Xưa nay, khi đề cập đến công việc biên soạn sách giáo khoa dùng trong khoa giảng quốc văn không ai không biết đến quyển Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm.
Trang 1PHẠM THANH HÙNG
TÍNH NHÂN VĂN QUA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN
ĐỒN LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Trang 2VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học:
HOÀNG NHƯ MAI
Giáo sư khoa học Ngữ Văn
Người nhận xét 1:
Người nhận xét 2:
LUẬN ÁN ĐƯỢC BẢO VỆ TẠI HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN ÁN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Vào hồi ………giờ, ngày ………… tháng ………… năm 1999
Có thể tìm hiểu luận án tại:
THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
THƯ VIỆN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM AN GIANG.
Trang 3
Đa tạ quý Thầy, Cô :
GS HOÀNG NHƯ MAI PGS PTS TRẦN HỮU TÁ PGS PTS PHÙNG QUÝ NHÂM PTS NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
PTS LÊ TIẾN DŨNG
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN DẪN LUẬN 1
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : 1
II PHẠM VỊ ĐỀ TÀI VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU : 3
III LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ : 4
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU : 11
V NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN : 12
VI CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN : 13
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG MỘT : TÍNH NHÂN VĂN - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SÁNG TÁC 14
I KHÁI NIỆM “TÍNH NHÂN VĂN” HAY MỘT KHUYNH HƯỚNG NHÌN NHẬN TỔNG HỢP MỌI GIÁ TRỊ CỦA VĂN HỌC : 14
II VÀI NÉT VỀ TÍNH NHÂN VĂN TRONG VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY : 16
III SƠ LƯỢC VỀ TÍNH NHÂN VĂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRƯỚC 1932 - ĐIỂM QUA MỘT SỐ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TIÊU BIỂU : 18
CHƯƠNG HAI :TÍNH NHÂN VĂN QUA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN 32
I SỰ RA ĐỜI CỦA TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN : 32
II QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN CỦA TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN : 34
III TÍNH NHÂN VĂN QUA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN - MỘT ĐÓNG GÓP MỚI CHO NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM MANG TÍNH NHÂN VĂN : 53
IV CÁC NGUỒN ẢNH HƯỞNG : 113
V NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ HẠN CHẾ : 118
PHẦN KẾT LUẬN 124
Trang 5PHẦN DẪN LUẬN
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
1 Hơn nửa thế kỷ trôi qua, kể từ khi tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
xuất hiện, đã có rất nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau, trong việc đánh giá sự đóng góp của tiểu thuyết lãng mạn nói riêng và trào lưu văn học lãng mạn nói chung trong tiến trình của văn học dân tộc Trên tinh thần đổi mới, việc thẩm định lại giá trị của văn học quá khứ với một
tư duy khoa học, một phương pháp nghiên cứu đúng đắn, một thái độ bình tâm tĩnh trí, một tình cảm trân trọng di sản văn học của tiền nhân, thiết nghĩ, đó là một việc làm hết sức khó khăn nhưng đầy sức hấp dẫn
và rất cần thiết
“Thời gian gần đây, lý luận và phê bình văn chương của ta thường nhắc đến hai chữ nhân văn - tính chất nhân văn, giá trị nhân văn,
chủ nghĩa nhân văn - xem đó là hằng tính của văn chương nghệ thuật, là
tiêu chí cho sự đổi mới trong lĩnh vực này Đó là điều xác đáng” (Trần
Thanh Đạm) (51.21)
Thật vậy, xét đến cùng, qua sự gạn lọc khắc nghiệt của thời gian, các giá trị bền vững nhất của văn học bao giờ cũng được xem xét trong
mối quan hệ với con người “Văn học là một phương tiện quan trọng
giúp con người trở thành con người vì nó mở ra những bí mật của con người, giúp con người hiểu thêm về chính mình, trở nên phong phú hơn
và một phần từ chỗ hiểu mình, từ sự phong phú của chính mình, con người hiểu thêm về thế giới, sự phong phú của thế giới” (Lê Ngọc Trà)
(28.57–58) Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã có nói thêm: “Văn học tiến
bộ hay không, lành mạnh hay không, tuỳ thuộc ở giá trị nhân bản của nó chứ không tùy thuộc ở chỗ nó là lãng mạn hay hiện thực Vả lại không
có ranh giới dứt khoát giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn”
(76b.31)
Theo dõi quá trình hình thành và phát triển của Tự lực văn đoàn
(1932 - 1945), người ta không thể không thấy vấn đề mà các nhà văn
Trang 6lãng mạn đặc biệt quan tâm trong các tác phẩm tiểu thuyết của mình là
vấn đề giải phóng phụ nữ Chính từ vấn đề cốt lõi này, việc chọn tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, đi sâu vào nghiên cứu hình tượng người phụ nữ
để thấy được sự đóng góp của các nhà văn lãng mạn cho trào lưu nhân
văn chủ nghĩa của văn học dân tộc là một việc làm rất có ý nghĩa mà
đến nay, vì nhiều lý do, vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức
2 Nghiên cứu “Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ
trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn”, luận án này nhằm hướng đến các
chung, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn nói riêng
- Trong xu thế của sự tác động mạnh mẽ vào những giá trị đạo
đức truyền thống đang diễn ra ở bối cảnh xã hội mở cửa hiện nay, vấn đề
hôn nhân, tình yêu là một trong những vấn đề thời sự được nhiều người
quan tâm, đặc biệt là tầng lớp thanh niên Qua việc nghiên cứu, luận án cũng muốn góp một tiếng nói định hướng cho những vấn đề trên
II PHẠM VI ĐỀ TÀI VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU:
1 Không nói đến chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa nhân đạo hay tư
tưởng nhân văn, tư tưởng nhân đạo mà chỉ đề cập đến “tính nhân văn” là
có lý do:
- Đây là một vấn đề lý thú cần tiếp tục nghiên cứu, bởi so với
phương Tây, cùng với “sự ra đời của ý thức hệ tư sản trong giai đoạn
đấu tranh chống phong kiến đã kéo theo nó một trào lưu có tính chất nhân đạo chủ nghĩa (hay nhân văn chủ nghĩa) không những trong văn học, nghệ thuật, mà trong nhiều ngành văn hóa, khoa học khác”
Trang 7(Nguyễn Lộc) (40a.72), thì ở Việt Nam ta “do chính sách độc quyền kinh
tế của đế quốc, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam phát triển khó khăn, yếu đuối Giai cấp này một mặt mâu thuẫn với đế quốc, phong kiến, mặt khác lại phụ thuộc vào chúng Địa vị kinh tế non yếu, mỏng manh ……”
(22.12) Chính vì thế, về mặt văn học, Tôn chỉ của Tự lực văn đoàn chủ yếu chỉ là “lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời; trọng tự do cá nhân; làm cho
người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa; đem phương pháp khoa học Thái Tây áp dụng vào văn chương An nam” Tất nhiên, không
thể lấy “thước đo” của văn học phương Tây để áp dụng vào văn học Việt
Nam, nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng việc “không phải chỉ đòi
giải phóng cá nhân khỏi sự ngu dốt, đòi hỏi trì trệ của mọi người được phát triển, mà còn trực tiếp đòi hỏi giải phóng cá nhân khỏi sự gò ép về phương diện chính trị và kinh tế” (66.214) thì ở trào lưu văn học lãng
mạn Việt Nam nói chung, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn nói riêng còn có
giới hạn Đừng quên rằng văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phán là hai trào lưu văn học công khai, hợp pháp trong xã hội thực dân nửa phong kiến giai đoạn 1930 – 1945
Hơn nữa, việc khẳng định trào lưu nhân văn chủ nghĩa trong văn
học giai đoạn 1930 – 1945 như là một sự kế thừa và phát triển truyền
thống nhân văn của văn học dân tộc phải được xem xét một cách toàn
diện, không chỉ xuất phát từ cơ sở ý thức hệ, từ thực tiễn văn học mà
nhiều khi cần phải nghiên cứu cả “cuộc đấu tranh của quần chúng bị áp
bức trong điều kiện giai tầng thứ ba của nó là tầng lớp tư sản đã vươn lên thành một giai cấp đối địch với xã hội phong kiến” (40a.73)
- Ở đây, trong phạm vi nghiên cứu đề tài chỉ đề cập đến những
biểu hiện của trào lưu nhân văn chủ nghĩa trong văn học giai đoạn 1930 – 1945 qua hình tượng người phụ nữ ở tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Người viết cũng không có tham vọng đề cập hết những tác phẩm tiểu thuyết lãng mạn của văn đoàn mà chỉ đi vào nghiên cứu những tác phẩm tiêu biểu nhất của những cây bút trụ cột nhất (Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam) và xem đó là sự thể hiện tập trung, sinh động của vấn đề được nêu ra
Trang 82 Tư liệu chính để nghiên cứu bao gồm phần lớn tác phẩm, sách
in và những bài báo viết về tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chủ yếu được
xuất bản từ thập niên 40 đến nay, nhất là từ 1986 trở lại đây, khi có sự đổi mới về tư duy, về nhận thức, quan điểm trong việc đánh giá, tiếp nhận di sản văn học của tiền nhân sao cho công bằng, khoa học hơn Ngoài ra, để có cái nhìn toàn diện trên cơ sở đối chiếu, so sánh, luận án còn khảo sát các tài liệu nghiên cứu, phê bình văn học trước 1975 ở miền Nam và một số ít tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài
III LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
- Trước 1945, hầu như chưa có những chuyên luận, những công
trình nghiên cứu về tác giả, tác phẩm của Tự lực văn đoàn Thảng hoặc
có đề cập đến trong những công trình nghiên cứu dài hơi viết về văn học
sử, về lý luận hay phê bình văn học (Dưới mắt tôi (1939) - Trương Chính; Việt Nam văn học sử yếu (1942) – Dương Quảng Hàm; Nhà văn
hiện đại (1941 – 1942) – Vũ Ngọc Phan; Văn học khái luận (1942) –
Đặng Thai Mai; Ba mươi năm văn học (1942) – Kiều Thanh Quế; Cuốn
sổ văn học (1944)–Lê Thanh …) thì do giới hạn bởi phạm vi nghiên cứu,
do hạn chế bởi phương pháp, quan điểm tiếp cận … người viết cũng không thể khảo sát, phân tích, lý giải hết sự phong phú, sinh động, phức tạp của những hiện tượng văn học (tác giả, tác phẩm) thuộc văn đoàn
Dưới mắt tôi (Trương Chính) là một quyển phê bình văn học
được nhiều người biết đến Dù có phần hoàn hảo hơn những người đi
trước (như Thiếu Sơn với Phê bình và cảo luận - 1933, Phan Khôi với
Chương Dân Thi Thoại - 1936 …) trong phương pháp phê bình khi “sự khen chê của ông đã có căn cứ, không đến nỗi vu vơ … nghĩa là những chỗ hay và chỗ dở ông đã chỉ ra rõ ràng, đã nói tại sao hay và tại sao dở
… Nhưng Trương Chính có cái tật hay phân tích tính cách các nhân vật nhiều quá luôn luôn ông bẻ các nhà tiểu thuyết sao lại như thế này và không như thế khác …" (77(2).20) Có thể thấy lời phê bình trên đây
của Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã nêu rõ lập trường của
Trương Chính trong phê bình văn học, lập trường của một ngòi bút theo trường phái phê bình chủ quan, cổ điển Ở quyển sách này, ông đã chọn phê bình tất cả 28 tác phẩm của 12 nhà văn, hầu hết là những cây bút
Trang 9tiểu thuyết Về Tự lực văn đoàn, những tác giả được đề cập đến là Nhất Linh với Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Tối tăm; Khái Hưng với Hồn bướm mơ
tiên, Nửa chừng xuân,Trống mái, Gia đình; đồng tác giả Nhất Linh và
Khái Hưng với Gánh hàng hoa, Đời mưa gió Riêng Thạch Lam với tập truyện ngắn Gió đầu mùa Ngoài ra, còn có những tác giả khác như
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương, Trương Tửu, Lan Khai, Nguyễn Khắc Mẫn, Nguyên Hồng, Từ Ngọc Mỗi nhà văn ông đi vào phê bình từ một đến nhiều nhất là năm tác phẩm
Mặc dù Trương Chính đã sử dụng phương pháp “nghị luận theo
sở thích của mình” (77(2).21) đối với những tác phẩm được đề cập đến,
nhưng “khó mà biết được ý kiến rõ rệt của ông về một nhà văn sau khi
đọc những bài phê bình của ông về nhà văn ấy” (77(2).25) Tuy vậy,
“Trương Chính cũng là người mở đầu trong phong trào phê bình của
những năm 1941 - 1942 - 1943 “Dưới mắt tôi”, Trương Chính đã gây được ở độc giả một lòng ham muốn đọc văn phê bình” (34.183)
Xưa nay, khi đề cập đến công việc biên soạn sách giáo khoa dùng
trong khoa giảng quốc văn không ai không biết đến quyển Việt Nam văn
học sử yếu của Dương Quảng Hàm Trong phần “Biên tập đại ý”, chính
tác giả đã “mong rằng quyển sách này sẽ làm một bức bản đồ giản ước
theo đó các bạn thanh niên biết được phương hướng và đường lối chính
để đi vào khu vườn văn học của nước ta, ngõ hầu một ngày kia tìm thấy những hoa lạ, quả quý hiện nay còn ẩn khuất trong đám cành lá rậm rạp” (11.VI) Vì là sách giản ước dùng làm công cụ học tập, phải đề cập
đến nhiều vấn đề khác nhau có liên quan đến việc tìm hiểu toàn bộ nền
văn học nước nhà, nên ở chương thứ bảy: “Các văn gia hiện đại Các
khuynh hướng phổ thông của tư tưởng phái Tự lực văn đoàn”, dành cho
năm thứ ba ban Trung học Việt Nam, Dương Quảng Hàm chỉ nói đến Tự
lực văn đoàn một cách khái quát trong chưa đầy bốn trang trên tổng số
500 trang của cả quyển Tác giả dường như chưa thể đưa ra những lời nhận xét, đánh giá cụ thể ngoài việc lượt kể hết sức vắn tắt nội dung
những tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu như Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Nửa
chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên Một vài ý kiến có tính chất khái quát
khi đề cập đến “Công việc của Tự lực văn đoàn” chưa thể đáp ứng được
ý muốn tìm hiểu của độc giả về Tự lực văn đoàn
Trang 10Vũ Ngọc Phan nổi tiếng với bộ sách nghiên cứu, phê bình văn học
đồ sộ Nhà văn hiện đại (1941 - 1942) đã khẳng định “một chỗ đứng
riêng, và có sự đóng góp không thể thay thế” (77(2).557) Dù đã trải qua
hơn nửa thế kỷ, bộ sách “vẫn có ích cho bất cứ ai muốn tìm hiểu nền văn
học chữ quốc ngữ những năm trước Cách mạng tháng Tám” (77(2).557)
Bằng một tinh thần lao động sáng tạo, cần cù, bền bỉ, một tác phong nghiên cứu khoa học nghiêm cẩn, vô tư, Vũ Ngọc Phan phải tốn rất nhiều công sức mới có thể chiếm lĩnh hơn 60 năm văn học và đã giới thiệu được 79 nhà văn tham gia sáng tác bằng chữ quốc ngữ từ cuối thế
kỷ XIX như Trương Vĩnh Ký, đến những cây bút trẻ nổi tiếng của những năm 40 thế kỷ XX
Viết về Tự lực văn đoàn, căn cứ vào sự sắp xếp theo loại văn đối
với các nhà văn lớp sau, ông đã xếp Khái Hưng vào thiên các tiểu thuyết gia phong tục, Nhất Linh và Hoàng Đạo là những tiểu thuyết gia luận đề, Thạch Lam thuộc về các tiểu thuyết gia xã hội Đi vào lĩnh vực phê bình tiểu thuyết, ở mỗi tác giả, Vũ Ngọc Phan đề cập đến những tác phẩm tiêu biểu mà người đọc đương thời biết đến Chẳng hạn, viết về Khái
Hưng, ông nói đến Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Trống mái,
Thừa tự, Hạnh Với Nhất Linh, ông viết về Nho phong, Gánh hàng hoa
Hoàng Đạo với Con đường sáng và Thạch Lam với Ngày mới Nhìn chung, khi đi sâu vào phân tích những tác phẩm cụ thể “ông tỏ ra tinh tế,
sắc sảo, khen chê có căn cứ, có lý có tình Tính chính xác của tư liệu được đảm bảo ở mức độ cao” (77(2).558) Mặc dù, do nhiều lý do cả
khách quan và chủ quan, người đọc vẫn thấy được phê bình của ông
“còn thiên về cảm thụ nghệ thuật, thiếu sự thuyết phục của một tư duy logic sâu sắc” (77(2).558)
Với Văn học khái luận của Đặng Thai Mai, “lần đầu tiên trong
lịch sử văn học Việt Nam, những vấn đề cơ bản của lý luận văn học đã được trình bày một cách hệ thống” (74.171), mặc dù tác giả không chỉ có
ý định giới thiệu với người đọc những khái niệm lý luận kinh viện Tiếp thụ và vận dụng quan điểm marxisme vào văn học, Đặng Thai Mai đã tiếp cận được nhiều vấn đề của lý luận văn học và trình bày nó trong sự kết hợp hòa quyện giữa tinh thần lý luận với bút pháp phê bình, giữa nguồn tri thức của phương Đông cổ truyền với tri thức của phương Tây
Trang 11hiện đại Người đọc có thể dễ dàng có được những khoái cảm thẩm mỹ khi đọc đến những đoạn văn mà ngòi bút của tác giả tỏ rõ cảm hứng phê bình Chẳng hạn, khi tác giả thừa nhận tình yêu là một trong những chủ
đề vĩnh cửu của văn học, nhưng mỗi thời đại lại đem đến cho chúng một sắc thái mới, và nhà văn đã đi vào so sánh tình yêu trong các tác phẩm từ
Truyện Kiều, Tố Tâm đến Đoạn tuyệt
Vì là một công trình lý luận văn học hơn là một thành tựu về phê bình văn học nên người đọc chỉ có thể tìm thấy rải rác đây đó những nhận định thú vị và bổ ích cho việc tìm hiểu lịch sử văn học nước nhà Việc tìm hiểu tác giả, tác phẩm với tư cách là một hiện tượng văn học sẽ không được thỏa mãn
Ba mươi năm văn học của Kiều Thanh Quế và Cuốn sổ văn học
của Lê Thanh ra đời xuýt xoát nhau hai năm đều nhắm tới một công việc là phác họa ra một bảng lược đồ văn học Ở quyển sách ra đời trước của mình, Kiều Thanh Quế đã đem đến cho người đọc sự tóm tắt mọi diễn biến về lịch sử văn học trong suốt giai đoạn ba mươi năm của tiền
bán thế kỷ hai mươi Trong khi đó, trọng tâm của Cuốn sổ văn học là
công việc trước mắt hạn chế trong thời gian năm 1943, dù tác giả đã có
mở rộng về phía trước, có khi khảo sát cả đến năm 1939 và hơn nữa
Nhìn chung, cả hai quyển sách trên đều là những công trình văn
học sử Việc tìm hiểu về Tự lực văn đoàn nói riêng, hay những hiện
tượng văn học khác nói chung, khó có thể tìm thấy được những lý giải, những nhận xét, phê bình tương đối đầy đủ và có hệ thống
Sự khát khao của độc giả vẫn còn đó
- Sau 1945, trong suốt một thời gian dài kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ, cứu nước, do hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, do bản thân dòng văn học lãng mạn nói chung và
những sáng tác của những cây bút trong Tự lực văn đoàn nói riêng có
những yếu tố tiêu cực, và cũng do nhận thức còn phiến diện cho sáng tác
của văn học lãng mạn là vô bổ, độc hại, nên tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
đã bị cấm, không được phổ biến Các bộ lịch sử văn học (như Sơ thảo
lịch sử văn học Việt Nam 1930 – 1945 do Viện Văn học chủ trì biên
Trang 12soạn, Lịch sử văn học Việt Nam 1930–1945, Văn học Việt Nam 1930–
1945 của nhiều tác giả …) dù có dành hẳn một chương để viết về tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn, nhưng tất cả đều với một cách nhìn nhận gần như giống nhau “đề cao chắc chắn là không đúng Nhưng phủ định sạch
trơn hẳn cũng khó được đồng tình” (22.88), “… sự đóng góp của Tự lực văn đoàn đã không tránh khỏi bấp bênh, có phần sa vào hình thức chủ nghĩa, cái sai nhiều hơn cái đúng, nhất là càng về sau, cái sai lấn át cái đúng”(22.89) Đó là chưa kể đến cách nhận xét, đánh giá cứng rắn hơn
trong các sách giáo khoa viết cho học sinh lớp 12/PTTH kể từ 1987 trở
về trước: “Văn học lãng mạn Việt Nam căn bản là bạc nhược, suy đồi” hay “Nội dung bạc nhược, suy đồi và có tính chất phản động” ,“học
sinh thanh niên ta cũng cần phải có ý thức cảnh giác với loại sách có nhiều nọc độc đó”
Chính vì lẽ đó, trong suốt một thời gian dài từ trước 1975, ở miền
Bắc, văn chương lãng mạn nói chung, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn nói
riêng đã bị loại ra khỏi đời sống văn học
Ở miền Nam trong vùng địch tạm chiếm lúc bấy giờ, tình hình nghiên cứu vẫn tiếp tục với các công trình của Thanh Lãng, Lê Hữu Mục, Nguyễn Văn Xung, Doãn Quốc Sỹ, Thế Phong, Nguyễn Văn Trung, Tràng Thiên, Phạm Việt Tuyền, Thế Trung, Dương Nghiễm Mậu
…(Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Luận đề về Nhất Linh, Bình giảng về
Tự lực văn đoàn, Văn học và tiểu thuyết, Lược khảo văn học, Tiểu thuyết hiện đại, Phương pháp nghị luận phân tích và phê bình văn chương …)
Thế nhưng, tất cả vẫn chưa có được một sự nghiên cứu thật toàn diện và
chuyên sâu, phác họa đầy đủ diện mạo của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Đó là chưa kể đến quan điểm, phương pháp nghiên cứu, đánh giá đã thực
sự phù hợp hay chưa
Sau 1975, dù đất nước đã liền một dãy, nhưng khoảng mười năm
tiếp theo, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn hầu như vẫn chưa cất lên được
tiếng nói khách quan, khoa học từ các trang sách, báo nghiên cứu Ngay
cả đến những công trình nghiên cứu dày công cũng chưa thoát khỏi cái
nhìn “tiểu thuyết Tự lực văn đoàn có nhiều độc tố và nguy hiểm là những
Trang 13độc tố đó lại được bao bọc bởi một hình thức nghệ thuật khá quyến rũ và hấp dẫn”(61.96–97)
Chỉ từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) khi có chủ
trương đổi mới tư duy và dân chủ hóa trong văn học nghệ thuật, vấn đề
Tự lực văn đoàn mới được đặt lại một cách thỏa đáng hơn, cố gắng
không để “cái quan luận định”(từ của người xưa) hẹp hòi, phiến diện
hay một tình cảm nào đó kích thích, chi phối việc nghiên cứu, đánh giá
Đã có một số sách, bài viết từ phía các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình
ở các Viện, Trường và các cơ quan văn nghệ báo chí như: Hoàng Như Mai, Lê Trí Viễn, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Đỗ Đức Hiểu, Trương Chính, Trần Hữu Tá, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Trác, Đái Xuân Ninh, Lê Đình Kỵ, Huy Cận, Lại Nguyên Ân, Vu Gia… đã đặt vấn đề
cần phải ghi nhận những đóng góp của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn về
nội dung tư tưởng cũng như về hình thức nghệ thuật Đã đến lúc không
thể giữ mãi quan điểm “khó lòng khen khi họ là kẻ thù, khó lòng khách
quan, không khéo lại mất lập trường Tốt nhất là không dành cho người nào một số trang riêng biệt Cứ gói cả vào một gói Cái hay ở chỗ này, ở người này, sẽ bị cái dở ở chỗ kia, ở người kia hạn chế Hơn nữa luôn luôn nhắc đến tư tưởng tư sản, thế giới quan duy tâm của họ So sánh họ với những người cộng sản, càng dễ thấy họ lạc hậu, phản động Không còn chối cãi đằng nào được Ngay về những đóng góp của họ, trên phương diện hình thức nghệ thuật cũng có thể viết một vài câu khen, nhưng liền đó thì nhận xét luôn: nghệ thuật của họ chỉ hợp với khẩu vị của người trí thức tiểu tư sản thành thị thời bấy giờ” (73a.9) Đó là điều
đáng mừng Song, đây đó trong một vài công trình nghiên cứu ít nhiều vẫn còn bộc lộ sự dè dặt, thậm chí chưa thật sự khách quan, khoa học trong việc phân tích và đánh giá Chẳng hạn, hai Giáo sư Nguyễn Trác
và Đái Xuân Ninh trong cuốn “Về Tự lực văn đoàn” khi viết về Nhất Linh (Chương hai), đã có đoạn: “Bằng những hành động xấu xa ấy,
Nguyễn Tường Tam đã giết chết Nhất Linh, tác giả những Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Tam đã lạnh lùng đoạn tuyệt với những bạn đồng nghiệp của mình, những Thế Lữ, Xuân Diệu, Tú Mỡ, những người đã tỉnh giấc thoát khỏi văn đoàn của Tam đi theo nhân dân, theo kháng chiến, theo nghĩa
vụ, theo lương tâm
Trang 14Sau khi chúng ta chiến thắng ở Điện Biên Phủ và trở lại thủ đô thì Nguyễn Tường Tam lại bỏ nhân dân một lần nữa Một cây thương gẫy, một con ngựa què, Tam lủi thủi đi về phương Nam, theo chân những kẻ nuôi chí phá hoại hòa bình, ngăn cản thống nhất”(44.98–99) Thiết nghĩ,
không cần phải biện giải thêm những nhận xét, đánh giá như thế, khi mà người viết đã hoàn toàn dùng tiêu chí chính trị để xem xét sự nghiệp văn chương, mặc dù không thể phủ nhận sự tác động qua lại giữa cuộc đời và
sự nghiệp của người nghệ sĩ
Tóm lại, tính đến nay, chúng ta có thể thấy rằng: việc nghiên cứu
về Tự lực văn đoàn chưa thật đáp ứng lòng mong đợi từ phía độc giả đối
với giới nghiên cứu, phê bình văn học nước ta Người đọc đang khát khao có được những tiếng nói tương đối khách quan,công bằng, khoa
học và toàn diện về Tự lực văn đoàn- một hiện tượng văn học đã tạo nên
những tác động mạnh mẽ và lâu dài đối với sự phát triển của lịch sử văn học dân tộc
IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Xuất phát từ yêu cầu của bản thân đối tượng nghiên cứu và theo mục đích của luận án, chúng tôi đã thực hiện luận án theo các phương
pháp sau: phương pháp nghiên cứu lịch sử – phát sinh (nhằm để xác định quá trình phát triển của Tự lực văn đoàn và những công trình nghiên cứu về Tự lực văn đoàn); phương pháp nghiên cứu lịch sử – chức
năng (nhằm tìm hiểu sự tiếp nhận các tác phẩm tiểu thuyết Tự lực văn đoàn trong sự biến động của bối cảnh văn hóa – xã hội); phương pháp nghiên cứu hệ thống – cấu trúc (chủ yếu nhằm nghiên cứu và phân tích
các quan điểm, phương pháp nghiên cứu Tự lực văn đoàn; nghiên cứu,
phân tích hệ thống các nhân vật, sự kiện, tình tiết … tạo nên diện mạo
riêng của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, đặc biệt ở hình tượng người phụ nữ); phương pháp so sánh (dùng để đối chiếu các tác giả và các tác phẩm tiêu biểu của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn có đề cập đến hình tượng
người phụ nữ để tìm ra những nét chung và những nét riêng đặc thù; đối
chiếu các cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau về Tự lực văn đoàn; đối
chiếu với văn học quá khứ và cùng thời để thấy được những đóng góp
của Tự lực văn đoàn)
Trang 15Ngoài những phương pháp cơ bản trên, luận án cũng đã tiếp nhận những cách nhìn và quan điểm đúng đắn trong những thành tựu nghiên
cứu về Tự lực văn đoàn của các thế hệ đi trước, đặc biệt là những bài
viết, sách in ở những năm gần đây Từ đó, định hướng phương pháp nghiên cứu sao cho phù hợp với nội dung luận án đặt ra
V NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN:
- Cố gắng nghiên cứu một cách có hệ thống những biểu hiện của
tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
- Nhìn lại và đánh giá một cách thấu tình đạt lý những đóng góp
cùng những hạn chế ở những tác giả chủ yếu của Tự lực văn đoàn trong việc thể hiện hình tượng người phụ nữ, đặt trong tiến trình phát triển của
lịch sử văn học dân tộc
VI.CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN:
Ngoài phần Dẫn luận và phần Kết luận, phần Nội dung gồm hai
chương như sau:
CHƯƠNG MỘT:
TÍNH NHÂN VĂN – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SÁNG TÁC
CHƯƠNG HAI:
TÍNH NHÂN VĂN QUA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG
TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
Trang 16Trong Phần Dẫn luận, chúng tôi đã có dịp đề cập đến thuật ngữ
“nhân văn” và rất đồng tình với quan điểm của GS Trần Thanh Đạm khi xem tính chất nhân văn, giá trị nhân văn, chủ nghĩa nhân văn “là hằng
tính của văn chương nghệ thuật, là tiêu chí cho sự đổi mới trong lĩnh vực này”(tức lĩnh vực lý luận, phê bình văn chương- PTH.) GS Nguyễn
Huệ Chi trong một bài viết của mình cũng đã từng có ý kiến: “…nếu đẩy
tới một cấp độ cao hơn, cấp độ tính nhân bản của văn học, thì mọi sự phân biệt ở đề tài dường như biến mất Sẽ không còn chỗ cho thứ lập luận bám vào những lợi ích gần gũi trước mắt để biện minh rằng loại đề tài này sáng giá hơn loại đề tài nọ, vì cái đích vươn tới xa nhất của văn học giờ đây là con người với vẻ đẹp trần tục của nó, với niềm tin,khát vọng,cái cao quý cũng như cái tầm thường hèn mọn của con người Văn chương yêu nước hay văn chương đời thường đều không thể lảng tránh mục đích cao sâu này”(39b.9) Và như thế “Một nền văn học đậm nét nhân bản sẽ nổi bật lên, xóa đi được những sự ngăn cách giả tạo, những mặc cảm không cần thiết giữa những nhà văn “hạng nhất” “hạng hai”,
“chiếu nhất”, “chiếu nhì”vân vân…Diện mạo văn học dân tộc cũng sẽ hiện ra phong phú, đa dạng và sinh sắc hơn nhiều Và người ta không còn đối xử với văn học, một môi trường đặc thù,theo cách đối xử của những con người phải đối mặt với nhau trong chiến trận,hay trong dòng thác của cách mạng”(39b.9) Ở luận án này, khái niệm “tính nhân văn”
được sử dụng nhằm chỉ đến cái giá trị tinh thần bền vững của mọi sáng
tạo nghệ thuật đã đạt đến trình độ của Cái Đẹp Nghĩa của chữ “văn” là
vẻ đẹp Hay nói khác đi, theo nghĩa rộng, "tất cả những cố gắng, tư
Trang 17tưởng và trào lưu lấy con người tiến lên tự do làm trung tâm, - tin vào sức sáng tạo vô biên của con người, yêu con người và cuộc sống trần gian" đều có thể đề cập đến khái niệm "nhân văn" hay " nhân đạo"
(23.18) Và như thế, tính nhân văn theo đó cũng được xem như một
khuynh hướng nhìn nhận tổng hợp mọi giá trị của văn học chân chính hướng đến con người Chính M.Gorki đã có lý khi nói rằng: “Văn học là một nghệ thuật nhân văn hơn cả, người ta có thể nói những nhà văn đều
là những nhà nhân văn do nghề nghiệp của mình, những người sản sinh
ra chủ nghĩa nhân văn”(24.61)
Sở dĩ, chúng tôi không đề cập đến cụm từ “ chủ nghĩa nhân văn” hay “chủ nghĩa nhân đạo”, “tư tưởng nhân văn” hay “tư tưởng nhân
đạo” ở đề tài của luận án này là vì trong phạm vi nghiên cứu của mình,
chúng tôi chưa có điều kiện để vươn tới quan niệm triết học, quan niệm
tư tưởng của nội hàm vấn đề
Chúng tôi nghĩ rằng những khái niệm như “nhân bản”, “nhân
đạo”, “nhân văn” tuy có liên quan mật thiết với nhau, song không phải
là một, không nên xem là hoàn toàn đồng nghĩa Có thể thấy rằng “nếu
chủ nghĩa nhân bản thiên về sự thấu hiểu, thông cảm phần thể xác của con người thì chủ nghĩa nhân đạo chú tâm hơn phần đạo lý của nó…
Chủ nghĩa nhân bản xác lập cái chân, chủ nghĩa nhân đạo khuyến khích cái thiện Nhưng con người xứng đáng với vị thể và danh hiệu loài người không chỉ sống thực, sống tốt mà còn sống đẹp; cái đẹp chân
chính bao gồm cả cái thực và cái tốt bên trong Đây là lĩnh vực của chủ nghĩa nhân văn, giang sơn của văn hóa, văn chương, nghệ thuật…Chủ nghĩa nhân văn cũng là chủ nghĩa nhân bản, chủ nghĩa nhân đạo, là tri thức và đạo đức về con người trong cái biểu hiện về văn hóa, nghệ thuật,
là hình thái tổng hợp và sáng tạo của cả ba nhân tố”(tức chân, thiện và
mỹ trong sự hài hòa tuyệt diệu - PTH.) (Trần Thanh Đạm) (51.23–24)
Có lẽ vì thế mà lĩnh vực lý luận, phê bình văn học trong những năm gần
đây thường hay đề cập đến thuật ngữ “nhân văn”
II VÀI NÉT VỀ TÍNH NHÂN VĂN TRONG VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY:
Trang 18Tính nhân văn được xem như một giá trị tinh thần bền vững đã
từng tồn tại trong văn hóa văn học dân gian các dân tộc thời cổ Nhưng
phải tới thời đại Phục hưng ở phương Tây (thế kỉ XIV-XVI) khi chủ
nghĩa nhân văn xuất hiện với tư cách là một hệ thống quan điểm triết
học, đạo đức, chính trị-xã hội thì tính nhân văn trong văn hóa văn học mới đạt đến “một cuộc đảo lộn tiến bộ nhất mà từ xưa đến nay nhân loại
chưa từng thấy” (F Engels)
Giai cấp tiến bộ nhất ở thời kỳ Phục hưng chính là giai cấp tư sản Ngay từ khi mới ra đời, với những yêu cầu phát triển về kinh tế- xã hội,
nó đã vấp phải một trở ngại lớn lao là chế độ phong kiến và Giáo hội La
Mã Hệ tư tưởng Thiên Chúa giáo thống trị cùng với cơ chế chuyên chính của nó là chính quyền phong kiến, Giáo hội, toà án tôn giáo,thần học, chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa khổ hạnh, chủ nghĩa ngu dân……đã từng khẳng định con người chỉ có được niềm hạnh phúc thuần tuý tinh thần ở thiên đường, chỉ đạt tới cõi vĩnh hằng cao cả một khi sống phải nhẫn nhục, chịu đựng, sám hối chuộc tội, cầu nguyện Chân lý và ngọn nguồn của mọi tri thức và sự sáng tạo là ở
Chúa Trời và Kinh Thánh Chủ nghĩa nhân văn ở phương Tây ra đời là
một sự phản ứng chống lại hệ tư tưởng phản động đó, là một trong
những biểu hiện chủ yếu của “cuộc đảo lộn tiến bộ nhất” trong lĩnh vực
hệ tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh quan Ra đời ở Ý (thế kỉ XIV-XV),
chủ nghĩa nhân văn đã nhanh chóng tỏa ảnh hưởng sang các nước Châu
Âu khác Ở Đức, Pháp, Anh… trào lưu nhân văn chủ nghĩa diễn ra
đồng thời với trào lưu cải cách tôn giáo
Ở lĩnh vực văn hóa văn học, biểu hiện đầu tiên và mạnh mẽ là việc các nhà nhân văn (thường để chỉ những người khởi xướng trào lưu
này) như các nhà thơ nhà văn người Italia: F Petrarca (1304 - 1374),
G.Boccaccio (1313 - 1375) đã chủ trương giải phóng văn học nghệ thuật
nói riêng và văn hóa nói chung ra khỏi sự bảo trợ của nhà thờ Cơ Đốc giáo và giải phóng cá nhân con người Họ đã đi sâu vào về việc khôi phục, nghiên cứu, dịch thuật, truyền bá những thành tựu rực rỡ giàu sức sống và vẻ đẹp hồn nhiên của văn hóa cổ đại Hy Lạp - La Mã đã từng bị
quên lãng trong suốt thời Trung cổ, nhằm khôi phục những giá trị tư
tưởng - nhân văn của chúng Họ hướng văn học nghệ thuật vào sự sáng
Trang 19tạo và ca ngợi cái đẹp trần thế lành mạnh, tự nhiên, đề cao những khát
vọng cao đẹp và niềm tin vào sức mạnh toàn năng của con người: “ Con
người là người thợ rèn rèn ra hạnh phúc của mình” (Pic de la Mirandole (1463-1494)); “Con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài”( W Shakespeare (1564-1616)) … Tiếp tục những thành
tựu về khoa học tự nhiên và triết học tự nhiên của thời đại, bằng hình
tượng nghệ thuật các nhà văn thuộc trào lưu nhân văn chủ nghĩa ở
phương Tây cũng đã chỉ ra rằng chính chiến tranh phong kiến, chủ nghĩa khổ hạnh tôn giáo, chủ nghĩa cấm dục, chủ nghĩa giáo điều, kinh viện, ngu dân, thói đàn áp tự do tư tưởng … là trái với tự nhiên, là nguồn gốc của mọi bất hạnh, xấu xa, tội lỗi trên thế gian và đã gây ra những rối loạn trong đời sống …
Có thể nói sự ra đời của chủ nghĩa nhân văn thời đại Phục hưng
phương Tây là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình giải phóng tinh thần và tự ý thức của nhân loại Cùng với cuộc đấu tranh giải phóng con người về các phương diện chính trị - xã hội và các phương diện khác, văn học nghệ thuật nói riêng và văn hóa nhân loại nói chung, từ thời đại Phục hưng, đã bước sang một giai đoạn phát triển mới: lý tưởng
nhân văn trở thành lý tưởng thẩm mỹ định hướng cho những tìm tòi,
khám phá, sáng tạo về nghệ thuật, đồng thời qui định bản chất nền văn học nghệ thuật của các dân tộc trên thế giới
III SƠ LƯỢC VỀ TÍNH NHÂN VĂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRƯỚC 1932 - ĐIỂM QUA MỘT SỐ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TIÊU BIỂU:
Tính nhân văn với tư cách là một hằng tính của nghệ thuật đã
được biểu hiện một cách sinh động ở lĩnh vực văn học Ngay từ thời cổ đại ở phương Đông cũng như phương Tây, con người đã có ý thức và nguyện vọng chăm lo để phát huy cao nhất mọi tiềm năng về phẩm chất
và năng lực của con người, hướng tới lý tưởng con người phát triển hài
hòa và toàn diện Đó cũng là lý tưởng về Cái Đẹp của con người - lý
tưởng nhân văn Lý tưởng ấy không chỉ tồn tại trong cuộc sống loài
người như là một mục tiêu hướng tới mà còn trở thành mục tiêu cho sự hoàn thiện trong sáng tạo văn học nghệ thuật Tác phẩm thể hiện một
Trang 20cách sâu sắc lý tưởng nhân văn là những tác phẩm đồng thời cũng mang
tính nhân văn
Với quan niệm như thế, chúng tôi cho rằng lịch sử phát triển của
văn học mọi dân tộc là lịch sử phát triển của lý tưởng nhân văn, của tính
nhân văn - với tư cách là những phạm trù giá trị chung nhất, là sự tổng
hòa của cái chân, thiện và mỹ Dĩ nhiên, với cách nhìn nhận đó thì
không phải đợi sự ra đời của giai cấp tư sản với cơ sở ý thức hệ của nó là
ý thức hệ tư sản đang trưởng thành, đấu tranh chống lại ý thức hệ phong
kiến đang thống trị thì văn học các dân tộc mới hướng đến lý tưởng nhân
văn, mới mang tính nhân văn
1 Nhìn lại kho tàng văn học dân gian và văn học viết dân tộc từ
nửa đầu thế kỷ XVIII trở về trước - nghĩa là trước khi nền văn học dân
tộc xuất hiện trào lưu nhân văn chủ nghĩa - chúng ta thấy có một sự biểu hiện rất sinh động của một lý tưởng nhân văn Việt Nam, của tính nhân
văn Việt Nam trong văn học thời kỳ trung đại
Khi hai người con gái và con trai trao đổi với nhau về công việc lao động mà cũng có thể là trao đổi với nhau về tình yêu bằng những câu hát dân gian đẹp như thế này:
- Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng, Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
- Đan sàng thiếp cũng xin vâng, Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng?
thì không chỉ có ở đây sự chân thực (CHÂN), sự tế nhị, cao thượng (THIỆN), mà còn có cả cái đẹp của niềm vui và ước vọng trong lao động, trong tình yêu (MỸ) Trong truyện cổ dân gian cũng không thiếu những ví dụ Chẳng hạn hình tượng cô Tấm, Sọ Dừa … Với văn học viết cũng vậy Trong Truyền kỳ mạn lục, chúng ta dễ dàng đọc được những
câu chuyện đề cập đến quyền sống của con người, tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, biểu dương những tấm gương tiết
nghĩa, nhân hậu, thủy chung … (Chuyện người con gái Nam Xương,
Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu,…), trừng phạt bọn người gian
Trang 21ác, xiểm nịnh (Chuyện Lý tướng quân, Chuyện nàng Tuý Tiêu …) theo lý
tưởng CHÂN - THIỆN - MỸ
2.Tính nhân văn càng được biểu hiện rõ nét hơn trong văn học
viết Việt Nam giai đoạn từ nửa sau thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Ra đời trong hoàn cảnh xã hội phong kiến khủng hoảng trầm trọng, ý thức hệ phong kiến đã suy tàn, ý thức hệ tư sản chưa nẩy nở, tư tưởng thị dân hãy còn yếu ớt, trong khi nông dân lại chưa có được một ý
thức hệ độc lập, trào lưu nhân văn chủ nghĩa đã đem đến cho văn học nước ta sự nẩy nở của tính nhân văn mang sắc thái đặc thù Vì sao như vậy? Đó là vì khi nói đến trào lưu nhân văn chủ nghĩa thời Phục hưng,
như đã trình bày, người ta nghĩ ngay đến sự phát triển của các đô thị, đến nền kinh tế hàng hóa, đến sự trưởng thành của tầng lớp thị dân - tiền thân của giai cấp tư sản - và cơ sở ý thức hệ của nó là ý thức hệ tư sản đang trưởng thành, đấu tranh chống lại ý thức hệ phong kiến đang thống trị Bối cảnh lịch sử - xã hội ở nước ta chưa có được đầy đủ những tiền đề đã nêu Nhưng dù sao ở các đô thị lớn cũng đã có một tầng lớp thị dân, và điều đặc biệt đáng chú ý là chưa bao giờ như ở giai đoạn này, phong trào đấu tranh chống giai cấp phong kiến thống trị của quần chúng nhân dân
bị áp bức phát triển một cách hết sức rầm rộ như thế, tiêu biểu là các phong trào khởi nghĩa của nông dân mà đỉnh cao là phong trào nông dân Tây Sơn Sự phát triển của văn học Việt Nam ở giai đoạn này cùng với
sự xuất hiện của trào lưu nhân văn chủ nghĩa, thoạt nhìn, như có một sự
phát triển không tương ứng khi mà điều kiện xã hội chưa có được một ý thức hệ tiên tiến làm nền tảng như ý thức hệ tư sản.Thế nhưng, sự phát triển đó lại rất tương ứng với tình hình cuộc đấu tranh quyết liệt Đúng
như ý kiến nhận xét của Mác: “Đối với nghệ thuật có những thời kỳ phồn
vinh nhất định, tuyệt nhiên không có quan hệ gì với sự phát triển chung của xã hội cả, và do đó cũng tuyệt nhiên không có quan hệ gì với cơ sở vật chất, với cái cốt cách của xã hội, nếu có thể nói như thế được”(40a.17)
Tìm hiểu các tác phẩm tiêu biểu của giai đoàn này, đặc biệt là các sáng tác trong bộ phận văn học chữ Nôm, có thể thấy rằng tất cả đều tập
Trang 22trung vào vấn đề con người, nhận thức con người, đề cao con người, đấu tranh với mọi thế lực đen tối, phản động của xã hội phong kiến để khẳng định những giá trị chân chính của con người Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phan Huy Ích (?), Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, Cao Bá
Quát… bằng tài năng nghệ thuật của mình đã trở thành “những người
sản sinh ra chủ nghĩa nhân văn” (M Gorki) (24.61) trên cơ sở hấp thụ
truyền thống nhân văn của dân tộc Những hình tượng nhân vật chính diện, nhất là những hình tượng nhân vật phụ nữ, đã trở thành những biểu hiện sinh động cho lý tưởng nhân văn của dân tộc ta thời đại bấy giờ
Tập trung vào con người, các tác giả tiêu biểu đã đi sâu nêu bật
vấn đề giải phóng tình cảm của con người và những ràng buộc phản
nhân văn của xã hội phong kiến Tác giả Chinh phụ ngâm đã đứng về
phía người chinh phụ tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa làm tan vỡ
hạnh phúc, tình yêu và tuổi trẻ của họ Nguyễn Gia Thiều qua Cung oán
ngâm khúc không chỉ nói lên tiếng nói phẫn nộ, tố cáo của những người
cung nữ đã phải sống cuộc đời héo hắt, tàn lụi, phí hoài tuổi xuân và nhan sắc cho những cuộc mua vui nơi cung vua phủ chúa mà còn là để thông qua đó, tỏ bày nỗi lòng sâu kín của những người bị rẻ rúng như
mình Hồ Xuân Hương, với cá tính và bản lĩnh thơ văn độc đáo, nữ sĩ đã
làm một cuộc cách mạng tố cáo chế độ đa thê và toàn bộ nền đạo đức
phong kiến đối với phụ nữ Bằng tác phẩm Truyện Kiều, thông qua cuộc đời của một người phụ nữ tài sắc, Nguyễn Du đã đặt ra một vấn đề hết
sức bao quát là quyền sống của con người trong xã hội phong kiến
Phạm Thái xoay quanh chủ đề tình yêu của bản thân nhà thơ, cũng là
nhằm nói lên khát vọng được tự do yêu đương, đừng để phải rơi vào hoàn cảnh bi kịch như ông … Trong các truyện Nôm bình dân, vấn đề tình yêu tự do của con người còn được đặt ra một cách táo bạo hơn Ở
Tống Trân - Cúc Hoa, Phương Hoa, Phạm Tải - Ngọc Hoa … người ta
thấy xuất hiện hàng loạt những người phụ nữ chủ động quyết định tình
yêu của họ khiến cho những thế lực đại diện cho đạo đức phong kiến, cuối cùng, cũng phải chấp nhận Những hành động như thế của họ, hiển nhiên là sự phản ánh thái độ phản kháng quyết liệt đối với chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến
Thử điểm lại một số hình tượng nhân vật phụ nữ tiêu biểu:
Trang 232.1.Chinh phụ ngâm , như tên gọi của tác phẩm, là khúc ngâm
của người chinh phụ, là lời than thở của người phụ nữ có chồng ra chiến
trường Vấn đề trung tâm đặt ra trong toàn bộ khúc ngâm suốt từ đầu đến cuối là mâu thuẫn giữa chiến tranh với cuộc sống con người, với hạnh phúc của lứa đôi, của tuổi trẻ Bằng sự bóc trần thực trạng đời sống, nhất
là đời sống nội tâm tràn ngập sầu đau cùng những nỗi niềm lo âu, sợ hãi, đợi chờ của một người vợ trẻ đầm đìa nước mắt, hằng ngày luôn phóng tầm mắt đến một phương trời xa thẳm trông ngóng tin chồng, tác phẩm
đã nêu lên một luận đề có tính chất muôn thuở của xã hội: Chiến tranh
và Hòa bình Điều cần quan tâm là tuy xuất thân từ tầng lớp trên nhưng
với cách nhìn tiến bộ xuất phát từ một lập trường nhân văn vững chắc,
dù không nói ra nhưng đối chiếu với thực tế lịch sử lúc bấy giờ, chúng ta
vẫn thấy được cuộc chiến tranh tác giả phản ánh trong Chinh phụ ngâm
chính là những cuộc chiến tranh phi nghĩa mà giai cấp phong kiến thống trị phát động nhằm chống lại các phong trào nhân dân khởi nghĩa hết sức rầm rộ lúc bấy giờ
Không thể nói hết tính chất bi kịch trong tâm trạng của người
chinh phụ Bằng tài năng nghệ thuật trác tuyệt, tác giả Chinh phụ ngâm
đã đi vào chiều sâu thăm thẳm của tâm hồn người chinh phụ, khắc họa
nên một bức tranh tuyệt vời về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt
Nam mà chúng ta đã từng gặp trong ca dao - dân ca, các truyện Nôm bình dân Ở đây, vẻ đẹp ấy đã được nâng cao một cách đáng kể nhờ vào
sự gia công của văn chương bác học Không một ai là không cảm thán trước vẻ đẹp vô ngần về tình cảm, sự thuần khiết cao quý về đức hạnh,
sự mẫn tuệ và khả ái về tâm hồn của nàng Tầm vóc cao đẹp của tình
cảm, đức hạnh và trí tuệ đó ở người phụ nữ Việt Nam thế kỷ XVIII, mà nàng là một đại diện, không hề thua kém với những người phụ nữ ta đã
biết trong văn học phương Tây - chẳng hạn nàng Penelope của Hy Lạp
cổ đại trong tác phẩm bất hủ của thi hào Homer : Odyssey Thế nhưng, trước cuộc chiến tranh phong kiến tàn bạo, thân phận bé nhỏ của nàng có khác gì cánh diều bị tung bạt trong bão táp cuồng phong Người chinh phụ chỉ còn biết nhớ mong, chờ đợi, khát khao trong mỏi mòn, tuyệt vọng, trong nỗi lo sợ cho chồng và cho mình Vậy mà chiến tranh và tình yêu tan vỡ vẫn là một thực tế không thể thay đổi Dù vậy, trước sau nàng vẫn khẳng định cái triết lý hạnh phúc:
Trang 24Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy, Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau
Bởi lẽ:
Ay loài vật tình duyên còn thế, Sao kiếp nguời nỡ để đấy đây?
Tư duy đầy tính nhân bản, nhân văn ấy của người chinh phụ có khác gì
so với tư tưởng của các nhà nhân văn chủ nghĩa thời Phục hưng? Dù có
thể nó còn chưa có cơ sở để thực hiện
Chinh phụ ngâm ra đời trong một thời đại mà cuộc đấu tranh đòi
giải phóng tình cảm cho con người đang diễn ra mạnh mẽ Khúc ngâm
đã thực sự gieo vào lòng người đọc một nỗi chán ghét, oán giận đối với
những cuộc chiến tranh phi nghĩa, vô nhân đạo, phản nhân văn Chính vì
thế, tác phẩm mãi mãi vẫn hấp dẫn đối với những ai yêu chuộng Hoà bình và trân trọng mọi vẻ đẹp của Con Người
2.2.Nằm trong trào lưu nhân văn chủ nghĩa của văn học Việt Nam
giai đoạn này, sự xuất hiện của Truyện Kiều đã thúc đẩy bước phát triển
của lý tưởng nhân văn, của tính nhân văn trong nền văn học dân tộc lên một mức cao vòi vọi trước đó chưa từng có Tập trung thể hiện lý tưởng
nhân văn của tác giả và của thời đại là hình tượng nhân vật Thúy Kiều,
nhân vật trung tâm của tác phẩm Truyện Kiều, do đó, là một tác phẩm mang tính nhân văn sâu sắc
Dù mở đầu bằng những câu triết lý và kết thúc tác phẩm cũng
bằng những câu triết lý, Truyện Kiều cũng không vì lẽ đó mà trở thành
một quyển tiểu thuyết luận đề Có thể thấy toàn bộ tác phẩm vĩ đại này là một bức tranh rộng lớn về cuộc sống thời đại nhà thơ đang sống, trong
đó Nguyễn Du muốn làm nổi bật sự đối lập gay gắt giữa quyền sống của
con người, nhất là của người phụ nữ, với sự áp bức của chế độ phong kiến lúc suy tàn
Thúy Kiều là nhân vật kết tinh những khao khát tình cảm của người phụ nữ thời trước, những ước mơ vươn tới cái gì là đáng sống, là
tốt đẹp ở đời Bao nhiêu phẩm chất tốt đẹp Nguyễn Du trao cho Kiều,
Trang 25không phải để trang sức, mà là để khẳng định cái đặc trưng trong tính
cách của nàng Bên cạnh cái tài, cái sắc tuyệt đỉnh, Thuý Kiều còn là
người phụ nữ luôn luôn tự ý thức để nhận thức đúng đắn mọi quan hệ xã
hội, đồng thời không ngừng vươn lên đỉnh cao của giá trị làm người
Ước mơ cao nhất của Kiều là được hưởng hạnh phúc lứa đôi, giữ trọn lời thề với Kim Trọng Vậy mà ước mơ đó đã bị đập vỡ tan tành Thay vào
Kim Trọng là Mã Giám Sinh, là Sở Khanh, là lầu xanh của Tú Ba Gặp Thúc Sinh, dù đã chủ động dẫn dắt Thúc tìm ra một giải pháp lâu dài,
nhưng với tính cách bạc nhược của Thúc, cuộc sống lẻ mọn của nàng cũng tan theo mây khói Hoạn Thư, vợ cả Thúc Sinh, đã bắt Kiều phải
chịu đựng những thử thách còn ghê rợn hơn cả cuộc sống ở nhà chứa
Rồi Từ Hải đến với đời Kiều Lần đầu tiên trong cuộc đời lưu lạc của mình, Thúy Kiều được trả lại nhân phẩm.Việc Nguyễn Du khẳng định mối tình Từ Hải - Thúy Kiều, gọi Từ Hải - Thúy Kiều là “Trai anh hùng,
gái thuyền quyên”đủ nói lên mặt táo bạo trong tư tưởng nhà thơ, xuất
phát từ lập trường nhân văn chủ nghĩa vững chắc Thế nhưng, sống với
Từ Hải mà Kiều vẫn luôn cảm thấy cuộc sống hạnh phúc của mình bị đe
dọa Cuối cùng, Kiều đã khuyên Từ Hải ra hàng Và cái triều đình phong kiến vô nhân đạo với Hồ Tôn Hiến là kẻ đại diện đã lợi dụng cơ hội ấy
để tiêu diệt Từ Mọi sự vùng vẫy của Kiều nhằm tạo cho mình một cuộc sống hoặc có ý nghĩa, hoặc rất tầm thường đều thất bại Kiều không còn
lối thoát nào ngoài cái chết Xã hội phong kiến vạn ác đã không dành
cho Kiều một chỗ đứng, đã không dung nạp được Kiều Đó là nguồn gốc tấn bi kịch của đời Kiều Bằng “con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng
nghĩ suốt cả nghìn đời”(Mộng Liên Đường Chủ Nhân) (26.345), Nguyễn
Du đã gởi gắm tất cả tâm sự, tư tưởng thẩm mỹ - đạo đức của mình tập
trung vào việc xây dựng hình tượng nhân vật Thúy Kiều Dù vậy, Thúy
Kiều hấp dẫn người đọc xưa nay không phải như một liệt nữ mà là một
con người của đời sống thực, gắn bó với chính những vấn đề do cuộc sống đặt ra Hiện thực của tác phẩm vì thế cũng đặt ra những vấn đề vượt khỏi những lý thuyết có tính chất tiên nghiệm, những tiên kiến của nhà văn để trở lại dẫn dắt nhà văn đi theo lôgích nghệ thuật
Nhìn lại những nhân vật phụ nữ lý tưởng trong các truyện thơ
Nôm, cuộc đời của họ không thiếu những hoạn nạn, tai ương, nhưng không có gì có thể lung lạc, tha hóa họ được Trước sau, họ vẫn quyết
Trang 26tâm bảo vệ đến cùng lý tưởng đạo đức của mình Dù có chết hay không,
họ vẫn phải nêu một tấm gương tiết liệt không chút phai mờ (Ngọc
Khanh, Hạnh Nguyên, Nguyệt Nga…) Nguyễn Du thì khác Ông không
đồng nhất caí đẹp với đạo đức, “không vì lý tưởng mà quên mất hiện
thực”, “không vi đạo mà quên đời” (Lê Đình Kỵ) Hiện thực xã hội Truyện Kiều đã cho thấy đạo đức phong kiến suy vi đến độ tai ác, con
người muốn khép mình vào đó mà không được Thế giới Truyện Kiều đã
cho thấy, con người muốn giữ vững lễ giáo thánh hiền thì phải từ bỏ đạo
lý làm người, càng chăm lo đến đạo đức càng dễ trở thành nạn nhân của
đạo đức ấy Thúy Kiều khó có thể “làm gương cho khách hồng quần thử
soi” (Truyện Kiều), nhưng bao nhiêu hành động mà Kiều đã làm không
ai là không cảm phục, bao nhiêu cảnh ngộ oan khốc mà Kiều đã trải qua không ai là không phẫn nộ Ý nghĩa của hình tượng Thúy Kiều, do đó, có
một sức khái quát lớn lao
Dù còn có những mâu thuẫn giữa tư tưởng chủ quan của tác giả
và ý nghĩa xã hội khách quan của tác phẩm, dẫn đến những hạn chế khó
tránh khỏi, Truyện Kiều vẫn là một tác phẩm mang tính nhân văn sâu sắc Chính lý tưởng nhân văn mà Nguyễn Du theo đuổi, chứ không phải
lý tưởng đạo đức đã giáng một đòn mạnh mẽ và quyết liệt vào chế độ phong kiến phản động, góp phần quan trọng vào việc giải phóng con người và tiến bộ xã hội
2.3.Trào lưu nhân văn chủ nghĩa trong văn học Việt Nam giai
đoạn từ nửa sau thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX sẽ thiếu đi cái chất
tươi tắn, trẻ trung, rất đời và rất người nếu không có được nữ sĩ Hồ Xuân Hương Bà là một hiện tượng “kể về độc đáo thì đứng vào bậc
nhất mà lại hai lần độc đáo, vì đó là một phụ nữ sống dưới chế độ phong kiến xưa”(79.5) Có thể thấy rằng, sau Nguyễn Du và Truyện Kiều, Hồ Xuân Hương là nhà thơ được nhắc tới nhiều lần và cũng gây ra nhiều
tranh luận nhất Không đề cập đến nhiều vấn đề cần phải tiếp tục làm sáng tỏ thêm về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của bà, chỉ căn cứ vào
những bài thơ chữ Nôm, chữ Hán trong Lưu Hương ký cùng một số bài thơ chữ Nôm, chữ Hán khác mà chúng ta tin là của Hồ Xuân Hương, thì trước sau thơ bà vẫn “chống đối xé phá cái xã hội phong kiến lỗi thời
…Chống đối xé phá một cách tinh vi đến mức kỳ lạ… Nó gắn liền với
Trang 27thời đại và có một sức vượt thời gian rất mạnh, rất lâu Bởi nó khái quát hóa rất cao”(79.109) Đóng góp của thơ Xuân Hương là ở đó, và độc
đáo cũng là ở đó
Là người xuất thân từ một dòng họ tương đối lớn, từng có người đậu đạt và làm quan, nhưng do gặp phải nhiều bất hạnh trong cuộc đời,lại sống vào một thời kỳ chế độ phong kiến đã mục rỗng, thối nát và
trở thành nạn nhân của cái chế độ đó, cho nên thơ Hồ Xuân Hương, trước hết là tiếng nói tình cảm của người bình thường, người phụ nữ lao động có nhiều bất hạnh trong cuộc sống Trong thơ Hồ Xuân Hương, hình tượng người phụ nữ chính là hình tượng cảm xúc, hình tượng tâm
trạng của bản thân nhà thơ và những người cùng giới với nhiều cung bậc, sắc thái khác nhau: có than thở chua xót, có phẫn nộ căm hờn, có độ lượng khoan dung, có yêu thương đằm thắm, có châm biếm sâu cay …
Và dù thế nào đi nữa, tiếng thơ của Xuân Hương vẫn thể hiện một phong
cách riêng, độc nhất vô nhị
Trong xã hội phong kiến, không phải đến thời đại của Hồ Xuân
Hương thì những bất công, ngang trái mới diễn ra Nhưng rõ ràng là đến
thời đại của bà thì những cảnh bất công, ngang trái đã diễn ra một cách
phổ biến như nó đã từng diễn ra Hoàng Lê nhất thống chí là bức tranh
sinh động về cảnh thối nát của triều đình phong kiến Lê - Trịnh lúc bấy
giờ Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút, Tang thương
ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án … cũng đã ghi lại những
cảnh sinh hoạt ăn chơi cực kỳ xa hoa của chúa Trịnh Sâm … Thử hỏi những kẻ nắm giữ giềng mối, kỷ cương của xã hội đã như thế thì xã hội
sao thoát khỏi cảnh loạn lạc? Cái độc đáo ở Xuân Hương là hầu như
trước bà chưa ai dám thẳng tay đánh tát vào mặt cả bọn thống trị từ trên xuống dưới mà chẳng chút sợ hãi, chẳng chút nể nang Không kém gì
G.Boccaccio, nhà nhân văn Ý thế kỷ XIV thời Phục hưng đã từng chế
giễu thói đạo đức giả của bọn thầy tu bằng những chuyện cười ca ngợi
sức hấp dẫn của “toà thiên nhiên” đến mức làm cả đấng bề trên bề dưới
mê mẩn tâm thần quên mất cả những điều răn của Chúa (Decamerone -
Mười ngày), Hồ Xuân Hương cũng đã có nhiều bài thơ xé toạc các mặt
nạ giả dối, lột trần hết những chiếc áo đạo đức cũn cỡn của bọn người
Trang 28được xem là “hiền nhân quân tử”, mẫu người lý tưởng của xã hội phong
kiến Thật ra họ cũng có lắm những khát khao phàm tục:
Hiền nhân quân tử ai là chẳng?
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo
Nhà thơ cũng nêu lên một nét điển hình nổi bật của chế độ hôn nhân phong kiến đầy bất công: trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ một chồng Nhưng thực tế ấy vẫn nghiễm nhiên tồn tại Không chịu
đựng được nữa, Xuân Hương đã thét lên:
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!
Đồng thời bà cũng đưa ra cách giải quyết:
Thà trước thôi đành ở vậy xong!
Không thể đề cập hết những phản kháng của Hồ Xuân Hương đối
với giai cấp thống trị phong kiến khi bà là người đã nhìn thấy rõ thực
chất bên trong của bọn chúng Đứng về phía người phụ nữ, bản thân mình cũng là người phụ nữ, Xuân Hương không chỉ chia sẻ, cảm thông,
bênh vực, phản kháng, tố cáo, mà hơn ai hết nhà thơ còn hết sức đề cao,
ca ngợi người phụ nữ Trong lịch sử văn học nước ta thời phong kiến, đi vào lĩnh vực mới mẻ là ca ngợi nét đẹp thể hình của người phụ nữ, có lẽ
Thiếu nữ ngủ ngày là một trong rất ít những bài thơ đã vẽ lên một bức
tranh khỏa thân truyền thần sinh động, toàn vẹn và đậm đà cảm xúc nhân
Trang 29Đi thì cũng dở ở không xong
Ở bài thơ Bánh trôi, mượn hình ảnh bánh trôi để nói lên nét đẹp hình tượng người phụ nữ không chỉ ở dáng vẻ bên ngoài mà quan trọng hơn là
Còn rất nhiều hình tượng người phụ nữ xuất hiện trong thơ Hồ Xuân
Hương nói riêng, thơ văn giai đoạn từ nửa sau thế kỷ XVIII đến nửa đầu
thế kỷ XIX nói chung
Với hiện tượng Hồ Xuân Hương, tính nhân văn trong văn học
giai đoạn này có khuynh hướng nghiêng về văn học dân gian, nghĩa là nó
gần với lý tưởng nhân văn của người bình dân Chính sự bất công, thối nát của chế độ phong kiến đã khiến cho tiếng thơ của Hồ Xuân Hương
mang một sức mạnh tố cáo mạnh mẽ, hiếm thấy trước đó Dù chưa có được cái phong phú nhiều mặt của những tác giả lớn, chưa phản ánh được mâu thuẫn trọng tâm của thời đại, chưa có một tầm nhìn toàn diện
để thấy được những đau khổ khát vọng của xã hội ngoài những đau khổ khát vọng của giới mình và của mình, Hồ Xuân Hương vẫn là nhà thơ có những đóng góp hết sức độc đáo và có ý nghĩa lịch sử
Nhìn chung, trào lưu nhân văn chủ nghĩa trong văn học Việt Nam
nửa sau thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX đã phát triển trên hai bình diện bổ sung cho nhau:
- Phê phán, tố cáo những thế lực phong kiến chà đạp lên cuộc sống con người
- Đề cao những giá trị của con người, đề cao cuộc sống trần thế
Thế nhưng, do hạn chế thời đại, trào lưu ấy vẫn chưa đưa ra được những biện pháp giải phóng cụ thể, càng không thể đề ra được một lý
Trang 30tưởng xã hội nào thay thế cho chế độ phong kiến Tính nhân văn của văn học giai đoạn thể hiện qua những hình tượng nhân vật phụ nữ ít nhiều có
cá tính ắt hẳn cũng để lại những ưu điểm và hạn chế như vậy
3.Văn học nửa sau thế kỷ XIX kế thừa truyền thống văn học dân
tộc ở những giai đoạn trước, lại ra đời trong một bối cảnh rất đặc biệt của cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, nên có những nét riêng độc đáo Văn
học tập trung vào chủ đề yêu nước chống Pháp Thơ văn của Nguyễn
Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích và hàng loạt những lãnh tụ, sĩ phu yêu nước chống Pháp khác đã tiếp tục
giương cao lí tưởng nhân nghĩa, nhân văn trong thái độ sống và chiến
đấu xuất phát từ tấm lòng yêu nước, thương dân thống thiết, lòng căm
thù, "ghét cay ghét đắng" bọn thực dân cướp nước, bọn đầu hàng phản
bội, bọn bất nghĩa bất nhân, bọn tham nhũng bạo tàn Không chỉ trong cuộc đấu tranh trực diện chống xâm lược ngay từ khi chúng đặt chân lên đất nước ta, mà cả khi thực dân Pháp coi như đã hoàn thành được cuộc xâm lăng để khởi đầu công cuộc thống trị của chúng, không lúc nào văn
học lại thiếu những vần thơ, những câu văn tràn đầy cảm hứng phê phán,
tố cáo hiện thực xã hội Việt Nam trong buổi giao thời, từ một xã hội
phong kiến chuyển sang xã hội thực dân nửa phong kiến Thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương đậm chất humour (uy-mua), thể hiện một khía
cạnh khác của tinh thần nhân văn khi các ông đã gắn bó cuộc sống mình
với cuộc sống nhân dân, làm thơ để bộc lộ tiếng nói tình cảm, tâm hồn của mình đồng thời cũng là sự bày tỏ phản ứng của xã hội trước những
gì chán tai gai mắt, lố lăng, rởm đời… con đẻ của chủ nghĩa thực dân Những thập niên đầu của thế kỷ XX (1900 - 1930) là một giai đoạn văn học có tính chất giao thời giữa cũ - mới Bên cạnh sự ra đời và phát triển của dòng văn học yêu nước và cách mạng tồn tại vừa không hợp pháp vừa hợp pháp trong các phong trào Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, quá trình chuyển biến của văn chương Việt Nam sang thời
kỳ hiện đại còn được đánh dấu bằng sự xuất hiện của nhiều tác phẩm có giá trị thuộc bộ phận văn học hợp pháp theo khuynh hướng hiện thực hay lãng mạn Đặc biệt về phương diện thơ ca, quá trình hiện đại hóa thực
chất là tiếp tục giải phóng cái tôi cá nhân, cá thể ra khỏi ảnh hưởng hệ
thống ước lệ khắt khe, có tính phi ngã của thơ ca thời kỳ trung đại mà trước đó từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX Nguyễn Du,
Trang 31Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ … chưa có điều kiện và
cũng chưa đủ sức để phá vỡ Nhìn chung, dòng chảy của tính nhân văn
trong văn học dân tộc vẫn không ngừng được bổ sung qua từng giai đoạn lịch sử, tuy sắc thái khác nhau
Từ năm 1932 đến năm 1945, nền văn học mang tính nhân văn của
nước ta bùng lên mạnh mẽ trong một bối cảnh xã hội mà ở Chương hai chúng tôi sẽ có dịp đề cập đến
Trang 32CHƯƠNG HAI :
TÍNH NHÂN VĂN QUA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
I SỰ RA ĐỜI CỦA TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN:
Lịch sử xã hội Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 không êm thấm như xã hội chúng ta đang sống và cũng thật khó so sánh với bất kỳ giai
đoạn xã hội nào trước và sau nó Sự ra đời của tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn gắn liền với sự xuất hiện của trào lưu tư tưởng cá nhân chủ nghĩa
tư sản cùng với những xu hướng văn nghệ gắn liền với nó ở Việt Nam từ
những năm đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn trước
hết vẫn là sản phẩm của một hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể ở nước ta giai đoạn 1932 – 1945
1 Từ những năm 30, bằng sự mở rộng qui mô khai thác thuộc địa
của thực dân Pháp và sự phát triển của các đô thị, giai cấp tư sản dân tộc
và tiểu tư sản gọi chung là thành phần thị dân phát triển ngày càng đông,
họ có nhu cầu thẩm mỹ và những khát vọng tình cảm mới, đòi hỏi phải thoát ra khỏi sự trói buộc vô lý, tàn nhẫn của luân lý lễ giáo phong kiến
hà khắc nhằm thỏa mãn nhu cầu tự do tình cảm Tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn ra đời chính là để đáp ứng nhu cầu đó của giai cấp tư sản và tiểu tư
sản lúc bấy giờ
2 Cuộc khởi nghĩa Yên Bái đêm 9/2/1930 dưới sự lãnh đạo của
Việt Nam Quốc dân đảng thất bại, giai cấp tư sản Việt Nam hoàn toàn đã vứt bỏ ngọn cờ giải phóng dân tộc đồng thời chấm dứt vai trò lịch sử của
nó trên vũ đài chính trị Kế đến, cao trào Cách mạng 1930 – 1931 của nhân dân Nghệ -Tĩnh biểu tình chống thuế dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đã bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu Những hành động khủng bố dã man của kẻ thù đã tạo nên một bầu không khí u uất, tang tóc trong cả nước, gây nên một tâm trạng hoang mang cực độ
Trang 33trong hàng ngũ giai cấp tư sản và tiểu tư sản Họ đâm ra bi quan thất vọng, không còn tin ở con đường giải phóng dân tộc
Trên thế giới, cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính toàn cầu kéo dài, bắt đầu từ năm 1929 Phong trào dân chủ ở nhiều quốc gia cũng bị đàn áp mạnh mẽ …
Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ra đời chính là sự phản ánh tâm trạng
và thái độ đó của giai cấp tư sản Việt Nam trong thời kỳ thoái trào cách mạng
3 Về phía bọn thực dân Pháp thống trị, một mặt, chúng đàn áp
cách mạng, mặt khác, chúng tìm mọi cách giăng ra những cạm bẫy để đưa thanh niên đi vào con đường ăn chơi trụy lạc Chúng tạo đủ mọi thứ
phong trào “vui vẻ trẻ trung” để làm cho thanh niên lạc hướng, đánh mất
lý tưởng Trong hoàn cảnh đó, sự ra đời của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
cũng đã được bọn thực dân khuyến khích và nâng đỡ
4 Cũng từ thập niên 30 trở đi, qua các cao trào đấu tranh của
quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương từ thời kỳ
Xô viết Nghệ - Tĩnh 1930-1931, đến thời kỳ Mặt Trận Dân chủ Đông Dương 1936-1939, rồi thời kỳ Mặt trận Việt Minh 1941, ý thức hệ vô sản dù bị bưng bít, cấm đoán, đàn áp hết sức dã man vẫn tỏ rõ sức sống mạnh mẽ của nó Đó là chưa kể trên lĩnh vực văn nghệ, cuộc bút chiến
"duy tâm duy vật" bùng nổ giữa Phan Khôi và Hải Triều từ năm 1933, và
từ 1935 cuộc tranh luận học thuật "nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ
thuật vị nhân sinh" xảy ra giữa Thiếu Sơn và Hải Triều, tiếp đến Hoài
Thanh với Hải Triều mãi đến 1939 mới xem như kết thúc Qua tranh luận, nhiều vấn đề lí luận văn học đã được các ông đào sâu và làm sáng
tỏ Trong xã hội, người ta nói nhiều đến bình dân, đặc biệt là từ thời kỳ
Mặt Trận Dân Chủ 1936-1939
Muốn hoạt động và làm văn học bằng chính sức mình, bằng lao
động nghệ thuật của mình, Tự lực văn đoàn phải nắm bắt được thị hiếu
của lớp độc giả mới, tầng lớp tiểu tư sản thành thị Tầng lớp này vốn đã quá quen và đã chán những tiếng thở than não nuột, chán cái bệnh
“không ốm mà rên” Họ đã khóc đã rên quá nhiều, từ thời Bể thảm
Trang 34(Đoàn Như Khuê),Giọt lệ thu (Tương Phố), Tố Tâm (của Song An Hoàng Ngọc Phách) đến Linh Phượng lệ kí (Đông Hồ) Đến lúc, họ
muốn vui lên tí chút, dù hoàn cảnh chẳng có gì đáng vui Họ cũng đã tiêm nhiễm ít nhiều tinh thần, tư tưởng Âu Tây, thích tự do cá nhân nhất
là trong lĩnh vực tình yêu và hôn nhân Tự lực văn đoàn ra đời phải làm
thế nào có được lối văn hợp với khẩu vị người đọc Chính vì thế, tôn chỉ
của Tự lực văn đoàn là: “lúc nào cũng trẻ, yêu đời Không có tính cách
trưởng giả quí phái … Tôn trọng tự do cá nhân Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa Đem phương pháp khoa học Thái Tây ứng dụng vào văn chương An Nam”
Đóng góp của Tự lực văn đoàn chủ yếu là ở đấy
II QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN CỦA TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN:
Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là một hiện tượng văn học phức tạp
Mặc dù văn đoàn có chung “Tôn chỉ” sáng tác, nhưng không phải tất cả những cây bút trong văn đoàn đều thể hiện sự thống nhất với tôn chỉ đó
trong sáng tác của mình Trong số những cây bút thuộc Tự lực văn đoàn,
có lẽ chỉ có ba người là có sự tương đối thống nhất với nhau về quan điểm sáng tác cũng như cách nhìn nhận và giải quyết các vấn đề xã hội,
đó là Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo
Từ trước đến nay khi nghiên cứu tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
1932 - 1945, các nhà nghiên cứu cũng thường chia thành ba thời kỳ khác nhau để khảo sát quá trình diễn biến Tuy nhiên, mốc thời gian của từng
thời kỳ cũng có khác biệt nhau ở các sách Theo Thanh Lãng trong Bảng
lược đồ văn học Việt Nam, quyển hạ (Sđd), thì ba thời kỳ mà ông gọi là
ba giai đoạn được chia như sau:
- Giai đoạn thứ I, kể từ 1932 đến 1937
- Giai đoạn thứ II, từ 1937 đến 1942
- Giai đoạn thứ III, từ 1942 đến 1945
Trang 35So với cách phân chia quen thuộc lâu nay, ta thấy có khác
Thật ra, việc phân chia thành các thời kỳ khác nhau trong quá
trình phát triển của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn không có gì đáng phải
tranh luận Dù cách phân chia ở nhiều sách có khác nhau, nhưng tất cả đều nhìn nhận sự ảnh hưởng và tác động của cao trào Mặt trận Dân chủ
Đông Dương từ 1936 - 1937 trở đi Từ đó, “vấn đề ý thức xã hội bắt đầu
giày vò nhiều tâm hồn”(62a.641), “tiểu thuyết Tự lực văn đoàn tuy vẫn tiếp tục con đường của nó nhưng đã không thể làm ngơ trước vấn đề nông dân - một vấn đề thời sự nóng hổi bấy giờ” (22.56) Thêm nữa, các
sách cũng không phủ nhận việc Mặt trận Bình dân Pháp sụp đổ, phái hữu lên cầm quyền tiếp tục thi hành chính sách cực kỳ phản động ở Đông Dương Đảng Cộng sản Đông Dương phải rút vào hoạt động bí mật Tầng lớp trí thức tư sản, tiểu tư sản lại một phen hoang mang cực độ
Tâm trạng bi quan, bế tắc, đó là tiền đề để các nhà văn trụ cột của Tự lực
văn đoàn cho ra đời một loạt tác phẩm thể hiện đậm nét thế giới quan, nhân sinh quan và quan điểm nghệ thuật tư sản trong Bướm trắng (1940
- Nhất Linh), Thanh Đức (1942 - Khái Hưng)
Quan điểm của chúng tôi là chấp nhận cách tạm thời phân chia
như lâu nay để tìm hiểu quá trình diễn biến của tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn
1 Thời kỳ 1932- 1935:
Ai cũng biết Tự lực văn đoàn là do Nhất Linh tập hợp một số văn nghệ sĩ, thành lập năm 1933, lấy tờ Phong hóa, và từ năm 1937, khi tờ
Phong Hóa đình bản thì lấy tờ Ngày nay làm cơ quan ngôn luận và phổ
biến sáng tác Đồng thời, Nhất Linh cũng đã tổ chức một nhà xuất bản
riêng, đó là nhà xuất bản Đời nay để in các tác phẩm của các nhà văn
trong văn đoàn, rồi mở rộng ra, in cả tác phẩm của những người ngoài văn đoàn
Ngay từ khi ra đời, Tự lực văn đoàn đã nhanh chóng tập hợp được
lực lượng, gồm phần đông thanh niên trí thức tư sản, tiểu tư sản vào mặt trận văn hoá chống phong kiến Và hoạt động văn học cũng nằm trong mặt trận đó
Trang 36Trung thành với tôn chỉ “trọng tự do cá nhân”, “lúc nào cũng
mới, trẻ, yêu đời … tin ở sự tiến bộ”, “làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa” …, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã tập trung
vào đề tài chống lễ giáo phong kiến đòi quyền tự do yêu đương, đề cao hạnh phúc cá nhân cho con người nói chung, cho thanh niên trí thức tư
sản, tiểu tư sản nói riêng Phần lớn những tác phẩm của các nhà văn Tự
lực văn đoàn đều mang tính chất luận đề phản ánh cuộc đấu tranh mới -
cũ đang diễn ra mạnh mẽ trong xã hội thành thị Việt Nam lúc bấy giờ
Cái “mới” ở đây là tư tưởng tự do cá nhân tư sản, cái “cũ” là luân lý, tập tục, lễ giáo phong kiến cổ hủ, lạc hậu Trong cuộc đấu tranh này, cái mới chưa hẳn đã thắng cái cũ Dù vậy, thái độ của Khái Hưng, Nhất Linh là rất đáng trân trọng, vì các ông đã đứng về phía cái mới để phê phán
những kẻ đại diện cho nền luân lý, lễ giáo phong kiến
Từ tính cách của các nhân vật đáng phê phán như bà Án (Nửa
chừng xuân - Khái Hưng), bà Phán Lợi (Đoạn Tuyệt - Nhất Linh) … các
tác giả Tự lực văn đoàn đã gieo vào lòng người đọc một thái độ căm ghét không chỉ với một bà Án, bà Phán cụ thể, mà còn cả nền luân lý, lễ giáo
phong kiến khắc nghiệt, góp phần hoàn chỉnh hình ảnh chế độ thực dân
phong kiến thống trị đương thời Hình ảnh những cô gái mới như Mai (Nửa chừng xuân), Loan (Đoạn tuyệt) … chính là những minh chứng
sinh động cho chủ trương cổ vũ một quan niệm sống mới: tự do cá nhân, trước hết là tự do trên lĩnh vực tình yêu, tự do xây dựng hạnh phúc lứa đôi Dường như không tác phẩm nào trong thời kỳ này lại không xây dựng nên những hình tượng của những cặp trai gái mới tự do yêu nhau, bất chấp mọi sự ràng buộc của gia đình, của lễ giáo phong kiến Sự thức tỉnh mạnh mẽ đó của ý thức cá nhân trên lĩnh vực tình yêu và hôn nhân
nhằm thoát khỏi xiềng xích của những “khuôn phép bất nhân” (Xuân
Diệu) là một bước tiến quan trọng trong lịch sử vận động tư tưởng của
dân tộc Nó mang ý nghĩa nhân văn , nhân đạo, phù hợp với quan điểm đạo đức của nhân dân, đồng thời kế tục xứng đáng truyền thống nhân
văn, nhân đạo trong văn học quá khứ Và, “văn học lãng mạn với sự chối
bỏ mạnh mẽ kiểu tư duy nghệ thuật cũ khuôn sáo, ước lệ, hướng văn học
đi vào con người cụ thể, đã mở đường cho sự giải phóng cá tính sáng tạo và góp phần quyết định trong việc đem lại sinh khí cho văn học”
(53(1).25) Vì vậy, nếu chúng ta thừa nhận sự ra đời của “thơ mới” như
Trang 37là “một cuộc cách mạng về thơ ca” (Hoài Thanh , Hoài Chân - Thi nhân
Việt Nam) thì “vai trò cách tân của Tự lực văn đoàn” trong địa hạt tiểu thuyết cũng gần như thế”(53(1).23–24)
2 Thời ky 1936 - 1939:
Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn vẫn tiếp tục phát triển tuy không giữ
địa vị ưu thắng trên văn đàn như trước và cũng đã có sự phân hóa theo những hướng khác nhau, phản ánh sự thay đổi trong cách nhìn, trong quan điểm nghệ thuật của nhà văn trước hiện thực đã có sự đổi thay thời
kỳ Mặt trận Dân chủ Trong khi vẫn tiếp tục đề cập đến mảng đề tài đấu tranh chống lễ giáo phong kiến, phê phán tính chất hủ bại của gia đình
quan lại … các nhà văn như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo đã theo
đuổi một đề tài mới thể hiện chủ trương cải cách xã hội, cải cách nông thôn, cải thiện đời sống của dân quê Có thể hoạt động của các ông chỉ
dừng lại ở “những hoạt động cải lương nhưng có ích cho quần chúng”
(61d.29) Nhìn lại việc làm của các ông so với những gì chúng ta làm được hôm nay thật nhỏ bé, nhưng tấm lòng của Nhất Linh và những người như ông thật đáng quý trọng
2.1 Trước hết, dễ dàng người ta có thể thấy rằng Lạnh lùng (Nhất
Linh) và Thoát ly (Khaí Hưng) là hai tác phẩm tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh chống lễ giáo phong kiến của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thời
kỳ Mặt trận Dân chủ
Lạnh lùng được đăng lần đầu trên báo Phong hóa năm 1935 và
xuất bản thành sách năm 1939 Viết Lạnh lùng, Nhất Linh đặt vấn đề
người đàn bà góa có quyền đi bước nữa, đồng thời lên án lễ giáo phong kiến, tập tục cổ truyền đã trói buộc, giam hãm tình cảm con người một
cách tàn nhẫn Nhung, người phụ nữ góa chồng lúc hai mươi tuổi, thế
mà, vì chút danh hờ, vì tấm biển “Tiết hạnh khả phong” có từ đời bà Tổ
mẫu nhà chồng, nàng phải sống dối mình, dối người để được tiếng khen của người đời
Với Thoát ly, tác phẩm được in thành sách và ra mắt bạn đọc
năm1937, Khái Hưng lại góp phần phê phán chế độ đại gia đình phong
kiến qua câu chuyện dì ghẻ - con chồng “Mấy đời bánh đúc có xương,
Trang 38Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng” Đó là quan niệm dân gian Quan
niệm đó càng đúng với hoàn cảnh riêng của Khái Hưng Qua Thoát ly,
tác giả muốn đưa ra hình ảnh của một người phụ nữ hiền dịu, dễ thương -
Hồng, nhưng vì nhu nhược, không dám đấu tranh, không dám đối mặt
với hiện thực, cô đã phải sống một cuộc sống mòn mỏi cả tinh thần lẫn
thể xác Cuối cùng, Hồng đã chết thảm thương trên giường bệnh vì
không được một ai chăm sóc
So với thời kỳ đầu, ý nghĩa đấu tranh chống lễ giáo phong kiến
của Lạnh lùng và Thoát ly không giảm sút mà ngày càng trở nên quyết
liệt hơn không phải ở bề nổi bên ngoài của những hành động mà là ở chiều sâu bên trong tâm lí, ý thức của nhân vật Vấn đề không hẳn là ở
kết thúc truyện cái mới hay cái cũ đã thắng, mà quan trọng hơn là thông
qua những mâu thuẫn, những xung đột, bản chất nhân vật đã được bộc lộ như thế nào, ý nghĩa của tác phẩm toát lên từ hệ thống hình tượng ra sao
Có thể thấy rõ tính chất bi kịch của các tác phẩm trên chính là sự xung
đột giữa "yêu sách tất yếu về mặt lịch sử và tình trạng không tài nào
thực hiện được điều đó trong thực tiễn" (1.378) Nếu như trước đây Mai
(Nửa chừng xuân-1934-Khái Hưng) đã đứng lên đấu tranh đương diện
với lễ giáo phong kiến song vẫn mang đầy đủ vẻ đẹp của đạo đức truyền
thống; đến Loan (Đoạn tuyệt-1935-Nhất Linh) thái độ đấu tranh mạnh
mẽ hơn để "đoạn tuyệt" hẳn với chế độ đại gia đình phong kiến, dứt khoát trở về với người mình yêu, thì ở Nhung, không thể nói là ý nghĩa đấu tranh đã có phần giảm sút như một số người quan niệm; ngược lại, tính chất quyết liệt, dai dẳng của cuộc đấu tranh ở một lĩnh vực mới mẻ
này không những chỉ thể hiện trong suy nghĩ "chỉ vì muốn giữ cái tiếng
tốt hão ấy mà mình bắt buộc thành ra khốn nạn, đâm ra giảo quyệt gian trá" (53(3).242) mà thực tế đã được Nhung thực hiện bằng hành động,
kể cả hành động trao thân cho Nghĩa-ông giáo nghèo nàng yêu
thương-khi "không thể giữ gìn được nữa và nàng thấy không cần phải giữ gìn
nữa" (53(3).271) Dù kết thúc tác phẩm Nhung như chấp nhận hy sinh
tình yêu để lại sống cô đơn cho đến khi răng long đầu bạc, "giữ được vẹn
toàn tiếng thơm" (53(3).300), song không vì thế mà vấn đề giải phóng
phụ nữ giảm đi ý nghĩa thời sự khi lần đầu tiên Nhất Linh đã đề cập đến một vấn đề vừa thực tế, vừa nhân đạo và tế nhị: vấn đề đi bước nữa của người đàn bà trẻ góa chồng
Trang 39Với Hồng trong Thoát ly, đó là sự khát khao đến cháy ruột một
cuộc đời tự do, một tình yêu chân thật đã có lúc nàng như sắp với tới, nhưng chỉ vì người dì ghẻ tai ác, nham hiểm, lúc nào cũng tìm cách phá
hoại hạnh phúc của Hồng mà nàng thành ra bất lực "chi bằng không tìm
thoát ly nữa mà cứ coi như mình đã thoát ly rồi" (53(3).409) Cuối cùng,
chỉ có cái chết mới giùp nàng thật sự "thoát ly" khỏi cảnh địa ngục gia
đình, vươn tới những điều mong ước Dư âm của tác phẩm để lại trong lòng người đọc thật xốn xang !
Cuộc đấu tranh chống phong kiến trong lĩnh vực hôn nhân và tình
yêu của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ở thời kỳ này đã thật sự đi vào chiều sâu, trong đó có cả vấn đề mà trước các nhà văn Tự lực văn đoàn chưa ai
nói đến
Mặc dù vậy, phải thấy rằng “trong hoàn cảnh xã hội thuộc địa
nửa phong kiến Việt Nam những năm 1930 - 1945, vấn đề chống lễ giáo phong kiến, giải phóng phụ nữ, đảm bảo cho hạnh phúc cá nhân không thể tách rời vấn đề giải phóng dân tộc Dân tộc có thực sự độc lập thì phụ nữ mới được giải phóng Ngoài ra, biện pháp nào nếu không là giả tạo thì cũng chẳng giải quyết vấn đề được triệt để” (22.67) Chính
nguyên nhân xã hội đó đã giúp ta giải thích vì sao mà thành trì của lễ giáo phong kiến vẫn còn rất kiên cố và sức phản động của nó với vấn đề
giải phóng phụ nữ, với “cái mới” hãy còn rất ác liệt Một nguyên nhân
khác là sự hạn chế ở ý thức hệ khiến cho giai cấp tư sản Việt Nam được sản sinh trong hoàn cảnh một nước phong kiến thuộc địa đã không có được một tinh thần phản phong triệt để kể cả trên lĩnh vực đấu tranh chống lễ giáo, tập tục phong kiến lạc hậu
2.2 Cũng từ năm 1936 trở về sau, nhiều nhà văn Tự lực văn đoàn
đã có sự thay đổi trong phạm vi đề tài khi họ hướng ngòi bút vào việc miêu tả phong tục tập quán của người dân quê, ca ngợi vẻ đẹp người lao
động, đặt vấn đề cải cách nông thôn…Nhất Linh viết Hai vẻ đẹp (1936), Khái Hưng viết Trống Mái (1936), Gia đình (1936), Hoàng Đạo viết
Con đường sáng(1938), tất cả đều muốn đưa ra những giải pháp cho các
vấn đề xã hội có tính chất thời sự nóng hổi lúc bấy giờ là vấn đề cải
thiện đời sống dân quê
Trang 40Hai vẻ đẹp là câu chuyện về anh chàng họa sĩ Doãn Từ một tín
đồ của cái Đẹp, vì cái Đẹp, qua thời gian đi vẽ tranh ở nông thôn, chứng kiến nhiều cảnh tiều tụy khổ cực của người nông dân, “Doãn càng thấy
rõ cái vô lý của công việc chàng bấy lâu mê mẩn đi tìm những thứ ánh sáng huyền ảo trên các nóc tranh, không bao giờ tưởng qua tới sự thật
ảm đạm: những cuộc đời tối tăm ở trong các gian nhà tối tăm Nghệ thuật với mục đích đi tìm cái đẹp làm cho đời người đẹp đẽ hơn, lúc đó đối với chàng chỉ là một sự mỉa mai đau đớn” Rồi cuộc sống tối tăm
khổ cực của bà mẹ đẻ khi xưa lại hiện ra, Doãn chợt thấy cái trống rỗng ghê gớm của đời anh, thế là chàng quyết định: “Cần phải tìm một cách
sống khác, một quan niệm khác về hạnh phúc có thể đem ra đối chiếu với những cảnh thực đau đớn bên ngoài mà không bị lay chuyển”; “Đời của đám dân quê đã bao lâu bị chàng thờ ơ lạnh nhạt, bỏ quên như xác những con vò bên sông kia, từ nay chàng sẽ săn sóc tới” Và tác phẩm
kết thúc ở cái dự kiến của Doãn là đem nghệ thuật phục vụ cho đời sống tối tăm của dân quê bởi “cảnh đời đẹp đẽ của dân quê đối với ta cũng là
một bức tranh đẹp”
Đến với Trống Mái, ta thấy được một “ thiên ái tình thuần khiết”
(80e.181), có tính chất lý tưởng, theo quan niệm mới của tầng lớp thanh niên thế hệ sau 1932 Đó là quan niệm: sự rung động của con tim bắt
nguồn từ vẻ đẹp của cơ thể Cả Hiền và Vọi đều là hiện thân của cái đẹp hình thể Gặp Vọi lần đầu, Hiền thật sự kinh ngạc khi “nàng thấy hiện ra
một nhà lực sĩ cường tráng, mỹ lệ như một pho tượng cổ Hy Lạp”(80e.20) Dù chưa yêu Vọi , nhiều lần Hiền vẫn mơ màng nghĩ đến
việc lấy Vọi, lấy người mình thích, “một anh chàng đánh cá chất phác,
thơ ngây” (80e.65), có cuộc sống tự do, phóng khoáng và “nàng như thấy lờ mờ hiện ra một tương lai sung sướng, đầy đủ về cả hai phương diện tinh thần và vật chất" (80e.63) Về phía Vọi, tuy chẳng hiểu ái tình
là gì, vả lại cũng đâu dám mơ đến “cô thiếu nữ giàu sang có bộ áo tắm
đáng giá bằng cả một cơ nghiệp dân chài” (80e.95), nhưng “hôm nào không gặp cô thiếu nữ “có lòng tốt” thì chàng buồn rầu chẳng thiết làm gì” (80e.94) Nhưng rồi, sau lần mời Vọi đến dự tiệc trà, Hiền đã nhận
thức ra rằng: “Cái đẹp về hình thức, khó cảm được trái tim một người có
trí thức, nếu cái đẹp hình thức ấy không chứa một tâm hồn tương