Ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chỉ đ-ợc phân tích ở một số tác phẩm, hoặc trong tr-ờng hợp một tác giả, ch-a đ-ợc nghiên cứu kỹ l-ỡng và mang tính hệ thống.. Đến năm 2
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN HẢI CHÂU
NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT
TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội - 2011
Trang 2mục lục
1 Lí do chọn đề tài…… ……… 1
2 Lịch sử vấn đề ……… 2
3 Mục đích, đối t-ợng, phạm vi nghiên cứu ……… ……… 8
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu… ……… 8
5 Cấu trúc của luận văn ……… 9
Ch-ơng 1 Khái l-ợc về tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và Hình t-ợng ng-ời kể chuyện 10
1.1 Khái l-ợc về tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 10
1.1.1 Nhóm Tự lực văn đoàn 10
1.1.2 Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 11
1.2 Hình t-ợng ng-ời kể chuyện 14
Ch-ơng 2 ng-ời kể chuyện - ‘‘hình tượng thái độ’’ NổI BậT trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 21
2.1 Thái độ khách quan của ng-ời kể chuyện 21
2.1.1 Miêu tả xã hội 21
2.1.2 Miêu tả nội tâm con ng-ời 24
2.1.3 Miêu tả thiên nhiên - cuộc sống 26
2.2 Thái độ chủ quan của ng-ời kể chuyện 29
2.2.1 Những nguyên lý của chủ nghĩa lãng mạn 29
2.2.2 Thái độ đối với xã hội 32
2.2.3 Thái độ đối với con ng-ời 35
2.2.4 Thái độ đối với cuộc sống, quê h-ơng, đất n-ớc 38
Trang 32.3 Hình bóng ng-ời trí thức tân học qua hình t-ợng ng-ời kể chuyện 41
2.3.1 Ng-ời kể chuyện tình yêu 41
2.3.2 Ng-ời kể chuyện phiêu l-u 45
2.3.3 Ng-ời kể chuyện phong tục 48
2.3.4 Ng-ời kể chuyện quá khứ 50
Ch-ơng 3 các hình thức kể của ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 55
3.1 Ngôi kể 55
3.1.1 Ngôi thứ nhất "zero" 55
3.1.2 Ngôi thứ ba "toàn tri" 57
3.2 Điểm nhìn 61
3.2.1 Điểm nhìn bên ngoài - thế giới không thật 61
3.2.2 Điểm nhìn bên trong - các cung bậc "cảm giác" 64
3.2.3 Sự di chuyển điểm nhìn 67
3.3 Giọng điệu 70
3.3.1 Cách x-ng hô 71
3.3.2 Nhịp kể 74
3.4 Ngôn ngữ trần thuật 76
3.4.1 Cách sử dụng kiểu câu Pháp 77
3.4.2 Phong vị buồn và mộng trong cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh 79
3.5 Ng-ời kể chuyện trong kết cấu không gian và thời gian 82
3.5.1 Kết cấu không gian 82
3.5.1.1 Không gian đồng quê t-ơi sáng 82
3.5.1.2 Không gian thành thị u ám 85
3.5.1.3 Không gian t-ởng t-ợng, h- cấu 87
3.5.2 Kết cấu thời gian 90
3.5.2.1 Thời gian quá khứ 90
Trang 4
3.5.2.2 Thêi gian v¨n b¶n - thêi gian cèt truyÖn 93
3.5.2.3 TÇn suÊt, x¶y lÆp 96
KÕt luËn 101
TµI LIÖU THAM KH¶O 105
Trang 580 năm tr-ớc, Tự lực văn đoàn ‚làm mưa làm gió‛ trên văn đàn Nhớ về một thời ‚vang bóng‛, có cảm giác nh- nhóm văn học Hà thành ấy đã trở thành ‚di tích sống‛ của một thời ‚nhập nhoè‛ Âu - á, thời điểm mà con ng-ời vẫn băn khoăn đi tìm lẽ sống, lẽ tồn tại trong văn ch-ơng Dòng văn học lãng mạn Việt Nam tr-ớc Cách mạng tháng Tám - 1945 không những mang dáng dấp của các nhà thơ lớn, nh- Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Chế Lan Viên trong thời kỳ thịnh v-ợng nhất của thơ ca n-ớc nhà, mà còn nổi lên tên tuổi của biết bao văn sỹ lãng mạn từng làm say mê nam thanh nữ tú một thời Ng-ời ta vẫn mải miết đi tìm văn ch-ơng Tự lực như là một cái ‚mốt‛, một thứ ‚hành trang‛ để bước vào thế kỷ mới với những nỗi buồn vui bất chợt cần
đ-ợc l-u giữ Tự lực văn đoàn ra đời đã đáp ứng đ-ợc những nhu cầu tinh thần phong phú và cấp thiết ấy
Không thể phủ nhận văn xuôi n-ớc ta đến giai đoạn Tự lực văn đoàn đã
có b-ớc phát triển mới Một lối viết bình dị, gần gũi với đại chúng ra đời, thay thế cho thứ văn ch-ơng -ớc lệ, cân đối, nhịp nhàng Đề tài trong các sáng tác của Tự lực xa dần những tiểu thuyết diễm tình còn mang hình bóng đạo đức
phong kiến thời kỳ Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách), thay vào đó là những sáng
tác gần gũi với đời sống của ng-ời dân quê, nơi phố huyện nghèo Vì thế, văn
Trang 6ch-ơng Tự lực văn đoàn dễ neo đậu vào trái tim những ng-ời bình dân, những con người chưa từng là ‚nhân vật chính‛ trong nghệ thuật và thơ ca
Với tên tuổi của những cây bút ‘‘nổi danh một thì’’ như Nhất Linh, Khái H-ng, Hoàng Đạo, Trần Tiêu , Tự lực văn đoàn đã mang đến phong cách văn ch-ơng lãng mạn, đa dạng Không có Tự lực văn đoàn, sẽ không còn
sự xuất hiện của một lối viết nhẹ nhàng, giản dị mà gợi cảm của truyện ngắn
và tiểu thuyết Thạch Lam Công lao của Tự lực văn đoàn với nền văn học n-ớc
ta là ý nghĩa cách tân, hiện đại hoá văn xuôi và định hình nền văn học mới Tuy nhiên, việc nhìn nhận, đánh giá về tiểu thuyết Tự lực từ tr-ớc đến nay vẫn ch-a hoàn chỉnh, toàn diện và ch-a có sự thống nhất
Trong các tác phẩm văn xuôi, lối kể chuyện là một ph-ơng thức nghệ thuật đặc biệt của các nhà văn Tự lực Không phải ngẫu nhiên mà những ng-ời trẻ tuổi lại say mê đọc Nhất Linh, Khái H-ng đến thế và coi nó là bảo vật, là sách gối đầu gi-ờng Họ trăn trở với từng nhân vật trong tiểu thuyết, lôi cuốn theo lối dẫn chuyện tài tình Để rồi, đằng sau lời dẫn chuyện nhẹ nhàng ấy, ng-ời kể chuyện lúc lộ diện lúc ẩn mình, vừa chỉ dẫn, vừa bình luận, đ-a ng-ời đọc đến với thế giới của gia đình, của tôn giáo, phiêu l-u…, và nhất là thế giới của những cảm giác mong manh, diệu kỳ - những thứ cảm giác mà d-ờng nh- chỉ đến Tự lực văn đoàn mới thực sự có mặt trong văn ch-ơng
Ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chỉ đ-ợc phân tích ở một số tác phẩm, hoặc trong tr-ờng hợp một tác giả, ch-a đ-ợc nghiên cứu kỹ l-ỡng và mang tính hệ thống Ng-ời kể chuyện với những sắc thái riêng trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn sẽ là vấn đề mà chúng tôi tập trung làm rõ trong luận văn này
2 Lịch sử vấn đề
Tự lực văn đoàn là một hiện t-ợng văn học nổi bật trong những năm
1932 - 1945 Văn đoàn của những cây bút tài hoa một thời ấy hầu nh- đã chiếm trọn bộ phận tác phẩm văn xuôi lãng mạn, bên cạnh mảng văn xuôi hiện
Trang 7thực Vì vậy, Tự lực văn đoàn đ-ợc đặt nghiên cứu chung trong hệ thống văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Các công trình nghiên cứu về Tự lực văn đoàn chủ yếu đ-ợc phân chia thành ba thời kì: tr-ớc 1945, từ 1945 đến 1986, và từ 1986 đến nay
Trong thời kỳ thứ nhất, tr-ớc 1945, vào tháng 5/1939, với tác phẩm
D-ới mắt tôi, Tr-ơng Chính đã đánh giá cao các tiểu thuyết Đoạn tuyệt, Lạnh
lùng, Hồn b-ớm mơ tiên, Gánh hàng hoa, Đời m-a gió Ông không tiếc lời
ngợi ca ‚Đoạn tuyệt là một kiệt tác trong văn học Việt Nam hiện đại‛ [12;18]
và ‚Hồn b-ớm mơ tiên là quyển truyện thứ nhất có sức cám dỗ lạ lùng‛
[12;36]
Đến năm 1941, D-ơng Quảng Hàm cũng đã khái quát lên phong cách của hai trụ cột trong Tự lực văn đoàn qua lời nhận xét về bốn tiểu thuyết tiêu
biểu Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Hồn b-ớm mơ tiên, Nửa chừng xuân Tác giả
nhận thấy ‚hầu hết các tác phẩm của ông (Nhất Linh) là những luận đề tiểu thuyết‛ [17;454] còn ‚Khái H-ng có một cách tả ng-ời và tả cảnh xác thực mà
có một vẻ nhẹ nhàng, thanh tú khiến cho ng-ời đọc thấy cảm‛ [41;455] Năm
1942, Vũ Ngọc Phan nhận ra sự tiến hoá nhanh chóng trong tiểu thuyết Nhất
Linh khi đi từ cái lối còn cổ lỗ nh- Nho phong đến tiểu thuyết tình cảm, rồi đi
thẳng vào lối tiểu thuyết luận đề Nhà phê bình này đánh giá: Khái H-ng chính là ‚văn sĩ của thanh niên Việt Nam‛ [96;215]
Nhìn chung, trong giai đoạn tr-ớc Cách mạng tháng Tám 1945, các ý kiến về Tự lực văn đoàn đều tập trung vào khái quát về một số mặt t- t-ởng và nghệ thuật, nh- đấu tranh giải phóng cá nhân, nghệ thuật tả cảnh và miêu tả tâm lý nhân vật một cách nhẹ nhàng, tinh tế
Đến thời kì 1945 - 1986, xuất phát từ nhãn quan chính trị, lập tr-ờng quan điểm giai cấp, các nhà nghiên cứu đều đánh giá khá khắt khe giá trị của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, xem nhẹ những đóng góp, trong khi đó, lại nhấn
báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt
mạnh mặt tiêu cực Năm 1948, trong
Trang 8Nam tại Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ hai, sau khi nêu lên những mặt
hạn chế, đồng chí Tr-ờng Chinh khẳng định rằng: dẫu sao, hoạt động của nhóm Tự lực văn đoàn cũng đã góp phần đẩy mạnh phong trào văn nghệ n-ớc
ta tiến tới Văn ch-ơng Tự lực tiếp tục đ-ợc nghiên cứu trong những công trình
nh- L-ợc thảo văn học Việt Nam (1957) của nhóm Lê Quí Đôn, Văn học Việt Nam 1930 - 1945 (1961) của Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ, Sơ thảo văn học Việt Nam (1964) của Viện Văn học, Bàn về những cuộc đấu tranh t- t-ởng trong lịch sử văn học (1971) của Vũ Đức Phúc Song nh- đã nói ở trên, sự
đánh giá đều có phần phiến diện theo quan điểm giai cấp Có lúc, Tự lực văn
đoàn gần nh- bị phủ nhận hoàn toàn Điều này không phản ánh đúng vai trò nhất định của nhóm văn ch-ơng Hà thành ấy đối với nền văn học n-ớc ta
Vũ Đức Phúc chỉ thấy văn học lãng mạn ‚có khuynh h-ớng đề cao các mặt xấu của cuộc sống: làm giàu, buôn lậu, làm ‚anh hùng‛ kiểu du côn, anh chị, ( ) có khuynh h-ớng h-ởng lạc theo nhiều kiểu khác nhau ( ), nếu không
có điều kiện để thực hiện một cuộc sống đầy khoái lạc nh- thế thì mơ -ớc về cõi tiên, về quá khứ, mong tìm thấy ở đó r-ợu, thơ, gái đẹp‛ [101;17] Còn hai tác giả Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ cho rằng ‚văn học lãng mạn, tiểu t- sản của giai đoạn 1930 - 1945 chủ yếu là tiêu cực và có hại‛ [26;11], ‚nội dung tiêu cực ấy lại diễn tả bằng một nghệ thuật ít nhiều có sự hấp dẫn nhất định đã làm tăng thêm nồng độ cho những độc tố có sẵn ở nội dung‛ [26;87] Thế nh-ng, hai nhà nghiên cứu vẫn không thể phủ định đ-ợc ‚cái nhân văn t- sản
dù sao cũng tiến bộ hơn cái t- t-ởng phong kiến cổ hủ, hẹp hòi‛ [26;97] Để
rồi, trong cuốn Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Phan Cự Đệ đã phải công nhận
về ph-ơng diện văn học sử, ‚công lao chủ yếu của Nhất Linh và Khái H-ng là
đã có những đóng góp trong việc xây dựng một nền tiểu thuyết hiện đại‛ [21;87]
ở miền Nam thời kì 1954 - 1975, Tự lực văn đoàn, trái lại, đ-ợc đề cao
Trang 9quá mức Các nhà nghiên cứu không nhìn thấy mặt hạn chế về t- t-ởng, nghệ thuật của một số tác giả, tác phẩm trong văn ch-ơng Tự lực Theo Đào Văn A, sáng tác của Tự lực văn đoàn đ-ợc dạy và học ở tất cả các bậc học từ bậc đệ nhất (trung học cơ sở) đến đệ nhị (trung học phổ thông), đ-ợc đ-a vào sách
‚luận đề‛, ‚trần thuyết‛, ‚luyện văn‛, ‚thuật viết văn‛ làm tài liệu cho học sinh Sau khi Nhất Linh mất, trên các báo Sài Gòn, xuất hiện một loạt bài của
Đặng Tiến, Nguyễn Văn Trung, Doãn Quốc Sỹ, Vũ Hạnh, Nguyễn Mạnh Côn mang đầy tính chất hồi kí, cảm t-ởng Hầu hết các nhà nghiên cứu miền Nam giai đoạn này đều xem văn xuôi Tự lực văn đoàn rất đỗi mẫu mực, đồng thời lấy làm nuối tiếc khi cây bút chủ chốt của nhóm ra đi, để lại khoảng trống lớn trên văn đàn
Ngoài ra, Tự lực văn đoàn còn đ-ợc nghiên cứu trong các cuốn sách về
văn học sử nh- Việt Nam văn học sử giản -ớc tân biên (1960) của Phạm Thế Ngũ, Văn học Việt Nam thế kỉ XIX - tiền bán thế kỉ XX 1800 - 1945 (1973) của
Vũ Hân, L-ợc sử văn nghệ Việt Nam - nhà văn tiền chiến (1974) của Thế
Phong
Theo Thế Phong, Khái H-ng đi sâu vào tâm lí với một kĩ thuật viết
tr-ởng thành và đến B-ớm trắng, kĩ thuật viết của Nhất Linh đã đạt đến trình
độ hoàn hảo Nh-ng những nhận xét của tác giả còn chung chung, mơ hồ, ch-a thực sự nghiên cứu các tác phẩm với t- cách chỉnh thể Với Vũ Hân, ‚Tự lực văn đoàn đã có công mở một kỉ nguyên mới về tiểu thuyết ở n-ớc ta‛ [51;135] Còn theo Phạm Thế Ngũ, ‚có thể nói, chỉ với Tự lực văn đoàn, chúng
ta mới bắt đầu có tiểu thuyết Việt Nam‛ [91;446] Nhìn chung, cách đánh giá dành cho Tự lực văn đoàn ở các học giả miền Nam có sự -u ái rõ rệt
Từ 1986 đến nay, văn ch-ơng Tự lực văn đoàn đ-ợc nhìn nhận điềm tĩnh, thấu đáo, khoa học hơn, nên đã tránh đ-ợc sự phủ định cũng nh- lí t-ởng hoá quá mức văn đoàn này
Năm 1988, tiểu thuyết Nhất Linh, Khái H-ng đ-ợc Nhà xuất bản Đại
Trang 10học và giáo dục chuyên nghiệp tái bản, với lời giới thiệu của giáo s- Phan Cự
Đệ, giáo s- Hà Minh Đức
Tháng 5/1989, khoa Ngữ văn tr-ờng Đại học Tổng hợp phối hợp cùng Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp tổ chức hội thảo về văn ch-ơng Tự lực Trong đó, những ý kiến nêu ra đã góp phần tôn vinh vai trò
đích thực của Tự lực văn đoàn Trần Đình H-ợu cho rằng Tự lực văn đoàn có
đóng góp lớn, chủ động và tích cực, còn Tr-ơng Chính nhận xét văn đoàn có vai trò quan trọng trong sự phát triển văn học của n-ớc ta những năm 30 ý kiến của nhà thơ Huy Cận đã ghi nhận giá trị về nghệ thuật của tiểu thuyết Tự lực Ông khẳng định Tự lực văn đoàn đóng góp lớn vào nghệ thuật tiểu thuyết, vào tính hiện đại của tiểu thuyết, đóng góp vào tiếng nói, câu văn của dân tộc với lối văn trong sáng và rất Việt Nam
Năm 1990, giáo s- Phan Cự Đệ trong công trình nghiên cứu Tự lực văn
đoàn - con ng-ời và văn ch-ơng, đã chỉ ra đóng góp của tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn trên các ph-ơng diện: xây dựng nhân vật tiểu thuyết, kết cấu và ngôn ngữ
Phó giáo s- Tr-ơng Chính và Lê Thị Đức Hạnh cũng đã có một loạt bài
bàn về văn xuôi Tự lực văn đoàn trên tạp chí Văn học từ năm 1988 đến 1993, nh- Vấn đề đánh giá Tự lực văn đoàn (số 3,4/1988), Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (số 5/1990), Trần Tiêu có phải là nhà văn Tự lực văn đoàn không? (số 5/1990), Thêm mấy ý kiến đánh giá về Tự lực văn đoàn (số 3/1991), Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới
(số 2/1993)
Năm 1996, trong luận án Phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn Những đóng góp của Tự lực văn đoàn cho việc xây dựng một nền văn xuôi Việt Nam hiện đại,
Trịnh Hồ Khoa nhận xét: đóng góp về t- t-ởng của nhóm văn ch-ơng Hà thành chính là việc giải phóng cái tôi cá nhân, tinh thần dân tộc thầm kín
Trang 11Những đóng góp tích cực về mặt nghệ thuật là lối xây dựng nhân vật và miêu tả thiên nhiên, đổi mới trong cốt truyện, kết cấu, đổi mới trong ngôn ngữ và
giọng điệu văn xuôi Theo Trịnh Hồ Khoa, ‚Hồn b-ớm mơ tiên chỉ là khúc dạo đầu của bản tr-ờng ca chiến đấu chống lễ giáo phong kiến Phải đến Nửa
chừng xuân , Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, xung đột giữa cái tôi cá nhân và lễ giáo
phong kiến mới diễn ra quyết liệt‛ [76;53]
Năm 1997, Lê Thị Dục Tú nghiên cứu quan niệm về con ng-ời cá nhân trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Đến năm 2001, trong luận văn Thạc sĩ Những cách tân về nghệ thuật của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn trên con đ-ờng hiện đại hoá, Nguyễn Hiền
Trang nhận thấy Tự lực văn đoàn có công lớn trong việc hiện đại hoá cốt truyện, kết cấu, xây dựng tâm lí nhân vật cũng nh- trong việc hiện đại hoá câu văn xuôi, sáng tác ngôn ngữ và trong giọng điệu Theo đó, tác giả cho rằng giọng điệu chủ yếu của Nhất Linh là giọng tâm sự, còn Khái H-ng lại là giọng trữ tình, nhẹ nhàng
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu và phê bình khác nh- Khái H-ng - nhà tiểu thuyết của Vu Gia năm 1994, Nhất Linh trong tiến trình hiện
đại hoá văn học của Vu Gia năm 1995, Về Tự lực văn đoàn của Nguyễn Trác -
Đái Xuân Ninh năm 1993, hay Mấy suy nghĩ về nhà văn Nhất Linh - Nguyễn T-ờng Tam của Nguyễn Hữu Tiếu trên Tạp chí Văn học số 4/1994 Cuối thế kỉ
XX, nhìn lại việc nghiên cứu, đánh giá văn ch-ơng Tự lực văn đoàn, giáo s-
Hà Minh Đức trong công trình Khảo luận văn ch-ơng, cho rằng Tự lực văn
đoàn đã ‚đem lại hơi thở và sức sống mới cho văn học‛ [29;77]
Ngày nay, việc nghiên cứu Tự lực văn đoàn không chỉ dừng lại trên các công trình, các sách báo phê bình Tự lực văn đoàn còn đ-ợc học trong sách giáo khoa Ngữ văn phổ thông cải cách, đ-ợc giới thiệu trên mạng internet Các trang mạng (Vnthuquan, vi.wikipedia, vn.net, vnn- news ) đã góp phần đ-a
Trang 12Tự lực văn đoàn đến gần hơn với thanh niên Việt Nam, nh- đã từng làm say
đắm thế hệ thanh niên n-ớc ta những năm 1932 - 1945
Đi sâu vào những vấn đề cụ thể về nghệ thuật của các tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, chúng tôi ch-a thấy có nhiều công trình nghiên cứu (mới chỉ nghiên cứu vấn đề hiện đại hoá cốt truyện, nhân vật, nghệ thuật tả cảnh) Ng-ời kể chuyện trong văn Tự lực văn đoàn - một thành tựu đặc biệt của văn
đoàn này mới chỉ đ-ợc xem xét ở tr-ờng hợp Thạch Lam với khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Thanh Ph-ợng - Đại học Quốc gia Hà Nội về
Ng-ời kể chuyện trong truyện ngắn Thạch Lam (2005) Ng-ời kể chuyện trong
tiểu thuyết Tự lực văn đoàn nói chung vẫn còn bỏ ngỏ Vì vậy, đề tài của chúng tôi sẽ nghiên cứu vấn đề hấp dẫn ấy
3 Mục đích, đối t-ợng, phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi muốn làm sáng tỏ những thành tựu của
Tự lực văn đoàn khi nghiên cứu về hình t-ợng ng-ời kể chuyện Nh- trên đã nói, đây là nghệ thuật đặc sắc của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Qua đó, chúng tôi muốn nhấn mạnh vai trò to lớn của văn đoàn ấy đối với nền văn ch-ơng n-ớc ta
Đề tài của chúng tôi lấy đối t-ợng nghiên cứu chính là các tiểu thuyết
tiêu biểu Hồn b-ớm mơ tiên (Khái H-ng), Đôi bạn (Nhất Linh), Con đ-ờng
sáng (Hoàng Đạo), Ngày mới (Thạch Lam), Con trâu (Trần Tiêu) Ngoài ra,
còn có một số tác phẩm chống lễ giáo phong kiến khác Chúng tôi cho rằng các tiểu thuyết trên có nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn vào bậc nhất trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Đồng thời, tính chất của ng-ời kể chuyện cũng khác nhau ở mỗi tác giả, tác phẩm
Phạm vi nghiên cứu cũng giới hạn trong việc nghiên cứu vấn đề ng-ời
kể chuyện Từ hình t-ợng ng-ời kể chuyện cho đến các thủ pháp kể chuyện
đều đ-ợc khảo sát tỉ mỉ trong các tác phẩm của nhóm văn ch-ơng Hà thành
nghiên cứu
4 Ph-ơng pháp
Trang 13Để nghiên cứu về một vấn đề văn học có qui mô, phải cần đến rất nhiều ph-ơng pháp nghiên cứu khác nhau, mang tính chất tổng hợp Nh-ng do chỉ chọn nghiên cứu ng-ời kể chuyện trong một số tiểu thuyết tiêu biểu của Tự lực văn đoàn, nên chúng tôi chủ yếu dựa vào các ph-ơng pháp: ph-ơng pháp tiếp cận thi pháp học, ph-ơng pháp tiếp cận văn hoá học, ph-ơng pháp thống
1930 - 1945 của lịch sử Việt Nam
Ph-ơng pháp thống kê sẽ giúp chúng tôi khảo sát sự xảy lặp của không gian, thời gian góp phần vào việc chuyển tải nội dung của tiểu thuyết trong ý nghĩa là thủ pháp kể của ng-ời kể chuyện
Ngoài ra, các ph-ơng pháp khác nh- ph-ơng pháp so sánh, ph-ơng pháp lịch sử - xã hội cũng hỗ trợ chúng tôi trong quá trình nghiên cứu, khảo sát
5 Cấu trúc của luận văn
Tên đề tài của chúng tôi là Ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có ba ch-ơng:
Ch-ơng 1: Khái l-ợc về tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và hình t-ợng ng-ời kể chuyện
Ch-ơng 2: Ng-ời kể chuyện - ‘‘hình tượng thái độ’’ nổi bật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Ch-ơng 3: Các hình thức kể của ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết
Tự lực văn đoàn
Trang 14Ch-ơng 1 Khái l-ợc về tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và
hình t-ợng ng-ời kể chuyện 1.1 Khái l-ợc về tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
đ-ợc sự ủng hộ nồng nhiệt từ phía độc giả Văn đoàn là nơi cổ vũ cho phong trào cách tân trong văn học, phong trào Âu hoá chống lễ giáo phong kiến, và là nơi đề x-ớng các hoạt động cải l-ơng t- sản (hội ánh sáng)
Tôn chỉ của Tự lực văn đoàn đăng trên báo Phong hoá, số 101 (8 - 6 - 1934)
bao gồm 10 điều:
1 Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn ch-ơng chứ không phiên dịch sách n-ớc ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn ch-ơng thôi : mục
Trang 15đích là để làm giàu thêm văn sản trong n-ớc
2 Soạn hay dịch những cuốn sách có t- t-ởng xã hội Chú ý làm cho ng-ời
và cho xã hội ngày một hay hơn lên
3 Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và
cổ động cho ng-ời khác yêu chủ nghĩa bình dân
4 Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách
An Nam
5 Lúc nào cũng mới mẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ
6 Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của n-ớc nhà mà có tính cách bình dân, khiến cho ng-ời khác đem lòng yêu n-ớc một cách bình dân Không có tính cách tr-ởng giả mà quí phái
7 Trọng tự do cá nhân
8 Làm cho ng-ời ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa
9 Đem ph-ơng pháp khoa học Thái Tây ứng dụng vào văn ch-ơng Việt Nam
10 Theo một trong chín điểm này cũng đ-ợc miễn là đừng trái ng-ợc với những điều khác
Nh- vậy, Tự lực văn đoàn là nhóm văn ch-ơng có tôn chỉ, điều lệ tổ chức và hoạt động rõ ràng Mục đích phấn đấu của Tự lực là vì sự tiến bộ của n-ớc nhà Tự lực văn đoàn đã nói lời đoạn tuyệt với lối văn ch-ơng biền ngẫu, chuẩn mực, qui phạm và xa lạ với đa số ng-ời dân ít học, thuộc tầng lớp d-ới Họ muốn mang đến một thứ văn giản dị, dễ hiểu, dễ đọc theo tinh thần bình dân, đại chúng Đó là lí do vì sao văn ch-ơng Tự lực văn đoàn đ-ợc dễ dàng tiếp nhận ở khắp nơi Tự lực văn
đoàn đả phá đạo Nho đã trở nên cổ hủ, không hợp thời Họ đ-a vào các kĩ thuật văn ch-ơng tiên tiến của châu Âu, làm cho tiểu thuyết có một g-ơng mặt lạ, vừa cách tân, đổi mới lại vừa quen thuộc Phải chăng hành động yêu tiếng Việt ấy của các nhà văn Tự lực cũng là một hành động thể hiện lòng yêu n-ớc thầm kín, không
dễ gì lay chuyển? Trên văn đàn công khai, những gì mà Tự lực văn đoàn đã làm
Trang 16đ-ợc thật đáng kể
1.1.2 Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Tự lực văn đoàn sáng tác trên nhiều lĩnh vực: thơ ca, truyện ngắn, phóng sự, bút kí Song nhắc đến Tự lực văn đoàn, ng-ời ta chủ yếu nhớ đến tiểu thuyết Không chỉ vì, những nhà văn hàng đầu của nhóm đều là những nhà tiểu thuyết, mà còn bởi tiểu thuyết chiếm số l-ợng lớn nhất trong các văn phẩm của họ, tạo nên thành tựu đáng kể mà Tự lực văn đoàn đã đóng góp cho văn học Việt Nam Các tác giả tiểu thuyết chính là: Nhất Linh (1906 - 1963), Khái H-ng (1896 - 1947), Hoàng Đạo (1907 - 1948), Thạch Lam (1910 - 1942), Trần Tiêu (1900 - 1954) Cũng nh- các loại thể văn học khác, trên lĩnh vực tiểu thuyết, quan điểm sáng tác của Tự lực văn đoàn thể hiện ở một số điểm lớn trong tôn chỉ nh-: ‚dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách An Nam‛ (điều 4), ‚ca tụng những nét hay, vẻ đẹp của n-ớc mà có tính cách bình dân, khiến cho ng-ời khác đem lòng yêu n-ớc một cách bình dân, không có tính cách tr-ởng giả, quí phái‛ (điều 6), ‚trọng tự do cá nhân‛ (điều 7), ‚làm cho ng-ời ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa‛ (điều 8), ‚đem ph-ơng pháp khoa học Thái Tây ứng dụng vào văn ch-ơng An Nam‛ (điều 9) Nh- vậy, Tự lực văn đoàn quan niệm văn ch-ơng là để tỏ lòng yêu n-ớc, yêu đồng bào một cách bình dân,
đồng thời kêu gọi cách tân, đổi mới theo lối ph-ơng Tây Song họ có phần nghiêng
về phía ‚nghệ thuật vị nghệ thuật‛, ít chú ý đến thế thái nhân sinh Vì vậy, một thời gian dài, giá trị của Tự lực văn đoàn không đ-ợc nhìn nhận một cách đúng
đắn
Các tiểu thuyết chính của Tự lực văn đoàn đ-ợc phân chia thành năm giai
đoạn phát triển: tr-ớc năm 1930, giai đoạn 1932 - 1934, giai đoạn 1935 - 1939, giai đoạn 1939 - 1945 và sau 1945
Tr-ớc năm 1930, Tự lực văn đoàn ch-a đ-ợc thành lập chính thức Nh-ng Nhất Linh - ng-ời sáng lập văn đoàn đã đi tiên phong trên văn đàn bằng các tiểu
thuyết thử nghiệm: Nho phong (1926), Ng-ời quay tơ (1927) Hai tiểu thuyết trên
Trang 17còn sử dụng lối văn truyền thống nhịp nhàng, êm tai với những công thức đã trở nên sáo mòn Cách kể của ng-ời kể chuyện còn tuân theo qui luật thời gian tuyến tính, nhân vật không có sự đột biến trong tâm lí, tính cách, xa lạ với con ng-ời hiện
đại sau này trong tiểu thuyết Tự lực Tuy nhiên, đây là những thử nghiệm đầu tiên của Nhất Linh, nên nó mang ý nghĩa tìm đ-ờng Về sau, lối văn biền ngẫu đã mất hẳn
Trong giai đoạn 1932 - 1934, các cây bút Tự lực chủ yếu sáng tác tiểu thuyết
lãng mạn: Hồn b-ớm mơ tiên (Khái H-ng, 1933), Gánh hàng hoa (Nhất Linh - Khái H-ng, 1934), Nắng thu (Nhất Linh, 1934), Nửa chừng xuân (Khái H-ng,
1934) Những tiểu thuyết này không đ-ợc các nhà phê bình đánh giá cao vì sự ảo t-ởng, phi thực tế, theo suy nghĩ, quan điểm chủ quan của ng-ời sáng tạo Tuy nhiên, lối kể chuyện lại dung dị, đậm chất lãng mạn, làm say đắm lòng ng-ời Độc giả hoàn toàn chìm đắm trong cách kể những câu chuyện ngập tràn tình yêu, với thứ ái tình vị tha, cao cả, chỉ hoàn toàn thấy đ-ợc trong sự phong phú của trí t-ởng t-ợng bồng bột, bay bổng
Giai đoạn 1935 - 1939 chứng kiến sự ra đời của các tiểu thuyết xuất sắc nhất của Tự lực văn đoàn Tiểu thuyết đ-ợc chia thành nhiều h-ớng, ngả Chủ đề
phê phán lễ giáo phong kiến có các tiểu thuyết: Đoạn tuyệt (Nhất Linh, 1935),
Lạnh lùng (Nhất Linh, 1936), Thoát ly (Khái H-ng, 1937), Thừa tự (Khái H-ng,
1938) Khuynh h-ớng viết về bình dân đạt đ-ợc thành tựu với Con trâu (Trần Tiêu, 1938), Chồng con (Trần Tiêu, 1939), Trống mái (Khái H-ng, 1936) Cây
bút viết truyện ngắn xuất sắc Thạch Lam cũng góp vào văn ch-ơng Tự lực tiểu
thuyết miêu tả về sự thức tỉnh, hối lỗi: Ngày mới (1937) Những ngày vui (Khái H-ng, 1936), Gia đình (Khái H-ng, 1936), Con đ-ờng sáng (Hoàng Đạo, 1938 -
1939) là những tiểu thuyết mang khuynh h-ớng cải cách cải l-ơng Ngoài ra, còn
có cả khuynh h-ớng truỵ lạc: Đời m-a gió (Nhất Linh - Khái H-ng, 1935) hay lí t-ởng hoá hình ảnh khách chinh phu mê man hành động: Tiêu Sơn tráng sĩ (Khái H-ng, 1935), Thế rồi một buổi chiều (Nhất Linh - 1936), Đôi bạn (Nhất Linh,
Trang 181938) Sự phong phú về chủ đề đã tạo điều kiện cho các cây bút tiểu thuyết phát huy hết bút lực, mang đến những phong cách sáng tạo khác nhau Nhất Linh là nhà văn của xung đột, giằng xé trong nội tâm của nhân vật Khái H-ng viết rất hay
về ng-ời phụ nữ Trần Tiêu là ‚cây bút có hạng về làng quê Việt Nam‛ [32;3] ở Hoàng Đạo, mặc dù việc th-ơng xót ng-ời nghèo ‚vẫn còn là cái khuynh h-ớng của ng-ời phú hào nghiêng mình xuống hạng thấp kém hơn‛ [96;317], song ý nghĩa cải cách trong tác phẩm của ông vẫn thật đáng trân trọng Còn với
Ngày mới, Thạch Lam đã có những trang viết nên thơ rất đặc tr-ng ở con ng-ời
này khi tả tình và tả cảnh Lối kể chuyện giai đoạn này mang nhiều phong cách, khi hiện thực, khi diễm ảo, cùng với sự di chuyển điểm nhìn… khiến cho tiểu thuyết Tự lực văn đoàn có sức hấp dẫn đầy mê hoặc
Giai đoạn 1939 - 1945 là thời kì tiểu thuyết xuống dốc, mang màu sắc hiện
đại chủ nghĩa: B-ớm trắng (Nhất Linh, 1939 - 1940), Đẹp (Khái H-ng, 1939 - 1940), Thanh Đức (Khái H-ng, 1943), hoặc đề cao bè lũ phản cách mạng: Xiềng
xích (Khái H-ng, 1945) Tuy vậy, lối viết ở B-ớm trắng (Nhất Linh), Thanh Đức
(Khái H-ng) đ-ợc xem là già dặn, điêu luyện nhất trong toàn bộ các tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Nếu có thể làm tan biến đi t- t-ởng bi quan, định mệnh, h- vô chủ nghĩa trong các tiểu thuyết ấy, có thể gọi đó là những kiệt tác
Sau năm 1945, chỉ có Nhất Linh còn sáng tác, với tiểu thuyết phản cách
mạng: bộ ba Dòng sông Thanh Thuỷ (1960 - 1961)
Nhìn chung, tiểu thuyết Việt Nam đến Tự lực văn đoàn đã thực sự định hình, và đạt đ-ợc thành tựu Nhóm Tự lực văn đoàn góp phần hiện đại hoá các thể loại văn học, hiện đại hoá câu văn, kết cấu, cốt truyện, mang đến một lối kể dung
dị của ng-ời kể chuyện, đồng thời đi sâu vào khám phá tâm lí nhân vật, nhất là các cảm giác một cách tinh tế
1.2 Hình t-ợng ng-ời kể chuyện
Ng-ời kể chuyện là một trong những vấn đề cơ bản của trần thuật học
Trang 19Đầu thế kỷ XX, vấn đề ng-ời kể chuyện đã đ-ợc các nhà hình thức Nga (A Veksler, I Gruzdev, V Shklovski, B Eikhenbaum) và nhóm các nhà nghiên cứu Bắc Âu đặc biệt quan tâm đến Tuy nhiên, phải tới công trình của những nhà nghiên cứu thế hệ sau, những ng-ời đặt nền móng cho trần thuật học nh-: P Lubbock, N Friedman, E Leibfried, F Stanzel P Vanden Heuvel khi "ph-ơng pháp hình thức" kết hợp với "mỹ học tiếp nhận‛ mới đ-a ra đ-ợc quan điểm t-ơng
đối rõ ràng về ng-ời kể chuyện
Theo Todorov, "ng-ời kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới t-ởng t-ợng… không thể có trần thuật thiếu ng-ời kể chuyện‛ [121;75] ý kiến của Todorov đã mở ra nội hàm khái niệm của ng-ời kể chuyện Đó không chỉ
là nhân vật tham gia vào trong truyện, mà còn là ng-ời kể lại toàn bộ câu chuyện
từ dòng mở đầu cho đến dòng kết thúc Ng-ời kể chuyện ở đây cũng đồng nhất với ng-ời trần thuật Và ng-ời kể chuyện chính là nhân vật mà ‘‘nhân danh nó cuốn sách đ-ợc kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt" [121;75]
Tuy nhiên, để tìm đ-ợc một định nghĩa chính xác về ng-ời kể chuyện cho
đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong giới nghiên cứu Theo Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, ‚ng-ời kể chuyện là
hình t-ợng -ớc lệ về ng-ời trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện đ-ợc kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm‛ [99;221] ‚Nhân vật cụ thể‛ ấy là ai thì được hai tác giả cho biết: đó có thể là ‚hình t-ợng của chính tác giả (…), dĩ nhiên không nên đồng nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời, có thể
là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra (…), có thể là một ng-ời biết một câu chuyện nào đó" [99;221] Nh- vậy, ng-ời kể chuyện theo Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chỉ giới hạn trong nhân vật tham gia kể chuyện có mặt trong tác phẩm Nhân vật ấy đi đứng, nói c-ời, hành động… nh- các nhân vật khác, nh-ng lại hạn chế khi không thể nắm bắt hết đ-ợc những sự kiện nằm ngoài những điều mắt thấy, tai nghe Thực tế, ng-ời kể chuyện có thể không xuất hiện trong tác
Trang 20phẩm, nh-ng toàn bộ câu chuyện đều do ng-ời kể chuyện thuật lại, ngay cả những suy nghĩ, diễn biến tâm hồn của nhân vật cũng đ-ợc phân tích, đánh giá, soi chiếu… d-ới góc nhìn của ng-ời kể chuyện một cách cụ thể, chi tiết Nh- vậy, ng-ời kể chuyện, theo chúng tôi, có khái niệm rộng hơn nhân vật kể chuyện trong tác phẩm
Về mối quan hệ của ng-ời trần thuật và tác giả, theo W Kayser, ‚ng-ời kể chuyện không bao giờ là tác giả đã hay ch-a từng đ-ợc biết đến, mà là một vai trò
được tác giả nghĩ ra và ước định‛ [121;117] Hay nói nh- R Barthers, ‚tác giả (thực tế) của văn bản không có điểm gì chung với người kể chuyện‛ [8;411] Thực
ra, ng-ời kể chuyện có vai trò ‚trung gian giữa tác giả và thực tại được miêu tả‛ [131;189] Những nhân vật xuất hiện trong thơ ca, tiểu thuyết, hay truyện ngắn
đều chỉ là những ‚thực thể trên mặt giấy‛ Tác giả m-ợn vai trò của ng-ời trần thuật để phản ánh cuộc sống với đầy đủ những cung bậc, màu vẻ, để thể hiện quan niệm thẩm mỹ, nhân sinh Giữa ng-ời kể chuyện và tác giả có thể có những điểm t-ơng đồng, song không hoàn toàn trùng khít nhau
Về ph-ơng thức thể hiện, nếu nh- ng-ời kể chuyện trong văn học dân gian
là ng-ời trực tiếp dùng hành động, lời nói trong diễn x-ớng, thì trong văn học viết, lại thể hiện bằng ngôn từ trên văn bản, để đối thoại với những độc giả vô hình
Ng-ời kể chuyện có nhiệm vụ chính là kể chuyện (trần thuật) Không có một tác phẩm văn học nào nảy ra từ trong ‚chân không‛, mà luôn luôn có một ng-ời trần thuật giả định, đ-ợc nhà văn dựng lên để thay mình kể lại câu chuyện Câu chuyện ấy có thể tác giả ch-a từng trải qua, là cõi âm (trong các truyện chí
quái), hay miền tiên giới (Từ Thức gặp tiên, Truyền kỳ mạn lục…), có khi là thế
giới tâm hồn vô cùng phong phú, phức tạp, nhiều ngóc ngách sâu kín của con ng-ời (các tiểu thuyết tâm lý hiện đại) Ng-ời kể chuyện đóng vai trò truyền đạt tới độc giả những ý nghĩa của cuộc sống, cũng nh- thông điệp thẩm mỹ của tác giả và là một yếu tố quan trọng trong tổ chức tự sự của tác phẩm Những câu chuyện cổ tích ở Nga đều có người kể chuyện xưng ‚tôi‛ trong phần kết thúc, để
Trang 21nói với độc giả: ‚tôi cũng đã tham dự đám cưới, tôi uống r-ợu mật ong, r-ợu chảy tràn qua râu Các bạn có trông thấy tôi không?‛, nh- để chứng minh câu chuyện vừa kể là hoàn toàn có thật và đáng tin cậy Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng của ng-ời kể chuyện đối với những gì đ-ợc kể trong tác phẩm
Trong lối kể chuyện truyền thống, ng-ời kể chuyện có vai trò chỉ dẫn, định h-ớng ng-ời đọc Với các tác phẩm chỉ có hai tuyến nhân vật: thiện - ác, ng-ời kể chuyện trình bày thái độ đối với nhân vật qua cách miêu tả chân dung, cử chỉ, hành động… Ng-ời tốt mà gặp nạn sẽ khiến ng-ời kể chuyện không khỏi xót xa,
rơi lệ: ‚Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung‛
(Truyện Kiều), hay với nhân vật phản diện, ng-ời kể chuyện cũng sẽ giới thiệu
ngay từ ban đầu tới độc giả:
Quán rằng: Đó biết ý đây Lời kia đã cạn lời này th-ởng cho Kiệm, Hâm là đứa so đo Thấy Tiên d-ờng ấy thêm lo trong lòng
(Lục Vân Tiên)
Ng-ời kể chuyện có vai trò ‚cao‛ hơn nhân vật khi đ-ợc phép bình luận với
tất cả sự việc, cũng nh- các cảnh vật diễn ra trong truyện Trong Những ng-ời
khốn khổ, Victor Hugo đã dành nhiều trang viết diễm lệ để miêu tả thủ đô Paris
Đây là một cảnh trên đ-ờng phố Paris một ngày đẫm máu: ‚Vừa hát vừa reo hò,
đoàn ng-ời đã tới đ-ờng Saint Denis, gần đ-ờng Hanverie Con đ-ờng này ngắn, càng lúc càng thu hẹp, nó đ-a tới hai con đ-ờng nhỏ chật hẹp, đ-ờng Mondétour
mà một đầu tiếp nối đ-ờng Precheurs, và đ-ờng kia, đ-ờng Petite Iruanderie Những mặt tiền nhà của khu phố này đều ít nhiều bị trúng đạn và đ-ợc chống đỡ bằng những tấm đá ở cuối đ-ờng Chanvrerie, một ngôi nhà hai tầng tạo thành một cái mũi Đó là một quán rượu của bà Hucheloup có tên gọi là ‚Quán trái nho Corinthe‛ [72] Độc giả nh- đ-ợc theo dõi một đoạn phim quay chậm về đám
Trang 22ng-ời nổi dậy trong thế kỷ XIX Họ đi qua từng ngôi nhà, từng góc phố, và có cảm giác nh- con đ-ờng cũng trở nên bé nhỏ theo b-ớc chân hừng hực khí thế ấy qua lối miêu tả của Victor Hugo
Cho dù là người kể chuyện vô hình hay được ‚nhân vật hoá‛, xuất hiện trong tác phẩm, thì ‚nhân vật ấy‛ vẫn có thể ‚đáng tin cậy‛ hoặc ‚không đáng tin cậy‛ Ng-ời kể chuyện đáng tin cậy sẽ thống nhất đ-ợc hệ giá trị trong tác phẩm Tức là, họ sẽ chỉ dẫn độc giả, phán xét các giá trị, giải thích nguyên nhân của từng sự việc, hành động diễn ra trong truyện Ng-ời đọc ở đây đóng vai trò thụ động, vì chỉ có thể tin và nghe theo ng-ời trần thuật ấy
Nh-ng ng-ời kể chuyện ‚không đáng tin cậy‛ sẽ không bình luận, đánh giá, mà cố ý im lặng, không nói rõ chi tiết, thậm chí kể những việc không liên quan đến sự việc chính, rồi sử dụng giọng điệu không phù hợp và tỏ ra hoàn toàn không hiểu Ng-ời kể chuyện trong các tác phẩm của F Kafka luôn
khiến ng-ời đọc phải phát huy tính năng động để lý giải tác phẩm Với Biến
dạng, một ngày, anh chàng nhân viên Gregor Samsa trở thành một con bọ
khổng lồ trong một thế giới đầy rẫy sự phi lý Ng-ời đọc không thể hiểu đ-ợc tại sao anh chàng lại biến thành một con vật gớm guốc đến thế, và rồi cuối cùng rời khỏi cõi đời theo nhát chổi lạnh lùng của ng-ời quét rác Ng-ời kể chuyện không bình luận, đánh giá, cũng không giải thích lý do của sự biến đổi
đột ngột ấy, mà hoàn toàn để cho độc giả tự tìm kiếm lấy câu trả lời Điều này
cũng t-ơng tự nh- các tác phẩm khác của Kafka: Lâu đài, Vụ án, Tr-ớc cửa
pháp luật
Hình t-ợng ng-ời kể chuyện đ-ợc khắc hoạ qua hành động trong tiểu thuyết, hay giãi bày tâm sự về chính mình, nh-ng xuất hiện chủ yếu vẫn là qua thái độ đối với thế giới đ-ợc kể lại Nói cách khác, ng-ời kể chuyện là một "hình t-ợng thái độ" trong tác phẩm
Với các hình thức kể chuyện, tr-ớc hết, hãy xét đển ngôi kể Ng-ời kể chuyện có thể lộ diện hoặc ẩn mình, t-ơng đ-ơng với ng-ời kể chuyện ngôi thứ
Trang 23nhất, tham gia vào câu chuyện, hoặc ngôi thứ ba, bàng quan, đứng ngoài câu chuyện Tuy nhiên, nếu hoàn toàn ẩn mình, thông tin sẽ nảy ra từ chân không Cho nên, phân biệt ng-ời kể chuyện ẩn mình hay lộ diện chỉ mang ý nghĩa t-ơng đối Trong các tiểu thuyết đ-ơng đại, còn có ng-ời kể chuyện ngôi thứ hai, khi ng-ời
kể chuyện tự đặt mình vào vị trí độc giả Nhà văn Nhật Bản Kawabata cũng đã sử dụng ngôi kể thứ hai này trong tác phẩm của mình Ông dùng chữ ‚bạn‛ để mời
độc giả cùng quan sát, rồi thay ng-ời đọc kể lại toàn bộ những gì thấy đ-ợc Ngôi
kể thứ hai khiến cho lời trần thuật có phần khách quan và lấy đ-ợc thiện cảm từ phía độc giả
Ngoài ra, vấn đề điểm nhìn cũng có vai trò quan trọng trong quá trình trần thuật Lubbock nhận định: ‚Tôi cho rằng toàn bộ vấn đề rắc rối về phương pháp trong nghệ thuật sáng tác phụ thuộc vào vấn đề ‚điểm nhìn‛ - vấn đề thái độ của người kể chuyện đối với việc trần thuật‛ [107;117] Trong tác phẩm, vừa có điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong, lại vừa có sự di chuyển điểm nhìn từ bên ngoài vào bên trong, và ng-ợc lại Ng-ời kể chuyện
có lúc lớn hơn nhân vật (người kể chuyện ngôi thứ ba ‚toàn tri‛, biết tuốt), đôi khi là nhân vật trong tác phẩm (ngôi thứ nhất), hoặc ng-ời kể chuyện biết ít
hơn nhân vật (trong các tiểu thuyết đ-ơng đại) Khi Bà Bovary của Flobe ra
đời, đó là một cuộc cách mạng trong tiểu thuyết về ng-ời kể chuyện Tâm sự của bà Bovary trở thành một thế giới kỳ lạ mà độc giả không thể nào xâm nhập, khám phá Đó là thế giới bí mật, không hề bị hé lộ trên trang sách qua lời kể dửng d-ng của ng-ời trần thuật Flobe đã chứng tỏ tâm hồn con ng-ời là lĩnh vực riêng t- nhất, và văn học chỉ là một công cụ để khám phá thế giới tâm hồn ấy mà thôi
Ng-ời kể chuyện th-ờng có giọng điệu riêng Giọng điệu ấy phản ánh lập tr-ờng t- t-ởng, đạo đức của nhà văn đối với hình t-ợng đ-ợc miêu tả Thái độ của tác giả đ-ợc biểu hiện phong phú trong lời văn, qua cách x-ng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm; cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính
Trang 24hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm Giọng điệu cũng góp phần tạo nên phong cách một nhà văn, truyền cảm cho độc giả Mặc dù ng-ời kể chuyện có thể dùng giọng điệu đa dạng khi kể chuyện, song vẫn có giọng chủ đạo nhất
định Với các tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn, luôn hùng hồn, đanh thép khi phê phán chế độ phong kiến cổ hủ, lạc hậu, lại đầy tâm tình, thủ thỉ, ngọt ngào khi viết về tình cảm gia đình, hay bi quan, chán nản khi nghĩ đến những cuộc phiêu l-u không mục đích Tuy vậy, âm điệu chính vẫn là điệu buồn lãng mạn
Giọng điệu thể hiện qua cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, cách x-ng hô…, qua nhịp kể nhanh, chậm, hoặc qua cách sử dụng các kiểu câu: câu đơn, câu phức, sự kết hợp xen kẽ… tạo nên nhịp kể chậm rãi, hay hối hả, nhanh chóng…
Ngoài ra, ng-ời kể chuyện cũng không thể tách rời kết cấu không gian
và kết cấu thời gian trong tác phẩm Không gian là bối cảnh mà câu chuyện diễn ra Đó là không gian của cuộc sống hàng ngày đ-ợc tác giả miêu tả vào trong tác phẩm, tái hiện qua lời của ng-ời kể chuyện Không gian ấy vừa mang tính khách quan, lại vừa mang tính chủ quan và hình bóng của ng-ời nghệ sỹ (nh- không gian làng Vũ Đại trong văn Nam Cao, không gian ‚ngục thất‛ tinh thần trong tác phẩm của Gorki…) Không gian ấy làm nền cho hành
động của nhân vật, cũng là nơi nhân vật thể hiện tính cách đa dạng của mình Còn thời gian trong tiểu thuyết bao gồm các yếu tố: thời gian văn bản, thời gian cốt truyện, sự sai trật niên biểu, tần suất… góp phần tạo nên phong cách riêng của ng-ời trần thuật
Khảo sát ng-ời kể chuyện trong các tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, chúng tôi thấy tr-ớc hết, luôn là một ‚hình tượng thái độ‛ nổi bật
Trang 25Ch-ơng 2 ng-ời kể chuyện - “hình t-ợng thái độ” nổi bật
trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Mỗi tác phẩm văn học đều chứa đựng một cái nhìn của tác giả về cuộc sống Hình t-ợng ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chủ yếu xuất hiện qua thái độ đối với thế giới đ-ợc kể lại Nói cách khác, đó chính là
‚hình t-ợng thái độ‛ trong tác phẩm
2.1 Thái độ khách quan của ng-ời kể chuyện
Thái độ khách quan của ng-ời kể chuyện biểu hiện qua cách miêu tả xã hội, nội tâm con ng-ời và miêu tả thiên nhiên - cuộc sống Thông qua cách nhìn về xã hội, con ng-ời, thiên nhiên - cuộc sống, ng-ời đọc phần nào thấy đ-ợc thái độ đa dạng, phong phú của các tiểu thuyết gia Tự lực văn đoàn
2.1.1 Miêu tả xã hội
Mặc dù thuộc dòng văn học lãng mạn, song không thể không nhận thấy, ng-ời kể chuyện trong các tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn cũng đã mang đến cái nhìn khách quan về xã hội trên một số ph-ơng diện nhất định
Trong các tác phẩm chống lễ giáo phong kiến, các nhà tiểu thuyết Tự lực
văn đoàn phê phán xã hội với những hủ tục nặng nề, bóp nghẹt quyền tự do của
biết bao thanh niên thời đại mới Xã hội ấy đã chà đạp lên -ớc mơ của những cô
gái xinh đẹp trong Nửa chừng xuân, Lạnh lùng, Đoạn tuyệt nh- Mai, Nhung,
hay Loan Những đại diện của lễ giáo phong kiến - bà án, bà Phán… càng trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn d-ới đôi mắt ng-ời kể chuyện ngôi thứ ba ‚Lần đầu bà Phán thấy một câu nh- vậy ở miệng Loan nói ra Bà nhảy chồm lên, hai mắt tròn xoe rồi sấn lại nắm lấy Loan tát túi bụi Con Bình thấy có tiếng động chạy vào xin hộ
Trang 26Loan:
- Con lạy bà, lạy cậu tha cho mợ con
Bà Phán ngừng tay ngoảnh lại:
- Tha gì, đánh cho chết!‛
[71]
Tiếng chửi nặng nề của bà Phán (Đoạn tuyệt) cứ men theo lời kể ấm ức,
tức t-ởi của ng-ời kể chuyện mà đến với độc giả Chỉ vì Loan không chịu tắt
đèn đi ngủ, vẫn còn ngồi đọc sách mà bà Phán không tiếc lời chửi mắng, hành hạ nàng Rồi Thân - chồng nàng cũng xông vào đánh đập nàng tới tấp Phiên toà xét xử Loan sau đó trở thành toà án của l-ơng tri, khi Loan tự mình biện
hộ cho hành động vô ý giết chồng lúc Thân ngã vào con dao mà Loan đang cầm trên tay để bảo vệ mình Phiên toà ấy có đấu tranh giữa phái mới và phái
cũ, giữa t- t-ởng tự do và hủ tục phong kiến nặng nề Trong đó, tất nhiên, ng-ời kể chuyện đứng về phía Loan, về phía những ai yêu tự do, và khao khát giải phóng con ng-ời khỏi những trói buộc thể xác cũng nh- tinh thần, đặc biệt là với ng-ời phụ nữ Vì thế, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, một phần nào đó, khi viết về lễ giáo phong kiến, đã khắc hoạ xã hội với biết bao ngang trái cũng nh- khát khao cháy bỏng về hạnh phúc
Cùng cảnh ngộ với Loan, qua lời kể lãng mạn, Lan trong Hồn b-ớm mơ
tiên cũng bị ép gả cho ng-ời mà nàng không yêu ‚Lan con nhà dòng dõi, bẩm
tính thông minh, thuở nhỏ đ-ợc theo học chữ nho Ông thầy học lại là ng-ời mộ
đạo Phật, th-ờng đem Phật giáo ra giảng, khiến Lan yêu mến cái đạo rất dịu dàng,
êm ái kia Rồi cha mẹ Lan mất Lan ở với chú, chú muốn ép gả Lan vào nơi phú quý‛ [129;84] Nh-ng ni cô ấy đã chọn con đ-ờng tu hành, sống những ngày tháng xa lánh bụi trần ở chùa Long Giáng, nàng phải chịu biết bao khổ cực, hết bị Ngọc trêu ghẹo lại đến Vân theo đuổi, vì t-ởng nàng là bậc nam tử Để rồi, tình yêu hình như đã làm trái tim Lan xao xuyến Lan thú tội trước Phật tổ: ‚Đệ tử đã dốc lòng mộ đạo, không ngờ nay mới biết lòng trần tục vẫn chưa rũ sạch‛
Trang 27[129;41] Trong xã hội vẫn còn hủ tục phong kiến nặng nề, nếu không n-ơng nhờ cửa Phật thì cuộc đời Lan rồi cũng sẽ nh- Loan, đầy ngang trái Ni cô ấy không thể đến với tình yêu đích thực của đời mình, vì lời hứa thiêng liêng tr-ớc Phật môn
Sự giằng xé giữa tình yêu và tôn giáo càng khiến cho ng-ời đọc thêm xót xa cho ng-ời con gái ngây thơ, thánh thiện chốn tu hành Ng-ời kể chuyện đã khéo léo
đan cài vào cốt truyện tình yêu một chi tiết nhỏ về xã hội với cuộc hôn nhân bị ép gả, và nỗi cay đắng khi phải giả trang
Xã hội thời Tự lực văn đoàn còn là xã hội vùi dập -ớc mơ của những trí thức tiểu t- sản, đẩy họ vào b-ớc đ-ờng tha hoá về tâm hồn Ng-ời kể chuyện
trong tiểu thuyết Ngày mới (Thạch Lam) đã khắc hoạ lên hình ảnh một chàng trai
đầy khát vọng, vì chuyện cơm áo mà bỏ dở giấc mộng công danh rồi sinh ra chán ch-ờng mà chửi mắng những ng-ời anh từng yêu quý nhất Xã hội ấy đã cản trở chàng đến với Trinh, chỉ vì không môn đăng hộ đối Vì thế, để có thể lấy nàng, Tr-ờng phải v-ợt qua áp lực rất lớn của gia đình Họ phải dẫn nhau đến một nơi xa lạ, và hàng ngày làm việc để trả tiền thuê nhà Năm sau, ‚Trinh đẻ đứa con, sự túng bấn đến ràng buộc lấy cái gia đình nhỏ‛ [130;438] Tr-ớc đây, chàng trai trong sạch, giản dị ấy chỉ thấy sự nên thơ trong căn nhà cũ năm gian với mảnh v-ờn trồng hoa nhà bà Nhì Giờ đây, những nỗi khổ đau của cảnh nghèo hèn đã
đ-ợc lột tả chi tiết, vây chặt lấy nhân vật chính Tất cả ‚những thiếu thốn cỏn con của sự sống làm Tr-ờng khó chịu và bực mình‛ [130;438] Ng-ời kể chuyện dẫu bênh vực, cảm thông cho chàng, nh-ng cũng không thể phủ nhận nỗi sung s-ớng của Tr-ờng khi nghĩ đến cảnh giàu sang và ngày càng sa vào con đ-ờng lầm lạc Với con ng-ời sống trong xã hội thời ấy, tất cả những lầm lỗi đều mới chỉ là bắt
đầu Xót xa thay!
Xã hội ngột ngạt những tháng năm tr-ớc Cách mạng cũng đã khiến cho
những chàng trai giàu mơ -ớc phiêu l-u nh- Dũng, Thái trong Đôi bạn (Nhất
Linh) không ít lần cảm thấy chán nản, xót xa Nhân vật Dũng có một gia đình giàu có Song, đồng hành với sự giàu sang kia là thói hách dịch của cha chàng
Trang 28với những ng-ời nông dân quanh năm lam lũ, chân lấm tay bùn Dũng tâm sự cùng Loan: ‚Tôi chỉ thấy sự giàu sang của tôi, của cả nhà tôi như là một cái nhục‛ [80;111] Không ít lần, nhân vật chính có cảm t-ởng gia đình mình sẽ
là một gánh nặng cho linh hồn chàng Hoàn cảnh của chàng rồi cũng sẽ không cho chàng đến đ-ợc với Loan, vì chàng biết chắc chắn rằng không bao giờ ông tuần bằng lòng cho chàng c-ới Chỉ vì trong xã hội bấy giờ, hôn nhân ‚môn
đăng hộ đối‛ rất được coi trọng Ng-ời kể chuyện đã phản ánh thực tại cuộc sống của ng-ời trí thức tiểu t- sản sinh ra trong một gia đình quan lại giàu có một cách khá khách quan và đầy th-ơng cảm
Còn đối với những ng-ời nông dân quanh năm lam lũ nh- hình ảnh ng-ời
nông dân đ-ợc miêu tả trong Con đ-ờng sáng (Hoàng Đạo), nh- gia đình bác xã Chính trong Con trâu (Trần Tiêu), họ luôn phải khốn khổ vì miếng cơm manh áo,
vì hủ tục, lệ làng nặng nề, điêu đứng Tất cả đều đ-ợc ng-ời kể chuyện thể hiện một cách sống động, chứng tỏ một năng lực quan sát tỉ mỉ, và sự phản kháng sâu sắc với tàn d- của xã hội phong kiến thời bấy giờ
2.1.2 Miêu tả nội tâm con ng-ời
Không chỉ bức tranh xã hội mà thế giới nội tâm phong phú của con ng-ời cũng đã đ-ợc ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn quan sát và diễn tả hết sức tinh tế Trong đó, nổi bật lên là những phút rung động rất đỗi chân thực,
mà nhẹ nhàng, tế vi, mà mơ hồ, bảng lảng của các nhân vật tr-ớc sự thay đổi rất nhỏ của ngoại cảnh và con ng-ời
Có thể nói, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn phần lớn là những tiểu thuyết ái tình Vì thế, việc miêu tả nội tâm con ng-ời tr-ớc hết liên quan đến miêu tả nội tâm trong tình yêu
Qua con mắt của ng-ời kể chuyện, tâm trạng ‘‘khi yêu’’ của các cặp nhân vật tình ái đ-ợc diễn tả ở rất nhiều cung bậc khác nhau: khi thầm kín, khi thiết tha,
khi hờn giận, t-ơng t-… Trong Hồn b-ớm mơ tiên, việc miêu tả nội tâm nhân vật
đều xoay quanh sự đuổi bắt tình yêu Đầu tiên là việc chú tiểu Lan gặp Ngọc ở
Trang 29v-ờn sắn, vì ‚thốt gặp người lạ, chú bẽn lẽn, hai má đỏ bừng‛ [129;9] Hình
ảnh này thể hiện cái ‚bẫy‛ của người kể chuyện, khiến cho ng-ời đọc không khỏi nghi ngờ về chú tiểu xinh xắn Các tính từ chỉ trạng thái ‚bẽn lẽn‛, ‚đỏ bừng‛ chẳng khác nào khi dùng cho một cô gái quê tuổi vừa mới chớm đôi m-ơi, tr-ớc những rung động đầu đời Kẻ xuất gia tu hành vốn phải giữ mình
điềm tĩnh tr-ớc vạn vật, sao lại có trạng huống tâm lí kì lạ, xôn xao, e ấp đến vậy? Cái bẽn lẽn, ng-ợng ngùng của Lan khi tình yêu đến đã đ-ợc ng-ời kể chuyện nắm bắt rất nhanh và chuyển đến ng-ời đọc
Tâm trạng khi yêu của cặp đôi nhân vật chính trong tiểu thuyết Đôi bạn
(Nhất Linh) có lẽ chính là thứ tâm trạng của tình yêu thầm kín, không nói đ-ợc thành lời Qua lời ng-ời kể chuyện, nhiều khi, tâm trạng của nhân vật không
đ-ợc trực tiếp tỏ bày, mà phải dùng đến thiên nhiên để miêu tả tâm trạng Lúc
ấy, hai ng-ời ở bên nhau trong v-ờn khế H-ơng hoa khế đã làm lãng mạn thêm giây phút bên nhau của Loan và Dũng nơi vườn nhà Cận ‚Mùi hoa khế
đ-a thoảng qua, thơm nhẹ quá nên Dũng t-ởng nh- không phải là h-ơng thơm của một thứ hoa nữa‛ [80;33] Và ‚đó cũng là một thứ hương lạ để đánh dấu một thời khắc qua trong đời: Dũng thấy tr-ớc rằng, độ m-ời năm sau, thứ h-ơng đó sẽ gợi nhớ chàng đến bây giờ, nhớ đến phút chàng đ-ơng đứng với Loan ở đây‛ [80;33] Một mùi h-ơng đồng quê, giản dị và thân thuộc, song vì
nó gắn với những ng-ời yêu nhau, cho nên mới trở thành quan trọng Vì tình yêu đã làm cho câu chữ trở nên lãng mạn, đắm đuối Có thêm h-ơng hoa, ái tình giữa Loan và Dũng càng mang sắc thi vị Mùi h-ơng tự ngỏ lời thay cho ng-ời kể chuyện về đôi lứa yêu nhau, mặc dù giữa họ vẫn là tình yêu ch-a nói
Và khoảnh khắc nội tâm của con ng-ời đã chứng minh: ái tình chỉ đẹp khi hãy còn dang dở
Tâm hồn con ng-ời không chỉ là những phút giây yêu th-ơng đầy hạnh phúc Những nỗi chán nản, bi quan của các nhân vật cũng đ-ợc ng-ời kể khám phá và đ-a tới độc giả vô hình Điều này đã đ-ợc ng-ời kể chuyện trong
Trang 30Con đ-ờng sáng (Hoàng Đạo) diễn tả tài tình Duy (Con đ-ờng sáng) từng
nghĩ đến ý t-ởng quyên sinh Ng-ời kể chuyện d-ờng nh- thấu hiểu tất cả những nguyên nhân của nỗi đau khổ trong lòng chàng Hoàng Đạo cũng đã
đứng về phía nhân vật chính Ông tả cuộc đời truỵ lạc của Duy với niềm cảm thông, và th-ơng xót Không tìm ra ý nghĩa của sự sống, mà truỵ lạc lại chỉ càng thêm ngao ngán, có lúc, nỗi sợ hãi việc uống r-ợu cho thật say khiến Duy thấy không đáng sợ bằng ‚cái ý tưởng quyên sinh mà chàng thấy lẩn quất
đâu đó như một kẻ gian náu hình trong bóng tối‛ [128;568] Từ vô hình, ý t-ởng tự sát dần dần rõ ràng hơn Ngồi một mình trong phòng, chỉ cần có súng lục trong tay, Duy sẽ coi việc quyên sinh giản dị nh- không Ng-ời kể chuyện
đã để cho nhân vật có phép so sánh: ‚chỉ một cái bấm cò khẽ, chưa chắc đã khó nhọc bằng cái bấm cò đầu tiên khi chàng bắn con chim thứ nhất‛ [128;573] Cái chết có lẽ thật dễ dàng Chết cũng là để quên sống Sự sống đối với con ng-ời đã mang nỗi chán nản tột độ nh- Duy còn khó nhọc hơn là cái chết
Nội tâm nhân vật đầy mâu thuẫn Vì Duy lại không có can đảm để mà kết thúc đời mình Chàng thấy buồn Chàng ‚buồn cho tất cả đời sống bao la
và chán nản, trong đó có chàng‛ [128;567] Trở đi trở lại trong tiểu thuyết của Hoàng Đạo, ta đều thấy Duy rơi vào vòng luẩn quẩn của truỵ lạc Nội tâm của Duy khi ăn chơi cho quên sầu có lẽ cũng là tâm trạng rất chung của những chàng trai không tìm đ-ợc niềm tin vào cuộc sống trong con mắt ng-ời kể chuyện
Ng-ời kể chuyện chính là ng-ời phát ngôn cho t- t-ởng của nhà văn Tr-ớc ng-ời nông dân, các cây bút Tự lực văn đoàn có thái độ cảm thông, xót th-ơng và không ít lần thấy đ-ợc nỗi khổ sở thật sự của những con ng-ời d-ới
đáy xã hội Với ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết Con trâu (Trần Tiêu), con
ng-ời ấy đã đến với người nông dân để rồi ‘‘cố tìm mà hiểu họ’’ Vì thế, tâm trạng của bác xã Chính cũng đã đ-ợc viết bằng những trang văn chân thực,
Trang 31đầy xúc động Nguyên nhân bác xã Chính mua chức xã hết hai m-ơi lăm đồng là
để ng-ời làng khỏi c-ời nhạo, chế giễu Nh-ng lên đ-ợc chức xã, bác lại càng tốn kém thêm Bác đ-ợc mời đi nghe hát, nh-ng mỗi lần nh- vậy, lại phải th-ởng cho cô đầu hết hai đồng ‘‘Xã Chính từ nãy đến giờ vẫn ngồi xếp bằng, ngẩn người ra nghe Bác chẳng hiểu tí nào về hát ả đào Lúc nào cũng nh- lúc nào, bác chỉ nghe tiếng đàn tiếng hát đều đều bằng một giọng buồn thiu buồn chảy Và những tiếng trống chầu, tiếng phách làm chói cả tai’’ [130;649] Ng-ời nông dân ấy đi nghe hát chỉ là để theo phong trào của các xã nh-ng, để giữ thể diện với làng Những lần buộc phải đi, bác và mấy ng-ời nữa kéo ra sân nói chuyện vãn cho qua thời giờ,
đợi khi có trống nổi lên mới trở lại Đó là những suy nghĩ rất thật trong tâm hồn chân chất, mộc mạc của ng-ời nông dân mà nhà tiểu thuyết phong tục Trần Tiêu
đã khéo léo nắm bắt, khắc hoạ
2.1.3 Miêu tả thiên nhiên - cuộc sống
Qua lối kể t-ơng đối khách quan của ng-ời kể chuyện, nội tâm nhân vật đã
đ-ợc diễn tả thật chân thực và tinh tế Và qua lối mô tả hấp dẫn của ng-ời trần thuật, ta lại càng thêm yêu cuộc sống, thiên nhiên đồng quê trong các sáng tác của
Tự lực văn đoàn
Thiên nhiên Việt Nam muôn màu, rực rỡ đã đ-ợc miêu tả thật sống động,
gợi cảm Đó là cảnh biển Sầm Sơn (Thanh Hoá) trong Trống mái
D-ới đôi mắt lãng mạn, tràn đầy sức sống của người kể chuyện, ‘‘mặt trời vừa mọc và ẩn sau đám mây tím rải ngang trên làn n-ớc đủ màu, từ màu lam sẫm, lam nhạt ngoài xa cho đến các màu hồng, màu vàng ở gần bờ Trên nền trời sắc da cam chói lọi những vạch đỏ thắm xoè ra nh- bộ nan quạt làm bằng ngọc thạch lựu Quay lại nhìn về phía thành phố Sầm Sơn, ánh sáng đèn điện ch-a tắt và nhợt nhạt lấp ló trong lá phi lao nh- những ngôi sao buổi sớm mai lờ mờ sau làn mây mỏng’’ [66] ấy là cảnh biển buổi sớm mai với muôn màu sặc sỡ mà ng-ời kể chuyện đ-a lại Các tính từ và phép so sánh đã đ-ợc sử dụng đắc địa để khắc hoạ thiên nhiên hùng vĩ vùng danh thắng của Tổ quốc Chẳng phải thiên nhiên
Trang 32giàu đẹp của n-ớc ta từ x-a đã đi vào trong văn thơ, khiến cho mỗi ng-ời dân Việt
đều tự hào về ‘‘rừng vàng biển bạc’’? Cảnh biển lúc hoàng hôn cũng muôn phần lộng lẫy, thanh tân: ‘‘Trăng vừa từ trong đám mây đen ló ra gieo ánh vàng lóng lánh xuống mặt biển, ngoài bãi khe Thờ, ở khoảng giữa hòn Buồn và núi Gầu Cao Bóng hòn Trống in xuống tảng đá bệ và gối lên đầu hòn Mái Bóng Vọi cũng nằm dài theo song song bóng tảng đá chênh vênh Cảnh t-ợng ấy đã quá quen với mắt Vọi…’’ [66] Thiên nhiên gấm hoa đã hiện lên thật rực rỡ trong mỹ cảm của các cây bút Tự lực văn đoàn, trong lối văn lãng mạn, giàu chất mơ, chất thơ
Đó còn là khung cảnh quê, là v-ờn sắn trong Hồn b-ớm mơ tiên, nơi gặp
gỡ của đôi ‘‘tiên đồng ngọc nữ’’ chốn trần gian V-ờn sắn cũng là nơi ‚hò hẹn‛ của Lan và Ngọc Vì nơi ấy, Ngọc muốn bày tỏ tình cảm của chàng thông qua bức thư định đưa cho Lan ‚Bên ngoài, lá thổi xô xát các lá sắn tiếng kêu sạt sạt ( ) Gió thổi càng dữ, tà áo Lan bay phấp phới mà trái tim kia nh- chịu sức mạnh của cơn gió, cũng phập phồng trong ngực nh- làn lá sắn nhấp nhô tựa sóng‛ [129;67] Khái H-ng chỉ điểm xuyết vài nét miêu tả không gian Sự
so sánh trái tim Lan giống như ‚làn lá sắn nhấp nhô tựa sóng‛ khiến cho nhà văn diễn tả cụ thể hơn tâm trạng của nhân vật khi ấy Mảnh v-ờn sắn từ hiện thực khách quan đi vào văn ch-ơng cũng chỉ nên thơ đến thế mà thôi
Cũng nh- cảnh v-ờn sắn, ng-ời kể chuyện đã tả cảnh cuối thu trong tiểu
thuyết Đôi bạn rất giống với bức tranh của họa sỹ Pháp Mônê Chất lãng mạn,
màu sắc ấn t-ợng chủ nghĩa thấm đẫm trong từng câu, từng chữ của Nhất Linh:
‚Những cành đầy hoa vàng rủ xuống chạm vào tóc hai ng-ời Loan và Dũng cùng yên lặng Tiếng giầy trên sân gạch mỗi lúc một xa và nghe nh- ở một thế giới khác
đ-a lại Trên cành bồ kết, một con bọ ngựa non giơ hai càng tìm chỗ níu rồi đánh
đu chuyền từ lá này sang lá khác‛ [80;43] Bức tranh giản dị của làng quê đối với ng-ời kể chuyện vừa khách quan vừa có cái nên thơ kì lạ Ng-ời kể chuyện tả khu v-ờn d-ờng nh- đã trở thành một thế giới khác Thế giới ấy không có sự ngăn cách sang hèn, không có cảnh đời xô bồ, đua chen, tầm th-ờng mà Dũng đang
Trang 33muốn trốn tránh Nhất là khung cảnh ấy sẽ là những kỉ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời phiêu bạt của kẻ giang hồ lãng tử về sau Một cành hoa rạo rực sắc vàng, một con bọ ngựa chuyền cành - những chất liệu của hiện thực ấy càng sinh động hơn d-ới ngòi bút của Nhất Linh, trong con mắt ng-ời kể chuyện Ta yêu thêm làng quê đất Việt, lại thêm xúc động tr-ớc tình cảm đẹp đẽ của lứa đôi Không gian mang màu sắc hiện thực - lãng mạn này sẽ còn trở đi trở lại nhiều lần trong tác phẩm
Cái khách quan của bức tranh cuộc sống đ-ợc miêu tả trong tiểu thuyết Tự
lực văn đoàn chính là cái khách quan mang tính lãng mạn Cảnh chiều quê với
tiếng nghé ọ trong Con trâu (Trần Tiêu) mang dáng dấp của làng quê Việt Nam
trong con mắt của các cây bút tiểu t- sản ‘‘Con trâu mẹ kêu mấy tiếng ‘‘nghé ọ!’’,
và chân vẫn thản nhiên, đều đều b-ớc một trên con đ-ờng đất gồ ghề (…) ánh đỏ dịu dần, đã đổi sang màu tím và tím nhạt… Một ngôi sao lấp lánh trên màn trời lam tối Vài con chim bay Chuông chùa thong thả buông rơi từng giọt buồn vào trong khoảng yên lặng, một thứ yên lặng thiêng liêng của cảnh hoàng hôn nơi thôn dã’’ [130;593] Thái độ của ng-ời kể chuyện ở đây có niềm vui khi đắm mình nơi thôn ổ, và hoàn toàn hoà nhập vào cuộc sống của những trẻ mục đồng buổi chiều quê Ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn rất yêu thích tả cảnh Và
đó cũng là ‘‘cái thú’’ của văn chương thời hiện đại chưa xa rời lối viết của tiểu thuyết lãng mạn
Quả thực, thái độ của ng-ời kể chuyện đối với con ng-ời, cảnh vật, xã hội hiện lên trong tác phẩm, cho dù đầy dáng dấp chủ quan, nh-ng vẫn mang tính chất tích cực, cũng nh- ít nhiều sự chân thực trong từng lời miêu tả Bởi nhà văn tr-ớc hết vẫn là những ng-ời th- ký trung thành của thời đại Và Tự lực văn đoàn chính
là những ng-ời th- ký của thời đại bấy giờ
2.2 Thái độ chủ quan của ng-ời kể chuyện
2.2.1 Những nguyên lý của chủ nghĩa lãng mạn
Trang 34Thái độ của ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chủ yếu vẫn
là thái độ mang tính chủ quan đối với xã hội, con ng-ời cũng nh- khi miêu tả thiên nhiên, đất n-ớc
Bởi vì chủ nghĩa lãng mạn có những nguyên lý cơ bản sau đây:
Tr-ớc hết là sự đề cao mộng t-ởng Chủ nghĩa lãng mạn là sự phản ứng
chống lại xã hội đ-ơng thời, đầy rẫy những bất công, ngang trái Khi không tìm ra
đ-ợc lối thoát cho riêng mình, cũng không thể chấp nhận cùng chung sống trong xã hội phong kiến, con ng-ời muốn thoát ly thực tế, tìm đến một thế giới khác giúp quên đi thế giới mà họ đang sống Các nhà văn lãng mạn vẽ ra một cảnh sống làm thoả mãn ‘‘cái tôi’’ bị tổn th-ơng Đó là thế giới của Verlaine, Bauderlaire, thế giới của Coppée, Gide, Chauteaubriand Xã hội phong kiến cùng với nhà thờ
đã ru ngủ con ng-ời trong mê muội Con ng-ời chỉ có thể tìm đ-ợc chính mình trong những giấc mơ, trong những thế giới không hề có thực Bởi vì, ‚chủ nghĩa lãng mạn cho phép các nhà văn tạo ra một thế giới đặc biệt của mình, đẹp hơn, chân thực hơn cái thực tại kinh nghiệm‛ [98;96]
Những thi sỹ lãng mạn nh- Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Thế Lữ đều tìm đ-ợc cho mình một thế giới riêng Hàn Mặc Tử tìm đến cõi mộng với trăng Ng-ời mơ thấy trăng, ngủ bên trăng, và trăng là ‚vú mộng của muôn đời thi sỹ‛ Để rồi, khi tỉnh dậy, tất cả đều chỉ là mộng t-ởng, đều là tự dối lòng mình để
an ủi cái tôi cá nhân hoàn toàn băn khoăn, đau đớn tr-ớc cuộc đời dâu bể Các nhà văn lãng mạn Tự lực văn đoàn cũng không ít lần đề cao những giấc mơ thoát ly hiện thực nh- thế
Thứ hai, chủ nghĩa lãng mạn luôn đề cao tình cảm Chủ nghĩa lãng mạn còn
đ-ợc gọi là chủ nghĩa tình cảm, vì ở đây, tình cảm của con ng-ời đ-ợc biểu hiện rõ rệt nhất Xã hội phong kiến khuyên can con ng-ời khắc chế cảm xúc, cho rằng tình cảm sẽ làm cho họ trở nên hèn yếu, nhu nh-ợc đi Nguyên tắc ‚tam duy nhất‛ trong kịch cổ điển cũng đã thể hiện sự đề cao và tôn sùng lý trí Chủ nghĩa lãng mạn chống lại chủ nghĩa cổ điển đề cao lý trí ấy Bởi vì, chủ nghĩa lãng mạn gắn
Trang 35liền với con ng-ời cá nhân Với con ng-ời cá nhân, quan trọng nhất lại là tâm t-, tình cảm Cho nên, trong chủ nghĩa lãng mạn, mọi cung bậc tình cảm của con ng-ời, nhất là ái tình đ-ợc khai thác triệt để ở mọi ph-ơng diện Ng-ời ta thấy, ch-a bao giờ, có nhiều trạng thái đến vậy trong tình yêu của thế gian này: khi hờn giận, khi t-ơng t-, khi yêu th-ơng, khi đau đớn Chỉ vì, trong văn ch-ơng cổ điển, thứ tình cảm tối cao, thiêng liêng ấy ch-a bao giờ đ-ợc khám phá một cách trọn vẹn Ngay cả thiên nhiên cũng đ-ợc miêu tả một cách sinh động nhất, trở thành nơi phản ánh nội tâm và nuôi d-ỡng tình cảm của con ng-ời Xã hội cơ khí hoá đã khiến con ng-ời ngày càng cô đơn, và xa rời người bạn ‚cố tri‛ thân thiết Ta hiểu vì sao, Victor Hugo lại dành nhiều trang viết miêu tả thiên nhiên khu v-ờn Luxembourg, hay Bích Khê nhớ thương về xứ Huế với ‚biếc che cần trúc‛, với cây ngô đồng buồn thay lá:
Ô hay! Buồn v-ơng cây ngô đồng Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông
Chỉ vì, với các cây bút lãng mạn, thiên nhiên đã trở thành một phần không thể thiếu trong ‚vóc dáng‛ tâm hồn, thành cố nhân an ủi cái tôi cô đơn ‚mất bề rộng ta đi tìm bề sâu, nhưng càng đi sâu càng thấy lạnh‛ (Hoài Thanh) Việc đề cao tình cảm khiến cho chủ nghĩa lãng mạn gắn liền với những tiểu thuyết ái tình s-ớt m-ớt, diễm lệ
Thứ ba, chủ nghĩa lãng mạn đề cao sự tự do ở con ng-ời Vì đề cao mộng
t-ởng và tình cảm nên con ng-ời muốn h-ớng đến một cuộc sống tự do, thoát khỏi mọi ràng buộc ở chủ nghĩa lãng mạn, ng-ời nghệ sỹ đ-ợc trả lại tất cả mọi quyền
tự do để họ thoả sức sáng tạo và t-ởng t-ợng Nên đa số các tác phẩm đều h-ớng
đến cái khoáng đạt phi th-ờng, vì chủ nghĩa lãng mạn không chấp nhận những quy
định nghiêm ngặt (đôi khi vô lý) của chủ nghĩa cổ điển Nhân vật trong chủ nghĩa lãng mạn có thể bay bổng lên chín tầng mây, đang trên mặt đất mà nghĩ tới tinh cầu khác, đạt đến sự tự do tuyệt đối Trong chủ nghĩa hiện thực, bao giờ cũng đặt nhân vật trong hoàn cảnh điển hình, và chịu sự chi phối của hoàn cảnh đó
Trang 36Chính hoàn cảnh đã tạo nên tính cách của nhân vật trong chủ nghĩa hiện thực Nh-ng với chủ nghĩa lãng mạn thì hoàn toàn trái ng-ợc lại Con ng-ời có thể thoát khỏi hoàn cảnh một cách dễ dàng, đạt đến sự tự do triệt để Nên ta thấy số phận của Chí Phèo (Nam Cao) với nỗi đau ‚Ai cho tao làm người lương thiện?‛ khác
hẳn với Dũng trong Đôi bạn của Nhất Linh, tự quyết định cuộc đời mình với ham
thích phiêu l-u
Chính vì nguyên lý đề cao mộng t-ởng, tình cảm, đề cao sự tự do đã tạo nên cái nhìn chủ quan của các nhà văn lãng mạn khi miêu tả con ng-ời, thiên nhiên, xã hội Các tiểu thuyết Tự lực văn đoàn không nằm ngoài những nguyên lý ấy, mà tuân theo những nguyên tắc này một cách triệt để Cho nên, dù có cố gắng khách quan khi miêu tả đến đâu, thì thái độ chủ quan của ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết cũng rất đỗi rõ ràng
2.2.2 Thái độ đối với xã hội
Tr-ớc xã hội, thái độ của ng-ời kể chuyện và cả nhân vật đều có phần trốn tránh, rời xa thực tế, không muốn khai thác nguyên nhân chính tạo nên những bất công, ngang trái Ngay cả với những cải cách xã hội mà nhân vật Duy, Thơ trong
Con đ-ờng sáng (Hoàng Đạo) đã thực hiện thì cũng chỉ là những khuynh h-ớng
cải cách mang ‚tính chất cải l-ơng‛
Tr-ớc kia, nhân vật Duy (Con đ-ờng sáng) sống cảnh đời truỵ lạc và
không ít lần t-ởng đến việc tự sát Từ khi tham gia vào công cuộc cải cách với đám dân quê, ng-ời kể chuyện kể: chàng đi san rừng, làm ruộng với đám nông phu, bỏ tiền ra để đào giếng, xoá nhà tranh tre cho những hộ nông dân nghèo đói nhất
trong làng Vũ Ngọc Phan nhận xét: ‚Con đ-ờng sáng có những ý rất hay
nh-ng phải cái ngôn ngữ và hành động của hai nhân vật chính trong truyện - Duy và Thơ - khí tài hoa quá‛ [96;318] Quả thực, Hoàng Đạo đã xây dựng nhân vật mang đầy sắc lí t-ởng hoá Tr-ớc hiện thực, Kh-ơng Duy đã trở thành loa phát ngôn cho t- t-ởng của Hoàng Đạo Những cải cách mang tính chất không t-ởng, mơ hồ về mục đích, biện pháp của chàng về thực chất đều chỉ là ý t-ởng
Trang 37của Hoàng Đạo m-ợn lời chàng mà nói lên Nhà văn Tự lực văn đoàn ấy cũng nh- nhân vật có lẽ chỉ muốn cải cách hiện thực, chứ ‚không đặt vấn đề phủ nhận‛ [24;11] hiện thực Ta thấu hiểu tấm lòng của ng-ời kể chuyện ngôi thứ ba
đối với ng-ời dân quê Nh-ng tấm lòng ấy chẳng qua chỉ là ý muốn chủ quan của tác giả tr-ớc thực tế xã hội mà thôi Để rồi, sau khi thấy bọn hào lí trong làng lấy hết tiền đào giếng dùng vào việc hội họp, chè chén, nhân vật Duy thấy mình bất lực Chàng trở về con đ-ờng truỵ lạc, khi -ớc mơ tan vỡ Cái vỡ mộng của chàng là cái vỡ mộng của thời đại
ở các tác phẩm đấu tranh chống lễ giáo phong kiến, thái độ chủ quan của ng-ời kể chuyện lại thể hiện qua việc đề cao quá mức tự do của con ng-ời, hạ thấp mọi quy chuẩn đạo đức xã hội Trong xã hội phong kiến, gia đình là yếu tố then chốt, cũng là một ‘‘xã hội thu nhỏ’’, với quyền hành của cha mẹ đối với con cái cũng như tư tưởng ‘‘quyền huynh thế phụ’’ Thoát khỏi sự ràng buộc của nền tảng gia đình ấy cũng là cái cớ để nhân vật không còn mối liên hệ gì nữa với xã hội trì
trệ, bảo thủ Chàng Ngọc - nhân vật chính trong Hồn b-ớm mơ tiên (Khái H-ng)
nguyện suốt đời yêu ni cô Lan d-ới bóng từ bi của Phật tổ, trong thứ ái tình mộng
ảo Khi Lan hỏi còn gia đình chàng thì sao, chàng trai lạnh lùng trả lời: ‘‘Tôi không có gia đình nữa Đại gia đình của tôi nay là nhân loại, là vũ trụ’’ [129;98] T- t-ởng ấy của Ngọc đã phản ánh phần nào thực tế sự chối bỏ ý nghĩa hai tiếng thiêng liêng ‘‘gia đình’’ trong trang viết của các nhà văn lãng mạn tiểu t- sản
Theo b-ớc chân ng-ời kể chuyện đến với nhân vật Hồng trong Thoát ly, gia
đình giống như một thứ ‘‘ngục thất’’ về mặt tinh thần đối với cô gái trẻ Mẹ nàng mất đã lâu Cha luôn ‘‘rẻ rúng nàng’’, người dì ghẻ thì ‘‘ác nghiệt tàn nhẫn’’, còn
lũ em thì ‘‘láo xược’’ với nàng [70] ý nghĩ ‘‘thoát ly’’ sau khi đi lấy chồng khiến cho nàng sung s-ớng đến nỗi thấy t-ơng lai trở nên sán lạn, và sẵn sàng tha thứ cho ng-ời cha nhẫn tâm và ng-ời dì ghẻ ác nghiệt Bởi vì, ‘‘nàng cần gì, chậm lắm
là một, hai tháng nữa nàng đã rời bỏ hẳn cái gia đình ấy để về nhà chồng; mẹ
Trang 38chồng dù cay độc đến bực nào cũng không thấm vào đâu với dì ghẻ của nàng
được’’ [70] Và thoát ly trở thành nỗi niềm đau đáu trong lòng nhân vật Cái chết của Hồng ở cuối thiên tiểu thuyết cũng là để trả cái nợ của tự do:
‘‘- Kìa ! Bà trông !
Ông Phán trỏ Hồng bảo vợ
Hồng bằn bặt thiếp đi, cặp môi vẫn t-ơi c-ời và mấp máy mấy câu gì không
rõ Phải chăng đó là hai tiếng Thoát ly?’’ [70]
Đôi môi mỉm c-ời của nàng tr-ớc khi đi xa nh- để minh chứng cho câu nói: không tự do cũng đồng nghĩa với cái chết Thái độ chủ quan của tác giả cũng nh- ng-ời kể chuyện đối với xã hội trong tác phẩm đã quá rõ ràng Cuộc sống không
có gì ý nghĩa bằng tự do trong tâm hồn và t- t-ởng
Thái độ đối với xã hội của những khách lãng tử nh- Dũng, Thái, Tạo trong
Đôi bạn (Nhất Linh) lại càng nhập nhằng, mơ hồ Những chàng trai ấy chỉ muốn
ra đi để lánh đời, hoặc để thoả mãn mục đích phiêu l-u của mình đấy thôi Họ hoàn toàn không quan tâm đến xã hội hiện tại Đứng tr-ớc sự ra đi, ở chàng trai Dũng có một tâm trạng l-ỡng thế Một mặt, chàng thấy ra đi là vô nghĩa Dũng nghĩ về Thái: ‚Anh Thái đi nh- vậy để làm gì? Chẳng qua không biết làm gì nữa thì liều lĩnh‛ [80;37] Thái đối với chàng là một ng-ời đã chán nản quá, không thiết gì đến sống Thái đi, mang theo nỗi đau khổ, chán ch-ờng của đời mình Nh- thế, đối với Dũng, xã hội hiện tại mà chàng đang sống đã mất hết ý nghĩa Hành động phiêu l-u mang sự lánh đời, và cũng là lạc vào bể khổ trầm luân Cái chết day dứt của Thái - tự tử bằng súng lục, cái chết đau
đớn của Tạo vì sốt rét rừng đều khiến Dũng phải suy nghĩ Nhà văn miêu tả: Dũng thấy rằng khi buồn cho Tạo, là chính chàng đã buồn cho đời chàng trong xã hội bấy giờ ‚Phải sống một đời ngang trái nhưng chàng không có đủ can đảm để thoát li; mà thoát li rồi, cái đời t-ơng lai của chàng sẽ đại khái nh-
đời của Thái và Tạo, hai cảnh đời mà tr-ớc kia mới nghĩ đến chàng đã thấy buồn nản vô cùng‛ [80;133] Vẽ ra tr-ớc mắt mình viễn cảnh ấy, hẳn tâm
Trang 39trạng nhân vật không có chút nào vui vẻ, lạc quan Nhất Linh thấu hiểu điều
đó Nh-ng Dũng vẫn phải đi theo con đ-ờng mà chàng từng cho rằng mình sẽ không có đủ can đảm để dấn b-ớc vào Vì mặt khác, sự thoát li với chàng vẫn
là cần thiết Chàng đã không còn đủ dũng cảm để đối mặt với cuộc sống, với xã hội buồn nản hiện tại Bởi vậy, ‚Dũng lấy làm lạ rằng không phải đợi đến lúc bỏ nhà ra đi mới đ-ợc thoát thân‛ [80;159] Ngay cả khi ch-a ra đi, chàng trai đam mê hành động này đã thấy mình bị cắt đứt hết các mối dây liên lạc với gia đình và xã hội
Thế Lữ từng ngợi ca ng-ời khách phiêu l-u trong bài thơ Tiếng gọi bên
sông nh- thế Có lẽ, đây là tâm trạng chung của các cây bút cũng nh- ng-ời kể
chuyện lãng mạn Với họ, sự ra đi, trong cái nhìn chủ quan, cũng là một điều cần thiết để chối bỏ thực tại khi không đủ can đảm đối mặt với hiện thực khách quan
2.2.3 Thái độ đối với con ng-ời
Thái độ chủ quan của ng-ời kể chuyện Tự lực văn đoàn thể hiện rõ ràng nhất trong cách nhìn về ng-ời nông dân Đó là cái nhìn từ trên cao ban xuống, cái nhìn từ giai cấp khác, chứ không phải "cố tìm mà hiểu", đi sâu vào thế giới thực sự của những con ng-ời quanh năm một nắng hai s-ơng, thấu hiểu tâm t-, tình cảm của họ
Hình ảnh ng-ời dân quê trong đôi mắt ng-ời kể chuyện ở Đôi bạn (Nhất
Linh) là sự cam chịu, mê muội tr-ớc c-ờng quyền Ng-ời kể chuyện dựng lên tình huống đậm chất hài h-ớc: Hai Lẫm bị cụ tuần đánh đến nỗi ‚s-ng b-ơu cả đầu lên‛ [80;89] vẫn cho rằng ‚cụ lớn đánh là cụ lớn th-ơng‛ [80;89] Nh-ng đó là cái
Trang 40c-ời ra n-ớc mắt Nhất Linh không tài nào nhìn thấy đ-ợc sự phản kháng nhất
định ở ng-ời dân quê
Trong Con đ-ờng sáng (Hoàng Đạo), nhà văn đã chấm phá, điểm xuyết vài
nét miêu tả về ng-ời nông dân trong con mắt Kh-ơng Duy Cảnh một rá cơm hẩm,
đàn con nheo nhóc, bẩn thỉu, gầy xanh nh- tàu lá trong những căn nhà lụp xụp gợi cho ng-ời đọc sự xót th-ơng não nề Song nhà nghệ sĩ ấy cũng chỉ từ bên ngoài mà trông vào ng-ời dân Ông không cố công tìm hiểu nguyên nhân thực sự gây nên cảnh bần cùng, khốn khổ của họ Thái độ của Nhất Linh, Hoàng Đạo đối với ng-ời nông dân chủ yếu chịu ảnh h-ởng từ lòng từ bi, bác ái của Victor Hugo
trong tác phẩm lãng mạn Những ng-ời khốn khổ mà thôi
Ng-ời kể chuyện trong tác phẩm của Trần Tiêu đã có lúc nghiêng hẳn mình
về phía thôn quê Ng-ời trần thuật tỏ ra am hiểu đến sâu sắc, t-ờng tận những
phong tục vùng thôn dã Cuộc sống của ng-ời nông dân trong Con trâu đã đ-ợc
dựng lại t-ơng đối chân thực, sống động
Bác xã Chính là nhân vật chính trong truyện Nhà bác nghèo Bữa ăn chỉ có
‚một đĩa rau muống luộc, một đĩa vừng rang với một chén n-ớc mắm cáy‛ [130;598] trên chiếc mâm đã tróc sơn Đấy là còn khá Những năm đói kém, bữa
ăn của gia đình chỉ còn một đĩa vừng rang hoặc một đĩa muối Buổi tối, gia đình sáu ng-ời nhà bác phải ăn cơm sớm để đỡ tốn dầu thắp Tuy chỉ ăn cơm hẩm, hai bác vẫn ‚nhịn mỗi ng-ời một bát để các con đ-ợc no‛ [130;599] Viết về bữa ăn, các nhà văn tr-ớc Cách mạng đều có điểm chung là nêu bật lên sự khốn cùng của
ng-ời dân quê Thạch Lam từng tả rất hay về cái đói trong truyện ngắn Nhà mẹ
Lê ở đây, chỉ qua vài nét miêu tả, ng-ời kể chuyện cũng đã khiến ng-ời đọc phải
th-ơng cảm cho cảnh đời khổ sở của họ
Với các nhà văn lãng mạn, ng-ời nông dân chỉ đáng th-ơng vì khốn khổ mà thôi Nhà bác Chính làm ruộng, nh-ng không đủ ăn Hơn nữa, nợ nần lại chồng chất Bác Chính thuê thêm đ-ợc của bà Chánh hai mẫu ruộng Song mỗi năm, bác phải nộp cho bà ta hai m-ơi bốn ph-ơng thóc Ng-ời kể chuyện nhận