DANH MỤC BẢN ĐỒ, HÌNH, BẢNG BIỂU Trang Bản đồ huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ Bảng đồ hiện trạng sử dụng đất Bản đồ hiện trạng rừng và đất đất lâm nghiệp Bản đồ quy hoạch bảo vệ và phát triển
Trang 1NGUYỄN ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT NỘI DUNG
CƠ BẢN QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP HUYỆN TÂN SƠN
TỈNH PHÚ THỌ, GIAI ĐOẠN 2011 - 2020
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Sỹ Trung
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là do tôi trực tiếp nghiên cứu và tổ chức thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Sỹ Trung - Khoa sau Đạo học Trường Nông lâm Thái Nguyên
Các nội dung trích dẫn trong luận văn được trích dẫn từ những báo cáo, văn bản của huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, chính sách của Nhà nước và các công trình khoa học trong và ngoài nước đã được công bố rộng rãi
Các số liệu, kết quả trong đề tài là trung thực và do bản thân tôi nghiên cứu, thu thập tại cơ sở và hiện trường
Phú Thọ, ngày 20 tháng 8 năm 2010
Người viết cam đoan
Nguyễn Anh Tuấn
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp trong chương trình đào tạo Thạc sỹ Lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học tại Khoa đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi luôn nhận được sự ủng hộ và giúp
đỡ quý báu của các thầy, cô giáo, các cơ quan, đơn vị, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban giám hiệu, Khoa đào tạo Sau đại học và toàn thể giáo viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá đào tạo
- PGS TS Lê Sỹ Trung là người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm, Sở Tài nguyên
và Môi trường, Uỷ ban nhân dân huyện Tân Sơn, các phòng ban của huyện, Hạt Kiểm lâm Tân Sơn, các lâm trường, trại, trung tâm, xí nghiệp giống lâm nghiệp đóng trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã tạo mọi điều kiện để tôi thu thập tài liệu, hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình
đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thiện luận văn Chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo và các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cám ơn !
Phú Thọ, ngày 20 tháng 8 năm 2011
Học viên Nguyễn Anh Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
1.2.3.1 Đặc thù của công tác quy hoạch lâm nghiệp 14
1.2.3.3 Quy hoạch ở Phú Thọ và huyện Tân Sơn 18
2.3.1 Những căn cứ pháp lý chủ yếu để lập quy hoạch 21 2.3.2 Đánh giá thực trạng quản lý phát triển lâm nghiệp 21 2.3.3 Nghiên cứu một số dự báo cơ bản liên quan đến quy hoạch phát
Trang 52.3.4 Đề xuất các nội dung quy hoạch đến năm 2020 22
2.4.1 Sử dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc 22
2.4.3 Sử dụng phương pháp phúc tra thực địa tài nguyên rừng 23
3.1 Những căn cứ pháp lý quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện 26 3.2 Đánh giá điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên 27 3.3 §¸nh gi¸ thùc tr¹ng ph¸t triÓn kinh tÕ-x· héi 32
3.5 Đánh giá hiện trạng rừng và kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp 41 3.6 Dự báo các yếu tố tác động đến công tác bảo vệ và phát triển rừng 57
3.7 Đề xuất quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020 62
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH & CN : Khoa học và công nghệ
Trang 7DANH MỤC BẢN ĐỒ, HÌNH, BẢNG BIỂU
Trang Bản đồ huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ
Bảng đồ hiện trạng sử dụng đất
Bản đồ hiện trạng rừng và đất đất lâm nghiệp
Bản đồ quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Tân Sơn
Sơ đồ Venn - Mối quan hệ giữa Lâm nghiệp với các ngành khác 40
Hình 3: Diện tích đất lâm nghiệp theo chủ quản lý 45 Hình 4: Diện tích đất trống theo 3 loại rừng 46 Hình 5: Biến động diện tích đất lâm nghiệp giai đoạn 2006-2010 49 Hình 6: So sánh trước và sau quy hoạch sử dụng đất 67
B¶ng 3.3 Sè liÖu tµi nguyªn kho¸ng s¶n huyÖn T©n
S¬n
30 B¶ng 3.4 C¬ cÊu kinh tÕ huyÖn qua mét sè n¨m 32 B¶ng 3.5 Gi¸ trÞ s¶n xuÊt n«ng, l©m nghiÖp, thuû
Bảng 3.10 Diện tích đất lâm nghiệp theo chủ quản lý 44 Bảng 3.11 Diện tích đất trống phân theo đơn vị hành chính 45 Bảng 3.12 Diện tích đất trống phân theo theo 3 loại rừng 46
Trang 8Bảng 3.14 Diện tích rừng và đất rừng theo các thời kỳ 48 Bảng 3.15 Kết quả sản xuất lâm nghiệp năm 2008 -2010 50 Bảng 3.16 Giá trị sản xuất và chuyển dịch cơ cấu ngành lâm nghiệp 51 Bảng 3.17 Dự báo lao động phân theo ngành đến 2020 58 B¶ng 3.18 So sánh trước và sau quy hoạch sử dụng đất 66 Bảng 3.19 Quy hoạch 3 loại rừng huyện Tân Sơn 68 Bảng 3.20 Quy hoạch theo chủ quản lý huyện Tân Sơn 70 B¶ng 3.21: Qui hoạch các biện pháp quản lý rừng 71 B¶ng 3.22: Tính giá trị thương mại gỗ nguyên liệu Keo 78 B¶ng 3.23 Đề xuất tập đoàn cây trồng cho rừng sản xuất 79 Bảng 3.24: Đề xuất tập đoàn cây trồng phân tán 80 B¶ng 3.25: Diện tích, sản lượng khai thác rừng huyện Tân Sơn 81 B¶ng 3.26: Dự kiến hạng mục đầu tư phòng cháy chữa cháy rừng 82 B¶ng 3.27 Phân kỳ quy hoạch phát triển lâm nghiệp
huyện Tân Sơn
86
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá, không những cung cấp gỗ và các loại lâm sản khác, mà nó còn có giá trị bảo vệ và cải tạo môi trường sinh thái, tạo cảnh quan du lịch, cung cấp oxy, và hấp thụ CO2, tham gia vào việc giữ cán cân oxy làm giảm lượng CO2 trong thành phần của khí quyển, góp phần làm giảm hiệu ứng nhà kính cho trái đất Với những tác động tiêu cực, khó lường của sự biến đổi khí hậu toàn cầu người ta càng thấy rõ hơn vai trò và ý nghĩa to lớn của rừng Hiện nay vai trò của rừng nói riêng hay ngành Lâm nghiệp nói chung không những được đánh giá ở khía cạnh kinh tế thông qua những sản phẩm trước mắt thu được từ rừng mà còn tính đến những lợi ích to lớn về xã hội, môi trường mà rừng và nghề rừng mang lại Sự tác động đến rừng và đất rừng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nghề rừng
và sự phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực có rừng mà còn tác động nhiều mặt đến các khu vực phụ cận cũng như nhiều ngành sản xuất khác Do vậy, để sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững và lâu dài, việc xây dựng phương án quy hoạch hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý
Từ trước đến nay, để xây dựng phương án quy hoạch đảm bảo là cẩm nang trong quản lý rừng, người lập quy hoạch cần điều tra đầy đủ, chính xác về: điều kiện
tự nhiên; điều kiện kinh tế - xã hội, tình hình kinh doanh và các quy luật cơ bản của tài nguyên rừng trong đối tượng quy hoạch Tuy nhiên, trong điều tra và nghiên cứu các điều kiện cơ bản (tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội, ) để xây dựng phương án QHSDĐLN còn chưa chú ý tới cảnh quan tức là chưa chú ý tới mối tương hỗ giữa các hệ sinh thái trong cảnh quan Còn xem xét, nghiên cứu các yếu tố cảnh quan (tự nhiên, nhân tạo) một cách riêng rẽ, vì vậy tính khả thi của các phương án QHSDĐLN chưa cao, thường phải điều chỉnh khi thực hiện hoặc nếu không điều chỉnh thì việc sử dụng rừng và đất rừng chưa đúng với tiềm năng vốn có Do đó, tính bền vững trong quản lý rừng thấp, là một trong những nguyên nhân làm cho rừng suy giảm cả về diện tích và chất lượng
Huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ là huyện có tiềm năng phát triển lâm nghiệp, với quỹ đất lâm nghiệp lớn (chiếm 88,7% diện tích tự nhiên); có nguồn nhân lực dồi dào, người dân có kinh nghiệm trong lĩnh vực tổ chức quản lý, thâm canh rừng theo hướng tập trung với quy mô lớn; đây cũng là lĩnh vực được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu
Trang 11tư; cơ chế quản lý ngày càng hoàn thiện; thông qua các chương trình, dự án đã có những chính sách hỗ trợ cụ thể cho phát triển lâm nghiệp
Trong những năm qua, bảo vệ và phát triển rừng là điều kiện quan trọng phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn miền núi, đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của huyện và tỉnh; đã hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với chế biến; năng suất, chất lượng và độ che phủ rừng không ngừng được nâng lên, năm 2010 đạt 73,2% Rừng đã đóng góp tích cực vào phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, cải thiện và nâng cao đời sống người dân Do đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tân Sơn xác định: phát triển kinh tế lâm nghiệp, phát triển rừng là một trong những chương trình kinh tế trọng điểm của huyện
Thực hiện việc rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính Phủ, nhằm cân đối lại cơ cấu 3 loại rừng trong đất lâm nghiệp
để phát huy tối đa về hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp Kết quả rà soát đã làm thay đổi quy mô, vị trí, diện tích 3 loại rừng, dẫn đến việc thay đổi kế hoạch hàng năm trong công tác quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp Những thay đổi trên đòi hỏi phải xây dựng quy hoạch, lập kế hoạch và triển khai phương án quy hoạch lâm nghiệp hợp lý, có cơ sở khoa học phù hợp với thực tế, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người dân trong vùng, thực hiện xoá đói giảm nghèo
và đưa kinh tế xã hội miền núi phát triển hoà nhập với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là hết sức cần thiết
Xuất phát từ những vấn đề trên, để có những cơ sở khoa học góp phần quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện theo hướng bền vững, trên cơ sở tiềm năng đất đai, quy hoạch phát triển lâm nghiệp phải coi trọng cả 4 khâu: trồng, bảo vệ, làm giàu rừng và sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng Quy hoạch Phát triển lâm nghiệp phải đặt trong mối quan hệ tổng thể, hài hòa và ăn khớp với quá trình chuyển đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; không gây cản trở mà phải hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển Đó là lý do tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất nội dung cơ bản quy hoạch lâm
nghiệp huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ, giai đoạn 2011 - 2020”
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ngày nay, tài nguyên rừng của thế giới cũng như ở Việt Nam đã và đang bị thu hẹp về diện tích, giảm sút về chất lượng, môi trường bị suy thoái, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng dẫn đến thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh xảy ra ngày càng tăng Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do áp lực về dân số, kéo theo hoạt động kinh
tế diễn ra mạnh mẽ, đồng thời phát triển các ngành công nghiệp, sự đô thị hoá cũng diễn ra với tốc độ nhanh Chính vì vậy, việc quy hoạch sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên rừng cũng như xây dựng nền lâm nghiệp bền vững không còn là trách nhiệm riêng của một quốc gia nào mà là công việc chung của toàn nhân loại
1.1 Trên thế giới
Việc quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững nói chung
và tài nguyên rừng nói riêng đã và đang được các nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm
Tuỳ theo cách nhìn nhận về quy hoạch lâm nghiệp sao cho hợp lý đã được nhiều tác giả đề cập tới ở những mức độ rộng hẹp khác nhau Việc đưa ra một khái niệm thống nhất là một điều rất khó thực hiện, song phân tích qua các khái niệm cho thấy có những điểm giống nhau, đó là dựa trên quan điểm về sự phát triển bền vững thì các hoạt động có liên quan đến tài nguyên rừng phải được xem xét một cách toàn diện và đồng thời đảm bảo sử dụng nó theo hướng lâu dài và bền vững
Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, các đặc điểm xã hội và nhân văn Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng trên thế giới luôn gắn liền với lịch
sử phát triển của xã hội loài người Quy hoạch lâm nghiệp luôn phụ thuộc vào Quy hoạch vùng và Quy hoạch cảnh quan trong quá trình xây dựng phương án quy hoạch
1.1.1 Quy hoạch vùng
Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Trang 13- Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất của
một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân tộc đó được phát triển đến mức độ nào”
- Lê Nin đã chỉ ra “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên kinh
tế xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố sản xuất” Vì vậy,
nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bố lực lượng sản xuất cho một vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng tiềm tàng và tương lai phát triển của vùng đó
Dựa trên học thuyết của Mác và Ăng Ghen, V.I Lê Nin đã nghiên cứu các hướng cụ thể về kế hoạch hóa phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội chủ nghĩa Sự phân bố lực lượng sản xuất được xác định theo các nguyên tắc sau:
- Phân bố lực lượng sản xuất có kế hoạch trên toàn bộ lãnh thổ của đất nước, tỉnh, huyện nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của tất cả các vùng và quá trình tái sản xuất mở rộng
- Kết hợp tốt lợi ích của Nhà nước và nhu cầu phát triển kinh tế của từng tỉnh
- Sử dụng một cách hiệu quả nhất lãnh thổ của đất nước
- Bố trí hợp lý các hoạt động của con người nhằm đảm bảo tái sản xuất mở rộng
- Xây dựng đồng bộ môi trường sống
Quy hoạch lãnh thổ đất nước được phân thành các vùng:
+ Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ
Trang 14+ Lãnh thổ thiên nhiên không có nông thôn, sự tác động của con người vào đây rất ít
+ Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, có sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho nghỉ mát
+ Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn nhưng
có sự tác động của con người
+ Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
+ Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người
b Nội dung của quy hoạch
Quy hoạch lãnh thổ địa phương là thể thiện quy hoạch chi tiết các liên hiệp nông - công nghiệp và giải quyết các vấn đề sau:
- Cụ thể hóa, chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp
- Phối hợp giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp theo ngành dọc
- Xây dựng các mạng lưới công trình phục vụ công cộng và sản xuất
- Tổ chức đúng đắn mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hợp trong phạm vi hệ thống nông thôn
- Bảo vệ môi trường thiên nhiên và tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân lao động
ăn, ở, nghỉ ngơi
1.1.1.2 Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Pháp
Trong mô hình quy hoạch vùng ở Pháp, người ta đã nghiên cứu hàm mục tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các ràng buộc trong nội vùng, có quan hệ với các vùng khác và với nước ngoài Thực chất mô hình là một bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc như sau:
a) Các hoạt động sản xuất
- Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng trọt công nghiệp với các mức thâm canh cao độ, thâm canh trung bình và cổ điển (truyền thống)
- Hoạt động khai thác rừng
Trang 15- Hoạt động đô thị: chế biến gỗ, bột giấy, vận chuyển, dịch vụ thương mại b) Nhân lực theo các dạng thuê thời vụ, các loại lao động nông nghiệp, lâm nghiệp
c) Cân đối xuất nhập, thu chi và các cân đối khác vào ràng buộc về diện tích đất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực
Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong điều kiện thực tiễn của vùng, so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài
1.1.1.3 Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Thái Lan
Công tác qui hoạch phát triển vùng được chú ý từ những năm 1970 Về hệ thống phân vị, qui hoạch tiến hành theo ba cấp: Quốc gia, vùng, á vùng hay địa phương
- Vùng (Region) được coi như là một á miền (Subdivision) của đất nước đó
là điều cần thiết để phân chia Quốc gia thành á miền theo các phương diện khác nhau như: phân bố dân cư, khí hậu, địa hình, đồng thời vì lý do quản lý hay chính trị, đất nước được chia thành các miền như: đơn vị hành chính hay đơn vị bầu cử
- Qui mô diện tích của một vùng phụ thuộc vào kích thước và diện tích của đất nước Thông thường vùng nằm trên một diện tích lớn hơn đơn vị hành chính lớn nhất
Sự phân bố các vùng theo mục đích của qui hoạch, theo đặc điểm của lãnh thổ
- Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền được xây dựng theo 2 cách: Thứ nhất: Sự bổ sung của kế hoạch Nhà nước được giao cho vùng, những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch vùng được giải quyết trong kế hoạch Quốc gia
Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của vùng, các
kế hoạch đóng góp vào việc xây dựng kế hoạch quốc gia
Qui hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước, phải phối hợp với Chính phủ và chính quyền địa phương
Dự án phát triển của Hoàng gia Thái Lan đã xác định được vùng nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và chính trị ở Thái Lan và tập trung
Trang 16xây dựng ở 2 vùng: Trung tâm và Đông Bắc Trong 30 năm (1961 - 1988 và 1992 - 1996), tổng dân cư nông thôn trong các vùng nông nghiệp từ 80% giảm xuống 66,6
%, các dự án tập trung vào mấy vấn đề quan trọng: Nước, đất đai, vốn đầu tư kỹ thuật, nông nghiệp, thị trường [24]
1.1.2 Quy hoạch cảnh quan
Thuật ngữ “cảnh quan - Landscape” là tổng thể lãnh thổ tự nhiên của bất kỳ một quy mô nào, có sự đồng nhất tương đối về một số hợp phần tự nhiên nào đó, chúng mang tính chất kiểu loại và được phân loại theo các chỉ tiêu dấu hiệu của sự đồng nhất
đó Cảnh quan được các nhà cảnh quan học Trung Quốc lý giải theo 3 cách:
- Theo phương diện mỹ học, thì cảnh quan đồng nghĩa với từ “phong cảnh” Cảnh quan là đối tượng thẩm mỹ, mà rừng được xem là phong cảnh (rừng phong cảnh)
- Theo phương diện địa lý thì cảnh quan là tổng hợp các thành phần sinh vật, địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu trên bề mặt địa cầu Khái niệm cảnh quan này rất gần gũi với thuật ngữ hệ sinh thái hoặc quần lạc sinh địa
- Cảnh quan sinh thái học Cảnh quan là sự tổ hợp các hệ sinh thái khác nhau trong một không gian Một cảnh quan bao gồm sự tụ họp của một số hệ sinh thái ở liền kề nhau có sự ảnh hưởng lẫn nhau, có chức năng liên quan hỗ trợ và phát sinh đặc điểm nhất định trong một không gian
Cảnh quan có thể thay đổi phụ thuộc vào hình dáng vật lý và vị trí như đỉnh núi, hồ, biển hay đất liền Cảnh quan cũng có thể chia thành cảnh quan nông thôn hay thành thị tùy thuộc vào mức độ “nhân tạo” của cảnh quan đó
Quy hoạch cảnh quan là một hướng nghiên cứu trong khoa học kiến trúc cảnh quan, lý luận và thực tiễn đã có từ khá lâu, nhưng danh từ này thực sự trở thành thuật ngữ khoa học và được nhiều người công nhận thì mới bắt đầu những năm 70 của thế kỷ 20 (Sedon, 1986) Trong cuốn sách được công bố “land use and landscape planning” (Dereh Loviejoy, 1973), quy hoạch cảnh quan là sự sắp xếp mục đích sử dụng thích hợp nhất cho một nơi nào đó có quy mô tương đối lớn
Có nhiều cách hiểu về quy hoạch cảnh quan, nhưng có lẽ điều mà được nhiều người thừa nhận, thì quy hoạch cảnh quan là quá trình điều tiết mối quan hệ hài hòa giữa
Trang 17con người và tự nhiên trên một phạm vi vĩ mô, dựa trên cơ sở nhận thức về tự nhiên và quá trình nhân văn (Stiner and Osterman, 1988; Sedon, 1986; Langevelde, 1994)
Mục đích chung nhất của quy hoạch cảnh quan là thông qua quy hoạch sử dụng đất, bảo tồn và lợi dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững Trên quan điểm này, thì cảnh quan chính là một hệ sinh thái, do đó cảnh quan được quy hoạch muốn đạt được tính bền vững, phải dựa trên những nhận thức và lý luận của sinh thái học (Sedon, 1986; Leita and Ahern, 2002)
- Các nghiên cứu làm cơ sở cho quy hoạch cảnh quan sinh thái
+ Nghiên cứu tính đa dạng sinh học Tính đa dạng sinh học đối với môi trường sống của con người có tầm quan trọng đặc biệt, sự đa dạng sinh học có quan hệ chặt chẽ tới đa dạng cảnh quan, Vì vậy, các nhà sinh học ở Mỹ (California), Nam phi, Chi
lê, Australia (Mayer, Lugo, Wilson) đã tiến hành nghiên cứu sự đa dạng sinh học để làm cơ sở cho quy hoạch cảnh quan các khu vực rừng nguyên sinh Duy trì tính đa dạng cảnh quan, đa dạng loài và tính đa dạng di truyền là một trong những mục tiêu chủ yếu của quản lý tài nguyên thiên nhiên núi chung, quản lý rừng nói riêng
+ Để làm cơ sở quy hoạch cảnh quan sinh thái cho các khu bảo tồn, các nhà khoa học gồm Simpson, Shannnon - Weiner, Richness đã tập trung nghiên cứu về chỉ số đa dạng sinh học Chỉ số đa dạng sinh học là cơ sở đánh giá đa dạng cảnh quan sinh thái khi tiến hành quy hoạch cảnh quan
1.1.3 Quy hoạch lâm nghiệp
Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế Tư bản chủ nghĩa Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu khối lượng gỗ ngày càng tăng Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy
Trang 18Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc “
Khoanh khu chặt luân chuyển”, có nghĩa đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên
rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn
Sau Cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 Phương thức kinh doanh rừng chồi được thay bằng Phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác dài Và
phương thức “Khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức “Chia
đều” của Hartig Hartig đã chia đều chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng
và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm Đến năm 1816, xuất hiện Phương thức luân kỳ lợi dụng của H Cotta, Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm
Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời, quan điểm phương pháp
này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau Và đến cuối thế kỷ 19, xuất hiện phương
pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich Phương pháp này khác với phương pháp “Bình
quân thu hoạch” về căn bản, Judeich cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch
được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai thác Hai phương pháp “Bình quân thu
hoạch” và “Lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh
biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú Còn phương pháp “Lâm phần kinh
tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa
vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng và
biện pháp kinh doanh Cũng từ phương pháp này, còn phát triển thành “Phương
pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra” [21]
Trang 19Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ Năm 1946, Jack G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất” Đây cũng là tài liệu đầu tiên đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất Tại vùng Rhodesia trước đây, nay là cộng hoà Zimbabwe,
Bộ Nông nghiệp đã xuất bản cuốn sổ tay hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất hỗ trợ cho quy hoạch cơ sở hạ tầng cho trồng rừng Vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, Tạp chí “East African Journal for Agriculture Forestry” đã xuất bản nhiều bài báo về quy hoạch cơ sở hạ tầng ở Nam châu Phi Năm1966, Hội Đất học của Mỹ và Hội Nông học
Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng trong qui hoạch sử dụng đất
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Quy hoạch cảnh quan sinh thái
Quy hoạch cảnh quan là một qúa trình xây dựng kế hoạch quản lý đất đai cho một vùng đất trên cơ sở nghiên cứu sinh thái cảnh quan, nghiên cứu đến thế giới sinh vật, vật chất và năng lượng có thể tồn tại và lưu thông ngay trong Cảnh quan đó
Con người là một thành phần của thiên nhiên, tác động của con người tới thiên nhiên là một yếu tố then chốt ảnh hưởng tới các chức năng của Cảnh quan Sinh thái cảnh quan giúp xác định những khiếm khuyết của chúng ta trong quá khứ,
và cũng như vậy giúp ta xác định cách tiếp cận tốt hơn để có thể đáp ứng nhu cầu của con người mà không gây ảnh hưởng không bền vững tới các hệ sinh thái tự nhiên Mục tiêu của quy hoạch cảnh quan là để bảo vệ các thành phần chủ yếu của
hệ sinh thái cảnh quan và giữ lại các dòng chuyển động sống và … Một mục tiêu khác là hướng các hoạt động của con người khỏi những nơi dễ bị tổn hại sinh thái
Một Cảnh quan không có một kích thước cố định, do vậy quy hoạch cảnh quan có thể thực hiện ở những quy mô khác nhau
Thành phần chính của cảnh quan có thể chia thành 2 loại là tự nhiên/sinh thái, như rừng, sông hồ và nhân tạo như đất canh tác, thôn bản vv Các yếu tố cảnh quan nhân tạo lại có thể chia thành các yếu tố sản xuất, văn hóa, lịch sử vv
Trang 20Mối tương quan tỷ lệ về thành phần cùng quan hệ tương hỗ giữa hai thành phần này luôn biến đổi theo thời gian, điều này làm cho cảnh quan kiến trúc luôn vận động và phát triển
Theo Nguyễn Thế Thôn “Cảnh quan sinh thái là tổng thể lãnh thổ hiện tại, có cấu trúc cảnh quan địa lý và có chức năng sinh thái của các hệ sinh thái đang tồn tại
và phát triển trên đó Các cảnh quan sinh thái được phân biệt với nhau theo cấu trúc cảnh quan và theo chức năng sinh thái khác nhau trên các phần lãnh thổ khác nhau”
- Việc nghiên cứu cảnh quan trong lâm nghiệp đã được Nguyễn Văn Khánh vận dụng trong đề tài “Góp phần nghiên cứu phân vùng lập địa lâm nghiệp Việt Nam” Tác giả xác lập cho toàn quốc theo 6 cấp phân vị: Miền - á miền - vùng - tiểu vùng - dạng đất đai - dạng lập địa Trong đó 4 cấp phân vị đầu áp dụng cho vùng lớn, 2 cấp sau là đơn vị phân loại cơ bản (vi mô) thường được sử dụng trong điều tra đánh giá ở phạm vi hẹp (xã, lâm trường, tiểu khu, khoảnh) Đề tài mới dừng lại nghiên cứu ở 4 cấp phân vị đầu, căn cứ vào các yếu tố: chế độ nhiệt mùa đông, chế độ mưa, địa mạo, kiểu khí hậu, kiểu địa hình và nhóm đất để chia toàn quốc thành: 2 miền, 4 á miền, 12 vùng lập địa,
407 tiểu vùng lập địa Dựa vào kết quả đạt được, tác giả đề xuất những định hướng lớn trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp như về chọn loài cây trồng rừng, xác định các tiểu vùng phòng hộ đầu nguồn, lập kế hoạch sản xuất lâm nghiệp trong năm theo á miền, lập các trạm trại nghiên cứu lâm nghiệp
- Các tác giả Đỗ Đình Sâm và Nguyễn Ngọc Bình chủ biên công trình
“Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp Việt Nam” (2001)[11] Trong công trình các tác giả đã tiến hành đánh giá đất lâm nghiệp trong phạm vi toàn quốc trên 8 vùng kinh tế sinh thái lâm nghiệp, ở trên 4 đối tượng chính: đất vùng đồi núi, đất cát biển, đất ngập mặn sú vẹt, đất chua phèn Qua nghiên cứu các tác giả
đã đề xuất được các vùng thích hợp đối với một số loài cây trồng
- Trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 1996-2020 đã căn cứ vào phân vùng kinh tế-sinh thái để xây dựng kế hoạch phát triển lâm nghiệp cho từng vùng (9 vùng): Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ,
Trang 21Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu Long)[10]
- Các mô hình quy hoạch cảnh quan trong lâm nghiệp có: Quy hoạch không gian Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang - Hà Tĩnh Quy hoạch không gian Vườn quốc gia Bến En - Thanh Hóa Trong các phương án quy hoạch cho các khu rừng đặc dụng này đã đề xuất và chấp nhận sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động quản lý bảo vệ ,
vì vậy đã nâng cao được nhận thức, hạn chế xung đột giữa hoạt động của con người với nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học
- Gần đây (tháng 10/2009), với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới (WB), tại Thừa Thiên Huế đã tiến hành hội thảo quy hoạch cảnh quan cho 7 xã thuộc 3 huyện Các vấn đề nêu ra tại hội thảo đang còn là bước đi đầu tiên trong việc tiếp cận một cách nhìn mới trong quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp (QHSDĐLN), thậm chí mới dừng lại ở phương pháp QHSDĐLN có sự tham gia của cộng đồng dân cư và cấp chính quyền sở tại
Vì vậy, nghiên cứu và ứng dụng phương pháp quy hoạch cảnh quan vào trong QHSDĐLN là vấn đề tương đối mới lạ, mặc dù công tác quy hoạch SDĐLN
đã và đang thực hiện đều trên cơ sở đề cập và phân tích đầy đủ các yếu tố tự nhiên,
kinh tế- xã hội
1.2.2 Quy hoạch vùng chuyên canh
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên canh lúa nước ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long; các vùng cây công nghiệp ngắn ngày: Vùng Mía đường (Thanh Hoá, Quảng Ngãi, Nghệ An); Vùng cây công nghiệp dài ngày: Vùng Cao su - Cà phê (Tây Nguyên ), Vùng Chè công nghiệp (Thái Nguyên ) vv
a) Tác dụng của quy hoạch vùng chuyên canh:
- Xác định phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn hoá và những vùng có khả năng hợp tác kinh tế
- Xác định và chọn những vùng trọng điểm giúp Nhà nước tập trung đầu tư vốn đúng đắn
Trang 22- Xây dựng được cơ cấu sản xuất, các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm và sản phẩm hàng hoá của vùng, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất, nhu cầu lao động
- Cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển nghiên cứu tổ chức quản lý kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ
Quy hoạch vùng chuyên canh đã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí cơ cấu cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng tập trung để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng xuất, sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch của các cơ sở sản xuất
b) Nội dung chủ yếu của quy hoạch vùng chuyên canh:
- Xác định quy mô, ranh giới vùng
- Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất
- Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế
- Dự kiến tiến độ thực hiện quy hoạch
1.2.3 Quy hoạch lâm nghiệp
Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta từ thời kỳ Pháp thuộc Như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi Điều chế rừng Thông theo phương pháp hạt đều
Đến năm 1955 - 1957, tiến hành sơ thám và mô tả ước lượng tài nguyên rừng Năm 1958 - 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc Mãi đến năm
1960 - 1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng miền Bắc Từ năm 1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường và mở rộng Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của
Trang 23các Sở Lâm nghiệp (nay Sở Nông nghiệp & PTNT) không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của các nước ngoài cho phù hợp với trình độ
và điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp nước ta hình thành và phát triển muộn hơn nhiều Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng [21]
Theo Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 - 2020 một
trong những tồn tại mà Bộ Nông nghiệp & PTNT đánh giá là: “Công tác quy hoạch
nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu tính khả thi Chưa quy hoạch 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được lâm phần ổn định trên thực địa ”[10] Đây cũng là nhiệm vụ đặt ra ngày càng phải được hoàn thiện đối với
ngành lâm nghiệp
1.2.3.1 Đặc thù của công tác quy hoạch lâm nghiệp
- Địa bàn quy hoạch lâm nghiệp rất đa dạng, phức tạp (bao gồm cả vùng ven
biển, trung du, núi cao và biên giới, hải đảo), thường có địa hình cao, dốc, chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn và có nhiều ngành kinh tế hoạt động
- Là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, kinh tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn gặp nhiều khó khăn
- Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài (ngắn 8-10 năm, dài 40-100 năm)
- Mục tiêu của quy hoạch lâm nghiệp cũng rất đa dạng: Quy hoạch rừng phòng
hộ (phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường); Quy hoạch rừng đặc dụng (các vườn Quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu di tích văn hoá - lịch sử - danh thắng) và quy hoạch phát triển các loại rừng sản xuất
- Quy mô của công tác quy hoạch lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô và vi mô: Từ quy hoạch toàn quốc cho đến quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp
Trang 24* Những yêu cầu của công tác quy hoạch lâm nghiệp phục vụ chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn
Công tác quy hoạch lâm nghiệp được triển khai dựa trên những chủ trương, chính sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể Với mỗi phương án quy hoạch lâm nghiệp phải đạt được:
- Hoạch định rõ ranh giới đất nông nghiệp - đất lâm nghiệp và đất do các ngành khác sử dụng; Trong đó, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được quan tâm hàng đầu vì là hai ngành chính sử dụng đất đai
- Trên phần đất lâm nghiệp đã được xác định, tiến hành hoạch định 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất) Từ đó xác định các giải pháp lâm sinh thích hợp với từng loại rừng và đất rừng (bảo vệ, làm giàu rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng, trồng rừng mới, nuôi dưỡng rừng, nông lâm kết hợp khai thác lợi dụng rừng)
- Tính toán nhu cầu đầu tư: Vì là phương án quy hoạch nên việc tính toán nhu cầu đầu tư chỉ mang tính khái quát, phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất ở những bước tiếp theo
- Xác định một số giải pháp đảm bảo thực hiện những nội dung quy hoạch (giải pháp lâm sinh, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, giải pháp về vốn, lao động )
- Đổi mới một số phương án quy hoạch có quy mô lớn (cấp toàn quốc, vùng, tỉnh) còn đề xuất các chương trình, dự án cần ưu tiên để triển khai bước tiếp theo là lập Dự án đầu tư hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi[21]
1.2.3.2 Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp
1) Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD
Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD bao gồm: Quy hoạch tổng công ty lâm nghiệp, công ty lâm nghiệp; Quy hoạch lâm trường; Quy hoạch lâm nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch cho các khu rừng phòng hộ; quy hoạch các khu rừng đặc dụng và quy hoạch phát triển sản xuất lâm nông nghiệp cho các cộng đồng làng bản và trang trại lâm nghiệp hộ gia đình) Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh là khác nhau tuỳ theo điều kiện
Trang 25cụ thể của mỗi đơn vị và thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất lâm nghiệp mà
lựa chọn các nội dung quy hoạch cho phù hợp [21]
2) Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ
Ở nước ta, các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị quản lý hành chính:
Từ toàn quốc tới tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), huyện (thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận) và xã (phường) Để phát triển, mỗi đơn vị đều phải xây dựng phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển các ngành sản xuất và quy hoạch dân cư, phát triển xã hội…
Ở những đối tượng có tiềm năng phát triển lâm nghiệp thì quy hoạch lâm nghiệp là một vấn đề quan trọng, làm cơ sở cho việc phát triển sản xuất nghề rừng nói riêng và góp phần phát triển kinh tế - xã hội nói chung trên địa bàn
a Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc
Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc là quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản, bao gồm: Xác định phương hướng nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp toàn quốc Quy hoạch đất đai tài nguyên rừng theo các chức năng (sản xuất, phòng hộ và đặc dụng) Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch
tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện
Do đặc thù khác với những ngành kinh tế khác, cho nên thời hạn quy hoạch lâm nghiệp thường được thực hiện trong thời gian 10 năm và các nội dung quy hoạch được thực hiện tuỳ theo các vùng kinh tế lâm nghiệp[21]
b Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh
Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh về cơ bản giống như nội dung quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc nhưng trong phạm vi của tỉnh, đồng thời phải căn cứ quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh
c Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện
Trang 26Quy hoạch lâm nghiệp huyện đề cập giải quyết các vấn đề sau:
- Xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên địa bàn huyện
- Quy hoạch đất lâm nghiệp trong huyện theo 3 chức năng: sản xuất, phòng
hộ và đặc dụng
- Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng tài nguyên rừng hiện có
- Quy hoạch các biện pháp tái sinh rừng
- Quy hoạch khai thác lợi dụng lâm đặc sản, chế biến lâm sản gắn liền với thị trường tiêu thụ
- Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch đất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong huyện, tổ chức phát triển lâm nghiệp xã hội
- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải
- Xác định tiến độ thực hiện
Thời gian quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện thường là 10 năm [21]
d Quy hoạch lâm nghiệp cấp xã
Quy hoạch lâm nghiệp trên địa bàn xã cần chi tiết cụ thể hơn và được tiến hành trong thời gian10 năm Quy hoạch lâm nghiệp xã thường tiến hành các nội dung sau:
- Điều tra các điều kiện cơ bản có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp
- Xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên địa bàn xã
- Quy hoạch đất đai trong xã theo ngành và theo đơn vị sử dụng
- Quy hoạch đất lâm nghiệp theo ba chức năng sử dụng: Sản xuất, phòng hộ, đặc dụng
- Quy hoạch các nội dung sản xuất kinh doanh lợi dụng rừng, bố trí không gian, tổ chức các biện pháp kinh doanh lợi dụng rừng
- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, các công trình phục vụ sản xuất và đời sống
- Ước tính đầu tư và hiệu quả: Hiệu quả đầu tư cần được đánh giá đầy đủ trên các mặt kinh tế - xã hội, môi trường Xác định tiến độ thực hiện [21]
Trang 27Về cơ bản nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ từ toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã là tương tự như nhau Tuy nhiên mức độ giải quyết khác nhau về chiều sâu và chiều rộng tuỳ theo các cấp
Việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phải đồng bộ với việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất của địa phương
1.2.3.3 Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp ở Phú Thọ và tại huyện Tân Sơn
1) Quản lý, quy hoạch sử dụng đất tại tỉnh Phú Thọ [16]:
a Các quy hoạch và dụ án đã xây dựng
- Quy hoạch phát triển lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001-2005 và định hướng phát triển đến năm 2010
- Quy hoạch Vùng nguyên liệu phục vụ nhà máy giấy Bãi Bằng
- Quy hoạch rừng đặc dụng Đền Hùng
- Quy hoạch Vườn quốc gia Xuân Sơn
- Quy hoạch rừng đặc dụng Núi Nả
- Rà soát quy hoạch và định hướng phát triển 3 loại rừng tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2015
- Quy hoạch phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đến năm 2020
- Dự án đầu tư xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Bứa, Ngòi Giành
b Kết quả thực hiện nhiệm vụ quy hoạch kỳ trước
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ năm 2000 - 2005 và định hướng đến năm 2010 đối với các loại rừng đã đạt được một số kết quả sau:
* Rừng đặc dụng
Đã hình thành và xây dựng được một hệ thống các khu rừng đặc dụng: Vườn quốc gia Xuân Sơn, khu rừng văn hoá lịch sử Đền Hùng, khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học, rừng văn hoá lịch sử Yên Lập, rừng cảnh quan Núi Nả
Đã góp phần vào bảo vệ nguồn gen, tính đa dạng sinh học, di tích lịch sử văn hoá của tỉnh cũng như cả nước Tuy nhiên, trong các lâm phần đặc dụng vẫn có các hộ
Trang 28dân sống xen kẽ sản xuất nông lâm nghiệp, nên việc quản lý bảo vệ rừng gặp rất nhiều khó khăn
Phần lớn diện tích rừng phòng hộ đã được giao khoán bảo vệ rừng Tính đến nay toàn tỉnh đã giao khoán bảo vệ rừng được trên 30 nghìn ha, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng được 53,7 nghìn ha, trong đó thành rừng được 53,4 nghìn ha đạt 99,5% Trồng rừng phòng hộ được trên 11,6 nghìn ha, góp phần nâng độ che phủ của rừng từ 35,9% (năm 2000) lên 49,4% (năm 2010), cải thiện môi trường sinh thái, điều hoà nguồn nước, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố cơ cở hạ tầng chung cho các huyện và các xã vùng núi của tỉnh
Những hạn chế: trước khi có quy hoạch theo Chỉ thị 38/CT-TTg, quy hoạch rừng phòng hộ chưa có tiêu chí cụ thể, thống nhất trong toàn quốc, còn phụ thuộc vào kinh nghiệm và định hướng chủ quan của cán bộ tham gia quy hoạch, phương pháp tổ chức thực hiện chưa khoa học, dẫn đến nhiều khu rừng phòng hộ không thực hiện được đúng quy hoạch Ranh giới rừng phòng hộ nhiều khu vực còn thiếu bền vững gây khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ và sản xuất kinh doanh lâm nghiệp của tỉnh Vốn đầu tư chưa kịp thời nên ảnh hưởng tới việc tổ chức thực hiện các dự án Cơ cấu cây trồng chưa hợp lý, chất lượng rừng trồng chưa cao
* Rừng sản xuất
Đã quy hoạch được vùng nguyên liệu giấy tập trung, sản xuất ra một khối lượng sản phẩm lâm sản đáng kể, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế chung của tỉnh Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quy hoạch chưa chú trọng sản xuất gỗ lớn cung
Trang 29cấp cho các cơ sở chế biến lâm sản trong tỉnh, nên chưa tạo được động lực thúc đẩy các
cơ sở chế biến của địa phương phát triển
2) Quản lý, quy hoạch đất lâm nghiệp tại huyện Tân Sơn
Huyện Tân Sơn cũ và huyện Tân Sơn mới đã xây dựng được quy hoạch sử dụng đất đai giai đoạn 2001 - 2010, hàng năm đều tiến hành thống kê, theo dõi biến động các loại đất [29] Năm 1997 huyện cũng đã xây dựng quy hoạch phát triển lâm nghiệp, tiến hành rà soát, sắp xếp lại tổ chức và các hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp [30, 7] Đã có một số dự án lâm nghiệp triển khai thực hiện trên địa bàn huyện: Dự án SIDA; Lâm nghiệp xã hội; Dự án phát triển nông thôn miền núi; Dự
án Pam; Dự án trang trại; Dự án 327, chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng; Chương trình trồng rừng sản xuất theo hướng thâm canh
Năm 2006, thực hiện Chỉ thị 38/2005/CT-TTg, của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Phú Thọ đã tiến hành rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, đặc dụng và sản xuất) Kết quả rà soát đã làm thay đổi quy mô diện tích 03 loại rừng trên toàn tỉnh cũng như diện tích rừng phòng hộ tại các huyện Việc thay đổi quy
mô diện tích đã làm thay đổi kế hoạch sản xuất của các chủ rừng và định hướng phát triển lâm nghiệp trên địa bàn huyện Sau đó năm 2008 huyện Tân Sơn thực hiện việc điều chỉnh, bổ sung dự án 661 giai đoạn 2008-2013 cho phù hợp với tình hình thực tế quy hoạch 3 loại rừng Tuy nhiên nhiều tài liệu về quy hoạch,
dự án … qua quá trình sử dụng đã không còn phù hợp với thực tiễn khách quan
và quy luật phát triển kinh tế xã hội của huyện Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh đã có nhiều văn bản chỉ đạo các ngành chức năng và huyện Tân Sơn nghiên cứu, quy hoạch lại các diện tích rừng cho phù hợp, làm cơ sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, nhằm quản lý bảo vệ chặt chẽ, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quý báu của huyện
Trang 30Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Điều tra, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch phát triển lâm nghiệp làm cơ sở đề xuất các nội dung quy hoạch và giải pháp thực hiện góp phần phát triển lâm nghiệp có hiệu quả trong thời gian tới tại huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 61.089,0 ha rừng và đất lâm nghiệp huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ; Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội và nhân văn của huyện; Một số văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai, chính sách phát triển lâm nghiệp; Các cơ chế đã và đang thực hiện liên quan đến quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp; Các mô hình, các chủ quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu: huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ
2.3 Nội dung nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
2.3.1 Những căn cứ pháp lý chủ yếu để lập quy hoạch
2.3.2 Đánh giá thực trạng quản lý phát triển lâm nghiệp
- Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện;
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất của huyện Tân Sơn;
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng;
- Đánh giá kết quả các hoạt động sản xuất lâm nghiệp;
- Đánh giá tình hình thị trường ảnh hưởng đến sản phẩm lâm nghiệp;
- Đánh giá sự tác động của các chính sách và việc thực hiện chính sách đến phát triển lâm nghiệp
- Những lợi thế, hạn chế và thách thức
2.3.3 Nghiên cứu một số dự báo cơ bản liên quan đến quy hoạch phát triển lâm nghiệp
- Dự báo về dân số và lao động;
- Dự báo về chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
Trang 31- Dự báo về nhu cầu lâm sản và thị trường tiêu thụ;
- Những tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất lâm nghiệp
2.3.4 Đề xuất các nội dung quy hoạch đến năm 2020
- Quy hoạch sử dụng đất đai chung
- Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp
- Quy hoạch các biện pháp quản lý rừng
2.3.5 Giải pháp thực hiện
- Giải pháp về tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất
- Gi¶i ph¸p vÒ chÝnh s¸ch
- Giải pháp về khoa học công nghệ và đào tạo
2.3.6 Đánh giá hiệu quả kinh tế
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Sử dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc:
- Các số liệu về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý kinh tế; địa hình; khí hậu, thuỷ văn, đặc điểm thổ nhưỡng; tài nguyên động, thực vật; các loại bản đồ hiện trạng, bản đồ lập địa và bản đồ quy hoạch lâm nghiệp
- Đặc điểm kinh tế xã hội: Dân cư, phân bố dân cư; dân trí; cơ sở hạ tầng
- Điều tra thu thập thông tin về tình hình giá cả thị trường trong và ngoài
nước, các chỉ tiêu định mức kinh tế xã hội
- Thu thập các tài liệu văn bản về chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước, các chính sách của địa phương, các ngành có liên quan đến quy hoạch phát triển lâm nghiệp
2.4.2 Sử dụng phương pháp phỏng vấn
- PRA (nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng) Tại các xã và các phòng ban đều tổ chức các hội nghị để thu thập ý kiến góp ý của các nhà lãnh
Trang 32đạo, của nhân dân về định hướng và giải pháp phát triển lâm nghiệp huyện Tân Sơn trong thời gian tới
- RRA (đánh giá nhanh nông thôn): Tổ chức các cuộc khảo sát ngoại nghiệp để đánh giá các tiềm năng thực tế trong phát triển kinh tế-xã hội
2.4.3 Sử dụng phương pháp phúc tra thực địa tài nguyên rừng;
- Thu thập số liệu ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp trong thị xã và các xã, phường có đất lâm nghiệp của huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ về các hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp
- Phúc tra trữ lượng rừng: Chỉ tiến hành phúc tra lại khi có sự biến động, sai khác lớn về trữ lượng hoặc có sự nghi ngờ về độ chính xác của số liệu Do
đó, mỗi trạng thái rừng chỉ lập 3 ô tiêu chuẩn điển hình (ngẫu nhiên hoặc theo tuyến) để tiến hành điều tra
* Điều tra trữ lượng rừng tự nhiên: Lập ô tiêu chuẩn có diện tích S= 1000m2 (25x40m), sau đó sử dụng thước kẹp kính, sử dụng phương pháp quan trắc, để đo đếm, xác định các chỉ tiêu về đường kính, chiều cao: D1 3; Hvn;
Hdc;
* Điều tra trữ lượng rừng trồng: Như rừng tự nhiên, lập 3 ô tiêu chuẩn điển hình với diện tích mỗi ô S= 500m2
(20x25m), sau đó tính các chỉ tiêu về đường kính, chiều cao: D1 3; Hvn; Hdc;
* Điều tra tình hình sinh trưởng của cây tái sinh rừng, nguồn gốc tái
sinh, loài cây, kết hợp với điều tra trên các ô tiêu chuẩn, tiến hành lập 5 ô dạng bản, mỗi ô có diện tích S= 25m2
(5x5m), 4 ô ở bốn góc và 1ô ở giữa của ô tiêu chuẩn
2.4.4 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel: Hệ thống bảng, biểu, phụ Bảngkèm theo; phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
Trang 33- Soạn thảo trình bày văn bản bằng Microsoft Word: Luận văn
- Xây dựng các loại bản đồ huyện Tân Sơn bằng phần mềm Mapinfo 9.0
+ Bản đồ huyện Tân Sơn + Bản đồ hiện trạng sử dụng đất + Bản đồ hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp
+ Bản đồ quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp huyện Tân Sơn giai đoạn 2011-2020
- Phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu (SWOT):
Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; hiện trạng rừng, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
- Sơ đồ Venn mối quan hệ giữa lâm nghiệp với các ngành khác
- Phương pháp chuyên gia tư vấn: Nhằm xây dựng các quan điểm, định hướng phát triển lâm nghiệp huyện; các nội dung và giải pháp thực hiện quy hoạch
- Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế một số hình thức kinh doanh rừng
sử dụng phương pháp động Các chỉ tiêu kinh tế được tập hợp và tính toán bằng các hàm: NPV, BCR, BPV, CPV, IRR, trong chương trình Excel
* Các tiêu chuẩn đánh giá:
- Giá trị hiện tại thuần tuý NPV: NPV là hiệu số giữa giá trị thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất trong các mô hình khi đã tính chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại
i
C B
0 (1 ) Trong đó:
NPV: là giá trị hiện tại thu nhập ròng (đồng)
Bt: là giá trị thu nhập ở năm thứ t (đồng)
Ct : là giá trị chi phí ở năm t (đồng)
i : là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%)
t : là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)
Trang 34NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế hay các phương thức canh tác NPV càng lớn thì hiệu quả càng cao
- Tỷ lệ thu hồi nội bộ IRR: IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu
tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu
IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0, tức là khi
t t t
) i 1 (
C B
= 0 thì i = IRR
- Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR
BCR sẽ là hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất
BCR =
CPV BPV )
i 1 ( C
) i 1 ( B
n
1 i
t t
n
1 i
t t
n là số đại lượng tham gia vào tính toán Nếu mô hình nào hoặc phương thức canh tác nào có BCR > 1 thì có hiệu quả kinh tế BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao Ngược lại BCR < 1 thì kinh doanh không có hiệu quả
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Những căn cứ pháp lý quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện
- Hiến pháp của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
- Luật đất đai năm 2003, ban hành theo Quyết định số 23/2003/L/CTN ngày 10/12/2003 của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam; [14]
- Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng;[15,45]
- Nghị định số 163/1994/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ
về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức hộ gia đình và cá nhân sử dụng
ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; [6]
- Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp;[18]
- Quyết định số 661/TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện trồng mới 5 triệu ha rừng;[17]
- Quyết định 178/QĐ-TTg ngày 12/1/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc hưởng lợi, nghĩa vụ của các gia đình cá nhân được giao đất, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp;
- Quyết định số 61/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 về việc ban hành bản quy định về tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ;[3]
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng; [19]
- Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất);
- Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ;
- Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/ 11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; [2]
Trang 36Một số văn bản liờn quan của địa phương
- Quyết định số 1656/QĐ -UBND-NL ngày 05/7/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Phỳ Thọ “V/v phỏt triển rừng sản xuất tỉnh Phỳ Thọ giai đoạn 2007-2015 và định hướng đến năm 2020”; [46]
- Quyết định số 727/QĐ-UBND ngày 04/4/2007 của Uỷ ban nhõn dõn tỉnh Phỳ Thọ về việc duyệt bỏo cỏo kết quả rà soỏt, quy hoạch và định hướng phỏt triển 3 loại rừng tỉnh Phỳ Thọ giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến 2015[28];
- Quy hoạch tổng thể phỏt triển kinh tế xó hội và Quy hoạch xõy dựng tỉnh Phỳ Thọ định hướng đến năm 2020;
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phỳ Thọ lần thứ XVII;
- Quy hoạch tổng thể phỏt triển kinh tế xó hội Tõn Sơn đến 2020;
- Bỏo cỏo quy hoạch sử dụng đất đai huyện Tõn Sơn, giai đoạn 2010-2020; [29]
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tõn Sơn lần thứ II;
- Thực trạng và yờu cầu phỏt triển kinh tế xó hội huyện Tõn Sơn trong những năm trước mắt và đến năm 2020
3.2 Đỏnh giỏ điều kiện tự nhiờn và cỏc nguồn tài nguyờn
+ Phía Đông giáp huyện Thanh Sơn
+ Phía Tây giáp huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái và huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
+ Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
+ Phía Bắc giáp huyện Yên Lập
Trung tâm huyện Tân Sơn là xã Tân Phú, cách thành phố Việt Trì khoảng 75km về phía Tây Nam, trên địa bàn huyện có các tuyến Quốc lộ 32A, 32B chạy qua, là tuyến
Trang 37giao thông nối liền với trung tâm huyện Thanh Sơn và các tỉnh bạn nh- Sơn La, Yên Bái sẽ mang lại nhiều điều kiện thuận lợi trong giao l-u phát triển kinh tế -xã hội với
bên ngoài
3.2.2 Địa hình, địa mạo
Huyện Tân Sơn có đặc điểm địa hình đồi núi độ dốc lớn, xen kẽ là các dộc ruộng và thung lũng nhỏ, địa hình
bị chia cắt, dốc kéo dài, phần lớn là rừng núi đã tạo nên sự đa dạng và phức tạp cho địa hình Địa hình đ-ợc chia thành 4 dạng chính:
- Địa hình núi thấp: Loại địa hình này có độ dốc trên
300, độ cao trung bình so với mực n-ớc biển 700-800m Dạng
địa hình này bị chia cắt nhiều, gây rất nhiều khó khăn trong sản xuất lâm nghiệp và phát triển hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, đ-ợc phân bố chủ yếu ở các xã: Thu Cúc,
Đồng Sơn, Xuân Sơn, Kim Th-ợng, Thu Ngạc, Thạch Kiệt
- Địa hình đồi cao: Loại địa hình này có độ dốc 250
-300, độ cao trung bình so với mực n-ớc biển 300-700m,
đ-ợc phân bố chủ yếu ở các xã Tân Phú, Xuân Đài
- Địa hình Trung du, đồi thấp, có độ dốc trung bình
150-250, độ cao trung bình so với mực n-ớc biển 150-300m Loại địa hình này khá phù hợp và thuận lợi cho sự phát triển ngành nông lâm nghiệp, đ-ợc phân bố chủ yếu ở các xã: Minh Đài, Long Cốc, Mỹ Thuận, Tam Thanh, Văn Luông
- Địa hình thung lũng đồng bằng: Dạng địa hình này
là các thung lũng nhỏ hẹp xen kẽ với các vùng núi thấp,
đồi cao, đồi thấp.Tuy nhiên các cánh đồng ở đây t-ơng
đối bằng phẳng rất thuận lợi cho sản xuất l-ơng thực và chăn nuôi
3.2.3 Khí hậu, thuỷ văn
Trang 38Theo số liệu tại trạm khí t-ợng thuỷ văn Minh Đài, khí hậu trung bình qua các năm nh- sau:
Bảng 3.1 Diễn biến thời tiết qua các năm Khí
m-a
mm 1 501,0 1.796,8 1.775,5 1.588,1 1.623,6 2.240,5
Nguồn số liệu: Niêm giám thống kê huyện Tân Sơn[13]
Huyện Tân Sơn chịu ảnh h-ởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm là 23,30C, mùa đông rét đậm, nhiệt độ có lúc xuống d-ới 50C, kéo dài 3- 4 ngày và xuất hiện s-ơng muối, s-ơng mù từng
đợt Mùa hạ nóng bức có khi nhiệt độ lên đến 39- 400C
Độ ẩm t-ơng đối trung bình hàng năm là 86,8%, tháng có
độ ẩm không khí lớn nhất là tháng 8, và thấp nhất là tháng 5 Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1403,4giờ, tổng tích ôn trung bình đạt khoảng 85000C L-ợng m-a trung bình hàng năm là 1754,2mm, tập trung vào các tháng 6,7,8,9 (chiếm >70% l-ợng m-a cả năm)
3.2.4 Các nguồn tài nguyên
a Tài nguyên đất
Với tổng diện tích tự nhiên là 68985 ha, chiếm 19,53% diện tích tự nhiên của tỉnh Phú Thọ Đất đai của huyện Tân Sơn phân theo nguồn gốc phát sinh đ-ợc chia làm 6 loại chính sau:
Bảng 3.2 Các loại đất huyện Tân Sơn
Trang 39có hàm l-ợng các chất dinh d-ỡng ở mức khá, kết cấu đất tơi xốp, thuận lợi cho phát triển kinh tế nông lâm nghiệp, các loại cây đặc sản và cây d-ợc liệu
có chiều dài chảy qua địa bàn huyện lớn nhất là sông Bứa, dài 53,46 Km Ngoài ra còn có các hệ thống suối lớn nh-: suối Chiềng, suối Quả, suối Ráy, suối Thắt, suối Thân, suối V-ờng, suối Thang, suối Xuân Các hồ đập với
số l-ợng không nhiều và nhỏ nh-ng cũng rất quan trọng, cung cấp n-ớc cho sản xuất nông lâm nghiệp và kết hợp làm thuỷ điện nhỏ [29]
* Nguồn n-ớc ngầm
Trang 40Đến nay trên địa bàn huyện ch-a có công trình khảo sát đánh giá trữ l-ợng và chất l-ợng n-ớc ngầm, tuy nhiên theo điều tra sơ bộ cho thấy l-ợng n-ớc ngầm phân
bố không đều Các vùng núi cao có trữ l-ợng n-ớc ngầm thấp và khó khai thác
đ-ợc ghi vào sách đỏ Việt Nam, 18 loài có trong sách đỏ thế giới, Có 726 loài thực vật bậc cao thuộc 475 chi,
134 họ Các loại cây đặc sản nh- rau Sắng, Sa Nhân, Khoai Tầng Ngoài ra V-ờn Quốc Gia Xuân Sơn còn có hệ thống hang động độc đáo, khí hậu mát mẻ, trong lành, cảnh quan đẹp [36]
c Tài nguyên khoáng sản
Theo số liệu điều tra về địa chất và báo cáo thuyết minh dự án khảo sát đo đạc xác định khu vực quản lý khai thác và bảo vệ khoáng sản trên địa bàn huyện thì Tân Sơn
có tổng số 23 điểm mỏ và điểm quặng [29]
Bảng 3.3 Số liệu tài nguyên khoáng sản huyện Tân
Sơn STT Loại khoáng
sản
Số l-ợng