Nghiên cứu đề tài “Ngôn ngữ nhân vật nữ trong tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo”, chúng tôi tiến hành khảo sát các đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật nữ trên các cấp độ ngôn ngữ: từ, câu
Trang 1Trờng Đại học Vinh Khoa ngữ văn
ngôn ngữ nhân vật nữ
trong tiểu thuyết giàn thiêu của võ thị hảo
tóm tắt Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành ngôn ngữ học
Giáo viên hớng dẫn: ThS Trần Anh Hào
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hoa
Trang 2liên quan chặt chẽ tới quá khứ, cái đã xảy ra, đã tồn tại trong những kinhnghiệm của cộng đồng Những tranh cãi về quan niệm thế nào là tiểu thuyếtlịch sử vẫn cha có lời kết.
Chính vì vậy, ngôn ngữ là một vấn đề đáng quan tâm đối với bất kì tácgiả nào khi cầm bút viết về tiểu thuyết lịch sử Câu hỏi đặt ra là nhà văn lựachọn ngôn ngữ nào cho nhân vật lịch sử ? Với một thời đại đã cách xa chúng
ta hàng trăm năm thì các nhân vật sẽ nói với nhau nh thế nào? Để tái dựng lạikhông khí lịch sử cho tác phẩm, nhà văn phải viết ra sao? Đây là thử thách đốivới mỗi nhà văn bởi nó đòi hỏi sự từng trải, vốn sống, vốn văn hoá cũng nhkhả năng sáng tạo và h cấu tởng tợng của nhà văn
Lucacs cho rằng: tiểu thuyết lịch sử kể lại những sự kiện của quá khứ và
về mặt ngôn ngữ nó tạo ra mối liên hệ với hiện tại, bởi vì ngời kể chuyện củahôm nay nói cho ngời nghe của hôm nay [21] Chúng ta đều biết rằng ngônngữ là một sinh thể có đời sống riêng phong phú và nó in đậm dấu ấn thời đạilịch sử Đằng sau cái hồn cốt mang tính hằng thể, lớp ngôn ngữ của bề mặtluôn có sự tự cải biến và làm mới mình với sự thích nghi vô cùng đa dạngtrong từng thời kì Ngôn ngữ của ngời Việt cách chúng ta hàng trăm năm chắcchắn khác xa với ngôn ngữ thời hiện đại Chỉ cần so sánh ngôn ngữ trongkhoảng vài chục năm gần đây cũng thấy sự khác biệt rõ rệt trong vốn từ vựng
và cách diễn đạt Trên thực tế, hàng năm các cuốn từ điển tiếng Việt đều có bổsung những từ mới hoặc nghĩa mới phát sinh Xin trích ý kiến của tác giả KiềuThanh Tùng về việc sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử Tác giả chorằng, thời Lý nhà các quan đều gọi là “phủ”, nhà quan tế tớng to hơn, thờnghội họp đông ngời nên gọi là “chính phủ” Ngày nay, từ “chính phủ” đã mang
ý nghĩa khác Từ “bác sĩ” thời Lý dùng để chỉ các nhà nho uyên bác, nay lạidùng để cho các thầy thuốc Rất nhiều từ ngữ khác cũng đã biến đổi nh thế Giả
sử có từ liệu để xác định chính xác ngôn ngữ của ngày xa thì cũng không nên đatất cả vào tiểu thuyết hay phim ngày nay vì sẽ gây hiểu lầm
Theo tác giả, không nên quá câu nệ về chính xác của xng hô, câu chữngày xa vì sẽ gây mệt mỏi cho ngời xem ngày nay Điều này còn đợc kiểmnghiệm khi khảo sát ngôn ngữ trong các tiểu thuyết lịch sử đầu thế kỉ XX, với
sự ảnh hởng của lời văn biền ngẫu của tiểu thuyết chơng hồi, kiểu câu chữ đẽo
gọt cầu kì nh ở tiểu thuyết Lê triều Lý thị (Phạm Minh Kiên), Việt Nam Lê
Thái Tổ (Nguyễn Chánh Sắt), Tiếng sấm đêm đông, Vua bà Triệu ẩu
(Nguyễn Tử Siêu) Vậy nhà văn có thể đa ngôn ngữ hôm nay vào tiểu thuyếtlịch sử nh thế nào?
Trang 31.2 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đơng đại đã có nhiều tác phẩm gây đợc
sự chú ý của ngời đọc nh: Vằng vặc sao Khuê (Hoàng Công Khanh), Bão táp
cung đình, Thăng Long nổi giận, Vơng triều sụp đổ (Hoàng Quốc Hải), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Trong đó cuốn tiểu thuyết lịch sử Giàn thiêu đợc d luận
đánh giá khá cao Giàn thiêu cùng với nhiều tác phẩm khác viết về đề tài lịch
sử đã góp phần làm nên “một chuyển động bên trong dòng sáng tác về vănxuôi lịch sử hiện nay” ở nớc ta [24; 5] Với tinh thần tôn trọng lịch sử và ýthức khám phá lịch sử từ những chiều kích mới, Võ Thị Hảo đã tạo ra ngônngữ trần thuật phù hợp với bối cảnh thời đại quá khứ - thời nhà Lý dới haitriều vua Nhân Tông và Thần Tông (giai đoạn 1088- 1138) - nhng không quácách biệt với đối tợng tiếp nhận hôm nay và vẫn thể hiện đợc ý đồ nghệ thuật
của mình Sự thành công nổi bật trong sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật Giàn
thiêu là đã kết hợp đợc những yếu tố văn hoá, lich sử, tôn giáo, trong một
ngôn ngữ tiểu thuyết thống nhất và đa dạng
1.3 Tiểu thuyết lịch sử Giàn thiêu không nhằm vào nhận thức lịch sử mà
tập trung chủ đề vào số phận con ngời dới sự áp bức của vơng quyền, thầnquyền và nam quyền Võ Thị Hảo dành nhiều công sức xây dựng những nhânvật nữ trong tác phẩm Mỗi ngời có một số phận riêng, tính cách riêng vàmang một vẻ đẹp riêng nhng tất cả ở họ đều có một sức sống nội tại mạnh mẽlàm nổi lên “xu hớng nữ quyền” [24; 17] của tác phẩm Nghiên cứu đề tài
“Ngôn ngữ nhân vật nữ trong tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo”,
chúng tôi tiến hành khảo sát các đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật nữ trên các
cấp độ ngôn ngữ: từ, câu; (tìm ra sự khác biệt giữa ngôn ngữ nhân vật nữ và
ngôn ngữ nhân vật nam trong tác phẩm), rút ra hiệu quả nghệ thuật của ngôn
ngữ nhân vật nữ trong việc thể hiện tính cách nhân vật, phản ánh những đặc
điểm tính cách của ngời phụ nữ Việt Nam và phong cách nghệ thuật của nhàvăn Võ Thị Hảo - một nhà văn nữ đầy cá tính
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Ngay khi xuất hiện năm 2002, tiểu thuyết Giàn thiờu của Vừ Thị
Hảo đó gõy một ấn tượng mạnh làm xụn xao cả văn đàn Đó cú tới hàng chục
bài bỏo và rất nhiều trang web núi về Giàn thiờu và tỏc giả của cuốn tiểu thuyết này Trong bài viết Những thông điệp từ lửa và nước, đăng trờn bỏo
Văn Nghệ - ngày 17/04/2003 Trần Khỏnh Thành đó cú nhận xột về Giàn
Trang 4tượng chói và bỏng rát, ngột và xót xa đã xâm chiếm lòng người Viết, với VõThị Hảo là truyền lửa từ trái tim mình đến bạn đọc” Phạm Xuân Nguyên
trong bài viết Giàn thiêu – xứ sở của lối văn chương mê hoặc và huyền bí đã
khẳng định: “Văn Võ Thị Hảo có nhiều tầng hình tượng mà mỗi lần tiếp cận,người đọc lại ngạc nhiên thấy mình khám phá ra một lớp ngữ nghĩa khác ẩnmình sau những câu chữ Đó là lối văn đã được tác giả thổi linh hồn Linh hồn
đó tạo nên những câu văn huyền ảo mê hoặc, thậm chí ma quái”… Và rấtnhiều bài viết khác nữa Nhìn chung phần lớn các bài viết đều thể hiện một
cảm nhận rất khái quát về tác phẩm Giàn thiêu, chứ chưa đi vào nghiên cứu
sâu một khía cạnh vấn đề cụ thể nào Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có nhữngbài nghiên cứu đã tìm cách khai thác sâu hơn, tập trung hơn vào một vấn đề.Xin được đưa ra một vài bài nghiên cứu sau:
Thạc sĩ Đào Vũ Hoà An đã đi sâu tìm hiểu mẫu gốc Lửa và Nước trong
tiểu thuyết Giàn thiêu qua bài nghiên cứu Mẫu gốc như là thành phần tạo
nghĩa trong chuyện kể (khảo sát qua mẫu gốc Lửa và Nước trong Giàn thiêu của Võ Thị Hảo), in trong cuốn Tự sự học phần II của Trần Đình Sử chủ biên.
Tác giả tiến hành thống kê, Lửa xuất hiện dày đặc với những biến thể về
không gian và trạng thái hết sức phong phú: giàn thiêu 15 lần, lửa tinh thần
34 lần, địa ngục 3 lần, hội hoa đăng 2 lần, lửa thực thể 54 lần, máu 61 lần,
màu đỏ 24 lần, mùi khét 9 lần, rốn chu sa 5 lần…với những ý nghĩa biểu hiện
cơ bản sau: Lửa thù hận, Lửa dục vọng, Lửa tàn phá và thiêu huỷ, Lửa
-tình yêu và chính khí Nước cũng xuất hiện dày đặc với không gian sông 40 lần, thác 11 lần, đảo 5 lần, vực 5 lần, hồ 3 lần, bến 2 lần, trạng thái nước 26 lần, nước mắt 30 lần, sữa 9 lần, sương 9 lần, mưa 6 lần, Cá Bơn 3 lần… mang
ý nghĩa: Nước ranh giới, Nước dòng đời, Nước nguồn sống, Nước Thanh tẩy và hoá giải Hai mẫu gốc Lửa và Nước đã tập trung soi sáng và làmnổi bật hai không gian nghệ thuật đặc trưng: không gian nghi lễ, không gian
-vô thức có sức ảm ảnh sâu sắc… Hai mẫu gốc Lửa và Nước còn góp phần
Trang 5đỏng kể trong việc xõy dưng một thế giới nhõn vật của đời sống hụm nay từnhững con người cú thật trong quỏ khứ lịch sử xa xụi.
Phạm Thị Ngọc, tỏc giả của luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh với
đề tài Lịch sử và hư cấu trong tiểu thuyết Giàn thiờu của Vừ Thị Hảo Luận văn
này tập trung khảo sỏt và làm rừ tớnh chất lịch sử là hư cấu nghệ thuật của tiểu
thuyết Giàn thiờu qua hai mảng: nhõn vật và sự kiện trong tỏc phẩm.
2.2 Văn học là nghệ thuật ngụn từ, nờn muốn tỡm hiểu một tỏc phẩmvăn học trước hết phải đối diện, vượt qua hiện thực là ngụn từ văn học (ngụn
ngữ văn học) Tìm hiểu về tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, một số tác
giả cũng đã đi sâu tìm hiểu ngôn ngữ của tác phẩm Có thể điểm qua một sốcông trình, bài viết nghiên cứu sau:
Vấn đề ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đơng đại, Đỗ Hải
Ninh đã nghiên cứu ngụn ngữ để viết một tỏc phẩm lịch sử sao cho vừa tỏidựng lại khụng khớ lịch sử vừa làm cho người đọc hiểu được và cảm thấythớch thỳ, từ đú tỏc giả chỉ ra những “lựa chọn” ngụn ngữ viết tiểu thuyết lịch
sử và lớ giải sự hợp lớ hiệu quả của nú Chẳng hạn: Viết bằng thứ ngụn ngữthuần Việt gần gũi dễ hiểu với muụn màu sắc của đời thường, thứ ngụn ngữtràn đầy sức sống của dõn gian, kết hợp nhuần nhuyễn ngụn ngữ lịch sử và
ngụn ngữ tiểu thuyết (Giàn thiờu – Vừ Thị Hảo), ngụn ngữ đó kết hợp những
yếu tố văn hoỏ, lịch sử, tụn giỏo trong một hệ ngụn ngữ tiểu thuyết thống nhất
và đa dạng, gia tăng yếu tố triết luận trong ngụn ngữ…Cuối cựng tỏc giả kếtluận: ngụn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử cú thể khụng đỳng hoàn toàn với sựthật lịch sử ngày xưa nhưng phự hợp với định hướng tư tưởng của tỏc giả vớimỳc độ “sai lệch tất yếu” (Hờghen)
Trong bài viết này, Đỗ Hải Ninh bàn về ngụn ngữ trong tiểu thuyết lịch sửViệt Nam đương đại núi chung nhưng cũng đó chỉ “đớch danh” một số đặc điểm
nổi bật của ngụn ngữ trong tiểu thuyết Giàn thiờu, đú là: “Giàn thiờu là cuốn tiểu
thuyết chồng xếp nhiều lớp trầm tớch: Lịch sử, huyền thoại tụn giỏo…bởi vậy,ngụn ngữ cú cỏi ảo diệu, mờ hoặc mang màu sắc tụn giỏo, gần gũi với tớn
Trang 6ngưỡng dân gian”; “ Giàn thiêu có những trang viết kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ lịch sử và ngôn ngữ tiểu thuyết”; “ngôn ngữ trong Giàn thiêu mang đậm nét
nhân sinh quan Phật giáo, ngôn ngữ mang màu sắc triết luận”…[21]
Thạc sĩ Ngô Quỳnh Nga trong bài viết Sự đan cài các lớp ngôn ngữ
trong tiểu thuyết lịch sử sau 1975 đăng trên Tạp chí Sông Hương đã rút ra
một số đặc điểm chính về ngôn ngữ tiểu thuyết lịch sử sau 1975 từ các cuốn
tiểu thuyết được đánh giá cao như Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Giàn
thiêu (Võ Thị Hảo), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh)… Trong đó, tác giả cũng đã chỉ ra một số đặc
điểm của ngôn ngữ tiểu thuyết Giàn thiêu đặt trong sự tương đồng gặp gỡ với
các cuốn tiểu thuyết khác Các đặc điểm đó là: ngôn ngữ mang tính quyphạm, cách viết theo sử biên niên (Ngày, tháng năm chính xác cụ thể) ngônngữ Phật giáo đầy ắp trong tác phẩm, tác giả gọi những đặc điểm đó là lớpngôn ngữ quan phương, cổ kÝnh, lớp ngôn ngữ này đan xen với lớp ngôn ngữđời sống giản dị, nhiều màu sắc và lớp ngôn ngữ mang màu sắc triết luận
2.3 Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã có những nhận xét sâu sắc vàtinh tế về ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại ở tầm kháiquát Tuy nhiên họ lại chưa đi sâu vào việc nghiên cứu tìm hiểu về ngôn ngữ
trong tiẻu thuyết Giàn thiêu nói riêng và càng chưa có sự quan tâm đến vấn đề ngôn ngữ của nhân vật nữ trong tiểu thuyết Giàn thiêu Theo chúng tôi, ngôn ngữ của nhân vật nữ trong tiểu thuyết Giàn thiêu là một vấn đề đáng được
quan tâm đúng mức và nó có vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dungcũng như tư tưởng nghệ thuật, quan niệm nhân sinh của nhà văn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Như tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là khám phá, tìm
hiểu ngôn ngữ nhân vật nữ trong tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo
-một phương diện đặc sắc thể hiện tài năng nghệ thuật của nữ nhà văn
3.2 Với mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:
Trang 7Thứ nhất, giới thuyết các khái niệm có liên quan đến đề tài, làm rõ nội hàmcủa các khái niệm và xem đó là công cụ để soi vào đối tợng nghiên cứu.
Thứ hai, khảo sỏt, thống kờ, phõn loại để chỉ ra đặc điểm của ngụn ngữnhõn vật nữ trờn cỏc cấp độ ngụn ngữ: từ, cõu; cú sự so sỏnh đối chiếu vớingụn ngữ nhõn vật nam để rỳt ra những sự khỏc biệt từ gúc nhỡn đặc trưnggiới tớnh trong ngụn ngữ
Thứ ba, đi sõu giải mó ý nghĩa của ngụn ngữ nhõn vật nữ trong việc thểhiện tớnh cỏch nhõn vật, trong việc thể hiện nội dung tư tưởng tỏc phẩm vàgúp phần làm nổi bật phong cỏch nghệ thuật của nhà văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu
4.1 Đối tượng nghiờn cứu của đề tài là ngụn ngữ cỏc nhõn vật nữ trong
tiểu thuyết Giàn thiờu của Vừ Thị Hảo.
4.2 Trong tiểu thuyết Giàn thiờu của Vừ Thị Hảo cú khỏ nhiều nhõn
vật nữ Do hạn chế về thời gian, chỳng tụi giới hạn phạm vi khảo sỏt chủ yếu
là ngụn ngữ của bốn nhõn vật chớnh: Nhuệ Anh (sư bà chựa Trầm), Nguyờnphi Ỷ Lan, Lờ Thị Đoan, Ngạn La Cũn ngụn ngữ cỏc nhõn vật nữ khỏc như:Tụn Trinh phu nhõn (mẹ Nhuệ Anh), Từ Vinh phu nhõn (mẹ Từ Lộ), Dươngthỏi hậu, Lệ thiờn Hoàng hậu, chị chủ quỏn, Thỏi sư phu nhõn, Diờn thành hầuphu nhõn, cụ hầu gỏi, bà mối, Sựng hiền hầu phu nhõn…, chỳng tụi tiến hànhkhảo sỏt để lấy kết quả tổng quan chứ khụng đi sõu làm rừ Chỳng tụi sẽ tiếnhành khảo sỏt ngụn ngữ của một số nhõn vật nam để làm tư liệu so sỏnh vớingụn ngữ nhõn vật nữ như: Lý Trỏc, Từ Lộ - Từ Đạo Hạnh - Lý Thần Tụng
5 Phương phỏp nghiờn cứu
Trước một đối tượng như vậy, khoỏ luận sẽ ỏp dụng một số phươngphỏp nghiờn cứu sau đõy:
5.1 Phương phỏp thống kờ ngụn ngữ học: cỏc ngữ liệu cần thiết sẽđược tập hợp bằng sự khảo sỏt kĩ lưỡng và thống kờ đầy đủ theo yờu cầu cụthể của từng chương, từng mục Phõn tớch định lượng làm cơ sở cho nhận xộtđịnh tớnh để làm rừ bản chất cỏc vấn đề trọng tõm
Trang 85.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu: khoá luận sẽ tiến hành so sánh vềngữ liệu và kết quả phân tích, tổng hợp giữa đối tượng nghiên cứu (ngôn ngữ
nhân vật nữ trong Giàn thiêu) với các đối tượng có liªn quan (ngôn ngữ nhân vật
nam trong cùng tác phẩm) để rút ra những kết luận giá trị xác thực
5.3 Phương pháp hệ thống: trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi luônluôn xem đối tượng là một hệ thống nằm trong một hệ thống khác, bao gồmnhiều thành tố có quan hệ hữu cơ, tinh vi, có sự vận động theo những quy luậtđặc thù Hướng xử lí tư liệu và những khái quát của khoá luận sẽ cố gắng tuânthủ tối đa phương pháp nghiên cứu này
6 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1 Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2 Đặc điểm từ, câu của ngôn ngữ nhân vật nữ trong tiểu thuyết
Giàn thiêu của Võ Thị Hảo
Chương 3 Hiệu quả biểu đạt của ngôn ngữ nhân vật nữ trong tiểu
thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo.
Trang 9Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Tiểu thuyết lịch sử và đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch
sử Việt Nam sau 1975
Phan Cự Đệ chỉ ra những đặc trưng của tiểu thuyết lịch sử, so sánh nhiệm
vụ của nhà viết sử với nhà viết tiểu thuyết lịch sử, khẳng định “trong quá trìnhsáng tác, các nhà viết tiểu thuyết vừa phải phát huy cao độ vai trò của hư cấusáng tạo nghệ thuật” [10; 107] và “nhà nghệ sĩ sẽ dùng quyền sáng tạo và hư cấu
để bổ sung cho những chi tiết, những thời kì mà lịch sử không nói đến Dựa trênvốn sống và tài liệu lịch sử, nhà nghệ sĩ phải tưởng tượng và bổ sung cho vô sốnhững điểm trắng” [10; 166] Nghĩa là viết tiểu thuyết lịch sử, nhà văn khôngphải tái hiện lại toàn bộ sự thật đã diễn ra và được sử sách ghi lại “không nhấtthiết phải viết y chang như thật, có thể pha trộn nửa thật, nửa ảo và có quyềnphóng đại thực tế lên đến mức tiểu thuyết” [24; 10] Bởi vậy mà có hiện tượngcùng viết về một giai đoạn lịch sử nhưng mỗi nhà văn lại hư cấu theo một cáchriêng làm nên sức hấp dẫn riêng của từng tác phẩm Ngòi bút của người nghệ sĩ
đi vào khám phá phần khuất lấp của lịch sử, những “điểm trắng” trong lịch sử
Đó là những mảnh đất cho nhà văn bày tỏ suy tư của mình về các vấn đề lịch sử,
về cuộc đời và số phận con người
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại đã có nhiều tác phẩm gây được
sự chú ý với người đọc như: Vằng vặc sao Khuê (Hoàng Công Khanh), Bão
Trang 10táp triều Trần (Hoàng Quốc Hải), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Giàn Thiêu (Võ Thị Hảo)… Sự ra đời của
hµng loạt cuốn tiểu thuyết trên đã cho thấy quan niệm về tiểu thuyết lịch sử cónhững thay đổi so với giai đoạn trước Với quan niệm rộng mở hơn, “tiểuthuyết lịch sử bao hàm cả dã sử, huyền sử, thậm chí là phản lịch sử, là sự tổnghợp nhiều chủ đề, có thể chỉ xuất hiện khung cảnh lịch sử, tùy theo trí tưởngtượng nhà văn mà hư cấu nhân vật và không nhất thiết nhân vật đó phải đóngvai trò trung tâm trong tiến trình lịch sử Sự nới rộng quan niệm đó dẫn đếnviệc tiểu thuyết lịch sử lấn sân sang nhiều địa hạt khác, nghĩa là nó dung nạp
cả tiÓu thuyết sử thi, tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyếtlãng mạn…” [21]
Theo quan niệm của Đỗ Hải Ninh thì dù lối viết hiện đại hay truyềnthống, trung thực với chính sử hay giả lịch sử, thể hiện chủ đề lịch sử qua việctái hiện lịch sử hay tư tưởng nhân sinh nào khác, tiểu thuyết hiện diện yếu tốlịch sử không hạn chế khả năng và tự do sáng tạo của nhà văn đều được coi làtiểu thuyết lịch sử
1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1975
Văn học Việt Nam từ sau 1975, đặc biệt là sau Đại hội VI của Đảngnăm 1986 đã có những đổi mới mang tính đột phá trên mọi phương diện,trong đó có ngôn ngữ Viết về đề tài lịch sử trong bối cảnh mới, các nhà vănsau 1975 không chịu núp mình sau lớp vỏ ngôn ngữ cũ kĩ, khuôn sáo nhưtrước Có thể khái quát thành ba đặc điểm chính của ngôn ngữ tiểu thuyết lịch
sử Việt Nam sau 1975 như sau:
1.1.2.1 Ngôn ngữ quan phương, cổ kính
Tiểu thuyết lịch sử là những tác phẩm lấy các sự kiện, biến cố, nhân vậtlịch sử làm đề tài, cảm hứng sáng tạo Đó là những sự việc, con người củamột thời đã qua, cách chúng ta hàng thể kỉ Nhiệm vụ của nhà văn là phảiphục dựng lại được không khí của thời đại đó, phân biệt con người hôm qua
Trang 11với con người hôm nay Bởi vậy ngôn ngữ quan phương, cổ kính không thểthiếu trong bất cứ cuốn tiểu thuyết lịch sử nào Ngôn ngữ này được sử dụngtrong cả lời của nhân vật và lời của người kể chuyện Câu chuyện trong cáctiểu thuyết lịch sử thường là về một vương triều nào đó, gắn với những ôngvua, bà hoàng cụ thể Nghĩa là các sự kiện và con người trong tiểu thuyết lịch
sử hấu hết đều liên quan đến đời sống cung đình Vì vậy nên ngôn ngữ cungđình, quan phương được sử dụng với tần số lớn Mỗi nhân vật trong tác phẩmđều gắn với một chức phận, một triều đại nhất định Người viết tiểu thuyếtlịch sử phải giúp người đọc nhận biết được đặc điểm ngôn ngữ, tâm lí của conngười thời đại đó Từ vua đến quan đều phải giao tiếp với nhau bằng một thứngôn ngữ mang tính quy phạm, tương xứng với địa vị của mỗi người Dù làmột ông già gần đất xa trời hay là một đứa trẻ lên ba đã lên ngôi vua đều xưng
là “Trẫm”, “ta” một cách rất trịnh trọng Còn những kẻ bề dưới khi xưng hôvới bề trên đều phải xưng là “thần”, khi nói phải “xin”, “tâu” rất cung kính.Lối ăn nói quy phạm ngấm vào mối quan hệ riêng tư nhất (anh em, yêuđương…)
Viết về một thời quá khứ xa xưa của dân tộc, các tác giả tiểu thuyết lịch
sử sau 1975 đã tạo nên một không khí chân thực cho tác phẩm qua việc ghi lạicác mốc thời gian lịch sử Các sự kiện lịch sử được đánh dấu bằng những mốcthời gian chính xác như: Năm Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất,
Mậu Thìn (Hồ Quý Ly); “Đinh Mùi, tháng Chạp Ngày Ất Dậu, giờ Dần”,
“Hội Tường, đại khánh năm thứ nhất”, “Mậu Thìn, Thiên Chương Bảo Tự
năm thứ tư”… (Giàn thiêu) ;“Đầu năm Mậu Tý”, “năm Tân Mão(1771)”,
“tháng 3 năm Bính Thân (1776), Nhạc xưng vương”, “ngay sau khi nghe tinquân Thanh xâm lấn Bắc Hà, vua Quang Trung cấp tốc ra lệnh xuất quân raBắc ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), ngày 29 ra đến Nghệ An”…
(Sông Côn mùa lũ)… Đây là cách viết quen thuộc của sử biên niên Cách viết
này còn giúp người đọc hình dung cụ thể hiện thực của từng thời kì lịch sử
Trang 12hiện lên, phơi bày toàn bộ những sóng gió trong đời sống triều chính ở một xãhội phong kiến phương Đông.
Ngôn ngữ quan phương cổ kính còn được thể hiện trong hệ thống ngônngữ mang màu sắc tôn giáo Do đặc điểm lịch sử riêng, nhiều tôn giáo củanước ngoài đã du nhập vào Việt Nam Người Việt đã tiếp nhận các tôn giáo
đó một cách có chọn lọc, phù hợp với tâm lý, nếp sống của mình Mỗi triềuđại gắn với sự phát triển của những tôn giáo, học thuyết nhất định Bởi vậy,
sử dụng hệ thống thuật ngữ mang màu sắc tôn giáo cũng là một cách tái hiệnlại không khí của thời đại đó Thời Lý ghi nhận sự phát triển của đạo Phật
Bởi vậy trong tiểu thuyết Giàn thiêu, nhà văn Võ Thị Hảo đã sử dụng đầy ắp ngôn ngữ Phật giáo Tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh kể về
giai đoạn lịch sử thể kỉ XIV - XV, đó là thời kì cực thịnh của Nho học Nêntrong tác phẩm, những lời tấu trình, những lời trò chuyện của nhân vật đều
viện dẫn sách vở kinh điển của Nho gia Tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của
Nguyễn Mộng Giác viết về thời đại Tây Sơn Đó là thời kì phong trào nôngdân khởi nghĩa diễn ra rầm rộ, Nho học bước vào buổi cuối mùa Ngôn ngữcung đình, Nho - Phật do vậy chỉ còn rơi rớt nơi cung vua phủ chúa điêu tàn,rệu rã và trong lời những nhà Nho thất thế…
Như vậy, ngôn ngữ quan phương cổ kính có vai trò rất quan trọng trongcác tiểu thuyết lịch sử Ngôn ngữ này mang lại hơi thở thời đại cho các tiểuthuyết lịch sử, thuyết phục người đọc bằng những chứng cứ cụ thể, chi tiết.Đồng thời nó còn là phương tiện khám phá đời sống bên trong của các vươngtriều và trong tâm hồn con người
1.1.2.2 Ngôn ngữ đời sống giản dị, nhiều màu sắc
Nếu như chỉ sử dụng ngôn ngữ quan phương cổ kính thì tiểu thuyết lịch
sử sau 1975 sẽ chẳng khác gì một cuốn sử biên niên thuần tuý ghi chép, mô tảlại các sự việc Và như thế, mỗi cuốn tiểu thuyết lịch sử sẽ giống như mộtcuốn sách giáo khoa lịch sử chứa đầy những chi tiết khô khan, kinh viện.Người đọc chỉ thấy được lớp vàng son bề ngoài của nó mà không hiểu hết
Trang 13được bản chất bên trong Việc đưa ngôn ngữ đời sống vào trong tác phẩm cóthể xem là một hành động phá cách, vượt chuẩn của các nhà văn viết về đề tàilịch sử sau 1975 Ngôn ngữ quan phương cổ kính tạo cho người đọc niềm tinvào sự có thật của các chi tiết được kể, còn ngôn ngữ hiện đại giản dị lại giúpngười đọc được sống trong không khí thật của câu chuyện, cảm nhận được sựgần gũi thân quen trong từng lời kể, làm sống dậy “những xác chết biên niênsử” Điều quan trọng hơn là với ngôn ngữ này, người viết có điều kiện đi sâukhám phá thế giới tâm hồn sâu kín, đầy ngõ ngách của con người Toàn bộbản chất của con người theo lời nói được bộc lộ ra Từ đây, những “nghi vấn”lịch sử cũng được giải thích một cách thoả đáng, thuyết phục hơn.
Trong tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ, ngôn ngữ đời thường chiếm tuyệt
đối Các nhân vật chính trong tác phẩm đều xuất phát từ tầng lớp thường dân
áo vải Nguyễn Nhạc trước khi trở thành vua Thái Đức đã phải xoay sở đủnghề, từ khai khẩn đất hoang, buôn nguồn, đến làm chức đốc thuế để nuôi em
và tạo dựng cơ nghiệp Vua Quang Trung trước đó cũng chỉ là một trí thứcbình dân Bởi vậy, cách nói năng của họ rất tự nhiên, tho¶i mái thậm chísuồng sã, không khác gì dân thường
Trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly, khoảng cách sử thi của sự kiện lịch sử và nhân vật đã được thu hẹp nhờ ngôn ngữ đời thường tự nhiên, sống động Hồ
Quý Ly là một kẻ quyền biến, cả gan, dám nghĩ dám làm Trong những lời
tranh luận về chính sự, thời cuộc, ông luôn bộc lộ cá tính ngang tàng, bướngbỉnh, quyết đoán Khi giận dữ ông dùng cả những lời nói báng bổ: “Chu Hi làcái đếch gì! Thuần một lũ ăn cắp văn mà thôi! ”
Tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn không còn kiểu ngôn ngữ cổ kính, quy
phạm Toàn bộ tác phẩm là thứ ngôn ngữ tự nhiên như lời nói hàng ngày.Cách nói của phương Tây du nhập và được lớp trẻ sử dụng: “Toa về đây đãlâu chưa? Sao chẳng đến nhà mình? Moa tưởng toa còn lâu mới về?”
Ngôn ngữ đời sống giản dị, sinh dộng ngày càng chiếm ưu thế trong
Trang 14thi, giúp người đọc khám phá lịch sử ở bề sâu, bề xa của nó Lịch sử khôngcòn là vật để thờ cúng mà chính là cuộc sống sinh động, tươi nguyên
1.1.2.3 Ngôn ngữ mang màu sắc triết luận
Tác phẩm văn học suy cho cùng là “nơi kí thác, nơi khẳng định quanđiểm nhân sinh, lí tưởng thẩm mĩ” của nhà văn Lấy đề tài lịch sử làm cảmhứng sáng tạo, các nhà văn sau 1975 không chỉ dừng lại ở việc minh hoạ lạibức tranh lịch sử làm phương tiện chuyển tải những quan điểm của mình vềquá khứ và hiện tại Điều này đã tạo ra hình thức ngôn ngữ mang màu sắctriết luận cho tác phẩm Ngôn ngữ triết luận chủ yếu xuất hiện trong lời đối
thoại và độc thoại nội tâm của nhân vật Nhân vật Nguyễn Huệ trong Sông
Côn mùa lũ thường có những lời đối thoại thẳng thắn với thầy giáo Hiến để
tìm ra chân lí Nhiều nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly thường sống trong
dòng độc thoại nội tâm Đó chính là lúc họ đối diện với chính mình, bày tỏnhững suy nghĩ thật của mình về cuộc đời và con người Nhân vật Hồ NguyênTrừng cảm nhận cung đình là nơi đầy phức tạp và bất ổn: “Điều quan trọng
mà tôi nhận ra ở chỗ sân khấu quyền quý, hoa lệ này đó là sự giành giật, sựvật lộn không khoan nhượng, nó thường hằng rộng khắp, một nụ cười, mộtcái chào, một khoé mắt cũng phải coi chừng” Ngoài ra nhà văn còn sử dụngnhiều câu hỏi tự vấn vừa để nhân vật tự phơi bày dòng ý thức của mình, vừatạo điều kiện cho người đọc tự suy ngẫm, kiến giải
Ngôn ngữ triết luận trong các tiểu thuyết lịch sử sau 1975 không phải lànhững lời giảng giải khô cứng, khuôn mẫu Ngôn ngữ này được nhà văn sửdụng thông qua những từ ngữ giàu tính hình tượng và kết hợp nhiều hình thứclinh hoạt như: đối thoại, đéc thoại, câu hỏi nghi vấn… làm cho cảm hứng triếtluận được bộc lộ một cách tự nhiên, hấp dẫn Ngôn ngữ mang màu sắc triếtluận đã giúp người viết có thể bộc lộ một cách kín đáo những suy ngẫm củamình về các vấn đề của quá khứ và hiện tại Đồng thời ngôn ngữ này cũng tạo
ra những khoảng trống để người đọc cùng suy ngẫm, lí giải các vấn đề
Trang 15Sự kết hợp các hình thức ngôn ngữ đã đem lại sự khởi sắc cho tiểuthuyết lịch sử sau 1975 Sự đổi mới trong ngôn ngữ tiểu thuyết lịch sử sau
1975 gắn với nhu cầu dân chủ hoá về ngôn ngữ, về nghệ thuật, nhu cầu bìnhđẳng khách quan với lịch sử Sự đối mới này cho thấy các nhà văn sau 1975
đã không ngừng bứt phá làm mới mình, mạnh dạn thể nghiệm những hướng
đi mới Đó là những nỗ lực đáng trân trọng và hứa hẹn nhiều thành công
1.2 Nhân vật văn học và ngôn ngữ nhân vật
1.2.1 Nhân vật văn học
Nhân vật văn học là chủ thể phản ánh của tác phẩm văn học Nhân vậtvăn học được xem là linh hồn của tác giả gửi gắm trong đó những ý tưởng đểtruyền đạt bức thông điệp về cuộc sống nhân sinh, xã hội
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Nhân vật văn học (tiếng Anh là
Character, tiếng Nga là Personazh) là con người cụ thể được miêu tả trong tácphẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anhPha…), cũng có thể không có tên riêng như “thằng bán tơ”, “một mụ nào”
trong Truyện Kiều Trong truyện cổ tích, ngụ ngôn, đồng thoại, thần được đưa
ra để nói chuyện con người Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụngnhư một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượngnổi bật nào đó trong tác phẩm Chẳng hạn có thể nói: nhân dân là nhân vật
chính trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, đồng tiền là nhân vật chính trong Ơgiêni Gơrăngđê của Bandắc.
Nhân vật văn học là một đơn vị đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nóvới con người có thật trong đời sống
Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của conngười Do tính cách là một hiện tượng xã hội, lịch sử nên chức năng khái quáttính cách của nhân vật văn học cũng mang tính lịch sử Trong thời cổ đại xaxưa, nhân vật văn học của thần thoại, truyền thuyết thường khái quát năng lực
và sức mạnh cña con người (Nữ Oa đội đá vá trời, Lạc Long Quân và Âu Cơ
Trang 16chia giai cấp, nhân vật của truyện cổ tích lại khái quát các chuẩn mực giá trịđối kháng trong quan hệ giữa người và người như thiện với ác, trung với nịnh,thông minh với ngu đần…
Vì tính cách là kết tinh của môi trường, nên nhân vật văn học là ngườidẫn dắt đéc giả vào các môi trường khác nhau của đời sống
Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ củanhà văn về cong người Vì thế nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm
Nhân vật văn học được miêu tả qua các biến cố, xung đột, mâu thuẫn
và mọi chi tiết các loại Đó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu thuẫngiữa nhân vật này với nhân vật kia, giữa tuyến nhân vật này với tuyến nhânvật khác Cho nên, nhân vật luôn luôn gắn liền với cốt truyện Nhờ được miêu
tả qua xung đột, mâu thuẫn, nên khác với hình tượng hội hoạ và điêu khắc,nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động, có tính cách được béc lộ dầntrong không gian, thời gian mang tính chất quá trình
Từ những góc độ khác nhau có thể chia nhân vật văn học thành nhiềukiểu loại khác nhau
- Dựa vào vị trí đối với nội dung cụ thể, với cốt truyện của tác phẩm,nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính và nhân vật phụ
- Dựa vào đặc điểm của tính cách, việc truyền đạt lí tưởng của nhà văn,nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện
- Dựa vào thể loại văn học, ta có nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình, nhânvật kịch
- Dựa vào cấu trúc hình tượng, nhân vật được chia thành nhân vật chứcnăng (hay “mặt nạ”), nhân vật ngoại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng
Các nhân vật văn học cụ thể trong thực tế văn học hết sức đa dạng, sựphân chia trên chỉ nhằm nhấn mạnh đặc trưng cơ bản, phục vụ một yêu cầunghiên cứu nhất đinh, xuất phát từ một trong nhiều góc độ tiếp cận các nhânvật văn học Cần nhớ rằng mọi sự phân chia đều mang tính tương đối”
[13; 235-236]
Trang 171.2.2 Ngôn ngữ nhân vật
Ngôn ngữ nhân vật là “lời nói của nhân vật trong các tác phẩm thuộc cácloại hình tự sự và kịch Ngôn ngữ nhân vật là một trong các phương tiện quantrọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhân vật Trongtác phẩm, nhà văn có thể cá thể hoá ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách: nhấnmạnh cách đặt câu, ghép từ, lời phát âm đặc biệt của nhân vật, cho nhân vật lắplại những từ, câu mà nhân vật thích nói kể cả từ ngoại quốc và từ địa phươngv.v… Trong các tác phẩm tự sự, nhà văn còn thường trực tiếp miêu tả phongcách ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật Dù tồn tại dưới dạng nào hoặc được thểhiện bằng cách nào ngôn ngữ nhân vật bao giờ cũng phải đảm bảo sự kết hợpsinh động giữa cá thể và tính khái quát, nghĩa là một mặt, mỗi nhân vật có mộtngôn ngữ mang đặc điểm riêng, có “lời ăn tiếng nói” riêng; mặt khác, ngôn ngữ
ấy lại phản ánh được ngôn ngữ của một tầng lớp người nhất định, gần gũi vềnghề nghiệp, tâm lí, giai cấp, trình độ văn hoá v.v… Ngôn ngữ nhân vật là phạmtrù lịch sử Trong văn học trung đại, do ý niệm cá nhân chưa phát triển, nó chưa
có được sự cá thể hóa sâu sắc và chưa phân biệt với ngôn ngữ tác giả Với chủnghĩa hiện thực, ngôn ngữ nhân vật được coi là một đối tượng miêu tả, cá tínhhoá trở thành một yêu cầu thẩm mĩ” [13; 183]
Trong sáng tạo văn xuôi, các nhà văn luôn có ý thức khai thác tối đakhả năng của ngôn ngữ nhân vật trong việc thể hiện tính cách, tâm trạng, sốphận nhân vật Bởi lẽ ngôn ngữ là một căn cứ quan trọng để biểu đạt phẩmchất và tính cách của nhân vật, đồng thời nó hé mở chó người đọc hiểu thêmmột số khía cạnh trong quan niệm nghệ thuật về con người mà tác giả muốntrình bày thông qua nhân vật Ngôn ngữ nhân vật là lời nói của nhân vật trongtác phẩm văn học Đó có thể là lời nói trực tiếp thể hiện ngay trong đối thoại,trong những mẫu hội thoại giữa các nhân vật (ngôn ngữ đối thoại), đó cũng cóthể là tiếng nói tinh thần trong những đoạn độc thoại nội tâm, trong nhữngdòng suy nghĩ, dòng cảm xúc hay tư tưởng mà nhân vật trải qua (ngôn ngữ
Trang 181.2.2.1 Đối thoại
Đối thoại là hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vậttrực tiếp trong ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tơng tác qua lại về hành vingôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định
Bakhtin trong Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Đôtxtôiepxki đã chỉ ra
rằng “không thể chiếm lĩnh con ngời nội tâm, nhìn thấy và hiểu nó, biến nóthành khách thể của một sự phân tích vô can, trung tính Không thể chiếm lĩnh
nó bằng cách hòa nhập với nó và khám phá nó, đúng hơn là buộc nó tự bộc lộ,chỉ có con đờng đối diện với nó bằng đối thoại” Ngôn ngữ đối thoại cũng làmcho chân dung các nhân vật hiện lên một cách sinh động, chân thực trong sự t-ởng tợng của ngời đọc Sinh động vì lời nói của nhân vật có giọng điệu độc
đáo nh mỗi ngời ở ngoài đời
Bức tranh tâm trạng của nhân vật trong mỗi cuốn tiểu thuyết chính là sự
đan dệt của những cảm xúc, trạng thái, tâm t Theo dõi nhân vật là lắng nghehơi thở thổn thức của trái tim độc những ý nghĩ đợc dẫn dắt bằng lí trí Đốithoại giữa các nhân vật không chỉ là hình thức giao tiếp mà là đối tợng đợcmiêu tả, góp phần thể hiện tâm lí nhân vật Đối thoại trở thành tiền đề chonhững độc thoại nội tâm nhân vật
1.2.2.2 Độc thoại nội tõm
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học thì độc thoại là lời phát
ngôn của nhân vật nói với chính mình, hớng về bản thân nó và “không đòi hỏi
sự đáp lại, độc lập với phản ứng của ngời tiếp nhận”[28; 51] Trong độc thoại,lời nói của nhân vật không trực tiếp chịu ảnh hởng, tác động của ngời nghe Vìvậy, hớng đích giao tiếp của độc thoại là do chính nhân vật tự đặt ra và tự bảnthân nó giải quyết một cách độc lập
Độc thoại nội tõm là một khỏi niệm được sử dụng rộng rói và phổ biếnnhưng cỏch hiểu về nú đó khụng phải hoàn toàn thống nhất Lại Nguyờn Ân
trong 150 thuật ngữ văn học cho rằng: “Độc thoại nội tõm là phỏt ngụn của
nhõn vật núi với bản thõn mỡnh, trực tiếp phản ỏnh quỏ trỡnh tõm lớ bờn trong
Trang 19kiểu độc thoại thầm (hoặc lẩm bẩm) mô phỏng suy nghĩ cảm xúc của conngười trong dòng chảy trực tiếp của nó” [2; 127] Ở một phương diện khác,Môtưlêva lại cho rằng, độc thoại nội tâm xuất hiện như diễn từ không biểu đạtthành lời của các nhân vật, hoặc như diễn từ của tác giả, nhân danh mình mànói nhưng có thể coi như mượn từ vựng và giọng điệu của nhân vật, hoặc nhưđối tho¹i bên trong giọng nói của nhân vật bị xẻ làm đôi thành hai giọng phânbiệt và đối nghịch, nó xuất hiện dưới hình thức một chuỗi kết luận có tổ chứccũng như qua ý kiến mơ hồ và hỗn loạn Như vậy độc thoại nội tâm thực chất
là thể hiện ý nghĩ của nhân vật tiếp cận khái niệm trên phương diện này.Môtưlêva đã có cái nhìn sâu sắc, cụ thể hơn bởi: “Sự sống đích thức của nhâncách chỉ có thể tìm hiểu bằng cách thâm nhập vào nó dưới dạng đối thoại, một
sự đối thoại mà cá nhân tự nó sẽ bộc lộ bản thân một cách tự do để đáp lại”.Nhà tâm lí Mỹ - Giêmx cho rằng: ý thức là một dòng chảy, dòng sông trong
đó các ý nghĩ, cảm giác, các liên tưởng bất chợt thường xuyên xen nhau, thaynhau và đan bện vào nhau, một cách lạ lùng, phi logic Khai thác triệt để thủpháp nghệ thuật này, các nhà văn hiên thực đã thành công trong việc miêu t¶diễn biến tâm trạng của nhân vật nhằm lí giải, khắc hoạ tính cách, hành đôngcủa nhân vật Bởi đây là cách bộc lộ tâm lí trực tiếp và nhanh nhất khiến nótrở thành một thủ pháp hết sức hiệu quả Trước hết nó tạo được yếu tố kháchquan cho đời sống nhân vật, làm cho hình tượng nhân vật trở nên sinh động,chân thực hơn Nói khác đi, qua độc thoại nội tâm nhân vật được tự sống vớichính mình, phơi bày tất cả tâm tư, tình cảm, suy nghĩ, tự thể hiện “tiểu sửtâm hồn” Thủ pháp nghệ thuật này đánh dấu bước tiến trong nghệ thuật nhânloại, song song và là kết quả của quá trình thay đổi điểm nhìn trần thuật, dịchchuyển điểm nhìn trần thuật vào bên trong Nhà văn không chỉ miêu tả tâm líqua ngoại hiện như khung cảnh sống, hành động, nét mặt… mà còn đọc được
ý nghĩ sâu kín nhất trong lßng nhân vật Đây là một chặng đường mới trongviệc khám phá con người - chân thực và gần gũi hơn
1.3 Tiếp cận ngôn ngữ nhân vật từ đặc trưng giới tính
Trang 201.3.1 Xung quanh vấn đề về giới tớnh trong ngụn ngữ
Giới tớnh vốn được xỏc định là một khỏi niệm sinh học nhưng lại mangtớnh xó hội rừ rệt ở con người, đặc biệt là ở ngụn ngữ Núi một cỏch tổng quỏtthỡ giới tớnh là “những đặc điểm chung phõn biệt nam với nữ, giống đực và giốngcỏi”, nú cũn bao hàm cả “sự thay đổi về quan niệm và đời sống, vị thế ở cả giađỡnh cũng như ở ngoài xó hội giữa nam và nữ” [16; 144] Sự khỏc nhau về giớitớnh dẫn đến sự khỏc nhau về ngụn ngữ giữa mỗi giới
Sự khỏc biệt giới tớnh trong ngụn ngữ đó được quan tõm từ lõu trongkhoa học nhưng phải đến đầu thế kỉ XX, những ấn tượng về nú mới thực sựđược dẫn ra một cỏch cụ thể, cú bằng chứng Trong cuốn “Những cơ sở ngụnngữ học đại cương” (1977) J.Xtờpanov cho rằng: “Khi mà sự phõn chia xó hộitrựng với sự phõn chia theo nguyờn tắc giới tớnh thỡ xuất hiện sự khỏc nhautrong ngụn ngữ của đàn ụng và đàn bà trong một bộ lạc làm theo cả sự khỏcnhau trong ngụn ngữ của nhúm lứa tuổi khỏc nhau” Theo tỏc giả NguyễnVăn Khang [16; 144-145], sự khỏc nhau về ngụn ngữ giữa mỗi giới thể hiện ở
ba vấn đề sau:
1 Cú sự khỏc nhau giữa nam và nữ về cấu tạo cơ thể người, như vị trớcủa phần “chứa” ngụn ngữ ở trong nóo cũng như đặc điểm về sinh lớ cấu õmcủa từng giới
2 Ngụn ngữ để núi về mỗi giới cú khỏc nhau, cú những từ ngữ chỉdựng cho giới này mà khụng thể dựng cho giới kia Chẳng hạn: đàn bà, congỏi, phụ nữ, mang bầu, sinh con, ở cữ, chửa, đẻ, cú thai, phỏi đẹp, phỏi yếu,cho con bỳ… chỉ dung cho giới nữ; ngược lại cú những từ ngữ chỉ dung chonam giới như: con trai, đàn ụng, nam nhi, phỏi mạnh…
3 Ngụn ngữ được mỗi giới dựng cú sự khỏc nhau: để biểu thị cựng mộtvấn đề, nam và nữ cú cỏch sử dụng ngụn ngữ, cỏch diễn đạt khỏc nhau
Ví dụ:
Để thể hiện thái độ tức giận trớc việc một ngời nào đó lại bỏ mẩu bơthừa vào tủ lạnh:
Trang 21Nam giíi thêng nãi: Shit! You’ve put the peanut butter in the
rifrigerator a gain! ( §å r¸c rëi! L¹i bá mÈu b¬ thõa vµo tñ l¹nh råi!).
N÷ giíi thêng nãi: Oh deare! You’ve put the peanut butter in the
rifrigerator a gain! (Trêi ¬i! L¹i bá mÈu b¬ thõa vµo tñ l¹nh råi!).
Trong ba vấn đề trên, vấn đề (1) và (2) là những nguyên nhân kháchquan của sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới, vấn đề (3) là nguyên nhânchủ quan Ở đây chúng tôi chỉ nói đến vấn đề (3), vấn đề có liên quan đến đặcđiểm ngôn ngữ của nữ giới mà chúng tôi đề cập ngay sau đây
Như vậy, giới tính là một vấn đề tự nhiên, thể hiện qua tư duy conngười bằng ngôn ngữ, thông qua những hiện tượng có sẵn trong ngôn ngữ:cấu tạo từ, cách sử dụng, đó là chưa kể đến sự phân biệt qua giọng nói, ngữđiệu Những khác biệt trong ngôn ngữ của mỗi giới đã tạo nên những biến thếcủa một ngôn ngữ xã hội Về phong cách ngôn ngữ của mỗi giới, các nhànghiên cứu đầu tiên đều tập trung khảo sát đặc trưng ngôn ngữ nữ giới và nóthường được đặt trong thể so sánh - dù là không công khai - với đặc trưngngôn ngữ của nam giới
1.3.2 Đặc trưng ngôn ngữ nữ giới
Đặc trưng ngôn ngữ nữ giới tức là sự khác biệt trong cách sử dụng từngữ, cách diễn đạt, giọng điệu… của nữ giới trong sự so sánh với cách thức
sử dụng ngôn ngữ của nam giới, sự khác biệt đó có thể giúp ta “nhận diện”được một phát ngôn bất kì thuộc về nữ giới hay nam giới
Khi chỉ ra sự khác biệt về giới trong ngôn ngữ, ngữ cảnh giao tiếp làmột yếu tố quan trọng, trong đó các nhân tố như nghề nghiệp, trình độ vănhóa, tuổi tác, mục đích của người sử dụng đều có ảnh hưởng đến phong cáchngười nói Theo Nguyễn Văn Khang [16], cùng một vấn đề nhưng cách diễnđạt của nam giới thường mạnh mẽ hơn cách diễn đạt của nữ giới Nam thườngdùng cách nói khẳng định hoặc phủ định một cách dứt khoát còn nữ giới thìlại diễn đạt bằng các cụm từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa (với những từ khẳngđịnh/ phủ định), các cụm từ biểu thị “khả năng” (tức là không dứt khoát) hoặc
Trang 22bằng cách diễn đạt dài hơn, uyển chuyển hơn Nữ giới ít ra lệnh thắng thắnnhư nam giới mà ra lệnh một cách lịch sự, không yêu cầu một cách công khai
mà yêu cầu môt cách kín đáo nhưng không kém phần mãnh liệt và kiên quyết.Trong khi mệnh lệnh của nam giới thường chứa đựng cả quyền lực và sự bắtphục tùng thì nữ giới lại thường bỏ ngỏ sự khẳng định Nữ giới sử dụng đốithoại nhiều hơn nam giới Nhưng chính sự khác biệt trong cách sử dụng ngônngữ giữa hai giới mà “cách diễn đạt của nữ giới lại gây ấn tượng mạnh vàtrong nhiều trường hợp đạt hiệu quả cao hơn nam giới” [16; 161]
Tuy nhiên, đặc trưng ngôn ngữ nữ giới là vấn đề được nhìn nhận trongtừng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, không chỉ ở tính đồng đại mà còn ở tính lịchđại của nó Đặc trưng ngôn ngữ nữ giới gắn liền với những chuẩn mực đánhgiá của mỗi cộng đồng văn hoá - xã hội khác nhau, có sự vận động, biến đổi,
có kế thừa, phát triển qua các thời đại Qua nghiên cứu, khảo sát, phong cáchnói năng của nam giới và nữ giới, tác giả Nguyễn Văn Khang kết luận rằng:
“Ngày nay có nhiều nữ giới sử dụng phong cách nói năng gần như phongcách nói năng của nam giới” [16; 162] Có những từ trước đây chỉ xuất hiện ởnam giới thì nay lại thấy ở nữ giới (các từ đệm: “hừ, thôi đi, đủ rồi, im đi…”).Ngược lại, các kiểu nói “nhũn nhặn” mang đặc trưng ngôn ngữ của nữ giớitruyền thống lại bắt đầu xuất hiện ở nam giới
Như thế, yếu tố giới tính tồn tại trong giao tiếp ngôn ngữ Nó chịu sựtác động của nhiều nhân tố, trong đó hoàn cảnh giao tiếp, sự vận động xã hội,những định kiến thói quen xã hội, đặc điểm tâm - sinh lý, địa vị chức năng xãhội là những nhân tố quan trọng Giới tính tồn tại ở hai chiều: chiều tác độngcủa giới tính đến sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp và chiều thông quagiao tiếp, yếu tố giới tính được bộc lộ
Tiền đề lý thuyết về giới và đặc trưng ngôn ngữ nữ giới đã định hướng
để chúng tôi đi vào nghiên cứu “Ngôn ngữ nhân vật nữ trong tiểu thuyết Giànthiêu của Võ Thị Hảo” có sự đối sánh với ngôn ngữ nhân vật nam để nhậnthấy sự khác biệt có dụng ý trong khi xây dựng các nhân vật nữ có tính cách
Trang 23(bộc lộ trực tiếp qua ngôn ngữ của nhân vật), khẳng định xu thế “nữ quyền”của tác phẩm
1.4 Thế giới nhân vật nữ trong tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo
1.4.1 Vài nét về tác giả Võ Thị Hảo
Võ Thị Hảo sinh năm 1956 ở Diễn Bình - Diễn Châu - Nghệ An Quêhương - mảnh đất xứ Nghệ quanh năm gió Lào khô cằn, khắc nghiệt - đã tạonên cho chị khả năng chịu đựng bền bỉ, kiên cường, dẻo dai Khi nói về quêhương, Võ Thị Hảo thường nói: “Tôi cảm ơn những kỉ niệm, mà đau khổnhiều hơn là hạnh phúc, vì chính chúng đã tạo ra tôi”…
Tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, năm 1977, chị về làmbiên tập viên rồi về làm phó tổng biên tập cho Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc.Năm 1996, chị chuyển sang công tác tại báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh,làm trưởng văn phòng đại diện cho báo này tại Hà Nội Từ báo Phụ nữ Thànhphố Hồ Chí Minh chị chuyển sang đảm nhận vị trí trưởng ban thư kí toà soạn
cho báo Gia đình & Xã hội năm 2000 Rồi chị chuyển sang làm cho Tạp chí
vì trẻ thơ Ở vị trí này không lâu, Võ Thị Hảo lại đột ngột về báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh nơi trước đó chị đã kiên quyết ra đi Cuối năm 2006,
chị xin nghỉ hưu “non” để dành thời gian cho công việc viết lách và đầu tưkinh doanh Cùng với hai cô con gái Uyên Ly và Hạnh Ly, hiện nay chị đanglàm Giám đốc của công ty Văn hoá và truyền thông Võ Thị
Võ Thị Hảo có cuộc sống gia đình không mấy hạnh phúc vì người chồng
mà chị đã tự nguyện kí thác cuộc đời đã không hiểu chị, không đồng cảm vớiniềm đam mê văn chương của chị, mặc dï anh cũng là người trong ngành
Cái tên Võ Thị Hảo xuất hiện chính thức và đều đặn vào thập niên 90,
nổi lên trên văn đàn bởi những truyện ngắn khác lạ như: Người sót lại của
rừng cười, Hồn trinh nữ, Biển cứu rỗi, Vườn yêu… Và gần đây, n¨m 2002,
chị lại làm söng sốt đéc giả bởi cuốn tiểu thuyết dã sử đËm chất “liêu trai” với
cái tên mang cảm giác mạnh Giàn thiêu và sắp tới là cuốn tiểu thuyết Dạ tiệc
quỷ Năm 2005, Nhà xuất bản Phụ nữ tập hợp các sáng tác của chị và cho xuất
Trang 24bản thành 4 tập truyện ngắn là: Hồn trinh nữ, Người sót lại của rừng cười,
Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, Goá phụ đen và một cuốn tiểu
thuyết Giàn thiêu Tháng 11 - 2006, Nhà xuất bản Hội Nhà văn cho ra mắt
bạn đọc cuốn kịch bản phim truyện của chị và được giới chuyên môn đánh giákhá cao
Võ Thị Hảo đã đạt được những giải thưởng như: Giải thưởng cuộc thi
tiểu thuyết và truyện ngắn với tập Biển cứu rỗi (Nhà xuất bản Hà Nội, 1991), giải thưởng 5 năm Văn học Hà Nội với Truyện ngắn chọn lọc Võ Thị Hảo
(Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1995), giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2004
dành cho tiểu thuyết Giàn thiêu.
Mặc dù vào nghề viết văn chưa lâu nhưng Võ Thị Hảo đã nhanh chóngkhẳng định phong cách của mình một “cây bút sắc sảo và giàu nữ tính” “Võ ThịHảo - chỉ nhắc đến tên thôi, người ta cũng đã tưởng tượng ra một nhà văn nữ đầy
cá tính” (Truyền hình Hà Nội - tháng 5/2005) Người đọc có thể tìm thấy trongvăn phong Võ Thị Hảo cái tàn nhẫn chất huyền thoại phảng phất cơn mưaNguyễn Huy Thiệp, bóng mây Phạm Thị Hoài Cay độc và ẩn dụ trở thànhphong trào, thành phong cách thời đại, dấu ấn của thế hệ này Viết, với Võ ThịHảo là truyền lửa từ trái tim mình đến bạn đọc và bằng ngòi bút sắc sảo, tinh tế,tài hoa Do vậy, văn Võ Thị Hảo đã nhanh chóng chinh phục người đọc
Với cuộc đời văn nghiệp trên dưới hai mươi năm, Võ Thị Hảo dườngnhư đã trải lòng mình ra với người đọc “những tâm sự, day dứt không nguôi
về số phận con người, về cuộc đời và nhân tình thế thái” Đọc văn của Võ ThịHảo chúng ta thường buồn, một nỗi buồn có lẫn ngọt ngào và cay đắng Có lẽ
vì thế mà khi một nhà báo hỏi: “Nếu được làm lại từ đầu, liệu sẽ có một VõThị Hảo khác không?” Chị đã trả lời rằng: “Nếu được làm lại từ đầu, có haicách: tốt nhất là không ra đời Nếu ra đời, lại là Võ Thị Hảo nhưng nên ngàothêm mật ong cho cuộc đời đỡ đắng” Có lẽ chính văn chương là vị mật ngọt
ngào cho cuộc đời của chị - một “người đàn bà giấu buồn vµo mắt” (Báo Văn
hoá & Cuộc sống).
Trang 251.4.2 Vài nét về tiểu thuyết Giàn thiêu
Tiểu thuyết Giàn thiêu - cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Võ Thị Hảo - xuất
hiện trên văn đàn vào năm 2002 và đã gây ấn tượng mạnh đối với dư luận Tácphẩm đã được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Néi năm 2004
Để sáng tác nên Giàn thiêu, Võ Thị Hảo đã vừa tìm đến sử liệu trong
Đại Việt sử kí toàn thư về triều Lý Nhân Tông và Lý Thần Tông, võa tìm đến
truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh trong Thiền Uyển tập anh, lại đã dày công hư
cấu, thiết kế lại quá khứ… để tạo nên da thịt liền mạch cho đời sống qóa khứđược dựng lại trong tác phẩm Có thể nói, tác phẩm là sự kết hợp giữa kiếnthức chính sử và d· sử, nhiều giai thoại, huyền tích dân gian hoà trộn với trítưởng tượng của nhà văn, tất cả đã tạo nên bức tranh sống động về một giaiđoạn trong triều Lý vừa hiện thực vừa huyền ảo Với tiểu thuyết này, Võ ThịHảo được coi là người đã có “cuộc bứt phá khi rẽ ra khỏi lối đi quen chân vớichình mình, tạo ra những tầng suy tư không bằng phẳng, một giọng điệu tựnhiên và bình dị hơn
Tác phẩm lấy khung cảnh giai đoạn lịch sử triều Lý Nhân Tông và LýThần Tông (kéo dài từ năm 1088 đến năm 1138) Với chặng đường lịch sửnày tác phẩm chứa đựng số lượng khá lớn nhân vật (gần 80 nhân vật, gồm 57nhân vật lịch sử có thật và hơn 20 nhân vật hư cấu) Tuy nhiên tác phẩm chỉxoay quanh ở một số nhân vật chính như: Từ Lộ - Từ Đạo Hạnh - Lý ThầnTông, Nhuệ Anh - Sư bà chùa Trầm, Nguyên phi Ỷ Lan, Ngạn La, Lê ThịĐoan…; còn những nhân vật khác chỉ nhằm tái hiện lại không khí lịch sử chogiai đoạn đó và tạo điều kiện cho các nhân vật khác bộc lộ tính cách và sốphận
Bên cạnh việc sử dụng lịch sử làm bối cảnh cho câu chuyện, nhà vănđưa ra những kiến giải mới về nhiều nhân vật và những sự kiện đã có tronglịch sử đời Lý Sự kiện có sức ám ảnh sâu sắc nhất đối với người đọc là sựkiện thiêu các cung nữ theo lễ hoả táng vua Từ sự kiện có thật này nhà văn
Trang 26Ỷ Lan vì lòng ghen tuông mà ra tay bức hại Thái hậu họ Dương và 76 cung
nữ trẻ đẹp tạo nên mối hoài nghi về nhân vật lịch sử này vốn đang được ngườiđời truyền tụng ngợi ca về lòng đại nhân, đại đức Hay sự kiện nhà sư Từ ĐạoHạnh đầu thai vào Dương Hoán để được sống kiếp sung sướng, giàu sang thểhiện lòng tham vọng, quyền lực, sắc dục và sự ham hố cõi trần tục… Như vậy,
có rất nhiều sự kiện có thật được tác giả “lộn trái” vấn đề, được “nhận thức lại”đång thời “đó là câu chuyện của ngày hôm nay được khoác chiếc áo bào lịch
sử và dã sử cách đây cả ngàn năm” [25; 5]
Giàn thiêu của Võ Thị Hảo là cuốn tiểu thuyết “hấp dẫn” nhưng không
“dễ đọc” “Cũng như những truyện ngắn của Võ Thị Hảo, cuốn tiểu thuyếtnày đang đi theo con đường riêng của nó, ngấm dần vào trái tim người ta vànhững tầng lớp ngữ nghĩa cũng như những hình tượng nghệ thuật của cuốntiểu thuyết này thường trở đi trở lại và ám ảnh người đọc” [14; 558] Thànhcông của tác giả là đ· bứt phá khỏi cái khung truyền thống và những chế địnhngặt nghèo kìm hãm sự sáng tạo của người nghệ sĩ, thoát khỏi ý thức trungthành tuyệt đối với chính sử và dã sử, đem đến những quan niệm mới mẻ,hiện đại Văn Võ Thị Hảo là “lối văn được tác giả thổi linh hồn Linh hồn đótạo nên những câu văn huyền ảo mê hoặc, thậm chí ma quái” [14; 8]
1.4.3 Thế giới nhân vật nữ trong tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo
Như đã khẳng định, tác phẩm Giàn thiêu không nhằm vào nhận thức
lịch sử mà tập trung chủ đề vào số phận con người dưới sự áp bức của vươngquyền, thần quyền và nam quyền Võ Thị Hảo dành nhiều công sức để xâydựng nhân vật chính của tác phẩm là những nhân vật nữ như nhân vật NhuệAnh - Sư bà chùa Trầm, Lê Thị Đoan, Ngạn La, nguyên phi Ỷ Lan Mỗingười có một số phận, tính cách riêng và mang một vẻ đẹp riêng, nhưng ở họđều toát lên một sức sống nội tại mạnh mẽ làm nổi lên “xu hướng nữ quyền”của tác phẩm
Phần lớn các nhân vật nữ trong tác phẩm đều là nhân vật hoàn toàn hưcấu Nhân vật hư cấu là nhân vật không có thật trong lịch sử, được đặt bên
Trang 27cạnh những nhân vật có thật trong lịch sử, nó có vị trí đặc biệt quan trọng,không chỉ là “thêm phần da thịt cho tiểu thuyết” qua những nhân vật hư cấu,nhà văn dễ dàng chuyển tải tư tưởng của mình và thể hiện chủ đề tác phẩm.Cũng như thế, thông qua những nhân vật hư cấu nói chung và qua những
nhân vật nữ trong Giàn thiêu, Võ Thị Hảo muốn bày tỏ những suy tư, những
cao vọng về cuộc đời Tác giả đã từng bộc bạch: “Rất nhiều thông điệp tôi gửi
vào Giàn thiêu Nhưng một trong những thông điệp quan trọng nhất: khát
vọng tự do và tình yêu Sự trường tồn bất tử của sự thật trước bạo lực vàcường quyền… Những lầm lạc thật dễ thương và đau đớn của kiếp người Tôi
cũng đã gửi đến qua Giàn thiêu những người đàn bà đẹp, mong manh giữa
cuộc đời mà khuôn khổ tình yêu của họ không khớp với một cái khuôn nàocủa hiện thực” [14; 560]
Trong tổng số gần 80 nhân vật thì có 15 nhân vật nữ, trong đó có nhữngnhân vật được tác giả xây dựng một cách công phu, chiếm số trang khá lớntrong tác phẩm như Nhuệ Anh - sư bà chùa Trầm, Ngạn La, Lê Thị Đoan,nguyên phi Ỷ Lan
Nhuệ Anh là một tiểu thư xinh đẹp, thông minh Cả cuộc đời nàng chỉsống vì người khác, dũng cảm và vị tha, cao thượng trong tình yêu, một tấmlòng bao dung với những người nghèo khổ, bệnh tật Nàng như một ngọn giótrong lành mang tình thương đến cho muôn người Nàng trở thành “NgườiĐàn Bà Không Tuổi” [14; 499], đi theo sau bước chân của nàng có cả “dòngngười đàn ông bị vô tình hút theo cái nhìn thăm thẳm” của nàng
Lê Thị Đoan - một người phụ nữ tài giỏi, khí phách - dòng c¶m nóithẳng nãi thật, lên án những quy định vô nhân đạo và sai lầm của triều đình,lên án cường quyền và nam quyền Bà dù cắn lưỡi tự vẫn nhưng linh hồn bàvẫn sống mãi trong lòng mọi người
Ngạn La - một vẻ đẹp tự nhiên, đầy sức sống, một tâm hồn trong trẻo,hồn nhiên, bất diệt Lên giàn thiêu lần thứ hai, nàng không cam chịu cái chết
Trang 28dưới bàn tay đao phủ hay ngọn lửa hung ác, phút cuối nàng bỗng bay lên trờinhư một thiên thần bất tử.
Những nhân vật nữ trên là hiện thân của những vẻ đẹp tinh thần bấtdiệt, vẻ đẹp ấy đã chiến thắng mọi thế lực tội ác man rợ và trở thành bất tử,thể hiện xu hướng nữ quyền rõ ràng của tác phẩm
Bên cạnh những nhân vật hư cấu đó, tác giả còn dành nhiều trang viếtcho một nhân vật cã thật trong lịch sử, đó là nguyên phi Ỷ Lan Võ Thị Hảo
đã rất công bằng khi đánh giá cả công lẫn tội cña nhân vật này Về công, ỶLan là “người đàn bà tuệ mẫn sáng láng, lại quyền biến trong những nămchấp chính trị nước thay đức Thánh Tông đi đánh giặc bình định đÊt phươngNam” [14; 133] Bà từng dìu dắt vua Nhân Tông mới 7 tuổi lên ngôi cai trị đấtnước, lập nhiều chiến công lẫy lừng… Đồng thời bà cũng là một người đàn bàtham vọng, nhỏ nhen tàn nhẫn Để đạt được quyền lực số một trong thiên hạ, bà
đã bất chấp mọi thủ đoạn, sẵn sàng làm bao việc ác, “kẻ nào ngáng đường, dùchỉ là vô tình, kẻ đó phải chết” [14; 235]
Ngoài những nhân vật chính đó, tác giả còn miêu tả khá nhiều các nhânvật nữ khác như: Từ Vinh phu nhân (mẹ Từ Lộ), Tôn Trinh phu nhân (mẹNhuệ Anh), Diên Thành hầu phu nhân, Thái sư phu nhân, Dương Thái hậu,
Lệ thiên hoàng hậu, chị chủ quán (vợ Huệ Mẫn - đồ đệ của Từ Đạo Hạnh),Cảm Thánh phu nhân, bà mối, cô hầu gái… với tính cách khá rõ ràng, thểhiện trực tiếp và chủ yếu qua ngôn ngữ của nhân vật
Các nhân vật nữ đó đều có số phận riêng, tính cách riêng nhưng đều thểhiện vấn đề số phận con người dưới sự áp bức của vương quyền, thần quyền
và nam quyền Các nhân vật này đã làm tăng thêm tính chất tiểu thuyết củatác phẩm Các nhân vật nữ Nhuệ Anh, Lê Thị Đoan, Ngạn La thể hiện xuhướng nữ quyền của tác phẩm Các nhân vật này được cài xen vào các sự kiệnlịch sử, được đặt bên cạnh những nhân vật lịch sử và chi phối tâm lí, đời sốngcủa các nhân vật ấy
Trang 29Tiểu kết chương 1
Như vậy, ở chương 1 chúng tôi đã tiến hành giới thuyết, làm rõ một sốvấn đề, khái niệm có liên quan đến đề tài Chúng tôi xem đó là tiền đề cơ sở
lý thuyết, là công cụ để soi chiếu vào đối tượng nghiên cứu Trong số các vấn
đề đó, chúng tôi đặc biệt coi trọng hai vấn đề: thể loại (tiểu thuyết lịch sử vàđặc điểm của ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử đương đại) và vấn đề giớitính trong ngôn ngữ Hai vấn đề đó chính là “điểm tựa”, là cơ sở lý thuyết chủyếu để chúng tôi có thể đi vào nghiên cứu đối tượng một cách tập trung vàthấu đáo
Trang 30Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TỪ, CÂU CỦA NGÔN NGỮ NHÂN VẬT NỮ
TRONG TIỂU THUYẾT GIÀN THIÊU CỦA VÕ THỊ HẢO
M.Gorki nói: “Ngôn ngữ là công cụ chủ yếu của văn học” (Bàn về văn
học) Văn học là nghệ thuật ngôn từ, do vậy, ngôn ngữ chính là yếu tố thứ
nhất của văn học Đây là điều hiển nhiên, không cần bàn cãi Tuy nhiên, “tiênđề” ấy vẫn còn rất rộng, chưa có giá trị thao tác Muốn hiểu một cách sâu sắc,cặn kẽ bản chất thẩm mỹ của ngôn từ trong tác phẩm văn học cũng như phongcách ngôn ngữ của nhà văn nói chung và ở đây là ngôn ngữ nhân vật nữ nóiriêng, nhất thiết phải gắn nó với thể loại, bởi “mỗi thể loại đòi hỏi một thứngôn ngữ riêng, ngôn ngữ của thể loại ấy” [23] Có thể áp dụng phương pháp
này để xem xét mọi cấp độ ngôn ngữ của nhân vật nữ trong tiểu thuyết Giàn
thiêu của Võ Thị Hảo Trước hết là ở cấp độ từ, câu
2.1 Từ
2.1.1 Từ Hán Việt
Xung quanh khái niệm từ Hán Việt, cho đến nay, trong giới Việt ngữhọc còn tồn tại nhiều quan niệm chưa thống nhất, chúng tôi đã lựa chọn kháiniệm theo chúng tôi là khái quát và chuẩn xác về từ Hán Việt như sau: “TừHán Việt là những từ người Việt vay mượn của tiếng Hán và đọc theo dạngngữ âm của đời Đường, theo cách đọc Hán - Việt” [25] Khi nói đến phongcách của lớp từ Hán Việt là nói đến những đặc điểm trang trọng, tao nhã, kháiquát, trừu tượng, cổ kính… Đó là những cách cảm nhận về mặt ngữ nghĩa từHán Việt trong sự đối lập đồng nghĩa với từ thuần Việt
Khảo sát lớp từ Hán Việt trong tiểu thuyết lịch sử Giàn thiêu là việc làm
cần thiết, bởi lẽ chính lớp từ này sẽ tái tạo hình ảnh các nhân vật và cuộcsống, không khí xã hội ngày xưa, tạo nên bầu không khí lịch sử cho tác phẩm
- đó là điều trước hết cần phải làm được ở một cuốn tiểu thuyết lịch sử Ngoài
Trang 31ra lớp từ Hán Việt còn tạo ra những sắc màu ảo diệu, huyễn hoặc người đọcvào trong thế giới ngôn từ ma mị của Võ Thị Hảo.
Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 237 lời thoại của các nhân vật nữ trongtiểu thuyết Giàn thiêu thì có tới 231 lời thoại có sử dụng từ Hán Việt, có 338
từ Hán Việt với tần số xuất hiện không giống nhau Chúng tôi tiếp tục phânchia 338 từ Hán Việt đó thành nhóm để tiện xem xét phân tích: nhóm từ HánViệt mang tính chất quan phương, nhóm từ Hán Việt mang màu sắc tôn giáo
2.1.1.1 Từ Hán Việt mang tính chất quan phương, cổ kính
Theo cách hiểu thông dụng nhất, từ ngữ quan phương cổ kính là từ ngữđược sử dụng trong cung đình, trong giới quan lại phong kiến, nó mang tínhquy phạm, tương xứng với địa vị của mỗi người
Khảo sát trong 231 lời thoại của các nhân vật nữ có sử dụng từ HánViệt, chúng tôi thống kê có 181 từ ngữ Hán Việt mang tính chất quan phương
cổ kính Lớp từ ngữ này được sử dụng với tần số lớn, với 516 lần xuất hiệntrên tổng số 1250 lần từ Hán Việt nói chung được sử dụng, chiếm tỷ lệ 41.3%
Có thể liệt kê ra một số từ Hán Việt mang tính chất quan phương cổ kính với
tần số xuất hiện như sau: bệ hạ (26), hoàng thượng (20), cung (12), thiếp (9),
triều đình (6), cung đình (7), thâm cung (5), thái hậu (6), triều chính (3), hoàng đế (12), hoàng thái hậu (7), băng (băng hà) (4), hoàng thái phi (2), hoàng tử (1), đế vương (6), kinh thành (6), hoàng thân (3), triều (5), thái sư
(7), tiên đế (6), thái tử (3), hậu cung (2), cửu trùng (2), phụ hoàng (1), hoàng
triều (1), long môn (1), ngân khố (1), yến tiệc (4), bổng lộc (1), tiên vương
(2), màn trướng (1), chiếu (3), xã tắc (1), quan Thái bảo (5), lễ (8), công thần (1), biếm truất (2)…
Trong số các từ ngữ quan phương có một bộ phận các từ ngữ quân sự,
chính trị như: ngự lâm (1), trung quân (3), minh quân (2), trung nghĩa (2),
chính sự (3), quyền lực (2), phản trắc (1), gián quan (1), quốc sự (1), quân pháp (1), kế sách (1), binh (3), quan (5), chinh chiến (1), thông lính (1), tinh
Trang 32binh (1), tam ph¸p (2), quân sĩ (1), tướng (1), tội nhân (1), biến loạn (1), chiến thắng (1), tham tri (1)…
Việc để cho các nhân vật sử dụng từ Hán Việt quan phương, cổ kínhtrong các lời nói của mình, Võ Thị Hảo đã tạo cho nhân vật của mình “sự
®ồng điệu” với thời đại mà các nhân vật ấy tồn tại - triều đại nhà Lý Ngườiđọc do đó vẫn cảm thấy các nhân vật trong tác phẩm là những người của thờixưa Bức tranh câu chuyện lịch sử, do đó sẽ càng chân thực hơn
Tính quy phạm là một đặc điểm không thể thiếu trong ngôn ngữ của cácnhân vật là con người trong xã hội phong kiến Tính quy phạm thể hiện ở sựphân thứ bậc trên - dưới, tôn ti; biểu hiện rõ nhất ở lớp từ xưng hô Nhân vật
Lê Thị Đoan gọi vua là “bệ hạ”, tự xưng mình la “tiện dân”; Ngạn La gọi vua
la “bệ hạ” và tự xưng mình là “thiếp”, Nhuệ Anh sư bà gọi vua là “Hoàngthượng”, “bệ hạ” và xưng mình là “bần ni”… Lớp từ xưng hô đó thể hiện địa
vị của mỗi người trong xã hội phong kiến, nếu vi phạm, lập tức bị khép vàotội khi quân, phạm thượng, lộng ngôn…
Tần số xuất hiện từ Hán Việt trong lời thoại của nhân vật Lê Thị Đoan caonhất so với các nhân vật nữ khác, mật độ từ Hán Việt xuất hiện khá dày đặc,trong 7 lời thoại mà nhân vật này phát ra thì có tới 134 lần xuất hiện từ Hán Việt
tắc man rợ thì sẽ tổn hại khôn xiết đến triều đình và muôn dân [14; 46].
Từ Hán Việt được xem là thuộc ngôn ngữ bác học, ngôn ngữ thuộc vềtầng lớp vua quan, nho sĩ Nên để nhân vật Lê Thị Đoan sử dụng từ Hán Việtnhiều như vậy cũng là phù hợp với tính chất của nhân vật Lê Thị Đoan là mộtnho sĩ, tài năng của bà chẳng thua kém ai Bà giả trai đi thi, muốn đem chúttài của phận gái giúp rập quốc gia và đỗ đầu triều được bổ làm quan Nhưng
Trang 33sau đó bị Lý Trác lập mưu lật tẩy việc giả trai đi thi, bà bị đày đi biệt xứ Bà
là một tài năng “sinh bất phùng thời” Bà gửi vào văn chương những trăn trởcủa mình, những cuốn sách của bà thực sự có giá trị và đó là những cuốn sáchbất tử Bà trở về sau gần 20 năm, trong buổi hỏa thiêu các cung nữ theo vua
Lý Nhân Tông và lên tiếng tố cáo chính sách man rợ của triều đình, bà dõngdạc nói lên những sự thật mà không ai dám nói và dùng cái chết của mình đểcảnh tỉnh vua quan Lê Thị Đoan là nhân vật mang nhiều thông điệp
Vì vậy việc sử dụng những từ ngữ Hán Việt có tính chất quan phương,
cổ kính trong ngôn ngữ các nhân vật nữ trong tác phẩm một mặt tạo nên “tínhlịch sử” cho các nhân vật, họ là những con người của thời đại phong kiến, thờiđại quá khứ nên họ phải dùng ngôn ngữ của thời đại họ, nếu không người đọc
sẽ nhận ra ngay sự “lạc điệu” Mặt khác nó góp phần khắc họa, xây dựngnhân vật với chân dung và tính cách riêng
2.1.1.2 Từ Hán Việt mang màu sắc tôn giáo
Từ Hán Việt là lớp từ vay mượn tiếng Hán gián tiếp qua sách vở chữHán được dạy, học và truyền bá kinh sách Phật giáo ở Việt Nam Do vậy,trong vốn từ tiếng Việt tồn tại một lớp từ mang màu sắc tôn giáo Võ Thị Hảo
đã khéo léo, tài tình sử dụng lớp từ ngữ này vào trong tác phẩm Giàn thiêu để tạo cho ngôn ngữ tác phẩm có cái “ảo diệu, mê hoặc” Trong Giàn thiêu màu
sắc tôn giáo dường như ám ảnh vào toàn bộ hồn cốt câu chuyện, ám ảnh ngay
cả những câu chữ, cả những con người xuất hiện trong tác phẩm
Khảo sát trên 231 lời thoại có sử dụng từ Hán Việt của các nhân vật nữ
trong tiểu thuyết Giàn thiêu, chúng tôi thấy có 125 từ Hán Việt mang màu sắc
tôn giáo, các từ này xuất hiện 355 lần, chiếm tỷ lệ 28.4%, tần số xuất hiện củacác từ khác nhau Có thể liệt kê một số từ Hán Việt mang màu sắc tôn giáo
với tần số xuất hiện như sau: âm phủ (5), oan hồn (4), từ bi (9), tụng niệm (1),
tu hành (4), nghiệp chướng (1), bần ni (12), xuất gia (1), đạo (3), Niết Bàn
(1), khổ nạn (1), giáo hóa (8), chúng sinh (4), đọa xứ (2), gia ân (5), số kiếp (10), đại sư (12), cao tăng (1), tham (1), sân (1), si (1), Phật đạo (4), Phật
Trang 34(11), trai giới (1), tăng ni (2), Phật tử (2), tĩnh tâm (1), thuyết giảng (1), chân
tu (3), Bồ Tát (1), cà sa (1), Atỳ ngục (1), linh thiêng (1), nghiệt duyên (1)…
Việc sử dụng từ Hán Việt mang màu sắc tôn giáo trong ngôn ngữ củanhân vật nữ nói riêng và trong toàn tác phẩm nói chung đã góp phần tái dựnglại không khí của một thời đại lịch sử phong kiến - thời Lý Như tác giả NgôThị Quỳnh Nga đã nhận định: “Mỗi triều đại gắn với sự phát triển của nhữngtôn giáo, học thuyết nhất định Bởi vậy sử dụng hệ thống thuật ngữ mang màusắc tôn giáo cũng là một cách tái hiện lại không khí của thời đại đó Thời Lý
ghi nhận sự phát triển của đạo Phật Bởi vậy trong tiểu thuyết Giàn thiêu nhà
văn Võ Thị Hảo đã sử dụng đầy ắp ngôn ngữ Phật giáo” [22]
Thời Lý, đức Thánh Tông cho tạo tác Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử,Chu Công và Thất thập nhị hiền, Linh Nhân Thái hậu và đức Tiên đế NhânTông đã lập ra hơn một trăm chùa nguy nga lộng lẫy, Phật đạo ngày càng rực
rỡ , khắp nơi nơi đua nhau xây chùa tạo quán, lũ lượt người người nhập chùalàm tăng ni Phật tử Đi đâu cũng bắt gặp bóng áo cà sa cầm bát đợi bố thívàng trực khắp góc chợ sân đình Đó là thời đại mà Phật giáo phát triển rực rỡnhất, Phật giáo được xem là Quốc giáo, “nhân dân quá nửa là sư sãi, trongnước chỗ nào cũng có chùa chiền” (Lê Văn Hưu) Như vậy, việc sử dụngngôn ngữ tôn giáo mà cụ thể là Phật giáo chính là cách để tái hiện lại khôngkhí của thời đại nhà Lý một cách chân thực, chính xác và sâu sắc nhất
Mặt khác, ngôn ngữ mang màu sắc tôn giáo còn tạo ra không khí trongtác phẩm dường như trở nên linh thiêng, huyền bí hơn Một trong nhữngkhông gian nghệ thuật đặc trưng có sức ám ảnh sâu sắc đối với người đọc khi
đọc Giàn thiêu là không gian nghi lễ và sự kiện thiêu các cung nữ Các cung
nữ trẻ đẹp được xem là những kẻ “may mắn” được triều đình đặc biệt chän ra
đÓ đi theo hầu hạ hoàng đế ở cõi cực lạc cho trọn đạo Trước khi lên giànthiêu, họ được các đại sư thuyết giáo về nghĩa vua tôi, sự khổ ải cần phảiđược kết thúc sớm nơi trần thế Các cung n÷ học cách dọn mình bước qua đauđớn thể xác do ngọn lửa mang lại, nhanh chóng nhập vào cõi cực lạc Saunhững lời thuyết giảng đó “nhiều kẻ trong đám cung nữ đã dập đầu cầu mong
Trang 35cho chóng đến cái ngày được bước lên giàn thiêu” [14; 33 - 34] Khung cảnhbên giàn thiêu cung nữ, một bên là những lời tụng kinh rối rít của đám tăng niPhật tử, một bên là cái chết cận kề của bao nhiêu sinh mạng Sự khống chế vềmặt thÓ xác không đáng sợ bằng sự cầm tù về mặt tinh thần Triều đình phongkiến đã chế ngự hoàn toàn tinh thần yếu đuối của họ, dùng sức mạnh củavương quyền, thần quyền và nam quyền bức họ đến cái chết như một sự tựnguyện Không gian nghi lễ vừa làm tăng không khí huyền thoại, vừa làmsống lại những nếp sống văn hoá của người Việt xa xưa, như khá nhiều tiểuthuyết khác đã thể hiện Song chưa ở đâu, nghi lễ bị biến màu rõ rệt như ởđây Hầu như tất cả các nghi lễ trong tác phẩm đều có xu hướng giải thiêng
hoá Lễ hội vốn “linh thiêng hoá sự bất bình đẳng”, nhưng ở Giàn thiêu, các
hình thức lộng lẫy, trang trọng của loại nghi thức này đều bị “phá đám”, dang
dở Tính chất chứ trọn vẹn đưa nó về lại với hiện thực cuộc sống vốn bề bộn,dang dở, xoá nhoà khoảng cách giữa sân khấu và cuộc đời
Chúng tôi nhận thấy, số lượng từ Hán Việt mang màu sắc tôn giáo đượcnhân vật Nhuệ Anh (sư bà chùa Trầm) sử dụng nhiều hơn hẳn các nhân vật nữkhác Điều này có thể lý giải được Như chúng ta đã biết, nghề nghiệp, địa vị
xã hội sẽ tác động đến ngôn ngữ trong khi nói năng của con người Cũng nhưvậy, Nhuệ Anh sau khi đem cả cuộc đời người con gái đặt cược dưới chânngười nàng yêu, nàng mới chợt nhận ra rằng nàng không là một chấm nhỏ nàotrong mục đích tối thượng của Từ Lộ, cái mục đích đã thiêu đốt cả hai kiếpngười, tiểu thư Nhuệ Anh, con nghé lạc đã bỏ nhà, bỏ cha mẹ mà đi đã lao mìnhxuống thác Oán rắp tâm kết liễu những ngày gian khổ Được chàng Cá Bơn cứusống, Nhuệ Anh ở lại căn lều với người đàn ông cá bơn Đến khi nàng lờ mờcảm nhận được tình cảm của chàng Cá Bơn dành cho nàng, nàng đã lặng lẽ ra đi,nàng đã không muốn làm khổ ân nhân của mình Bước chân lưu lạc và nhữngtiếng mỏ đều đều ru ngủ văng vẳng trong không trung đã đưa đẩy nàng tới độngTrầm Nàng xuống tóc Lúc đó nàng xấp xỉ 20 tuổi Căn tu run rủi nàng thành sư
bà Cắn răng tu hành đắc đạo, khinh miệt những cám dỗ của thuyền tình bể ái,những mong thoát khỏi vòng luân hồi bận não của kiếp người Nàng đã nhanh
Trang 36chóng trở thành một sư bà mà Phật đạo của bà được đồn thổi khắp xứ Đoài, vềđến tận kinh kì Nên rằng những kiến thức về Phật đạo bà đã thông thạo Phầnlớn những lời đối thoại của bà là nói với Lý Thần Tông, bàn về Phật đạo, về việcdùng Phật pháp để cai trị đất nước, về việc luân hồi chuyển kiếp của Từ Lộ…Qua những lời đối thoại đó, kiến thức sâu rộng, triết lý uyên thông về Phật đạocủa sư bà Nhuệ Anh được bộc lộ Chẳng hạn những câu sau:
- Vậy thì, nếu Bệ hạ cứ một mực như thế, xin hãy nghe Bần ni chỉ xin nói lại
lời di chúc của đức Phật mà thôi Quyển bốn, Phá tăng sự, đã nói: Lúc Bồ Tát còn là Hoàng tử ở trong cung, khi vui vẻ chơi đùa, hay nói lảm nhảm Một mình,
có ba bà phu nhân và sáu vạn mỹ nữ Ngài nói, nếu ta không làm chuyện tục lậu với họ, e rằng người ngoài nói ta không phải là kẻ trượng phu… [14; 290]
- Theo chỗ bần ni biết, Bệ hạ và những người trong cung cấm, dù vui
chơi, tận hưởng xa hoa thoả chí mà tâm vẫn phiền não Đó là vì chưa xem phép “biết đủ” của đức Phật Cái phép biết đủ tức là cái chỗ vui vÎ, yên ổn Con người biết đủ, dẫu nằm trên đất lạnh vẫn yên vui Kẻ không biết đủ dẫu
ở lầu cao cửa rộng, giữa son phấn ngọc ngà cũng không xứng ý Không biết
là đủ, dù giàu cũng là nghèo Biết đủ, dù nghèo cũng như giàu Kẻ không biết
đủ thường bị ngũ dục lôi đi Người biết đủ lấy thế mà thương xót…! [14;
290]
Lý Thần Tông đã phải thốt lên lời khen ngợi “sư bà thật hiểu nhiều biếtrộng” đối với Nhuệ Anh Nhưng bà không thuộc về cửa Phật Bà là NgườiĐàn Bà Không Tuổi, là ngän gió đơn đéc Bà là Thần nữ, là phù thuỷ củanhững người đàn ông bị vô tình hút theo cái nhìn thăm thẳm của bà Cửa Phậtchẳng dung phù thuỷ, cũng chẳng dung Thần nữ
Như vậy, với việc sử dụng từ Hán Việt mang màu sắc tôn giáo trongngôn ngữ nhân vật nữ đã đem lại thành công cho tác phẩm Cùng với ngônngữ trần thuật, ngôn ngữ mang màu sắc tôn giáo đã phục dựng lại một cáchchân thực bức tranh lịch sử thời Lý với các phong tục, trang phục, tập quán,ngôn ngữ và cả tôn giáo, văn hoá Võ Thị Hảo đã khéo đưa những từ Hán Việt
Trang 37đó vào ngôn ngữ của nhân vật giúp chúng ta hiểu rõ về nhân vật đó Qua đó,chúng ta nhận thấy Võ Thị Hảo quả thực là người am hiểu về Phật đạo
2.1.2 Từ thuần Việt
Trong mọi từ vựng, trừ những từ ngoại nhập ra, phần cơ bản còn lạiđược gọi là lớp từ bản ngữ hay từ lớp từ thuần Chẳng hạn, lớp từ thuần Việt,thuần Nga, thuần Khmer…
Lớp từ thuần Việt là cốt lõi của từ vựng tiếng Việt Nó làm chỗ dựa và
có vai trò điều khiển, cho phối sự hoạt động của mọi lớp từ khác
Cũng như nhiều tác giả khác, khi viết tiểu thuyết lịch sử, Võ Thị Hảo đã
sử dụng chủ yếu thứ ngôn ngữ thuần Việt gần gũi, dễ hiểu với muôn sắc củađời thường, thứ ngôn ngữ tràn đầy sức sỗng của dân gian, thứ ngôn ngữ của
Truyện Kiều - “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”
(Phạm Quỳnh) Đó là thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn vớicha ông ta Theo đó, ngôn ngữ của các nhân vật nữ chủ yếu sử dụng từ thuần
Việt Theo thông kê của chúng tôi, tỷ lệ từ thuần Việt/từ Hán Việt trong một
lời nói là 5/1, thậm chí có những lời nói chỉ toàn sử dụng từ thuần Việt màkhông xuất hiện từ Hán Việt nào Điều này chứng tỏ Võ Thị Hảo đã có ý thứcquay trở về với “di sản tinh thần của cha ông”, với “nguồn sống dồi dào mạnhmẽ” trong ngôn ngữ dân gian, giảm thiểu đến mức tối đa ngôn ngữ Hán Việttrang trọng, cổ kính, trừu tượng khái quát và rất khó hiểu
Như chúng ta đã biết, ngày nay, trong kho từ ngữ tiếng Việt còn tồn tạihàng loạt các từ Hán Việt và thuần Việt có ý nghĩa tương đương nhau, đượcdùng song song với nhau Nhưng từ Hán Việt thường mang sắc thái cổ kính
và không thông dụng còn các từ thuần Việt mang tính hiện đại, thông dụng.Nhà văn Võ Thị Hảo đã biết khai thác những thế mạnh của từ thuần Việt đểsáng tác một tác phẩm thuộc thể loại văn học - vốn không dễ viết - thể loạitiểu thuyết lịch sử Tuy nhiên, việc sử dụng ngôn ngữ thuần Việt để viết tiểuthuyết lịch sử giống như việc sử dụng con dao hai lưỡi, nếu dùng không khéo
sẽ gây phản cảm cho đọc giả bởi sự thiếu hiểu biết về lịch sử dẫn tới việc hiệnđại hoá lịch sử một cách lộ liễu
Trang 38Trong tiểu thuyết Giàn thiêu, nhân vật Ngạn La là nhân vật sử dụng chủ
yếu từ thuần Việt, trong ngôn ngữ của nàng rất ít từ Hán Việt, có những câunàng nói ra mà không có từ Hán Việt nào, như:
- Buông ra! Đồ chết giẫm! Buông ngay! Đồ ăn thịt người! [14; 36].
- Xin bà tha cho cái bà bị chuột cắn kia Đau lắm! Bà ấy không chịu
Nhìn chung, trong tác phẩm Giàn thiêu, hiếm có những đoạn đối thoại
mang tính chất là những câu chuyện đời thường với ngôn ngữ suồng sã
Chúng ta thấy phần lớn những cuộc đối thoại trong Giàn thiêu nếu không đề
cập đến vấn đề triều chính thì là cuộc đối thoại lương tri (Dương thái hậu vàNguyên phi Ỷ Lan) cuộc đối chất tranh luận về việc dùng Phật pháp cai trị đấtnước (sư bà Nhuệ Anh với Lý Thần Tông), cuộc tái ngộ của hai người tìnhnhưng không chung con đường đi nữa (Nhuệ Anh và Từ Lộ - Lý Thần Tông)
… đó đều là những cuộc đối thoại đầy “kịch tính”, đó là những cuộc đối thoạicủa những tiếng nói không đồng hướng, nổi rõ những dị biệt, những mâu thuẫngiữa các nhân vật Kết thúc các cuộc đối thoại, người đọc thu nhận được nhữngquan niệm mới mẻ về nhân sinh, về nhân cách
Nếu tìm trong Giàn thiêu xem đoạn đối thoại nào mang tính chất suồng
sã, dân dã và sử dụng toàn từ thuần Việt thì có lẽ là đoạn đối thoại giữa NhuệAnh và chàng Cá Bơn:
“Nhuệ Anh nghi ngại nhìn bát nước, nhìn kĩ người đàn ông trông giống
con cá bơn, nhìn căn lều sơ sài bằng lau sậy, nàng bàng hoàng hỏi:
- Tôi… ở đâu?