1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề tình yêu và gia đình trong tiểu thuyết tự lực văn đoàn

102 1K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề tình yêu và gia đình trong tiểu thuyết tự lực văn đoàn
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 362 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở bài: “Vấn đề tình yêuNhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn” của Trơng Chính đăng trên Tạp chí văn học số 5/1990, đã dựa vào tôn chỉ của Tự lực văn đoàn, p

Trang 1

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Phơng pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp mới của luận văn 9

7 Cấu trúc luận văn 9

Chơng 1 tình yêu và gia đình - một mối quan tâm của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 1.1 Nhìn chung về vấn đề tình yêu và gia đình trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 11

1.1.1 Vấn đề tình yêu và gia đình trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách 11

1.1.2 Vấn đề tình yêu và gia đình trong văn học kháng chiến 1945-1954 16

1.1.3 Vấn đề tình yêu và gia đình trong văn hoc cách mạng Việt Nam 1955 - 1975

17 1.1.4 Vấn đề tình yêu và gia đình trong văn học Việt Nam sau 1975… ….19 … ….19 19

1.2 Vấn đề tình yêu và gia đình trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn… ….19… ….19… ….19 22

1.2.1 Tình yêu nam nữ - vấn đề đợc quan tâm đặc biệt trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 22 1.2.2 Những trăn trở trên vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn.26

Trang 2

Chơng 2 Quan niệm về vấn đề tình yêu và gia đình trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn

2.1 Quan niệm về tình yêu nam nữ 30

2.1.1 Quan niệm tình yêu trong sự đối lập với hôn nhân 30

2.1.2 Tình yêu tự do, tự nguyện 34

2.1.3 Quan niệm về tình yêu lý tởng, tình yêu trong thế giới tinh thần 40

2.1.4 Quan niệm về tình yêu mang t tởng thực dụng, hởng lạc 44

2.2 Quan niệm về hôn nhân và hạnh phúc gia đình 50

2.2.1 Hạnh phúc gia đình gắn với tự do cá nhân, chống lại lễ giáo phong kiến 50

2.2.2 Hạnh phúc gia đình là sự hoà hợp cả thể xác và tâm hồn 59

2.2.3 Hạnh phúc gia đình gắn liền với sự chung thuỷ, lòng hy sinh 63

2.2.4 Hạnh phúc gia đình gắn với chủ trơng giải phóng phụ nữ goá bụa ra khỏi sự ngăn cấm của đạo đức phong kiến giả dối 67

2.3 Quan niệm về một mô hình gia đình trong cái nhìn của các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 70

2.3.1 Cuộc sống hạnh phúc gia đình với cá tính đợc tôn trọng 70

2.3.2 Cuộc sống hạnh phúc gia đình trong tình thơng yêu vợ chồng 73

Chơng 3 Nghệ thuật thể hiện vấn đề tình yêu và gia đình trong tiểu thuyết tự lực văn đoàn 3.1 Hình thức tiểu thuyết luận đề 76

3.1.1 Khái niệm luận đề 76

3.1.2 Luận đề trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 76

3.2 Nghệ thuật tổ chức thức xung đột 80

3.2.1 Xung đột giữa các thế hệ trong gia đình 80

3.2.2 Xung đột gia đình bắt nguồn từ hôn nhân gợng ép, không có tình yêu 86

3.2.3 Xung đột giữa những cặp vợ chồng khập khiễng, khác nhau về quan điểm sống 91

3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 95

3.3.1 Kiểu nhân vật tợng trng cho cái mới 95

3.3.2 Kiểu nhân vật tợng trng cho lễ giáo phong kiến 98

3.3.3 Kiểu nhân vật cá nhân cực đoan 101 3.4 Ngôn ngữ nhân vật… ….19… ….19… ….19… ….19… ….19… ….19… ….19… ….19… ….19… ….19… ….19… ….19… ….19… ….19… ….19… ….19 … ….19103

Trang 3

3.4.1 §éc tho¹i néi t©m 103

3.4.2 §èi tho¹i linh ho¹t 109

KÕt luËn 115

Tµi liÖu tham kh¶o 117

Trang 4

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Vào những năm 1930 đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam có sự trỗidậy mạnh mẽ với sự phát triển của thể loại văn xuôi trong xu thế chuyển

nhanh từ thời kỳ cận đại sang hiện đại Trong bớc phát triển đó, Tự lực văn

đoàn có một vị trí đáng kể, là lá cờ tiên phong trong việc đổi mới t duy nghệ thuật về tiểu thuyết Có thể nói, Tự lực văn đoàn là cột mốc đánh dấu sự hình

thành và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Tự lực văn đoàn là một văn đoàn do Nhất Linh cùng một số nhà văn

khác thành lập vào năm 1933 Đây là một tổ chức văn học hoạt động có tônchỉ, mục đích, có cơ quan ngôn luận riêng Trong khoảng 10 năm tồn tại

(1933 - 1943), Tự lực văn đoàn với những sáng tác văn học, hoạt động báo

chí, trao giải thởng đã tạo nhiều ảnh hởng sâu rộng đến văn học Việt Namthời kỳ đó

1.2 Nhắc đến tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là nói đến tiểu thuyết của

Nhất Linh, Khái Hng, Hoàng Đạo Đó là ba cây bút trụ cột có ảnh hởng lớntới văn đoàn này Họ sáng tác theo quan điểm nhất quán trong cách nhìn nhận

về con ngời và phản ánh các vấn đề xã hội đơng thời Qua sáng tác của họ,chúng ta hiểu thêm về giá trị nội dung cũng nh nghệ thuật tiểu thuyết, hơn hết

là những đóng góp của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn trên một đề tài, vấn đề cụ

thể

1.3 Vấn đề gia đình là một vấn đề rất đợc quan tâm trong văn xuôi nói

chung, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói riêng Riêng đối với tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, mảng sáng tác về đề tài tình yêu và gia đình là một trong những

mảng sáng tác nổi trội Vấn đề tình yêu và gia đình đợc đề cập đến nh một vấn

đề cấp thiết, đợc thể hiện dới những cái nhìn đa chiều, đa diện sâu sắc và đợcgiải quyết triệt để hơn Vì vậy, tìm hiểu về vấn đề gia đình trong tiểu thuyết

Tự lực văn đoàn là góp phần nào tìm hiểu thêm một khía cạnh của tiểu thuyết

Việt Nam hiện đại trong tiến trình vận động, phát triển của nó

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Vấn đề tình yêu“Vấn đề tình yêu

và gia đình trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn”.

Nghiên cứu đề tài này, luận văn sẽ góp phần giúp chúng ta hiểu và đánh giá đúng vai trò, vị trí của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn trong dòng văn học

Trang 5

lãng mạn 1932 - 1945 và những đóng góp to lớn của các nhà văn Tự lực văn

đoàn trong quá trình hiện đại hoá tiểu thuyết Việt Nam.

2 Lịch sử vấn đề

Chỉ tồn tại trong 10 năm (1933 - 1943) nhng từ khi ra đời cho đến nay,

tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã trở thành tâm điểm chú ý của giới nghiên cứu

và phê bình văn học nớc nhà Trong tổ chức của Tự lực văn đoàn, có một số

thành viên của nhóm có cuộc đời chính trị rất phức tạp ở giai đoạn sau Vì thế,việc đánh giá trào lu văn học này có nhiều điểm đến giờ vẫn cha thống nhất

Quá trình nghiên cứu về Tự lực văn đoàn đợc chia làm 3 giai đoạn:

Trớc năm 1945, trong các công trình nghiên cứu của Trơng Chính (Dới mắt tôi, 1939), Vũ Ngọc Phan (Nhà văn Việt Nam hiện đại, 1942), Dơng quảng Hàm (Việt nam văn học sử yếu, 1942) Và một số bài phê bình của Tr-

ơng Tửu (Loa số 76 - 77 tháng 5/1935), Lê Thanh (Ngày nay số 126 tháng 9/1938), Trần Thanh Mai (Phong Hoá tháng 2/1934 và Sông Hơng 5/1941) Giai đoạn này tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn đợc đánh giá chung chung Các công trình trên bớc đầu mới chỉ nêu lên một số đóng góp của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn về t tởng và nghệ thuật Chẳng hạn, t tởng đấu tranh giải phóng

cá nhân, nghệ thuật tả cảnh và miêu tả tâm lý nhân vật

Từ 1945 đến 1975, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đợc nghiên cứu sâu hơn.

Nhng do tình hình khách quan, việc đánh giá trào lu văn học này đợc chiathành hai khu vực:

ở miền Nam, với các công trình tiêu biểu của Nguyễn Văn Xung (Bình

giảng về Tự lực văn đoàn, 1958), Phan Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ớc tân biên, tập III, 1960), Doãn Quốc Sỹ (Về Tự lực văn đoàn 1960), Lê Mục (Khảo luận về Đoạn tuyệt 1960), Thanh Lãng (Phê bình văn học thập kỷ 32, tập III, 1972), Vũ Hân (Văn học Việt Nam thế kỷ XX:1900 - 1945), Thế Phong (Nhà văn tiền chiến 1930 - 1945, 1974)

ở các công trình này, việc đánh giá nghiêng về xu hớng khen nhiều hơn

chê Phần lớn các tác giả đều đề cao Tự lực văn đoàn ở tiểu thuyết luận đề và

tả cảnh, miêu tả tâm lý nhân vật

ở miền Bắc có các công trình văn học sử tiêu biểu của nhóm Lê Quý

Đôn (Lợc thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập III, 1958), Bạch Năng Thi - Phan

Cự đệ (Văn học Việt Nam 1930 - 1945) và các bài phê bình của Nguyễn Đức

Đàn, Nam Mộc… ….19

Trang 6

Sau 1975 (nhất là sau Đại hội VI), trong không khí đánh giá lại các trào

lu văn học, nhiều tác phẩm của Tự lực văn đoàn đợc in lại Nhiều bài nghiên

cứu, chuyên luận mới ra đời Năm 1988, trờng Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tổchức Hội nghị chuyên đề đánh giá lại các hiện tợng văn học quá khứ mà văn

xuôi Tự lực văn đoàn là một hiện tợng tiêu biểu Các nhà nghiên cứu lý luận

và phê bình văn học nh: Hà Minh Đức, Phong Lê, Phan Cự Đệ, Trơng Chính,Trần Đình Hợu, Nguyễn Hoành Khung, Lê Thị Đức Hạnh, Lê Thị Dục Tú… ….19

đã có một cách nhìn về văn xuôi Tự lực văn đoàn trên tinh thần tích cực hơn.

Đặc biệt, họ đã chỉ ra và đề cao những đóng góp to lớn của các nhà văn trong

tổ chức Tự lực văn đoàn về nội dung, hình thức cũng nh về phong cách nghệ

thuật sáng tác

Giáo s Hà Minh Đức cho rằng: “Vấn đề tình yêuTự lực văn đoàn với nhiều tiền đề văn

học xã hội mới đã tạo nên những giá trị mới trong văn học” [28, 16]

Trong bài viết của mình, Giáo s Phan Cự Đệ khẳng định: “Vấn đề tình yêuTiểu thuyết

Tự lực văn đoàn có công lớn trong việc đổi mới nền văn học vào những năm

30 của thế kỷ, đổi mới từ quan niệm xã hội cho đến việc đẩy nhanh các thểloại văn học trên con đờng hiện đại hoá làm cho ngôn ngữ trở nên trong sáng

và giàu có hơn” [25, 27]

Giáo s Trơng Chính cũng cho rằng: “Vấn đề tình yêuTự lực văn đoàn có một vai trò rất lớn trong sự phát triển văn học nớc ta những năm 30” (Tự lực văn đoàn - Báo giáo viên Nhân dân số đặc biệt 27, 28, 29, 30, 31/1/1989).

Trần Đình Hợu nhấn mạnh: “Vấn đề tình yêuNhững năm 30 là quá trình khẳng định

văn học mới và Tự lực văn đoàn đánh dấu giai đoạn toàn thắng với sự đóng

góp lớn chủ động và tích cực” [40, 60]

Nguyễn Hoành Khung nhận định tổng quát: “Vấn đề tình yêuVăn học lãng mạn với sựchối bỏ mạnh mẽ kiểu t duy nghệ thuật cũ khuôn sáo, hớng văn học đi vào conngời cụ thể đã mở đờng cho sự giải phóng cá tính sáng tạo và góp phần quyết

định đem lại sinh khí cho văn học” [46, 8]

Trong chuyên luận: “Vấn đề tình yêuTự lực văn đoàn - Con ngời và văn chơng” Phan

Cự Đệ viết: “Vấn đề tình yêuTrong phạm trù ý thức hệ t sản, Tự lực văn đoàn phần nào đã nói

lên những khát vọng dân tộc, dân chủ của đông đảo quần chúng, chủ yếu là

tầng lớp tiểu t sản trí thức và văn chơng thành thị Tự lực văn đoàn không đặt

vấn đề giải phóng xã hội, nhng đã đấu tranh giải phóng cá nhân, giải phóngbản ngã Đặc biệt, đã đấu tranh cho tự do hôn nhân, cho quyền sống của ngời

Trang 7

phụ nữ, chống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, của đại gia

đình phong kiến”

ở bài: “Vấn đề tình yêuNhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn

đoàn” của Trơng Chính đăng trên Tạp chí văn học số 5/1990, đã dựa vào tôn chỉ của Tự lực văn đoàn, phân tích một số tác phẩm tiêu biểu và đi đến khẳng

định: “Vấn đề tình yêuCác nhà văn Tự lực văn đoàn đã công kích nhiều mặt của chế độ phong

kiến, đặc biệt là luân lý phong kiến với phụ nữ Họ chủ trơng tự do hôn nhân,

tự do yêu đơng, xây dựng hạnh phúc gia đình trên tình yêu lứa đôi ”

Trong “Vấn đề tình yêuLời bạt cho bộ sách văn xuôi lãng mạn Việt Nam”, Huy Cận

cũng đã đề cập đến vấn đề tình yêu và gia đình: “Vấn đề tình yêuTác giả đa ngời đọc vàokhông khí phong bế ngột ngạt của đại gia đình phong kiến với những tranhgiành quyền lợi vị kỷ nhỏ nhen, những âm mu tính toán thâm độc hèn hạ,những sinh hoạt hủ bại dới vẻ bề ngoài quyền quý hào nhoáng Kèm theo đó

là mối xung đột mỗi nếp sống trì trệ ngng đọng theo lễ giáo phong kiến vànhững t tởng mới mẻ thanh thoát đợc đại diện bởi những thanh niên nam nữthấm nhuần ít nhiều văn hoá Âu Tây [31, 432]

Hay: “Vấn đề tình yêuTác giả Tự lực văn đoàn phê phán chế độ đại gia đình phong kiến

song không phủ định nề nếp của gia đình truyền thống” [31, 432]

Bên cạnh các chuyên luận phê bình, các bài viết đó còn có những ý kiếncủa các nhà văn nói về hiện tợng này:

Trong bài “Vấn đề tình yêuTự lực văn đoàn mở đầu một chặng mới trong văn xuôi”, nhà văn Tô Hoài đã khẳng định: “Vấn đề tình yêuTự lực văn đoàn có công trong việc mở ra

một chặng đờng mới trong văn xuôi cũng nh sự phát triển của ngôn ngữ… ….19 Tự lực văn đoàn đã có ảnh hởng rất quan trọng đến sự mở đầu cho một giai đoạn

và một giai đoạn mới đợc mở ra thì lại có nhiều hớng phát triển Tự lực văn

đoàn có tác dụng có công gợi mở, công khai phá còn về sau thì văn xuôi nhiều

màu vẻ” [31, 414)

Trong bài viết “Vấn đề tình yêuTự lực văn đoàn đã có công đóng góp lớn vào văn học Việt Nam” đăng trên “Vấn đề tình yêuĐặc san báo giáo viên nhân dân tháng 7 năm 1989”, Huy Cận đã đánh giá về sự đổi mới: “Vấn đề tình yêuĐóng góp quan trọng của Tự lực văn

đoàn là ở tiếng nói và câu văn dân tộc Tự lực văn đoàn có nhiều cách tân

trong câu văn Đã loại bỏ đợc câu văn biền ngẫu ngự trị trong văn chơng một

thời và trở thành khuôn sáo Văn Tự lực văn đoàn trong sáng, mềm mại, không

cộc lốc nh câu văn Hoàn Tích Chu Nó vừa mới mẻ theo lối cấu trúc của câu

Trang 8

văn hiện đại nhng lại rất Việt Nam Qua Tự lực văn đoàn thấy yêu tiếng Việt hơn, ảnh hởng của văn chơng Tự lực văn đoàn khá rộng” [31, 420 - 421].

Nguyễn Văn Bổng trong bài viết “Vấn đề tình yêuTự lực văn đoàn góp phần làm trong sáng tiếng Việt” cũng đã đánh giá khách quan: “Vấn đề tình yêuTự lực văn đoàn đã làm cho ta

yêu, trọng tiếng Việt Họ góp phần làm trong sáng tiếng Việt Họ chống lối vănsáo cũ, tầm chơng trích cũ, văn biền ngẫu, đối đáp du dơng, là những bệnh phổbiến trong văn chơng ta hồi bấy giờ Họ chế giễu cay độc các lối văn này, chếgiễu các ông “Vấn đề tình yêuTrạng Tàu”, “Vấn đề tình yêuTrạng Tây”, chế giễu các thói khoe khoang chủnghĩa nớc ngoài, làm nặng nề, tối nghĩa tiếng nói của ta Họ chủ trơng một lốivăn bình dị, rõ ràng, mạch lạc theo văn phong tiếng Pháp” [31, 422]

Nhà văn Nguyên Ngọc với ý kiến: “Vấn đề tình yêuTôi nghĩ đóng góp quan trọng của

Tự lực văn đoàn là đã định hình cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại… ….19 và từ đócho đến nay, tiểu thuyết đã phát triển qua trên nửa thế kỷ với nhiều đổi thay

nhng về cơ bản cha thoát ra khỏi mô hình tiểu thuyết do Tự lực văn đoàn tạo

ra” [31, 463] và “Vấn đề tình yêuLà sự khám phá, khẳng định ra cá nhân trong xã hội, quyềnsống của cá nhân trong đạo đức cũ không đợc thừa nhận Cần phải đấu tranhgiải phóng cho cá nhân” [31, 463]

Chúng tôi lấy ý kiến của nhà văn Nguyên Ngọc viết trong bài “Vấn đề tình yêuTự lực văn đoàn định hình cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” (do Giáo s Hà Minh

Đức biên soạn) để tóm lợc lại một cách khách quan về những ý kiến đánh giá

về hiện tợng tiểu thuyết Tự lực văn đoàn: “Vấn đề tình yêuNgày nay nhìn nhận và đánh giá lại những tác phẩm của Tự lực văn đoàn cần có sự công tâm khách quan trân

trọng những gì họ đã đóng góp đợc cho văn học Chúng ta thờng có xu hớng

áp đặt cách nhìn hôm nay và những tác phẩm cũ Phải trân trọng quan điểmlịch sử, nhất là lịch sử của một thời kỳ quá phức tạp Chúng ta thờng nhạy cảmvới những việc chỉ ra những hạn chế với những tác giả trong xã hội cũ Khôngtìm ra đợc hạn chế thì cảm thấy nh không yên tâm, hạn chế của Nguyễn Du,hạn chế của Banzac… ….19 Tôi nghĩ quan trọng hơn là tìm ra những đóng góp củamỗi tác giả đối với văn học, những giá trị độc đáo của mỗi ngời” [31, 465]

Thực hiện yêu cầu hiện đại hoá, với vai trò và vị trí tiên phong của nó

trong văn chơng dân tộc, nếu ở trong thơ, phong trào Thơ mới đã thể hiện trọn

vẹn một cuộc cách mạng và mở ra “Vấn đề tình yêumột thời đại trong thơ ca” (Hoài Thanh

-Thi nhân Việt Nam) thì trong văn xuôi, sau khởi động của Tố Tâm (1925) của

Hoàng Ngọc Phách, sẽ có sự tiếp tục liền mạch ở Khái Hng và Nhất Linh,

Trang 9

trong màn dạo đầu với Hồn bớm mơ tiên (1934), Nửa chừng xuân (1934), Gánh hàng hoa (1934), Đoạn tuyệt (1935), Gia đình (1936), Lạnh lùng (1936), Thoát ly (1937), Tiêu sơn tráng sĩ (1937), Thừa tự (1938) Đôi bạn (1939) Trong hơn bảy năm tồn tại cho đến những tác phẩm cuối với Đẹp (1941), Bớm trắng (1941), Thanh Đức (1943) Các nhà văn trong Tự lực văn

đoàn đều là những nhà văn có tài năng, tâm huyết với sự nghiệp văn chơng

n-ớc nhà Các tác phẩm họ để lại in đậm dấu ấn trong nhiều thế hệ bạn đọc cho

đến ngày nay với những Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Gánh hàng hoa, Thoát ly, Lạnh lùng, Đời ma gió, Gia đình, Thừa tự Tất cả đều khẳng định

con ngời cá nhân tự do trong yêu đơng, chủ động trong hôn nhân và cuộc sốnggia đình, đề cao hạnh phúc cá nhân, phủ nhận các giá trị nội dung và hình thứcbảo thủ, cũ kỹ lỗi thời trong đại gia đình phong kiến, hớng con ngời đến với sựkhát khao giải phóng, đến một chân trời mới có cuộc sống tốt đẹp hơn Nhữngtác phẩm đó đều có giá trị nghệ thuật, có sự cách tân về phơng diện của cấutrúc tự sự, kiểu loại nhân vật, t duy nghệ thuật, về ngôn ngữ, giọng điệu Dứt

bỏ mọi dấu ấn truyền thống, cùng với tiểu thuyết là truyện ngắn, bút ký và tiểuluận phê bình góp phần làm nên diện mạo hiện đại của văn xuôi thời kỳ 1930

- 1945

Mời năm tồn tại, dù có nhiều ý kiến đánh giá khen chê khác nhau về t

trào văn học này thì Tự lực văn đoàn trớc sau vẫn có vị trí là mốc khởi đầu, là

một trong những nền móng cơ sở quan trọng trong việc đổi mới để xây dựnglên lâu đài văn học Việt Nam hiện đại

Qua đây ta thấy, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã đợc các nhà văn, các

nhà nghiên cứu lý luận và phê bình rất quan tâm nghiên cứu nhng còn ở góc

độ nhận định, đánh giá ở khía cạnh này hay khía cạnh khác Luận văn chúng

tôi tiếp tục đi vào tìm hiểu, khảo sát đề tài “Vấn đề tình yêuVấn đề tình yêu và gia đình trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn” một cách cụ thể có hệ thống, chuyên biệt để có

cái nhìn đầy đủ hơn về những đóng góp trong sáng tác của các nhà văn Tự lực văn đoàn.

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của luận văn là vấn đề tình yêu và gia đình trong

tiểu thuyết Tự lực văn đoàn.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 10

Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm các tác phẩm tiêu biểu của

các tác giả trong nhóm Tự lực văn đoàn viết về vấn đề tình yêu và gia đình.

Tuy nhiên, do khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, do khả năng và nguồn t

liệu hạn hẹp nên chúng tôi chủ yếu khảo sát một số tác phẩm nổi bật: Đoạn tuyệt, Lạnh lùng (Nhất Linh), Hồn bớm mơ tiên, Thoát ly, Thừa tự, Gia

đình, Nửa chừng xuân, Trống mái (Khái Hng), Đời ma gió, Gánh hàng hoa

(Khái Hng và Nhất Linh viết chung)

Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát một số sáng tác của Hoàng NgọcPhách, Hồ Biểu Chánh, và một số tác giả khác ở các thời kỳ văn học 1945 -

1975 và sau 1975 viết về đề tài tình yêu và gia đình để có sự đối sánh nhằm

làm sáng rõ hơn vai trò của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn với vai trò là cột mốc

mở đầu cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ chính của luận văn là khảo sát một số tiểu thuyết viết về đề

tài tình yêu và gia đình của các nhà văn Tự lực văn đoàn, cụ thể:

- Xác định và làm rõ “Vấn đề tình yêuVấn đề tình yêu và gia đình” trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn.

- Khái quát, phân tích những đặc điểm viết về “Vấn đề tình yêuVấn đề tình yêu và gia

đình” trong các tác phẩm tiêu biểu của Nhất Linh, Khái Hng.

- Chỉ ra những đặc trng về nghệ thuật thể hiện “Vấn đề tình yêuVấn đề tình yêu và gia

đình” trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn.

5 Phơng pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã sử dụng nhiều

ph-ơng pháp nghiên cứu khác nhau nh: thống kê - phân loại, phân tích - tổng hợp,

so sánh - đối chiếu Từ kết quả khảo sát, chúng tôi khái quát thành các luận

điểm, tiến hành phân tích, chứng minh và đa ra nhận xét

6 Đóng góp mới của luận văn

Từ trớc đến nay, các công trình nghiên cứu về vấn đề tình yêu và gia

đình trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn mới chỉ dừng lại ở cấp độ là các bài

báo, những bài phê bình còn mang tính chất nhìn nhận và đánh giá tổng quát

chung chung Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về “Vấn đề tình yêuVấn đề tình yêu và gia

đình trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn” một cách tơng đối toàn diện, có hệ

Trang 11

thống nhằm làm sáng tỏ những đóng góp nổi trội của các nhà văn Tự lực văn

đoàn trong mạch viết về vấn đề tình yêu và gia đình.

7 Cấu trúc luận văn

Tơng ứng với nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần Mục lục, Mở

đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đợc triển khai trong 3

Trang 12

Chơng 1 Tình yêu và gia đình - một mối quan tâm của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và trong

tiểu thuyết Tự lực văn đoàn

1.1 Nhìn chung về vấn đề tình yêu và gia đình trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

1.1.1 Vấn đề tình yêu và gia đình trong tiểu thuyết của Hồ Biểu

Chánh, tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách

Là những cây bút tiểu thuyết đầu tiên của nền văn học Việt Nam hiện

đại, Hồ Biểu Chánh và Hoàng Ngọc Phách đã có công đầu trong việc mở đờngcho tiểu thuyết Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới, thoát khỏi lối mòn

sáo cũ của thi pháp văn chơng truyền thống Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã

kế bớc với những cách tân mới cả về hình thức và nghệ thuật thể hiện Về sau,tiểu thuyết Việt Nam tiếp tục nở rộ với những đỉnh cao Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, Nam Cao

Tuy nhiên, ở giai đoạn mở đầu cho thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện

đại, với những bớc đi chập chững đầu tiên, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh vàHoàng Ngọc Phách cũng không tránh khỏi những hạn chế Những căn bệnh dễthấy trong các sáng tác ở thời kỳ trớc đó nh nội dung đạo lý ràng buộc trongkhuôn khổ của đạo Khổng, cá nhân thiếu quyền tự quyết của cá nhân tự do mà

lệ thuộc vào truyền thống, vào gia đình và những lề thói xã hội quen thuộc.Nội dung và kết cấu câu chuyện còn mang tính công thức, sơ lợc

Chẳng hạn, tiểu thuyết Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh thể

hiện rất rõ điều đó Câu chuyện nói về Trần Văn Sửu, một anh dân quê thậtthà, nhng không may lấy phải ngời vợ lăng loàn Hai vợ chồng đợc ba đứacon: Thằng Tý, con Quyên và thằng Sung Sửu lĩnh canh ruộng cho Hơng hàoHội, ngời đã dan díu với vợ Sửu, làm cho dân làng dị nghị Câu chuyện đến taiSửu và anh cho rằng thằng Sung không phải là con mình Một đêm, Sửu nằmcanh lúa ngoài đồng thấy đau bụng liền chạy về nhà để lấy ít nớc nóng uốngthì không ngờ bắt gặp đôi gian phu dâm phụ đang tình tự Hơng hào Hội chạythoát, Sửu đánh mắng và xô đẩy vợ, chẳng may vợ ngã vỡ sọ não chết Sửutrốn lên Mờng, ngời ta tởng Sửu đã chết đuối Còn Hơng hào Hội lo sợ chạychọt nên thoát khỏi tù tội Trong thời gian Sửu trốn chạy ấy, hai đứa con củaSửu là thằng Tý và con Quyên mới đầu ở với ông ngoại nhng cảnh nhà khó

Trang 13

khăn, sau đến làm mớn cho một nhà cự phú là bà Hơng quản Tồn, goá chồng

và có một trai, một gái Ngời con gái đã có chồng, ngời con trai là Ba Giaiham chơi bời và bỏ nhà đi từ lâu Bà rất yêu quý Tý và Quyên và chúng lànhững thiếu niên chăm làm và có nết Khi hai đứa lớn lên, bà cấp vốn cho Týlàm ăn và về sống với ông ngoại Còn Quyên bà giữ lại cho học chữ, học nữcông và coi nh con đẻ Đến lúc con trai bà là Ba Giai về hối lỗi ăn năn, bà thathứ Giai ở gần Quyên, sinh lòng yêu mến và bà đã ng thuận cho hai đứa lấynhau Bà lại dự định hỏi một ngời con gái giàu có cho Tý Giữa lúc đó thì Sửuvì nhớ con quá, bỏ Mờng trở về nhà thăm con trong một đêm tối Bố vợ Sửuthấy con rể về, ông không oán trách mà ông đã xua đổi Sửu đi, sợ dân làng bắtchàng thì lỡ chuyện hôn nhân của hai con Nhng Tý cố giữ cha ở lại và saunhờ sự vận động của cậu Giai mà toà án thôi không truy tố Sửu nữa Nhờ thếnên có sự xum họp cha con trong một cảnh nhà sung sớng

Tiểu thuyết đã đề cập đến vấn đề gia đình nhng là khuôn mẫu gia đìnhtrong đạo lý với các chuẩn mực truyền thống Tác giả lấy kết cấu chính - tàlàm đờng dây phát triển “Vấn đề tình yêuThông qua câu chuyện của Trần Văn Sửu, Hồ BiểuChánh đã thể hiện câu chuyện dới ánh sáng của t tởng luân lý Nho giáo truyềnthống, khuyên con ngời ta nên ăn ở cho phải đạo, có nghĩa tình, cha hiền conthảo, ở hiền gặp lành Quan điểm đó của ông giúp phần bồi bổ đạo đức chocon ngời, gìn giữ những vẻ đẹp mang tính truyền thống, chống sự xâm nhậpcủa lối sống thực dụng đang tràn vào cùng với sự xâm nhập của thực dânPháp” [2, 421- 422]

Cũng trong tiểu thuyết Con nhà nghèo, Hồ Biểu Chánh tiếp tục đề cao

quan điểm “Vấn đề tình yêutrọng nghĩa khinh tài” vốn xuyên suốt trong nhiều tác phẩm của

ông ở đây, “Vấn đề tình yêuNhững ngời nghèo khó luôn luôn là những ngời biết trọng nghĩa,biết làm điều thiện Dù mang trong mình dòng máu của “Vấn đề tình yêucon nhà giàu” nhngKinh lý Hai vốn là đứa con hiếu nghĩa với mẹ đẻ và bố nuôi suốt một đời hysinh, vất vả vì mình chứ không chịu về ở với ngời cha đẻ giàu sang mà bấtnghĩa Mặc dù, tác giả có sử dụng một số yếu tố ngẫu nhiên nhng câu chuyệnvẫn mạch lạc, tính cách nhân vật vẫn rõ nét” [2, 198-199]

Khác với tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Tố Tâm của Hoàng ngọc

Phách là phát súng xung phong mở đầu cho cuộc tuyên chiến mạnh mẽ vào ýthức hệ phong kiến, đi ngợc lại với những hủ tục truyền thống đã lỗi thời vớimột cách nhìn về tình yêu và hạnh phúc gia đình rất táo bạo và mới mẻ Tác

Trang 14

phẩm kể về câu chuyện tình thơ mộng bi thơng của đôi trai tài gái sắc yêunhau, vì lễ giáo phong kiến mà không đợc sum họp: Đạm Thuỷ - Tố Tâm, qualời dẫn truyện của nhân vật ký giả.

Đạm Thuỷ là sinh viên, có nhiều thơ đăng báo, tình cờ gặp Tố Tâm,một thiếu nữ đọc nhiều sách báo, mê thơ văn, và đã có cảm phục Đạm Thuỷtrớc khi quen chàng Sự ngẫu nhiên đã đa họ đến với nhau Tình yêu nảy nởgiữa hai ngời ngày càng sâu nặng Nhng Đạm Thuỷ đã hỏi vợ trớc đó, chàngkhông dám xoá lời giao ớc của cha mẹ Tố Tâm thì cũng có ngời xứng đángdạm hỏi mặc dù Đạm thuỷ khuyên bảo, nàng vẫn không nghe lời Thừa lúc bịbệnh nặng, bà án, mẹ của Tố Tâm, ép buộc nàng cới ngời mà nàng khôngyêu, nàng miễn cỡng nhận lời để không mang tiếng bất hiếu với mẹ cha Cớixong, nàng ốm hơn một tháng sau ngày cới thì chết

Tiểu thuyết Tố Tâm có một lịch sử nhất định trong dòng chảy của nền

văn học Việt Nam hiện đại Đó là một cuốn tiểu thuyết duy nhất của HoàngNgọc Phách và cũng là cuốn tiểu thuyết lãng mạn đầu tiên của nền văn họcViệt Nam đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, tác giả đã chọn một phạm vi nhỏ.Chuyện tình yêu trai gái và chỉ xoay quanh những vấn đề đó Tình yêu là vấn

đề muôn thủa trong cuộc sống con ngời nhng tình yêu trong Tố Tâm thuần

tuý là chuyện yêu đơng, không có sự pha tạp, không lồng vào bất cứ mâuthuẫn gai cấp hay vấn đề xã hội nào Nó lại mang một phẩm chất mới: không

hề nhuốm màu sắc dục mà tất cả chỉ đợc tái hiện qua những lời thuật kể cảm

động chan chứa, đầy nớc mắt của nhân vật trữ tình Có thể xem đó là bản tình

ca ngoài lễ giáo, thật mới mẻ, hiện đại của một lớp thanh niên trí thức rất trẻvào những thập niên đầu thế kỷ Lớp thanh niên ấy đợc “Vấn đề tình yêuthả lỏng” trong bầukhông khí tự do yêu đơng, mong muốn đợc tự do lựa chọn ngời mình yêu, tự

do kết hôn nhng xét đến cùng, tình yêu còn bị kiềm toả trong giới hạn của nhogiáo, bi giam cầm trong lề luật của ý thức hệ và chế độ đại gia đình xa cũ

Tiểu thuyết Tố Tâm đặt ra một vấn đề có sức lay động lớn tới ngời đọc,

làm cho giới thanh niên trẻ Tây học thời đó nhiệt liệt hởng ứng vì nó đã khẳng

định đợc vị trí của cá nhân, quyền sống của con ngời trớc uy quyền còn khá

kiên cố của lễ giáo phong kiến khắc nghiệt Nếu trớc đây, Truyện Kiều của

Nguyễn Du chỉ là tiếng kêu thơng, khát khao quyền sống, quyền hạnh phúc

của con ngời, thì đến Tố Tâm, đó là lời khẳng định báo hiệu đã đến thời đại

Trang 15

mà con ngời đợc quyền sống, quyền tự do lựa chọn hạnh phúc riêng t với tcách con ngời cá nhân.

Tiểu thuyết Tố Tâm ra đời vào buổi giao thời đã mang một ý nghĩa lịch

sử rất lớn Nó đã phản ánh đúng tình hình t tởng xã hội lúc bấy giờ Đó là lúccái cũ đã đi vào suy tàn nhng tàn d còn mạnh mẽ, trong lúc cái mới cha thực

sự vững chắc, ngời ta cha biết cái mới này sẽ đa cuộc đời đi đến đâu (điều đó

ít nhiều biểu hiện qua sự đứt gánh giữa chừng, qua việc quy thuận trớc hônnhân bị ép buộc và hơn hết là cái chết của Tố Tâm - một ngời con gái khônglấy đợc ngời mình yêu và chết vì tình yêu) Khẳng định sự thắng thế của cáimới phải đợi đến những năm 30 của thế kỷ XX mới sáng tỏ với sự xuất hiện

của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Trong hoàn cảnh trớc đó, Tố Tâm ra đời với

quan niệm độc đáo vừa chứa đựng cái nhìn truyền thống lại vừa mang mộtquan niệm nhân văn mới mẻ làm nức lòng độc giả Dù không tỏ ra hoàn toànbênh vực cho t tởng mới, thậm chí còn tỏ ra dè dặt né tránh, nhng với tiểu

thuyết Tố Tâm, Hoàng Ngọc Phách đã thực sự đặt một điểm mốc son, một cột neo cho t tởng mới bám víu, tồn tại trên mảnh đất khắc nghiệt này Tố Tâm

cha đoạn tuyệt hoàn toàn với nền luân lý cổ hủ hà khắc kìm kẹp con ngờitrong những cái vô lý, bất công

Mặc dù, t tởng mới của con ngời Hoàng Ngọc Phách vừa ra đời đã bịcác thế lực thù địch bóp nghẹt từ trong trứng nớc vì nó còn quá mong manh dễ

vỡ khi đối mặt trực tiếp với một truyền thống lâu dài có gốc rễ vững chắc củachế độ phong kiến Nhng chính tác phẩm này đã góp công đầu trong việc làmxuất hiện các yếu tố mới lạ, tạo tiền đề cho sự khẳng định giá trị con ngời cá

nhân trong văn học ở giai đoạn sau này “Vấn đề tình yêuTố Tâm đã tỏ ra vợt trội, đánh dấu

một bớc ngoặt trong lịch sử tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Ngòi bút sáng tạocủa Hoàng Ngọc Phách đã làm một cuộc cách mạng trong văn xuôi khi đi sâuvào khai thác thế giới nội tâm con ngời với lối miêu tả thời gian tâm lý Nhàvăn khớc từ cái nhìn truyền thống theo kiểu kết cấu chơng hồi, khắc hoạ chândung những tâm hồn Tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách khởi đầu cho cuộccách tân trong văn học, cho thấy sức mạnh của t tởng hành động với hìnhbóng đích thực của cái tôi trong đời sống tinh thần Việt Nam, đặt nhà văn vào

vị trí mở đờng cho dòng văn xuôi lãng mạn Việt Nam thế kỷ XX” [74, 63]

Tuy nhiên vì còn quá mới so với hoàn cảnh xã hội và đời sống văn họcvào thời điểm đó, tác phẩm không thoát khỏi những hạn chế trong việc đặt và

Trang 16

giải quyết vấn đề một cách triệt để Bản thân tác giả, ngời có gốc nho học,cũng khó bề đoạn tuyệt liền với nếp t duy, thói quen diễn đạt của lối văn ch-

ơng truyền thống, nhng những t tởng mà Hoàng Ngọc Phách đã gửi gắm trongtiểu thuyết thì nó sẽ mãi còn nguyên giá trị với thời gian và đợc ngời đọc ởmọi thế hệ ghi nhận

Chỉ đến tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, tiểu thuyết Việt Nam đã có bớc đi

vững chắc: “Vấn đề tình yêuNhìn chung cả lịch sử tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX,

ngời ta thấy phải tới khoảng từ những năm 1932 trở đi, với việc xuất hiện Tự

lực văn đoàn và những tác phẩm của văn đoàn đó nh Hồn bớm mơ tiên, Nửa chừng xuân tiểu thuyết mới có đợc những mẫu mực hoàn chỉnh, tức cũng có

nghĩa nó đã trởng thành, từ nay nó là một thể loại độc lập” [56, 41]

1.1.2 Vấn đề tình yêu và gia đình trong văn học kháng chiến 1945 - 1954

Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới, kỷnguyên độc lập dân tộc Chúng ta sống trong men say chiến thắng cha đợc baolâu thì thực dân Pháp quay trở lại xâm lợc nớc ta một lần nữa Toàn thể dântộc Việt Nam lại bớc vào cuộc trờng kỳ kháng chiến để bảo vệ nền độc lậpcòn non trẻ

Với chức năng và nhiệm vụ của mình, văn học thời kỳ này phản ánhtrung thực hiện thực cách mạng Việt Nam Mỗi nhà văn là chiến sỹ tiên phongtrên mặt trận văn hoá, văn học là vũ khí sắc bén trên mặt trận t tởng, cổ vũ

động viên khích lệ tinh thần của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta Chính vìvậy, đề tài chủ yếu đợc văn học tập trung phản ánh là hiện thực nóng bỏng củacuộc kháng chiến gian khổ trờng kỳ Hình tợng đợc tập trung phản ánh trongthời kỳ này là anh bộ đội, chị dân công trên hoả tuyến Những tác phẩm hay

nhất là những tác phẩm ca ngợi tinh thần chiến đấu: Hoan hô chiến sỹ Điện Biên, Việt Bắc hay Sáng tháng năm (Tố Hữu), Đồng chí (Chính Hữu), Tây Tiến (Quang Dũng), Đôi mắt (Nam Cao), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Truyện Tây Bắc (Tô Hoài)

Do hoàn cảnh thực tiễn của cuộc chiến đấu, sự tồn vong của dân tộc đợc

đặt lên hàng đầu, tất cả tập trung cho công cuộc giải phóng dân tộc nên chủ đềtình yêu và gia đình đợc đặt xuống hàng thứ yếu Văn học thời kỳ này có rất íttác phẩm viết về vấn đề tình yêu và gia đình Vấn đề tình yêu và gia đình đợc

đa vào trong tác phẩm cũng nhằm làm rõ hơn tinh thần yêu nớc, khẳng định

Trang 17

mạnh mẽ lòng tự hào dân tộc, ý chí kiên cờng, tinh thần đại đoàn kết và tố cáotội ác chiến tranh của kẻ thù.

Đề tài tình yêu và gia đình chỉ đợc điểm xuyết qua một vài tác phẩm với

một vài vấn đề nhỏ nh Vợ nhặt (Kim Lân), thể hiện một khát vọng về tình yêu

và hạnh phúc đôi lứa, về một mái ấm gia đình kể cả khi mạng sống đang bị đe

doạ bởi nạn đói khủng khiếp Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), tố cáo tội ác cờng

quyền và thần quyền đày ải ngời dân nghèo miền núi vào chốn địa ngục trầngian, ca ngợi sức mạnh tình yêu của A Phủ và Mỵ Chính sức mạnh của tìnhyêu giúp họ chiến thắng mọi thế lực kẻ thù để đi theo tiếng gọi của Đảng

Tóm lại, văn học thời kỳ này viết về tình yêu và gia đình cha rõ nét Tìnhyêu và gia đình đợc lồng vào trong tình yêu đồng bào và tình yêu quê hơng đấtnớc ở giai đoạn sau, vấn đề tình yêu và gia đình có phần đậm nét hơn

1.1.3 Vấn đề tình yêu và gia đình trong văn hoc cách mạng Việt Nam 1955 - 1975

Đây là thời kỳ đất nớc ta tạm thời chia ra làm hai miền với hai thể lệchế độ chính trị khác nhau, nhng nhiệm vụ chính vẫn là công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tập trung cho công cuộc giải phóng miềnNam, thống nhất đất nớc Vì vậy, văn học thời kỳ này cũng có những nhiệm

vụ khác nhau

Văn học thời kỳ này phân chia làm hai cảm hứng chính là lấy côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và lấy cuộc chiến đấu giải phóngmiền Nam làm chủ đề cho sáng tác Tuy nhiên, cũng do hoàn cảnh đất nớc bịchia cắt làm hai miền nên những sáng tác về vấn đề tình yêu và gia đình cũngchỉ mới ít nhiều đề cập tới chứ các nhà văn cha hẳn đã tập trung hoàn toàn choviệc sáng tác về tình yêu và gia đình nh văn học sau 1975

Viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc có các tác

phẩm Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Bão biển (Chu Văn) ít nhiều

có đề cập đến chuyện hôn nhân và gia đình Các nhà văn thờng khai thác mẫuthuận nảy sinh giữa lớp trẻ sục sôi nhiết huyết, say mê cuộc sống mới với cácthành viên thủ cựu, lạc hậu “Vấn đề tình yêunuối tiếc con trâu mảnh ruộng” trong gia đình(thờng là ông bố - đại diện cho quyền lực của chế độ gia trởng) để khẳng địnhcon đờng làm ăn tập thể, con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội

Viết trong hoàn cảnh đất nớc đang còn dấu dày đinh dày xéo của bọn

đế quốc, vấn đề tình yêu và gia đình, chuyện riêng t của cá nhân đợc gác sang

Trang 18

một bên mà giành tất cả cho tình yêu tổ quốc Vì lẽ đó, Tình yêu hạnh phúcriêng t đợc hoá thân trong tình yêu nớc, tình yêu lý tởng và luôn hớng tới ngàymai huy hoàng và tốt đẹp Tình yêu hoà quyện với tình yêu quê hơng đất nớc,tình đồng chí, đồng bào, là một thứ tình yêu nhiệt huyết cách mạng Cho nên,gia đình cũng đợc nhìn nhận trong mối quan hệ tập thể, gia đình cách mạng, là

cơ sở, nền tảng cho tình yêu nh: Gia đình má Bảy (Phan Tứ), Ngời mẹ cầm súng (Nguyễn Thi) Đối với họ, cách mạng là lẽ sống, là niềm tin, là ánh

sáng của tự do và hạnh phúc, là cuộc sống đích thực Các thành viên trong gia

đình họ đều là chiến sĩ cách mạng hoặc quần chúng cảm tình của cách mạng.Chồng chị T Hậu là chiến sĩ vệ quốc quân đã anh dũng hy sinh trong chiến

đấu Bản thân chị là chiến sĩ hoạt động binh vận trong lòng địch Hai vợ chồngchị út Tịch là chiến sĩ cách mạng kiên cờng Các con trong gia đình má Bảy là

bộ đội, du kích Gia đình má là cơ sở tin cậy của cách mạng Tình yêu đôilứa, hạnh phúc gia đình, tình vợ chồng, anh em, mẹ con, cha con đều gắn vớitình yêu lý tởng, tình yêu cách mạng

1.1.4 Vấn đề tình yêu và gia đình trong văn học Việt Nam sau 1975

Chiến thắng 30/4/1975 đất nớc ta hoàn toàn độc lập, thống nhất, nonsông thu về một mối Lịch sử đã bớc sang trang mới nhng văn học vẫn đangtrợt theo quán tính cũ của lối văn học sử thi với đề tài chiến tranh trong mộtthời gian dài nữa Đến những năm 80 và nhất là sau Đại hội Đảng lần thứ VInăm 1986, Đảng ta quyết định đổi mới trên mọi phơng diện, trong đó văn họccũng đợc quan tâm Từ đây, ngời cầm bút dờng nh đã tìm đợc cho mình nhữngmảnh đất sáng tác với rất nhiều cảm hứng khác nhau Giờ đây nhu cầu ghichép, phản ánh hiện thực theo kiểu công thức trớc đây không còn đặt ra cấpbách nh những năm trong chiến tranh đạn lửa Cuộc sống cũng bộc lộ nhữngmặt phức tạp mà những lời giải thích đơn giản, khuôn sáo không còn phù hợpnữa Mỗi ngời cầm bút cũng nhận ra rằng sức mạnh của tác phẩm văn họckhông nằm ở khối lợng hiện thực đợc ghi chép, phản ánh mà phụ thuộc vào sựnghiền ngẫm, trải nghiệm của nhà văn, vào chiều sâu t tởng, tình cảm mà nhàvăn gửi gắm trong tác phẩm

Giai đoạn văn học sau 1975 là sự trở lại với cuộc sống đời thờng, sốphận riêng t Sự trở lại này hoàn toàn tất yếu bởi vì trớc đây, trong giai đoạn từnăm 1945 đến 1975 nhiều nhà văn đã viết chủ đề này nhng trên phơng diện

Trang 19

của cái chung cùng hoàn cảnh lịch sử Hơn nữa, nói chung đã là văn học thìnền văn học nào cũng quan tâm đến số phận con ngời, đến cái riêng t sâu kínnhất trong đời sống tinh thần của con ngời Song vấn đề là ở chỗ, do hoàncảnh chiến tranh suốt mấy chục năm qua, văn học cách mạng nói về cáichung, chỉ xem xét cái riêng xuất phát từ quyền lợi chung trên tinh thần dânchủ giai cấp, dân tộc, thành ra vấn đề đời thờng, số phận riêng của con ngời bịchìm lấp đi, thậm chí đôi khi còn bị xem nh cái gì uỷ mỵ, xa lạ với một nềnvăn học lành mạnh bừng bừng hào khí sục sôi cách mạng

Giai đoạn này, tính sử thi trong sáng tác nh những giai đoạn văn học

tr-ớc đây dờng nh nhờng chỗ cho cảm hứng đời t - thế sự Khi tiếng đạn bom đãdần chìm vào dĩ vãng, khi con ngời ta có thời gian để ngẫm nghĩ lại con ngờimình, để ý đến những đổi thay đang hàng ngày diễn ra xung quanh mình thìlúc đó, con ngời mới thực sự cảm nhận đợc đầy đủ nhất về cuộc đời Văn họcthời kỳ này không bị bó hẹp trong đề tài chiến tranh, không nặng về hình thứcngợi ca mà đợc mở rộng biên độ ra theo những chiều kích khác nhau cả vềkhông gian lẫn thời gian Những vấn đề đời sống hàng ngày, vấn đề tình yêugia đình, số phận riêng t con ngời, công cuộc xây dựng đất nớc tất cả đều đ-

ợc các nhà văn đa lên trang viết của mình một cách công khai không né tránh.Hơn thế, các nhà văn đã tìm vào những tầng vỉa sâu thẳm trong đời sống tâmhồn của con ngời để nói lên đời sống tình cảm đầy mâu thuẫn và phức tạp, nóinhững mặt trái, những góc khuất, phần chìm của hiện thực cuộc sống mà bấylâu nay bị che lấp

Có thể nói cha bao giờ, văn học lại quan tâm nhiều đến vấn đề tình yêu

và gia đình nh thời kỳ này Dù chiến tranh đã đi qua, không còn cảnh “Vấn đề tình yêuDâythép gai đâm nát trời chiều” (Nguyễn Đình Thi), nhng d ba vẫn còn vang vọng

ở thời hậu chiến, trở đi trở lại trong nhiều sáng tác của các nhà văn Bên cạnhcác nhà văn thế hệ lục tuần viết về mảng đề tài này còn xuất hiện hàng loạtnhững nhà văn trẻ mới cũng có những thành công nhất định Chúng ta có thể

điểm xuyết qua một loạt tác phẩm của các nhà văn viết về đề tài tình yêu và

gia đình nh: Một cõi nhân gia bé tý (Nguyễn Khải), Thời xa vắng, (Lê Lựu), Một nửa cuộc đời, nớc mắt đàn ông, (Nguyễn Thị Thu Huệ), ăn mày dĩ vẵng (Chu Lai), Không có vua, Tớng về hu, Tâm hồn mẹ, Nhà mẹ Lê (Nguyễn Huy Thiệp), Thân phận tình yêu (Bảo Ninh), Dòng sông mía (Đào Thắng), Bến không chồng (Dơng Hớng), Bóng đè, Bốn ngời đàn bà và một

Trang 20

đám tang, Dòng sông hủi (Đỗ Hoàng Diệu), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc T), Nhà ba hộ (Nguyễn Văn Thọ), Ngôi nhà hoang vắng (Phong Điệp), Nhân Tình (Y Ban), Ngôi nhà thủng mái (Nguyễn Thu phơng), Mùa lá rụng trong vờn, Côi cút giữa cảnh đời, Mẹ già, mẹ và con (Ma Văn Kháng)

Phần lớn các tác phẩm văn học viết về tình yêu và gia đình sau 1975 đã

đi sâu vào khai thác các vấn đề của cuộc sống nhiều mặt, trong mối quan hệ

đa chiều phức tạp của đời sống và xã hội Văn học ở giai đoạn này rất chú ý

đến cá nhân, cá tính của con ngời Con ngời cá nhân luôn đợc đề cao Bêncạnh đó, các nhà văn cũng đã có cái nhìn về vấn đề tình yêu và gia đình trongmôi trờng xã hội mới Vấn đề tình yêu và hạnh phúc gia đình có đứng vững tr-

ớc sự tác động to lớn của nền kinh tế thị trờng với lối sống xô bồ bon chen,thực dụng, tất cả dờng nh bị bẻ cong trớc quyền lực của đồng tiền mà tình cảmcon ngời thì lại bị xem nhẹ

Vấn đề tình yêu và gia đình cũng đợc soi rọi dới cái nhìn văn hoá, vănminh Chất lợng đời sống con ngời càng đi lên thì mọi chuẩn mực đạo đức xãhội có phần đi xuống Các nhà văn, đặc biệt là các nhà văn trẻ đã táo bạo đavào trong tiểu thuyết những gì trần tục nhất, thể hiện bản năng nhục cảm

mạnh mẽ nh: Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc T), Bóng đè (Đỗ Hoàng

Diệu) Dù vậy, nếu tất cả đợc soi rọi dới cái nhìn sáng tạo nghệ thuật thì sẽkhông tạo nên sự méo mó trong cách hiểu, không gây phản cảm cho ngời đọc

mà ngợc lại, tạo ra đợc những hiện tợng mới, tích cực trong văn học

Có thể nói rằng, chủ đề tình yêu và gia đình đã xuyên suốt một quátrình lịch sử lâu dài trong văn học với những hoàn cảnh thăng trầm khác nhau

Kế tục Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, văn học giai đoạn sau đã phát triển với

nhiều dạng thức khác nhau Không chỉ xoay quanh những mâu thuẫn, xung

đột trong gia đình hiện đại mà đã quan tâm đi sâu vào khai thác ở mọi ngócngách của cuộc sống con ngời Các nhà văn sau này đã làm đợc việc mà các

nhà văn Tự lực văn đoàn mong ớc mà cha làm đợc thời trớc, đó là xoá bỏ hoàn

toàn định kiến xã hội cũ, giải phóng con ngời cá nhân, khẳng định cái tôi cánhân, cá thể, tự do chủ động trong tình yêu hôn nhân và làm chủ trong cuộcsống gia đình

1.2 Vấn đề tình yêu và gia đình trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 1.2.1 Tình yêu nam nữ - vấn đề đợc quan tâm đặc biệt trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn

Trang 21

Không biết từ bao giờ, tình yêu đã hiện hữu trong đời sống của con ngời

nh một nhu cầu tất yếu mà cũng thật tự nhiên Tình yêu không phải là mộtphạm trù tách biệt khỏi mọi quan hệ mà chỉ có trong mối tình cụ thể của mỗicon ngời, mỗi cuộc đời Chính vì lẽ đó, trải qua không biết bao nhiêu đổi thaycủa lịch sử, sự chuyển vần của con tạo thì tình yêu vẫn cứ hiển nhiên tồn tạivới một sức sống kỳ diệu

Văn học lấy chủ đề tình yêu để làm cảm hứng cho sáng tác xa nay ta bắtgặp rất nhiều trong dòng chảy Đông, Tây, kim, cổ nh một mạch nguồn khôngcùng tận Tình yêu, nó muôn hình vạn trạng, muôn vẻ sắc thái với nhiều trạng

thái cảm xúc khác nhau Các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã mạnh dạn khi

đa chủ đề tình yêu vào trong tác phẩm của mình Điều đó đã tạo đợc tiếng vang

và có tầm ảnh hởng lớn trong đời sống thành thị thời bấy giờ

Các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thật sự thành công trong việc nói

lên khao khát tình yêu tự do, hôn nhân tự do không bị trói buộc bởi những

định kiến của gia đình, xã hội Hơn hết là tiếng nói phản kháng để khẳng địnhcon ngời cá nhân cá thể, phá bỏ mọi rào cản rất vững chắc gò ép con ngời taphải sống theo tục lệ, giải phóng tình yêu ra khỏi những quan niệm chật hẹpcủa lễ giáo nho Khổng

Thực ra khát vọng tình yêu tự do, hôn nhân tự do không phải đến Tự lực văn đoàn mới đợc nhắc nhiều mà ít nhiều đã xuất hiện trong văn học trung đại

Việt Nam từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX ở các sáng tác của NguyễnGia Thiều, Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng… ….19 nhng đó chỉ mới lànhững đốm lửa mong manh yếu ớt vừa loé lên đã bị sức nặng ngàn năm của lễ

giáo phong kiến dập tắt Chỉ đến Tự lực văn đoàn, chủ đề tình yêu hôn nhân

-gia đình mới trở thành một chủ đề lớn với nhiều tác phẩm có giá trị phản

phong nhân đạo sâu sắc Các tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn viết về tình yêu

đã tập trung phản ánh cuộc đấu tranh giải phóng cá nhân, đấu tranh cho tự doyêu đơng, cho quyền sống của con ngời (nhất là ngời phụ nữ) chống lại sựràng buộc khắt khe của lễ giáo trong đại gia đình phong kiến

Tình yêu nam - nữ là một chủ đề xuất hiện với tần số lớn trong các sáng

tác của các nhà văn Tự lực văn đoàn nh: Hồn bớm mơ tiên, Gánh hàng hoa, Lạnh lùng, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Thoát ly, Đời ma gió, Gia đình

ở các tác phẩm này, vấn đề tình yêu đã đợc các nhà tiểu thuyết Tự lực văn

đoàn đẩy lên ở một mức độ cao hơn, các nhà văn đứng trên lập trờng giai cấp

Trang 22

tiểu t sản để nhìn nhận về tình yêu, khẳng định chân lý về tình yêu - Tình yêu

tự do không bị ràng buộc bởi các quan niệm hay định kiến xã hội

Tình yêu trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đợc thể hiện một cách tự

nhiên, trần tục, đáp ứng đòi hỏi của một tầng lớp thanh niên, đợc lớp trẻ mặcnhiên hởng ứng thừa nhận Đó là tiếng nói đồng điệu của hai trái tim cùngnhịp đập, là sự giao hoà của thể xác và tâm hồn Đến với tình yêu, con ngời

trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thờng toàn tâm, toàn ý với cảm giác của tình

yêu chân thật, với những phút giây thăng hoa của hạnh phúc, ngập tràn trongniềm hân hoan về những ớc mơ tốt đẹp Tất cả đợc biểu hiện ra ngoài mộtcách kín đáo nhng sâu sắc, tinh tế mà nhẹ nhàng đằm thắm nh tình yêu của

Ngọc và Lan (Hồn bớm mơ tiên), Lộc và Mai (Nửa chừng xuân), Dũng và Loan (Đoạn tuyệt), Bảo và Hạc (Gia đình), Liên và Minh (Gánh hàng hoa)

Đặc biệt, trong các tiểu thuyết viết về tình yêu đó không mang màu sắc nhụcdục, không có những cảnh “Vấn đề tình yêunóng” nh trong nền văn học mới sau này Kể cả

những tiểu thuyết nói về tình yêu có chiều hớng “Vấn đề tình yêusuy đồi” nh Trống mái hay

Đời ma gió

Phải nói rằng, trong các tiểu thuyết viết về tình yêu, các nhà văn Tự lực văn đoàn đã thể hiện đợc nhiều cung bậc, nhiều cảm xúc trái ngợc nhau Đó

không chỉ là một thứ tình yêu mang dáng dấp e ấp, còn đợc nguỵ trang che

đậy khéo léo nhờ lớp sơng tôn giáo của tình yêu giữa Ngọc và Lan (Hồn bớm mơ tiên), hay tình yêu trong sáng đầy sự hy sinh, nhẫn nại của Liên (Gánh hàng hoa), Loan (Đoạn tuyệt), Nhung (Lạnh lùng) mà ở một mức độ cao hơn

là quan niệm về tình yêu của Hiền (Trống mái), một tình yêu phóng khoáng,

thanh thoát Hiền chỉ say mê vẻ đẹp thân hình lực lợng của chàng trai đánh cáchứ không hề yêu Đó là một quan niệm về tình yêu không xuất phát từ tráitim mà có phần xa lạ, mang tính thực dụng Tất cả chỉ là trò đùa trong chuyệnyêu đơng của Hiền và trò đùa đó đã đi quá xa khi vô tình đánh đổi bằng cáichết của Vọi

Tuyết (Đời ma gió) lại càng mạnh mẽ hơn, không dè dặt và đầy liều lĩnh.

Quan niệm về tình yêu của Tuyết là “Vấn đề tình yêukhông tình yêu, không cảm, xem tình yêu

là lạc thú ở đời, là thuốc trờng sinh” [417], xem tình yêu là nhục dục của bảnnăng mà đánh mất đi sự thiêng liêng cao cả của tình yêu Tình yêu ở Tuyết làtình yêu của lối sống thực dụng, buông thả Tình yêu đó là “Vấn đề tình yêusự gặp gỡ của haixác thịt” [434] chứ không phải là một thứ tình yêu thuần khiết, trong sáng

Trang 23

Quan niệm về tình yêu của Tuyết đã phá bỏ và phủ định hoàn toàn tuyệt

đối những trói buộc mọi luật lệ về tình yêu và hôn nhân phong kiến “Vấn đề tình yêuCha mẹ đặt

đâu, con ngồi đó” Tuyết không phải dừng lại ở lời nói, ý nghĩ, hành động không

dứt khoát nh Nhung (Lạnh lùng), Lan (Hồn bớm mơ tiên) mà ở Tuyết, ta

luôn bắt gặp những hành động khác lạ, mạnh mẽ, kiên quyết và liều lĩnh, một sựvùng vẫy bứt phá khỏi các rào cản để thoả mãn khao khát của bản năng

Nhân vật Tuyết là mẫu hình nhân vật có tính thách đố, sống và hành

động theo sở thích Xây dựng thành công nhân vật Tuyết về quan niệm tình

yêu, các nhà tiểu thuyết Tự lc văn đoàn đã công khai và đứng hẳn về cái mới,

bênh vực cái mới Con ngời ta cần có một cuộc sống tự do, đợc hành động nh

sở thích của cá nhân, có quyền tự do tìm hiểu trong tình yêu hôn nhân màkhông bị ràng buộc bởi bất cứ một ràng buộc vô lý nào

Có thể thấy, với cuốn tiểu thuyết tình yêu mở đầu Hồn bớm mơ tiên,

Khái Hng dờng nh còn né tránh, e dè hay không dám công khai một cách thái

quá trong chuyện tình yêu của Lan và Ngọc, nhng khi đến Lạnh lùng, Đoạn tuyệt, Thoát ly thì vấn đề tình yêu dờng nh đã công khai rõ ràng Dù vậy,

các nhân vật thuộc lớp đầu vẫn chỉ dừng chân ở lời nói, trong ý nghĩ mà thiếu

đi hành động mạnh mẽ, dứt khoát để giữ đợc tình yêu của mình Chỉ đến

Trống mái (Khái Hng), Đời ma gió (Nhất Linh và Khái Hng) thì vấn đề tình

yêu đợc nhìn nhận một cách công khai và đợc thể hiện ra bên ngoài quyết liệtnhất

Có thể nói rằng, tình yêu trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đợc xây

dựng theo một mô hình mà khởi đầu nguyên sơ của nó là tình yêu trong dángphôi thai trong sáng tựa ánh pha lê, tình yêu trong lý tởng, trong thế giới tinh

thần với sự cao cả của hai tâm hồn nh Lan Ngọc (Hồn bớm mơ tiên), Mai Lộc (Nửa chừng xuân), Loan - Dũng (Đoạn tuyệt), tình yêu với hạnh phúc

-đôi lứa nh -đôi vợ chồng trẻ Liên - Minh (Gánh hàng hoa), một mô hình gia

đình hạnh phúc trong quan niệm của Khái Hng nh gia đình Hạc - Bảo

(Gia đình) để rồi kết thúc là một tình yêu tự do đến cực đoan thực dụng, buông thả và vô trách nhiệm nh Hiền (Trống mái), Tuyết (Đời ma gió) Dù

vậy, đứng trên góc độ của cái mới mà nhìn nhận vấn đề, ta thấy điều đó cũng

là hợp lẽ và dễ chấp nhận Cái cũ không còn hợp thời và đi vào giai đoạn suythoái, nó kìm hãm sự phát triển của xã hội, kìm hãm sự phát triển óc t duy

Trang 24

của con ngời, nó đã không còn chỗ đứng vững chắc mà đang dần đợc thay thếbằng cái mới, cái tiến bộ văn minh hơn.

Nếu để ý hơn, ta thấy khi miêu tả tình yêu và hạnh phúc gia đình, cáctác giả đặt câu chuyện trên những ý tởng đối lập Tình yêu, chủ đề và cảmhứng chính đợc thử thách qua những mối quan hệ đối lập: Tình yêu và tôn

giáo (Hồn bớm mơ tiên), tình yêu của lớp trẻ với những trở lực trong gia đình phong kiến (Nửa chừng xuân), tình yêu nghiêm túc (biểu hiện qua tình cảm

của một thầy giáo) và tình yêu phóng đãng (chạy theo lạc thú, dục vọng của

một cô gái lãng mạn, buông thả) trong tiểu thuyết Đời ma gió, và trong Trống mái là chuyện tình đùa cợt của cô gái thành thị giàu có với tình yêu chất phác

của anh dân chài khoẻ mạnh nhng ít học

Nh vậy, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ít nhiều cũng đã nói lên đợc điều

mà con ngời trong xã hội cũ muốn nói Chính vì lẽ đó, vấn đề tình yêu là một

trong những vấn đề đợc các nhà văn Tự lực văn đoàn quan tâm thể hiện rất

đình Mà để tồn tại đợc gia đình thì không thể thiếu đợc tình yêu và hạnh phúc

đôi lứa

Tình yêu và hôn nhân hạnh phúc là nền tảng vững chắc cho sự tồn tạicủa một gia đình Tất nhiên, với mỗi giai đoạn ứng với mỗi hoàn cảnh xã hội,lịch sử khác nhau thì vấn đề này đợc thể hiện khác nhau Chẳng hạn ở giai

đoạn văn học 1945 1975, vấn đề này thu hẹp trong mối quan hệ riêng chung, với cộng đồng, với sự tồn vong của quốc gia, dân tộc, đề tài tình yêu vàhạnh phúc gia đình rơi xuống vị trí thứ yếu Còn văn học sau đổi mới, cùngvới sự phát triển của xã hội thì vấn đề dân chủ, bình đẳng trong cuộc sống conngời luôn đặt ra Con ngời đợc đối xử bình đẳng với nhau, vấn đề hạnh phúcgia đình là vấn đề nổi bật đợc các nhà văn đặc biệt quan tâm với tất cả sự đadạng và phức tạp của nó

-Trong khi các nhà Thơ mới khám phá ra những tình cảm rung động bên

trong sâu kín với những cung bậc khác nhau trong tình yêu thì các nhà tiểu

Trang 25

thuyết Tự lực văn đoàn đã tập trung diễn tả một cách cực kỳ sinh động về sự

đấu tranh căng thẳng giữa tình yêu lãng mạn cá nhân và mục tiêu gia đình củacon ngời Các mâu thuẫn, xung đột giữa lớp thanh niên trẻ tuổi có ảnh hởng ttởng mới từ những quan niệm của văn hoá phơng Tây hiện đại và những quanniệm cũ của cha mẹ họ, những ngời luôn trung thành với truyền thống niềmtin, giá trị truyền thống lâu đời của gia đình phong kiến

Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thể hiện vấn đề gia đình một cách có chiều

sâu vào bối cảnh gia đình Việt nam truyền thống trong thời khắc giao thời khi

mà văn hoá âu tây đang dần du nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ XX Dờng nhluồng văn hoá mới đó còn quá bỡ ngỡ trớc một nền văn hoá á Đông vốn đãngự trị và ăn sâu vào t tởng của mỗi con ngời Việt Nam hàng ngàn năm nay.Vì vậy, sự đối lu của hai nền văn hoá hớng nội của phơng Đông và hớng ngoạicủa phơng Tây khi gặp gỡ nhau đã không hoà hợp, tất nhiên nó sẽ đẻ ra nhữngmâu thuẫn bài trừ lẫn nhau

Cái không hoà hợp đó chính là sự đấu tranh không khoan nhợng giữacái mới/cũ Cái mới là cái tiến bộ đem lại cho con ngời sự tự do cá nhân (nhất

là ngời phụ nữ), sự chủ động trong cuộc sống, làm cho con ngời năng độnghơn và một bên là những nết cũ của một nề nếp thủ cựu đã hết vai trò lịch sử

và không hợp thời Cái cũ đó toả chiết sự tự do của cá nhân, bắt con ngời taphải sống và hành động theo những nguyên tắc chung đã đợc định hình sẵn

Sự giải phóng cá nhân từ lâu nh một niềm khát khao, một quyền sống không

đợc thực hiện kéo dài trong nhiều thế kỷ Dới chế độ phong kiến, đạo lý cổtruyền kìm hãm con ngời trong khuôn phép, chế độ thực dân phong kiến tiếptục kìm kẹp sức sống cá nhân Quyền sống của cá nhân trong nền đạo đức cũkhông đợc thừa nhận Cần phải đấu tranh giải phóng cho cá nhân và chống lại

đạo lý hà khắc của đại gia đình phong kiến

Chọn chủ đề về gia đình để khai thác trong thời điểm giao thoa làm cảm

hứng cho sáng tác, các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã tái hiện sinh động

những gì đã chứng kiến, mắt thấy tai nghe trong gia đình Việt Nam phongkiến Qua tiểu thuyết của mình, họ đã phê phán truyền thống cũ và xem chúng

là những quan niệm cổ hủ vẫn tồn tại qua các thời đại, phê bình quan niệmcho rằng, tình yêu giữa hai ngời có thể đợc dựa trên địa vị xã hội nh t tởng

“Vấn đề tình yêuMôn đăng hộ đối” của bà án (Nửa chừng xuân), “Vấn đề tình yêuNối dõi tông đờng” của

bà Phán (Đoạn tuyệt) Mẫu gia đình mà bà mẹ chồng hay các bà mẹ ghẻ

Trang 26

chuyên quyền, chua cay, man trá, cứng cỏi trong khuôn phép lễ nghi, khôngbao giờ cảm động trớc sự đáng thơng của ngời khác và thơng cảm cho nhữngngời làm con bị miệt thị, ghẻ lạnh không đợc quyền tự quyết định chuyện hônnhân của mình.

Trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, vấn đề xung đột giữa tự do yêu

đ-ơng, tự do kết hôn với lễ giáo gia đình nổi lên ngày càng gay gắt Họ rất nhấtquán trong việc tố cáo sự trói buộc của đại gia đình phong kiến trong việcgiam hãm con ngời ta trong nhà tù lễ giáo Họ không dựng lại một gia đìnhViệt Nam truyền thống với dáng dấp và những u điểm nh nó vốn có trớc đó

mà họ đi sâu vào lý giải nguyên nhân sự tan rã của mô hình gia đình vốn đã

đ-ợc hình thành và tồn tại hàng ngàn năm nay với những mâu thuẫn, xung độtkhông thể điều hoà Đó là những mối mâu thuẫn giữa các thành viên trong

cùng một gia đình nh đại gia đình ông bà án Nguyễn (Gia đình), sự không

thể hiểu nhau giữa các thế hệ với những lối t duy khác hẳn, đối lập nhau giữa

ông bà Hai và Loan (Đoạn tuyệt) Từ những mâu thuẫn và xung đột đó đã dẫn

đến chỗ phá vỡ đi cấu trúc mô hình gia đình truyền thống theo kiểu “Vấn đề tình yêuTứ đại

đồng đờng” Mô hình đó giờ không còn phù hợp với thời đại bấy giờ nữa mà

nó đòi hỏi phải có sự thay đổi

Một mô hình gia đình khác hẳn với mô hình gia đình truyền thống dờng

nh dần đợc hình thành mà ở đó cuộc sống hạnh phúc gia đình với cá tính đợctôn trọng, đợc đùm bọc trong tình thơng yêu vợ chồng nh gia đình Hạc - Bảo

(Gia đình) Đó cũng chính là vấn đề rất đợc quan tâm thể hiện và trở đi trở lại

nhiều lần trong tác phẩm của các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn.

Tiểu kết

Vấn đề tình yêu và gia đình trong văn học ở bất kỳ thời nào cũng đợcquan tâm thể hiện Đó là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn ở mọi thời

đại khai thác Trong nền văn học trung đại Việt Nam, tinh thần nhân đạo đã

đ-ợc các nhà nho phát huy khi lớn tiếng bênh vực cho quyền sống, quyền tự do

trong tình yêu, hôn nhân của con ngời, đặc biệt là ngời phụ nữ Từ Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ Hồ

Xuân Hơng đến tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách ở giai

đoạn mở đầu cho nền văn học Việt Nam hiện đại, và xuyên suốt các giai đoạnvăn học ở thời kỳ chiến tranh và hậu chiến sau này

Trang 27

Văn chơng Tự lực văn đoàn đã có những bớc khởi đầu thành công khi

có sự kế thừa truyền thống của các nhà văn tiền bối đi trớc Với vai trò là cột

mốc hiện đại hoá văn học, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã thể hiện vấn đề tình

yêu và gia đình trên cái nhìn mới mẻ có sự đối sánh với với văn hoá cổ truyềncủa dân tộc Vấn đề tình yêu và gia đình đợc nhìn nhận từ góc độ văn hóa vănminh trong dòng chảy Đông - Tây nói chung và trong lịch sử dân tộc nóiriêng Các nhà văn đã quan tâm nhiều đến vấn đề tình yêu hôn nhân gia đìnhtrong xã hội cũ với những bất công và ngang trái giam hãm con ngời ta trongnhà tù lễ giáo Xuyên suốt toàn bộ sáng tác, chúng ta thấy họ luôn luôn đứngtrên quan điểm lập trờng đề cao cá nhân để nhìn nhận vấn đề một cách kháchquan nhất Họ lên tiếng đấu tranh cho quyền tự do bình đẳng trong tình yêu vàhôn nhân gia đình, cho quyền lợi của ngời phụ nữ Họ chủ trơng giải phóngngời phụ nữ ra khỏi mọi ràng buộc của lễ giáo, của đại gia đình phong kiến

Chơng 2 Quan niệm về vấn đề tình yêu và gia đình

trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 2.1 Quan niệm về tình yêu nam nữ

2.1.1 Quan niệm tình yêu trong sự đối lập với hôn nhân

Vấn đề chống lễ giáo phong kiến, đòi giải phóng con ngời cá nhân đã

đ-ợc đặt ra trong văn học Việt Nam trung đại, nhng tất cả đều bế tắc và bất lựctrớc những quy phạm nghiệt ngã của xã hội phong kiến vốn đã tồn tại ngàn

năm Mặc dù bị thất bại nhng ở họ đều có một tiếng nói chung là đã vạch trần

và tố cáo đợc chế độ đó Chẳng hạn, thơ Hồ Xuân Hơng, Truyện Kiều Đến tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, vấn đề chống lễ giáo phong kiến mới thực sự

bùng nổ công khai mạnh mẽ trên nhiều phơng diện của đời sống Đòi tự doyêu đơng, tự do kết hôn, đòi giải phóng con ngời cá nhân cá thể ra khỏi mọiràng buộc vô lý, khẳng định vị thế con ngời cá nhân (nhất là ngời phụ nữ)trong gia đình cũng nh ngoài xã hội Trong đó, vấn đề tình yêu và hôn nhân tự

do đợc các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn quan tâm thể hiện.

Trong một số tác phẩm viết về đề tài tình yêu hôn nhân và gia đình, các

nhà văn Tự lực văn đoàn dơng cao ngọn cờ nhân văn, đấu tranh đòi giải phóng

cho con ngời ra khỏi đại gia đình phong kiến và bảo vệ hạnh phúc kiểu mới

Họ quan niệm tình yêu không gắn liền với hôn nhân Họ “Vấn đề tình yêuxem ái tình là một

sự đuổi bắt, khám phá của hai tâm hồn, hai thế giới riêng tây, xa lạ Và tất cả

Trang 28

cái thú vị của tình yêu là trò chơi ú tim Khi chàng và nàng đuổi bắt đợc nhau,nghĩa là hôn nhân bắt đầu thì tình yêu kết thúc” [26, 250].

Hồn bớm mơ tiên là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Khái Hng và cũng là

tác phẩm đầu tiên của Tự lực văn đoàn ở thời kì đầu Với cốt truyện giản dị,

những sự kiện đợc sắp xếp theo diễn tiến êm đềm nhng âm ỷ trong đó mộtkhát khao tình yêu cháy bỏng Một tình yêu cao cả không gợn chút nhục dục,tinh tế, nhẹ nhàng Tác giả đã khai thác một cách có chiều sâu vào thế giớibên trong của nhân vật để chỉ ra những cái éo le, phức tạp của đời sống tinhthần trong con ngời, đối lập với thực tại xã hội

Hồn bớm mơ tiên là một câu chuyện tình yêu lãng mạn của đôi nam nữ

thanh niên Ngọc - Lan diễn ra trong ngôi đền thiêng liêng của tôn giáo Tôngiáo đã trở thành rào cản ngăn giữa Ngọc và Lan Họ không thể tiến tới hônnhân vì những yếu tố khách quan ở đây, Khái Hng đã lấy môi trờng tôn giáo

để biểu hiện tình yêu Vấn đề này đã đợc các nhà tiểu thuyết phơng Tây khaithác qua nhiều thế kỷ Phần lớn các tác giả miêu tả sự đối lập giữa tình yêu tự

do và khoái cảm hạnh phúc của đời thờng với sự hà khắc của giáo lý tôn giáo

Sự phát triển của con ngời về mặt tự nhiên lẫn thể xác không phù hợp vớinguyên tắc của tôn giáo Hạnh phúc trong tình yêu là ở giữa cuộc đời trần tụcnày, trong những đắm say cụ thể Hạnh phúc trong tôn giáo là ớc hẹn xa xôinơi thiên đờng ảo mộng Tình yêu đòi hỏi sự giải phóng bản ngã và là biểuhiện màu sắc tinh tế của mỗi cá nhân trong trách nhiệm với chính bản thânmình Tôn giáo biến bản ngã thành lệ thuộc, thụ động trớc những uy tín củathần thánh Tôn giáo xem sự hạn chế gò ép và hành hạ thể xác là để thanhthoát và giải phóng cho tinh thần Tôn giáo xem thể xác là nơi chứa đựng mọi

“Vấn đề tình yêuxú khí” dơ bẩn, là phần tồn tại tạm bợ rồi sẽ tan biến h vô Chỉ có tâm hồnmới thật sự thanh cao với tinh thần “Vấn đề tình yêuhỷ xả”, tinh khiết và tồn tại trờng tồntrong cõi vĩnh hằng Những mặt khác biệt và mâu thuẫn ấy trong mỗi con ngờiluôn có khả năng bung ra hoặc dồn nén lại những khi có điều kiện

Hồn bớm mơ tiên không đặt ra vấn đề mâu thuẫn cái mới - cũ, mẹ

chồng - nàng dâu mà tác phẩm đã đặt ra vấn đề tình yêu hạnh phúc của cánhân Điều đáng nói ở đây là sự xung đột giữa tình yêu và hôn nhân mang tínhxã hội sâu sắc

Câu chuyện mở đầu là sự truy tìm giữa h và thực, giữa thế giới thực tại

và thế giới siêu hình Lan là con nhà dòng dõi, đợc học hành Thầy học là thầy

Trang 29

mộ đạo Phật nên cô cũng đem lòng yêu mến cái “Vấn đề tình yêuđạo rất dịu dàng và êm áikia” Vì hoàn cảnh ép buộc nên Lan đã tìm đến chùa Long Giáng để nơngthân, là cô gái trẻ đẹp nhng phải sống cuộc sống của kẻ tu hành ở Lan có tínhcách chân thực, có sự đấu tranh t tởng giữa một bên là tình yêu và bên kia là

đức Phật tổ Đó là hai mãnh lực tình yêu và tôn giáo luôn đan xen, tồn tại vàgiao tranh trong con ngời cô Tình cờ gặp nhau ở chùa Long Giáng, Ngọc biếtLan là gái giả trai nhng ngay từ giây phút đầu tiên giáp mặt ấy, Ngọc đã đemlòng yêu thơng chú tiểu Lan Đến với tình yêu, Lan sung sớng và đúng nh bảnchất cũng nh mong muốn của lòng mình nhng rồi Lan lại cảm thấy có tội với

đức Phật tổ, và lời hứa của một ngời đã quả quyết dứt bỏ cuộc sống trần tục đểbớc vào một thế giới vô ảnh

Lan ý thức rất rõ kết cục tình yêu của cô và Ngọc sẽ chẳng bao giờ tiếntới hôn nhân vì rào cản của tôn giáo Đã không ít lần Lan tự dối lòng mình vàxem ái tình là chuyện nhỏ nhen, tầm thờng dễ gạt bỏ nhng “Vấn đề tình yêuchính ái tình nólại to tát, nó đầy rẫy, nó chứa khắp linh hồn Lan, từ câu nói, dáng đi, điệunhìn, giọng cời, ý nghĩ đều là hình ảnh của ái tình” [88] Và rồi “Vấn đề tình yêuNhng conngời ta bao giờ cũng thế Bao giờ cũng nghĩ trái với sự thật Một ngời hay do

dự, luôn nghĩ tới quả quyết, hoặc nói mình phải quả quyết; ngời rút rát sợ ma,

đêm đi đờng vắng một mình thờng hay huýt sáo làm ra bộ mạnh bạo lắm,

nh-ng kỳ thực tronh-ng lònh-ng lo sợ, chân tay run lẩy bẩy Lan cũnh-ng vậy, luôn mồm

nói phải quên nhng đó chỉ là triệu chứng của sự nhớ” [88].

Tình yêu giữa Ngọc và Lan thực chất là một sự đối lập giữa tình yêu vàhôn nhân Nếu con ngời của Lan đã hoàn toàn thuộc về thế giới của tôn giáo,không còn chút gì vớng bận với chuyện tình yêu nam nữ thì cuộc tìm kiếm củaNgọc sẽ là vô vọng Nhng chính sự tìm kếm không mệt mỏi của Ngọc đã thứcdậy ở Lan một tình yêu mà Lan không hề nghĩ tới, mặc dù nhiều khi cô đã cốgắng xa lánh hay chôn vùi trong sự trốn chạy, quên lãng Nh vậy, rõ ràng cómột cuộc xung đột đang diễn ra rất căng thẳng trong con ngời Lan, nó đốichọi và công kích nhau, một bên là từ bỏ tình yêu trong sáng của Ngọc và mộtbên là chối bỏ lòng tôn sùng Phật tổ Lan không thể không yêu bởi cô cũng làcon ngời Dù có muôn xa lánh cõi phàm tục, dứt bỏ trần duyên, song cái bảntính của con ngời trong một lúc dễ mà bị xoá đợc, cái bản tính ấy là tình, là áitình: “Vấn đề tình yêuHạnh phúc của chúng ta chỉ là ái tình Đó là A di đà phật! Đó là Nát -bàn của chúng ta”

Trang 30

Trong ý thức của ngời con gái đó cũng chỉ có tình yêu, chỉ có tình yêumới đem lại hạnh phúc cho con ngời nhng rồi Lan lỡng lự giữa tình yêu và tộilỗi cho nên có lúc Lan tự dối lòng mình và xem ái tình là chuyện nhỏ nhen,tầm thờng ở Lan, cái gì nó cũng bằng lặng, không xáo động, không có nhữngcảnh phản kháng quyết liệt mà tất cả chỉ diễn ra âm thầm trong tâm hồn cô.Một tâm hồn trong trẻo luôn tự đấu tranh với lòng mình để giữ lấy sự thanhbạch Những đợt sóng tình yêu có xô đẩy mạnh mẽ đến đâu cũng phải dừnglại ở giới hạn đã định sẵn Nhân vật Lan là hiện thân của tình yêu tự do khôngràng buộc bởi hôn nhân gia đình, yêu nhng không cần phải ở bên nhau, mộttình yêu trong lý tởng, trong tinh thần mang đầy màu sắc lãng mạn, đối lập vớithực tại phũ phàng của cuộc đời.

Quan điểm của Khái Hng rất rõ ràng và nhất quán Ông đã đa ra vấn đềmới mẻ là đối lập tình yêu với hôn nhân thông qua ngôn ngữ và hành độngcủa Ngọc: “Vấn đề tình yêuGia đình! Tôi không có gia đình nữa Đại gia đình của tôi nay lànhân loại, là vũ trụ mà tiểu gia đình là… ….19 hai linh hồn của đôi ta ẩn núp đớibóng từ bi Phật tổ” [59] Quan niệm này thời bấy giờ đợc coi là quan niệm cótính chất nhân văn, chống lại hôn nhân phong kiến ép buộc Mặt khác, bảnthân tình yêu giữa Ngọc và Lan đã mang tính phản phong sâu sắc

Tình yêu của Ngọc và Lan là một tình yêu lãng mạn Tuy rằng tình yêu

ấy không đi đến kết quả cụ thể nào nhng dù sao cũng chứng minh rằng, họ đãchủ động trong địa hạt tình cảm và tuân theo tiếng gọi của trái tim ái tình đãthắng vì ái tình là “Vấn đề tình yêubản tính của con ngời”, chỉ có ái tình mới đem lại hạnhphúc Trong tình yêu, sự quyện hoà tạo nên khoái cảm thân xác là hạnh phúc

đôi lứa Khái Hng đã khẳng định hạnh phúc thực sự của tình yêu đôi lứa, đó làniềm vui, quyền đợc sống, quyền đợc yêu của con ngời Khái Hng cũng đã chỉ

ra sự khao khát của con ngời muốn hởng hạnh phúc mà tạo hoá ban tặng chomỗi ngời Những đạo lý khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến, những ràng buộccủa những tập tục lạc hậu lâu đời đã đến lúc cần đợc phê phán để giải toả choquyền sống, cho tinh thần và tự do của mỗi ngời

Viết Hồn bớm mơ tiên, Khái Hng không có ý đả phá phật giáo mà trái

lại, ông có ý dung hoà giữa ái tình và đạo phật Họ cha vợt đợc những ràngbuộc của lễ nghi cho dù đó là định kiến xã hội, những phong tục tập quán,những nghi thức tôn giáo Cái mâu thuẫn ấy cuối cùng cũng đợc giải quyết

Trang 31

bằng một tình yêu lý tởng nhuốm đầy màu sắc lãng mạn “Vấn đề tình yêumột ái tình bất vongbất diệt, ẩn núp dới bóng từ bi Phật tổ” [59]

Hồn bớm mơ tiên là một cuốn sách tình mở đầu, tình yêu lãng mạn của

đôi trai gái chỉ đợc toại nguyện trong tâm hồn, trong lý tởng và không đợcthực hiện trong cuộc đời thực Rồi đây với những tác phẩm tiếp theo, “Vấn đề tình yêuKhuônkhổ đạo đức của đại gia đình phong kiến sẽ bị rạn nứt phá vỡ, sự giải phóngbản ngã sẽ mạnh mẽ hơn, cá nhân không còn cam chịu mà sẽ chủ động trongcuộc sống và tình yêu” [77, 65]

2.1.2 Tình yêu tự do, tự nguyện

Tình yêu tự do, tự nguyện đợc các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đề

cập rất nhiều trong những sáng tác của mình Đó là một thứ tình yêu hoàntoàn theo sở nguyện, không bị ép buộc cũng không bị khuôn vào hoàn cảnh,vợt ra ngoài vòng lễ nghi của giáo lý Các tác giả đã đề cao sự tự do, tựnguyện trong yêu đơng là khát khao của lớp trẻ thời bấy giờ

Tình yêu giữa Lan - Ngọc (Hồn bớm mơ tiên) tuy không thể thắng đợc

sức mạnh tôn giáo nhng những đợt sóng tình cảm của đôi trai gái nơi dâng

h-ơng, nơi cầm nguyệt của Phật đờng thật mạnh mẽ Đỉnh cao là sự chấp nhậnyêu đơng sau những lần chối từ, lẩn tránh của Lan Và tất cả chỉ dừng lại ở

đấy Khái Hng mạnh dạn đề cao tình yêu tự do ngay ở nơi linh thiêng, trangnghiêm nhất của thánh địa Phật đờng

Khẳng định hạnh phúc thực sự của tình yêu đôi lứa, đó là niềm vui,quyền sống của con ngời Khái Hng cũng chỉ ra sự khao khát của con ngờimuốn đợc quyền hởng hạnh phúc mà tạo hoá ban tặng cho mỗi con ngời, mỗicuộc đời Tiếp tục chủ đề tình yêu tự do và hạnh phúc cá nhân, những tiểu

thuyết tiếp theo nh: Đoạn tuyệt, lạnh lùng, Nửa chừng xuân, Thoát ly, thậm chí cả Trống mái, Đời ma gió đều đề cao tình yêu tự do một cách công khai,

rõ ràng hơn

Đối xứng với những cảnh khổ đau của Loan (Đoạn tuyệt) trong gia đình

nhà chồng, là những cảnh đẹp mơ ớc chiếu sáng tâm hồn nàng Đối xứng vớithân phận nàng dâu của Loan là mối tình với Dũng Đối xứng với không gian

u uất trong gia đình bà Phán là không gian cuộc đời tự do của Dũng Về một

phơng diện rất phơng Đông, tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh đợc cấu

trúc bằng những cặp đối xứng nh vậy; có nghĩa là tiếng gọi “Vấn đề tình yêuthoát ly” vẫn âmvang khắp tác phẩm Cũng có thể nói, nó gồm những vang vọng, những bức

Trang 32

tranh, những tiếng nói đối đáp nhau Loan và Dũng là hai tâm hồn tơng hợp,trái tim của ngời này là vang vọng của trái tim ngời kia Dũng giữ tấm ảnh củaLoan, Loan giữ mảnh gơng con của Dũng Tiếng pháo nổ ngày 30 tết của

Dũng trên núi rừng xa xôi Cảnh toà án, đỉnh điểm của luận đề Đoạn tuyệt, sẽ

có tiếng đáp lại của Dũng, cảnh Dũng phóng xe ô tô trên đờng rừng Yên Bái,

đỉnh điểm của những giấc mơ đẹp

Những trang viết về tình yêu giữa Loan và Dũng là chân thực, cảm

động Chính điều đó góp phần nâng cao tính cách của Loan Hơn nữa, trongtình yêu, Loan cũng chủ động, dù bị cha mẹ ép gả cho một gia đình khác,Loan vẫn ngấm ngầm chống đối bằng tình yêu âm thầm tha thiết với Dũng

Kể cả khi về nhà chồng theo lời của bố mẹ, Loan vẫn yêu Dũng nhng khôngquên trách nhiệm với gia đình nhà chồng và Loan cũng có ý thức gây dựngcho mình một mái ấm gia đình riêng Trong quan hệ với Dũng, Loan không có

cử chỉ hay hành động nào vi phạm vào đạo lý vợ chồng và gia đình Ta trântrọng tình yêu đó Tình yêu của Dũng mang đến cho Loan hạnh phúc thực sựcho dù họ cha một ngày sống bên nhau

Hành vi của Nhung (Lạnh lùng) biểu lộ sự bùng nổ của tâm hồn lẫn thể

xác Ta công nhận ái tình giữa Nhung và Nghĩa rất chính đáng, hợp với lẽphải, đợc luân lý và xã hội chấp nhận Đó là một mối tình đẹp đẽ thơ mộng,

nó sẽ bù đắp cho cuộc đời bất hạnh thiếu thốn về mặt tình cảm trớc đó củaNhung Tình yêu đó sẽ đem đến cho một mái ấm gia đình toại nguyện Cónhững lúc, Nhung đã lột bỏ đi tấm bình phong “Vấn đề tình yêuTiết - Hạnh - Khả - Phong” để

đi theo tiếng gọi của con tim, đi theo tình yêu đang vẫy gọi, hạnh phúc riêng t

và nàng cũng thấy mình có quyền đợc hởng hạnh phúc Nàng không thể chấpnhận sự chôn vùi tuổi xuân trong sự thủ tiết giả dối man trá Nhung đã có ýnghĩ thoát ly, “Vấn đề tình yêumột quan niệm mới đặt nhân đạo lên trên luân thờng” để xâydựng cho mình một hạnh phúc riêng t bên ngời mình yêu

Tuy nhiên, một điều ở Nhung nhiều khi khát khao tình yêu vợt quá giớihạn cho phép khi Nhung quá tự nhiên mạnh bạo ngang nhiên hẹn hò và ănnằm cùng Nghĩa, mong mình có thai để hợp pháp thoát khỏi gia đình nhàchồng Có những lúc nàng nghĩ suy về những việc làm bất chính và thậm chímột ngời con dâu với tấm bình phong “Vấn đề tình yêuTiết - Hạnh - Khả - Phong”, sự đoantrang, mẫu mực khuôn thớc của một nàng dâu thảo hiền cũng có lúc phải lêntiếng “Vấn đề tình yêucon có quyền đi lấy chồng” Tuy nhiên, đó chỉ là sự thức tỉnh bột phát

Trang 33

trong giây lát chứ không mang lại một kết quả tốt đẹp cho Nhung Kết cục, sựthức tỉnh ý thức cá nhân, về hạnh phúc tình yêu vừa đợc nhen nhóm trongNhung đã nhanh chóng bị dập tắt

ý thức của Nhung đã bị lễ giáo phong kiến chặn lại Trong t tởng, nàngnhận thấy sự đèn nén của cái xã hội nhỏ quanh mình thật khốc liệt: “Vấn đề tình yêuDẫu sao

có quyền hay không cũng thế thôi, vì nàng biết rằng mình vẫn có quyền bỏ đilấy chồng, nhng còn có cái khác mạnh hơn ngăn cấm Có quyền đi lấy chồngnhng nếu lấy chồng thì hoá ra một ngời mất hết hạnh phẩm, một ngời đi theotrai” [122] Nàng bị cột chặt trong vị trí của một ngời con dâu hiếu thảo, đứchạnh, nết na, đợc mọi ngời hết sức ca tụng (và nhất là bà mẹ chồng) Bởi vậy,suốt cuộc đời của nàng, nàng phải sống trong tiếng thơm hão mà ngời ta hếtlòng gắn kết cho nàng Nhung biết điều đó là vô lí nhng Nhung đã khôngquyết liệt và cuộc đời của nàng đã bị khuôn theo hoàn cảnh đã định Ngời đọccũng hiểu cho Nhung, một ngời đàn bà goá khi còn quá trẻ, khi mà độ khátkhao yêu đơng luôn bùng cháy trong ngời con gái bất hạnh ấy Cái quan trọng

là qua nhân vật Nhung, Khái Hng một lần nữa khẳng định con ngời ta sốngtrên đời không thể thiếu tình yêu thơng Đã là con ngời thì không thể khôngyêu cho dù là goá bụa Nhung luôn vơn tới đòi hỏi sự tự do và khát khao tìnhyêu tự do Đó là một lý do chính đáng của Nhung Nếu Nhung không to tiếng

đòi tự do, hạnh phúc riêng t thì hình ảnh nhân vật Nhung sẽ không có cá tính,không có gì nổi trội ngoài chuyện Nhung là ngời con dâu mẫu mực, nó sẽ trởnên nhợt nhạt và tác phẩm sẽ thiếu sức sống Khái Hng đã làm một việc cầnthiết và có ý nghĩa cổ vũ cho tự do, hạnh phúc của con ngời

Hồng (Thoát ly) cũng mong muốn có một tình yêu, một tình yêu chân

thành, trong sáng mà không phải là một tình yêu gạ bán hay ép buộc bởi mumô lợi danh theo ý đồ của ngời dì ghẻ Hồng vui vì mỗi lần đợc lên Hà Nội, đ-

ợc gặp ngời yêu nhng tình yêu đó là tình yêu bất hạnh vì những thủ đoạn thâm

độc của ngời dì ghẻ Cuối cùng, Hồng cũng đã đợc sống trong tình yêu tự do,

dù tình yêu đó chỉ lớt qua thoáng chốc nhng nó đã thắp sáng cuộc đời đầybóng đen của Hồng, làm cho Hồng cảm nhận đợc thế nào là ý nghĩa tình yêutrong cuộc đời ngắn ngủi của mình

Mai (Nửa chừng xuân) kiên quyết bảo vệ hạnh phúc tình yêu tự do

cũng nh bảo vệ nhân phẩm của mình đến cùng Ngay từ đầu, nàng đã ý thức

đ-ợc là nàng không thể nhận tiền của Lộc vì nàng cho rằng “Vấn đề tình yêungời ta thơng nên

Trang 34

ngời ta cho”, thì đó là lòng tự trọng của Mai cho đến tận cuối tác phẩm khi

Mai quyết định không trở về chung sống với Lộc

Mai vốn là một cô gái thông minh, nhanh nhẹn và đợc hấp thụ một nềngiáo dục nho học nên rất nhạy cảm với sự tự ý thức về mình Yêu Lộc và đã cócon với Lộc nhng khi đợc bà án hỏi cới về làm vợ lẽ cho Lộc thì Mai đãkhông ngần ngại nói thẳng vào mặt bà án là “Vấn đề tình yêunhà tôi không có mả lấy lẽ”[359] Đó không chỉ là hành động phản kháng của Mai trớc thế lực phongkiến, với chế độ đa thê mà còn là sự ý thức đầy đủ về quyền bình đẳng trongtình yêu hôn nhân của ngời phụ nữ

Nàng đã kiên quyết không làm vợ lẽ Hàn Thanh, dù hắn là một cự phútrong khi gia đình nàng đang sa sút, kiệt quệ, từ chối cả việc làm lẽ Lộc saubao nhiêu năm âm thầm chờ đợi trong mỏi mòn Với con ngời nh Mai, nàngthà ở vậy nuôi con để sống một cuộc đời tự do, tự tại còn hơn là cuộc sống của

kẻ nô lệ, sống cuộc sống của con sen nàng hầu Điều đó thể hiện ở t tởng tự do

đến cùng của Mai: “Vấn đề tình yêuLàm cô thợng không bằng làm chị xã, chị bếp, chị bồi mà

đợc một vợ một chồng, yêu mến nhau, khi vui có nhau, khi buồn có nhau, khihoạn nạn có nhau” [216] Trong tâm trạng rối bời khi Mai bị bà án buộc nàngphải rời khỏi Lộc, Mai vẫn trả lời bà án một cách không bối rối: “Vấn đề tình yêuBà lớn cứyên lòng Trong năm điều nhân, lễ, nghĩa, trí, tín bà lớn viện ra lúc nãy có hai

điều tôi tôn trọng nhất là nhân và tín” [126] Và nàng đã từ bỏ Lộc ra đi đểsống cuộc đời riêng của mình

Mai chung thuỷ với tình yêu của Lộc, sẵn sàng hy sinh tất cả cho tìnhyêu cao cả đó nhng nàng không thể chấp nhận cảnh “Vấn đề tình yêuchồng chung vợ chạ” mà

đánh mất đi sự tự do cũng nh lòng tự trọng Cũng vì ý thức đợc mình mà Mai cựtuyệt tất cả Mai cự tuyệt Minh (thầy thuốc) và Bạch Hải (hoạ sĩ) để một lòngyêu Lộc, chứng tỏ nàng đủ tỉnh táo để quyết định cuộc đời mình Nàng cự tuyệtnhững ân huệ mà lẽ ra nàng có thể sống một cuộc đời sung sớng Cái cần củaMai là danh dự, là tình thơng con ngời, nhân phẩm và lơng tri, là tình yêu tự dovới cuộc sống hạnh phúc gia đình Nàng đã chọn cho mình một cuộc sống đạmbạc bên ngời em trai và bên ngời con trai của mình

ở một khía cạnh khác, Mai cũng là một ngời con gái khuôn thớc, biết

đặt lý lẽ trên lễ nghi thông thờng và biết tự bảo vệ mình Mai dẫu đã có convới Lộc, dẫu vẫn yêu Lộc tha thiết, dẫu đã đợc bà án năn nỉ cũng không muốntrở về sống chung với Lộc nữa vì một lẽ là Lộc đã có vợ khác Bà án gọi Mai

Trang 35

về chỉ vì Mai có đứa con trai kháu khỉnh và vợ Lộc thì sinh nở chẳng đậu Nhvậy, có thể thấy thái độ của Mai là một khía cạnh chống chế độ đa thê và làmột cách bảo vệ tình yêu lý tởng.

Tự do trong yêu đơng, không chịu khuất phục lễ giáo phong kiến màcam phận “Vấn đề tình yêuKẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng”, kiên quyết tự lập để bảo vệ tìnhyêu lý tởng mà có đợc tự do, đó là những gì ta thấy ở Mai Mai đã từ chối vềsống với Lộc cho dù Lộc đã hết lời van xin, điều đó càng thể hiện tình yêu củaMai là tình yêu gắn với lòng tự trọng, sự thuỷ chung trong tình yêu và cũng là

sự tự do, tự nguyện trong tình yêu

Quan niệm tình yêu tự do của Tuyết (Đời ma gió) lại là một khía cạnh

khác ở đó, tình yêu không tồn tại với t cách là tình yêu chân chính đích thực,

trong sáng, cao thợng nh tình yêu ở trong các tiểu thuyết của của Tự lực văn

đoàn ở giai đoạn đầu Quan niệm tình yêu ở đây đợc đẩy lên ở một mức độ

cao hơn về ý thức tự do với sự không bị ràng buộc bởi bất cứ nguyên tắc nào

Tình yêu trong quan niệm của nhân vật Tuyết là một tình yêu khôngtình, không cảm, không bị ràng buộc bởi bất cứ một lễ nghi hay sự ép buộcnào, nó nằm ngoài quy luật chung Tình yêu đối với Tuyết chỉ là sự đi tìmkiếm những cái mới lạ có sức cám dỗ trong những khoái cảm tạm bợ khôngbền vững Sự tự do của Tuyết trong tình yêu là cuồng si trâng tráo, buông thả,

có thể yêu nhiều ngời, có nhiều tình nhân, không nặng tình và không chungthuỷ Tuyết yêu chỉ để mà yêu Tình yêu đối với Tuyết nh trò giải trí vui thúthoả mãn trí tò mò theo bản năng, không tiến tới hôn nhân cũng nh hạnh phúc

đôi lứa

Nh vậy, tình yêu tự do, tự nguyện là một vấn đề đợc các nhà tiểu thuyết

Tự lực văn đoàn quan tâm thể hiện ở các mức độ khác nhau trong quan niệm

về tình yêu và hôn nhân gia đình, các nhà văn đã góp vào tiếng nói chungtrong việc đề cao tự do trong tình yêu Đó là tiếng nói đề cao cho sự giảiphóng con ngời cá nhân và là một khía cạnh chống đối lại những tập tục vềhôn nhân của lễ giáo phong kiến

2.1.3 Quan niệm về tình yêu lý tởng, tình yêu trong thế giới tinh thần

Các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn quan niệm tình yêu không nhất

thiết phải gắn với hôn nhân Tình yêu chỉ là trò chơi ú tìm mà hai ngời tởng

nh đã gặp đợc nhau nhng lại rất xa xôi Họ yêu nhau nhng vì một lý do kháchquan nào đó mà không thể đến đợc với nhau Họ chấp nhận chia tay nhng

Trang 36

trong họ nguyện sống xứng đáng với ngời mình yêu, sẽ yêu nhau mãi mãitrong thế giới tinh thần.

Phần lớn những tác phẩm nói về tình yêu đều kết thúc nh vậy Chuyệnkết thúc nhng lại mở ra một chiều hớng mới Đây cũng là lối kết thúc mang

đậm yếu tố lãng mạn đơc lặp lại nhiều trong những tác phẩm nh Hồn bớm mơ tiên, Nửa chừng xuân, thậm chí là một tiểu thuyết luận đề mang tính hiện thực sâu sắc đợc xem là “Vấn đề tình yêubản tuyên ngôn nhân quyền” nh Đoạn tuyệt.

Tình yêu giữa Lộc và Mai (Nửa chừng xuân) lúc đầu là một tình yêu

đẹp Tởng nh tình yêu đó mãi mãi êm đềm nh mặt hồ thu phẳng lặng Một tổ

ấm gia đình hạnh phúc bên hồ Trúc Bạch Đặc biệt là Mai, một cô gái thônquê, có phần thiếu thốn tình cảm, cô luôn sống trong sự thôi thúc của trái tim,sống hết mình cho tình yêu Tình yêu của Mai là tình yêu biết lắng nghenhững đợt sóng lòng thôi thúc, lắng nghe những gì trái tim mình mách bảochứ không để tâm gì đến lễ nghi luân thờng đạo lý chật hẹp Mai yêu với mộttình yêu đằm thắm nồng nàn và tin tởng Mai đã để cho tình yêu đợc thănghoa và sống theo tiếng gọi của lòng mình Đó chính là quan niệm mới về tìnhyêu, hạnh phúc của con ngời cá nhân trong thời đại mới Tởng chừng nhkhông có gì có thể chia rẽ đợc đôi uyên ơng nồng thắm đó, nhng một luồngcuồng phong của quyền nghi gia đình đã cắt đứt mối tình của họ Cho dù họ

đã có sợi dây ràng buộc là đứa con trai Sự không quả quyết để bảo vệ tình yêutới cùng của Lộc đã dẫn hai ngời mãi mãi phải xa nhau Phan Cự Đệ, Bạch

Năng Thi trong cuốn “Vấn đề tình yêuVăn chơng Tự lực văn đoàn ” (tập 2) đã viết: “Vấn đề tình yêuKhái Hngmuốn xây dựng một nhân vật lý tởng, Mai, dẫu đã đợc bà án yêu cầu cũngkhông muốn trở về sống chung với Lộc nữa sự đã lỡ, Lộc đã có vợ rồi, vớilòng tự trọng, Mai không thể về làm vợ bé Bà án gọi Mai về chỉ vì Mai có

đứa con kháu khỉnh và vợ Lộc sinh nở chẳng đậu Thái độ của Mai là một khíacạnh chống chế độ đa thê và là một cách bảo vệ tình yêu lý tởng”

Không những vậy, Mai nhất quyết không trở về sống cùng với Lộc nữavì cái cảnh đời hiện tại không thể cho nàng một cuộc sống đúng nghĩa một vợ,một chồng Hơn thế, nàng không muốn vì nàng mà nhiều ngời khác phải khổluỵ Nếu Mai đồng ý trở về sống cuộc đời vợ chồng với Lộc thì sự tái hợp đórất tầm thờng, để tính tình hai ngời đợc cao thợng nên tình yêu giữa hai ngờihoá ra tình yêu lý tởng, chuyển thành tình yêu xã hội rộng lớn hơn nh lời củaLộc Tác giả viết:

Trang 37

“Vấn đề tình yêuNhng em ạ, sao anh không nghĩ tới xã hội, đem hết nghị lực, tài trí ralàm việc cho đời Rồi thỉnh thoảng hởng một vài giờ th nhàn mà tởng nhớ tới

em, mà yêu dấu cái hình ảnh dịu dàng của em, cái linh hồn cao thợng của em.Trời ơi! Anh sung sớng quá, anh trông thấy con đờng tuơng lai sáng sửa củaanh rồi Đời anh từ nay sẽ không riêng gì của anh nữa Anh sẽ vì ngời khác,anh sẽ bỏ cái an nhàn phú quí mà dẫn thân vào một cuộc đời gió bụi Anh đãtrông thấy hiện ra trớc mắt những sự cơ cực lầm than đang đợi anh Nhng anhkhông ngại,vì có em” [407] Và rồi: “Vấn đề tình yêuChúng ta sẽ xa nhau, mỗi ngời sốngriêng một cuộc đời Đời em, anh chắc sẽ đợc yên lặng Còn đời anh, anh nóisắp sửa đổi khác hẳn, anh cha biết rồi nó sẽ ra sao Anh chỉ biết anh mãi mãi

đợc sung sớng, vì anh tin rằng ngày ngày, tháng tháng lúc nào em cũng âuyếm nghĩ đến anh, nh thế cũng đủ an ủi anh rồi Em ở xa anh, nhng tâm tríhai ta lúc nào cũng gần nhau, thì trọn đời hai ta vẫn gần nhau” [407]

Cũng nh trong Hồn bớm mơ tiên, Khái Hng kết thúc câu chuyện tình yêu khác thờng khi Ngọc chia tay Lan mà tâm tởng luôn hớng về nhau “Vấn đề tình yêuHồn bớm mơ tiên ca tụng ái tình, ái tình thanh sạch, chung thuỷ, ấy là dạo lên một

khúc nhạc đợc thanh niên mong chờ, và một lý tởng cao cả bao trùm nhân loại

và vũ trụ mà không loại trừ tình yêu” [70]

Ngọc (Hồn bớm mơ tiên), khi biết không thể nào đến đợc với Lan bởi

sự ngăn cản của tôn giáo quá lớn cũng mở rộng tình yêu ra đến xã hội, đếnnhân loại:

“Vấn đề tình yêuTôi xin thề với Lan rằng tôi giữ đợc mãi nh thế Tôi viện Phật tổ thềvới Lan rằng suốt trong đời tôi, tôi sẽ chân thành thờ ở trong tâm trí, cái dịudàng trong tâm hồn của Lan” “Vấn đề tình yêuNghĩa là suốt đời tôi, tôi không lấy ai, chỉsống trong cái thế giới mộng ảo của ái tình lý tởng, của ái tình bất vong bấtdiệt

Lan hai dòng nớc mắt đầm đìa, dịu dàng bảo bạn:

- Không đợc, còn gia đình của ông?

Ngọc lạnh lùng:

- Gia đình! Tôi không có gia đình nữa Đại gia đình của tôi nay là nhânloại, là vũ trụ, mà tiểu gia đình tôi là hai linh hồn của đôi ta, ẩn núp dớibóng từ bi Phật tổ” [99] Và rồi “Vấn đề tình yêuYêu là một luật chung của vạn vật, mà là bảntính của Phật giáo Ta yêu nhau, ta yêu nhau trong linh hồn, trong lý tởng.Phật giáo cũng chẳng cấm ta yêu nhau nh thế” [99]

Trang 38

Những tiểu thuyết của Khái Hng thờng kết thúc một cách lạc quan, dễdãi và chứa đầy yếu tố lãng mạn Những mâu thuẫn giữa tình yêu và tôn giáo,tình yêu lứa đôi và đại gia đình phong kiến thờng đợc giải quyết bằng một thứ

lý tởng mơ hồ, không tởng nhuốm đầy màu sắc chủ quan Hồn bớm mơ tiên, Nửa chừng xuân là những tác phẩm nh vậy.

Cũng lối kết thúc câu chuyện bằng tình yêu lý tởng nh vậy nhng Đoạn tuyệt có hậu hơn cho nhân nhân vật Loan - một ngời phụ nữ đã tự mình đứng

lên giải phóng bản thân ra khỏi những ràng buộc của gia đình phong kiến, tìmlại tự do, tình yêu và hạnh phúc cho cuộc đời mình Mối tình của Loan vàDũng cuối cùng cũng đợc giải quyết qua bức th mà Dũng đã nhờ Thảo đa choLoan Đó là một lý do chính đáng để Loan có thể hoàn toàn tự do lựa chọnhạnh phúc riêng t Chuyện kết thúc khi tất cả vẫn đang còn bỏ ngỏ, ngời đọcdờng nh cũng chỉ đoán định câu chuyện giữa Dũng và Loan có về sống bênnhau trọn đời hay không nh những lời Dũng viết trong th gửi cho Thảo:

“Vấn đề tình yêuNhng đời em là một đời xuôi ngợc, lênh đênh, không biết Loan cónhận lời sống nh em không Đó là mối lo ngại của em; em không muốn vì em

mà Loan phải chịu khổ một lần nữa Nhng việc này là việc về sau, em mong

rằng ý nguyện của hai ngời rồi cũng có thể giống nhau đợc” [353] Về phía

Loan khi đọc th Dũng “Vấn đề tình yêuLoan muốn về nhà để đợc yên tĩnh nghĩ đến cái sungsớng của mình Nàng nh ngời say, mở cửa ra ngoài, quên cả chào Lâm vàThảo” [353] Và câu chuyện kết thúc trong cảm giác ngập tràn tình yêu, hạnhphúc và sự tin tởng vào một tơng lai tốt đẹp của Loan: “Vấn đề tình yêuHiện giờ có một ngờisung sớng Ngời đó đơng đi ngoài ma gió, quên cả ma ớt, gió lạnh ” [354]

Đối diện với hiện thực xã hội nhiều bất công và ngang trái nh xã hộiphong kiến, giải quyết vấn đề bằng con đờng tình yêu lý tởng, trong thế giới

tinh thần mang đậm màu sắc lãng mạn cũng là một cách để các nhà văn Tự lực văn đoàn tìm lối thoát cho nhân vật của mình Vì lẽ đó, nhiều nhân vật đợc

phóng thích khỏi sự kiềm toả của những luật lệ khắt khe để thoả thích trongthế giới tự do, lạc quan và tin yêu vào cuộc sống

2.1.4 Quan niệm về tình yêu mang t tởng thực dụng, hởng lạc

Vũ Đức Phúc đã từng cho rằng: “Vấn đề tình yêuVăn học Tự lực văn đoàn là sự thể

hiện nhiều khuynh hớng tiêu cực khác nhau: Ham mê thanh sắc; thích đigiang hồ tìm cảm giác mới lạ; say sa trong tình yêu không cần tới hôn nhân;

ca ngợi cuộc sống trụy lạc, nếu không có điều kiện thực hiện một cuộc sống

Trang 39

đầy trụy lạc nh thế thì mơ ớc về cõi tiên, về quá khứ, mong tìm ở đó rợu thơ và

gái đẹp” [80 42].

Với tiểu thuyết Trống mái của Khái Hng, quan niệm về tình yêu có vẻ

phóng khoáng, thanh thoát hơn trong những tác phẩm trớc đó Hiền thích Vọivới thân hình lực lợng, vẻ đẹp của chàng trai đánh cá, có lúc yêu nhng khôngmuốn tiến tới hôn nhân vì Hiền, một cô gái thuộc hạng phong lu quyền quý,

có những t tởng mới trong tình yêu và hôn nhân gia đình Cô chỉ muốn giữtrong tim hình ảnh đẹp của Vọi nh một thần tợng, lấy nhau, cách biệt về cuộcsống, không còn đẹp đôi

Hiền của Khái Hng là nhân vật đầu tiên biểu hiện cho lối sống buôngthả và thiếu trách nhiệm với bản thân, với ngời khác Hiền không phải là mẫungời “Vấn đề tình yêuvui vẻ trẻ trung” mà đó là con ngời cá nhân bất chấp những chuẩn mực

đạo đức truyền thống để thoả mãn những dục vọng của mình Tình yêu đối vớiHiền là lông bông phù phiếm và pha chút liều lĩnh: “Vấn đề tình yêuXa nay nàng vẫn haynghĩ tới những việc khác thờng, thích làm những việc ngời ta không làm đợchoặc không dám làm” [76] Vì thế, bất chấp tất cả những lời dè bỉu của bạn

bè, Hiền đã mời Vọi, một anh chàng nhà quê chân chất, khác đẳng cấp xã hộivới Hiền, đi chơi, đi tắm biển và đi dự sinh nhật giữa đám bạn bè thành phốsang trọng của cô Nhng những hành động đó của Hiền chỉ nhằm thoả mãnvới ý thích lãng mạn nhất thời trớc đám bạn của mình

Đã có những lúc Hiền cảm về Vọi, nghĩ về anh chàng đánh cá với bảntính thơ ngây thật thà chất phác, có cái gì đó rất hoang sơ nhng chàng khôngphải là đối tợng cho Hiền hớng tới, càng không thể yêu vì sự khác nhau về

đẳng cấp cũng nh vị trí xã hội của hai ngời là quá cách biệt nhau Đối vớiHiền, Vọi cũng chỉ là một ngời tội nghiệp, đáng thơng Hiền chỉ cảm nhận vềVọi nh ngời ta thích ngắm những đồ dùng vật dụng a thích rồi cũng có lúcchán: “Vấn đề tình yêuNhng hình nh bây giờ ta cha yêu ai, kể cả anh chàng đánh cá chất phác

thơ ngây, vậy hãy xếp câu chuyện triết lý ấy vào một xó” [80].

Mơ ớc của Hiền là đợc đi ra khơi cùng Vọi vì nghĩ rằng đó là nhữngcuộc đi chơi đầy lạc thú: “Vấn đề tình yêuPhải, những cuộc đi chơi đầy lạc thú Vọi thờng kểcho nàng nghe Nàng vẫn ớc đi một chuyến xem sao, đi để đợc nếm những

đêm trăng, ngủ trên những chiếc chiếu mỏng bồng bềnh, để đợc ăn những bátcơm hẩm chan canh cà luộc với nớc biển, nhất là cùng đợc bạn trai trẻ lực l-ỡng vừa hát nghêu ngao vừa kéo lới” [76]

Trang 40

Hiền say mê vẻ đẹp thân hình Vọi nhng đó cũng là sự say mê để thoảmãn bản năng chiêm ngỡng một pho tợng thiên nhiên: “Vấn đề tình yêuNàng thấy hiện ra mộtnhà lực sĩ cờng tráng, mỹ lệ nh một pho tợng cổ Hi Lạp” [23] Và dù mê thânhình Vọi đến đâu đi nữa, Hiền vẫn luôn nhớ về địa vị của mình: “Vấn đề tình yêuHiền mơmàng nh thấy Vọi hiện ra trớc mắt với tấm thân cân đối nở nang, nhng tấmthân ấy không làm cảm động đợc lòng nàng nh trớc nữa Và nàng nghĩ thầm:Cái đẹp về hình thức khó cảm đợc trái tim của một ngời có trí thức, nếu cái

đẹp hình thức ấy không chứa một tâm hồn tơng đơng” [160] Mặc dù có lúcHiền quan niệm: “Vấn đề tình yêuMuốn bình đẳng, phải đồng đẳng Mà trớc hết, cần nhấtphải đồng đẳng về thân thể tráng kiện” [16]

Với Hiền, tất cả chỉ là nhất thời, và rồi tất cả nh một trò đùa, một tròchơi ú tim Tình yêu không hiện diện và tồn tại trong thế giới đó của Hiền Mànếu có thì đó cũng chỉ là một thứ tình yêu mang đầy sự tính toán, hởng lạc,thực dụng để thoả mãn những ý thích bồng bột ích kỷ nhất thời trong con ngờicô Rốt cuộc, Vọi chỉ là vật hy sinh trong “Vấn đề tình yêutrò chơi tình yêu” của Hiền

Nếu ở Hiền (Trống mái) còn có điểm dừng trong tình yêu thì Tuyết (Đời ma gió) của Khái Hng và Nhất Linh đã thể hiện rất rõ đặc tính liều lĩnh,

buông thả trên một cấp độ cao hơn Dờng nh nhân vật này cứ trợt dài trên condốc tình ái mà không có điểm dừng hay không thể dừng, kể cả đến lúc chấmdứt cuộc đời trong sự cô đơn và tủi nhục, ở cô vẫn không chút mảy may vềhạnh phúc tình yêu, trách nhiệm cuộc sống gia đình

Viết Đời ma gió, Khái Hng và Nhất Linh không quan tâm đến những

nỗi đau khổ của những cô gái lơng thiện bị dồn vào hoàn cảnh khốn cùng Họmiêu tả cô gái giang hồ với triết lí sống cá nhân hởng lạc, buông thả vô tráchnhiệm với tình yêu thực dụng hoàn toàn

Tuyết là một mẫu hình mới, sản phẩm mới của lối ăn chơi trác táng.Tuyết vốn là một cô gái trong một gia đình giàu có Trong chuyện tình duyênbuổi đầu, Tuyết bị ép buộc và không đợc tự do lựa chọn hạnh phúc cho cuộc

đời mình nên cô không yêu chồng và bỏ gia đình đi theo tiếng gọi của ái tình

Để rồi, cuộc đời của Tuyết từ một cô gái có nhan sắc, linh hoạt nhng những

ảnh hởng của sách báo lãng mạn, thói quen của một lối sống phóng đãng tự do

mà Tuyết tôn thờ đã đẩy Tuyết vào cuộc đời ma gió Tuyết xem đó là môi ờng sống thật của mình

Ngày đăng: 22/12/2013, 14:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học và sự phát triển”, Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học và sự phát triển”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
2. Vũ Tuấn Anh - Bích Thu (Chủ biên - 2001), “ Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam”, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm vănxuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học
3. Lại Nguyên Ân (1999), “ 150 thuật ngữ văn học ”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
4. M.Bakhtin (1992), “ Lý luận và thi pháp tiểu thuyết ”, (Phạm Vĩnh C dịch), Trờng viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1992
5. Huy Cận (1989), “Tự lực văn đoàn đã có đóng góp lớn vào văn học Việt Nam”, Đặc san báo Giáo viên Nhân dân, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự lực văn đoàn đã có đóng góp lớn vào văn học Việt Nam”, Đặc san báo "Giáo viên Nhân dân
Tác giả: Huy Cận
Năm: 1989
6. Hồ Biểu Chánh (1930), “ Con nhà nghèo ”, Đức Lu Phơng xuất bản, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con nhà nghèo
Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Năm: 1930
7. Hồ Biểu Chánh (1938), “ Cha con nghĩa nặng ”, Đức Lu Phơng xuất bản, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cha con nghĩa nặng
Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Năm: 1938
8. Nguyễn Huệ Chi (1996), “ Hoàng Ngọc Phách - Đ ờng đời - Đờng văn”, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Ngọc Phách - Đờng đời - Đờng văn
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996
9. Nguyễn Huệ Chi (2008), “ Thử định vị Tự lực văn đoàn ”, Tham luận ở Hội thảo Tự lực văn đoàn tại Cẩm Giàng ngày 9.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử định vị Tự lực văn đoàn"”, Tham luận ở Hội thảo "Tự lực văn đoàn
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 2008
10. Tô Đức Chiêu (2002), “Bến bờ của tiểu thuyết”, Tạp chí Nhà văn, Hội nhà văn, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bến bờ của tiểu thuyết”, Tạp chí "Nhà văn
Tác giả: Tô Đức Chiêu
Năm: 2002
11. Trơng Chính (1957), “ L ợc thảo văn hoc Việt Nam” (tập 3), Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợc thảo văn hoc Việt Nam
Tác giả: Trơng Chính
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 1957
12. Trơng Chính (1988), “Về đánh giá Tự lực văn đoàn”, Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đánh giá Tự lực văn đoàn”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Trơng Chính
Năm: 1988
13. Trơng Chính (1989), “Tự lực văn đoàn”, Báo Giáo viên Nhân dân số đặc biệt, (27, 28, 29, 30, 31) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự lực văn đoàn”, Báo "Giáo viên Nhân dân
Tác giả: Trơng Chính
Năm: 1989
14. Trơng Chính (1990), “Nhìn nhận lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn”, Tạp chí Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn nhận lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Trơng Chính
Năm: 1990
15. Oh Eun Chol (2000) , “Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Gia đình của Khái Hng (Việt Nam) và tiểu thuyết Ba thế hệ của Yom Sang Sop (Hàn Quốc)”, Tạp chí Văn học, (11), tr. 69 -74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Gia đình của Khái Hng (Việt Nam) và tiểu thuyết Ba thế hệ của Yom Sang Sop (Hàn Quốc)”, Tạp chí "Văn học
16. Đỗ Chu (2002), “Tiểu thuyết, một thách thức không dễ vợt qua”, Tạp chí Nhà văn, Hội Nhà văn Việt Nam, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết, một thách thức không dễ vợt qua”, Tạp chí "Nhà văn
Tác giả: Đỗ Chu
Năm: 2002
17. Nguyễn Văn Dân (2004), “ Ph ơng pháp luận nghiên cứu văn học”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
18. Đỗ Hoàng Diệu (2005), “ Bóng đè ” (tập truyện ngắn), Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bóng đè
Tác giả: Đỗ Hoàng Diệu
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
19. Trơng Đăng Dung (1998), “ Từ văn bản đến tác phẩm ”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm
Tác giả: Trơng Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
20. Trơng Đăng Dung (2004), “ Tác phẩm văn học nh là một quá trình”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học nh là một quá trình
Tác giả: Trơng Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w