ở bài: "Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn" của Trơng Chính đăng trên tạp chí văn học số 5/1990, đ dựa vào tônãng mạn trên văn đàn công khai những năm 19
Trang 1Trêng §¹i häc Vinh Khoa Ng÷ V¨n
**************
Hoµng Quèc Nam
nh©n vËt n÷ trong tiÓu thuyÕt
Trang 2Gi¸o viªn híng dÉn: TS §inh TrÝ Dòng Sinh viªn thùc hiÖn: Hoµng Quèc Nam
III NhiÖm vô nghiªn cøu 4
Trang 3Chơng 2: Nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 20
2.1 nhân vật nữ thể hiện quan niệm lễ giáo phong kiến bảo thủ 20
2.2 Nhân vật nữ với sự hài hoà với con ngời cá nhân với vẻ đẹp truyền thống.2.2.1 Sự thức tỉnh con ngời cá nhân 25
Nói đến tiểu thuyết l ng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
- 1945, chúng ta không thể không nhắc đến tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Tự
Trang 4lực văn đoàn xuất hiện năm 1932 và kết thúc vào năm 1944 Đây là một tổchức văn học hoạt động có tôn chỉ, mục đích, có cơ quan ngôn luận riêng.Ngay từ khi ra đời, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đ đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc công chúng độc giảcũng nh giới nghiên cứu phê bình văn học đón chào nồng nhiệt.
Nói đến tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là nói đến tiểu thuyết của NhấtLinh, Khái Hng, Hoàng Đạo Đó là ba cây bút trụ cột có ảnh hởng lớn tới văn
đàn này Họ sáng tác theo quan điểm nhất quán trong cách nhìn nhận về conngời và phản ánh các vấn đề x hội đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ơng thời Con đờng sáng tác của họ làcon đờng tiêu biểu nhất cho quy luật t tởng và văn học l ng mạn tãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 sản ViệtNam
Trớc tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, tiểu thuyết Việt Nam đang trong giai
đoạn hình thành và vận động nhanh chóng Tự lực văn đoàn ra đời, tiểuthuyết Việt Nam mới thực sự cách tân về nội dung cũng nh về nghệ thuậtthể hiện và là một cột mốc quan trọng cho sự cách tân và phát triển của nềntiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Trong văn học thế giới nói chung, văn học Việt Nam nói riêng, hay ởbất kỳ một quốc gia nào, một nền văn học nào, một thời kỳ văn học nào… ở
đâu ta cũng tìm thấy bóng dáng ngời phụ nữ hiện lên rõ nét ở Việt Nam,trong văn học trung đại cũng nói nhiều đến ngời phụ nữ nhng đó là ngời phụ
nữ chìm trong lễ giáo phong kiến, không có tiếng nói riêng và không đợc xãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
hội phong kiến thừa nhận Đến tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, nhân vật nữ đợc
đề cập không còn là con ngời thân phận nữa mà đó là những nhân vật nữ đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
đợc thức tỉnh Nhân vật nữ của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đ tự mình lênãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
tiếng đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, vùng vẫy, bứt phá khỏi vòng luân línghiệt ng của lễ giáo phong kiến Họ đấu tranh cho tình yêu và hạnh phúcãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
riêng t, phát huy cái tôi bản ng của mình.ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đ thể hiện thành công nhân vật nữ thôngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
qua những mâu thuẫn x hội gay gắt Đây là một vấn đề mà trong văn họcãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
Việt Nam trung đại cha có một nhà văn nào nói đến Chính điều đó đ khơiãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
lên cho chúng tôi ý tởng tìm hiểu, nghiên cứu đề tài "Nhân vật nữ trong
tiểu thuyết Tự lực văn đoàn"
Với đề tài này, chúng tôi cha có điều kiện bao quát toàn bộ tiểu thuyếtcủa các tác giả Tự lực văn đoàn mà chỉ đi sâu vào khảo sát nhân vật nữtrong tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hng Trong phạm vi của một khoáluận tốt nghiệp đại học, chúng tôi mong rằng với đề tài này sẽ góp một phầnvào việc tìm hiểu và giảng dạy tiểu thuyết Tự lực văn đoàn trong nhà trờnghiện nay
I Lịch sử vấn đề
Chỉ tồn tại trong 10 năm, nhng từ khi ra đời cho đến nay, tiểu thuyết
Tự lực văn đoàn đ trở thành tiêu điểm chú ý của giới nghiên cứu và phêãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
Trang 5bình văn học Trong tổ chức của Tự lực văn đoàn, có một số thành viên củanhóm có cuộc đời chính trị rất phức tạp Vì thế, việc đánh giá trào lu văn họcnày có nhiều điểm không thống nhất.
Trớc năm 1945: Trong các công trình của Trơng Chính (Dới mắt tôi, 1939), Vũ Ngọc Phan (Nhà văn Việt Nam hiện đại, 1942), Dơng quảng Hàm (Việt nam văn học sử yếu, 1942) Và một số bài phê bình của Trơng Tửu (Loa
số 76 - 77 tháng 5/1935), Lê Thanh (Ngày nay số 126 tháng 9/1938), Trần
Thanh Mai (Phong Hoá tháng 2/1934 và Sông Hơng 5/1941) Giai đoạn này
tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn đợc đánh giá chung chung và có phần đơngiản Các công trình trên bớc trên bớc đầu mới chỉ nêu lên một số đóng gópcủa tiểu thuyết Tự lực văn đoàn về t tởng và nghệ thuật Chẳng hạn, t tởng
đấu tranh giải phóng cá nhân, nghệ thuật tả cảnh và miêu tả tâm lí nhânvật
Từ sau 1945 đến 1975: Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đợc nghiên cứu sâu
hơn Nhng do tình hình khách quan, việc đánh giá trào lu văn học này đợcchia thành hai khu vực:
ở miền Nam, với các công trình tiêu biểu của Nguyễn Văn Xung (Bình
giảng về Tự lực văn đoàn, 1958), Phan Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản
-ớc tân biên, tập III, 1960), Do n Quốc Sỹãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 , (Về Tự lực văn đoàn 1960), Lê Mục (Khảo luận về Đoạn tuyệt1960), Thanh L ng (Phê bình văn học thập kỷ 32,ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
tập III, 1972), Vũ Hân (Văn học Việt Nam thế kỷ XX (1900-1945), 1973), Thế Phong (Nhà văn tiền chiến 1930 - 1945, 1974) ở các công trình này, việc
đánh giá nghiêng về xu hớng khen nhiều hơn chê Phần lớn các tác giả đều
đề cao Tự lực văn đoàn ở tiểu thuyết luận đề và tả cảnh, miêu tả tâm lí nhânvật
ở miền Bắc có các công trình văn học sử tiêu biểu của nhóm Lê Quý
Đôn (Lợc thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập III, 1958), Bạch Năng Thi Phan Cự đệ (Văn học Việt Nam 1930-1945, 1971) và các bài phê bình của
-Nguyễn Đức Đàn, Nam Mộc…
Sau 1975 (nhất là thời kỳ đổi mới 1986): Trong không khí đánh giá lại,
nhiều tác phẩm của Tự lực văn đoàn đợc in lại Nhiều bài nghiên cứuchuyên luận mới ra đời Năm 1988, trờng Đại học Tổng hợp Hà Nội đ tổãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
chức Hội nghị chuyên đề đánh giá lại các hiện tợng văn học quá khứ mà vănxuôi Tự lực văn đoàn là một hiện tợng tiêu biểu Các nhà nghiên cứu lý luận
và phê bình văn học (Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Trơng Chính, Trần ĐìnhHợu, Nguyễn Hoành Khung, Lê thị Đức Hạnh…) đ có một cách nhìn về vănãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
xuôi Tự lực văn đoàn
Giáo s Hà Minh Đức cho rằng: "Tự lực văn đoàn với nhiều tiền đề văn
học xã hội mới đã tạo nên những giá trị mới trong văn học" [4, 16].
Trang 6Phan Cự Đệ khẳng định: "Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn có công lớn
trong việc đổi mới nền văn học vào những năm 30 của thế kỷ, đổi mới từ quan niệm xã hội cho đến việc đẩy nhanh các thể loại văn học trên con đờng hiện đại hoá làm cho ngôn ngữ trở nên trong sáng và giàu có hơn" [3, 27].
Trơng Chính cũng cho rằng: "Tự lực văn đoàn có một vai trò rất lớn
trong sự phát triển văn học nớc ta những năm 30" (Tự lực văn đoàn- Báo giáo
viên Nhân dân số đặc biệt 27,28,29,30,31/1/1989)
Trần Đình Hợu nhấn mạnh: "Những năm 20 là quá trình khẳng định
văn học mới và Tự lực văn đoàn đánh đấu giai đoạn toàn thắng với sự đóng góp lớn chủ động và tích cực" [9, 60].
Nguyễn Hoành Khung nhận định tổng quát: "Văn học lãng mạn với sự
chối bỏ mạnh mẽ kiểu t duy nghệ thuật cũ khuôn sáo, hớng văn học đi vào con ngời cụ thể đã mở đờng cho sự giải phóng cá tính sáng tạo và góp phần quyết định đem lại sinh khí cho văn học" [11.8].
Trong chuyên luận: "Tự lực văn đoàn - Con ngời và văn chơng" Phan
Cự Đệ viết: "Trong phạm trù ý thức hệ t sản, Tự lực văn đoàn phần nào đã
nói lên những khát vọng dân tộc, dân chủ của đông đảo quần chúng, chủ yếu
là tầng lớp tiểu t sản trí thức và văn chơng thành thị Tự lực văn đoàn không
đặt vấn đề giải phóng xã hội, nhng đã đấu tranh giải phóng cá nhân, giải phóng bản ngã Đặc biệt, đã đấu tranh cho tự do hôn nhân, cho quyền sống của ngời phụ nữ, chống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, của
đại gia đình phong kiến".
ở bài: "Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn" của Trơng Chính đăng trên tạp chí văn học số 5/1990, đ dựa vào tônãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
chỉ của tự lực văn đoàn, phân tích một số tác phẩm tiêu biểu và đi đến khẳng
định: "Các nhà văn tự lực văn đoàn đã công kích nhiều mặt của chế độ
phong kiến, đặc biệt là luân lí phong kiến với phụ nữ Họ chủ trơng tự do hôn nhân, tự do yêu đơng, xây dựng hạnh phúc gia đình trên tình yêu lứa đôi ".
Qua đây ta thấy, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đ đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc các học giả, cácnhà nghiên cứu lý luận và phê bình rất quan tâm, nhng ở góc độ nhận định,
đánh giá… Còn đi vào tìm hiểu, khảo sát nhân vật nữ một cách cụ thể,chuyên biệt nh đề tài này thì cha có
III Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Xác định và làm rõ các khái niệm: nhân vật, kiểu nhân vật vànhân vật nữ Từ đó đi sâu vào khái niệm nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tựlực văn đoàn
3.2 Khái quát những đặc điểm nhân vật nữ trong các tác phẩm củaNhất Linh và Khái Hng (trong đó có so sánh với nhân vật nữ của một số nhàvăn khác)
Trang 73.3 Chỉ ra những đặc điểm về tính cách, tâm lý, ngôn ngữ… của nhânvật nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và những thủ pháp nghệ thuật thểhiện nhân vật nữ.
Từ đó, chúng tôi muốn chứng minh rằng: "Nhân vật nữ trong tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn" có vị trí và vai trò quan trọng trong hệ thốngnhân vật của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
IV Phạm vi nghiên cứu
Với khoá luận này, chúng tôi chỉ nghiên cứu nhân vật nữ trong các tác
phẩm Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Gánh hàng hoa, Thoát li (Nhất Linh),
Hồn bớm mơ tiên , Nửa chừng xuân, Trống mái ( Khái Hng) và Đời ma
gió (Nhất Linh và Khái Hng viết chung) Đây là một trong số những tácphẩm tiêu biểu nhất của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn viết về nhân vật nữ
VI Cấu trúc khoá luận
Tơng ứng với những nhiệm vụ nghiên cứu đ đặt ra, ngoài phần mởãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
đầu và kết luận, nội dung khoá luận đợc triển khai trong ba chơng :
Chơng 1: Nhân vật văn học và nhìn chung về thế giới nhân vật trong
tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Chơng 2: Nhìn chung về thế giới nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự
lực văn đoàn Chơng 3: Nghệ thuật thể hiện nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự lực
văn đoàn
Sau cùng là phần Tài liệu tham khảo
Trang 8để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó của hiện thực Nhânvật chính là ngời dẫn dắt ngời đọc vào một thế giới riêng của đời sống trongmột thời kỳ lịch sử nhất định.
Nhân vật là con ngời đợc nhà văn miêu tả trong tác phẩm văn học (nó
có thể có tên hoặc không có tên) nhằm mục đích bộc lộ chủ đề, t tởng của tácphẩm
Miêu tả con ngời đó chính là việc xây dựng nhân vật của nhà văn ở
đây, cần chú ý rằng, nhân vật trong văn học là một hình tợng nghệ thuậtmang tính ớc lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết của conngời mà đó là sự thể hiện con ngời qua những đặc điểm về tiểu sử, nghềnghiệp, tính cách…Hơn nữa, khái niệm nhân vật thờng đợc quan niệm vớimột phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều, đó không chỉ là con ngời, những con ng-
ời có tên hoặc không tên, đợc khắc hoạ sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoángqua trong tác phẩm, mà còn có thể nhân vật đó là những sự vật, loài vậtkhác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của con ngời , đợc dùng nh nhữngphơng thức khác nhau để biểu hiện con ngời Cũng có khi đó không phải lànhững con ngời, sự vật cụ thể mà chỉ là một hiện tợng về con ngời hoặc cóliên quan tới con ngời đợc thể hiện nổi bật trong tác phẩm: Chẳng hạn: Nhân
Trang 9dân là nhân vật chính của Chiến tranh và Hoà bình, thời gian là nhân vật
chính trong sáng tác của Sê khốp…
Dù loại vật hay hiện tợng tự nhiên đều đợc nhà văn khoác cho nó tínhcách của con ngời Nó xuất hiện không phải là hiện tợng tự thân nó mà nó cócuộc sống của con ngời
1.1.2 Chức năng nhân vật
Một nhân vật đợc sáng tạo ra trong tác phẩm văn học đều thể hiện mộtchức năng nhất định nào đó Tác phẩm văn học không thể không có nhânvật Bởi vậy, nhân vật đóng một vai trò to lớn quyết định việc thành hay bạicủa một tác phẩm văn học
Trớc hết, nhân vật trong tác phẩm văn học là phơng tiện, công cụ đểnhà văn khái quát hiện thực x hội, hiện thực cuộc sống Thông thãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ờng nhàvăn khi sáng tác không bao giờ nêu lên ý kiến đánh giá trực tiếp của mình
mà thông qua nhân vật để nói lên điều mình muốn nói ở đây, nhà văn cũngkhông khái quát định lí, định luật nh các nhà khoa học vì con đờng của nhàvăn là con đờng t duy nghệ thuật, t duy hình tợng, nói đến cái chung thôngqua cái riêng, nói cái cụ thể để thể hiện cái trừu tợng Chẳng hạn, để nói sốphận bi thảm của ngời phụ nữ trong x hội phong kiến, Nguyễn Du đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 a rahình tợng Thuý Kiều
Qua nhân vật, nhà văn thể hiện quan niệm của mình về con ngời, cuộc
đời và x hội Nhân vật trong tác phẩm văn học thãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ờng mang tính chất ớc lệ
Sẽ rất ấu trĩ nếu hiểu nhân vật nh con ngời thật, yêu mến và phán xét nó
nh những kẻ ở ngoài đời Chẳng hạn, đọc truyện Thạch Sanh không nên chê trách chàng thiếu cảnh giác để mẹ con Lí Thông lừa Hay đọc Tấm Cám
chớ chê trách Tấm khờ khạo để mẹ con Cám dễ h m hại… Bởi theo đặc điểmãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
của thể loại thì truyện cổ tích đặt chuẩn mực x hội trãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ớc chứ cha đặt ở cátính
Cũng vậy, có thể phân tích cuộc đời chị Dậu trong Tắt đèn (Ngô Tất
Tố) nh một nạn nhân của x hội thực dân nửa phong kiến, chứ không nênãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
trách cứ hay cảm thụ nhân vật (chị Dậu) nh con ngời thật Chẳng hạn có
ng-ời trách chị Dậu sao không bán mình nh Kiều mà lại bán con Thực ra, hành
động của nhân vật không tách rời khỏi tình huống và luôn gắn với t tởng, ý
đồ nghệ thuật của tác giả Vì vậy, nhân vật có nhiệm vụ thể hiện quan niệmcủa nhà văn về con ngời, cuộc đời và x hội Nhãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 vậy, chức năng của nhân vậttrong tác phẩm văn học là công cụ, phơng tiện để nhà văn nhân vật kháiquát hiện thực, khái quát tính cách điển hình của thời đại
1.1.3 Cấu trúc nhân vật
Trang 10Trong quá trình lịch sử văn học đ xuất hiện và cùng tồn tại nhiều cấuãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
trúc nhân vật đa dạng Để hiểu đúng nhân vật, chúng ta cần tìm hiểu một sốcấu trúc nào đó
1.1.3.1 Nhân vật chức năng
Trong văn học cổ đại trung cổ có loại nhân vật không có đời sống nộitâm Các phẩm chất nhân vật cố định, không thay đổi từ đầu đến cuối Hơnnữa, sự tồn tại và hoạt động của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năngnhất định, đóng một vai trò nhất định Chẳng hạn nhân vật anh hùng giếttrăn tinh, ông bụt, ngời cho phép màu hay thử thách lòng ngời… Tất cảnhân vật nh thế đều thể hiện vai trò nh vậy
Bêlixki đ từng nói: ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 "Điển hình vừa là một ngời vừa là nhiều ngời Trên ngời anh ta bao quát rất nhiều ngời, nguyên cả một phạm trù ngời, thể hiện cùng một khái niệm Dĩ nhiên, những nhân vật điển hình lại không nh mọi nhân vật khác, đòi hỏi một cá tính nhất định, đợc thể hiện qua một số chi tiết chân thực sinh động nào đó, chứ không phải là một khái niệm trừu t- ợng" [13,288].
1.1.3.3 Nhân vật tính cách
Là loại nhân vật đợc miêu tả nh một cá nhân có cá tính nổi bật Trong
nhân vật tính cách, cái quan trọng không phải là các đặc điểm, thuộc tính xãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
hội này nọ mà ngời ta có thể liệt kê ra đợc Tính cách còn thể hiện đợc tơngquan của các thuộc tính đó với nhau, với môi trờng, tình huống Nhân vậttính cách thờng có những mâu thuẫn nội tại, nghịch lí, chuyển hoá chính vìvậy tính cách thờng có một quá trình tự phát triển, nhân vật không đồngnhất vào chính nó
LépTônxtôi ví con ngời tính cách nh "những dòng sông", ông nói: "Ngời
ta ở đời đều sống và hành động một phần theo ý kiến của mình, một phầntheo ý kiến của ngời khác Một trong những điều kiện căn bản phân biệt ngờinày với ngời khác là mức độ họ sống theo ý kiến của mình và ý kiến của ngờikhác đến đâu" [12,183]
Cá tính là giới hạn kết tinh các bản chất x hội của tính cách Vì vậy,ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
xây dựng những tính cách điển hình vừa có cá tính, vừa có ý nghĩa loại hình
là một "yêu cầu của chủ nghĩa hiện thực" nh Ăng ghen đ nói ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
1.1.3.4 Nhân vật t tởng
Trang 11Trong văn học, có những nhân vật mà hạt nhân cấu trúc của nó khôngphải cá tính, cũng không phải là các phẩm chất loại hình mà là một t tởng,
một ý thức Chẳng hạn nhân vật Give và Giăngvangăng trong Những ngời
khốn khổ của V Huygô Giave hoạt động theo ý niệm phụng sự nhà nớc,Giăngvangiăng hoạt động theo t tởng nhân đạo phụng sự con ngời
Nhân vật trong văn học cổ và văn học l ng mạn thãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ờng mang tính chấttợng trng Trong chủ nghĩa hiện thực lại kết hợp mật thiết với yếu tố tínhcách của loại hình Trong sáng tác, loại nhân vật này dễ rơi vào công thức,minh hoạ, trở thành cái loa phát thanh cho t tởng tác giả
Các loại nhân vật trên đều xuất hiện không đồng đều trong lịch sử vănhọc, nhng có thể tồn tại song song trong một nền văn học, thậm chí trongmột tác phẩm Cần ý thức hết sự đa dạng của cấu trúc nhân vật và khảnăng phản ánh hiện thực của chúng
1.2 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn.
1.2.1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con ngời
Mọi ngời đều biết "Văn học là nhân học" (M.Gorki), là nghệ thuật miêu
tả, biểu hiện con ngời Con ngời là đối tợng chủ yếu của văn học, là "điểmnhìn" chính yếu của chủ thể sáng tạo nghệ thuật Các Mác cũng đ từng nói:ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
"Con ngời là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội" Có thể nói, con ngời là
trung tâm của mọi vấn đề trong cuộc sống Trần Đình Sử cũng đ khẳngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
định: "Quan niệm nghệ thuật về con ngời là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy
con ngời đã đợc hoá thân thành các nguyên tắc, phơng tiện, biện pháp thể hiện con ngời trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hiện tợng nhân vật đó" [15,41] Hay "Quan tâm đến con ngời đợc cảm nhận qua các loại nhân vật này, loại nhân vật của tác giả này Một khi đã hiểu con ngời đợc miêu tả thì chúng ta hiểu nhân vật này sâu hơn, toàn diện hơn"
[15,5]
Quan niệm nghệ thuật về con ngời chi phối cách thức, nguyên tắc sángtác của nhà văn Vì thế, khi nghiên cứu về con ngời không phải nhìn nhận ởgóc độ khách thể mà phải xem xét con ngời dới lăng kính chủ quan của nhàvăn Việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con ngời tức là đi vào khám phácách cảm thụ và biểu hiện thế giới chủ quan của ngời sáng tạo trong tácphẩm văn học
Quan niệm nghệ thuật về con ngời là một phạm trù của thi pháp học,
nó hớng chúng ta về một đối tợng chính yếu của văn học, về quan niệm thẩm
mĩ của ngời nghệ sĩ
Trang 12Hình tợng nghệ thuật xuất hiện trong tác phẩm văn học bao giờ cũngmang tính quan niệm, tức là phản ánh, miêu tả, thể hiện nhân vật Con ngờiluôn mang trong nó quan niệm của tác giả.
Quan niệm về con ngời là một sản phẩm của lịch sử, của văn học và t ởng, mỗi một thời đại thờng có một quan niệm riêng về con ngời
t-Khrápchencô đ từng nói: ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 "Quan niệm con ngời là hiện thực đặc thù nhất cho sự phản ánh nghệ thuật, trong đó thể hiện sự tác động qua lại của nghệ thuật với hình thái ý thức xã hội khác và mỗi thời đại văn học ra đời bao giờ cũng làm nảy sinh con ngời mới"
Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học là tiêu chuẩn đánhgiá giá trị nhân đạo vốn có của văn học Ngời sáng tạo nghệ thuật càng đisâu khám phá, phân tích, lí giải căn kẽ mọi ngõ ngách của đời sống con ngờicàng thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc trong tác phẩm nghệ thuật
Muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con ngời thì phải xuất phát từnhân vật, bởi vì nhân vật chính là phơng tiện để nhà văn thể hiện quanniệm của mình về con ngời
1.2.2 Quan niệm con ngời cá nhân
Văn học l ng nạm Việt Nam là tiếng nói của tầng lớp tãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 sản dân tộc vàtiểu t sản trí thức thành thị Họ không chấp nhận cuộc sống thực tại, khôngchấp nhận những thành kiến của lễ giáo phong kiến Là những trí thức đợctiếp thu văn hoá phơng Tây, họ có những cách nhìn mới về vấn đề con ngời,
đặc biệt là con ngời cá nhân
Nếu nh văn học trung đại không chấp nhận những con ngời có cá tínhmạnh mẽ, tự khẳng định mình thì văn học l ng mạn lại chú ý đến con ngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ờicá nhân Văn xuôi nói lên tiếng nói đấu tranh của con ngời cá nhân, đấutranh cho tự do hôn nhân, cho hạnh phúc lứa đôi, phê phán kịch liệt đại gia
đình phong kiến Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn rất nhạy cảm với quyền lợi cánhân, đề cao nhu cấu hởng thụ, quyền dân chủ
Trong x hội phong kiến, cá nhân không có quyền sống riêng (nhất làãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
ngời phụ nữ) từ trong gia đình, ngoài x hội, nó phải tuân theo nhữngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
nguyên lí, những qui phạm nghiệt ng Về kỉ cãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ơng x hội thì: ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 Quân-s-phụ, về
đạo lí làm ngời thì: Nhân- nghĩa- lễ- trí- tín, về tiêu chuẩn mĩ học thì "văn dĩ
tải đạo", về ứng sử trong gia đình thì "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" vì thế văn học trung đại có tính phi ng , chãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 a xem trọng ngời
phụ nữ và xem ngời phụ nữ là tầng lớp thứ "hai", xem họ nh những ngời nô
lệ
Đến giai đoạn văn học 1930-1945, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đ thựcãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
hiện một quan niệm về con ngời cá nhân, mạnh mẽ khẳng định con ngời cánhân trong xung đột gia đình truyền thống với những khát vọng tìm lối thoát
Trang 13trong tình yêu, trong thế giới nội tâm, thậm chí muốn thoát li mọi quan hệ
x hội để thoả m n tự do bản năng Nhân vật thãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ờng là những cô gái mới ra
đời trong những gia đình bảo thủ Họ đ không đầu hàng mà kiên quyết đấuãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
tranh để bảo vệ hạnh phúc của mình Mai (Nửa chừng xuân) của Khái
H-ng là một cô gái có lòH-ng tự trọH-ng, chỉ biết đem lòH-ng nhân hậu thanh cao rachống đỡ cái ác, đứng vững trên lập trờng của mình để bảo vệ tình yêu lí t-ởng Mai đ chống đến cùng chế độ đa thê, đ nói thẳng vào mặt bà án "Nhàãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
tôi không có mả lấy lẽ" Nhất Linh ca ngợi tình yêu của lứa đôi, chủ trơng
giải phóng ngời phụ nữ ra khỏi gia đình phong kiến Đoạn tuyệt, giải phóng
họ ra khỏi những quan niệm trinh tiết hẹp hòi của lễ giáo Lạnh lùng, giải phóng ngời phụ nữ ra khỏi sự ghen ghét của mẹ ghẻ Thoát li…
Tuy nhiên, trong khi đề cao nhu cầu hởng thụ, Tự lực văn đoàn đ đểãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
cho nhân vật sống một cuộc sống thoáng đ ng với những cảm giác cháy bỏngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
luôn luôn thay đổi, một cuộc sống hôm nay không cần biết đến ngày mai nh
Hiền (Trống mái), Tuyết (Đời ma gió) Hiền và Tuyết mở ra một lối sống
nguy hiểm đối với thanh niên, đó là lối sống buông thả, tự do vô trách nhiệm,sống không tình cảm, chỉ theo lạc thú cá nhân
Nhìn chung, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đ thể hiện đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc quyền lợi cánhân của con ngời, cái quyền dân chủ mà trong x hội phong kiến không choãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
phép ở đó chúng ta đ thấy đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc những ngời phụ nữ mạnh dạn đứng dậy đấutranh để bảo vệ quyền lợi của mình, cho lí tởng tình yêu hạnh phúc cá nhânmình
1.2.3 Vẻ đẹp nội tâm và ngoại hình
Thể hiện nhân vật một cách đầy đủ, toàn vẹn không thể không miêu tảnội tâm và ngoại hình Miêu tả nội tâm và ngoại hình trong văn học là yêucầu không thể thiếu để tái hiện cuộc sống của con ngời toàn vẹn Bản thânhai yếu tố này cũng là một sản phẩm của lịch sử văn học Về một chừng mựcnào đó có thể nói, miêu tả nội tâm ngoại hình nhân vật là một đặc điểm tiêubiểu của văn học hiện đại
1.2.3.1 Vẻ đẹp nội tâm
Nhất Linh trong "Viết và đọc tiểu thuyết" đ cho rằng: ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 "Những cuốn tiểu thuyết hay là những cuốn tiểu thuyết tả đúng sự thực cả bề trong lẫn bề ngoài Diễn tả đợc một cách linh động các trạng thái phức tạp của cuộc đời,
đi thật sâu vào sự sống với tất cả những chuyển biến mong manh, tế nhị của tâm hồn" [17, 62].
Soi vào nội tâm nhân vật nữ của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, ta thấy
vẻ đẹp của nhân vật nữ đó là thế giới cảm giác Mỗi nhân vật nữ của tiểuthuyết Tự lực văn đoàn đều có những thời khắc nhất định sống trong thế giới
Trang 14đầy cảm giác Cũng không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các tiểu thuyết Tựlực văn đoàn thờng mở đầu bằng chính cảm giác của nhân vật.
Chẳng hạn, mở đầu tác phẩm Lạnh lùng, ngời đọc nh cùng sống với
nhân vật: "Nhung áp gối bông vào mặt để cho làn vải êm mát làm dịu đôi
má nóng bừng" (trang 11) Và không chỉ ở Lạnh lùng mà còn có ở Đoạn
tuyệt, Nửa chừng xuân, hay hồn bớm mơ tiên…
Vẻ đẹp nội tâm thể hiện rất rõ trớc hết ở cảnh sắc thiên nhiên Sự tiếpxúc của các giác quan với cuộc sống làm cho con ngời trở nên phong phú hơn,
tế nhị hơn, mẫn cảm hơn đối với nội tâm của chính mình cũng nh đối vớingoại cảnh Tâm hồn của nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cóthể rung lên bất cứ lúc nào khi đối diện với thế giới xung quanh Có lẽ, khôngphải nhân vật trong giai đoạn văn học nào cũng có đợc cảm giác tinh tế,phong phú nh thế trớc cảnh sắc thiên nhiên Có những câu văn tả tình, tả
cảnh phù hợp với tâm trạng nhân vật: "Lan ngớc mắt nhìn phong cảnh
quanh mình Lòng hoài nghi man mác đến cả cỏ, cây, mây, nớc Cúi nhìn dòng nớc bạc lấp lánh dới chân đồi quanh co uốn khúc, ri rào lớt giữa dòng cát vàng Trong cảnh êm đềm ấy biết đâu không ẩn nấp loại rắn độc hại ng- ời.Cho chí đám mây dịu dàng theo chiều gió thổi, làn khói lờ mờ bay, lẫn lá xanh , biết đâu không trở thành sức mạnh phá phách của con tạo vô tình…"
[20.83]
Tâm trạng của Liên (Gánh hàng hoa) là một tâm trạng chán chờng:
''Cảnh chiều tà gợi lên trong tâm trí Liên những t tơng chán nản uể oải, nàng đặt cái bình tới xuống đất, đa mắt nhìn quanh vờn một lợt Những luống hoa san hô đày rẫy các màu rực rỡ chẳng giúp nàng khuây đợc nỗi đau khổ, mà chỉ làm rõ thêm sự trái ngợc của tâm hồn ủ dột với ngoại cảnh tốt t-
ơi." (Tr.35).
Hay Nhung trong (Lạnh lùng) hởng thụ vẻ đẹp bao la của sông nớc
nh hởng thụ một cuộc sống tự trong hạnh phúc "Khi thuyền ra đến giữa
dòng sông, nhìn giải nớc rộng rãi bao la chạy đến vô tận, những rặng núi màu xanh lam sẫm chắn ngang về mạn Hoà Bình Nhung ngây ngất lảo đảo
nh con chim ở lâu trong lồng nay đợc thả ra nơi đồng rộng " (tr 115).
Ta còn bắt gặp rất nhiều đoạn nữa miêu tả tâm trạng (nội tâm) củanhân vật nữ qua cảnh sắc thiên nhiên Đến với thiên nhiên, họ nh sống cuộcsống khác, khác với chính cuộc sống mà họ đang tồn tại
Nh vậy, vẻ đẹp nội tâm của nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn chính là thế giới cảm giác của họ Nhân vật nữ tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn sống trong thế giới buồn thảm nhng họ vẫn cố phát hiện những cái đẹp,cái bình dị của thiên nhiên và của tình ngời
1.2.3 2 Vẻ đẹp ngoại hình
Trang 15Ngoại hình là một tiêu chí hàng đầu trong việc xây dựng nhân vật Với
vẻ đẹp nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, lần đầu tiên, con ngời
đ có ý thức công khai sắc đẹp thân thể là một giá trị của con ngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ời cá nhân.Các tác giả đ khẳng định vẻ đẹp đó vị tất phải có Điều đó đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc thể hiện ởquan niệm về sắc đẹp của nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Chẳng hạn, Hiền (Trống mái) đ quan niệm: ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 "Muốn bình đẳng phải
Vẻ hấp dẫn của Nhung (Lạnh lùng) qua sự chiêm ngỡng cuả ngời bạn
tình Nghĩa là sự hấp dẫn của khuôn mặt "diễm lệ, tơi sáng và hai con mắt
long lanh" (Tr.209).
Ngoài ra, vẻ đẹp ngoại hình đó còn đợc nhân vật trực tiếp cảm nhận
chính mình nh : Hiền ( Trống mái ): "Mặc xong, nàng đa tay nắn cặp đùi
chắc nịch và xoa bộ ngực nở nang, khoan khoái, sung sớng thở ra một hơi thở dài…" (Tr 12)
Vẻ đẹp của Tuyết (Đời ma gió) là "cặp môi bôi sáp hình trái tim nhếch
một nụ cời làm hai lúm đồng tiền ở hai bên má mơn mởn nh tuyết trái đào Lạng Sơn mới hái" (Tr.381)
Có khi các tác giả miêu tả vẻ đẹp ngoại hình thân thể, vẻ đẹp qua đôitay:
Nhung (Lạnh lùng) "Nàng cởi áo cánh rồi vội vàng lấy gáo múc đầy
thau nớc, dội mạnh từ cổ xuống chân…dới bóng trăng, hai bàn tay tròn trĩnh của nàng đã trắng lại càng trắng hơn" (Tr.12)
Khi miêu tả vẻ đẹp ngoại hình, các nhà văn tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn không quên miêu tả đôi mắt Đôi mắt là "cửa sổ của tâm hồn", là thế
giới tâm hồn của nhân vật Qua đôi mắt, tính cách của nhân vật cũng đợc bộclộ
Vẻ đẹp của Mai (Nửa chừng xuân) đợc tác giả miêu tả trong sự so
sánh: "Quầng mắt đen sâu càng làm tăng vẻ rực rỡ long lanh của hai con
ng-ơi sáng dịu dàng nh hai ngôi sao lấp lánh sau làn mây mỏng" Đôi mắt đó
luôn nói rõ tính cách của nàng: dịu dàng, trong trắng và đầy nghị lực
Phần lớn khi miêu tả đôi mắt của các nhân vật nữ, các nhà văn cũngchỉ lớt qua chứ không miêu tả một cách cặn kẽ Chẳng hạn, đôi mắt của
Hồng (Thoát li) là "đôi mắt long lanh" Đôi mắt của Tuyết (Đời ma gió) là
"đôi mắt ớt và dịu dàng" (Tr.479)…
Trang 16Ngoài ra, vẻ đẹp ngoại hình của nhân vật nữ còn đợc thể hiện ở vẻ đẹpmang tính chất đô thị (vẻ đẹp trang sức, trang phục theo kiểu tân thời):
ở tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, ta thấy có nhiều đoạn tác giả tả rất kĩ
về các nhân vật làm đẹp cho mình bằng cách làm đẹp nh thế nào: "Rời chỗ
bóng tối giá lạnh, Nhung cầm gơng ra bàn ở phía có ánh sáng lọt vào Nàng thong thả chải tóc rồi thong thả mở hộp phấn mà đã lâu lắm nàng cha dùng
đến Nàng cầm quả bông chấm nhẹ lên hai gò má rồi cởi cúc áo cánh chấm xuống cổ, xuống vai Trên làn da, nàng khoan khoái đa đi đa lại quả bông
êm ấm, trớc mặt nàng, bụi phấn thơm bay toả ra trong nắng và làm mờ bóng nàng trong gơng" [19,226].
Tuyết (Đời ma gió) trớc khi đi đâu đều "mở ví lấy cái gơng con và cái
bông chấm phấn để sửa lại nhan sắc"…
Trong khi chú ý miêu tả việc trang điểm trang phục, các nhân vật tiểuthuyết Tự lực văn đoàn còn luôn chú ý vẻ đẹp mang tính thời đại và đô thị.Với họ, nếu vẻ đẹp của một cô gái quê là ở sự duyên dáng của vành khăn mỏquạ, áo tứ thân, hàm răng đen thì ở ngời con gái đô thị phải là hàm răngtrắng, áo tứ thời (trang phục phơng Tây hiện đại) Không phải ngẫu nhiên
mà Mai trong (Nửa chừng xuân), một cô gái thôn quê đ chiều ngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ời yêu
của mình nh thế này: "Lộc hơi ngỏ ý thích lối y phục nào là nàng vận theo lối
y phục ấy ngay, đến nỗi ở nhà quê ra tỉnh hơn một năm nay, nàng đã phục sức hệt một thiếu nữ tân thời" (Tr.194).
Một ngời bạn tốt của Minh trong "Gánh hàng hoa" đ khuyên Liênãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
(vợ Minh) sửa sang lại nhan sắc bằng cách trang điểm và thay những bộquần áo quê mùa bằng những bộ trang phục tân thời để giữ tình yêu củachồng
Hồng (Thoát li) không chỉ chú ý đến việc trang điểm mà nàng còn chú
ý mặc những bộ trang phục hiện đại khi gặp ngời tình: "Trang điểm xong,
nàng mở cái va li lấy cái áo đẹp nhất ra, cái áo nhung đỏ may kiểu mới mà ở nhà nàng không bao giờ dám mặc, cái áo thắt đáy và nở ngực khiến nàng trẻ hẳn đi mấy tuổi" (Tr.378).
Có một điều chúng ta dễ nhận thấy là các nhà văn đ cố gắng miêu tảãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
vẻ đẹp ngoại hình của nhân vật nữ thì chỉ chú ý miêu tả những vẻ đẹp trongsáng, thanh khiết (ánh mắt, bàn tay, tà áo trắng) hoặc là miêu tả những đ-ờng nét gợi cảm giác nhục dục tinh tế nhẹ nhàng Mặt khác, vẻ đẹp ngoạihình đợc miêu tả ở đây là một vẻ đẹp mờ nhạt, thiếu góc cạnh và thiếu cátính sắc nét Ngời đọc hầu nh không hình dung ra đợc vẻ đẹp cụ thể của từngnhân vật Các tác giả tả theo tởng tợng nhiều hơn là quan sát nên sắc đẹp
thờng có "mẫu số chung" thờng lặp lại, nên vì thế cha thật sự thành công
trong việc miêu tả vẻ đẹp ngoại hình Sự cá tính hoá trong việc miêu tả chân
Trang 17dung, ngoại hình ở tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn cha đạt đến tầm của vănhọc hiện thực phê phán nhân vật với những bức chân dung về ngoại hìnhtrong những trang viết của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ TrọngPhụng…
Tóm lại, vẻ đẹp ngoại hình của nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự lựcvăn đoàn là một phơng diện tiêu biểu Vẻ đẹp ngoại hình đó đ đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 a tiểu tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn đến với cách miêu tả mới, cách thể hiện mới về vẻ
đẹp của nhân vật nữ trong nền văn học Việt Nam 1932 - 1945 Đó là, một cộtmốc cho sự phát triển về miêu tả vẻ đẹp ngoại hình của văn học Việt Namgiai đoạn sau
1.3 Nhìn chung về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn
Nói đến tiểu thuyết là nói đến nhân vật Trớc tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn, Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh… cũng đ xây dựng nhân vật,ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
qua nhân vật mà bộc lộ đề tài, chủ đề, t tởng tác phẩm Nhng dù sao nhânvật của họ vẫn không tránh khỏi sơ lợc, công thức, lối thuyết minh đạo đức.Tuy có bớt nhiều so với trớc nhng cũng cha mất hẳn
Các nhà văn Tự lực văn đoàn đ thành công trong việc xây dựng nhânãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
vật, có ý thức xem nhân vật là trung tâm của tác phẩm Nhờ có một vốn sốngnhất định, đặc biệt là vốn sống về con ngời và môi trờng t sản, tiểu t sản,phong kiến, nên họ biết quan sát và đi sâu vào tâm lí nhân vật Họ chú trọng
đến cuộc sống nội tâm nhân vật nên nhân vật có hồn Lời nói, cử chỉ, dáng
điệu của nhân vật đợc tác giả nhận xét một cách tỉ mỉ và mô tả một cáchsinh động đ khắc hoạ rõ nét từng mẫu ngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ời nhất định Nổi bật nhất là "Lớp
ngời mới", nam nữ thanh niên trí thức - mẫu ngời lí tởng của trật tự x hội tãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
sản Họ là: Lộc (Nửa chừng xuân) là tham tá, Minh (Gánh hàng hoa) là nhà báo, Nam (Đẹp) là hoạ sĩ, Chơng (Đời ma gió) là giáo viên trờng t thục Trơng (Bớm trắng) là sinh viên trờng luật, Cảnh (Thanh đức) là sinh viên trờng Y, Loan (Đoạn tuyệt), Hồng (Thoát li), Lan (Đẹp), Lan (Hồn bớm
mơ tiên), Hiền (Trống mái), Tuyết (Đời ma gió), Liên (Gánh hàng hoa).
Tất cả họ đều là những thanh niên mới lớn đợc học tiếp thu một nền giáodục Tây Âu từ nhỏ, đợc tắm mình trong không khí của thời đại mới
Ngoài ra, còn có những nhân vật đại diện cho lớp ngời cũ nh bà án
(Nửa chừng xuân), bà Phán (Đoạn tuyệt)…
Trong thế giới nhân vật của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn có nhữngnhân vật nông dân, nhng các nhà văn đ không thành công, mặc dù trongãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
thời kì mặt trận dân chủ, họ cũng tỏ ra quan tâm đến nhân vật lao động.Qua các trang viết, không phải họ không thấu hiểu đợc nỗi thống khổ củanhững ngời dân nghèo thành thị hay ngời dân nông thôn nhng những tình
Trang 18cảm không sâu sắc, nhiều khi không tránh khỏi thái độ khinh bạc của những
ngời trí thức trởng giả đối với "đám ngời vô học, dốt nát, hủu lậu, bẩn
thỉu…"( Trống mái của Khái Hng).
Họ đ xây dựng nên tất cả những nhân vật đó với những tâm tãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 , tìnhcảm Tuy vậy, nhiều khi các nhà văn cũng đi sâu một cách vô ích vào thế giớinội tâm nhân vật với những vui buồn tản mạn, những tình cảm nhạt nhẽo,giả tạo, không dáng dấp gì với yêu cầu của cuộc sống
ở Khái Hng, do tính chất mộng ảo của tâm hồn nhà văn nên nhân vật
có lúc lạc quan một cách giả tạo, ít đấu tranh nội tâm, thờng đạt đến mục
đích một cách dễ dàng và cũng do đó nhiều khi không thật, nhất là khi nhàvăn xây dựng nhân vật lí tởng Nhân vật của Nhất linh thờng hay băn khoắnsuy nghĩ, bị day dứt bởi nỗi buồn thầm kín, cho nên nội tâm phong phú hơn,diễn biến cũng phức tạp hơn Ngoài những nhân vật đ kể trên của Tự lựcãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
văn đoàn thì riêng đối với Khái Hng, ông đ thành công khi mô tả nhữngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
nhân vật phản diện, nhân vật đại diện cho lễ giáo phong kiến Gợi đợc ở ngời
đọc lòng căm phẫn không chỉ đối với một con ngời cụ thể, mà đối với cả mộtnền luân lí lễ giáo phong kiến
1.4 Nhìn chung về nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Nhân vật là một yếu tố không thể thiếu của tác phẩm văn học Bởi vìnhân vật là hình thức cơ bản để qua đó nhà văn miêu tả thế giới một cáchhình tợng Trong quá trình xây dựng nhân vật, mỗi nhà văn đều chọn chomình một lối thể hiện riêng, phù hợp với sở trờng của mình
Các nhà văn Tự lực văn đoàn đặc biệt thành công khi xây dựng nhânvật nữ Nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đợc chia làm hai thếhệ:
Thế hệ già: đó là những bà mẹ chồng, mẹ ghẻ, đại diện cho những hủ
tục phong kiến bảo thủ Đặc điểm của những nhân vật này là độc ác, cổ hủ
Thế hệ trẻ: là những "cô gái mới" đợc hấp thụ một nền văn minh Âu
Tây Họ là những cô gái trẻ, đẹp, ít nhiều đều có trình độ, có học vấn, có hiểubiết (nhng họ thờng gặp những ông chồng độc ác, dốt nát) Họ đều là những
học sinh, sinh viên trờng t, cao đẳng nhng do chế độ cổ hủ khắt khe của xãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
hội phong kiến buộc họ phải nghỉ học giữa chừng và lâm vào những hoàncảnh không lối thoát Đứng trớc tình trạng bó buộc của lễ giáo phong kiến,các nhân vật nữ của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn hoặc là chấp nhận thực tạihoặc là phủ nhận thực tại đó Phần đông trong số họ đ đứng dậy đấu tranhãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
để tự giải phóng cho mình Dù đấu tranh bằng t tởng hay bằng hành độngthì họ vẫn tìm cho mình một con đờng đấu tranh riêng
Có nhân vật nữ đ tìm đến tự do trong tình yêu nhãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 Lan "Hồn bớm mơ
tiên", có nhân vật vì không chịu nổi cuộc sống bó buộc trong gia đình nhà
Trang 19chồng, với mẹ chồng, em chồng và chồng, đ đứng dậy để tự giải phóng mìnhãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
thoát khỏi chốn tù đày của gia đình chồng nh Loan "Đoạn tuyệt" Cũng có những nhân vật hi sinh tình riêng để có cuộc sống hạnh phúc nh Mai "Nửa
chừng xuân", Tự mình tìm cách thoát li khỏi gia đình mà ông bố là một
ng-ời nhu nhợc, mẹ ghẻ chuyên quyền, bạc đ i để rồi chết trong tự do, thoát liãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
khỏi gia đình nh Hồng "Thoát li" Có nhân vật chỉ vì danh tiếng h o màãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
phải thủ tiết hết đời với "Tiết hạnh khả phong" nh Nhung "Lạnh lùng" Hay Lan trong "Gánh hàng hoa" là hiện thân của tình yêu, thuỷ chung và đặc
biệt là lòng vị tha Bên cạnh đó, các nhà văn Tự lực văn đoàn còn xây dựng
những nhân vật nữ mà biểu hiện của sự "nổi loạn", vô trách nhiệm và bất
chấp tất cả nh Hiền "Trống mái", Tuyết "Đời ma gió"…
Tất cả họ đ tạo nên một thế giới nhân vật nữ đa dạng, phong phú, vớiãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
nhiều cách biểu hiện khác nhau, mang những sắc thái khác nhau Họ đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
đứng dậy đấu tranh không phải chỉ để giải phóng cho cá nhân mình mà sự
đấu tranh của họ còn mang tầm khái quát rộng lớn hơn đó là giải phóng chogiới nữ của mình
Dù cách thức đấu tranh không giống nhau nhng họ lại giống nhau ở
một điểm là khẳng định cái "Tôi" bản ng của mình, khẳng định nhân phẩmãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
cũng nh vị trí của mình trong x hội cũ Đó cũng chính là những tãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 tởng màcác nhà văn tiểu Tự lực văn đoàn thể hiện ở nhân vật nữ của mình
Nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đ đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc hun đúc bằngnhững phẩm chất truyền thống tốt đẹp của ngời phụ nữ Việt Nam nh Mai
"Nủa chừng xuân" , Liên "Gánh hàng hoa", Lan "Hồn bớm mơ tiên" ở
họ vừa có cái dịu dàng, nết na nhng cũng đầy tinh thần phản kháng
Trớc khi tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ra đời, ngời phụ nữ trong thơ văn
trớc đó cha có tiếng nói riêng của mình Chế độ "trọng nam khinh nữ" đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
không thừa nhận ngời phụ nữ nh Nguyễn Du đ từng kêu lên trong ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 Truỵên kiều : "Đau đớn thay phận đàn bà, lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung" Đến
Hồ Xuân Hơng đ từng ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 "chém cha cái kiếp lấy chồng chung" nhng rồi cũng
đành phải chấp nhận thực tại đó Đến tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, vấn đềngời phụ nữ đ có một sự thay đổi lớn Họ đ đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc các tác giả đề cao và có chỗ
đứng xứng đáng trong x hội Họ không câm lặng mà ý thức của họ đ đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợcthức tỉnh Họ không thể ngồi im để nhìn những cái "vô lí" của chế độ x hộiãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
chà đạp lên con ngời mình, lên cuộc đời mình Họ cất tiếng nói của mình mặc
dù tiếng nói của họ còn yếu ớt Song chính họ đ tự giải phóng cho mình khỏiãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
bàn tay vốn mục nát của x hội phong kiến.ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
Trang 20CHƯƠNG 2
NHÂN VậT Nữ TRONG TIểU THUYếT Tự LựC VĂN ĐOàN
2.1 Nhân vật thể hiện quan niệm lễ giáo phong kiến bảo thủ
Nói đến nhân vật nữ của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (tiêu biểu là tiểuthuyết của Nhất Linh và Khái Hng), điều đầu tiên ta không thể không nói
đến là nhân vật nữ thể hiện cho những quan niệm lễ giáo phong kiến bảothủ Đó là những bà mẹ chồng, mẹ ghẻ mang trong mình tập tục cổ xa, lànhững ngời đ bị chế độ phong kiến khống chế, trở thành những tay sai đắcãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
lực Họ chính là sản phẩm mà x hội phong kiến đ tạo ra.ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
Đọc Nửa chừng xuân của Khái Hng, ta thấy vấn đề nổi cộm là cuộc
tuyên chiến mạnh mẽ vào lễ giáo phong kiến chà đạp lên tình yêu, hạnh
phúc của cá nhân con ngời Tác phẩm phản ánh mối xung đột mới -cũ đang trở nên gay gắt, lan rộng trong đời sống thành thị khi đó Lực lợng cũ thể hiện ở nhân vật bà án, một mệnh phụ mà "ăn ở thì nết cũng hay, nói điều
ràng buộc thì tay cũng già".
Bà án đợc Khái Hng miêu tả không hề sơ lợc, đơn giản, cũng khôngphải là một chân dung biếm hoạ mà là một hình tợng nghệ thuật chân thực,sống động Bà án, một ngời đà bà ý thức đầy đủ về quyền hành của kẻ giàu
có Với thế lực của một ngời mẹ nghiêm khắc, thậm chí là độc ác Nhữngquan niệm bởi lề lối phong kiến đ giết chết lãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ơng tâm ở ngời đàn bà quí tộcnày, khiến bà trở nên độc ác, với những thủ đoạn hèn hạ phá hoại hạnh phúccon cái mình Quan niệm về hôn nhân gia đình của bà án là do sự sắp đặtcủa cha mẹ Con cái chỉ biết cúi đầu vâng theo
Bà án vẫn cho mình cái quyền cới vợ cho con bởi hai gia đình đ có hứaãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
hôn từ trớc Bà đ thẳng thừng từ chối việc Lộc lấy Mai và bà cho Mai là bọnãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
ngời cùng đinh trong x hội lúc bấy giờ Tác giả vết: ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 "Mai chỉ hoàn toàn đối với Lộc mà thôi, chứ đối với bà án thì Mai chỉ là một con bé khốn nạn, vô giáo dục, một con bé trong đám hạ lu không đáng làm vợ một quan tham tá.
Bà cho con bà là dại dột bị lời ngon ngọt của một cô gái giang hồ cám dỗ"
(Tr.184) Có thể nói, bà án là nhân vật tiêu biểu cho hủ tục "môn đăng hộ
đối".
Để chia rẽ Lộc và Mai, bà tìm đủ mọi lời nói xấu Mai hòng làm lung lạc
Lộc: "Nếu nó bằng lòng mày thì biết đâu nó lại không bằng lòng ngời khác.
Mày phải biết chỉ có ngời vợ cha mẹ hỏi có cheo có cới mới quý, chứ đồ liễu ngõ hoa tờng, thì mày định đa nó về để bẩn nhà tau hay sao" (Tr.184) Lời
nói của bà án thể hiện một cái nhìn phiến diện, lệch lạc về giá trị của conngời Bà có một quan niệm duy nhất là chỉ có ngời vợ cha mẹ cới cho thì mớigọi là "vợ"
Trang 21Nh vậy, tình yêu hôn nhân , hạnh phúc riêng t không tự bản thânmình quyết định mà phải do cha mẹ sắp đặt Đó cũng là một tập tục đ tồnãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
tại lâu đời và nó đ ăn sâu vào hành động, tãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 duy của những ngời nh bà án
Trong x hội phong kiến, bề dãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ới phải hoàn toàn phục tùng bề trên thì ở
đây cũng vậy, con cái nhất nhất phải theo lời cha mẹ "cha mẹ đặt đâu con
ngồi đấy", ý thức về cái tôi cá nhân của mình về x hội cũ là không có, nhữngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
gì tiến bộ đều đợc xem là đối nghịch với x hội này ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ý thức của con ngời cánhân không có mà trong khi đó uy quyền của các thế lực phong kiến lại rất
lớn Bởi vậy, dẫu Lộc có giải thích với bà án về Mai là "con nhà gia giáo, Mai
tốt với em, Mai bị quẫn bách, Mai bị hà hiếp, Mai là một cô gái hoàn toàn về dung nhan và đức hạnh và Mai là con một ông tú" (Tr.184) thì cũng không
sao lay chuyển đợc một bà án vốn đ bị lối hủ tục phong kiến ăn sâu vàoãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
thâm căn
Bà đ nói đến tập tục cũ là tự do hôn nhân ép buộc với sự đồng tình củaãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
một con ngời đ bị nề nếp gia phong lấn át Bà ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 án chỉ biết rằng, xa kia tớinay, các gia đình do cha mẹ định đoạt vẫn sống hạnh phúc Nhng bà khôngnghĩ rằng, hạnh phúc của cá nhân thì do cá nhân hoàn toàn quyết định.Những cặp vợ chồng sống với nhau trong x hội cũ không hề yêu nhau nhãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ngvẫn vui vẻ, êm thấm là nhờ ở sự bắt buộc mà có chứ không phải vì tính tình
vợ chồng hợp nhau và càng không phải là sự đồng cảm giữa hai con ngờikhác giới Mọi sự tính toán để nhằn chia rẽ Lộc và Mai đ đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc bà dự tính và
bà đ thành công với kế hoạch đó của mình.ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
Nhng việc làm đó có phải là do bà thơng Lộc thực sự hay không, hay chỉ
là do những quan niệm cũ Tác giả đ viết trong ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 Nửa chừng xuân : "Lòng
thơng con của các bà mẹ Việt Nam thì dẫu con đã lớn tuổi, không thể đem sự gì ra so sánh đợc, hoạ chăng có thể ví sự chăn dắt đàn con của con gà mái Nếu ngắm qua cái dáng điệu, cái can đảm của con gà mái khi nó xoè hai cánh, quả quyết đa ngợc cái mỏ yếu ớt lên để chống lại con diều hâu bay là xuống định bắt con nó, thì sẽ thấu đợc lòng thơng con của bà mẹ Việt Nam"
(Tr.234) Còn ở đây, bà án cũng thơng con nhng lại là một tình thơng đầy
lầm lẫn: "Tính bà án đối với con cũng vậy, bà yên trí rằng Mai sắp sửa làm
hại đời con bà nh con diều hâu định ăn thịt con gà con Vậy thì mu kế của
bà sắp dùng dẫu kẻ khác có cho là tàn ác đến đâu bà cũng không ngại Làm một việc để cứu vớt một linh hồn đang bị đắm đuối ở chốn dơ bẩn, thì còn m u
kế gì là vô nhân đạo, và tàn ác đối với lơng tâm bà?" (Tr.234) Thật vậy, bà
cứu vớt con mình nhng bà lại không nghĩ rằng việc làm đó của bà là vô nhân
đạo, sắp giết chết một con ngời khác
Một điều nữa mà ta có thể dễ nhận thấy ở bà án là t tởng "Môn đăng
hộ đối" Bà tìm đến Mai không mục đích gì khác là đuổi Mai đi xa Lộc càng
Trang 22tốt Với con bà, bà phải "gả cho con quan để con bà nơng tựa vào bố vợ mới
mong thăng quan tiến chức đợc" (Tr.247)
T tởng "Nỗi dõi tông đờng" đ thấm nhuần ở con ngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ời trung đại nh thế
nào thì bà án cũng vậy: "Tập quán bắt buộc luôn luôn nghĩ tới những ý tởng
nối dõi tông đờng, đầy đàn cháu chắt Thế mà hai đứa thừa trọng tôn của bà
kế tiếp nhau mà chết Đau đớn cho bà biết bao" Ta cũng bắt gặp ở nhân vật
bà Phán Lợi trong (Đoạn tuyệt) ở t tởng "Nỗi dõi tông đờng" này Đứa cháu
trai mà bà Phán mong chờ cũng chết do những hủ tục lạc hậu của phongkiến để lại
Với lễ giáo phong kiến ngặt nghèo, bảo thủ, ngời phụ nữ không đợc xemtrọng Những gì mà ngời phụ nữ ý thức đợc thì đều bị cho trái với đạo líphong kiến Tất cả những hành động, việc làm của bà án đối với Lộc và Mai
điều là hiện thân của những quan niệm phong kiến Kể cả việc bà cho mìnhcái quyền cớp con của Mai và tự cho đứa cháu mà bà đ hắt hủi đó phảiãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
mang tên họ chồng bà, mang họ con bà Có khi ta cũng bắt gặp ở bà một chút
lòng thơng trắc ẩn: "Chỉ thơng hại con Mai" (Tr.318) nhng đó cũng chỉ là một
chút tình thơng thoáng qua mà thôi chứ không phải bắt nguồn từ sâu xa tận
đáy lòng bà Lộc (con bà án) đ từng nói với Mai về mẹ mình ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 "Song mớ lễ nghi đạo đức của nho giáo chỉ thoáng qua trí thức, chứ đối với mẹ anh thì nó
đã ăn sâu vào tận não, đã hoà lẫn vào mạch máu, đã thành cái di sản thiêng liêng về tinh thần bất vong bất diệt" (Tr.211).
Xây dựng nhân vật bà án, hiện thân của quan niệm lễ giáo phong kiếnbảo thủ, đ dẫn ngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ời đọc đến chỗ không chỉ căm ghét một bà án cụ thể màcòn căm ghét cả một nền luân lí lễ giáo phong kiến Trơng Chính đ nhậnãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
xét về Nửa chừng xuân: "Chế độ đại gia đình là một chế độ eo hẹp Nó đặt
luân thờng trên nhân đạo, đặt lễ nghi trên tự do cá nhân Nó toả chiết hết tình cảm cá nhân và không để cá nhân phát triển một cách đầy đủ ái tình vì thế bị hi sinh cho những thành kiến xã hội, hôn nhân vì thế mất ý nghĩa tự nhiên con trai cũng nh con gái, không có quyền kén chọn ngời yêu để mu cầu lấy hạnh phúc gia đình [23,135]
Nếu bà án đại diện cho tập tục cho hạnh phúc hôn nhân thì bà Phán
(Đoạn tuyệt) lại là một con ngời hội tụ đủ những quan niệm lạc hậu, hủ tụckhắt khe của lễ giáo phong kiến trong mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu
Trong gia đình bà Phán, mọi việc đều do một mình bà quyết định.Chồng con cũng thuộc thẩm quyền dới tay bà Bà có một thái độ lạnh lùng,quyết đoán về việc hôn nhân của con Mang tiếng là cới vợ cho con nhng thực
ra là đòi nợ Bà không xem Loan mà bà cới về cho Thân là con dâu Bà luôn
có một thái độ khinh nhờn biệt đ i đối với Loan Vì Loan là món nợ ba nghìnãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
bạc mà ông bà Hai (bố mẹ Loan) đ vay của bà trãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ớc đó
Trang 23Nếu ở bà án (nửa chừng xuân) không chấp nhận Mai là con dâu thì ở
đây, bà Phán Lợi (Đoạn tuyệt) lại không xem con dâu đúng nghĩa là "con
dâu" Bà xem con dâu cũng chỉ nh con sen, con hầu mà thôi: "Bỗng nghe tiếng đồng hồ điểm năm tiếng, nàng giật mình ngồi dậy vì quen nh mọi khi,
cứ đúng giờ ấy là nàng phải dậy để làm việc, tuy rằng không có việc gì đáng
để cho nàng phải dậy cả Những lúc đó thì nàng đi làm những công việc lặt vặt Nếu có tiếng động chạm để bà mẹ chồng thức giấc, thì thế nào bà cũng tỏ
ra cho nàng biết nàng làm bộ ra điệu dậy sớm Nhng nếu nàng cứ yên lặng
mà làm việc đến bảy giờ, bà mẹ chồng thức dậy, bà sẽ dùng những lời nói mát, cho nàng là một ngời con dâu lời biếng, h thân, sáng bảnh mắt còn quấn lấy chồng" (Tr.215).
Mặc dù sống trong cùng một mái nhà nhng bà Phán luôn chì chiếtLoan, luôn dùng những từ nói mát làm cho cô phải đau lòng ở bà còn mang
t tởng ấu trĩ, những tập tục cổ hủ, dị đoan - mê tín Bà tin vào những điềukhông có, bà đi chùa, đi thầy bói cầu tự nên mới có cháu trai chứ không thìcha chắc đ có đứa cháu ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 "nối dõi tông đờng" Hay, bà làm lễ cầu cho Mai khỏi
ốm, đa áo của cháu ra chùa làm lễ bán khoán và kết quả của việc làm đó làchính bà đ giết chết đi đứa cháu của mình Cháu ốm, bà tự cho mình cáiãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
quyền chữa cho cháu không cần phải hỏi ý kiến con dâu hay con trai vì ở cáigia đình này, bà là ngời có quyền hành cao nhất Bà chữa bệnh cho cháu
bằng phơng pháp "lạ", giao cháu cho một thầy bùa và "phép chữa của bọn
thầy bùa là cho uống tàn hơng và nớc thải và có khi lại dùng roi dâu đánh để
đuổi tà ma ám ảnh ngời ốm (Tr.257) Hơn thế, tội lỗi mà bà đ gây ra choãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
đứa cháu thì bà lại đổ hết cho Loan là giết chết con Vốn là một ngời chuyênquyền, bà luôn cho mình là đúng Với bà, bà không cho phép ai c i lại lời bàãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
vì c i lại lời bà là đi ngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc lại những gì là gia phong, nề nếp của một gia đìnhphong kiến
Quyền lấy vợ lẽ cho Thân cũng tự tay bà sắp đặt bởi Loan không cóquyền hạn gì trong gia đình nhà chồng Bà hạch sách, yêu cầu, cấm đoán vàbắt tất cả mọi ngời phải tuân theo nề nếp gia phong của mình, để rồi cũngchính vì nề nếp gia phong hủ lậu đó đ giết chết con trai của bà Tuy cái chếtãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
của Thân là một tình huống ngẫu nhiên nhng nó lại bắt nguồn từ mâu thuẫngia đình, từ những cái phi lí, bảo thủ mà trớc hết là ở bà Phán Chính bàPhán là sản phẩm x hội phong kiến đ tạo nên.ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
Trong Thoát li, Khái Hng đ xây dựng nên một bà mẹ ghẻ quỷ quyệt,ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
giả nhân giả nghĩa Lúc thì bà bù lu bù loa, lúc thì ngọt ngào nh mía lùi, tấtcả không ngoài mục đích hành hạ con chồng Lại có lúc bà ngọt ngào khuyênchồng đừng nên khắc nghiệt với con nhng thực chất là xúi chồng hành hạ conriêng
Trang 24Ta lại bắt gặp bà án trong Gia đình là một ngời hám danh vị đến mất
cả lơng tâm và bổn phận làm mẹ Bà "hết khen tài làm việc của anh huyện
lại khen đến học vẫn uyên bác của anh cả để vừa lòng hai cô con gái mà bà biết vẫn ghen ghét nhau" Và lòng ghen ghét ấy chẳng những bà không ngăn
cấm mà bà còn lợi dụng nữa Nga khuyên đợc chồng đi học để ra làm quan,
bà cho là kết quả của sự ghen ghét và sự ghen ghét ấy có đợc là nhờ tài khônkhéo của bà đ biết gây ra, đ biết nuôi nó…ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
Có thể liệt kê ra rất nhiều những nhân vật nữ khác nữa đại diện cho lễgiáo phong kiến và mỗi một nhân vật nh thế lại đại diện cho một khía cạnhcủa x hội phong kiến.ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
2.2 Nhân vật nữ với sự hài hoà giữa con ngời cá nhân với vẻ đẹp truyền thống
Nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn phần đông là những côgái trẻ đẹp, ít nhiều có học hành, có hiểu biết và đặc biệt là họ mang t tởnglối sống mới mới của thời đại Do vậy, họ ý thức rất đầy đủ về cái tôi củamình trong cuộc sống
2.2.1 Sự thức tỉnh con ngời cá nhân
Trong cuộc đấu tranh không khoan nhợng giữa tự do hạnh phúc cánhân với những hủ tục phong kiến đ lỗi thời, nhân vật nữ trong tiểu thuyếtãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
Tự lực văn đoàn đ có một sự thức tỉnh về cá nhân mình Sự tự ý thức đóãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
cũng chủ yếu đợc đặt ra trong vấn đề chống lễ giáo phong kiến, đòi quyền tự
do yêu đơng, đề cao hạnh phúc của cá nhân
Nh chúng ta đ biết, vấn đề chống lễ giáo phong kiến, đòi giải phóngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
thân phận của ngời phụ nữ đ đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc đặt ra trong văn học Việt Nam trung đại,
nhng tất cả đều bế tắc và bất lực trớc "giải phóng" Mặc dù bị thất bại nhng ở
họ đều có một tiếng kêu chung là đ vạch trần và tố cáo đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc chế độ Chẳng
hạn, thơ Hồ Xuân Hơng, truyện Phan Trần, Truyện Kiều Chỉ đến tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn, nhân vật nữ mới đấu tranh mạnh mẽ, mới tự giảiphóng đợc cơ bản thân phận "nữ nhi thờng tình" Kết quả của cuộc đấu tranh
đó là họ đ khẳng định đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc vị thế, vai trò và tiếng nói riêng của mình mànhững nhân vật nữ trớc đó không có đợc
Ngời đầu tiên phải kể đến là Loan (Đoạn tuyệt) Nàng là một ngời con
gái trẻ đẹp, thông minh, có học, đặc biệt là sự tự nhận thức về bản thân mìnhrất lớn Ngay từ đầu tác phẩm, Loan đ dám công khai bày tỏ một quanãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
niệm sống hoàn toàn mới mẻ của mình khi bình luận về cái chết của cô Minh
Nguyệt nào đó: "Việc gì mà hết hi vọng Mẹ chồng ác thì đi nơi khác mà ở,
chồng ghét thì lại càng nên đi lắm Khổ là cứ tởng mình là thân con gái thì phải lấy gia đình chồng làm gia đình mình, nếu mất gia đình ấy là đời mình
bỏ đi Sao lại thế đợc Mình muốn sống thì không thể một mình sống đợc hay sao, nếu cái gia đình kia không cho mình đợc sung sớng Sao đàn ông bỏ vợ
Trang 25này lấy vợ khác lại là sự thờng" (Tr.150) ở chỗ khác Loan lại nghĩ: "Học thức của mình không thua kém gì Dũng, sao lại không thể nh Dũng, sống một đời tự lập, cờng tráng Can chi cứ quẩn quanh trong vòng gia đình, yếu
ớt, sống một đời nơng dựa vào ngời khác để quanh năm phải kình địch với sự
cổ hủ mà học thức của mình bắt mình phải ghét bỏ?" (Tr.154) Thêm nữa,
Loan lại khẳng định, tình yêu, hôn nhân của mình có đợc hạnh phúc haykhông phải là do mình quyết định chứ không phải là ở sự xếp đặt của ngời
khác Khi ông bà Hai nói với Loan rằng việc nhân duyên của nàng, ông bà đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
thu xếp Mặc dù rất yêu quí bố mẹ nhng nàng vẫn thẳng thừng đáp là việc
nhân duyên của nàng do nàng quyết định Nàng nói: "Tha mẹ, sao mẹ hứa
với ngời ta, trong bao nhiêu năm mẹ nhận lễ của ngời ta, nếu mẹ nghe con ngay từ trớc? Nay ngời ta đến ăn hỏi, mẹ cũng cứ nhận, lỗi đó không phải do
ở con, vì mẹ không cho con hay Việc của con mà thầy mẹ coi nh là không có con ở nhà này" (Tr.171) Những lời lẽ đó cho ta thấy Loan đ ý thức đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc vềchuyện hạnh phúc cá nhân mình Từ đầu, nàng đ nhận ra là mình khôngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
thể làm dâu nhà bà Phán Lợi
Nếu Nhung (Lạnh lùng) không đủ can đảm công khai chống lễ giáo phong kiến nh Loan để đi bớc nữa, hay Hồng (Thoát li) đ phản kháng mộtãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
cách kín đáo chỉ ở suy nghĩ là "chi bằng không thoát li nữa mà coi nh mình
đã thoát li rồi" thì ở đây, Loan lại không nh vậy Nàng cũng không đấu tranh
mang tính nhẹ nhàng nh Mai (Nửa chừng xuân) mà nàng thể hiện bằng
những hành động mạnh mẽ Dù bị ép lấy Thân, Loan vẫn công khai tháchthức với lề lối cổ hủ phong kiến của gia đình chồng Trong buổi lễ tơ hồng,
Loan thản nhiên "ngồi ngang hàng với Thân", khi bớc vào cửa nhà chồng,
đáng lẽ phải bớc qua cái hoả lò thì Loan lại "vờ nh cố ý lấy chân đạp đổ cái
hoả lò" (Tr.206) Loan luôn thấy mình bình đẳng trớc tất cả mọi ngời Nàng
nói với Thân: "Tôi, tôi chỉ biết cậu là chồng, còn đối với ngời khác, vì nể cậu
mà tôi chịu nhịn Nhng một ngày kia, ngời ta làm cho tôi không thể nhịn đợc nữa, chắc sẽ có nhiều chuyện lôi thôi" (Tr.214) Kể cả khi đứng trớc toà, Loan
cũng đ công khai nói với tất cả chị em phụ nữ: ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 "Tôi nói cốt để chị em gái mới đến đây biết rằng nếu các chị em muốn hởng hạnh phúc với chồng con thì điều trớc nhất, các chị em phải tìm cách sống một đời riêng, tự lập, tránh
sự chung đụng với bố mẹ, họ hàng nhà chồng, nhất là quyền hạn của cha mẹ chồng thì mới mong gia đình đợc hoà thuận" (Tr.312)
Cũng ý thức đợc cái tôi của mình nhng Hồng (Thoát li) lại không thể
hiện mạnh mẽ và quyết liệt nh Loan Hồng là một cô gái trẻ đẹp, có học thức,hiểu biết nhng Hồng đ gặp phải cảnh mẹ ghẻ con chồng Giống nhãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 Loan,Hồng cũng không có đợc cuộc sống hạnh phúc trong gia đình mình Bởi vậy,ngay từ đầu ý thức của Hồng đ đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc thức tỉnh Nàng tìm mọi cách để thoát
Trang 26khỏi cuộc sống ngột ngạt của gia đình, thoát khỏi tay mẹ ghẻ chuyên quyềncay nghiệt Kết cục nàng cũng tìm đợc tự do nhng tự do của nàng lại phải
đánh đổi bằng chính cái chết của nàng để đợc thoát li, đợc tự do Hồng nhậnthức đợc tầm quan trọng cái tôi của mình, cái tôi cá nhân không chịu khuấtphục những gò ép của lễ giáo phong kiến đ lỗi thời Hồng lúc rời gia đìnhãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
"đã sung sớng bồng bột tự ví mình nh con chim sổ lồng tung cánh bay vút lên
trời xanh Cảm động và lãng mạn muốn hô to lên hai tiếng "thoát li" nh kẻ tù tội vừa thoát khỏi nơi ngục thất hét lên hai tiếng tự do" (Tr.374).
Ta còn bắt gặp ở Nhung (Lạnh lùng), một ngời phụ nữ đợc tặng danh
hiệu "Tiết hạnh khả phong" cũng có lúc tự ý thức về mình Nhng sự tự ý thức
của Nhung cũng chỉ là một sự thức tỉnh thoáng qua chứ không có động cơ rõràng Một con ngời đức hạnh nh vậy thì Nhung không bao giờ có những suy
nghĩ hành động mạnh mẽ, quyết liệt nh Loan (Đoạn tuyệt) Dù vậy, ý thức
của Nhung là một ý thức phục tùng lễ giáo nệ cổ Đ có những lúc nàng hẹnãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
hò gặp gỡ tình nhân, có những nghĩ suy bất chính và thậm chí nàng lên tiếng
"con có quyền đi lấy chồng" nhng đó cũng chỉ là sự thức tỉnh bột phát chứ
không mang lại một kết quả tốt đẹp cho Nhung Kết cục, sự thức tỉnh ý thứccá nhân, về hạnh phúc tình yêu vừa đợc nhen nhóm trong Nhung đ nhanhãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
chóng bị dập tắt ý thức của Nhung đ bị lễ giáo phong kiến chặn lại, dùãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
trong t tởng của nàng có khi nhận thấy: "Dẫu sao có quyền hay không cũng
thế thôi, vì nàng biết rằng mình vẫn có quyền bỏ đi lấy chồng, nhng còn có cái khác mạnh hơn ngăn cấm Có quyền đi lấy chồng nhng nếu lấy chồng thì hoá ra một ngời mất hết hạnh phẩm, một ngời đi theo trai" (Tr.122) Nàng bị
cột chặt trong vị trí của một ngời con dâu hiếu thảo, đức hạnh, nết na, đợcmọi ngời hết sức ca tụng (và nhất là bà mẹ chồng) Bởi vậy, suốt cuộc đời củanàng, nàng phải sống trong tiếng thơm h o Nhung biết điều đó là vô lí nhãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ngNhung đ không quyết liệt và cuộc đời của nàng đ bị khuôn theo hoànãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
cảnh
Mai (Nửa chừng xuân) không nh vậy Là một ngời con gái có vẻ đẹp
thể chất, tâm hồn gần gũi với ngời phụ nữ Việt Nam truyền thống ở Mai sự
tự ý thức về mình, về thân phận mình rất rõ ràng Mai kiên quyết bảo vệhạnh phúc tình yêu cũng nh bảo vệ nhân phẩm của mình đến cùng Ngay từ
đầu, nàng đ ý thức đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc là nàng không thể nhận tiền của Lộc vì nàng cho
rằng "ngời ta thơng nên ngời ta cho", thì đó là lòng tự trọng mở đầu của Mai
cho đến tận cuối tác phẩm khi Mai quyết định không trở về với Lộc Nàng
vốn là một cô gái thông minh, nhanh nhẹn và đợc hấp thụ một nền giáodục nho học nên rất nhạy cảm với sự tự ý thức về mình Yêu Lộc và đ có conãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
với Lộc nhng khi đợc bà án hỏi cới về làm vợ lẽ cho Lộc thì Mai đ khôngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
ngần ngại nói thẳng vào mặt bà án là "nhà tôi không có mả lấy lẽ" (Tr.359).
Trang 27Đó không chỉ là hành động phản kháng của Mai trớc thế lực phong kiến màcòn là sự ý thức đầy đủ về quyền bình đẳng trong hôn nhân của ngời phụ nữ.
Nàng đ kiên quyết không làm vợ lẽ Hàn Thanh, dù hắn là một cụ phúãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
trong khi gia đình nàng đang sa sút, kiệt quệ, từ chối cả việc làm lẽ Lộc saubao nhiêu năm âm thầm chờ đợi Với con ngời nh Mai, nàng thà ở vậy nuôicon để sống đúng nghĩa với cuộc sống "CON NGƯờI" còn hơn là cuộc sống của
kẻ nô lệ, sống cuộc sống của nàng hầu Điều đó thể hiện ở t tởng tự do đến
cùng của Mai: "Làm cô thợng không bằng làm chị xã, chị bếp, chị bồi mà đợc
một vợ một chồng, yêu mến nhau, khi vui có nhau, khi buồn có nhau, khi hoạn nạn có nhau" (Tr.216) Mai có học lại nhanh nhạy trong việc nhìn nhận
vấn đề nên nàng hiểu tất cả những điều lễ, trí, tín và Mai cũng không baogiờ để ngời khác hạ nhục mình
Trong tâm trạng rối bời khi Mai bị bà án buộc Mai phải rời khỏi Lộc,
Mai vẫn trả lời bà án một cách không bối rối: "Bà lớn cứ yên lòng Trong
năm điều nhân, lễ, nghĩa, trí, tín bà lớn viện ra lúc nãy có hai điều tôi tôn trọng nhất là nhân và tín" (Tr.126) Và nàng đ từ bỏ Lộc ra đi để không cònãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
ai khinh mạn Cũng vì ý thức đợc mình mà Mai cự tuyệt tất cả Mai cự tuyệtMinh (thầy thuốc) và Bạch Hải (hoạ sĩ) để một lòng yêu Lộc chứng tỏ nàng
đủ tỉnh táo để quyết định cuộc đời mình Nàng cự tuyệt những ân huệ mà lẽ
ra nàng có thể sống một cuộc đời sung suớng Cái cần của Mai là danh dự, lànhân phẩm và lơng tri Nàng đ chọn cho mình một cuộc sống đạm bạc bênãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
ngời em trai và bên ngời con trai của mình
Tính chất xung đột cũng là bứớc khởi phát đầu tiên của sự thức tỉnh ý
thức ở Đoạn tuyệt, đoạn văn quyết liệt nhất, xung đột lên đến đỉnh điểm
khi Loan cảm thấy "phẩm giá mình không bằng phẩm giá con vật" Loan bắt
đầu nhận ra "bấy lâu nay nàng đã hèn nhát sống theo tục lệ" (Tr.288) và
Loan đ kiên quyết đấu tranh để bảo vệ quyền làm ngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ời của mình:
- Không ai có quyền chửi tôi, không ai có quyền đánh tôi
- Tao có quyền, mày thử chửi lại xem nào
Bà nhảy chồm lên, hai con mắt tròn xoe rồi sấn tới nắm lấy Loan táttúi bụi…Loan vuốt tóc ngẩng lên nhìn vào mặt mẹ chồng
- Bà là ngời, tôi cũng là ngời, không ai hơn ai, kém ai (tr 290)
Không chỉ Loan bị ngợc đ i mới ý thức đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc điều đó Thảo, một ngời bạngái của Loan khi biết Loan ra toà vì tội giết chồng cũng đ khẳng khái bênhãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
vực bạn bằng những lời đầy lí lẽ: "Dẫu sao, chị ấy cũng có quyền chống cự lại
những khi thấy nguy hiểm đến tính mệnh" (Tr.298) Mắc tội giết chồng, Loan
vẫn khẳng khái đấu tranh và Loan đ đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ợc trắng án, sống một cuộc đời tự do.
Cả tác giả, cả trạng s, cả nhà báo, cả nhà văn, cả lẽ phải đứng về phía Loan.Trong cuộc đời thực, cái mới không bao giờ thắng đợc cái cũ một cách dễ dàng
Trang 28nh vậy Nhiều cô gái bị thuần thục vào khuôn phép, đợc tiếng là dâu thảo, vợhiền nhng đ nhịn nhục đau khổ suốt tuổi thanh xuân để rồi chết một cáchãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
đau đớn, tội nghiệp nh cô Cả Đạm, và không ít những cô gái không đủ sứcchịu đựng đ tìm cách thoát li bằng con đãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ờng tự vẫn nh Lệ Hồng, MinhNguyệt…
Cùng thời với Loan nhng nhân vật nữ trong tác phẩm của Thạch Lamcòn cam chịu sống vật vờ nh một cái bóng âm thầm, gắn cuộc đời mình vàocuộc đời của ngời khác, thậm chí đành nhắm mắt nhìn hạnh phúc thực sự
tuột khỏi tầm tay của mình nh Liên (Một đời ngời), cũng chỉ biết cúi đầu
cam chịu chứ không phản kháng lại khi cha mẹ nàng gả nàng cho Tích, lấy
cớ là hai gia đình vẫn quen biết nhau "nàng tởng rằng nàng sinh ra là để sai
khiến mà thôi" Liên đ không đủ dũng cảm để vứt bỏ cái đ hành hạ nàngãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
để đón nhận niềm hạnh phúc xứng đáng Thạch Lam đ khoác lên nhân vậtãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
của mình một bầu khí quyển thân phận và ông cũng chỉ dừng lại ở tấm lòngthơm thảo mà thôi Có thể nói, nhân vật tiểu thuyết Tự lực văn đoàn mangtính cách mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn và tìm đợc con đờng để giải phóng chomình
Trơng Chính đ từng đánh giá về ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 Đoạn tuyệt : "Đoạn tuyệt một cách rõ
ràng thời kì thay đổi trong cuộc sống tiến hoá của xã hội An Nam Nó công bố
sự bất hợp thời của một nền luân lí khắc khổ, eo hẹp, đã giết chết bao nhiêu
hi vọng, đè bẹp bao nhiêu lực lợng đáng kể, giám hãm bao nhiêu chí khí bồng bột đang ao ớc sống một cuộc đời đầy đủ, một đời mãnh liệt, cờng tráng vì chế
độ giai đình hiện thời chỉ là một chỉ là một chế độ nô lệ dới một lớp sơn lừa dối Bắt ngời con cả đời chỉ quanh quẩn với những bổn phận không đâu, mà
có phải bổn phận không đã? Chế độ giai đình chỉ sản xuất những tên lính yếu ớt, ơn hèn" [22.136].
Tóm lại, những gì chúng ta đ phân tích ở trên, ãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932 "sự thức tỉnh con ngời cá nhân" là một cái nhìn mới mẻ của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, đ mởãng mạn trên văn đàn công khai những năm 1932
đầu cho vấn đề giải phóng ngời phụ nữ Việt Nam ra khỏi ách nô lệ của chế độphong kiến, đem tự do, bình đẳng cho họ Đó là một cách thể hiện mới vàtiến bộ của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
2.2.2 Nhân vật nữ mang vẻ đẹp truyền thống
Những nhân vật nữ mang tính cách của "con ngời thức tỉnh" của các
nhà văn Tự lực văn đoàn còn mang vẻ đẹp của ngời con gái Việt Nam truyềnthống
Hồn bớm mơ tiên là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Khái Hng và Tự lựcvăn đoàn ở thời kì đầu Bởi vậy, nhân vật nữ cũng đợc xây dựng mang cốtcách đẹp đẽ của ngời phụ nữ Việt Nam truyền thống