong-ben-vung-trong-cac-du-an-trong-rung-viet-duc-kfw/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài Kinh nghiệm quản lý rừng trồng bền vững trong các dự án trồng rừng Việt - Đức kfw
Tác giả: Võ Đại Hải
Năm: 2005
13. Hội thảo khoa học ngày 24/5/2013 tại tỉnh Hòa Bình về “Đồng quản lý rừng đặc dụng Việt Nam-Những bài học thực tiễn và khuyến nghị chính sách”(bài đăng trên http://www.vietnamplus.vn/Home/Xay-dung-chinh-sach-nham-quan-ly-rung-dac-dung/20135/199092.vnplus Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng quản lý rừng đặc dụng Việt Nam-Những bài học thực tiễn và khuyến nghị chính sách
15. Phạm Đức Lâm và Lê Huy Cường (1998), “Quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững lưu vực sông Sê San”, Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững lưu vực sông Sê San”, "Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
Tác giả: Phạm Đức Lâm và Lê Huy Cường
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
16. Trần Ngọc Lân và các cộng sự (1999), Phát triển bền vững vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên và vườn Quốc gia, Đại học Vinh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: hát triển bền vững vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên và vườn Quốc gia
Tác giả: Trần Ngọc Lân và các cộng sự
Năm: 1999
17. Nguyễn Ngọc Lung (1998), “Hệ thống quản lý rừng và các chính sách lâm nghiệp Việt Nam”, Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống quản lý rừng và các chính sách lâm nghiệp Việt Nam”, "Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lung
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
19. Hồ Viết Sắc (1998), “Quản lý bền vững rừng khộp ở Ea Sup - Đắc Lắc”, Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý bền vững rừng khộp ở Ea Sup - Đắc Lắc
Tác giả: Hồ Viết Sắc
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
20. Đỗ Đình Sâm (1998), “Du canh với vấn đề quản lý rừng bền vững ở Việt Nam”, Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du canh với vấn đề quản lý rừng bền vững ở Việt Nam”, "Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
Tác giả: Đỗ Đình Sâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
32. Nguyễn Vũ (2011), “Năm quốc tế về rừng 2011”, Bài đăng trên http://www.vtr.org.vn/?pid=2694 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm quốc tế về rừng 2011
Tác giả: Nguyễn Vũ
Năm: 2011
33. Lê Thiên Vinh (2007), “Nghiên cứu giải pháp quản lý rừng bền vững tại BQL rừng phòng hộ Hướng Hóa-Đakrông, tỉnh Quảng Trị” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp quản lý rừng bền vững tại BQL rừng phòng hộ Hướng Hóa-Đakrông, tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Lê Thiên Vinh
Năm: 2007
34. Viện tƣ vấn phát triển KT-XH nông thôn và miền núi (2009), Báo cáo quản lý rừng bền vững ở Việt Nam.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quản lý rừng bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Viện tƣ vấn phát triển KT-XH nông thôn và miền núi
Năm: 2009
31. Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội cho ý kiến về kết quả thực hiện dự án trồng mới 5 tri?u ha r?ng (Bài ??ng t?i http://nguyensinhhung.net/ubtvqh-cho-y-kien-ve-ket-qua-thuc-hien-du-an-trong-moi-5-trieu-ha-rung.htmlngày11/10/2011 ) Link
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005) Quyết định số 62/2005/QĐ- BNN, ngày 12/10/2005 về việc ban hành Bản quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng Khác
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (28/7/2014), Quyết định số: 3322/QĐ- BNN-TCLN về việc công bố hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp năm 2013 Khác
7. Chính phủ (2006), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Khác
10. Trần Văn Con (1999), Cấu trúc rừng tự nhiên ở Tây Nguyên và khả năng ứng dụng trong kinh doanh rừng Khác
14. Jeremy Broadhead, Kinh nghiệm và bài học toàn cầu về quản lý rừng bền vững, Bản tin FSSP số 22-23, 12/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Thu nhập, đời sống các hộ thuộc các xã khu rừng DTLSTT - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Bảng 1.1 Thu nhập, đời sống các hộ thuộc các xã khu rừng DTLSTT (Trang 35)
Hình 2.1. Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Hình 2.1. Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài (Trang 45)
Bảng 3.1: Diện tích đất đai, tài nguyên các xã Khu rừng VHLS Tân Trào - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.1 Diện tích đất đai, tài nguyên các xã Khu rừng VHLS Tân Trào (Trang 49)
Bảng 3.3: Trữ lƣợng rừng Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.3 Trữ lƣợng rừng Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào (Trang 50)
Bảng 3.2: Diện tích Rừng đặc dụng, Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.2 Diện tích Rừng đặc dụng, Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào (Trang 50)
Bảng 3.4: Hiện trạng chủ quản lý đất đai Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.4 Hiện trạng chủ quản lý đất đai Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào (Trang 51)
Hình 3.1: Biểu đồ hiện trạng chủ quản lý đất lâm nghiệp - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Hình 3.1 Biểu đồ hiện trạng chủ quản lý đất lâm nghiệp (Trang 52)
Bảng 3.5: Diện tích các kiểu thảm thực vật rừng - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.5 Diện tích các kiểu thảm thực vật rừng (Trang 57)
Bảng 3.6: Thành phần thực vật rừng trong khu rừng đặc dụng - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.6 Thành phần thực vật rừng trong khu rừng đặc dụng (Trang 58)
Bảng 3.10: Tính đa dạng của động vật rừng trong KRVHLS Tân Trào - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.10 Tính đa dạng của động vật rừng trong KRVHLS Tân Trào (Trang 61)
Bảng 3.11: Các loài thú quý hiếm trong Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.11 Các loài thú quý hiếm trong Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào (Trang 62)
Bảng 3.12: Các loài chim quý hiếm trong Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.12 Các loài chim quý hiếm trong Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào (Trang 63)
Bảng 3.14: Kết quả công tác tuyên truyền, ký cam kết bảo vệ rừng - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.14 Kết quả công tác tuyên truyền, ký cam kết bảo vệ rừng (Trang 65)
Hình 3.2: Nhân dân xã Trung Yên, huyện Sơn Dương  Trồng rừng sản xuất có hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước (theo QĐ 147/2007/QĐ-TTg) - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Hình 3.2 Nhân dân xã Trung Yên, huyện Sơn Dương Trồng rừng sản xuất có hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước (theo QĐ 147/2007/QĐ-TTg) (Trang 68)
Bảng 3.15: Thống kê mốc 3 loại rừng tại các xã - nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng văn hóa lịch sử tân trào, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.15 Thống kê mốc 3 loại rừng tại các xã (Trang 68)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w