Ngoài ra, còn một loạt bài viếtkhác như: Tác giả Hòa Vang viết bài Hấp lực của Hồ Quý Ly đăng trên báo Phụ nữ Việt Nam, số 48, tháng 11/2000, đưa ra nét độc đáo về nghệ thuật xây dựng nh
Trang 1NGUYỄN THỊ HƯƠNG
THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1986
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
Trang 23 Đối tượng nghiên cứu 10
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Phạm vi tư liệu khảo sát 11
6 Phương pháp nghiên cứu 11
7 Cấu trúc luận văn 11
Chương 1 Nhân vật nữ - đối tượng thể hiện hấp dẫn của văn học Việt Nam đương đại 12
1.1 Nhân vật nữ, chất liệu nghệ thuật của văn học 12
1.2 Cơ sở xã hội, lịch sử về sự lên ngôi của nhân vật nữ trong văn học nói chung, tiểu thuyết lịch sử nói riêng 14
1.2.1 Vai trò của phụ nữ đối với lịch sử và văn học 14
1.2.2 Sự tác động của phong trào nữ quyền 19
1.3 Hình tượng nhân vật nữ trong sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay 29
1.3.1 Hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 29
1.3.2 Hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1986 35
1.3.3 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1986 đến nay – một bước phát triển mới trong việc thể hiện hình tượng nhân vật nữ 37
Tiểu kết 50
Trang 3từ 1986 đến nay dưới những góc nhìn nghệ thuật khác nhau 51
2.1 Nhân vật nữ dưới góc nhìn thế sự, đời tư 51
2.2 Nhân vật nữ dưới góc nhìn sử thi 63
2.3 Nhân vật nữ trong mối quan hệ với tín ngưỡng văn hóa 80
2.4 Nhân vật nữ trong mối liên hệ biện chứng giữa các góc nhìn 94
Tiểu kết 96
Chương 3 Nghệ thuật thể hiện nhân vật nữ trong một số tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1986 đến nay 98
3.1 Chú trọng vẻ đẹp ngoại hình và nội tâm của nhân vật 98
3.2 Đặt nhân vật nữ vào những tình huống thử thách, gây cấn 107
3.3 Sự đa dạng trong điểm nhìn trần thuật 110
3.4 Lựa chọn giọng điệu trần thuật 118
3.4.1 Giọng cảm thương 120
3.4.2 Giọng suy ngẫm, triết lý 124
3.4.3 Giọng ngợi ca, thán phục 128
Tiểu kết 131
KẾT LUẬN 132
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tiểu thuyết lịch sử là một thể loại tự sự lấy nội dung lịch sử làm
đề tài và cảm hứng sáng tác Trong lịch sử văn học Việt Nam, thể loại nàyhình thành từ thời Trung đại, phát triển mạnh vào đầu thế kỉ XX, tồn tại nhưmột dòng chảy ngầm trong văn mạch dân tộc Ở mỗi thời kỳ, các nhà văn cócách nhìn nhận, đánh giá khác nhau từ nhiều góc độ về nhân vật và sự kiệnlịch sử Hòa chung vào công cuộc đổi mới của văn học nước nhà, tiểu thuyếtlịch sử hồi sinh với một sức sống mới Đề tài lịch sử được các nhà văn "nhàonặn", chế tác theo cảm quan riêng của mỗi người
1.2 Từ 1986 đến nay, bối cảnh lịch sử, xã hội mới, yêu cầu phản ánhtrong văn học đòi hỏi có sự thay đổi cho phù hợp với thực tại Cảm hứng sửthi và cảm hứng anh hùng dần được thay thế bằng cảm hứng thế sự, đời tư.Văn học trở lại với quỹ đạo đời thường, đem đến cái nhìn đa chiều về conngười Tiểu thuyết Việt Nam có bước chuyển mạnh mẽ về cả nội dung vànghệ thuật, tiếp tục khẳng định ưu thế của thể loại trong chức năng khái quáttính cách con người Góp mặt vào sự trở lại vị trí số một của tiểu thuyết là
mảng tiểu thuyết lịch sử với các tác giả, tác phẩm tiêu biểu: Người đẹp ngậm
oan (1990), Tuyên phi Đặng Thị Huệ (1996) của Ngô Văn Phú, Hoàng hậu hai triều Dương Vân Nga (1996), Vua đen Mai Hắc Đế (1996), Vằng vặc sao khuê (1998) của Hoàng Công Khanh…Những năm đầu thế kỉ XXI, tiểu
thuyết lịch sử xuất hiện với nhiều bút pháp khác nhau như: Sông Côn mùa lũ (2000) của Nguyễn Mộng Giác, Hồ Quý Ly (2002) của Nguyễn Xuân Khánh,
Hội thề (2009) của Nguyễn Quang Thân Nhà văn Hoàng Quốc Hải có Bão táp triều Trần tái bản bốn tập lần đầu năm 2003 Lần tái bản chào mừng kỉ
niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, tác giả bổ sung thêm hai tập mới,
Trang 5nâng tổng bộ sách thành sáu tập: Bão táp cung đình, Đuổi quân Mông Thát,
Thăng Long nổi giận, Huyết chiến Bạch Đằng, Huyền Trân công chúa, Vương triều sụp đổ (2010) Đồng thời Hoàng Quốc Hải ra mắt bộ sách Tám triều vua Lý gồm bốn tập: Thiền sư dựng nước, Con ngựa nhà Phật, Bình Bắc dẹp Nam, Con đường định mệnh (2010) Sự phát triển rầm rộ của tiểu
thuyết lịch sử (với những tác phẩm có quy mô đồ sộ) đã làm cho kho tàngtiểu thuyết ngày càng phong phú, thêm nhiều hương sắc, góp phần làm vănchương hóa lịch sử nước nhà và giúp hậu thế tiếp cận lịch sử dễ dàng hơn.Những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, tiểu thuyết lịch sử có xu thế ổnđịnh với tư cách là một thể loại Ngày càng có nhiều bộ tiểu thuyết có quy
mô đồ sộ "có những tìm tòi mạnh dạn hơn, vượt qua các quy phạm cằn cỗi,
đem lại sinh khí cho văn chương về lịch sử" Việc tìm hiểu những cái mới
của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1986 đến nay là điều cần thiết
1.3 Có ai đó nói rằng văn học hôm nay mang khuôn mặt phụ nữ.Trong tiểu thuyết, người phụ nữ quả đã gây được sự quan tâm chú ý củađông đảo độc giả Nhân vật nữ cũng là một đối tượng thể hiện hấp dẫn củanhà văn và văn nghệ sĩ Việt Nam đương đại Vai trò của phụ nữ trong lịch sử
và trong văn học ngày càng được đánh giá cao Đâu đó trên văn đàn hômnay, người ta đã nói đến vấn đề nữ quyền, vấn đề phái tính trong văn học.Trong văn xuôi đổi mới đã xuất hiện "hiện tượng nhân vật nữ" Đọc tiểuthuyết sau đổi mới, độc giả dễ dàng nhận ra cái "ám ảnh đàn bà" trong cáctác phẩm Đó là kết quả hợp lý và là sự gặp gỡ, sự cộng hưởng giữa nỗ lựcđổi mới của nhà văn và hiện thực cuộc sống đất nước ta sau chiến tranh vànhất là khi bước sang thời "mở cửa" Rất nhiều bài viết, bài phê bình ghinhận hiện thực sáng tác này, người ta dễ dàng ấn tượng, ám ảnh bởi nhữngnhân vật nữ Đây là điều mới mẻ của văn xuôi giai đoạn này
Trang 6Trên đây là những lý do giải thích tại sao chúng tôi chọn đề tài Nhân
vật nữ trong một số tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1986 đến nay làm đối
tượng tìm hiểu, nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Cho đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, đã có rất nhiều bài viết,công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử và nhân vật nữ trong tiểu thuyếtlịch sử từ 1986 đến nay Đặc biệt là có rất nhiều bài viết đánh giá, nghiêncứu về các bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ, những cuốn tiểu thuyết đạt được sựhưởng ứng cao của độc giả
Trên báo viết cũng như báo mạng, hàng loạt bài đăng tin, phỏng
vấn tác giả Ngô Văn Phú - tác giả của Người đẹp ngậm oan và Tuyên phi
Đặng Thị Huệ.
Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác cũng được nhiều nhà
nghiên cứu, phê bình như Mai Quốc Liên, Nguyễn Khắc Phê, Phan Cự Đệ,Trần Hữu Thục, Đỗ Minh Tuấn…khảo sát, đánh giá Ngoài ra còn có một số
bài trả lời phỏng vấn của tác giả về các vấn đề liên quan đến tiểu thuyết Sông
Côn mùa lũ Trên tạp chí Nhà văn, số 4/2003, với bài viết Sông Côn mùa lũ Con sông của những số phận đời thường và những số phận lịch sử, Mai
-Quốc Liên cho rằng: "Sông Côn mùa lũ lần đầu tiên trong văn học Việt Nam,
là một trường thiên về lịch sử thế kỉ XVIII Tác phẩm rất hấp dẫn trước hết
vì phẩm chất văn học của nó Các sử sự thì ta biết rồi nhưng những tình cảm,những thôi thúc nội tâm, những suy tưởng, những quan hệ giữa con ngườivới con người trải dài qua một biến cố lớn lao thì đây là lần đầu tiên ta tiếp
xúc" Sau khi giới thiệu khái quát tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ, tác giả giới
thiệu một số nhân vật tiêu biểu cho hai tuyến nhân vật: Nguyễn Huệ chotuyến nhân vật lịch sử và An cho tuyến nhân vật đời thường Trong lời tựa
cho Sông Côn mùa lũ, Mai Quốc Liên viết: " Thành công nhất là tuyến nhân
Trang 7vật hư tưởng, tuyến nhân vật "đời thường", "thế sự", cái hồn, cái nền, cáithẳm sâu …của tiểu thuyết lịch sử….Về tuyến nhân vật này, thành công lớnnhất của tác giả là An Tôi ít đọc được trong tiểu thuyết mình một nhân vật
nữ nào quyến rũ, thương mến, Việt Nam như An An là người phụ nữ ViệtNam của mọi thời biến động, nhẫn nại, yêu thương, đi hết số phận mình vàphong phú, đẹp đẽ biết bao trong nội tâm Có thể nói tác giả đã gởi vào Anrất nhiều những thể nghiệm, những suy tưởng … về người phụ nữ Việt Nam
- người gánh lịch sử đất nước, chồng con…trên đôi vai nhỏ bé, yếu đuối củamình.Có thể nói An là cái "nguyên lý thi học", cái thước đo thử nghiệm củatác phẩm Điều thú vị là An đã làm say mê bao bạn gái của nàng thời này…"
Nguyễn Khắc Phê cũng có một số bài viết về Sông Côn mùa lũ như:
Sông Côn mùa lũ một bộ tiểu thuyết công phu, Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Mộng Giác, Gặp lại nhà văn Nguyễn Mộng Giác.
Có những bài viết nghiên cứu cụ thể hơn về nội dung và nghệ thuật
tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ Đáng chú ý là bài viết Nhân vật Nguyễn Huệ
trong Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác của Trần Hữu Thục Gần
đây cũng có luận văn thạc sĩ của Hồ Đình Kiếm nghiên cứu về Sông Côn
mùa lũ với đề tài: Đóng góp của Nguyễn Mộng Giác trong việc thể hiện đề tài lịch sử qua tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ Trong luận văn này, Hồ Đình
Kiếm có đề cập đến thành công của Nguyễn Mộng Giác trong việc xây dựngtuyến nhân vật đời thường, mà thành công nhất, tiêu biểu nhất là nhân vật
An Tác giả luận văn đã đề cập đến nhân vật An ở chương 3: Đóng góp của
Nguyễn Mộng Giác về nghệ thuật thể hiện sự kiện và nhân vật lịch sử qua Sông Côn mùa lũ, trong mục Nghệ thuật xây dựng tuyến nhân vật hư cấu Ở
đây, An được nhìn nhận là một trong những gương mặt đời thường vớinhững thăng trầm của số phận khi cỗ xe lịch sử đi qua Nhưng An cũng làcon người lịch sử, có sức khái quát lịch sử
Trang 8Nhắc đến tiểu thuyết lịch sử từ 1986 đến nay không thể không nhắc
đến tác giả Nguyễn Xuân Khánh với tiểu thuyết Hồ Quý Ly Nếu nói không
quá lời, Nguyễn Xuân Khánh đã trở thành một "hiện tượng" của văn họcViệt Nam đầu thế kỉ XXI khi ông là một trong những nhà văn thành công
trong sáng tác khi tuổi đã cao Hồ Quý Ly được trao giải thưởng của Hội Nhà
văn Việt Nam, năm 2003 Phần lớn các bài viết được đăng tải trên các báo,tạp chí hoặc các website về tác giả này đều bày tỏ sự ca ngợi và dành nhữnglời khen, động viên nhiệt thành trước những thành công của tác giả Nguyễn
Xuân Khánh Trong cuộc hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly đăng trên báo Văn
nghệ, số 41 (7 - 10 -2000), rất nhiều nhà văn đã đọc tham luận: Nhà văn Hoàng
Quốc Hải với bài Những điều khả ái trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của nhà văn
Nguyễn Xuân Khánh; nhà văn Trần Thị Trường đọc tham luận Những nhân vật
nữ trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly; nhà văn Châu Diên với Tiểu thuyết Hồ Quý Ly
và tư chất nhà văn trong Nguyễn Xuân Khánh; nhà văn Hoàng Tiến đọc tham
luận Thân phận kẻ sĩ trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly.
Tác giả Nguyễn Diệu Cầm trong bài Tiểu thuyết lịch sử đang hấp
dẫn trở lại cũng đã nêu lên điểm nổi bật về thủ pháp nghệ thuật của tiểu
thuyết Hồ Quý Ly: "Có thể nói, Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh là tiểu
thuyết lịch sử được viết với một phong cách hiện đại và sức hấp dẫn của nóchính là ở tính hiện đại của một cuốn tiểu thuyết lịch sử Chính là cách viếttiểu thuyết lịch sử độc đáo của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã buộc ngườiđọc phải đi đến nhận xét ấy, do khoái cảm thẩm mỹ của cái đọc mà chínhcuốn tiểu thuyết ấy đem lại"
Linh Thoại trong bài Tiểu thuyết Hồ Quý Ly: Đưa người Việt đến
gần hơn với sử Việt đăng trên Báo Tuổi trẻ (3/10/2000) đánh giá cao thành
công của Nguyễn Xuân Khánh trong việc tái hiện một thời đại lịch sử đã qua
mà không làm bạn đọc thấy xa lạ, đồng thời thấy gần gũi hơn với sử Việt
Trang 9Trong bài viết này, Linh Thoại còn khẳng định thành công của Nguyễn XuânKhánh khi xây dựng một số nhân vật lịch sử Ngoài ra, còn một loạt bài viết
khác như: Tác giả Hòa Vang viết bài Hấp lực của Hồ Quý Ly đăng trên báo
Phụ nữ Việt Nam, số 48, tháng 11/2000, đưa ra nét độc đáo về nghệ thuật
xây dựng nhân vật trong Hồ Quý Ly; Năm 2000, Hoàng Cát có bài viết Tiểu
thuyết Hồ Quý Ly - Thưởng thức và cảm nhận, Lại Nguyên Ân có bài Hồ Quý Ly tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh.
Có một số luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đại học cũng nghiên
cứu về cuốn tiểu thuyết Hồ Quý Ly như: Tác giả Hoàng Thúy Hòa (2007) trong Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh với đề tài Đặc điểm tiểu
thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh đã khẳng định hiện tượng Nguyễn Xuân
Khánh trong dòng văn học đương đại
Tác giả Lê Thị Thúy Hậu (2009) trong Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn,
Đại học Vinh với đề tài: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly và
Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh Tác giả đã tìm hiểu thế giới
nghệ thuật hai tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh trên các phương diện:Nhân vật, không gian - thời gian, giọng điệu, ngôn từ, kết cấu, nghệ thuậttrần thuật Luận văn này đã thống kê số lượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết
Hồ Quý Ly và đề cập đến nhân vật nữ trong tiểu thuyết này ở các phương
diện: Nhân vật nữ biểu trưng cho thiên tính nữ của phụ nữ Việt Nam; Nhân
vật nữ với vẻ đẹp đậm chất đàn bà, yêu tha thiết thủy chung là hiện thân của Mẫu; Nhân vật nữ với vẻ đẹp kiêu sa đài các, dịu dàng kín đáo; mong manh yếu ớt nhưng quyết liệt và mãnh mẽ.
Tác giả Đào Thị Lý (2010) trong Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học
Vinh với đề tài Nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh (Qua hai tác phẩm Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng ngàn) đã phân tích nghệ thuật xây
dựng nhân vật, tạo nên bản sắc riêng của Nguyễn Xuân Khánh Đồng thời lý
Trang 10giải mối quan hệ giữa nhân vật có thật trong lịch sử và nhân vật được hư cấu
trong tiểu thuyết Ở chương 2: Nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly, tác giả
luận văn đã khảo sát các nhân vật trong tác phẩm, trong đó đi vào phân tíchmột số nhân vật nữ như: Công chúa Huy Ninh, nàng kỹ nữ Thanh Mai…
Tác giả Nguyễn Thị Thủy trong khóa luận tốt nghiệp đại học (2005)
với đề tài: Những tìm tòi nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh trong tiểu
thuyết Hồ Quý Ly đã xác định vị trí Hồ Quý Ly trong mảng tiểu thuyết viết
về lịch sử trong văn học Việt Nam đương đại; chỉ ra những quan niệm, cáchnhìn nhận mới của tác giả về quá khứ lịch sử, nhân vật lịch sử Tìm hiểu nétđặc sắc trong nghệ thuật tái hiện bối cảnh lịch sử, con người lịch sử của tácphẩm, từ đó chỉ ra triển vọng của những tìm tòi mà nhà văn đang theo đuổi
Hội thề của Nguyễn Quang Thân cũng gây được tiếng vang trên
văn đàn Trong bài Đọc Hội thề của Nguyễn Quang Thân, tác giả Phạm Viết Đào có viết: " Trong mặt bằng chung của nền tiểu thuyết Việt Nam
đương đại, Hội thề của Nguyễn Quang Thân là một cuốn tiểu thuyết dụng công, sờ chạm tới được những vấn đề có tầm, có những đột phá và thu hút người đọc không dễ tính Những mảng miếng, lớp lang cấu tứ nên hồn cốt được sắp đặt bởi một tay nghề có hạng trong làng tiểu thuyết Việt đương đại…Tái hiện một giai đoạn với những nhân vật lịch sử cùng với đời sống, thế giới nội tâm và thái độ và các động thái chính trị của họ thông qua những câu chuyện, tình tiết không lạ trong "ổ nhớ" của người đọc bình thường đương đại, quả đây là một việc làm cần được trân trọng, cần được nhìn nhận, đánh giá cẩn trọng…".
Hoàng Quốc Hải được xem là người viết tiểu thuyết lịch sử khámuộn Tuy nhiên thành quả mà ông thu được lại không hề nhỏ Hai bộ tiểu
thuyết đồ sộ của ông là Bão táp triều Trần và Tám triều vua Lý ngày càng
được nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu quan tâm, nhận được sự hưởng ứng
Trang 11nhiệt tình của độc giả Đó là hai bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ, có quy mô, cótính hệ thống, khái quát toàn bộ lịch sử hai triều đại lớn của nước ta: TriềuTrần và triều Lý Đã có rất nhiều ý kiến đánh giá của các nhà văn, nhà sử
học, nhà nghiên cứu khoa học xã hội về Bão táp triều Trần Nhìn chung, bộ
tiểu thuyết này nhận được những lời nhận xét rất ưu ái Nhà văn Hoàng Công
Khanh trong bài viết Suy ngẫm về bộ tiểu thuyết lịch sử Bão táp triều Trần
của Hoàng Quốc Hải đã phát hiện ra "một dấu ấn Hoàng Quốc Hải" dẫu "chưa định hình nhưng đã manh nha thành trường phái" Nhà văn Hoàng Tiến lại
tôn vinh Hoàng Quốc Hải, người thiết kế cây cầu giữa quá khứ và hiện tại Theo ông, bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần đã "thổi ngọn lửa rừng rực hào
khí Đông A vào tâm hồn độc giả Việt Nam đang xơ vữa động mạch ở thế kỉ XX" [56, 20] Bằng những hình tượng nghệ thuật sinh động, nhà văn họ
Hoàng giúp người đọc tiếp thu lịch sử "ngọt ngào hơn, thấm thía hơn và vì
thế bài học cho cuộc sống nhỡn tiền cũng thiết tha hơn, sâu lắng hơn"[56,
19] Cảm nhận về Bão táp triều Trần, nhà văn Vũ Bão trong Những trang
sách tâm huyết cũng dành cho Hoàng Quốc Hải những lời tâm huyết: " Tôi biết, ông viết không phải do những khúc anh hùng ca thời xa xưa thôi thúc
mà tôi còn thấy đọng lại nỗi đau đời của ông giữa những dòng chữ còn thơm mùi mực"[56, 25] Trong Lời bạt về bộ tiểu thuyết lịch sử Bão táp triều Trần,
tác giả Phong Sương cho rằng nhà văn Hoàng Quốc Hải đã "tạo ra một cái
nhìn bao quát, chỉnh thể và sâu sắc về triều đại nhà Trần" Bản thân Phong
Sương cũng có cái nhìn bao quát về nội dung và nghệ thuật của bộ tiểuthuyết Phong Sương đặc biệt chú ý đến thế giới nhân vật phong phú, đadạng trong tác phẩm Các nhân vật lịch sử đã được định hình trong chính sử
đi vào trang tiểu thuyết trở thành những con người quen mà lạ Trong bài
viết Bộ tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Hoàng Quốc Hải và quan niệm nhân
vật anh hùng, nhà văn Hoài Anh nhận xét: Đây là một bức tranh lịch sử cực
lớn, vừa hào hùng, vừa rơi lệ, để lại cho hậu thế nhiều bài học quý giá vô
Trang 12ngần Về mặt nghệ thuật xây dựng nhân vật của Hoàng Quốc Hải, Hoài Anh
nhận xét: "Anh đã thổi sự say mê vào tâm hồn các nhân vật nữ như Chiêu
Hoàng, Huyền Trân, An Tư"[56, 63] Đánh giá về Bão táp triều Trần, trong
bài viết Nhà văn Hoàng Quốc Hải trái tim đập thăng trầm cùng các nhân
vật lịch sử, tác giả Phùng Văn Khai nhận thấy: "Qua ngòi bút và trái tim ông, những Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Khát Chân, Trần Quốc Toản…và các vị vua ở ngôi cao kia, sao mà gần gũi thiết thân, cụ cựa quá đỗi làm vậy, có thể sờ nắn được, trò chuyện được hoặc lo nghĩ hoặc hồi hộp theo mỗi diễn tiến nhỏ của hàng ngàn trang sách"[56,32] Tác giả bài viết này đã điểm qua một số nhân
vật trong tác phẩm
Luận văn Thạc sĩ Thế giới nghệ thuật trong Bão táp triều Trần của
Trần Thị Thu Hiền đã nghiên cứu khá toàn diện về hình tượng nhân vật trong
Bão táp triều Trần Tác giả đi sâu phân tích đối sánh các nhân vật chính sử
với các tiểu thuyết lịch sử cùng đề tài để làm bật ra nét mới, từ đó khẳngđịnh đóng góp của nhà văn trên phương diện nghệ thuật
Trong Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết
Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải (2010), tác giả Lê Thị Thùy đã
nghiên cứu về quan niệm nghệ thuật về con người, phân loại nhân vật và tìm
hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Bão táp triều Trần Luận
văn này đã đi tìm hiểu một số nhân vật nữ có thật trong lịch sử như: LýChiêu Hoàng, An Tư, Huyền Trân chúa và cả những nhân vật nữ do tác giả
hư cấu nên như Yến Ly, Trà Hoa Tuyết
Về bộ tiểu thuyết Tám triều vua Lý của Hoàng Quốc Hải, do mới
xuất bản (tháng 10/2010) nên còn ít công trình nghiên cứu về nó Tuy nhiên
bộ tiểu thuyết đã nhận được ủng hộ của đông đảo độc giả, trên báo mạng
cũng như báo viết xuất hiện hàng loạt bài viết về Tám triều vua Lý Trên báo
Lao động có bài Nhà văn Hoàng Quốc Hải và 6.442 trang sách (Nhân hai bộ
Trang 13tiểu thuyết lịch sử Bão táp triều Trần (tái bản, bổ sung 2 tập) và Tám triều
vua Lý xuất bản) viết: "Có lẽ, sau không khí lễ hội này, rất nhiều cuốn sách nhanh chóng chìm vào quên lãng, nhưng hai bộ tiểu thuyết này sẽ có nhiều
hy vọng để thử thách với thời gian và sự kiên nhẫn của bạn đọc".
Trên Báo mới.com lại có bài Hoàng Quốc Hải mạo hiểm với Tám
triều vua Lý Ngoài ra còn một loạt bài phỏng vấn nhà văn Hoàng Quốc Hải.
Như vậy, đã có rất nhiều bài viết tìm hiểu, nghiên cứu đánh giá kháiquát về tiểu thuyết lịch sử từ 1986 đến nay Cũng có một số bài đi sâu nghiêncứu cụ thể về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm Đã có một số côngtrình tìm hiểu về thế giới nhân vật nói chung, nhân vật nữ nói riêng trong
một số tiểu thuyết lịch sử, đã có những bài viết về nhân vật An trong Sông
Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, những nhân vật nữ trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh; có cả những bài viết về nhân vật nữ trong Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải như Huyền Trân công chúa, An
Tư… Tuy nhiên, những bài viết về nhân vật nữ trong tiểu thuyết lịch sử từ
1986 đến nay mới chỉ dừng lại ở việc đề cập đến một vài vấn đề cụ thể, riêng
lẻ, chưa có công trình nào đưa ra cái nhìn khái quát, đầy đủ về loại hình nhânvật nữ trong tiểu thuyết lịch sử từ 1986 đến nay
3 Đối tượng nghiên cứu
Nhân vật nữ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1986 đến nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nhằm tìm hiểu:
4.1 Hình tượng nhân vật nữ trong một số tiểu thuyết lịch sử ViệtNam từ 1986 đến nay qua cái nhìn nghệ thuật của các nhà văn
4.2 Nghệ thuật thể hiện nhân vật nữ trong một số tiểu thuyết lịch sửViệt Nam từ 1986 đến nay
Trang 145 Phạm vi tư liệu khảo sát
Luận văn tập trung khảo sát nhân vật nữ trong các cuốn tiểu thuyếtlịch sử sau đây:
5.1 Người đẹp ngậm oan của Ngô văn Phú
5.2 Tuyên phi Đặng Thị Huệ của Ngô Văn Phú
5.3 Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác
5.4 Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh
5.5 Hội thề của Nguyễn Quang Thân
5.6 Bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần (bộ mới) của Hoàng Quốc Hải gồm 6 tập: Bão táp cung đình, Đuổi quân Mông Thát, Thăng Long nổi giận,
Huyết chiến Bạch Đằng, Huyền Trân công chúa, Vương triều sụp đổ, Nxb
Phụ nữ, 2010
5.7 Bộ tiểu thuyết Tám triều vua Lý cũng của Hoàng Quốc Hải gồm
4 tập: Thiền sư dựng nước, Con ngựa nhà Phật, Bình Bắc dẹp Nam, Con
đường định mệnh, Nxb Phụ nữ, 2010.
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
6.1 Phương pháp thống kê
6.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
6.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm các chương:
Chương 1 Nhân vật nữ - đối tượng thể hiện hấp dẫn của văn học
Việt Nam đương đại
Chương 2 Nhân vật nữ trong một số tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ
1986 đến nay dưới những góc nhìn nghệ thuật khác nhau
Chương 3 Nghệ thuật thể hiện nhân vật nữ trong một số tiểu thuyết
lịch sử Việt Nam từ 1986 đến nay
Trang 15Chương 1 NHÂN VẬT NỮ - ĐỐI TƯỢNG THỂ HIỆN HẤP DẪN
CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Nhân vật nữ, chất liệu nghệ thuật của văn học
Đối tượng của văn học là toàn bộ hiện thực khách quan trong mốiliên hệ sinh động, muôn màu với cuộc sống con người, được quy định bởikhả năng chiếm lĩnh thẩm mĩ hình thành trong quá trình thực tiễn cuộc sống
và nghệ thuật, là thế giới các giá trị thẩm mĩ của thực tại
Hiện thực đời sống là cơ sở phản ảnh, thể hiện của văn học nghệthuật Văn học miêu tả toàn bộ thế giới khách quan Nhưng khác với khoahọc, văn học không nhận thức các hiện tượng và đối tượng của thế giới hiệnthực như những khách thể tự nó Văn học tập trung khám phá thế giới trongmối quan hệ đối với con người Chính cái thế giới mang giá trị, cái ý nghĩađối với đời sống tinh thần của con người được kết tinh trong các sự vật mớiđích thực là đối tượng khám phá, phát hiện của văn học Văn học có thểmiêu tả thiên nhiên, đời sống của loài vật để thể hiện một cách nhìn haymột quan niệm nhân sinh nào đó của con người Văn học có thể miêu tảmôi trường, nội thất, vật dụng sở hữu của con người để thể hiện năng lực,sức mạnh, tính cách của những con người ấy Văn học cũng trực tiếp miêu
tả đời sống nội tâm như một hiện tượng khách quan Việc nhận thức toàn
bộ hiện thực khách quan trong mối quan hệ với con người đã đặt con ngườivào vị trí trung tâm của văn học Văn học bao giờ cũng ưu tiên cho việcmiêu tả con người, lấy con người làm điểm tựa nhìn ra toàn bộ thế giới.Đồng thời văn học còn nhận thức con người như những hiện tượng tiêubiểu cho các quan hệ xã hội nhất định Về mặt này, văn học nhận thức con
Trang 16người như những tính cách Vì mỗi tính cách chính là hiện thân cho mộtkiểu quan hệ xã hội nhất định.
Trong toàn bộ đời sống hiện thực, trong tất cả các mối quan hệ xãhội mà văn học phán ánh, phụ nữ chiếm 1/2 những con người trong đó Hơnnữa, từ xưa đến nay, phụ nữ luôn có vai trò, vị trí quan trọng trong gia đình,trong đời sống xã hội Vì vậy, phụ nữ là đối tượng phổ biến, quan trọng đểvăn học phản ánh Phụ nữ lại là đối tượng bộc lộ nhiều cảm xúc, suy nghĩ,tình cảm nên càng được các nhà văn đặc biệt quan tâm, chú ý thể hiện Đó làcon người đang cảm xúc, suy nghĩ và hành động trong các quan hệ đời sống.Phụ nữ nói riêng và con người nói chung cùng thế giới hiện thực được miêu
tả trong văn học vừa là hiện thân của cái thiện hay cái ác, cái lành hay cái dữ,lại vừa là những hiện tượng tiêu biểu cho cái đẹp hay cái xấu, cái bi hay cáihài, cái đáng yêu đáng ghét, cái đáng hy vọng hay đáng lên án
Như vậy, nhân vật nữ là một trong những hình thức cơ bản để qua
đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng Nó khái quát những quyluật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, những ước ao và kỳvọng về con người Nhân vật nữ là nơi đặc biệt để các nhà văn gửi gắm, kýthác tư tưởng, suy ngẫm của mình về cuộc đời
Thần thoại Hi Lạp kể rằng: "Thượng đế đã lấy vẻ đầy đặn của mặttrăng, đường uốn cong của loài dây leo, dáng run rẩy của các loài cỏ hoa, nétmềm mại của loài lau cói, màu rực rỡ của nhị hoa, điệu nhẹ nhàng của chiếc
lá, cảm giác tinh vi của vòi vòi, cái nhìn đăm chiêu của mắt hươu, cái xúmxít của đàn ong, ánh rực rỡ của mặt trời, nỗi xót xa của tầng mây, luồng biếnđộng của cơn gió, tính nhút nhát của con hươu rừng, sắc lộng lẫy của conchim công, hình nhuần nhuyễn của con chim yểng, chất cứng rắn của ngọckim cương, vị ngon ngọt của đường mật, khí lạnh lẽo của băng tuyết, đứctrung trinh của chim uyên ương, đem mọi thứ ấy hỗn hợp lại nặn thành
Trang 17người phụ nữ." Phụ nữ là linh hồn của cuộc sống muôn loài Hình tượngngười phụ nữ là một trong những đề tài lớn có sức hấp dẫn của văn học thếgiới nói chung và văn học Việt Nam nói riêng Bới phụ nữ đau khổ và phứctạp hơn ngay cả trong ý nghĩ, nhiều cảm xúc hơn nam giới.
1.2 Cơ sở xã hội, lịch sử về sự lên ngôi của nhân vật nữ trong văn học nói chung, tiểu thuyết lịch sử nói riêng
1.2.1 Vai trò của phụ nữ đối với lịch sử và văn học
1.2.1.1 Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờcũng là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người laođộng trong xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phầnlàm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người Phụ nữ luôn thểhiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội.Trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất
ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ tái sản xuất ra của cải vật chất,phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì và phát triển xã hội
Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nềnvăn hoá nhân loại Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nàocũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ
Song song với những hoạt động góp phần sáng tạo ra mọi của cải vậtchất và tinh thần, phụ nữ còn tích cực tham gia đấu tranh giai cấp, đấu tranhgiải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của nhân loại
Ở khu vực Á Đông, hiếm có dân tộc nào phụ nữ lại đóng vai tròquan trọng trong xã hội như ở Việt Nam Trong suốt chiều dài lịch sử dântộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranhgiải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Ngay từ những buổi đầu lập nước,khi gặp nạn ngoại bang xâm lược, bà Trưng bà Triệu đã dấy binh khởi nghĩađánh đuổi quân thù Thế kỷ 20, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống
Trang 18Mỹ, lịch sử lại ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ nữ, các chị, các mẹ khôngngại gian khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, lao động, hy sinh,cống hiến không chỉ cuộc đời mình mà cả con em cho độc lập tự do của Tổquốc Phụ nữ không chỉ chiến đấu anh hùng mà đã lao động cần cù, gian khó
để vượt lên cảnh đói nghèo và lạc hậu, góp phần xây dựng đất nước ngàycàng to đẹp và đàng hoàng hơn Tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trunghậu, đảm đang” trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và “Trung hậu, đảmđang, tài năng, anh hùng” trong thời kỳ đổi mới đất nước mà Đảng, cụ Hồphong tặng phụ nữ Việt Nam không chỉ là sự khích lệ, động viên mà còn là
sự thừa nhận và đánh giá vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam
Với truyền thống “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, phụ nữ Việt Namtiếp tục vượt qua mọi thành kiến và thử thách, vươn lên đóng góp tích cựcvào các hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng rộng rãi vai trò của mình trênnhiều lĩnh vực như: tham gia quản lý nhà nước; tham gia xóa đói giảmnghèo; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; tham giaphòng chống tệ nạn xã hội; thúc đẩy hoạt động đối ngoại nhân dân… Có thểnói, vai trò của phụ nữ Việt Nam được thể hiện ngày càng sâu sắc và cónhững đóng góp quan trọng trong thành tựu của cách mạng Việt Nam
Khi đất nước bước vào kỷ nguyên hội nhập với thế giới, trong côngcuộc xây dựng đất nước trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiệnnay, phụ nữ Việt Nam tiếp tục đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy
sự phát triển chung của xã hội Vai trò này đang được khẳng định một cách
rõ nét hơn bao giờ hết
Trước hết, chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan trọng củangười phụ nữ trong gia đình Họ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổnđịnh của gia đình Là người vợ hiền, họ luôn hiểu chồng, sẵn sàng chia sẻnhững ngọt bùi cũng như những đắng cay cùng chồng, khiến người chồng
Trang 19luôn cảm thấy yên tâm trong cuộc sống, từ đó họ có thể đóng góp nhiều hơncho xã hội Không chỉ chăm sóc giúp đỡ chồng trong gia đình, người vợ cònđưa ra những lời khuyên thiết thực giúp chồng trong công việc, đóng gópvào thành công trong sự nghiệp của chồng Là những người mẹ hết lòng vìcon cái, họ thực sự là những tấm gương cho con cái noi theo Người mẹ ngàynay còn là một người bạn lớn luôn ở bên con để hướng dẫn, động viên kịpthời Bất cứ ai trong chúng ta đều có thể tìm thấy ở những người phụ nữ,người vợ, người mẹ sự yên tĩnh trong tâm hồn và sự cân bằng bình yên trongcuộc sống Chính họ đã tiếp sức cho chúng ta vượt qua những khó khăn đểsống một cuộc sống hữu ích.
Vai trò, vị trí của người phụ nữ được thể hiện rõ nét ở truyền thốngtrọng Mẫu trong văn hóa dân gian Việt Nam Việt Nam thuộc loại văn hóanông nghiệp Nền kinh tế nông nghiệp lúa nước đặc biệt thích ứng với sự đảmđang, khéo léo của người phụ nữ, vì thế người Việt cổ tôn thờ nước, lúa vàngười phụ nữ Mặt khác, con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên tắctrọng tình, điều đó dẫn đến thái độ trọng người phụ nữ Người Việt ghi nhớ
công cha nghĩa mẹ nhưng cha thì kính mà mẹ thì thờ Trong tâm thức dân
gian, người mẹ có vị trí, vai trò quan trọng nhất: "Con dại cái mang", "Chasinh không tày mẹ dưỡng", "Phúc đức tại Mẫu" Điều đó cho thấy vị trí, vaitrò không thể thay thế của người mẹ đồng thời cho thấy lòng kính ngưỡngthiêng liêng, sâu sắc của tâm thức dân tộc dành cho người Mẹ Người Việt thờMẫu trước hết là thờ người mang nặng đẻ đau, ôm ấp chăm bẵm và đến hếtđời vẫn còn lo lắng cho con cái của mình, rộng ra là thờ người Mẹ của xứ sở,bảo hộ, bảo trợ cho con người
Tinh thần Mẫu quyền còn in đậm trong nhân dân cả khi đã chuyểnsang chế độ phụ quyền như những câu tục ngữ nói đến : "Lệnh ông khôngbằng cồng bà", "Nhất vợ nhì giời" Và không phải ở một thời đại nào khác
Trang 20mà ở vào chính thời cực thịnh của Nho giáo, Mẫu Liễu bước lên đài cao uynghiêm của điện thờ Sự thắng thế của tín ngưỡng thờ Mẫu, của Đạo Mẫukhẳng định chiến thắng tinh thần tuyệt đối của tinh thần trọng mẫu ViệtNam, một tinh thần giàu tính nhân bản, nhân đạo và nhân văn.
Tinh thần trọng Mẫu ấy vẫn được vun đắp trong suốt chiều dàilịch sử Tư tưởng "nam tôn nữ ty" của chế độ phụ quyền từ Trung Hoatruyền vào Việt Nam đã không được người dân hưởng ứng Trong dângian đã lưu truyền tục thờ Mẫu, điển hình là đề cao các Thánh Mẫu khắp
ba miền Bắc - Trung - Nam và còn đề cao người phụ nữ qua câu ca daomang tính trào phúng như:
Ba đồng một mớ đàn ông Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha;
Ba trăm một mụ đàn bà Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi
Trong loại truyện dân gian về các nhân vật Thánh Mẫu thì trước khiđược phong Thánh, trước hết họ là những người phụ nữ, những người mẹ cócông, có đức như Thánh mẹ luôn lo lắng bảo vệ, cứu giúp dân lành Kiểutruyện về Thánh Mẫu là một kiểu truyện tiêu biểu phản ảnh chủ đề xã hội,phản ánh nhận thức của nhân dân về vai trò, vị trí của người phụ nữ trong giađình cũng như ngoài xã hội, thể hiện sâu sắc truyền thống trọng Mẫu của vănhóa Việt Nam xưa nay
1.2.1.2 Do phụ nữ có một vai trò quan trọng to lớn trong lịch sử xãhội nên phụ nữ luôn là đối tượng được các nhà văn, nhà thơ tập trung phảnảnh Phụ nữ luôn là đề tài để các nghệ sĩ khai thác, là chỗ dựa để họ gửi gắm
tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng đối với cuộc sống, bộc lộ suy nghĩ về cuộcđời Phụ nữ đã đi vào văn học từ ngày xưa, từ trong văn học dân gian Tuynhiên, vai trò của người phụ nữ trong văn học ngày càng thay đổi Nếu như
Trang 21trong văn học xưa hình ảnh của người phụ nữ khá mờ nhạt thì càng ngàyhình tượng của người phụ nữ trong văn học lại càng được thể hiện rõ nét.Đặc biệt, trong văn học đương đại, người phụ nữ được khắc họa với cái tôi
rõ nét hơn Đôi khi hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm văn học lạichính là chân dung của tác giả nữ Ngày nay, các nhà văn muốn độc giả đọctác phẩm của các nhà văn viết về nhân vật nữ như một sự lắng nghe, một sựthấu hiểu Vì đó chính là tiếng lòng của họ, là khát khao tự giải phóng bảnthân mình Những nhà văn nữ đang thực sự đóng góp cho sự tiến bộ của xãhội bằng các tác phẩm của mình Họ đang vẽ chân dung đồng giới mình Khiviết về thân phận một người phụ nữ nào đó, nhà văn nữ đã hóa thân vào họ.Nhà văn chỉ có một "gương mặt" nhưng hình tượng người phụ nữ trong tácphẩm của họ thì có nhiều "gương mặt" khác nhau
Phải nói rằng xã hội nào thì hoàn cảnh đấy Và thân phận của ngườiphụ nữ thể hiện rõ nhất hoàn cảnh mà chị ta đang sống Trong xã hội phongkiến, trong chiến tranh, thế giới quan của người phụ nữ chỉ bó gọn trong mộtgia đình, một cái làng nhỏ, phải đối diện với những lề thói, hủ tục, sự soi móicủa người đời nên rất khó để người phụ nữ thay đổi cuộc sống của mình.Nhưng trong xã hội hiện đại đã khác đi nhiều Người phụ nữ độc lập, tự chủhơn Họ có xu hướng sống cho bản thân mình, chiều chuộng cảm xúc củachính mình Khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ thể hiện ở khát vọngchinh phục người đàn ông Và chinh phục người khác giới cũng chính làchinh phục chính mình Các nhà văn nắm bắt sự thay đổi của cuộc sống vàthể hiện nó trên trang viết Trong văn học hôm nay, người phụ nữ có xuhướng cởi bỏ những ràng buộc và dũng cảm mở toang những cánh cửa củanhững khát vọng thầm kín Điều đó thể hiện rõ trong tác phẩm của NguyễnNgọc Tư, Võ Thị Hảo hay Y Ban… Ngay cả khi viết về đề tài lịch sử thì cácnhân vật nữ trong lịch sử cũng được các nhà văn nhìn bằng con mắt khác,
Trang 22góc độ khác, mag màu sắc khác như Huyền Trân công chúa, Tuyên Phi ĐặngThị Huệ… (tuy nhiên không đi ngược lại lịch sử).
Nói tóm lại, người phụ nữ có một vai trò vô cùng quan trọng đối vớilịch sử xã hội cũng như văn học Vai trò của họ ngày càng được đề cao Hìnhtượng người phụ nữ ngày càng được các nhà văn chú ý phản ảnh, miêu tả,qua đó thể hiện tư tưởng của tác giả đối với cuộc sống Mặt khác, nhà vănlấy phụ nữ làm đề tài để phân tích, mổ xẻ nhằm lên tiếng bênh vực ngườiphụ nữ, động viên người phụ nữ biết vươn lên hoàn cảnh, tự thay đổi số phậncủa chính mình
1.2.2 Sự tác động của phong trào nữ quyền
Phong trào nữ quyền vốn là danh từ do Nhật văn dịch ra Trung văn.Thật ra từ thế kỷ 18 do phong trào tự do lớn mạnh, người ta đã đưa ra vấn đềnam nữ bình đẳng và chủ nghĩa nữ tính tự do (Liberal feminism)
Phong trào nữ quyền xuất hiện là do sự bất bình đẳng về giới, vì nữtính từ xưa đến nay về chính trị bị áp bức, về xã hội bị chèn ép, nhấn chìm,
về kinh tế thì cam chịu nghèo khổ, về văn hóa bị nam tính tước đoạt (đàn bàcon gái ít được đi học), tư tưởng tình cảm rơi vào trạng thái đè nén, ngay cảtrong vấn đề hôn nhân - gia đình phụ nữ cũng không có quyền định đoạt.Trong xã hội cũ, phụ nữ chỉ sống với bản năng của một người đàn bà là sinhcon và chăm lo cho gia đình Bản năng đó gắn liền với người phụ nữ mộtcách bất di bất dịch Đàn bà như một nhân chứng của quỷ dữ - bản năng củangười phụ nữ chứa đựng cả hạnh phúc lẫn khổ đau Trong trường kỳ lịch sử,
nữ tính không chỉ bị lệ thuộc, địa vị thấp kém, sống trong sự nương tựa,trong xã hội cũng như trong thiên nhiên không bao giờ được phát huy, điềukiện kinh tế lại nghèo khó, khốn đốn, trình độ văn hóa yếu kém, không hềđược học tập dạy dỗ, vấn đề nữ tính về lâu về dài thành bệnh tật
Trang 23Tất cả những vấn đề đó là điểm chủ yếu để cho phong trào nữ quyềnbùng nổ, là điểm xuất phát để xã hội lớn tiếng đòi hỏi và duy trì nữ quyền.
Căn cứ vào giả thuyết truyền thống, nam tính phát huy tính dươngcương; nữ tính biểu hiện qui phạm mỹ học thuộc đạo âm nhu Vì vậy, ngay
cả khoái cảm tính dục trong chuyện tình yêu, hôn nhân - gia đình cũng dođàn ông thống ngự, người phụ nữ chỉ biết cam chịu và chấp nhận Ở nhữngthập niên 60 - 70 của thế kỉ XX có những luật trừng trị rất nặng những ngườiđàn bà mang thai ngoài giá thú Trong xã hội phong kiến Việt Nam, có cáchình phạt như: cạo đầu bôi vôi, thả bè trôi sông…Có thể nói, người phụ nữ
đã phải chịu đựng những hủ tục hà khắc, trong đó yếu tố lớn nhất để giảiphóng nữ quyền là giải phóng luật hôn nhân và quyền bình đẳng về giới, đòilại quyền công bằng cho phái nữ
Phong trào nữ quyền ( thể hiện rõ nhất ở văn học) phát triển qua cácbước sau: Giai đoạn "tiên phong và nữ quyền nguyên sơ" tương ứng với caotrào nữ quyền I, tính từ hậu thế chiến II trở về trước, với minh chứng "Vềquyền của phụ nữ" (1792) của Mary Wollstonecraft - "tổ mẫu" của chủ nghĩa
nữ quyền Bà phản đối thẩm quyền xác lập nữ tính của các tác giả nam Bàcoi nhà văn nữ là người có lý trí, đạo đức, nhân hậu, phản đề của thói ủy mị,giả tạo Luận điểm của Wollstonecraft là về bản chất của giới tính được kiếntạo như một lợi thế: viết và nghĩ không thể vượt khỏi thân xác và không thể
loại phụ nữ ra khỏi vị trí xã hội Tác phẩm Một căn phòng cho riêng mình
(1929) của Virginia Woolf được coi như "sách vỡ lòng" của phê bình nữquyền Nhờ Virginia Woolf mà các tác giả nữ ngày nay có những khái niệm
mở về cách suy nghĩ lùi thông qua người mẹ, về ý kiến của đàn bà, về tinhthần song giới (dung hòa cả hai giới tính)
Giai đoạn tiếp theo tương ứng với cao trào nữ quyền II (thập niên
1960 và 1970 của thế kỉ XX với tác giả tiêu biểu là Marie olympe de Gouge
Trang 24(1748 – 1793) người Pháp, là tác giả của bản Tuyên ngôn nhân quyền về giới
nữ Bà là người đầu tiên trên thế giới đòi quyền giải phóng người da đen và
đã bị kết án vì hoạt động nữ quyền
Tác giả tiếp theo là Simone de Beauvoir (1908 -1986) với tác phẩm
Deuxièmesexe ( Giới nữ - 1949), được đánh giá là "bản tuyên ngôn nữ
quyền" Cuốn sách là một công trình lý luận triết học về phụ nữ, xuất phát từquan điểm nam nữ bình quyền Cuốn sách xoay quanh vấn đề: Phụ nữ bị kẹttrong tình trạng áp bức lâu dài qua sự loại bỏ mình nên trở thành giới ít quantrọng hơn (giới thứ hai) trong mối quan hệ với nam giới Simone deBeauvoir đã luận giải về những đặc tính của nữ giới như: Tuổi dậy thì, đặctính tự yêu mình, tình dục, thủ dâm, tiến đến giải phóng phụ nữ… Sử dụngkiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau, Beauvoir khẳng định rằng khoa họcsinh học, thần thoại học, nhân loại học không ngành nào đủ khả năng để giảithích định nghĩa phụ nữ là giới thứ hai đối với nam giới cũng như vị thế ápbức của họ, nhưng mỗi ngành này đều góp phần tạo nên vị thế đó của phụ
nữ Đáng chú ý là những diễn giải về thần thoại của bà đối với vai trò này
Bà chỉ ra rằng những thần thoại về người mẹ, về Tổ quốc, thiên nhiên v.v…trói buộc phụ nữ vào các hình mẫu lý tưởng bất khả thi bằng cách chối bỏ cánhân và vị thế của mọi loại phụ nữ Hình mẫu lý tưởng này tạo ra sự kì vọngkhông tưởng bởi nhiều biểu hiện của thần thoại về phụ nữ cho thấy sự mâuthuẫn Chẳng hạn lịch sử cho thấy có bao nhiêu đại diện cho hình ảnh người
mẹ là thần hộ mệnh được kính trọng thì cũng có bấy nhiêu hình ảnh người
mẹ được miêu tả như những kẻ báo hiệu cái chết Vì thế, những người mẹvừa được yêu lại vừa bị ghét Có thể thấy sự mâu thuẫn này ở tất cả các thầnthoại về phụ nữ và như vậy khiến cho phụ nữ mang gánh nặng và tráchnhiệm về sự tồn tại Xét đến vấn đề sinh học và lịch sử, Beauvoir lưu ý rằngphụ nữ có những thiên chức mà nam giới không hề có như mang thai, nuôi
Trang 25con, có kinh nguyệt, góp phần tạo cho vị thế của người phụ nữ có sự khácbiệt rõ rệt Tuy nhiên, những biểu hiện sinh lý này không trực tiếp làm chophụ nữ có vị thế thấp kém hơn bởi yếu tố sinh học và lịch sử không đơnthuần là những sự thật thu được từ sự quan sát không thành kiến mà luônđược cấu thành và giải thích từ một hoàn cảnh Kết thúc chương I, bà viết:
“Chúng ta phải xét các lập luận sinh học trong ánh sáng của một bối cảnhliên quan đến tâm lý học, xã hội học, bản thể học, kinh tế học Sự nô dịchphụ nữ và sự giới hạn sức mạnh đa dạng của họ là cực kỳ quan trọng; cơ thểcủa phụ nữ là một trong những yếu tố tạo nên vị thế của phụ nữ trong thếgiới này Nhưng yếu tố đó không đủ để định nghĩa phụ nữ là phụ nữ (giới thứhai) Sinh học không đủ khả năng trả lời chúng ta câu hỏi đang đặt ra: Tại saophụ nữ lại là giới thứ hai; nhiệm vụ của chúng ta là khám phá bản chất củaphụ nữ bị ảnh hưởng như thế nào trong quá trình lịch sử; chúng ta phải tìm rabằng gì loài người đã tạo ra phụ nữ" Từ những luận giải trên, Beauvoir chủ ýphá bỏ luận bản chất cho rằng đàn bà sinh ra đã là "đàn bà" (là phái yếu) chứkhông phải trở thành như vậy qua quá trình vận động của xã hội Bà dẫn raquá trình giáo dục mà người phụ nữ nhận được từ khi còn bé cho tới khi bắtđầu trải nghiệm đời sống tình dục và ở mỗi giai đoạn bà đều chứng minh đượcrằng, phụ nữ bằng sự chấp nhận vai trò bị động trước những nhu cầu chủ động
và chủ quan của đàn ông đã buộc phải từ bỏ đòi hỏi đối với tính siêu nghiệm(sự vượt trội) và tính chủ quan đích thực như thế nào
Qua lý luận của mình, Beauvoir muốn quả quyết rằng phụ nữ có khảnăng lựa chọn như nam giới và vì thế có thể lựa chọn nâng cao vị thế củamình lên Bà chỉ ra rằng phụ nữ cần phải giải phóng mình và phục hồi cái tôicủa mình, trước hết bằng cách cho phép mình vượt lên bằng những hướng đi
tự do, tự hào về bản thân mình trong suy nghĩ, trong sáng tạo, trong hànhđộng giống như nam giới Bà cũng đặt ra những đòi hỏi đối với xã hội trong
Trang 26mục tiêu hướng tới bình đẳng nam nữ Theo bà muốn đạt được mục tiêu đóthì các cấu trúc xã hội như luật pháp, giáo dục, phong tục v.v… cần phảiđược điều chỉnh.
Chứa đựng tư tưởng triết học mới mẻ và táo bạo như vậy nên không
có gì khó hiểu khi cuốn Giới nữ được xuất bản lần đầu vào năm 1947 lại bị
Vatican liệt vào danh sách những cuốn sách bị cấm Rõ ràng những gìBeauvoir luận giải thách thức không ít những quan điểm về phụ nữ đã tồn tại
từ lâu và không thể phủ nhận rằng những tư tưởng của Beauvoir có đủ sứcmạnh khuấy động ý thức vươn lên của người phụ nữ và làm cho những người
đàn ông có tư tưởng trọng nam khinh nữ không hài lòng Giới nữ có ảnh
hưởng lớn đến nỗi người ta cho rằng Beauvoir là mẹ đẻ của phong trào đòinam nữ bình quyền hậu 1968 Trải qua hơn gần một thế kỷ, cuốn sách vẫnđược coi là một tài liệu cơ bản phục vụ nghiên cứu về triết học, và về phụ nữ.Bước sang thế kỷ XXI, nó có thêm rất nhiều độc giả là những người phụ nữ đã
có vị thế ngang bằng với đàn ông cả ở trong gia đình và ngoài xã hội
Giai đoạn thứ ba là cao trào III ( thập niên 1980 và 1990 ) Đây làgiai đoạn quan trọng, hình thành và phát triển những vấn đề chủ yếu của chủnghĩa nữ quyền Tác giả tiêu biểu là Doris Lessing, sinh ra trong một giađình người Anh, vào năm 1919 Công trình có thể coi là vĩ đại nhất trong sự
nghiệp văn học của bà là The Golden Notebook (Cuốn sổ tay vàng) xuất bản
năm 1962 Tác phẩm được coi như tuyên ngôn của chủ nghĩa nữ quyền mặc
dù bản thân tác giả không hề có chủ đích để cuốn sách mang thông điệp
chính trị “ Các nhà hoạt động nữ quyền có thể coi Cuốn sổ tay vàng như là
tiên phong cho cái nhìn của thế kỉ XX về quan hệ nam nữ" - Ban giám khảoNobel đã phát biểu như vậy trong lễ trao giải Nobel
Giai đoạn tính từ đầu thiên niên kỷ thứ ba đến ngày nay, có thể coi là
“chuyển đổi mô hình" văn học nữ quyền với ảnh hưởng của hậu cấu trúc và
Trang 27hậu hiện đại Dựa vào sự hình thành và phát triển có thể hình dung diện mạocủa văn học nữ quyền theo tuyến thời gian Những tác giả khác tìm kiếmđịnh nghĩa văn học nữ quyền từ những cách tiếp cận khác Mary Eagleton
trong quyển Lý thuyết văn học nữ quyền (Blackwell Publishing, 1996) khảo
sát mối quan hệ giữa phụ nữ và tác tạo văn chương, giữa giới tính và thể loại,xác định ý nghĩa văn chương nữ, nhận diện một truyền thống văn chương nữ,đặt vấn đề về có khác biệt chăng trong đọc nữ và viết nữ Toril Moi trong
quyển Chính kiến văn bản / giới tính (NXB Routledge, 2002) chia ra hai
trường phái: Phê bình văn học nữ quyền Anh - Mỹ và phê bình văn học nữquyền Pháp Do đặc trưng ngôn ngữ của văn học, mỗi nền văn học của từngdân tộc có ngôn ngữ riêng đều có những tính chất riêng trong văn học sử và
hệ thống lý luận phê bình
Ở Việt Nam, vấn đề phụ nữ được quan tâm từ khá sớm Ngay từ
những năm đầu thế kỷ XX, năm 1907 ,trên Đăng cổ tùng báo, đã có mục
Nhời đàn bà như một diễn đàn của phụ nữ và cho đến năm 1920 thì như
nhận xét của nhà Việt Nam học người Úc David Marr: " Phụ nữ và xã hội đãtrở thành điểm tập trung chú ý mà các vấn đề khác thường xoay quanh nó.Hàng trăm cuốn sách, tập sách nhỏ và bài báo đã được xuất bản về mọi mặt.Phụ nữ trở nên có ý thức rằng họ là một nhóm người trong xã hội với các nỗibất bình và yêu cầu riêng" Điều này phản ánh vai trò quan trọng và nhữngđóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam trong xã hội
Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam, trải qua quá trình nhận thức từ lĩnh vực vănhóa- nữ học, giáo dục phụ nữ, sang lĩnh vực chính trị xã hội- phụ nữ vàquyền bầu cử, ứng cử, quyền tham chính, giải phóng phụ nữ Đến nhữngnăm 1930, dưới ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề nữ quyềnđược gắn với vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp
Trang 28Vấn đề phụ nữ không chỉ là vấn đề xã hội chung chung, mà đã nhanhchóng trở thành sự tự nhận thức của chính bản thân phụ nữ với sự xuất hiện
rất sớm của tờ báo dành riêng cho phụ nữ, tờ Nữ giới chung năm 1918, cũng
như sự phát triển của dòng báo phụ nữ trong những năm 1930 với sự thamgia của các nhà báo nữ như Sương Nguyệt Ánh, Đạm Phương, Nguyễn ThịKiêm, Phan Thị Nga, Vân Đài, Huỳnh Lan
Sự tự nhận thức của phụ nữ đối với vấn đề nữ quyền cũng như sự pháttriển của quá trình nhận thức tư tưởng này trong xã hội Việt Nam đã từngbước mang lại sự thay đổi thực sự cho phụ nữ cũng như sự phát triển củaphong trào phụ nữ, thúc đẩy phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội, vàophong trào đòi quyền bình đẳng nam nữ và giải phóng phụ nữ, giải phóngdân tộc và góp phần vào thành công của cách mạng dân tộc dân chủ nhândân ở Việt Nam
Một vấn đề được đặt ra là tại sao phong trào nữ quyền lại diễn ramạnh mẽ trong hoạt động văn học?
Văn học được xem là tiếng nói của tâm hồn Nếu có con đường đi tớitâm hồn ngắn nhất thì đó là văn học, nhất là đối với phụ nữ, họ phải chịunhiều thiệt thòi trong cuộc sống Các nhà văn nữ tìm đến con đường văn họckhông chỉ để bày tỏ những tâm tư tình cảm của mình và mong nhận được sựđồng cảm, mà đối với họ, văn học còn là con đường để đi đến đấu tranh đòibình đẳng về giới Văn học nữ quyền được biết đến với nhiều tác giả tiêubiểu trên thế giới, được biểu hiện trên hai phương diên : phê bình văn học nữquyền (như đã nói ở trên) và trong các sáng tác văn chương của những nhàvăn nữ Văn học nữ quyền gắn với quyền sống cơ bản của người phụ nữ, gắnvới thế giới quan về con người của người phụ nữ, đi sâu vào thế giới phứctạp của người phụ nữ
Trang 29Ưu điểm của văn học nữ giới chính là tinh thần phụ nữ Những đề tàitưởng như nhàm chán bởi bị thu hẹp quanh quẩn hôn nhân, tình yêu, giađình, sự nghiệp, con cái lại được làm phong phú bởi bề sâu cảm xúc vàchiêm nghiệm theo cách rất phụ nữ Họ đề cập đến những vấn đề "cấm kị"như đề cao tính dục, đề cao thân xác, đề cao vẻ đẹp của người phụ nữ và đảkích vào thế giới gia trưởng, nam quyền Nhược điểm của nó lại là: Họchống lại thế giới đàn ông, đôi khi cho rằng thế giới phụ nữ là trên hết và đôi
khi đề cao cả việc tình yêu đồng tính Tác phẩm Tình ơi là tình của Elfriede
Jelinek kể về một câu chuyện đơn giản, cũ xì như cuộc đời vẫn thế: Hai côgái mới lớn mơ ước lấy được ông chồng để yên tấm thân Một cô yêu phảimột gã béo ích kỷ và một cô vớ phải một thằng đần độn còn ích kỷ hơn Cômay mắn lấy được kẻ đã ngủ với mình làm chồng, cô kém may mắn hơnphải đứng đường để lấy tiền nuôi con Cuộc sống là như thế đấy: trần trụi,bẩn thỉu, hài hước; tình yêu là như thế đấy: toan tính, ích kỷ, may rủi; đạođức là thế đấy: ai to mồm hơn, khỏe mạnh hơn sẽ có quyền kết án kẻ yếu thế
và rủi ro hơn Nhưng đó vẫn là một cuộc sống mà tất cả đều đang phải sống.Người ta thường được nghe về Jelinek là một nữ văn sĩ đấu tranh cho nữ
quyền - không có nhận định nào sai hơn! Và tác phẩm Tình ơi là tình là một
minh chứng cho một văn phong nữ đầy cá tính Marguerite Duras tác giả
người Pháp với tác phẩm Người tình đã từng để lại những ấn tượng sốc đối với độc giả Vệ Tuệ - tác giả Trung Quốc với hàng loạt tác phẩm như : Điên
cuồng như Vệ Tuệ, Baby Thượng Hải… Cửu Đan với tác phẩm Qụa đen…
Trung Quốc bùng phát, nổi loạn với cách viết táo bạo của một số cây bút nữtrẻ trong dòng văn học Linglei như Vệ Tuệ, Xuân Thụ, Cửu Đan, MiênMiên, An Ni Bảo Bối…
Trang 30Ở Việt Nam, văn học nữ quyền cũng bắt đầu bám rễ với các tác giả
tiêu biểu như: Đỗ Hoàng Diệu (Bóng đè), Võ Thị Hảo (Người sót lại của
rừng cười), Phạm Thị Hoài (Năm ngày)…
Tình yêu, hạnh phúc cá nhân là một trong những đề tài thuộc “gu”thẩm mỹ của các nhà văn nữ Đó cũng là một cách để họ tự soi chiếu mình.Khi viết về tình yêu, họ khám phá toàn diện về mọi mặt, mọi cung bậc: Từnhững dư vị ngọt ngào đến những dư vị đắng chát, từ đớn đau đến xót xa Từnhững nhẹ dạ, cả tin đến những mạnh mẽ, chủ động, già dặn và từng trảiv.v…tất cả đều là những bộc bạch chân thực nhất Dấu hiệu ý thức nữ quyềnthấy rõ trong thái độ chủ động cũng như quyết liệt đấu tranh để giành, giữtình yêu, dám sống thật với chính mình và dám đi đến tận cùng bản thể.Nhân vật nữ trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ đa phần là nhữngngười đàn bà bất hạnh trong tình duyên và trong đời sống gia đình Nhưnghơn bao giờ hết, họ luôn có thái độ chủ động trong tình yêu, dám làm tất cảnhững gì mình khao khát Họ ý thức rất rõ về hạnh phúc và luôn đấu tranh để
đi đến hạnh phúc ấy Nhân vật Lụa trong truyện ngắn Bảy ngày trong đời
dám trốn bố mẹ đến với Sanh – người mà cô rất yêu thương mặc dù chưahiểu rõ về Sanh Cô cũng đã trao cho Sanh cái quý giá nhất của đời ngườicon gái Rồi Sanh đi, cô cũng không biết anh đi đâu? ở đâu? Và kết quả củamối tình ấy là cái thai đã tám tháng nhưng vẫn không có tin tức của Sanh.Một mình Lụa đối diện với bao dè bỉu của thiên hạ “cô là đứa con gái hưhỏng, xấu xa Không chồng mà chửa Nhưng với Lụa Đó là tất cả cuộc đờicô” Và cô quả quyết rằng mình “dám làm thì dám chịu” để “giữ tình yêu ấytrong lòng” Phải là người thực sự bản lĩnh cô mới dám cả “gan” và quyếtliệt bảo vệ và giành giữ tình yêu của mình đến như thế Nhân vật nữ trongtruyện ngắn của Y Ban cũng là những con người dám xông xáo trên conđường đi tìm tình yêu, mặc dù họ biết trước rằng cuối cùng mối tình ấy cũng
Trang 31chỉ là vô vọng Cô gái tên Lụa trong Chợ rằm dưới gốc cây cổ thụ gặp và
yêu chàng trai thổi sáo ở chợ đêm rằm Nhưng cô đâu biết rằng người cô yêuchỉ là một hồn ma còn “vấn vương” duyên trần thế Tình yêu ấy làm cô “trànđầy xốn xang”mặc dù sau đó được mẹ cho biết chàng đã chết nhưng trongchợ đêm rằm tháng bảy ấy khi được mẹ cho đi gặp anh, cô rất vui “như mở
cờ trong bụng” rồi đi tìm anh Dù không bao giờ được gặp lại người mìnhyêu nữa nhưng cô âm thầm giữ trọn mối tình ấy trong lòng Võ Thị Hảocũng “ưu ái” và dành nhiều trang viết về người phụ nữ Họ hiện lên là
“những người đàn bà khổ vì yêu, rút hết gan, hết ruột để yêu và hi sinh cho
tình yêu bất cần những hệ lụy sau đó” Nàng H’Điêu trong Khát của muôn
đời luôn khát khao yêu và sẵn sàng đi tìm người mình yêu thương không
ngại hi sinh bản thân mình, không quản cái chết Nàng cho rằng “khi yêu,con người ta vừa như mới sinh ra và người già cũng lập tức trở thành vụngdại như trẻ nhỏ” Nàng đã nguyện trở về kiếp trước, biến thành cây chanh đểcứu giúp những người sau đó – những cô gái bị lỡ làng, phụ bạc, "chính tráicây em đã làm nỗi đau trong tim họ dịu lại Và sau đó ai ăn trái chanhH’Điêu người đó sẽ biết quên mình, và vậy là người đó biết yêu" Cuộc sống
sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có tình yêu "Thử hỏi thế gian này không còn
ai biết mình, không còn ai si mê, không còn tìm đâu ra một kẻ biết yêu (…) ởtrong ngực mọi người chỉ còn là băng giá, chẳng còn những H’Điêu khôngquản cái chết đi tìm người yêu, thì liệu có đáng còn thế giới này chăng? Thậtđáng sợ"
Qua trang viết, những ước ao, những khát vọng của phái nữ đượcnâng niu Quan trọng hơn, họ ý thức cao về giá trị của chính bản thân mình.Trân trọng cái tôi bản thể Đó là một bệ phóng quan trọng để thức tỉnh nhữngphần sâu kín mà người phụ nữ vẫn cố nén chịu Nhà văn viết bằng một sựcảm thông sâu sắc đọng lại trên trang văn là cái nhìn nhân ái về số phận con
Trang 32người Cuộc hành trình mải miết kiếm tìm hạnh phúc của nữ sĩ Mỹ Tiệp
trong Gia đình bé mọn (Dạ Ngân) lắm chông gai và rào cản Gia đình phản
đối, dòng tộc, dư luận dè bỉu Kết quả của sự vênh lệch trong suy nghĩ, cáchsống của Mỹ Tiệp và chồng là những tháng ngày chịu đựng đầy khổ ải, nỗiđau chất chồng nỗi đau Cuối cùng vượt lên tất cả Tiệp cũng quyết định chiatay với Tuyên để được sống với người mình yêu thương Dạ Ngân như hóathân vào nhân vật Tiệp để thể hiện sâu sắc những cảm giác, cảm xúc rất phụ
nữ Gia đình bé mọn - một câu chuyện giản dị đã chuyển tải một thông điệp
rằng hạnh phúc của người phụ nữ không tự đến mà đó là quá trình kiếm tìmgian lao Điều đó không phải người phụ nữ nào cũng ý thức và dám làm nhất
là trong xã hội nặng đạo lý tam tòng như các nước phương Đông Không còncái mặc cảm e dè, sợ hãi khi đến với người mình yêu mặc dù bị gia đình, xãhội ngăn cản Họ - những người phụ nữ dẫu biết rằng cái kết cục của nhữngmối tình ấy không mấy tốt đẹp nhưng vẫn chủ động yêu, sẵn sàng làm tất cả
để giành và giữ tình yêu ấy Điều đó cho thấy ý thức cá nhân, yếu tố riêng tư
đã “cựa quậy” để thoát ra khỏi những ràng buộc cố hữu Dám sống thật vớichính cảm xúc, khát khao của mình – đó không phải là điều dễ thấy tronghình ảnh những người phụ nữ trước đây khi mà gánh nặng “tam tòng” còn đènặng lên vai Từ đó đã dần dần hé lộ ra những dấu hiệu ý thức “nữ quyền”một cách kín đáo nhưng không kém phần quyết liệt
1.3 Hình tượng nhân vật nữ trong sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay
1.3.1 Hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945
Những năm đầu thế kỉ XX, văn học trong tiến trình hiện đại hóa cóbước chuyển mình đổi mới toàn diện từ thể loại, chữ viết cho đến cảm hứng,
đề tài, quan niệm nghệ thuật về con người Tiểu thuyết là thể loại ra đời
Trang 33muộn nhưng sớm khẳng định được vị thế trên văn đàn Nếu trong văn họctrung đại chỉ mới xuất hiện lác đác vài tiểu thuyết chương hồi ảnh hưởngđậm nét của văn hóa Hán thì tiểu thuyết giai đoạn này là một vườn hoa nhiềuhương sắc mang dấu ấn của văn hóa phương Tây với các chủng loại khácnhau Đó là tiểu thuyết tâm lí của Nhất Linh, Khái Hưng phản ánh thế giớinội tâm phong phú, tinh vi, nhiều biến thái của con người; tiểu thuyết phongtục của Tô Hoài, Kim Lân tìm hiểu các mối quan hệ của con người vớiphong tục tập quán; tiểu thuyết hiện thực khám phá con người trong mốiquan hệ với đời sống và tiểu thuyết lịch sử tái hiện con người trong quá khứđem đến những thông điệp cho cuộc sống đương đại hôm nay.
Tiểu thuyết lịch sử viết bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện với số lượngkhá lớn, đánh dấu sự đột biến cho quá trình phát triển của chính nó Đó là
các tác phẩm: Giọt máu chung tình (1926), Hoàng Tử Cảnh đi Tây (1926),
Gia Long bôn ba vì nước (1928) của Tân Dân Tử; Cầu vồng Yên Thế của
Trần Trung Viên; Tiếng sấm đêm đông (1928), Đinh Tiên Hoàng (1929),
Vua Bố Cái (1929), Lê Đại Hành (1929), Việt Thanh chiến sử (1935), Mai Hắc Đế, Lý Nam Đế, Hai Bà đánh giặc (1936), Vua bà Triệu Âu (1936) của
Nguyễn Tử Siêu; Lịch sử Đề Thám (1935) của Ngô Tất Tố; Phan Đình
Phùng (1936) của Đào Trinh Nhất; Vua Hàm Nghi (1935), Hồi chuông Thiên Mụ (1940), Dưới lũy Trường Dục (1942) của Phan Trần Chúc; Chiếc ngai vàng (1935), Cái hột mận (1937), Đỉnh non thần (1940), Treo bức chiến bào (1942), Trong cơn binh lửa (1942)… của Lan Khai; Hòm đựng người (1938), Bà Chúa Chè (1938), Loạn kiêu binh (1939), Ngược dòng trường thi (1939), Chúa Trịnh Khải (1940)…của Nguyễn Triệu Luật; Lê Thái Tổ (1941), Thoát cung vua Mạc (1941), Cháy cung Chương Võ (1942)
của Chu Thiên; Đêm hội Long Trì (1942), An Tư (1944) của Nguyễn Huy
Tưởng
Trang 34Tiểu thuyết lịch sử viết giai đoạn đầu thế kỉ XX lấy đề tài từ cáccuộc kháng chiến chống ngoại xâm hoặc hình tượng người anh hùng cứunước, qua đó, góp một tiếng nói nhằm nhóm lên ngọn lửa sôi sục vì nướctrong lòng nhân dân và tìm trong lịch sử những bài học về tinh thần chốngngoại xâm Tác giả tiêu biểu cho đề tài này là Nguyễn Tử Siêu với mạch cảmhứng ca ngợi lịch sử dân tộc, ca ngợi các anh hùng dân tộc, thể hiện lòng yêunước qua tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, khích lệ ý thức trách nhiệm của
người dân đối với vận mệnh của đất nước Tiểu thuyết lịch sử Tiếng sấm
đêm đông viết về chuyện Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền đánh giặc Nam
Hán Tác phẩm Vua Bố Cái ca ngợi Phùng Hưng, người làng Đường Lâm,đánh đuổi quân đô hộ nhà Đường Tiểu thuyết Lê Đại Hành lại kể chuyệnnhà vua Tiền Lê đánh đuổi quân Tống, giữ vững nền độc lập cho dân tộc
Bên cạnh mạch cảm hứng lịch sử dân tộc, xuất hiện cảm hứng đạođức thế sự Tiểu thuyết của Lan Khai và Nguyễn Huy Tưởng "khai thácnhững mối tình éo le và những câu chuyện đời tư giàu chất bi kịch trong đề
tài lịch sử" Tiểu thuyết Cái hột mận xoay quanh chuyện tình tay ba giữa vị
tể tướng trẻ Lý Công Uẩn và hai người phụ nữ là hoàng hậu đương triềuDương Hậu và nàng Bội Ngọc trong những năm trị vì của vua Lê Ngọa
Triều, một tên bạo chúa khét tiếng Ai lên phố Cát là tình yêu của Lan Anh với trang anh hùng Vũ Mật Bà chúa Chè của Nguyễn Triệu Luật là câu
chuyện về cô thôn nữ Đặng Thị Huệ từ lúc bước chân vào phủ chúa được
sủng ái cho đến khi chết Đêm hội Long Trì là mối tình đầy trắc trở của đôi
trai tài gái sắc Quỳnh Hoa và Bảo Kim
Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này phong phú
đa dạng Ngoài những nhân vật lịch sử là những con người có thật lưu danh
sử sách còn xuất hiện nhân vật hoàn toàn do nhà văn sáng tạo để thực hiện ý
đồ nghệ thuật của mình Tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này xuất hiện khá
Trang 35nhiều nhân vật nữ Nhân vật phụ nữ đã xuất hiện nhiều trong văn học dângian, văn học Trung đại Đó là những con người đẹp người, đẹp nết nhưng sốphận vô cùng bấp bênh, phụ thuộc:
Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Đó là những con người có phẩm chất cao quý nhưng cuộc đời bấthạnh như Vũ Nương
Khác với văn học dân gian, người phụ nữ trong tiểu thuyết lịch sửgiai đoạn này mang phẩm chất, lý tưởng của người anh hùng: Đó là Triệu
Thị Trinh trong Vua bà Triệu Âu "Em chỉ muốn cưỡi luồng gió to, phá làn
sóng bạc, giết sạch cá kình nơi biển cả, cứu cho loài người khỏi phải đắmđuối chứ không khi nào chịu cong lưng, cứu cổ, cam chịu làm con đòi vợ lẽ
người ta" Hoặc như cô Chí trong Trùng Quang tâm sử có nhiệt tình yêu
nước, có ý chí đấu tranh, có lòng dũng cảm coi cái chết nhẹ tựa lông hồng,đòi quyền bình đẳng với nam giới trong sự nghiệp cứu nước: "Cái lòngthương nước giữ nòi có phải độc quyền của nam giới đâu" Hay như cô côngchúa An Tư, khi đất nước ở thế lâm nguy cũng gác tình riêng, sẵn sàng hisinh bản thân để giải nạn cho đất nước An Tư và Chiêu Thành Vương yêunhau tha thiết, thật là một đôi trai tài gái sắc Hôn sự của họ có lẽ sắp thànhnếu như không gặp phải buổi “quốc phá gia vong” này Vì nước, An Tư phải
để lại sau lưng cuộc sống nhung lụa , ấm êm trong cung đình, từ giã nhữngngười thân yêu, bè bạn, và người yêu để hiến dâng tuổi thanh xuân, đời congái, kể cả tính mạng mình với mong ước nước nhà vượt qua cơn bĩ cực, bảotồn được nền tự chủ Không một tấc sắt trong tay, cô công chúa sắc nướchương trời ấy được đưa sang dinh thự lúc bấy giờ của Thoát Hoan, cũngchính là kinh thành Thăng Long hoa lệ của Đại Việt Bằng sắc đẹp, tài hoasẵn có và lòng yêu nước nồng nàn của mình, An Tư đã kéo được Thoát Hoan
Trang 36vào các cuộc yến ẩm, du hí khiến y dần dần xao nhãng việc binh Và đóchính là khoảng thời gian quý báu để quân ta tổ chức lại lực lượng và định ra
kế sách nhiệm mầu để phá giặc Mùa hè đã đến, quân Mông Cổ trên các mặttrận đã gặp phải nhiều khó khăn to lớn nhất là tại Thanh Hoá, Nghệ An Toa
Đô bị quân dân nhà Trần cầm chân và đang có nguy cơ sa lầy chiến lược.Tin dữ dồn dập bay về đại bản doanh của Thoát Hoan Trong quân ThoátHoan đã có người nhận ra “ mối hoạ mĩ nhân” và tìm mọi cách để giết chết
An Tư Đã có lần Ô Mã Nhi trực tiếp ra yêu sách buộc Thoát Hoan phải tựtay giết An Tư, lúc khác y lại đột ngột xông vào trướng của Thoát Hoan đểhành thích An Tư nhưng không thành Chính Thoát Hoan cũng nhiều lần tựmình hạ quyết tâm giết An Tư đi để quân tướng dưới quyền y được yên lòngnhưng rồi vẫn cứ lần lữa không nỡ xuống tay Anh hùng nan quá mĩ nhânquan Ngược lại vì căm hận, chính An Tư cũng nhiều lần định giết ThoátHoan nhưng vì đại cục quốc gia dân tộc nàng không thể tuỳ tiện hành động.Đến giữa mùa hè, sau mấy tháng chịu giày vò trong “cuộc đời mãi dâm bênmình tướng Mông Cổ”, An Tư càng sốt ruột, lo âu vì chưa có tín hiệu phảncông của quân ta Nghĩ lại lời ước hẹn của Chiêu Thành Vương, lòng nàngnhư có lửa đốt Nhưng “khi nên trời cũng chiều người”, quân Mông Cổ đãbắt đầu phải đối diện với những khó khăn chồng chất- vừa bị tiêu hao đáng
kể trên các mặt trận lại thêm đói khát vì quân lương xa hàng vạn dặm khôngchuyển tới kịp lại thêm bệnh dịch hoành hành, người chết như ngả rạ Chiếnthuật “ vườn không nhà trống” của quân dân ta lúc này đã phát huy hiệu quả.Thời cơ phản công chiến lược đã tới, quân dân ta đã nhanh chóng giànhthắng lợi lớn trong trận Hàm Tử Quan, giết chết tướng giặc Toa Đô, và giờđây những cánh tay thích chữ và những tiếng hô “Sát Thát” vang trời dậyđất đã áp sát bến Chương Dương, tấm lá chắn phía Nam thành Thăng Long.Trận đánh lịch sử này do chính Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh đại
Trang 37vương Trần Quang Khải chỉ huy Phòng tuyến giặc nhanh chóng bị phá vỡtừng mảng, mũi tiên phong của quân ta do Chiêu Thành vương Trần Thông
và Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản đảm trách đã tiến sát chân thành ThăngLong Quân Mông – Nguyên cố thủ, dùng đại bác, nỏ cứng bắn xuống nhưmưa An Tư thừa lúc không ai để ý đã khoác bộ áo lính nhà Nguyên đứngtrên mặt thành cao “ hai hàng lệ lăn trên gò má” từng giờ từng phút bồnchồn trông đợi sự xuất hiện của lá cờ Tinh Cương và gương mặt của ngườitri kỉ Và chính An Tư đã trông thấy phút giây nguy kịch của Chiêu Thànhvương, chàng bị trúng trước sau hai mũi tên, mũi tên sau trúng ngực, làmchàng ngã vật dưới ngựa, bất tỉnh An Tư trên thành cao nhìn cảnh ấy, cũngngã vật xuống mê man bất tỉnh Thăng Long giải phóng, An Tư gặp lạiChiêu Thành vương, khi chàng đang cơn hấp hối Mặc áo tang và mai tángcho người yêu xong, trong đêm đại quân mở tiệc ăn mừng , An Tư một mìnhmột ngựa lẻn ra khấn khứa bên mộ người yêu: “ Tiệc vui riêng vương giakhông được hưởng, thiếp xin xuống suối vàng cùng vương gia tái hợp, chovương gia đỡ tủi Vương gia hãy sống khôn chết thiêng, xin đợi chờ thiếpđây” Và An Tư gieo mình xuống dòng sông Cái như lời khấn nguyện Sau
này, An Tư lại xuất hiện trong tiểu thuyết Bão táp triều Trần của Hoàng
Quốc Hải nhưng nhân vật này đã được nhà văn xây dựng với nhiều nét mới
Bà chúa Chè của Nguyễn Triệu Luật nói về cuộc đời Đặng Thị Huệ.
Từ một cô thôn nữ hái chè sau đó được Chúa sủng ái nhưng Huệ không anphận mà toan tính thoán ngôi đoạt vị, giành ngôi thế tử về cho con trai rồi rơi
vào loạn kiêu binh Đặng Thị Huệ cũng xuất hiện trong tiểu thuyết Đêm hội
Long Trì của Nguyễn Huy Tưởng và sau này là nhân vật chính trong tiểu
thuyết Tuyên phi Đặng Thị Huệ của Ngô Văn Phú Tuy cùng dựa trên một sự
thật lịch sử nhưng mỗi nhà văn xây dựng nhân vật của mình theo một cáchriêng, đem đến cho độc giả những cảm nhận khác nhau Tuy Đặng Thị Huệ
Trang 38không phải là anh hùng nhưng đó cũng là một nhân vật nữ không cam chịu
số phận, muốn thay đổi lịch sử
Rõ ràng hình ảnh người phụ nữ trong tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này
đã được nhìn dưới một góc độ và một thái độ khác Họ không còn hiện lênnhư những con người bị phụ thuộc, bị vùi dập, bạc đãi, khinh rẻ nữa mà lànhững con người có khát vọng tình yêu rất đỗi đời thường, biết đòi hỏi quyềnsống, quyền cống hiến, quyền làm người anh hùng: "Những sự nghiệp anhhùng có phải chỉ mình đàn ông làm được thôi đâu… Người ta chỉ sợ không có
chí, nếu có chí thì đàn bà cũng chả thua gì đàn ông" (Trùng Quang tâm sử).
1.3.2 Hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
từ 1945 đến 1986
Ở giai đoạn này, hiện thực đời sống kháng chiến trở thành đề tài chínhtrong các thể loại văn học Đề tài lịch sử và con người của quá khứ bị tạm gác
lại Ngoài những truyện lịch sử được viết cho thiếu nhi như: Lá cờ thêu sáu
chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung, tiểu thuyết lịch sử mãi đến những năm 60,
70 mới thưa thớt xuất hiện trở lại Tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô (1960) của
Nguyễn Huy Tưởng viết về cuộc chiến đấu chống Pháp của nhân dân Hà Nội
ròng rã trong hai tháng mùa đông năm 1946 Bóng nước Hồ Gươm(1970) của
Chu Thiên là một câu chuyện dài về những huyền thoại lịch sử xung quanh
Hồ Gươm kết hợp với tái hiện các trận đánh bảo vệ thành Hà Nội của các đội
nghĩa quân với tầng lớp nhà nho yêu nước Quận He khởi nghĩa (1963) tập
trung khắc họa hình ảnh Nguyễn Hữu Cầu và phong trào khởi nghĩa do ônglãnh đạo chống lại quan quân nhà Trịnh do nhà nghiên cứu lịch sử Hà Ân sáng
tác Ngoài ra ông còn có tiểu thuyết Tổ quốc kêu gọi viết về cuộc khởi nghĩa
Thái Nguyên chống xâm lược Pháp do Đội Cấn chỉ huy So với những nămđầu thế kỉ, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này phát triển chậm nhưng vẫn duy trìdòng mạch riêng trong lịch sử văn học dân tộc
Trang 39Khác với giai đoạn trước 1945, chặng đường này tiểu thuyết lịch sửchịu sự chi phối của quan niệm "văn học phục vụ chính trị" Nhà văn quantâm miêu tả các sự kiện lịch sử, đề cao cốt truyện, tập trung tái hiện không khílịch sử hơn là chú ý đến xây dựng nhân vật có cá tính, có đời sống tâm lýphong phú Nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử là những con người anh hùng cóphẩm chất tốt đẹp, có lí tưởng lớn lao, mang vẻ đẹp toàn diện Họ là nhữngcon người của cộng đồng, của tập thể, kiểu con người cá nhân và mối quan hệđời tư không tồn tại, thế giới nội tâm, đời sống riêng của nhân vật cũng mờnhạt hoặc bị bỏ qua Đó là quan niệm nghệ thuật trong văn học giai đoạn mộtthời phần nào làm hạn chế sự phát triển cá tính sáng tạo của nhà văn.
Tiểu thuyết lịch sử 1945 - 1986 có nét tương đồng với tiểu thuyếtlịch sử thời Trung đại ở chỗ các nhà văn chú ý tới tính chân thực của sử liệu,tái hiện chính xác các sự kiện lịch sử, không khí lịch sử, phản ánh quá khứhào hùng của dân tộc Nét khác biệt là nhà văn thể hiện và khái quát về lịch
sử qua miêu tả con người dưới góc độ sử thi Con người trong cảm hứng sửthi được ca ngợi, lãng mạn hóa với vẻ đẹp lí tưởng, toàn diện, toàn mĩ Conngười cá nhân ở góc độ đời tư với những khát vọng đời thường, với nội tâm
đa chiều biến thái hầu như không xuất hiện Nhìn chung, tiểu thuyết lịch sửgiai đoạn này xây dựng tuyến nhân vật của quá khứ mang chức năng xã hộihiện tại để giáo dục truyền thống yêu nước nhằm nâng cao tinh thần chiếnđấu, góp phần thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc
Trong tiểu thuyết giai đoạn này ít xuất hiện nhân vật nữ, mà nhân vậtchính chủ yếu là những trang nam nhi, là những anh hùng dân tộc Nhân vật
nữ chỉ xuất hiện, đi bên cạnh những nhân vật anh hùng đó, được những
người anh hùng có phẩm chất tốt đẹp cứu vớt, nâng đỡ Trinh trong Sống
mãi với Thủ đô được xem như là một nạn nhân của chiến tranh, cô đã được
Trần Văn yêu thương, giúp đỡ Với Trần Văn, những biến cố xảy ra trước và
Trang 40sau ngày toàn quốc kháng chiến như một định mệnh khiến anh luôn xuấthiện đúng lúc bên Trinh - người yêu cũ - trong những tình huống hiểmnghèo Khi xảy ra tác chiến ở nhà máy đèn, chồng Trinh bị một tên lính Phápbắn chết, Trần Văn đã ngẫu nhiên cứu được mẹ con Trinh ra khỏi hầm trú
ẩn Rồi sau một trận đánh, Trần Văn lại tình cờ gặp Trinh đang bế đứa connhỏ trên tay, mệt mỏi, tuyệt vọng trong đám người hỗn độn chưa kịp tản cư.Lúc này, trước mặt anh, “Trinh chỉ là một người cơ nhỡ, một nạn nhân củachiến tranh Nhìn Trinh nhỏ bé trong bóng tối, lảo đảo vì mệt mỏi, khuỵuluôn, trật giày luôn, anh thấy ngậm ngùi thương xót Anh nghĩ phụ nữ và trẻcon là những người phải chịu cái gánh nặng của chiến tranh nặng nề hơn cả,
vì là những người yếu đuối nhất đời, mỏng manh như cái bóng nước chỉ mộtgiọt mưa nhẹ cũng đủ làm cho tan đi như đã không có Trong lúc này, giúp
họ cũng lớn như đánh giặc”
Việc nhân vật nữ ít được các nhà văn chú ý trong giai đoạn này có lẽ
có nguyên nhân từ bối cảnh chính trị, từ quan niệm "văn học phục vụ chínhtrị" Ở hoàn cảnh đất nước trong giai đoạn này, người ta ưu tiên cho việc táihiện các sự kiện lịch sử, không khí lịch sử, quá khứ hào hùng của dân tộc vớinhững người anh hùng mang phẩm chất tốt đẹp, lý tưởng cao cả gắn với lợiích dân tộc mà ít chú ý đến con người cá nhân, con người đời thường vớinhững biến thái tinh vi trong tâm lý (lĩnh vực mà phụ nữ thường được nóiđến) Ở giai đoạn sau, khi đất nước hòa bình, trong bối cảnh lịch sử mới, có
sự thay đổi của quan niệm văn học thì nhân vật nữ lại xuất hiện nhiều trongcác tác phẩm lịch sử
1.3.3 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1986 đến nay – một bước phát triển mới trong việc thể hiện hình tượng nhân vật nữ
Sau 1986, bối cảnh lịch sử, xã hội mới, đất nước đã thống nhất vàbắt đầu thời kì đổi mới, yêu cầu phản ảnh trong văn học đòi hỏi có sự thay