Khi bàn về phẩm chất dân tộc trong Truyền kỳ mạn lục, tác giả nhấn mạnh: “Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục đã mở đầu một cách đích thực khuynh h-ớng văn học nêu cao tinh thần dân tộc qua
Trang 1
Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh -
Trang 2
Chơng 1 Vị trí của nhân vật nữ trong hai tác phẩm 6
nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ ở hai tác phẩm 65
3.2 Vai trò của chất liệu văn học dân gian đối với xây dựng nhân vật nữ 74
Kết luận 84
Tài liệu tham khảo 87
Trang 3đời Minh và truyền thuyết, chí quái Việt Nam Riêng Tiễn đăng tân thoại
không chỉ đợc tiếp thu ở Việt Nam mà cả ở Triều Tiên và Nhật Bản, nhng theonhiều nhà nghiên cứu thì sự tiếp thụ của Nguyễn Dữ là thành công nhất.Nghiên cứu đề tài này góp phần làm rõ sự tiếp thụ một cách sáng tạo đó
1.2 Nghiên cứu những sự tơng đồng và khác biệt của nhân vật nữ ở haitác phẩm sẽ thấy đợc vai trò của nhân tố đời sống lịch sử xã hội và truyềnthống của văn học dân gian đối với hai tác phẩm này
1.3 Thời phong kiến, địa vị của ngời phụ nữ trong xã hội hết sức khiêmtốn, vì vậy hình ảnh của họ trong văn học những thế kỷ đầu cũng không nổi
bật Nghiên cứu đề tài này để có thêm cơ sở để khẳng định giá trị của Truyền
kỳ mạn lục và đóng góp của Nguyễn Dữ trong việc thể hiện hình tợng phụ nữ
trong văn học trung đại Việt Nam
1.4 Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá trong số những tác phẩm sử dụng
chất liệu của Tiễn đăng tân thoại thì Truyền kỳ mạn lục tính chất dân tộc đậm
đà nhất Nghiên cứu đề tài sẽ thấy đợc vai trò của nhân vật nữ trong việc gópphần tạo nên phẩm chất này ở tác phẩm của Nguyễn Dữ
2 Lịch sử vấn đề
ở phần này chúng tôi điểm lại những ý kiến của ngời đi trớc liên quan
đến những vấn đề trong đề tài nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục đã đợc đánh giá
cao ngay thời kỳ tác phẩm ra đời Và hiện nay, các tác giả thời hiện đại tiếp
Trang 4ở chỗ đã tố cáo đợc bề mặt xã hội thời đó mà còn ở chỗ đã bớc đầu phê phánnhững ràng buộc của xã hội phong kiến đối với ngời phụ nữ” [21, 256] Tácgiả khẳng định “Chán ghét cảnh thối nát của quan trờng, ông (Nguyễn Dữ) m-
ợn văn chơng để vạch trần những xấu xa, những tội ác của giai cấp thống trị,
tố cáo những thói tệ đơng thời và đồng thời cũng nói lên đợc một phần nỗi đau
đớn xót xa của những con ngời bình thờng, đặc biệt là phụ nữ” [21, 261]
Giáo trình Văn học Việt Nam từ thế kỷ X - đến giữa thế kỷ X VIII của
Đại học s phạm ghi nhận vấn đề ngời phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục Các tác giả cho rằng Truyền kỳ mạn lục ca ngợi tình cảm vợ chồng gắn bó thuỷ chung,
ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của ngời phụ nữ và cảm thông với những nỗi bấthạnh của họ lại là một đóng góp của Nguyễn Dữ
Các nhà nghiên cứu khẳng định việc viết về ngời phụ nữ là một đóng
góp lớn của Nguyễn Dữ Trong bài Tìm hiểu khuynh hớng sáng tác trong
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Nguyễn Phạm Hùng cho rằng trong khi
thể hiện vấn đề dân tộc, địa vị của các lực lợng phong kiến thống trị, ngời trithức phong kiến thì vấn đề ngời phụ nữ đợc Nguyễn Dữ trình bày khá sâu sắc
Khi bàn về phẩm chất dân tộc trong Truyền kỳ mạn lục, tác giả nhấn mạnh:
“Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục đã mở đầu một cách đích thực khuynh
h-ớng văn học nêu cao tinh thần dân tộc qua việc ngợi ca, khẳng định con nhất là ngời phụ nữ bình thờng bị vùi dập nhng vẫn sáng ngời phẩm chất caoquý”[8,114]
ngời-Nhiều nhà nghiên cứu nớc ngoài đã viết về tác phẩm của Nguyễn Dữ,trong số đó có công trình nghiên cứu so sánh rất công phu của nhà nghiên cứu
Đài Loan- Trần ích Nguyên: Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và
Truyền kỳ mạn lục Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tỉ mỉ và
khá đầy đủ về nguồn gốc, nội dung, kỹ xảo, nội hàm của Truyền kỳ mạn lục
và Tiễn đăng tân thoại, sự ảnh hởng của hai tác phẩm này đến nền văn học mỗi nớc Trần ích Nguyên khẳng định: “Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân
thoại và Truyền kỳ mạn lục là một việc không thể xem nhẹ trong nghiên cứu
Trang 5Gần đây có công trình của tác giả Toàn Huệ Khanh Nghiên cứu so sánh
tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc- Trung Quốc- Việt Nam thông qua Kim Ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục, tác giả đã đa ra các tiêu
chuẩn để phân loại tác phẩm ở loại truyện diễm tình và loại truyện kỳ quái,chỉ ra sự khác biệt về bối cảnh lịch sử đã dẫn đến sự biến đổi ý đồ sáng tác củacác tác giả, đồng thời chỉ ra sự khác biệt về văn hoá làm nên sự khác biệttrong quan điểm nhìn nhận về phẩm chất ngời phụ nữ Trong khi khái quát ýnghĩa văn học sử Đông á của tiểu thuyết truyền kỳ ba nớc Hàn - Trung -Việt,
tác giả kết luận: “Tiễn đăng và Truyền kỳ có đôi chút khác biệt về mặt đặc
điểm văn hoá và tín ngỡng bản địa nhng đã xây dựng đợc nhiều loại hình nhânvật đa dạng phong phú” [ 11, 175] Bàn về vấn đề trinh tiết của ngời phụ nữ
tác giả đã khái quát đặc điểm riêng của Truyền kỳ mạn lục so với Kim Ngao
tân thoại và Tiễn đăng tân thoại: “Trong chủ đề các truyện loại diễm tình của Truyền kỳ đã nêu cao “trinh tiết của phụ nữ” để cảnh báo hành vi của ngời
chồng, đồng thời sự trinh tiết của phụ nữ vào tình yêu của nam nhân vật chínhthể hiện qua các cuộc chiến đấu để rồi đi tìm vợ và để thể hiện ý chí của dântộc bảo vệ tổ quốc Việt Nam chống giặc ngoại xâm Đó mới là động cơ sángtác của tác giả” [11,176]
Nh vậy, cha có một công trình nghiên cứu quy mô về hình tợng phụ nữ
trong Truyền kỳ mạn lục và Tiễn đăng tân thoại, về nội dung phản ánh và
nghệ thuật xây dựng loại hình tợng nhân vật này Mặc dù vậy, kết quả của cáccông trình nghiên cứu trên là những gợi ý quan trọng cho luận văn này
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu là So sánh nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục
(Nguyễn Dữ) và Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu)
Luận văn tập trung đi vào tìm hiểu những điểm tơng đồng và khác biệt
về nhân vật nữ trong hai tác phẩm Văn bản Truyền kỳ mạn lục và Tiễn đăng
tân thoại mà chúng tôi dựa vào nghiên cứu đợc in trong Tiễn đăng tân thoại
và Truyền kỳ mạn lục, Phạm Tú Châu dịch, Trần Thị Băng Thanh giới thiệu và
chỉnh lý, NXB Văn học, Hà Nội 1997
Trang 6
4 Mục đích yêu cầu
4.1 Đối sánh nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục với nhân vật nữ
trong Tiễn đăng tân thoại để nhận thức những sự tơng đồng và khác biệt lớn
trong tính cách và số phận
4.2 Cắt nghĩa những sự tơng đồng và khác biệt đó từ các nguyên nhânlịch sử xã hội, tâm lý dân tộc, truyền thống của văn học dân gian và từ các đặc
điểm của thể loại
4.3 Từ đó đa thêm những cơ sở để khẳng định Nguyễn Dữ tiếp thu vănchơng nớc ngoài một cách sáng tạo
5 Phơng pháp nghiên cứu
4.1 Đặt nhân vật nữ của hai tác phẩm trong đời sống văn xuôi trung đạiViệt Nam những thế kỷ đầu với hai đặc điểm quan trọng: một là tiếp thu thànhtựu văn xuôi Trung Hoa một cách sáng tạo, hai là sử dụng chất liệu văn họcdân gian Việt Nam
4.2 Luôn bám sát đặc trng của truyện truyền kỳ là phản ánh cuộc sống
và con ngời có sử dụng yếu tố “kỳ” (kỳ lạ, kỳ quái, kỳ diệu ) Cái “kỳ” ở đâyvừa là thế giới quan vừa là một thủ pháp nghệ thuật quan trọng
4.3 Sử dụng các thao tác nghiên cứu: thống kê, phân tích, tổng hợp và
5.3 Chỉ ra sự tiếp thụ một cách sáng tạo của Nguyễn Dữ
nhân vật nữ ở hai tác phẩm
Trang 7
Chơng 1
Vị trí của nhân vật nữ trong hai tác phẩm
1.1 Khái niệm nhân vật trong tác phẩm văn học
Nhân vật văn học là con ngời đợc miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằngphơng tiện văn học Nhân vật văn học là một hiện tợng nghệ thuật mang tínhuớc lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết của con ngời mà chỉthể hiện con ngời với những đặc điểm nào đó Nhân vật văn học có thể lànhững con ngời đợc miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách,tiểu sử nh thờng thấy ở tác phẩm tự sự, kịch Đó có thể là những ngời thiếuhẳn những nét đó, nhng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn nh nhân vật trầnthuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận nh nhân vật trữ tìnhtrong thơ trữ tình
Khái niệm nhân vật thờng đợc quan niệm với một phạm vi rộng hơnnhiều, đó không chỉ là con ngời có tên hoặc không tên, đợc khắc họa sâu đậmhoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là những con vậtbao gồm cả quái vật thần linh, ma quỷ ít nhiều mang bóng dáng, tính cách conngời, đợc dùng nh những phơng thức khác nhau để biểu hiện con ngời
Qua nhân vật nhà văn thể hiện quan điểm nghệ thuật và lý tởng thẩm mỹcủa mình về xã hội và con ngời Vì đợc miêu tả qua các biến cố, xung đột,mâu thuẫn và các chi tiết nên nhân vật luôn gắn liền với cốt truyện, do đợckhắc họa qua xung đột cho nên nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động cótính cách đợc bộc lộ dần trong không gian, thời gian và mang tính chất là mộtquá trình
Bản chất văn học là mối quan hệ đối với đời sống, nó tái hiện đời sốngqua những chủ thể nhất định, đóng vai trò nh những tấm gơng của cuộc đời
Trang 8Trong tác phẩm văn học thờng có một hoặc nhiều nhân vật Các tácphẩm tự sự và kịch thờng có nhiều nhân vật Trong trờng hợp đó không phảimọi nhân vật trong tác phẩm văn học đều có vai trò nh nhau trong kết cấu vàcốt truyện tác phẩm Dựa vào những tiêu chí khác nhau để phân biệt các nhânvật trên những khía cạnh nh kết cấu, ý thức hệ và cấu trúc Dựa vào vị trí đốivới nội dung cụ thể với cốt truyện của tác phẩm, nhân vật văn học đợc chiathành nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm
Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt xuất hiện nhiều, giữ vịtrí then chốt của cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện Đó là con ngời liên can đếncác sự kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ bảncủa mình Nhân vật trung tâm là nơi quy tụ các mối mâu thuẫn của tác phẩm,
là nơi thể hiện những vấn đề trung tâm của tác phẩm
Nhân vật phụ mang các tình tiết, sự kiện, t tởng có tính chất phụ trợ, bổsung Nhờ có những nhân vật phụ này mà câu chuyện hấp dẫn hơn, nó thúc
đẩy sự kiện, cốt truyện phát triển Vì thế cũng không thể coi nhẹ nhân vật phụ,bởi chúng không những là một bộ phận không thể thiếu của bức tranh chung, mànhiều khi, nhân vật phụ còn hàm chứa những t tởng quan trọng của tác phẩm
Những tri thức về nhân vật giúp chúng ta xem xét nhân vật nữ đợc thểhiện nh thế nào trong hai tác phẩm trên cả phơng diện số lợng và chất lợng, cốgắng giải thích thực trạng đó
1.2 Số lợng nhân vật nữ và vị trí của nó trong hai tác phẩm
1.2.1 Thống kê, phân tích số liệu
1.2.1.1 Bảng khảo sát Bảng 1 : Nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục
Trang 9
Anh
Kim Liªn
-hai c« g¸i hµng xãm
Trang 10+ 5 /13 tác phẩm tên nhân vật nữ đợc đặt cho tên tác phẩm (chiếm38%)
+ 9 nhân vật nữ thực trong 7/13 tác phẩm (chiếm 54%).Trong đó có 5nhân vật nữ thực đóng vai trò vừa là nhân vật chính vừa là nhân vật trung tâm(chiếm 38%)
+ 8 nhân vật nữ siêu thực trong 6/13 tác phẩm (chiếm 46%) Trong đó
có 5 nhân vật nữ siêu thực trong vai trò là nhân vật phụ (chiếm 38%)
* Tiễn đăng tân thoại:
10/20 tác phẩm có nhân vật nữ (chiếm 50% )
Trong số 10 tác phẩm có nhân vật nữ đó có:
+ 7/10 tác phẩm, nhân vật nữ là nhân vật chính (chiếm 70%) + 4/10 tác phẩm, nhân vật nữ vừa là nhân vật chính vừa là nhân vậttrung tâm (chiếm 40%)
+ 3/ 10 tác phẩm tên nhân vật nữ đợc đặt cho tên tác phẩm (chiếm30%)
+ 7 nhân vật nữ thực trong 4/10 tác phẩm ( chiếm 40%) Trong đó có 2nhân vật nữ thực đóng vai trò vừa là nhân vật chính vừa là nhân vật trung tâm(chiếm 20%) Có tới 10 nhân vật nữ siêu thực trong 5/10 tác phẩm(chiếm50%) Trong đó có 4 nhân vật nữ siêu thực trong vai trò là nhân vật chính(chiếm 40%)
Nh vậy cả Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục, số lợng tác
phẩm có nhân vật nữ khá lớn, đặc biệt có nhiều tác phẩm nhân vật nữ đóngvai trò trụ cột Điều này thể hiện cả hai tác giả đều rất quan tâm đến ng ờiphụ nữ Đây thực sự là bớc tiến, một cách nhìn mới về ngời phụ nữ trong
Trang 11
văn học Nếu nh trớc đó văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc đềuchịu ảnh hởng nặng nề của hệ thống t tởng Nho giáo, con ngời bổn phận(quân, s, phụ), con ngời gắn với quan niệm về “chí” thì đến đây, hai tácgiả đã gắn văn học gần hơn với cuộc sống, hớng ngòi bút về ngời phụ nữ
Song, nếu nh trong Truyền kỳ mạn lục nhân vật nữ thực giữ vai trò chủ đạo thì ở Tiễn đăng tân thoại nhân vật nữ siêu thực lại giữ vai trò chủ đạo Mặt khác, trong Truyền kỳ mạn lục nhân vật nữ lại phong phú và đa dạng hơn
Tiễn đăng tân thoại Hình tợng ngời phụ nữ xuất hiện trong Truyền kỳ mạn lục nhiều hơn và cũng đa dạng hơn
1.2.2 Lý giải
Nhân vật là một yếu tố không thể thiếu trong văn học, đặc biệt là trongtác phẩm tự sự Nhân vật là hình thức cơ bản mà thông qua nó, văn học miêutả thế giới một cách hình tợng Nếu không có nhân vật nhà văn không thể táihiện cuộc sống muôn hình vạn trạng, không thể khái quát đợc những quy luậtcuộc sống con ngời Qua nhân vật nhà văn còn thể hiện quan niệm của mình
về con ngời, về cuộc sống Vì thế, có thể xem nhân vật là yếu tố then chốt củatác phẩm tự sự, một tác phẩm có thể không có cốt truyện nhng nhân vật thìkhông thể không có, dù là một truyện ý tởng
Lựa chọn cách xây dựng nhân vật, nhà văn thể hiện nhận thức của mình
về con ngời, về thế giới và thông qua nhân vật dẫn dắt độc giả vào đời sốngmột thời kỳ lịch sử nhất định, đồng thời tác giả thể hiện ý đồ nghệ thuật củamình Nhà văn sáng tạo ra nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cánhân nào đó, về một loại ngời, về một vấn đề nào đó của hiện thực Cho nêntìm hiểu nhân vật là góp phần tìm ra t tởng, tình cảm và tài năng sáng tạo củangời cầm bút
Qua sự thống kê ở trên, bớc đầu chúng ta có thể nhận thấy sự lựa chọnnhân vật, xây dựng những mối quan hệ giữa các nhân vật là điểm hội tụ nộidung tác phẩm, là phơng tiện nghệ thuật thể hiện quan niệm về con ngời, vềxã hội của mỗi tác giả
Với Truyền kỳ mạn lục, nhân vật đã thực sự đóng vai trò rất quan trọng
trong việc thể hiện t tởng, chủ đề tác phẩm cũng nh tấm lòng của tác giả đốivới hiện thực cuộc sống Đúng nh Nguyễn Đăng Na nhận xét: “Nguyễn Dữ đã
Trang 12
phóng thành công con tàu văn xuôi tự sự vào quỹ đạo nghệ thuật, văn học lấycon ngời làm đối tợng và trung tâm phản ánh” [17,19]
Trớc hết, phải khẳng định sự ảnh hởng của Tiễn đăng tân thoại đối với
Truyền kỳ mạn lục là một sự thật Cù Tông Cát viết Tiễn đăng tân thoại vào
năm Hồng Vũ 11(1378) đời Minh Thái Tổ Đây là một tập truyền kỳ u tú củaTrung Quốc thế kỷ XIV Đến những năm 70, 80 của thế kỷ XVI, sau khi
truyền sang Triều Tiên, Nhật Bản, Tiễn đăng tân thoại đã du nhập vào Việt
Nam Theo nhận xét của ngời xa (Hà Thiện Hán- ngời viết tựa đầu tiên cho
Truyền kỳ mạn lục) thì sách của Nguyễn Dữ không ra khỏi phên dậu của Cù
Tông Cát Mặc dù chịu ảnh hởng của Cù Hựu, song không phải là sự sao chépcứng nhắc mà tác phẩm là kết tinh của sự sáng tạo Đó là đứa con tinh thầnvừa tiếp thụ tinh hoa của văn học nớc ngoài, vừa không quên bắt rễ ở mảnh đấtquê hơng mình Điều đó đợc thể hiện qua nội dung phản ánh, qua chủ đề t t-ởng, hệ thống nhân vật, đặc biệt qua vị trí nhân vật nữ trong hai tác phẩm
Trong cả Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu) và Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ),
hình tợng ngời phụ nữ đợc đề cập đến một cách phong phú, đa dạng thông quanhững cảnh đời, những số phận khác nhau
Trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam cho thấy nếu nh từ thế kỷ XVtrở về trớc, nền văn học Việt Nam rất nặng tính chất chức năng, vai trò của cácchức năng ngoài văn học rất lớn, thì từ thế kỷ XVI trở đi văn học lại phát triểntheo chiều hớng khác Đó là văn học đang thoát ra những chức năng phi vănhọc, dần mang những giá trị tự thân của nó Đối tợng phản ánh của văn chơngtrớc thế kỷ XVI thờng là những cái tao nhã, trang trọng, lý tởng; còn từ thế kỷXVI trở đi phần lớn là những cái thông tục, bình thờng Con ngời trong vănhọc từ đây ít bị ràng buộc hơn vào t tởng, giáo lý có sẵn Lúc này bên cạnhnhững bậc quân tử, trợng phu, thờng thấy có thêm hình tợng phụ nữ và nó dầndần trở thành nhân vật trung tâm của nền văn chơng trung đại Việt Nam Thayvì những con ngời của tinh thần và ý chí, t tởng và giáo điều thì nay bớc vàovăn học là những con ngời trần thế, với nhu cầu hành động và ớc muốn chủ
yếu của nó Một quan niệm mới về con ngời đã xuất hiện trong Truyền kỳ
mạn lục Trong hoàn cảnh chiến tranh nội chiến phong kiến liên miên,
Nguyễn Dữ thấu hiểu sâu sắc rằng ngời chịu nhiều đau khổ nhất, oan trái nhất
chính là ngời phụ nữ Chính vì thế, khuynh hớng t tởng chủ đạo của Truyền kỳ
mạn lục không phải là đề cao chí khí nhà nho hay đạo đức phong kiến, mà
Trang 13Sự xuất hiện nhân vật ngời phụ nữ trong Tiễn đăng tân thoại còn có lý
do khác Cù Hựu viết nhiều về chuyện tình ái, từ đó ông xây dựng nhiều nhânvật phụ nữ, mà chủ yếu là những nhân vật chính diện Sở dĩ nh vậy vì sựkhống chế của giai cấp thống trị đầu đời Minh trên lĩnh vực văn hoá Văn họcTrung Quốc thời kỳ này ít thể hiện những vấn đề chính trị, nếu có thì cũng cangợi, “nhuận sắc hồng nghiệp” Giai cấp thống trị đã khống chế văn chơng rấtchặt, thờng vì nhầm một chữ, một câu mà mang họa Bản thân Cù Hựu cũng bị
đày đi Bảo An 10 năm vì thơ Bởi thế, để có thể chuyển tải một cách kín đáophần nào t tởng nhân sinh của mình, Cù Hựu xây dựng những nhân vật nữ.Bên cạnh đó còn do các yếu tố nh đời sống lịch sử xã hội, bối cảnh thời đại,cuộc đời của mỗi tác giả chi phối dẫn đến ý đồ, mục đích nghệ thuật khácnhau
1.2 2.1 Vai trò đời sống lịch sử xã hội đối với hai tác phẩm
Có ý kiến cho rằng: “Tác phẩm là cái thai của tác giả, tác giả là cái thaicủa thời đại”, nói cách khác, “giữa tác phẩm văn học và hoàn cảnh thời đại cómối liên hệ khăng khít, không thể tách rời… nhà phê bình văn học luôn dựa nhà phê bình văn học luôn dựavào mức độ chân thực của tác phẩm phản ánh về thời đại để đánh giá một bộtiểu thuyết thành công hay không? , có nh vậy thì việc bình phẩm văn họcmới thoát khỏi rơi vào ảo tởng” [16,77-78] ở đây chúng ta cũng sẽ tìm hiểuhai tác phẩm này miêu tả bức tranh thời đại nh thế nào?
Dới ngòi bút của Nguyễn Dữ và Cù Hựu, các nhân vật phụ nữ thờng cóchung cuộc đời tăm tối bởi họ là nạn nhân của xã hội phong kiến trì trệ vớinhững cơng thờng đạo lý khiến ngời phụ nữ bị trói buộc trong ''tam tòng tứ
đức'', với những quan niệm cổ hủ “nam nữ thụ thụ bất thân”, họ là nạn nhâncủa những gã nam giới háo sắc, dâm ô, tàn ác
Nguyễn Dữ sống trong một thời kỳ lịch sử đầy biến động, ông chứngkiến cảnh đất nớc loạn ly, dân chúng điêu linh Giai đoạn này, nội bộ giai cấpphong kiến không chỉ ăn chơi sa đọa mà còn mâu thuẫn gay gắt Triều đình
Trang 14
nhà Lê chia bè, kéo cánh đánh giết lẫn nhau chỉ trong vòng 23 năm (từ năm1504- 1527) mà có đến 6 ông vua Tình trạng khủng hoảng trầm trọng dẫn đếnviệc bị Mạc Đăng Dung cớp ngôi (năm 1527) Hiện trạng đó gây nên thảm
họa binh lửa, cuộc sống cùng cực, điêu đứng của nhân dân Truyền kỳ mạn
lục đã ra đời trong bối cảnh xã hội nh thế Hiện thực xã hội đã khiến Nguyễn
Dữ xây dựng nên những cảnh đời, những số phận éo le gắn với dân tộc, gắnvới hiện thực sôi động, đau thơng của thời đại ông
Truyền kỳ mạn lục mợn chuyện đời xa để phản ánh những vấn đề của hiện
thực xã hội thời Nguyễn Dữ Thời gian xảy ra các truyện là đời Lý, đời Trần,
đời Hồ và đời Lê sơ Niên đại đợc nhắc đến sớm nhất trong Truyền kỳ mạn lục
là năm Bính Tí, niên hiệu Quang Thái (1396) và niên đại cuối cùng là DiênNinh năm thứ năm (1458) Thế nhng, vấn đề truyện nêu lên đều là những vấn
đề đặt ra cấp thiết và gay gắt trong thời đại Nguyễn Dữ Từ đời sống sa đọacủa tầng lớp thống trị đến cuộc sống cơ cực của nhân dân, từ những biểu hiệnsuy thoái của Nho, Phật, Đạo đến những biểu hiện suy đồi của đạo đức xã hội, đặcbiệt từ bi kịch đến khát vọng của ngời phụ nữ , không chỉ là hồi âm của quá khứ
mà còn là những vấn nạn của thời Nguyễn Dữ
Mặc dù khi ra đời tác phẩm đợc viết bằng thể loại nớc ngoài và chữ Hánnhng vẫn đậm đà tính chất dân tộc Tác phẩm cho chúng ta nhận thức về hình
ảnh dân tộc qua những con ngời khổ đau, “thấp cổ bé họng”, bị o ép, áp bức,coi rẻ nhng phẩm chất vô cùng cao quý Đó là những ngời phụ nữ trong xã hộiphong kiến đơng thời Những con ngời khổ đau, bé nhỏ nh Đào Hàn Than, VũThị Thiết, Thuý Tiêu, Lệ Nơng v.v trong đau đớn, vùi dập vẫn bừng cháyniềm khao khát khôn nguôi về hạnh phúc tình yêu, công bằng, về quyền đợcsống, đợc hởng thụ và hiến dâng Nhà văn đã mợn hình ảnh ngời phụ nữ để nói lêncảnh đau thơng của dân tộc trong thời kỳ này
Cù Hựu viết Tiễn đăng tân thoại trong thời phong kiến thịnh trị Lúc
này cuộc khởi nghĩa do Chu Nguyên Chơng lãnh đạo giành thắng lợi và lậpnên triều đại nhà Minh Giai cấp thống trị đang có những chính sách tiến bộ
để xây dựng vơng triều mới nên cha bộc lộ những mâu thuẫn nội tại của nó.Vì thế trong văn của Cù Hựu, ông không tập trung miêu tả sự suy vi, tàn lụicủa xã hội Vấn đề mà ông hớng đến và khai thác là gắn con ngời với nhữngkhát khao tình yêu, hạnh phúc Đó là Lan Anh, Huệ Anh say đắm với tình
Trang 15
yêu, Hng Nơng chờ đợi trong héo mòn đến chết, lại quyết trở về để đợc sốngtrong tình yêu… nhà phê bình văn học luôn dựa
1.2.2.2 ảnh hởng của cuộc đời hai tác giả đối với các tác phẩm
Hà Thiện Hán cho biết Nguyễn Dữ từng làm quan nhng thất vọng trớcthời thế hỗn loạn, lấy cớ phụng dỡng mẹ già đã từ quan về ở ẩn chốn núi rừng
Thanh Hoá, “mấy năm không đặt chân đến chốn thị thành” (Tựa Truyền kỳ
mạn lục) Cù Hựu cũng là ngời có tài mà không đợc trọng dụng Suốt đời ông
chỉ đợc giữ vài chức quan nhỏ, bổng lộc ít ỏi Cù Hựu đã có lúc vì thơ mà mắchọa, đã từng bị đa đi đồn thú ở Bảo An tỉnh Thiểm Tây mời tám năm Cuối đời
ông từ quan về quê làm nghề dạy học Trớc thực tại nhiễu nhơng cả hai tác giả
đều có thái độ thất vọng, bất mãn, gần nh bất lực Có thể nói, “tác giả tiểuthuyết truyền kỳ đều là những kẻ có tài, đều sinh ra và lớn lên vào thời trung
đại và có cuộc đời không phẳng lặng” [11,52] Những điểm khác biệt trongcuộc đời của hai tác giả biểu lộ qua thế giới quan của mình trong tác phẩm,chi phối đến cách xây dựng nhân vật của hai nhà văn cũng nh ảnh hởng tớichủ đề tác phẩm
Ngoài ra còn có nguyên nhân từ động cơ sáng tác của hai ngời cầm bút.Nguyễn Dữ “viết ra tập lục này để ngụ ý” (Hà Thiện Hán) “Lời ngụ ý khuyênrăn” là tinh thần nhất quán của ông Chu Thanh Nguyên nói rằng động cơ của
Cù Hựu khi viết Tiễn đăng tân thoại là “bỡn cợt nơi bút mực, trào phúng một
để khuyên răn một trăm, mợn việc đó để bộc lộ ý chí và khí khái trong lòng”[19,48]
Nhìn chung cả Cù Hựu và Nguyễn Dữ đều sáng tác để khuyến thiệntrừng ác Vốn xuất thân là một nhà Nho, sinh vào thời loạn, Nguyễn Dữ mợn
Truyền kỳ mạn lục để bày tỏ niềm cô phẫn, thổ lộ hết những điều không vui
trong lòng Cù Hựu cũng là một nhà Nho, từ nhỏ đã thông tuệ, tài hoa rất mực
Sinh ra giữa buổi “binh lửa loạn ly”, từng lu lạc nhiều nơi, viết Tiễn đăng tân
thoại những mong “mợn chén rợu của ngời tới nỗi lòng chất chứa” Tuy rằng Truyền kỳ mạn lục có chịu ảnh hởng của Cù Tông Cát nhng là một thành
phẩm nghệ thuật thể hiện ý đồ nghệ thuật riêng, mang dấu ấn tài hoa riêng củatác giả
ở Việt Nam, từ khi có nền văn học viết cho đến thế kỷ XVI, cha baogiờ ngời ta thấy nhân vật phụ nữ xuất hiện trong các tác phẩm văn học nh làmột đối tợng chính của các nhà văn nhà thơ Và nếu nh trớc đây hình ảnh ngời
Trang 16
phụ nữ cung đình quý tộc có thấp thoáng trong sáng tác của Nguyễn Trãi,Nguyễn Húc “thì thờng mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức trên bình diệntâm lý, còn ở đây, nó là một đối tợng nhận thức, đối tợng thẩm mỹ trọn vẹn,
thành vấn đề ngời phụ nữ trong văn học- với những nhân vật trung tâm là phụ
nữ!” [9,119] Trong sáng tác của Nguyễn Dữ, họ hiện lên thật trọn vẹn với cảdiện mạo, tâm hồn, tình cảm, nhu cầu và khát vọng, với số phận của mình
Trong Truyền kỳ mạn lục, bên cạnh các nhân vật nho sĩ ẩn dật, nhân vật
phụ nữ có vị trí chủ đạo Những con ngời vốn xuất thân rất bình thờng, có khitầm thờng nh ca kỹ, tỳ thiếp nhng lại mang những phẩm chất rất đáng trântrọng, ngợi ca Hình tợng ngời phụ nữ trở thành nhân vật chính, nhân vật trung
tâm trong rất nhiều truyện của Truyền kỳ mạn lục Đó là Nhị Khanh (Chuyện
ngời nghĩa phụ Khoái Châu), Vũ Thị Thiết (Chuyện ngời con gái Nam Xơng),
Đào Hàn Than (Chuyện nghiệp oan của Đào thị), Lệ Nơng (Chuyện Lệ Nơng)
… nhà phê bình văn học luôn dựa
Tiễn đăng tân thoại là một tác phẩm nổi tiếng trên văn đàn văn học
trung đại Trung Quốc Tác phẩm đợc lu truyền và ảnh hởng sâu rộng trong và
ở nớc ngoài nh Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, gợi ý cho nhà văn trong ngoàinớc cải biên, sáng tác thành truyền kỳ, thoại bản và kịch bản Trong tác phẩmnày, ngời phụ nữ gắn với những mối tình say đắm thuỷ chung đợc thử thách
qua nhiều loạn ly và nhiều ngăn trở nh Hng Nơng (Chiếc thoa vàng hình kim
phợng), Thuý Thuý (Nàng Thuý Thuý), cô gái (Cô gái áo xanh) hoặc là
những cuộc gặp gỡ kỳ lạ với thần tiên ma quỷ chốn Thiên Thai, dới thuỷ cung,
âm phủ, hang động hay trong chùa nh Lệ Khanh (Chiếc đèn mẫu đơn), những cô gái (Động Thân Dơng), Cô gái con lão chủ quán (Cuộc kỳ ngộ ở Vị Đ-
ờng) Đây là đề tài đợc tác giả chú trọng.
ở cả hai tác phẩm đều có hai loại nhân vật có thực và nhân vật siêu
thực, nhng trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ để cho loại nhân vật thực hoàn toàn nắm vai trò chính yếu của cốt truyện Tiễn đăng tân thoại cũng có
điều này song chỉ chiếm số lợng nhỏ, chỉ có nhân vật ái Khanh và Lu Thuý
Thúy là nhân thực trong vai trò là nhân vật chính Nhân vật nữ chủ yếu là
những hồn ma, yêu nữ mang dáng dấp con ngời
Để cho nhân vật chính là những con ngời thực, Nguyễn Dữ đã có dụng
ý, bởi vì hơn ai hết chỉ có con ngời thực mới thật sự đảm đơng công việc đờithờng một cách trọn vẹn, chỉ có con ngời thực mới có thể sống trong xã hội
Trang 17
thực Đa con ngời thực đóng vai trò chính, Nguyễn Dữ đúng là một nhà nho,
ông đã đặt ngời phụ nữ trong mối quan hệ của xã hội dới học thuyết Nho giáo
“tam tòng, tứ đức”, “nam tôn, nữ ty” Xây dựng con ngời thực là nhân vật
chính, Nguyễn Dữ đã có dụng tâm miêu tả vẻ đẹp và nỗi đau của con ngời trần
thế Đó là những bi kịch nảy sinh từ phía mỗi gia đình, mỗi thân phận Nhữngtruyện mà ngời phụ nữ đóng vai trò nhân vật chính thờng: tả nỗi luân lạc củangời phụ nữ, một đằng vì tên cờng quyền chiếm đoạt làm cho rẽ thuý chia
uyên (Chuyện nàng Thuý Tiêu ), một đằng vì bọn ngoại xâm lăng loàn áp bức, làm cho bình rơi trâm gãy (Chuyện Lệ Nơng), hay tả rõ ngời phụ nữ trong xã
hội cũ, dù ăn ở thuỷ chung với chồng thế nào, cũng chịu một thân phận hèn
kém: một đằng vì thua bạc mà gán vợ (Chuyện ngời nghĩa phụ Khoái Châu), một đằng vì ngờ vực hão huyền để vợ phải quyên sinh (Chuyện ngời con gái
Nam Xơng) Xuyên suốt các câu chuyện trong Truyền kỳ mạn lục ngời phụ nữ
đóng vai trò nhân vật chính đều toát lên ở họ vẻ đẹp tinh thần, vẻ đẹp thể chất
ít đợc thể hiện Con ngời thực phản ánh hiện thực, đó là mong muốn củaNguyễn Dữ khi ông muốn thể hiện ớc mơ về một xã hội tốt đẹp hơn
Những nhân vật phụ nữ đóng vai trò nhân vật phụ là những nhân vậtkhông có thực Họ là những nhân vật siêu nhiên, những hồn ma, hồn hoamang dáng dấp của những con ngời thoắt ẩn thoắt hiện, sống trên dơng gianchỉ là tạm bợ Những nhân vật này có vẻ đẹp nghiêng về vật chất và ta khó tìm
đợc một tính cách có thay đổi Đây phải chăng cũng là một dụng ý củaNguyễn Dữ ? Ông để cho nhân vật phụ nữ không có thật đóng vai trò phụ bởichỉ có nh vậy nhân vật siêu nhiên này mới biểu hiện đợc khát vọng trần thế,
khát vọng tình yêu Chẳng hạn trong Chuyện cây gạo, nhân vật Lệ Khanh dới
hình thức là hồn ma là yếu tố tác động khiến cho Trình Trung Ngộ mắc vàovòng luyến ái Lệ Khanh chỉ là nhân vật phụ, mọi t tởng, ý nghĩ của nàng chothấy nàng chỉ muốn đắm mình trong ái ân, thoả mãn bản năng “nghĩ đời ngời
ta chẳng khác gì giấc chiêm bao Chi bằng trời để sống ngày nào, nên tìm lấynhững thú vui, kẻo một sớm chết đi, sẽ thành ngời của suối vàng, dù có muốn
ái ân cũng không đợc nữa” Nh vậy khát vọng trần thế ở đây không còn làkhát vọng bình thờng: yêu và đợc yêu, sống là bổn phận, trách nhiệm của ngời
vợ, ngời mẹ nữa mà là những con ngời chỉ có ớc vọng về phần xác thịt, sốngtheo bản năng Do đó, những ngời phụ nữ đóng vai trò nhân vật phụ trong
Truyền kỳ mạn lục hầu hết không có phẩm chất nổi bật, một phần có lẽ thời
Trang 18
gian cho họ xuất hiện quá ngắn ngủi “số trời đã định, kỳ về đến nơi, biết làmsao đợc Chỉ nội trong đêm nay thôi Hễ lúc nào có trận gió đông nổi lên ấy
là lúc chúng em thác hoá” (Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây), phần nữa, do họ không
có nhiều xung đột, mâu thuẫn với cuộc đời thực Nguyễn Dữ đã mợn nhữnghồn hoa nh Liễu (Hồng Nơng), Đào (Nhu Nơng) để thể hiện vẻ đẹp thể chất
của ngời phụ nữ: Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây, và những nhân vật kỳ ảo này dù
là hồn ma cũng mang vẻ đẹp yêu kiều, diễm lệ: Chuyện cây gạo, Chuyện yêu
quái ở Xơng Giang
Trong Truyền kỳ mạn lục ngời phụ nữ đóng vai trò nhân vật chính cha
thể hiện đợc khát vọng, ớc mơ của mình ở cõi đời này, cũng nh ngời phụ nữ
trong Tiễn đăng tân thoại, cuộc sống hiện thực của họ không thể thoả mãn
đ-ợc tình yêu tự do, hạnh phúc Do đó, ở phần cuối mỗi tác phẩm bao giờ cũng
có sự tái sinh qua yếu tố kỳ ảo hoang đờng Vấn đề này chúng tôi sẽ đi vào cụthể hơn trong phần sau
Truyền kỳ mạn lục đặc biệt đề cao vẻ đẹp của ngời phụ nữ trên phơng
diện tinh thần Nếu chỉ để con ngời hiện lên giữa cuộc đời trần trụi thì cha đủ
để tác giả ca ngợi mà tác giả đã có sự kết hợp giữa ba cõi: Tiên- trần- âm phủ.Tạo ra khung cảnh kỳ ảo giữa hai cõi âm - dơng, tiên- trần, mục đích củaNguyễn Dữ là nói lên khát vọng tìm lại nhau của con ngời Vũ Nơng trở vềtrên dòng sông huyền ảo rồi nhanh chóng biến mất Đó là cuộc gặp gỡ và chia
ly giữa một bên là thực, một bên là h ảo ở đó vẫn là hai thế giới cách trởkhông thể hoà nhập: cõi âm và cõi dơng Và sự thật đau lòng: hai ngời đãthuộc về hai thế giới khác nhau làm sao có thể cùng sống cùng nhau, có chăngchỉ là khát khao tìm lại những gì đã mất Nàng Nhị Khanh trong truyện
Chuyện ngời nghĩa phụ ở Khoái Châu cũng vậy, những tiếng vọng nơi cõi âm
truyền về chỉ là một yếu tố kỳ lạ cho lòng mong mỏi gặp lại ngời xa
Trong Tiễn đăng tân thoại ngời phụ nữ lại đợc nhấn mạnh đến vẻ đẹp
thể chất, họ là những ngời phụ nữ có sắc đẹp, là những cô gái khuê các nh
H-ng NơH-ng, Khánh NơH-ng hay Lan Anh, Huệ Anh vừa thôH-ng minh, giỏi thơ phúlại xinh đẹp Và chủ yếu những nhân vật nữ là những hồn ma hiện thành ngời,những nhân vật thực xuất hiện rất ít Nếu nh Cù Hựu đã thuyết phục ngời đọcbởi chất hoang đờng kỳ ảo, thậm chí đã dụng công tạo nên sự ly kỳ rùng rợngây cảm giác ghê sợ hãi hùng cho ngời đọc, thì Nguyễn Dữ lại thuyết phục và
Trang 19
lay động trái tim ngời đọc qua những cảnh đời éo le, sự cảm thông, sẻ chia,xót đau trớc những thân phận bất hạnh
Cả hai tác giả đều mợn yếu tố siêu hình để biểu hiện khát vọng tình yêu
tự do của nam nữ Trong Truyền kỳ mạn lục đó là cuộc gặp gỡ của Trung Ngộ
với hồn ma Nhị Khanh, cuộc kỳ ngộ của Hà Nhân ở trại Tây với Liễu, Đào rồicuộc kỳ ngộ giữa Hàn Than- Vô Kỷ, Phật Sinh với Lệ Nơng, mối tình bất
chính của hồn oan Thị Nghi với viên quan họ Hoàng ở Tiễn đăng tân thoại,
đó là cuộc gặp gỡ giữa Kiều Sinh và Lệ Khanh, mối tình giữa hồn ma H ng
N-ơng và Hng Ca, mối tình giữa Đằng Mục và hồn ma Vệ PhN-ơng Hoa, Thuý
Thuý- Kim Định, hạnh phúc có đợc của vợ chồng Vơng Sinh trong Cuộc kỳ
ngộ ở Vị Đờng
Nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục dù nhân vật chính hay nhân vật
phụ, dới hình thức chính diện hay phản diện thì đều là những con ngời thểhiện đợc sự phức tạp của cuộc sống Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Dữkhông chỉ đơn nhất xây dựng một kiểu nhân vật xuất thân từ một thành phầncủa xã hội mà ở đó ngời phụ nữ hiện lên dới nhiều thành phần xã hội : khuênữ (ngời con gái sống trong cung cấm), kỹ nữ (ngời phụ nữ buôn phấn bán
son), dân nữ (ngời phụ nữ thờng dân) Nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục rất đa dạng, xuất hiện và biến thái dới nhiều hình thức Trong Tiễn đăng tân
thoại, nhân vật nữ cũng xuất hiện từ những cuộc đời, những số phận khác
nhau nhng phần nhiều là những tiểu th khuê các
Cha bao giờ Văn học viết Việt Nam cho đến thế kỷ XVI lại có hình
t-ợng ngời phụ nữ xuất hiện nhiều nh trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.
Nếu nh ở giai đoạn thế kỷ X- XIV, các tác giả truyện ngắn lấy thần thánh, lấynhững nhân vật truyền thuyết hoặc lấy các cao tăng, đạo sĩ làm nhân vậttrung tâm cho tác phẩm của mình thì giờ đây, Nguyễn Dữ đã lấy ngời thực,việc thực; đặc biệt là lấy những con ngời có số phận bất hạnh nh Vũ Thị Thiết,
Lệ Nơng, Đào Hàn Than làm đối tợng phản ánh Rõ ràng Nguyễn Dữ là ngời
mở đầu cho khuynh hớng phản ánh cuộc sống phức tạp của ngời phụ nữ Viết
về ngời phụ nữ, Nguyễn Dữ là ngời đầu tiên có bớc công phá để khẳng địnhgiá trị tốt đẹp của con ngời mà dới chế độ xã hội cũ họ là thân phận nhỏ nhoi,thấp kém, dễ lụi tàn Chúng ta trân trọng t tởng nhân văn của Nguyễn Dữ, mộtnhà nho ẩn dật suốt đời Ông đồng cảm với số phận của ngời phụ nữ, khẳng
định vẻ đẹp phẩm chất, tính cách của họ
Trang 20
Chơng 2 Những sự tơng đồng và khác biệt của tính cách
và số phận nhân vật nữ trong hai tác phẩm
2.1 Những sự tơng đồng và khác biệt về tính cách
Tính cách có vai trò quan trọng đối với cả nội dung và hình thức của tácphẩm văn học Đối với nội dung, tính cách có nhiệm vụ cụ thể hóa sự thựchiện của chủ đề t tởng tác phẩm, thông qua sự hoạt động và mối liên hệ giữacác tính cách, ngời đọc sẽ đi đến một sự khái quát hóa về mặt nhận thức, t t-ởng Tính cách cũng là nhân tố chủ yếu tạo nên diễn biến của các sự kiệntrong quá trình phát triển của cốt truyện Cũng qua hệ thống tính cách, ngời
đọc có thể đánh giá khả năng biểu hiện nội dung của các yếu tố hình thức nhngôn ngữ, kết cấu, những quy luật loại thể, các biện pháp thể hiện Có thểnói nh Hêghen: “Tính cách là điểm trung tâm của mối quan hệ giữa nội dung
và hình thức”
2.1.1 Những sự tơng đồng
Nhà văn xây dựng nên những nhân vật nhằm khái quát tính cách conngời Do tính cách là một hiện tợng xã hội, lịch sử xuất hiện trong hiện thựckhách quan nên chức năng ấy của nhân vật văn học cũng mang tính lịch sử
Trong văn học dân gian, nhân vật đồng nhất với vai trò mà nó đóng góptrong tác phẩm nên đợc gọi là nhân vật chức năng Nhân vật có đặc điểm,phẩm chất cố định không thay đổi từ đầu đến cuối và không có đời sống nộitâm Trong văn học trung đại, nhân vật văn học thuộc nhân vật loại hình vìnhân vật thể hiện tập trung một loại phẩm chất, tính cách nào đó của con ngời
Trang 21
hoặc các phẩm chất, tính cách nào đó của một loại ngời nhất định ở một thời
đại nhất định
Việc nghiên cứu tính cách nhân vật chỉ thực sự có ý nghĩa khi ngời ta
đặt nó trong mối quan hệ với hoàn cảnh nhất định, bởi vì trong thực tế, tínhcách không thể phát triển tự thân thoát ly hoàn cảnh Tính cách và hoàn cảnh
có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời
Trong Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục, nhân vật đều xuất
hiện trong khuôn khổ của xã hội phong kiến Ngời phụ nữ dới chế độ phongkiến đáng thơng bởi họ là nạn nhân của chế độ tàn ác, hủ bại Chế độ xã hội
cũ coi khinh ngời phụ nữ và bắt họ phải tuân thủ những quy định ngặt nghèocủa học thuyết Nho giáo Dới xã hội đó ngời phụ nữ chịu nhiều bất công,
nhiều nỗi đau Trong Truyền kỳ mạn lục, ngời phụ nữ phải chịu mấy tầng áp
bức: nam quyền, vơng quyền, thần quyền… nhà phê bình văn học luôn dựa Thế nhng trong những hoàn cảnh
nh thế họ vẫn khẳng định đợc giá trị cao đẹp của mình Đặt ngời phụ nữ trongmối quan hệ với gia đình và trong mỗi gia đình cụ thể ngời phụ nữ đợc thểhiện đầy đủ những phẩm chất, tính cách Đặc biệt trong mối quan hệ vợchồng, ngời phụ nữ hiện lên cùng với những phẩm hạnh hoàn hảo, sự tháo vátcủa ngời đàn bà, những sự đấu tranh mạnh mẽ để bảo vệ tình yêu Xây dựngngời phụ nữ trong mối quan hệ với vợ chồng, Nguyễn Dữ tập trung phản ánhnhững đức tính tốt đẹp của ngời phụ nữ, đồng thời lý giải căn nguyên nỗi khổ
mà họ phải gánh chịu, qua đó, phản ánh xã hội đơng thời
2.1.1.1 Sự thuỷ chung, đức hy sinh, lòng vị tha
Nàng Nhị Khanh, Vũ Nơng, Lệ Nơng, Thuý Tiêu… nhà phê bình văn học luôn dựatrong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, hay nàng Nhị Khanh, Thuý Thuý trong Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu đều là những ngời phụ nữ thuỷ chung son sắt với tình
yêu, là những ngời tiết tháo, trọn đạo với chồng con Cả hai tác giả đều đặtnhân vật vào những hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt để bộc lộ những nét tínhcách cao cả đó Và gắn với những số phận bi kịch đó, tác giả đã thể hiện sựchia sẻ, đồng cảm Trong đau khổ, khó khăn ấy họ đã vợt lên cái xấu xa, cácthế lực để giữ tấm lòng trong sạch, tự đấu tranh để bảo vệ cho tình yêu hạnhphúc, quyền sống của mình Cả hai tác giả đã phần nào đề cập đến vấn đềnhân sinh và với một tấm lòng cao cả
Trong Tiễn đăng tân thoại ngời phụ nữ tiêu biểu cho đức hy sinh, thuỷ chung, tiết liệt là La ái ái (Nàng ái Khanh) Một cô gái “thông minh, làm thơ
Trang 22
từ rất giỏi, vì thế mọi ngời đều mến mộ và kính trọng nên gọi nàng là áiKhanh” và cũng chính vì điều đó chàng trai nhà họ Triệu, cũng con nhà trâmanh quyết hỏi đợc nàng làm vợ Về nhà chồng, “ái Khanh giữ đạo làm vợ rấtsiêng năng, gia pháp cũng rất nghiêm chỉnh, lựa lời ăn nói, không đúng lễ ắtkhông làm khiến chàng họ Triệu yêu chiều và kính nể” Hạnh phúc đó cha đợcbao lâu, chồng nàng phải lên đờng đi nhận chức quan ở Giang Nam Mặc dùrất quyến luyến, song nàng vẫn khuyên chồng quyết chí ra đi “em nghe nói,nam nhi sinh ra để chọn tang bồng hồ thỉ bắn đi bốn phơng, trợng phu lớn lênthì lập thân nêu danh làm rạng rỡ cho cha mẹ, sao có thể nặng ân tình đợc?
Mẹ chàng ở nhà, cần chăm lo quạt nồng ấp lạnh, miếng ngọt miếng bùi, emthừa sức gánh vác công việc ấy… nhà phê bình văn học luôn dựa ái Khanh ở nhà thay chồng đảm đơng”việc nhà, hết lòng thành kính, một lòng chăm sóc mẹ chồng chu đáo Tấmlòng ấy của nàng khiến trớc lúc lâm chung bà còn dặn lại : “Con mẹ vì cớcông danh lên mãi Kinh đô rồi từ đấy tuyệt không tin tức Mẹ lại không may
đau ốm, con dâu mẹ chăm sóc mẹ không thiếu điều gì Nay số mẹ đã hết,không có gì trả ơn con Chỉ mong con trai mẹ sớm về, con dâu mẹ ngày sau cócon có cháu và chúng đều hiếu thảo nh con dâu mẹ Trời xanh có biết, ắt thếnào cũng không phụ con” Lời tri ân cảm thơng, thấu hiểu của mẹ chồng dànhcho con dâu hiếu thảo! Đến khi mẹ chồng qua đời nàng vẫn một lòng giữ trọn
đạo hiếu ở vậy chờ chồng Cho dến một ngày Trơng Sỹ Thành dấy binh nổiloạn vây hãm Bình Giang, nhà ái Khanh bị tên Lu Vạn hộ chiếm, thấy nàng
có nhan sắc hắn muốn ép nàng làm vợ Trớc tình thế cấp bách đó, không còncách nào khác để giữ gìn sự trinh tiết, nàng tìm đến cái chết để giữ mãi sựthuỷ chung với chồng Cái chết vừa là để nàng tự bảo vệ mình vừa là sự chứng
tỏ cho lòng thuỷ chung son sắt Mặc dù xuất thân là một ca kỹ, ngời ta vẫn ờng nói “xớng ca vô loài” - nhng ái Khanh lại không phải là loại “hết làm vợ
th-họ Trơng lại hầu th-họ Lý” Không dừng lại ở đó, sử dụng yếu tố “kỳ”, tác giả đãcho chồng gặp lại nàng Thực lòng thơng cảm khi tìm gặp lại vợ, nhìn lại vợtrong một hình hài còn nguyên vẹn, ái Khanh còn “tơi tắn nh lúc sống, da thịt
nh xa”, rồi họ đợc trò chuyện cùng nhau ái Khanh đã giãi bày lòng mìnhtrong nghẹn ngào, nức nở:
“Xa cách ba xuân,Một ngày ba năm,Sao chàng chẳng về?
Trang 23Ai ngờ đâu
Ân tình thôi vĩnh biệt, th chẳng thấy về!
Gơm đao khắp chốn vung liaSao mệnh bạc thời suy họa áp kề
Hớng màn vàng bớc tới,Hạc kinh, vợn oán,Thơm tho khăn lụa,Ngọc nát hoa lìa
Muốn giữ trọn trinh,Phải liều một chếtKhỏi bị ngời đời kháo thị phi
Chàng hãy nhớHọa là trong tranh vẽGặp lại Thôi Huy”
Tác giả đã để cho nhân vật đợc bộc bạch những nỗi niềm tự trong thẳmsâu, đợc chồng thấu hiểu những sự đắng cay Đó chính là cái nhìn đầy thôngcảm đối với nhân vật, và phần nào khắc đậm hình ảnh ái Khanh- một ngờiphụ nữ chính chuyên, giàu đức hy sinh
Nguyễn Dữ cũng dành bút lực của mình ngợi ca về ngời phụ nữ Trong
Truyền kỳ mạn lục họ là những tấm gơng của sự thuỷ chung, tiết liệt Đó là
nàng Nhị Khanh trong Chuyện ngời nghĩa phụ Khoái Châu và Vũ Thị Thiết trong Chuyện ngời con gái Nam Xơng là hai ngời phụ nữ tiêu biểu cho phẩm
cách ấy Hai ngời đàn bà sống trọn nghĩa với chồng nhng rốt cuộc phải nhậnlấy những bi kịch xót đau Và dù cuộc đời có tàn nhẫn với họ bao nhiêu thì họvẫn thể hiện rõ tính cách, phẩm chất cao quý của mình
“Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hơng
Miếu ai nh miếu vợ chàng Trơng
Trang 24
Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻLàn nớc chi cho lụy đến nàng…”
(Lê Thánh Tông)Câu chuyện buồn của nàng Vũ Nơng xảy ra từ thời hậu Trần đã đợcNguyễn Dữ ghi lại thành một truyền kỳ, đã làm rơi nớc mắt ngời đọc mấy thế
kỷ nay Cái bóng oan khiên nh một định mệnh phủ xuống đời nàng Câuchuyện ca ngợi vẻ đẹp của lòng vị tha, ca ngợi đức trung trinh của ngời đàn
bà Xây dựng mối quan hệ vợ chồng, Nguyễn Dữ đã dựa vào tính cách chahoàn hảo của Trơng Sinh - chồng của Vũ Nơng để nói lên tấn bi kịch và phẩmhạnh của Vũ Nơng Nàng là ngời phụ nữ hoàn hảo từ dung nhan cho đến phẩmchất “Vũ Thị Thiết ngời con gái quê ở Nam Xơng Ngời đã thuỳ mị, nết na, lạithêm t dung tốt đẹp” Khi làm vợ Trơng Sinh, Vũ Nơng cũng tỏ ra là một ngời
vợ nết na, rất mực Mặc dù chồng có tính “ghen bóng ghen gió” nhng “Vũ
N-ơng luôn giữ gìn khuôn phép, không lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà” Đếnlúc Trơng Sinh đi lính nàng “chẳng dám mong đeo đợc ấn phong hầu, mặc áogấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo đợc hai chữ bình yên” Mộtmình tần tảo sớm tối chăm sóc mẹ chồng, dạy dỗ con thơ, làm nhiệm vụ mộtngời con dâu, ngời mẹ trẻ một cách hoàn hảo Khi mẹ chồng ốm, nàng chăm
lo thuốc thang Đến khi mẹ chồng mất nàng thơng xót, lo việc ma chay tế lễchu đáo Những năm tháng chờ chồng đã giúp nàng bộc lộ những phẩm chấtcủa một ngời phụ nữ rất mực phẩm hạnh Nàng “cách biệt ba năm giữ gìn mộttiết”, song cuộc đời thật lắm lúc đa đoan, nghiệt ngã Thói ghen tuông và tính
đa nghi làm cho Trơng Sinh thành kẻ mù quáng và nhẫn tâm Khi đi lính trở
về, Trơng Sinh “nghe con nói, đinh ninh là vợ h, mối nghi ngờ ngày càngsâu… nhà phê bình văn học luôn dựa Khi nàng hỏi, thì lại dấu, không kể lời con, chỉ lấy chuyện bóng gió này
nọ mà mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi” Chàng đã nghe một lời nói ngâythơ nhng chứa lợng thông tin không đầy đủ của con thơ
ở đây thật, giả lẫn lộn Vũ Nơng đã đem một cái giả để thay cho mộtcái thật, dùng cái bóng của mình để khoả lấp nỗi nhớ thơng chồng Trơng Sinhlại lầm lẫn giữa cái giả và sự thật Sự lầm lẫn ấy đã xảy ra một bi kịch khôngthể cứu vãn Trơng Sinh mất niềm tin đối với vợ Bị chồng nghi oan, mắngnhiếc, nàng chỉ biết khóc và có những lời giãi bày, mong đợc cởi mối nghingờ Không đợc chồng tin tởng, nàng đành mợn đến cái chết để giữ tiết hạnh
“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc,
Trang 25
tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám Thiếp nếu đoantrang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nớc xin làm ngọc Mỵ Nơng, xuống đấtxin làm cỏ Ngu Mỹ Nhợc bằng, lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dới xinlàm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho quạ, chẳng những là chịu khắp mọi
ngời phỉ nhổ” Lời thề thốt thể hiện nỗi oan khuất của nàng Qua lời thề ấy Vũ
Nơng hiện lên là một con ngời trung hậu Tìm đến cái chết là cách duy nhất
Vũ Nơng có thể chứng tỏ đợc tấm lòng trinh bạch của mình Cuộc sống đốivới nàng không có niềm tin thì làm sao có thể là chỗ dựa tuyệt đối cho nàng
“Thiếp sở dĩ nơng tựa vào chàng vì có thú vui nghi gia nghi thất, có sự yên ổn
đợc tựa bóng cây cao… nhà phê bình văn học luôn dựa” Cuộc đời không dành cho nàng chỗ đứng để khẳng
định nhân phẩm nàng đã quyết chọn cái chết, chỉ có cái chết mới giúp nàngthoát khỏi sự ruồng rẫy của chồng
Nàng khát khao vơn tới một bến bờ hạnh phúc, khẳng định giá trị cao
đẹp của mình: một ngời vợ chung tình với chồng, một ngời con trọn bề hiếu
đạo Phẩm chất đáng quý ấy của Vũ Nơng khiến ngời đọc trân trọng bao nhiêuthì lại trách chàng Trơng Sinh vô tình bấy nhiêu - vô tình để cho ngời vợ đángthơng chết một cách oan uổng Cái chết đã trả nàng về với cõi vĩnh hằng, đểlại sự tiếc thơng vô hạn cho đời sau Nàng là một ngời con gái thờng dân đợctôn thờ nh một thành hoàng làng (miếu vợ chàng Trơng) Nàng cũng là mộtphụ nữ đời thờng đợc chính một trong những vị vua tài giỏi vào bậc nhất nớcViệt - Lê Thánh Tông chiêu tuyết bằng những vân thơ đầy xúc động:
“… nhà phê bình văn học luôn dựaQua đây mới biết nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trơng khéo phũ phàng”
Cũng nh Cù Hựu xây dựng nhân vật ái Khanh, xây dựng nhân vật VũNơng, Nguyễn Dữ đã mợn yếu tố kỳ lạ, hoang đờng để khẳng định trọn vẹnthêm đức tính của nàng và khắc họa rõ về tính cách của ngời phụ nữ trong xãhội phong kiến Đó là sự bù đắp những mất mát thiệt thòi của nàng ở trầngian Nguyễn Dữ đã tạo dựng một không gian mới, một thế giới mới cho nhânvật tồn tại, thế giới của vua biển Nam Hải, nơi Vũ Nơng sống sau khi gieomình xuống sông Đây phải chăng là một bớc tiếp nối của nghệ thuật tợng tr-
ng phơng Đông nh một sự có hậu để ám chỉ nỗi oan khuất của Vũ Nơng đợchoá giải? Dòng sông là nơi minh chứng cho sự trinh bạch của nàng, rửa nỗioan cho nàng; cũng là nơi cho nàng gặp lại Trơng Sinh để tỏ lòng vị tha trớcnhững hối hận của chồng Nhng đằng sau hình ảnh rực rỡ của yếu tố thần kỳ
Trang 26
vẫn nhức nhối một bi kịch- vì vĩnh viễn hai ngời vẫn ở hai thế giới khác nhau
Sự trở về trên dòng sông kỳ ảo của Vũ Nơng nổi bật một phẩm chất nữa củanàng Vũ Nơng: đó là vẻ đẹp của lòng vị tha Vũ Nơng đợc sống lại bằng tìnhthơng yêu của tác giả Nguyễn Dữ không thể an lòng khi chứng kiến cái chếtoan khốc của nhân vật Thơng cảm với số phận của nàng Vũ Nơng và cũng hếtsức đề cao phẩm hạnh của nàng, tác giả không để cho Vũ Nơng “làm mồi chocá tôm” và “làm cơm cho diều quạ” mà để cho nàng trở thành một mỹ nhân,
“quần áo thớt tha” và sống “trong cung gấm đến đài thật nguy nga lộng lẫy”
Đó chính là sự đề cao ngời phụ nữ cùng đức hạnh của họ
Nàng Vũ Nơng tìm đến cái chết để tỏ lòng sáng trong, nàng Nhị Khanh
trong Chuyện ngời nghĩa phụ Khoái Châu bất đắc dĩ cũng tìm cho mình một
cái chết để tỏ sự chính chuyên của mình Nhị Khanh trên bớc đờng đi tìmhạnh phúc đứng ở cảnh ngộ cũng đáng thơng nh Vũ Nơng Và nếu nh Vũ N-
ơng khẳng định đợc phẩm chất trong sáng của mình thì Nhị Khanh cũng đầy
vẻ tiết liệt của ngời đàn bà Nàng thà tự vẫn, thà đeo vào cổ sợi dây oan nghiệtcòn hơn làm vợ một ngời khác không phải là chồng mình Nhị Khanh xuấtthân là một ngời phụ nữ bình dân đợc gả làm vợ Phùng Trọng Quỳ- một ngờiham chơi lêu lổng Buổi ấy, gặp khi vùng Nghệ An có giặc, triều đình cho gọiPhùng Lập Ngôn - cha của Trọng Quỳ vào Vì đờng xá xa xôi nên nàng khôngthể theo chồng, nhng khi Trọng Quỳ có ý quyến luyến không rứt, nàng nói:
“Thiếp đâu dám đem mối khuê tình để lỗi bề hiếu đạo” Ngay trong lời nói ấycủa nàng cũng tỏ rõ nàng là ngời rất coi trọng chữ hiếu, lại biết khuyên chồng
đừng bận tình riêng mà hỏng việc lớn Trọng Quỳ đi xa, sáu năm không có tintức, Nhị Khanh không nơi nơng tựa, phải trở về ở Khoái Châu Bà cô họ Lutham tiền ép nàng cải giá với Bạch tớng quan, may nhờ lão bộc tìm Trọng Quỳ
về mới tránh khỏi thất tiết Không ngờ Trọng Quỳ nết h khó đổi, Nhị Khanh
đã bao lần khuyên bảo nhng Trọng Quỳ không nghe, cuối cùng đem gán nợnàng vì thua bạc cho tên lái buôn Đỗ Tam Nhị Khanh vô cùng đau lòng Tìnhcảm vợ chồng, gia đình mà nàng cố công vun đắp, cố làm cho nó ngày một tốt
đẹp hơn chẳng đem lại cho nàng điều mong ớc mà gieo vào lòng nàng thêm sự
đớn đau Nàng chẳng ngờ chồng mình lại đa mình ra để đánh bạc Nhị Khanhthơng con và cất lên những lời cay đắng: “một cái chết đối với mẹ thì có khókhăn gì Nhng mẹ chỉ nghĩ thơng các con mà thôi” Nàng tự vẫn vì không còncon đờng nào khác Nhà văn khẳng định phẩm giá của nhân vật thì không còn
Trang 27
cách nào hơn là phải để cho nhân vật chết đi mới hợp lẽ trong hoàn cảnh ấy,hợp lẽ với sự phát triển tính cách của Nhị Khanh Thế nhng, cái nợ trần thếnàng cha trả xong, theo quan niệm phong kiến ngời con gái có ba đạo “tamtòng”, theo chồng là một đạo Tìm đến cái chết có phải Nhị Khanh đã theochồng không?- chết để vẹn tình thế nghĩa là theo chồng (đây là ý trong lờibình cuối truyện) Nhng chết đi mà nàng vẫn thơng nhớ khôn nguôi Cho nên,khi chồng hối hận thì nàng lại trở về với tình thơng hết sức cảm động của ngời
vợ hiền hậu dịu dàng, rộng lợng, tha thứ cho chồng, hớng điều nghĩa cho con
ở đây Nguyễn Dữ đã xoá nhoà ranh giới giữa thực và siêu thực để cho nhânvật “tái sinh” - xuất phát từ chính tấm lòng u ái, độ lợng của nhà văn giàu lòngnhân ái Nàng Nhị Khanh tiêu biểu cho tính cách trung hậu, đảm đang, tiếtnghĩa, đầy tình thơng đối với chồng con của ngời phụ nữ xa Tính cách ấy gắnvới sự diễn biến của cốt truyện, gắn với những tình tiết phát triển hợp lôgíc
Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục đều xây dựng đợc những
phẩm cách tốt đẹp, những ngời phụ nữ chính chuyên, thuỷ chung và giàu tìnhyêu thơng; luôn khát khao vơn tới tình yêu, hạnh phúc… nhà phê bình văn học luôn dựa
Cả hai tác giả đều sử dụng yếu tố “kỳ” để thể hiện rõ tính cách nhân vậtvốn có sự phát triển hợp quy luật của nó Đó là cảnh gặp gỡ đầy n ớc mắt, đầy
xót xa của ái Khanh và chàng trai họ Triệu trong Chuyện nàng ái Khanh hay
Nhị Khanh nức nở từ cõi chết trở về, tha thứ tội lỗi cho chồng, chỉ bảo đờng ớng cho con, rồi giấc mộng trùng phùng giữa Lệ Nơng và Phật Sinh, sự trở vềcủa Vũ Nơng “ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng, theo sau lại có
h-đến hơn năm mơi chiếc xe nữa, cờ tàn tán lọng, rực rỡ đầy sông” Những tìnhtiết ấy góp phần tô đậm hơn tính cách nhân vật Bởi đằng sau những chi tiết kỳ
ảo ấy, những thân phận này lại càng tỏ rõ vẻ đẹp phẩm cách
2.1.1.2 Dám tự giải thoát, đấu tranh bảo vệ tình yêu hạnh phúc,
quyền sống.
Nhân vật nữ trong hai tác phẩm còn bộc lộ rõ hơn qua hình ảnh, dángdấp của những ngời phụ nữ vùng lên để đấu tranh cho tình yêu, cho lẽ sốngcủa mình
Dới ngòi bút của Cù Hựu, cô gái trong lầu quan Bình Chơng Giả ThuHác hiện lên đầy táo bạo, mạnh mẽ trong việc đấu tranh cho tình yêu Trớc
đây nàng là ngời hầu gái có cảm tình với một ngời hầu nam trong ngôi lầu ấy.Cả hai có tình ý với nhau, nàng từng lấy túi đựng tiền thêu lén ném cho chàng,
Trang 28
chàng cũng lấy hộp phấn đồi mồi tặng lại Đáng lẽ ra sống dời trớng của GiảThu Hác, họ không đợc phép làm nh thế nhng cả hai đã dám đi ngợc lại phéptắc, bày tỏ tình cảm với nhau nhng không ngờ chuyện của hai ngời bị vỡ lỡ,Thu Hác “buộc hai ngời phải chết dới cây cầu gãy ở Tây Hồ” Nhng mốiduyên cha hết, cô gái ấy không chịu chấm dứt tình yêu ở đây Sau khi chết đi,chàng trai đợc đầu thai lại làm chàng Triệu Nguyên, cô gái tuy thể xác đã lìa
xa nhng linh hồn vẫn còn tồn tại trên cõi nhân gian, cảm mối tình nàng lại mộtlần nữa tìm đến với chàng Cô đã dám vợt qua số mệnh, qua sự cách trở âm d-
ơng để đợc trở về đoàn tụ cùng chàng dù chỉ trong một thời gian ngắn ngủi.Cô gái đã kể lại những chuyện dã man độc ác của Giả Thu Hác tức là cô đãdám vạch trần sự độc ác tàn bạo của thế lực thống trị Hắn chỉ vì một lời khencủa một cô hầu gái mà tặng cái đầu lâu của chàng trai kia cho nàng rồi cuốicùng hắn cũng phải chịu chết Hắn độc ác ngăn cản tình cảm chân thành của ng-
ời ta nhng không thể chia lìa họ vĩnh viễn đợc Nh vậy là cờng quyền bạo lực cũngkhông thể giết chết đợc tình yêu
Hng Nơng trong câu chuyện Chiếc thoa hình chim phợng lại khác Vốn
đã đợc cha mẹ gả cho Hng Ca, vì gia đình Hng Ca gặp nạn nên 15 năm xacách biền biệt tin tức, nàng vì thơng nhớ chàng mà sinh bệnh mất đi Tởng cáichết sẽ chôn vùi tất cả, Hng Ca trở về chỉ biết buồn bã khóc thơng Nhng rồi vìduyên số cha trọn Hng Nơng lại sống dậy nhập hồn vào thể xác em gái làKhánh Nơng để đợc nối duyên Châu- Trần với Hng Ca Cách thể hiện củanàng hết sức táo bạo Nàng dám đang đêm gõ cửa phòng chàng, ép chàng phải
ăn nằm với mình, bị Hng Ca từ chối vì không biết đó là linh hồn nàng, nàngdùng những lời lẽ đe dọa buộc chàng phải nghe theo Sau rồi sợ chuyện vỡ lỡlại nghĩ cách cùng chàng trốn khỏi gia đình mãi tới lúc gần hết sợ mới tìm lời
dụ chàng về tạ tội với mẹ cha Nàng đã dám chống lại những lề thói, nhữngquan niệm xa để tự mình tìm đến với ngời yêu Nàng tìm mọi cách để đợcsống những ngày tình nghĩa bên ngời chồng Hiểu đợc tâm nguyện đó củanàng dờng nh ai cũng động lòng thơng cảm
Sức mạnh của tình yêu luôn luôn là động lực khiến ngời ta vợt qua đợcnhững thế lực cản trở, nhiều khi phải đấu tranh giành lại tình yêu nhng khi đãyêu thì họ quyết vì tình Các câu chuyện về cuộc đời của các cô gái kể trêncũng đã bắt đầu là những biểu hiện cho sự đấu tranh bảo vệ tình nghĩa vợchồng trong thời buổi nhiễu nhơng loạn lạc Biết bao nhiêu nỗi đau, bao nhiêu
Trang 29
số phận bất hạnh của ngời phụ nữ sống trong xã hội phong kiến Là nạn nhânxã hội đó họ khát khao đợc sống, đợc quyền bình đẳng nhng trong xã hội bấtcông “nam tôn, nữ ti” họ là món hàng, đồ chơi… nhà phê bình văn học luôn dựa Họ khát khao cuộc sống trầntục nhng xã hội ngăn trở Họ không có chỗ nào để bấu víu kể cả ở thế giới hồn
ma họ cũng không đợc công nhận là ngời phụ nữ : Nhị Khanh (Chuyện cây
gạo); Thị Nghi (Chuyện yêu quái ở Xơng Giang); Ngô Chi Lan (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa), Đào - Liễu (Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây), Hng Nơng
(Chiếc thoa vàng hình chim phợng)… nhà phê bình văn học luôn dựa đều khát khao trở về cõi trần đợc sống
và đợc yêu thơng
Ngời phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục chịu nhiều bất hạnh, ngang trái
và đau thơng, họ luôn khao khát đợc sống, đợc yêu thơng, đợc xã hội chấpnhận Nhng sự hà khắc của những luật lệ trong chế độ phong kiến không cho
họ cái quyền thực hiện ớc mơ khát khao bình dị đó, họ phải dẫn đến cái chết
đầy đau đớn Nhân vật Đào Hàn Than trong Chuyện nghiệp oan của Đào thị,
Vũ Thị Thiết trong Chuyện ngời con gái Nam Xơng, Nhị Khanh trong Chuyện
nghĩa phụ Khoái Châu; Lệ Nơng trong Chuyện Lệ Nơng, Đào - Liễu trong Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây… nhà phê bình văn học luôn dựa là từ cõi đời tạm bợ đến cõi thần tiên vĩnhhằng… nhà phê bình văn học luôn dựa Cái chết của Đào thị là một kết cục đầy bi thảm của ngời con gái “tàihoa bạc phận” không chịu sự nhẫn nhục, sự trói buộc mình trong khuôn khổcủa những luật lệ hà khắc, đã vùng dậy đấu tranh để dành lấy cuộc sống củacon ngời ở cõi đời này Có thể nói Đào Hàn Than là nhân vật phụ nữ “nổiloạn” đầu tiên trong văn học Việt Nam đã tự đứng lên đấu tranh để giải phóngchính mình và dành lại quyền sống con ngời Đó cũng là sự tiến bộ trong quan
điểm của Nguyễn Dữ Đào Hàn Than là một kỹ nữ xinh đẹp lại có “thông hiểu
âm luật và chữ nghĩa” đợc tuyển vào cung nhân, đợc Vua Dụ Tông yêu mến
và khâm phục tài giỏi thơ luật, cuộc đời tởng đợc an phận ở đây Khi vua DụTông mất, nàng phải ra ngoài phố đi lại hầu hạ trong nhà quan Hành khiển, bị
vợ ông ghen và đánh đập tàn nhẫn Nhng nàng không chịu nhịn nhục, vùnglên đấu tranh chống lại sự bất công bằng cách thuê thích khách trả thù Hành
động đó chứng tỏ nàng có tính cách mạnh mẽ, cơng quyết, dám đấu tranh đểdành lại quyền sống của mình Sau đó, vì chuyện bại lộ nàng đã xuống tóc,mặc đồ nâu sồng đến cửa Phật tích đi tu Tung tích bị bại lộ, nàng lại đến chùa
Lệ Kỳ có s cụ pháp Vân và s bác Vô Kỷ xin tu hành Sống cuộc đời tu hànhnhng không hề thoát tục chứng tỏ nàng khao khát cuộc sống quyền làm ngời
Trang 30
Hàn Than vẫn “mặc áo lụa, quần là, điểm môi son, tô má hồng”, trong nàngluôn có một khao khát sống mãnh liệt Nàng dám đấu tranh, làm trái luật lệnhà chùa để sống vì tình yêu Đó là con ngời đầy nghị lực dám đứng lên đấutranh để bảo vệ quyền làm ngời của mình Nhng cuối cùng nàng bị trả giá đắt:nàng có thai và phải chết ngay trên giờng cữ Cái chết của Đào Hàn Than nhmột tiếng kêu đòi quyền bình đẳng, khát khao hạnh phúc, tình yêu tự do Cáikhao khát mãnh liệt ấy của nàng còn thể hiện đó là khi chết nàng đầu thai làmcon trai nhà khác Nhng trớ trêu ở kiếp khác nàng cũng không đợc công nhận
Đó là một nỗi đau đớn, xót xa của một thân phận đủ những đau khổ của mộtkiếp ngời bé nhỏ, thấp kém, có ớc mơ, khát khao bình dị nhng xã hội phongkiến không cho phép
Tính cách của Đào Hàn Than đợc hình thành và phát triển trong cuộc
đấu tranh dành lại quyền đợc yêu thơng và quyền làm ngời Nguyễn Dữ đã tậptrung xây dựng thành công nhân vật Đào Hàn Than với tính cách độc đáo,
không giống với nhân vật nào trong Truyền kỳ mạn lục và cũng là nhân vật
hiếm có trong văn học trung đại Việt Nam Đào Hàn Than tiêu biểu cho conngời mang vẻ đẹp tinh thần mạnh mẽ táo bạo yêu sống và ham sống, đấu tranh
tự giải thoát Tác phẩm tố cáo sâu sắc luật lệ hà khắc phong kiến Nhân vật
Đào Hàn Than nh có sức mạnh đập tan luật lệ bất công đó Và tác phẩm cũng
là tiếng nói kêu gọi con ngời đứng lên đấu tranh để giành lại quyền sống Đó
là lý tởng thẩm mỹ của nhà văn Nguyễn Dữ và cũng là vấn đề nhân sinh đặt racho thời đại
Nh vậy, cả hai tác giả đã dụng công trong việc xây dựng nên nhữnghình tợng ngời phụ nữ, chúng ta thấy số lợng nhân vật phụ nữ đông đảo và
đóng vai trò quan trọng trong hai tác phẩm, đặc biệt là trong Truyền kỳ mạn
lục Trong đau đớn, dập vùi họ vẫn khẳng định đợc những phẩm cách đẹp đẽ.
Khẳng định họ trong xã hội, bênh vực họ, đòi quyền tự do và trân trọng nhữngkhát khao tình yêu mãnh liệt nơi ngời phụ nữ, đó là tấm lòng nhân đạo cao cảsâu sắc của hai tác giả
2.1.2 Lý giải những sự tơng đồng
Cù Hựu và Nguyễn Dữ đều là những nhà nho sống trong thời kỳ trung
đại, cách cảm nhận thế giới và phản ánh cuộc sống xã hội tơng đồng nên khimiêu tả nhân vật có những điểm gặp gỡ
Trang 31
Tính cách nhân vật đợc hình thành trong hoàn cảnh nhất định Xã hộiphong kiến với những vòng cơng toả, lễ giáo khắt khe đã quy định nhữngphẩm cách nh thế Đó là những con ngời hy sinh bản thân mình để làm tròn
đạo hiếu, làm tròn bổn phận của một ngời đàn bà thậm chí chứng tỏ bằng cáichết Trớc nhiều nỗi bất công đó có những ngời phụ nữ đã dám đứng lên đấutranh bảo vệ cho phẩm giá, nhân cách, hạnh phúc của mình Và ở đó tính cáchnhân vật phần nào đợc bộc lộ rõ Sự gần gũi nhau về mặt địa lý, cuộc sốngcùng những sự gặp gỡ về mục đích, ý đồ sáng tác, của Cù Hựu và Nguyễn Dữ
đã làm nên những sự tơng đồng về mặt tính cách nhân vật Đúng nh nhận địnhcủa Phạm Tú Châu: “Sự tơng đồng, gần cận giữa hai tác giả: học hành, tàinăng, hoài bão, tâm sự, cảnh ngộ… nhà phê bình văn học luôn dựa giữa nớc ta và Trung Quốc về thời đại lịch
sử, phong tục tập quán, những mối quan hệ gia đình, xã hội, cách cảm, cáchnghĩ, cách nói, viết… nhà phê bình văn học luôn dựa đã có từ lâu đời, đã trở thành những nét truyền thống tựnhiên chứ không phải là sự mô phỏng, bắt chớc nữa” [4 , 78]
2.1.3 Những sự khác biệt
Hai nhà văn đều dành ngòi bút khắc họa vẻ đẹp phẩm chất, tính cách
nhân vật, song nhân vật của họ có nhiều nét khác biệt Nhân vật phụ nữ của
Cù Hựu nghiêng về vẻ đẹp thể chất, Nguyễn Dữ lại chú trọng hơn đến khắchọa vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật
Có thể thấy nhiều tác phẩm thành công trong nghệ thuật xây dựng nhânvật đó là nhân vật có tính cách riêng, đã có bóng dáng ''con ngời cảm nghĩ”
bên cạnh “con ngời hành động” Nhị Khanh (Chuyện ngời nghĩa phụ Khoái
Châu) thuỷ chung, tiết nghĩa, giàu tình yêu thơng, qua các biến cố, sự kiện,
càng ngày càng rõ nét ít nhất có bốn biến cố, sự kiện làm nổi bật lên tínhcách của Nhị Khanh: khuyên chồng đi theo để phụng dỡng thân phụ lúc tuổigià; ở nhà bị ép gả cho tuớng quân họ Bạch đã kiên quyết từ chối; Trọng Quỳthua bạc, nàng quyên sinh chứ không chịu rơi vào tay Đỗ Tam; hiển linh báomộng cho chồng: nuôi con khôn lớn để sau này hai con đi theo cuộc khởinghĩa Lam Sơn Hay Lệ Nơng và Thuý Tiêu đều chung tình, nhng Lệ Nơngkhí khái, tiết liệt mà Thuý Tiêu thì dịu dàng, đức hạnh
ở Truyền kỳ mạn lục bớc đầu đã xuất hiện bóng dáng “con ngời cảmnghĩ” Khi diễn tả tâm trạng nhân vật, tác giả thờng dùng thơ để “ngụ tình”.Qua những vần thơ, các nhân vật gửi gắm, bộc lộ những cảm xúc, suy t thầmkín trong lòng Nó góp phần làm cho nhân vật đợc miêu tả trở nên phong phú,
Trang 32
sinh động trong cách thể hiện Đó chính là hình thức của nghệ thuật miêu tảnội tâm Nh vậy, miêu tả nội tâm nhân vật còn là cách để Nguyễn Dữ khắchọa tính cách nhân vật Một trong những phơng diện thử thách tài năng nắmbắt và lý giải đời sống, bộc lộ quan niệm về con ngời của ngời nghệ sỹ là ph-
ơng diện miêu tả nội tâm Đó là thế giới tâm lý và tinh thần của nhân vật, lànhững cảm giác, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật về thế giới, về con ngời và vềbản thân mình Nhà văn có thể trực tiếp biểu hiện nội tâm nhân vật bằng ngônngữ của mình với t cách ngời kể chuyện, nhng biện pháp mà nhà văn hay sửdụng nhất là biểu hiện độc thoại nội tâm và đối thoại nội tâm của nhân vật.Với Nguyễn Dữ, nội tâm đợc thực hiện bằng ngôn ngữ của nhân vật, chúng
“vang lên” một cách thầm lặng trong tâm t của nhân vật Nhân vật tự phơi bàynhững diễn biến trong tâm trạng của mình qua những nghĩ suy, cảm xúc cụthể của mình ở nhân vật nữ, nổi bật là tâm trạng của Vũ Nơng, nội tâm đợcbộc lộ qua lời nói của nàng Lời Vũ Nơng dặn chồng trớc lúc sinh li, lời mẹdặn con dâu trớc khi lâm chung, lời vợ trần tình với chồng, lời từ biệt, lời thanthở với đất trời Những lời nói ấy không phải chỉ là đối thoại mà còn là độcthoại, bộc lộ thẳm sâu cõi lòng nhân vật Những lời nói dài réo rắt, lâm li, đầyxúc động Đây là lời vợ chàng Trơng hết sức thống thiết chân thành “Thiếpvốn nhà nghèo, đợc vào cửa tía, sum họp cha thoả tình chăn gối, chia phôi vì
động việc binh Cách biết ba năm, giữ gìn một tiết Tô son điểm phấn từng đãnguội lòng, ngõ liễu đờng hoa cha hề bén gót Đâu có sự mất nết h thân nh lờichàng nói Giám xin trần bạch để cởi mối nghi ngờ Mong chàng đừng mộtmực nghi oan cho thiếp” Lời Vũ Nơng than thở cho số phận đầy ngang trái,oan khuất của mình: “kẻ bạc mệnh nào duyên phận hẩm hiu, chồng con rầy
bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ… nhà phê bình văn học luôn dựaThiếp nếu đoan trang giữ tiết,trinh bạch gìn lòng, vào nớc xin làm ngọc Mỵ Nơng, xuống đất xin làm cỏNgu Mỹ Nhợc bằng, lòng chim dạ cá, lừa dối chồng con, dới xin làm mồi chocá tôm, trên làm cơm cho diều quạ, chẳng những là chịu khắp mọi ngời phỉ
nhổ”.
Từ lời nhân vật tỏ lòng, ta thấy tác giả dờng nh thâm nhập, sống với họ.Qua nội tâm, hình ảnh về nhân vật càng đọng lại sâu hơn trong lòng độc giả.Vậy là, dù đời sống nội tâm cha thực sự trở thành yếu tố quan trọng trong việcxây dựng cốt truyện nhng Nguyễn Dữ đã đi xa hơn truyện cổ dân gian vốn ít
đi sâu vào miêu tả nội tâm nhân vật, đã vợt xa truyện ký lịch sử vốn ít chú
Trang 33
trọng đến tính cách và cuộc sống riêng của nhân vật Từ những nhân vật lịch
sử, nhân vật truyện dân gian, Nguyễn Dữ đã xây dựng lại thành những nhânvật truyện ngắn có diện mạo, tính cách riêng bằng những chi tiết chọn lọc
Xây dựng nhân vật nữ, Nguyễn Dữ đã thành công trong việc khắc họa
khía cạnh con ngời bình thờng Nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục thể hiện những vấn đề sâu sắc của đời sống, gắn với ý thức về cá nhân “Truyền kỳ
mạn lục là một cái mốc mới trong quan niệm về tự do cá nhân” [26,211] Nếu
nh đối tợng phản ánh của văn học trớc thế kỷ XVI thờng là cái tao nhã, trangtrọng, lý tởng thì văn học thế kỷ XVI về sau phần lớn là phản ánh những cáithông tục bình thờng Con ngời trong văn học từ đây ít bị ràng buộc hơn vào
những t tởng giáo lý có sẵn Và điều này bắt đầu một cách rõ rệt ở Truyền kỳ
mạn lục Ta bắt gặp ở đây những dục vọng, ớc muốn của nhân vật thoát ra
ngoài sự toả chiết của t tởng nho gia về “tu, tề, trị, bình” với ngời nghĩa sỹquân tử, “công, dung, ngôn, hạnh” đối với ngời phụ nữ phong kiến Nhân vậttrong tác phẩm không mang những đặc điểm của ngời anh hùng liệt nữ ludanh sử sách, mà chỉ là con ngời của đời sống thực tế sôi động, cay nghiệt
“Bằng tài năng của mình Nguyễn Dữ đã thổi một sức sống lạ kỳ; mỗinhân vật là một số phận, một vận mệnh riêng với t cách là một “con ngời cánhân” chịu trách nhiệm trớc việc mình làm Thông qua những số phận cụ thể
đó, Nguyễn Dữ đã khái quát hoá cuộc sống ở trình độ bậc thầy về nghệ thuật
mà khó có tác giả truyện ngắn Việt Nam nào thời trung đại vơn tới đợc”[17,97] Nguyễn Dữ đã khắc họa phẩm chất, tính cách của những con ngờibình thờng trong xã hội với những số phận éo le, trắc trở Đó là những nhânvật chỉn chu nh Vũ Thị Thiết, Nhị Khanh dù ngoan hiền nhng, chung thuỷ,yêu thơng, chăm sóc chồng con hết lòng vẫn bị phụ bạc, bị nghi oan và phải tự
tử để giữ trinh tiết Nhân vật “phá phách” nh Đào Hàn Than luôn hấp dẫn ngời
đọc bởi khát vọng sống của nàng Nàng không cam chịu số phận, luôn quẫy
đạp để đợc sống và đợc yêu theo ý mình Nàng muốn cỡng lại số phận nhngkhông thể đợc Hai lần chết với hai cách khác nhau chứng minh điều đó Mộtngời phụ nữ, lại là ca kỹ, với những hành động và những khát vọng nh ĐàoHàn Than quả là hiếm thấy trong văn học trung đại
Tính cách nhân vật đợc miêu tả trong Truyền kỳ mạn lục nhất quán suốt
tác phẩm Cốt truyện không có những diễn biến phức tạp bởi vậy tình tiết bộc
lộ tính cách cũng đơn giản Đặc điểm này cho thấy tính chất của truyện ngắn
Trang 34Tiễn đăng tân thoại là thành tựu của truyện truyền kỳ Trung Hoa thế kỷ
XIV, Truyền kỳ mạn lục ra đời muộn hơn song cũng là thành tựu đặc sắc của
truyện truyền kỳ Việt Nam thế kỷ XVI Đó là quá trình phát triển của văn học,trong đó có nhận thức và quan niệm về con ngời Một hiện tợng có tính quyluật của văn học trung đại đó là tiếp thu và dân tộc hoá những tinh hoa vănhọc nớc ngoài vì thế bên cạnh sự ảnh hởng nhiều từ sáng tác của Cù Hựu,
Truyền kỳ mạn lục vẫn thể hiện sức sáng tạo nghệ thuật của nhà văn tài năng
họ Nguyễn Nguyễn Dữ đã khắc họa phẩm cách của những con ngời bình ờng trong xã hội với ý thức cá nhân gắn với số phận, vận mệnh riêng
th-Trong Tiễn đăng tân thoại, Cù Hựu chủ yếu xây dựng, khẳng định những tính cách của nhân vật nữ chính diện nh ái Khanh (Nàng ái Khanh),
Lu Thuý Thuý (Nàng Thuý Thuý) Thì hình tợng nhân vật nữ trong Truyền kỳ
mạn lục phong phú và đa dạng hơn, Nguyễn Dữ không chỉ chú trọng xây dựng
tính cách của nhân vật nữ chính diện nh Vũ Thị Thiết, Nhị Khanh, Lệ Nơng… nhà phê bình văn học luôn dựa
mà còn khắc họa tính cách nhân vật nữ phản diện nh Đào Hàn Than (Chuyện
nghiệp oan của Đào thị) Nhân vật nữ trong tác phẩm của Nguyễn Dữ vì thế
góp phần thể hiện nhiều mặt của cuộc sống, gắn với hiện thực xã hội ViệtNam
2.2 Những sự tơng đồng và khác biệt về số phận
2.2.1 Những sự tơng đồng
Mỗi cá nhân đợc sinh ra trên cõi đời có số phận cá biệt, không có một
số phận khác y hệt Mỗi con ngời lại có biết bao nhân tố tác động để số phận
và cách ứng xử trong cuộc đời không giống với ngời khác Cho nên có thể nóitrên trái đất có bao nhiêu ngời thì cũng có bấy nhiêu số phận Tuy nhiên trongmột chừng mực nào đó thì những con ngời cùng một hoàn cảnh, một môi tr-ờng sống lại có những điểm gần gũi nhau Đây chính là cơ sở để Nguyễn Dữ
và Cù Hựu có sự gặp gỡ khi viết về ngời phụ nữ Mặt khác, dờng nh tính cáchcon ngời lại quy định nên số phận ở cả hai tác phẩm, số phận ngời phụ nữ
đều gắn với tình yêu, và gắn với những bi kịch
2.2.1.1 Nhân vật nữ gắn với chủ đề tình yêu
Trang 35
Nhân vật nữ trong hai tác phẩm là loại nhân vật chính thể hiện chủ đềtình yêu Họ là những giai nhân tài sắc kết duyên cùng nam tài tử là Nho sinh.Những chàng trai, cô gái đều là những ngời trẻ đẹp và đang ở độ tuổi say đắm
tình yêu, tìm đến tình yêu và gắn bó với nhau Trong Tiễn đăng tân thoại nh Vơng Sinh (Cuộc kỳ ngộ ở Vị Đờng), Trịnh Sinh (Lầu Liên Phợng) hoặc những chàng Nho sỹ nh Kim Định (Truyện nàng Thuý Thuý) , Đằng Mục
(Đằng Mục riệu say chơi vờn Tụ Cảnh) trong Truyền kỳ mạn lục Trình
Trung Ngộ (Chuyện cây gạo) là thơng nhân đợc miêu tả “một chàng trai đẹp
đất Bắc hà, nhà rất giàu”, hay Triệu Nguyên thì “con nhà trâm anh cha đã mất,chỉ còn mẹ nhng nhà giàu ức vạn ” Nhân vật nữ là những cô gái có tài làmthơ, ngâm thơ, ca hát, họ thật yểu điệu, dung nhan xinh đẹp Những chàngvăn nhân và những thiếu nữ tài sắc ấy tìm đến với nhau bằng tình yêu tự do, chânthành nh những cặp trời sinh Sự gắn bó đến thiết tha, tình yêu ấy tởng không gì cóthể tách rời Họ đã dám vợt qua những nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến mà nhấtnhất những ngời con gái lúc bấy giờ đều phải tuân thủ, tìm đến tình yêu và có
đợc hạnh phúc trong tình yêu song niềm hạnh phúc ấy thật mong manh, chỉtrong thời gian ngắn ngủi tình yêu lại rơi vào bi kịch tan vỡ Và những bi kịch
đau thơng ấy hơn ai hết ngời phụ nữ phải chịu đựng
Viết về tình yêu, hai tác giả đều ca ngợi tình yêu thuỷ chung, xót thơngcho số phận ngời phụ nữ, đề cao và lên tiếng bênh vực cho họ Bên cạnh đóhai nhà Nho cũng lên án, phê phán những mối quan hệ thể xác, những thói tàdâm điên cuồng, qua đó thể hiện khát vọng hớng con ngời đến tình yêu chânchính, răn đe sự đời, gửi gắm khát vọng về cuộc đời ngày càng tốt đẹp hơn
Đây chính là tấm lòng nhân đạo của hai tác giả
Truyền kỳ là thể loại thuận tiện nhất cho ngòi bút Nguyễn Dữ phóng
túng khi viết về chuyện tình yêu, khi đặt bút viết Truyền kỳ mạn lục Nguyễn
Dữ đã bắt đầu không hoàn toàn tự bó mình trong khuôn khổ khắt khe của ýthức hệ phong kiến Bởi vì “quan niệm chính thống thời phong kiến vốn coitruyền kỳ là thể loại thấp hèn, là ''ngoại th”, “tiểu đạo”, “nhai đàm hạng ngữ”[12,264] Nguyễn Dữ đã vợt qua những thiên kiến của nhà nho, khi viết truyền
kỳ để ít nhiều có thể thoát khỏi khuôn khổ của t tởng chính thống Sử dụng thểtruyền kỳ, Nguyễn Dữ đã có thể dành cho t tởng, tình cảm của mình phạm vi
biểu hiện khá rộng rãi Truyền kỳ mạn lục cũng nh Thánh Tông di thảo là một
tập truyện phóng tác, phần tởng tợng, sáng tạo, h cấu của tác giả rất quan
Trang 36“Chim hồng buồn bã kêu sơng,
Mây tần thăm thẳm xa buông tối mù
Ngời nơng trớng gấm êm ru,
Ngời ôm một mảnh chăn cù giá đông
Ham vui nệm tía màn hồng,
Biết chăng kẻ chốn th phòng thơng đau
Ma tờng dế vách họa nhau,
Nhạn tan khóc sớm, địch sầu thổi khuya”
Hoặc :
“Than ôi! em hát một khúc chừ, nhớ thơng khôn cùng
Hận không sợi tơ chừ, buộc níu chinh an,
Hận không bờ bãi chừ, ngăn chẹn hồi lan,
Hận không oanh vàng chừ, gọi khách miên man
Ly biệt từ đây chừ, bao lại đoàn loan?
Hoa lu cửa động chừ, ôm mối hờn oan
Than ôi! em hát hai khúc chừ, lệ châu lan tràn ”
Ngòi bút Nguyễn Dữ đã táo bạo và phóng túng khi thể hiện quan hệ yêu
thơng không lành mạnh giữa Trình Trung Ngộ và Nhị Khanh trong Chuyện
cây gạo, giữa Hà Nhân và hai nàng Đào, Liễu trong Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây Trong Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây, Nguyễn Dữ đã dành hai phần ba dung
lợng tác phẩm miêu tả những cuộc gặp gỡ hoan lạc giữa các nhân vật bằngnhững lời văn dạt dào cảm xúc yêu đơng Từ sự e lệ, thẹn thò của Nhu Nơng,Hồng Nơng trong buổi đầu gặp gỡ đã bị Hà Nhân lả lơi cợt ghẹo, đến nhữnglời hoa ý gấm tả chuyện chốn buồng xuân khi cả ba trải cuộc mây ma thoảnguyện Yêu đơng, hờn dỗi, ghen tị… nhà phê bình văn học luôn dựa là những cảm xúc thờng có trong mộtmối tình tay ba cũng đợc viết rất hấp dẫn, ý nhị Một học trò lên kinh đi học,
Trang 37
nhng lại say mê hai cô Nhu Nơng và Hồng Nơng đến nỗi lơ là với đèn sách.Khi gia đình gọi về lo việc hôn nhân, Hà Nhân đã tìm cách dối trá để kéo dàicuộc tình duyên vụng trộm đó Trong cuộc tiếp xúc với Hà Nhân, hai cô đã tỏ
ra mạnh dạn, không còn e lệ rụt rè nh những cô gái phòng khuê theo khuônkhổ lễ giáo phong kiến Mối tình càng trở nên đằm thắm, “Sinh rủ rê hai ả đếnchơi chỗ trọ của mình, chuyện trò đằm thắm Chàng lả lơi cợt ghẹo, hai ả thẹnthò nói rằng: “Chúng em việc xuân cha trải, nhuỵ thắm còn phong, chỉ e magió nặng nề hoặc không kham nổi cho những tấm thân hoa mềm yếu” Ba ngờisống với nhau, cùng nhau xớng họa Khi tiễn Hà Nhân về quê, nâng chén tiễnbiệt, hai nàng đã viết những bài ca tha thiết mang nỗi đau buồn, nhớ nhungkhông dứt, hai cô tặng mỗi ngời một bài ca cho ngời yêu, lời thơ tuy có uỷ mị,nhng đã nói lên mối tình thắm thiết trong chế độ cũ, vốn khắc nghiệt với traigái:
“ Bến Nam cỏ áy bóng tà,Vờn Tây một rặng mai già khóc ma
Cỏ cây rầu rĩ tiêu sơ,Chàng về thiếp luống ngẩn ngơ tâm hồn
Vì chàng hát khúc nỉ non,Biệt ly để nặng đau buồn vì ai ”
( Bài ca của Nhu nơng)
Hoãn việc hôn nhân do cha mẹ định sẵn, chàng Nho sinh họ Hà lại lên đờngtới kinh gặp lại giai nhân Tình son phấn nồng nàn khiến chí bút nghiên chánnản Mọi trạng thái tâm t yêu đơng của lứa đôi tuổi trẻ đã đợc Nguyễn Dữ viếtmột cách say sa bằng những lời đẹp đẽ “Không thể không nói rằng: nhà văn
họ Nguyễn đã thể hiện trong sáng tác của mình một sự đồng cảm, ngợi ca tìnhyêu- hạnh phúc trần thế của con ngời, của tuổi trẻ vợt qua những ràng buộccủa quan niệm, tập tục, đạo đức, lễ nghi phong kiến , phản ánh một góc nhìnmang t tởng nhân văn” [13,70]
Trong Chuyện cây gạo, gã lái buôn Trình Trung Ngộ gặp Nhị Khanh
trên cầu Liễu Khê trong một đêm tình tứ thơ mộng Nhị Khanh đem theo mộtcây hồ cầm Từ đó hai ngời quấn quýt bên nhau, cùng nhau bộc bạch tâm tình,yêu nhau tha thiết Nhị Khanh từng nói với Trình Trung Ngộ: “Nghĩ đời ngời
ta, thật chẳng khác gì giấc chiêm bao Chi bằng trời để sống thêm ngày nào,nên tìm lấy những thú vui Kẻo một sớm chết đi, sẽ thành ngời của suối vàng,