Do cách nhìn hiện thực mới sâu sắc và nhuần nhị hơn, đã đem lại những cảm hứng mới, giọng điệu mới cho tác giả" Tác giả Nguyễn Kim Hồng trong bài viết in trên Tạp chí văn học số 5 - 198
Trang 1Vinh, năm 2007
Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinhKhoa sau đại học - -
Ngô Thị Diệu Thuý
Phong cách tiểu thuyết lê lựu
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Trang 2Vinh, năm 2007
Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinhKhoa sau đại học - -
Ngô Thị Diệu Thuý
Phong cách tiểu thuyết lê lựu
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 62 22 34
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngời hớng dẫn: PGS.Ts Đinh Trí Dũng
Trang 3Lời nói đầu
Nghiên cứu về đề tài Phong cách tiểu thuyết Lê Lựu là một việc làm cần
thiết và có ý nghĩa, không những giúp ta có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về
đặc trng thể loại tiểu thuyết mà còn thấy đợc những đóng góp của Lê Lựu cho tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam nói chung và giai đoạn sau 1975 nói riêng
Bằng cảm quan nhạy bén và bản lĩnh vững vàng trong sáng tạo nghệ thuật Lê Lựu đã tạo cho mình một chỗ đứng riêng, một phong cách độc đáo trên văn đàn Ông trở thành một trong những ngời đi đầu trên con đờng đổi mới văn học
Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi đã gặp không ít khó khăn Song, bản thân đã nhận đợc sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo Qua
đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hớng dẫn PGS-TS Đinh Trí Dũng và thầy phản biện cùng toàn thể các thầy cô và bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Dù đã cố gắng nhiều nhng do điều kiện thời gian và năng lựccó hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tác giả luận văn rất mong nhận đợc sự góp ý chân thành của các thầy cô và các bạn
Vinh 12/2007
Ngời thực hiện
Ngô Thị Diệu Thúy
Trang 4Chơng 1: Tiểu thuyết Lê Lựu trong bức tranh chung
của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
8
1.1 Tiểu thuyết và những đặc trng cơ bản của thể loại 8
1.2 Sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 13
1.2.2 Sự vận động của văn xuôi và tiểu thuyết 141.3 Lê Lựu- cây bút "tiền trạm" của đổi mới văn học 30
1.3.2 Đóng góp của Lê Lựu đối với tiến trình đổi mới tiểu thuyết
Việt Nam sau 1975
31
Chơng 2: phong cách tiểu thuyết Lê Lựu nhìn trên
ph-ơng diện lựa chọn đề tài và cảm hứng sáng tạo
34
2.1 Khái niệm và các phơng diện biểu hiện của phong cách 34
2.1.2 Các phơng diện biểu hiện của phong cách 362.1.3 Những nhân tố ảnh hởng đến sự hình thành phong cách tiểu
Trang 5Chơng 3 Phong cách tiểu thuyết Lê Lựu 81
1.1 Sau những năm 1975, đất nớc bớc vào thời kỳ xây dựng xã hội mới,
cuộc sống thời hậu chiến có nhiều đổi thay Văn học cũng có những đổi thay
để đáp ứng nhu cầu hiện thực mới Đây là giai đoạn đánh dấu bớc chuyển mình của văn học từ thời chiến sang hậu chiến, nhìn nhận vấn đề từ một chiều sang nhiều chiều Các thế hệ nhà văn đã không ngừng tìm tòi khám phá những
đề tài, nội dung cảm hứng mới, sáng tạo những cách thức, thủ pháp mới nhằm
Trang 6phản ánh đời sống xã hội một cách sâu rộng nhất Tìm hiểu văn xuôi, đặc biệt
là thể loại tiểu thuyết sẽ giúp chúng ta có cái nhìn bao quát, tổng thể về đời sống văn học cũng nh đời sống xã hội thời hậu chiến
1.2 Đất nớc đổi mới mang lại cho văn nghệ luồng sinh khí mới Lúc này "không phải văn học lựa chọn cuộc sống mà cuộc sống lựa chọn văn học
để thể hiện mình" Tiểu thuyết là thể loại chiếm vị trí hết sức quan trọng trong các loại hình văn xuôi nghệ thuật, "là hành trang chủ yếu của các cây bút văn xuôi, là dấu hiệu trởng thành của một nền văn học" Nó đợc xem là "máy cái của văn học, là mảnh đất lu giữ bóng hình cuộc đời và con ngời"
Mặt khác, tìm hiểu và đánh giá một nền văn học không thể không căn
cứ vào những nhà văn lớn, không thể không nghiên cứu những cây bút tiêu biểu của thời đại văn học ấy Thiết nghĩ tìm hiểu về tiểu thuyết của Lê Lựu là một việc làm có ý nghĩa, không chỉ giúp chúng ta hiểu hơn về đặc trng thể loại tiểu thuyết mà còn thấy đợc những đóng góp của Lê Lựu cho thể loại này và cho tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.3 Lê Lựu (12/12/1942) là một nhà văn xuất sắc Tính đến thời điểm này ông đã góp vào nền văn học hàng chục tác phẩm có giá trị (trong đó có sáu tiểu thuyết và nhiều tập truyện ngắn) Ông là một nhà văn quân đội đã
"thử bút" trên nhiều thể loại: báo chí, phóng sự, bút ký, tiểu thuyết, truyện ngắn và thực sự gặt hái đợc nhiều thành công trong thời chiến cũng nh thời bình Thành công nhất và tạo đợc tiếng tăm nhất là ở thể loại tiểu thuyết Có thể nói "từ khi đợc bạn đọc chú ý hễ cứ viết ra cuốn nào là gây d luận cuốn
đó" Đây chính là cơ sở thôi thúc chúng tôi tìm hiểu về sáng tác của ông
Sáng tác của Lê Lựu có nhiều đóng góp mới cho tiến trình văn học dân tộc Trong bức tranh chung của tiết thuyết Việt Nam sau 1975 ông đã tạo cho mình một chỗ đứng riêng trên văn đàn bằng hàng loạt tác phẩm nh: Mở rừng,
Thời xa vắng, Hai nhà, Sóng ở đáy sông, Chuyện làng Cuội trong đó có
những tác phẩm đạt giải của Hội nhà văn (Thời xa vắng - 1986) và đợc
Trang 7chuyển thể thành kịch bản phim (Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông) Điều này
minh chứng sức sáng tạo miệt mài, đồng thời khẳng định tài năng và bản lĩnh của ngời nghệ sĩ Lê Lựu đã thực sự tạo đợc phong cách riêng bởi ông "Luôn viết hết mình nh ông sống"
1.4 Nhận thấy phong cách với t cách là một phạm trù nghệ thuật, với ớng tiếp cận của nó là chìa khoá để chúng ta đi sâu khám phá những đặc trng mang tính thống nhất chỉnh thể của nhiều hiện tợng văn học Vì lẽ đó, khảo sát phong cách tiểu thuyết Lê Lựu giúp chúng ta thấy đợc quy luật thống nhất chặt chẽ biện chứng giữa nội dung và hình thức trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Khẳng định vị trí riêng của nhà văn trong dòng chảy của văn mạch dân tộc
h-2 Lịch sử vấn đề:
Tìm hiểu về tiểu thuyết Lê Lựu đang là một vấn đề mới mẻ Lê Lựu đợc
đánh giá là một nhà văn xuất sắc, không chỉ có tiếng tăm trong nớc mà còn cả nớc ngoài Tuy nhiên, cho đến nay, các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của ông vẫn đang còn ít ỏi, cha xứng đáng với những đóng góp của nhà văn Trớc 1975 Lê Lựu viết nhiều và đã có thành công trong thể loại truyện ngắn
Từ 1975 Lê Lựu đã tìm đợc sự tơng hợp với thể loại tiểu thuyết Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Lê Lựu có tên Mở rừng (1975) ra đời, dờng nh cha gây đợc
sự chú ý của d luận Điều này đợc lý giải bởi nhiều nguyên nhân, cũng có thể
do không khí chiến thắng đã choán hết sự quan tâm của mọi ngời Cũng là dễ hiểu, bởi không phải tác phẩm văn học nào ra đời cũng ngay tức khắc đợc chào đón
Mãi đến năm 1986, khi cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng trình làng đã thực
sự gây xôn xao trong d luận: ngời khen, kẻ chê, có ngời đồng tình cũng có
ng-ời e ngại Song nhà văn không bao giờ mu cầu "sự ăn may trong sáng tạo văn học" cũng "không biến mình thành cái dây chun, khi ngời ta căng ra thì anh căng theo, khi ngời ta giãn thì anh chùng xuống" Những gì thuộc về chân giá
Trang 8trị trong tác phẩm đã đợc sàng lọc qua thời gian Cuốn tiểu thuyết đã gây đợc
sự chú ý không chỉ đối với các nhà phê bình, nghiên cứu ở trong nớc mà còn cả nớc ngoài Các ý kiến, nhận xét về tiểu thuyết của ông thời kỳ này chủ yếu tập trung trong các bài viết in trên báo, tạp chí
Các nhà phê bình Trần Đình Sử, Vơng Trí Nhàn, Hoàng Ngọc Hiến, Ngô Thảo cũng đã có những nhận xét xác đáng về tiểu thuyết Lê Lựu Những ý kiến ấy cha phải là sự đánh giá toàn bộ tính độc đáo trong nội dung
và hình thức tác phẩm của nhà văn nhng cũng đã có những phát hiện thú vị về vấn đề này
Nguyễn Văn Lu trong bài viết "Nhu cầu nhận thức lại qua Thời xa vắng của Lê Lựu" in trên Tạp chí văn học số 5 - 1987 đã viết: "Tác giả đã thể hiện
những sự đổi mới cái nhìn vào thời hiện thực, với nhu cầu cấp thiết phải nhận thức lại thực tại" Nghĩa là yêu cầu của nhà văn một sự khám phá sâu hơn vào những vùng hiện thực mà trớc đây cha đợc chú ý đúng mức Ngời đọc thấy Lê Lựu trong Thời xa vắng khác hẳn Lê Lựu trong tác phẩm trớc đó "ở đây, tác
giả đã chuyển hớng rõ rệt trong phong cách nghệ thuật Do cách nhìn hiện thực mới sâu sắc và nhuần nhị hơn, đã đem lại những cảm hứng mới, giọng
điệu mới cho tác giả"
Tác giả Nguyễn Kim Hồng trong bài viết in trên Tạp chí văn học số 5 -
1988 cũng đã có nhận xét: "Thời xa vắng của Lê Lựu là một tác phẩm giàu
năng lợng sự thật" "Tác phẩm đã cảnh tỉnh con ngời tự nhận thức lại mình để
tự mình đi tìm lại những giá trị nhân bản đã từng bị lãng quên, bị làm mất Và chỉ có nh vậy, năng lợng tính ngời trong con ngời và cuộc sống xã hội mới đợc khởi động trở lại, mới phát huy tính tích cực xã hội của nó" Có thể nói Thời
xa vắng của Lê Lựu mang dáng dấp của một cuộc "nửa đời nhìn lại"
Bích Thu trong bài viết "Những nỗ lực sáng tạo của tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới" (in trong cuốn Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học - Viện văn học 1999) đã ghi nhận: "Đọc tiểu thuyết của Lê Lựu ngời đọc nhớ
Trang 9câu chuyện nhớ nhân vật của một thời đã qua mà ai cũng thấy thấp thoáng chút ít mình trong đó"
Trong khuynh hớng của văn xuôi hôm nay: mạnh bạo khai thác tính "đa sự", "đa đoan" của cuộc sống và tình đời, tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu
đợc xem là "thử nghiệm nghệ thuật mà mức độ thành công rất đáng ghi nhận Trớc hết, do tinh thần trách nhiệm cao của nhà văn và có thêm sự dũng cảm của những ngời khai phá đờng mới trong văn học" Trong sách Chân dung và
đối thoại, Nxb Thanh niên, Hà Nội 1998 tác giả Trần Đăng Khoa cũng đã có
những đánh giá chung về tiểu thuyết của Lê Lựu Ông cho rằng "Thời xa vắng
của Lê Lựu là loại tiểu thuyết bám sát với số phận nhân vật"
Các tác giả trong sách Thời xa vắng tiểu thuyết và phim, Nxb Hội nhà văn, Hà nội 2004 cũng đã có những ý kiến xác đáng về tiểu thuyết của Lê
Lựu Đinh Quang Tốn cho rằng điều kiện để Lê Lựu viết thành công đó là
“ông viết về những gì mình từng sống Chỉ nói những điều mình biết, mình hiểu sâu sắc” Vì thế “văn anh có giọng riêng, có duyên riêng Văn anh không rành rẽ, không mạch lạc nhng có một chất nhựa gì đó ở bên trong”[68,284]
Vơng Trí Nhàn trong bài: “Một đóng góp vào việc nhận diện con ngời Việt Nam hôm nay” lại cho rằng : “Toàn bộ Thời xa vắng là tiếng kêu của cả
một lớp ngời cho tuổi trẻ của mình, cuộc đời mình ngay khi thành đạt trong sự nghiệp nữa họ vẫn bất hạnh vì không biết sống Sự nuối tiếc ở đây là cú hích
đầu tiên để ngời ta nghĩ tiếp và tìm ra cho mình cách sống xác đáng”[68,316] Nhà văn đau đáu suy nghĩ trớc vấn đề đã đặt ra qua cuộc đời nhân vật với một cách nhìn sâu sắc và một ngòi bút đầy trách nhiệm Tác giả Noricô Kato lại cho rằng, “Thời xa vắng là một tác phẩm diễn tả đợc những biến đổi của văn
học xa và nay và là một cuốn tiểu thuyết rất thành công trong việc miêu tả nội tâm của những cá nhân”[68,355] Nhà văn Mỹ Kewin Bowen trong bài
“Một vài nhận xét về tác giả Thời xa vắng và bản dịch tác phẩm ra tiếng Anh”
cũng đã cho rằng: “Câu chuyện trong tác phẩm là câu chuyện của một làng quê, một gia đình, một con ngời và thâm nhập vào đời sống nông thôn và Hà
Trang 10Nội sau chiến tranh mà trớc đó không có tác phẩm nào đề cập tới Chỉ riêng
điều này cũng đủ giữ vị trí của tác phẩm trong lịch sử văn học”[68,362]
Sau tiểu thuyết Thời xa vắng Lê Lựu viết tiếp những: Chuyện làng Cuội, Sóng ở đáy sông, Hai nhà, Đại tá không biết đùa và thật sự gây đợc
nhiều tiếng vang trong d luận "Có những cuốn nổi tiếng bởi tự thân nội dung của nó, cũng có những cuốn nổi tiếng bởi tai tiếng, lại có những cuốn khi lên phim mới nổi đình nổi đám kéo theo là tay bay vạ gió " Song, ở bất cứ tác phẩm nào, dù lớn hay nhỏ Lê Lựu cũng có một vấn đề gì đó để gửi gắm Và giá trị của những cuốn tiểu thuyết ấy là không thể phủ nhận
Tác giả Lê Hồng Lâm trong bài phỏng vấn với nhà văn Lê Lựu (in trong cuốn Xem chữ đọc hình – Nxb Văn hoá Thông tin, 2006) đã nhận xét: "Sở dĩ
tác phẩm của Lê Lựu gây đợc d luận và có chỗ đứng riêng trên văn đàn nh:
Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông, Hai nhà là bởi "ông luôn viết hết mình nh
ông sống, yêu ghét rạch ròi và đặc biệt là đi đến tận cùng tính cách nhân vật
ở mức độ nào đó, nhà văn đã tạo ra những nhân vật điển hình trong hoàn cảnh
điển hình" "Bằng sự khai thác tận cùng tính cách nhân vật nhà văn bộc lộ sự tởng tợng và sáng tác tuyệt vời cũng nh qua đó đa ra những quan niệm sống, những tuyên bố của nhà văn trớc cuộc đời"
Bên cạnh các sách, báo, tạp chí, một số luận văn cũng có đề cập đến vấn đề này: Tác giả Lê Thị Hằng khi tìm hiểu "Một số đặc điểm của văn xuôi sau 1975 qua những truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu" (Luận văn thạc sĩ –
Trờng Đại học Vinh, bảo vệ năm 2002) cũng đã nhận xét: Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu là "một sự phê phán mạnh mẽ những thói quen bảo thủ, là một lời cảnh tỉnh, một niềm tâm sự nhắn gửi, một bài học lịch sử chua xót và thấm thía" Tác giả Nguyễn Thị Minh Thuỷ trong công trình "Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay" (Luận văn thạc sĩ –
Trờng Đại học Vinh, bảo vệ năm 2005) cũng đã có ý kiến xác đáng về tiểu thuyết của Lê Lựu
Trang 11Song, nhìn chung các công trình trên đây chỉ tìm hiểu một phơng diện, một góc độ nào đó chứ cha có công trình nào thật sự tập trung đi sâu từng tác phẩm để thấy đợc nét riêng, độc đáo trong phong cách tiểu thuyết Lê Lựu
Điều này cho thấy việc tìm hiểu, đánh giá về tiểu thuyết Lê Lựu vẫn còn là một khoảng mở Trên cơ sở ý kiến của những ngời đi trớc, chọn đề tài "Phong cách tiểu thuyết Lê Lựu" chúng tôi mong muốn góp phần nhỏ của mình trong việc đem lại cái nhìn toàn vẹn, sâu sắc hơn về một phong cách nghệ thuật trên văn đàn Việt Nam Cùng với mong muốn khẳng định giá trị đích thực trong tiểu thuyết của nhà văn và vị thế của ông một cây bút "tiền trạm" của đổi mới văn học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Với đề tài này chúng tôi xác định cho mình những nhiệm vụ:
3.1 Tìm hiểu về phong cách và những biểu hiện của của nó, đồng thời tìm hiểu những nhân tố chi phối sự hình thành phong cách tiểu thuyết Lê Lựu
3.2 Trong bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, đặt Lê Lựu bên cạnh những nhà văn khác để thấy đợc nét riêng trong phong cách và những đóng góp của nhà văn cho tiến trình đổi mới văn học
3.3 Đi sâu tìm hiểu và phân tích đặc điểm nổi bật trong phong cách tiểu thuyết Lê Lựu trên phơng diện nội dung (hệ đề tài, chủ đề, cảm hứng sáng tạo)
và hình thức nghệ thuật (kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ, cách xây dựng nhân vật )
4 Phạm vi nghiên cứu:
4.1 Phạm trù phong cách mà luận văn đề cập là phạm trù phong cách nghệ thuật, phạm trù thẩm mỹ, khác với phong cách ngôn ngữ, thuộc phạm trì ngôn ngữ học
4.2 Để làm rõ đề tài, luận văn này tập trung tìm hiểu các tiểu thuyết của Lê Lựu, đặc biệt hà ba cuốn tiểu thuyết tiêu biểu: Thời xa vắng, Sóng ở
đáy sông, Chuyện làng Cuội
Trang 125 Phơng pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành đề tài này chúng tôi sử dụng các phơng pháp sau: Phơng pháp phân tích-tổng hợp; phơng pháp so sánh đối chiếu; phơng pháp thống kê-phân loại
Chơng 1 Tiểu thuyết Lê Lựu trong bức tranh chung
của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.1 Tiểu thuyết và những đặc trng cơ bản của thể loại:
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết:
Tiểu thuyết là một thể loại ra đời muộn nhng lại chiếm vị trí hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển của văn học Nó đợc xem là "máy cái của văn học", "là mảnh đất lu giữ bóng hình cuộc đời và con ngời" Ngay từ lúc mới xuất hiện tiểu thuyết đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu,
Trang 13phê bình Song, tiểu thuyết không phải là một thể loại đã hoàn bị, có nòng cốt hay nền móng đã "đông cứng" Trái lại nó biến đổi và luôn tìm cách thoát ra khỏi các dạng thức, các khuôn mẫu do chính nó tạo ra bằng một tính "tự phê tuyệt vời" không mệt mỏi Bởi vậy, việc đa ra những định nghĩa có tính chất quy phạm cho thể loại này là rất khó khăn Những định nghĩa, quan niệm về tiểu thuyết chỉ phù hợp và phát huy trong từng kiểu, loại nhất định.
ở Việt Nam, khái niệm tiểu thuyết cũng đợc bàn đến rất nhiều Tác giả Phạm Quỳnh là một trong những ngời rất quan tâm đến tiểu thuyết Ông cho rằng "Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình ngời ta, phong tục xã hội hay là những sự lạ tích kỳ đủ làm cho ngời đọc hứng thú" hay nói cách khác, nó là một "truyện bịa đặt có thú vị" [dẫn theo 80, 10]
Thanh Lãng - nhà nghiên cứu miền Nam trong chuyên luận "Bản lợc đồ văn học Việt Nam" đã nói: "Tiểu thuyết (roman) là một truyện bịa đặt tơng
đối dài do óc tởng tợng nhng đợc xây dựng theo những tài liệu đợc lấy ngay trong thế giới hàng ngày Tiểu thuyết bởi vậy thờng là những bức tranh phong tục vì tác giả chủ trơng về một chuyện vào một khung cảnh xã hội có những đ-ờng nét, những màu sắc quen thuộc"
Tiểu thuyết có khả năng kỳ diệu trong việc tả chân cuộc đời, tả chân t ởng ngời đời Ngời viết tiểu thuyết "không thể viết bằng những ý niệm mà phải nh đang sống thực trong thế giới tởng tợng" Sẽ là khó khăn để đa ra một
t-định nghĩa hoàn mỹ về thể loại này - một thể loại luôn biến đổi và cha biết
đến sự hoàn bị Mỗi ngời do quan niệm, cách nhìn nhận, đánh giá của mình,
do môi trờng sống xã hội của thời mình mà có những quan niệm khác nhau về thể loại tiểu thuyết
Tác giả Nguyễn Xuân Nam trong Từ điển văn học đã định nghĩa: "Tiểu thuyết là một loại hình tự sự có ít nhiều h cấu, thông qua nhân vật, sự việc và hoàn cảnh, thờng dùng văn xuôi để phản ánh bức tranh xã hội".
Nếu nh truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, khả năng bao quát hiện thực đời sống, thể hiện số phận cá nhân chỉ giới hạn trong một phạm vi nào đó, ít
Trang 14thể hiện nhân vật trong quá trình vận động mà chủ yếu thể hiện nh một nhát cắt, một khoảnh khắc, quan tâm đến cái chốc lát (moment) thì tiểu thuyết là "một dòng chảy theo chiều dọc số phận con ngời" Tiểu thuyết là một tác phẩm tự sự (phân biệt với Kịch và Trữ tình), thờng đợc viết bằng văn xuôi Tiểu thuyết miêu tả hiện thực đời sống ở cả bề rộng lẫn bề sâu "Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở cả mọi không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục
đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp tái hiện nhiều tính cách
đa dạng" [dẫn theo 74, 227] Xác lập nội hàm khái niệm tiểu thuyết giúp ta nhận
ra những đặc điểm thi pháp cơ bản của thể loại Trên cơ sở đó khám phá về quan niệm của ngời nghệ sĩ cũng nh cách thức tổ chức kết cấu trong tác phẩm của anh
ta Đồng thời hiểu đợc quy luật vận động và phát triển của thể loại văn học đặc biệt này
1.1.2 Đặc trng cơ bản của tiểu thuyết:
Tiểu thuyết là thể loại đặc biệt, nó vừa mang những tính chất chung của văn xuôi nghệ thuật, song ở bên trong nó lại có những đặc điểm riêng khu biệt với thể loại khác Tiểu thuyết đợc xem là "thể loại chủ lực, giàu khả năng phản
ánh hiện thực" [dẫn theo 13, 199]
Trong quan niệm truyền thống tiểu thuyết khác với các thể loại khác ở
"sức chứa" và "sức chở" của nó Đặc điểm nổi bật trong tiểu thuyết cổ điển là
có dung lợng lớn, thờng có kết cấu nhiều chơng, nhiều hồi, số lợng nhân vật thờng rất đông Cốt truyện thờng tập trung vào các vấn đề mang tính lịch sử các vấn đề lớn của dân tộc, có khả năng bao quát hiện thực trong một khoảng không gian rộng lớn
Đặc trng cơ bản của tiểu thuyết hiện đại nói chung thể hiện trên các
ph-ơng diện chủ yếu nh:
Tiểu thuyết nhìn cuộc sống ở góc nhìn đời t Khuynh hớng của tiểu
thuyết hôm nay là "hết sức gần sự sống để đợc linh hoạt và gần nh cuộc đời" Khác với sử thi: luôn quan tâm đến vấn đề cộng đồng, dân tộc, con ngời thờng
Trang 15đợc hớng đến lý tởng chung của cộng đồng Do đó vấn đề riêng t, số phận cá nhân thờng ít đợc quan tâm Tiểu thuyết lại khác: "Tiểu thuyết là tác phẩm tự
sự mà nhân vật chính của nó, một con ngời cá nhân riêng biệt trong một giai
đoạn nào đó đã bộc lộ sự phát triển tính cách do mâu thuẫn giữa lợi ích với địa
vị hay lợi ích với chuẩn mực của đời sống xã hội" (Pospêlov) "Ngời ta tìm
đến tiểu thuyết nh tìm về chính mình hay tìm đến với lòng ngời và trờng đời Bởi trong tiểu thuyết lòng ngời và trờng đời đã đợc tổng kết một cách sâu sắc không phải bằng những khái niệm khô khan mà nó hiện ra với tất cả mọi hình
vẽ tơi mát và sống động y nh cuộc đời thật, còn thực và hay ho hơn cuộc đời thực" [dẫn theo 80, 356]
Chất văn xuôi cũng là nét tiêu biểu làm cho tiểu thuyết khác với thể loại
khác Nó cho phép nhà tiểu thuyết đa vào tác phẩm của mình từ những cái nhỏ nhặt, thậm chí vụn vặt nhất ở đó có sự hỗn hợp của cái xấu, cái tốt, cái cao cả, thấp hèn Cuộc sống hiện ra với tất cả đầy đủ các mặt của nó "Cuộc sống hiện ra dờng nh ô hợp với tất cả sự trần truồng, xấu xí, ghê tởm của nó đồng thời với tất cả vẻ đẹp trang nghiêm của nó, trong đó ngời ta mổ xẻ cuộc sống bằng con dao giải phẫu" (Biêlinxki) Có thể kiểm chứng đợc sự bộn bề, phức tạp, đa màu đa sắc của con ngời và xã hội trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố và trong các tiểu thuyết của nhà văn đơng đại "Tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân mọi yếu tố bề bộn của cuộc đời, đủ khả năng phơi bày đến tận cùng sự phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống" [dẫn theo 13, 196] Bởi vậy tính đa dạng
về màu sắc thẩm mĩ là đặc trng cơ bản của tiểu thuyết hiện đại.
Tiểu thuyết xoá bỏ khoảng cách giữa ngời trần thuật và đối tợng đợc trần thuật Trong tiểu thuyết khoảng cách giữa ngời trần thuật và nhân vật đợc
rút ngắn, thậm chí xoá bỏ Nhà văn có thể thâm nhập vào đời sống bên trong của con ngời với những khoảng tối, sáng Vì thế nhìn nhận đối tợng bao quát hơn, đa diện hơn Do đó có thể miêu tả nhân vật phản diện đợc đầy đủ hơn
Trang 16Nhà tiểu thuyết cũng có thể kể bằng nhiều giọng: suy t sâu lắng, chiêm nghiệm triết lý, cảm thông chia sẻ, hài hớc châm biếm tuỳ vào cảm hứng sáng tạo Nhân vật cũng có thể ngồi ngang hàng với tác giả, "đối thoại" với tác giả Từ đây xuất hiện loại ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết Đây cũng chính là cái "tính đa thanh, phức điệu" mà M Bakhtin từng gọi là "cái thần tình của thể loại" Có thể chứng minh điều này trong tiểu thuyết hiện thực phê phán, tiểu thuyết của các nhà văn đơng đại khi mà đời sống hiện thực đang bày ra tất cả các mặt, các chiều cạnh của nó.
Miêu tả về suy t của nhân vật trớc thế giới và đời ngời cũng là một thành
tố quan trọng của tiểu thuyết bên cạnh cốt truyện và tính cách nhân vật Tiểu thuyết có khả năng đi sâu khai thác từng mảnh đời, từng góc khuất trong sâu thẳm tâm hồn con ngời Suy t của nhân vật đợc thể hiện một cách phong phú:
độc thoại nội tâm, đối thoại với ngời vắng mặt, tâm sự qua nhật ký
Nhân vật là nơi tập trung nhất quan niệm của nhà văn, thể hiện t tởng, cách nhìn của nhà văn Bởi thế nhân vật trong tiểu thuyết thờng là những "con ngời nếm trải" Đó là những con ngời luôn suy nghĩ, day dứt, đấu tranh nội tâm trớc những thử thách của cuộc đời Có thể tìm thấy những con ngời biết suy t, trăn trở, tự ý thức về bản thân mình để vơn lên sống hoàn thiện, thiên l-
ơng hơn trong những sáng tác của Nam Cao, Nguyên Hồng, Thạch Lam Do
đặc trng thể loại, các nhà tiểu thuyết thờng xây dựng thế giới nghệ thuật của mình ở một toạ độ mới, mô tả thế giới nh là hiện tại đơng thời đang dang dở, cha hoàn thành "Ngời viết tiểu thuyết thiên về tất cả những gì còn cha xong xuôi"
Tiểu thuyết là một thể loại có cấu trúc linh hoạt, nên "u thế của tiểu
thuyết không chỉ ở khả năng mở rộng không gian, thời gian, nhân vật, sự kiện
mà còn có khả năng dồn nhân vật, sự kiện vào một khoảng thời gian hẹp hay khả năng đi sâu khai thác những cảnh ngộ riêng của nhân vật" [dẫn theo 13, 191] Điều này có thể thấy trong Sống mòn của Nam Cao, Số đỏ của Vũ Trọng
Trang 17Phụng hay Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải, Mùa lá rụng trong vờn của
Ma Văn Kháng, Mảnh đất lắm ngời nhiều ma của Nguyễn Khắc Tờng, Thời
xa vắng, Chuyện làng Cuội của Lê Lựu.v.v
Tiểu thuyết tổng hợp vào mình những đặc trng, thủ pháp nghệ thuật của các loại hình khác Nó có khả năng dung nạp các hình thái nhận thức của các
lĩnh vực khoa học khác Mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ tiểu thuyết lại có sự "lột xác" để tìm ra một dạng thức tổ chức nghệ thuật phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống mới, con ngời mới Nó luôn có xu hớng thoát ra khỏi "bộ khung chật hẹp" để tìm cho mình những nét mới Do vậy, đổi mới là một tất yếu có tính quy luật của thể loại này Trong thời điểm hiện nay, thời mà cả xã hội và con ngời đều có những bí ẩn, phức tạp không dễ lý giải, tiểu thuyết trở thành thể loại dẫn đầu trong việc đào sâu và mở rộng thêm những giới hạn chiếm lĩnh đời sống và nghệ thuật Vì thế, hiểu khái niệm và đặc trng cơ bản của thể loại là cơ sở để tìm hiểu và khám phá về tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới nói chung và phong cách tiểu thuyết Lê Lựu nói riêng
1.2 Sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975:
1.2.1 Bối cảnh xã hội:
Sau những năm 1975, hoà bình lập lại, đất nớc thống nhất và bớc vào thời kỳ xây dựng xã hội mới Đời sống thời hậu chiến có nhiều biến động, cơ chế chuyển đổi từ bất thờng (chiến tranh) sang bình thờng (hoà bình) Nhiều giá trị đợc nhìn nhận, xem xét lại, trong đó có giá trị về con ngời, giá trị thẩm
mỹ Nghị quyết Đại hội Đảng VI (1986) đã thổi một luồng gió mới vào các lĩnh vực đời sống xã hội Công cuộc đổi mới với "tinh thần dân chủ" và khẩu hiệu "nhìn thẳng sự thật, nói rõ sự thật và nói đúng sự thật" đã đáp ứng nh cầu của nhà văn và "cởi trói" cho ngời cầm bút
Trang 18Sự bùng nổ của nhiều thế hệ nhà văn, sự ra đời của nhiều hội văn nghệ, sự phát triển của báo chí, in ấn, xuất bản đã làm cho văn học phát huy đợc vai trò
và chức năng của nó Văn học đợc trở về đúng nghĩa "phản ánh hiện thực"
Bên cạnh đó cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa thay cho cơ chế quản lý hành chính tập trung bao cấp đã diễn
ra trong phạm vi cả nớc Không ít những mặt trái của cơ chế thị trờng đang xâm nhập, lấn chiếm vào đời sống hàng ngày của con ngời Đất nớc mở cửa
"những thông tin mới lạ cha từng thấy về chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật,
về văn học nghệ thuật trên khắp thế giới, những biến động dữ dội trong nớc và cả nớc ngoài khiến cho giới trí thức văn nghệ sĩ dù có quay lng nhắm mắt cũng không thể chủ quan đối với cách suy nghĩ lâu nay của mình" [dẫn theo
1.2.2 Sự vận động của văn xuôi và tiểu thuyết
Sau chiến tranh sự chuyển biến về t tởng và nghệ thuật là hiện tợng chung của mọi cây bút Mức độ chuyển biến ấy có khác nhau tuỳ theo bản lĩnh
và sự nhạy cảm của mỗi ngời với thời thế Những dấu hiệu đổi mới đợc khởi
động từ đầu những năm tám mơi (1980) đến Đại hội Đảng VI (1986) thì sự chuyển đổi trong giới cầm bút mới thật sự rõ rệt và có chiều sâu Văn xuôi tự
đổi mới để phục vụ sự nghiệp đổi mới của đất nớc và lành mạnh hoá xã hội Một mặt văn học chuyển động theo những đòi hỏi của cuộc sống, mặt khác trên quỹ đạo mới đó nó cũng tự vận động, phát triển theo những nhu cầu của chính bản thân Sự gặp gỡ của hai yêu cầu: một từ phía cuộc sống, phía quần chúng, cách mạng và một từ chính bản thân văn học đã đa đến sự chuyển đổi mạnh
Trang 19mẽ Thể loại tiểu thuyết đã phát huy đợc những u thế trong thời điểm lịch sử có nhiều biến động và tính cách con ngời đang trãi qua những thăng trầm số phận
Sự chuyển đổi trong tiểu thuyết đã thật sự diễn ra ở cả bề rộng lẫn bề sâu Ngời
ta nói tới "một sự khởi sắc trong toàn bộ nền văn học" "Cha bao giờ văn xuôi phát triển mạnh mẽ nh bây giờ cha bao giờ nhà văn đợc thành thật nh bây giờ"[67, 127] Tiểu thuyết thực sự đổi mới trên nhiều phơng diện: t duy nghệ thuật, cảm hứng sáng tạo, ngôn ngữ, kết cấu "Cha bao giờ dân tộc ta có một nền văn học phát triển toàn diện và sâu sắc nh ngày nay Các thể loại văn học
đều đợc các nhà văn sử dụng và trên bất cứ thể loại nào cũng đều có những đỉnh cao, ngay trong mỗi thể loại cũng có sự phát triển đa dạng của phong cách, cá tính"[30, 13] "Sắc thái đặc biệt của xã hội Việt Nam chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trờng với tất cả những biến động phong phú và phức tạp của nó
đã tìm thấy ở tiểu thuyết một sự tơng hợp" Với những đặc điểm đặc thù, những khả năng riêng, tiểu thuyết đã chứng tỏ sự hiện diện tất yếu của mình với hàng loạt tác phẩm mang đợc hơi thở của thời đại: Mảnh đất lắm ngời nhiều ma
(Nguyễn Khắc Trờng), Thân phận tình yêu (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng(Chu
Lai), Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Thoạt kỳ thuỷ (Nguyễn Bình Phơng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dơng Hớng).v.v
Đặc điểm nổi bật của văn học sau 1975 là một nền văn học vận động theo xu hớng dân chủ hoá Nền tảng t tởng và cảm hứng chủ đạo bao trùm trong văn học giai đoạn này là tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân Văn học phát triển sôi nổi, đa dạng, phong phú nhng cũng rất phức tạp
Có thể thấy sự chuyển đổi, cách tân trên nhiều phơng diện: cả nội dung lẫn hình thức
1.2.2.1 T duy mới về nghệ thuật:
T duy nghệ thuật là "một bộ phận của hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hoá hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mĩ" "Tính cấu trúc của t duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách toàn vẹn, nắm bắt nó
Trang 20qua những dấu hiệu phát sinh đồng thời phát hiện các mối liên hệ mới cha đợc nhận ra"[dẫn theo 74, 325]
Văn xuôi sau 1975, đặc biệt là sau đổi mới khi có điều kiện và thời gian
để suy ngẫm kỹ lỡng về hiện thực và số phận cá nhân, các sáng tác văn học theo quy luật chung đã chuyển sang thời kỳ băn khoăn, trăn trở, tìm tòi và đổi mới
Sự nghiệp đổi mới đã đa lại cho nhà văn t thế đối thoại với mọi ngời và với xã hội Tầm nhìn của nhà văn do vậy cũng đợc nâng cao và diện quan sát cũng đợc
mở rộng Đó là lý do dẫn tới việc nhà văn có thái độ khách quan trong miêu tả
và sự nhận thức cuộc sống cũng đầy đủ và kỹ càng hơn Hơn nữa, sự sáng tạo lại diễn ra trong bầu không khí dân chủ Đại hội Đảng VI (1986) mở ra một thời kỳ mới cho đất nớc, cho sự đổi mới trong t duy bao gồm cả t duy nghệ thuật Thái độ thẳng thắn nhìn nhận và đánh giá đúng bản chất các hiện tợng xã hội, tinh thần dân chủ đợc phát huy trong quá trình đổi mới đã tạo nên sức thúc
đẩy lớn lao cho sự phát triển của văn xuôi Đây là giai đoạn đánh dấu bớc chuyển mình rõ rệt trong t duy nghệ thuật của ngời cầm bút Văn học chuyển
đổi từ t duy sử thi sang t duy tiểu thuyết Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê
Lựu, Nguyễn Khắc Trờng là những nhà văn tiêu biểu cho quá trình đổi mới văn học thời kỳ này Bằng cảm quan của ngời nghệ sĩ luôn suy nghĩ một cách sâu xa những vấn đề đặt ra đằng sau những chiến công, đằng sau những số phận cộng đồng là số phận văn chơng của mỗi cá nhân và rộng ra là của cả nền văn học, các nhà văn luôn mong muốn làm nên những tác phẩm mà nhìn vào đó, ngời đọc có thể cảm nhận đợc "đâu là tiếng nói, cái chủ đề, t tởng trong cả đời văn" Đó là sự trăn trở, khao khát cho việc đổi mới t duy nghệ thuật Hàng loạt tác phẩm: Dấu chân ngời lính, Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn
Minh Châu), Thời gian của ngời (Nguyễn Khải), Thân phận tình yêu (Bảo
Ninh), Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm ngời nhiều ma (Nguyễn Khắc
Tr-ờng) là những minh chứng cho tài năng và bản lĩnh của ngời nghệ sĩ, chứng minh sự tồn tại của số phận văn chơng đợc bảo đảm trớc tiên bằng sự đổi mới t duy nghệ thuật
Trang 21Giai đoạn 1945 - 1975 là giai đoạn văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu Các nhà văn chủ yếu sáng tác theo khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn, "con ngời quần chúng" trở thành đối tợng quan tâm hàng đầu của các nhà văn Sau 1975, khi đất nớc đổi mới, văn học cũng tiến lên một đờng ray mới "có lúc ngập ngừng rụt rè, có lúc bạo dạn sấn sổ Dẫu thế nào mặc lòng, nó không còn chấp nhận sự bình ổn, bình yên kiểu cũ" Văn học đã làm
"một cuộc nhận đờng mới", đặc biệt là đổi mới trong t duy
Trớc hết, thể hiện ở quan niệm mới mẻ về văn chơng nghệ thuật, về kiểu nhà văn Giá trị của văn học lúc này không còn chỉ là "con thuyền chở đạo"
nh trong truyền thống mà thực sự đi sâu vào nhiều mảng hiện thực hơn, tiến sát cuộc sống và tiếp cận nó ở nhiều góc độ khác nhau Đây là giai đoạn "Dân chủ hoá văn học - dân chủ trong quan niệm và đánh giá văn học" Văn học thời nay không hề từ bỏ vai trò vũ khí tinh thần - t tởng của nó nhng nó đợc nhấn mạnh trớc hết ở sức mạnh khám phá thực tại và sự thức tỉnh, ý thức về sự thật, ở vai trò dự báo, dự cảm [dẫn theo 47, 131] Các nhà văn đã hô hào "đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ"- giai đoạn mà nh Hoàng Ngọc Hiến đã từng gọi là "chủ nghĩa hiện thực phải đạo" để trả về đúng nghĩa
"văn học là nhân học" (Gorki)
Nguyễn Minh Châu là ngời sớm nhất có sự trăn trở, khát khao đổi mới văn học bằng hàng loạt tác phẩm: Khách ở quê xa, Phiên chợ Giát, Ngời đàn
bà trên chuyến tàu tốc hành "Bằng cảm quan của một nghệ sĩ ông luôn suy
nghĩ một cách sâu xa những vấn đề đặt ra đằng sau những chiến công, đằng sau những số phận cộng đồng là số phận văn chơng của mỗi cá nhân" Từ thực tiễn sáng tác ông đã cảm nhận đợc rằng vấn đề của văn học vẫn còn
"thuộc địa hạt lý luận chung" Nhìn vào tác phẩm ngời đọc cha thể nhận ra
"đâu là tiếng nói, cái chủ đề t tởng trong cả đời văn" Đó là sự trăn trở, khát khao cho việc đổi mới t duy nghệ thuật mà ngòi bút a tìm tòi của ông đã không ngừng lật xới mọi vấn đề ngay cả khi đã có những tác phẩm xứng đáng
đóng góp cho nền văn học cách mạng [dẫn theo 40, 16 – 17]
Trang 22Cùng đờng với Nguyễn Minh Châu, các nhà văn Nguyễn Huy Thiệp,
Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trờng, Lê Lựu cũng có những tìm tòi đáng kể, thể hiện nỗ lực tìm kiếm sự đổi mới Trong những năm chiến tranh, điều kiện
đủ để nhà văn phát triển mọi mặt trong lao động sáng tạo cha thể nói là thuận lợi, mà phải sau chiến tranh đặc biệt là chỉ đến khi văn học cũng nh xã hội đợc sống trong không khí đổi mới thì ngời nghệ sĩ mới có điều kiện hơn để suy ngẫm, tìm tòi và thể nghiệm Song, sự thể nghiệm ấy dù ít dù nhiều cũng đã mang lại cho văn học những dấu hiệu đáng mừng
T duy mới về nghệ thuật còn thể hiện rõ trong cách nhìn, trong quan
niệm về con ngời Con ngời đợc nhìn nhận một cách toàn diện, nhiều mặt hơn Với sự mở rộng của t duy tiểu thuyết cho phép nhà văn phản ánh cuộc sống ở
mọi chiều rộng và chiều sâu của nó Do đó con ngời cũng đợc miêu tả đa diện, nhiều chiều Con ngời tồn tại trong sự đối lập: tốt - xấu, thiện - ác, cao cả - thấp hèn Nhà văn không phải "ghìm chặt" ngòi bút theo nguyên tắc lý tởng, cao cả một chiều nh trớc mà đợc tự do miêu tả, khắc hoạ con ngời ở mọi góc
độ Nếu nh "con ngời quần chúng", con ngời lý tởng đại diện cho dân tộc là
đối tợng trung tâm trong văn học 1945 - 1975 thì văn xuôi sau 1975 đặc biệt quan tâm đến "con ngời đạo đức thế sự", con ngời trong "tổng hoà các mối quan hệ" (Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Tớng về hu, Mùa lá rụng trong vờn, Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội )
Quan tâm đến con ngời, đến những vấn đề riêng t cá nhân là điểm nổi bật trong văn xuôi hôm nay Con ngời đợc nhìn nhận trong mối quan hệ phức tạp với cộng đồng, với gia đình, xã hội, với cả bản thân mình Nguyễn Minh Châu là ngời đã phát hiện rất rõ điều này Trong Một lần đối chứngnhà văn
từng nói: "Mọi ngời hãy làm một cuộc đối chứng với loài vật Một cuộc đối chứng giữa thiện và ác, giữa lý trí, trí tuệ và bản năng mù quáng (cũng là một cuộc đối chứng về mặt nhân cách và phi nhân cách, giữa cái hoàn thiện và cha hoàn thiện, giữa ánh sáng và những khoảng bóng tối vẫn còn rơi rớt bên trong
Trang 23tâm hồn mỗi ngời, miếng đất nơng náu và gieo mầm của lỗi lầm và tội
ác)"[dẫn theo 40, 52]
Cùng với những thay đổi trong quan niệm về văn chơng nghệ thuật thì
quan niệm về hiện thực và con ngời nh là đối tợng phản ánh, khám phá của
văn học cũng đợc mở rộng và mang tính toàn diện Hiện thực cuộc sống vốn ngổn ngang trăm bề lại trở thành "mảnh đất" màu mỡ để ngời nghệ sĩ "thâm canh, gieo trồng" Các nhà văn hôm nay đã đi sâu phản ánh hiện thực một cách khách quan và trung thực "Hiện thực không chỉ là hiện thực cách mạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà đó còn là hiện thực của đời sống hàng ngày, với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan, đa sự, phức tạp, chằng chịt,
đan dệt nên những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống Hiện thực đó còn là
đời sống cá nhân của mỗi con ngời với những vấn đề riêng t, số phận, nhân cách, với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch Hiện thực đời sống trong tính toàn vẹn của nó đã mở ra những không gian vô tận cho văn học thoả sức chiếm lĩnh, khám phá, khai vỡ"[dẫn theo 47, 132 – 133]
Mỗi thời đại văn học, do nhiều yếu tố chính trị - xã hội, do tầm vóc nhận thức cũng đa ra một cách quan niệm, một kiểu t duy riêng nhằm chiếm lĩnh thực tại một cách hiệu quả T duy mới về hiện thực và con ngời là đặc
điểm chủ đạo trong cảm quan của các nhà tiểu thuyết sau đổi mới Vì thế
"chất liệu" đợc nhà văn quan tâm lựa chọn cũng có nhiều mới mẻ, khác lạ so với trớc Cảm hứng sáng tạo của nhà văn do đó cũng có nhiều đổi thay mới, phong phú và đa dạng hơn
1.2.2.2 Cảm hứng sáng tạo mới
T duy mới về nghệ thuật tạo ra t tởng và quan niệm nghệ thuật Cách cảm, cách nghĩ về con ngời, về cuộc đời ảnh hởng rất lớn đến cảm hứng sáng tạo của nhà văn Văn xuôi hôm nay đã thật sự có những chuyển biến mạnh mẽ trong việc khai thác những t tởng, chủ đề và cảm hứng mới Cảm hứng sáng tạo biến chuyển rõ rệt từ cảm hứng sử thi lãng mạn sang cảm hứng thế sự đời
Trang 24t Từ cảm hứng ngợi ca, tự hào, khâm phục chuyển sang cảm hứng chiêm nghiệm lắng đọng suy t Từ cảm hứng về dân tộc, cộng đồng sang cảm hứng về thân phận cá nhân con ngời Nhà văn quan tâm một cách tỷ mỉ đến những vấn
đề nhỏ nhặt hàng ngày, những đau khổ, hạnh phúc trong một khoảng không gian hẹp, không gian gia đình
Cuộc sống hôm nay với biết bao bộn bề phức tạp "cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến
động, những bất ngờ thực sự là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thoả sức khai vỡ"[dẫn theo 86] T duy đợc "cởi trói", nhà văn đợc quyền tự do sáng tạo,
đợc "nói thẳng, nói thật", nói những điều trớc đây cha nói Vì vậy nhà văn quan tâm nhiều đề tài hơn, cảm hứng sáng tạo cũng phong phú
Cảm hứng về con ngời và thân phận cá nhân là điểm thu hút ngòi bút
của các nhà văn mạnh mẽ nhất Họ không chỉ quan tâm con ngời mà còn đề cập đến khát vọng sống, về hạnh phúc cá nhân, về tình yêu đôi lứa "Con ng-
ời mới xã hội chủ nghĩa đợc các nhà văn quan tâm một cách toàn diện không chỉ trong đấu tranh dân tộc, trong lao động và công tác mà cả trong cuộc sống bình thờng hàng ngày Nhà văn không chỉ tập trung cho con ngời xã hội chủ nghĩa mà cả con ngời riêng t, con ngời tự nhiên; không chỉ t tởng, quan điểm
mà cả tình cảm, tâm lý; không chỉ đời sống hữu thức mà cả những thoáng qua bất chợt, mơ hồ trong đời sống vô thức"[86] Vấn đề đợc đặt ra trong nhiều tác phẩm của Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trờng, Chu Lai đó là bên cạnh sự nghiệp chung của xã hội, của đất nớc không thể tách rời hạnh phúc cá nhân trong sự gắn bó hài hoà giữa con ngời cá nhân và con ngời xã hội
Các nhà văn hôm nay đã mạnh dạn để nhân vật của mình phải đối mặt với không ít những thử thách, phải tham gia vào cuộc chiến không có tiếng súng nhng cũng đầy gay go và ác liệt, mà nhiều khi để tồn tại đợc cũng không phải là dễ dàng Con ngời đạo đức thế sự là đối tợng chủ yếu trong t duy nghệ
Trang 25thuật, trong cảm hứng sáng tạo của các cây bút Con ngời đợc nhìn nhận trong nhiều mối quan hệ phức tạp, đợc chú ý ở cả mặt xã hội và mặt tự nhiên bản năng Có thể kiểm chứng điều này qua tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Lựu
Cảm hứng phê phán là cảm hứng nổi bật trong văn xuôi sau 1975 Đất
nớc đổi mới với biết bao điều mới lạ, con ngời đối mặt với những lo toan, thử thách, sự nhìn nhận lại quá khứ, nhìn nhận lại mình cũng là mong muốn hoàn thiện mình hơn Hay nói cách khác phê bình và tự phê cũng là cảm hứng nổi bật trong nhiều tác phẩm ở Mùa lá rụng trong vờn Ma Văn Kháng muốn nói
với mọi ngời sự thay đổi giữa cái mới - cũ, tốt - xấu là một quy luật tất yếu nh lá rụng trong vờn Hãy biết nhìn thẳng vào sự thật, nhìn nhận nó, phân tích
đánh giá một cách khách quan để có cách giải quyết thoả đáng Mảnh đất lắm ngời nhiều ma (Nguyễn Khắc Trờng), Bớc qua lời nguyền (Tạ Duy Anh) lại
viết về cái ác về những thói dung tục, về mối thù truyền kiếp giữa các dòng họ
đang ngự trị, hoành hành nơi làng xã
Trong một số tác phẩm của Lê Lựu, Ma Văn Kháng lại khai thác sự tha hoá nhân cách đạo đức con ngời (Đám cới không có giấy giá thú, Chuyện làng Cuội ) Bằng trách nhiệm và lơng tâm, những ngời cầm bút hôm nay đã
không né tránh, không làm ngơ trớc cuộc sống của nhân loại, trớc thực trạng
đầy biến động của xã hội Phải chăng "viết về cái ác cũng là một cách thức tỉnh nhân tính" Cuộc sống đổi thay với nhiều điều mới lạ nhng nơi sâu thẳm bên trong những cái lạc hậu, lỗi thời, những cái thuộc "di sản văn hoá cũ" vẫn
đang tồn tại cha khắc phục đợc Tình trạng non yếu trong quản lý sản xuất, non yếu trong t duy kinh tế, tâm lý và thói quen làm thuê, t tởng gia trởng có
ảnh hởng không nhỏ trong đời sống xã hội Chúng ta phải nhìn nhận lại với một tinh thần biện chứng năng động Không chỉ nhìn lại mình mà còn phải biết phê phán những cái cũ, cái xấu lỗi thời, tìm cách khắc phục những hạn
Trang 26chế để phù hợp với quá trình chuyển đổi của xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện thực mới
Chiêm nghiệm suy t về quá khứ, về những điều đã qua cũng là cảm
hứng nổi bật trong nhiều tác phẩm của các nhà văn sau đổi mới Cuộc chiến tranh kết thúc nhng d âm của nó vẫn còn đọng lại Con ngời tìm về quá khứ
nh là sự mong muốn tìm lại nguyên nhân cái ác, các xấu Và chỉ nhìn thẳng vào quá khứ, khắc phục những cái đó mới tránh đợc thảm họa của nó, mới có thể thanh thản sống với hiện tại hớng tới lẽ phải và điều thiện (ăn mày dĩ vãng
- Chu Lai , Thân phận tình yêu -Bảo Ninh )
Mặt khác trong cuộc sống bộn bề , phức tạp hôm nay, khi mà cái tốt và cái xấu lẫn lộn, ngời ta tìm về quá khứ, tìm về những con ngời anh hùng, mẫu mực trong chiến tranh tựa nh là nơi nơng náu, là chỗ dựa an ủi tinh thần để sống với cái gơng ấy với mong muốn sống tốt đẹp hơn Nhờ những suy t, chiêm nghiệm về lịch sử, về con ngời và về cả cuộc chiến đã qua mà ngời đọc cảm nhận đợc "trong mỗi tác phẩm cuộc chiến tranh oanh liệt vẫn đang hiện diện" Viết về quá khứ, về những cái đã qua là mong muốn hớng vào cuộc sống hiện tại Bởi họ muốn "soi tìm trong đó những tấm gơng tinh thần, đạo
đức, tìm lời giải đáp có ý nghĩa sâu sắc cho những vấn đề của cuộc sống con ngời trong nhiều thời đại"
Tóm lại, sau chiến tranh, đặc biệt là sau 1986 "đứng trên lập trờng nhân bản và bằng sự trãi nghiệm cá nhân, các nhà văn đã khai thác mặt trái của chiến tranh, của cơ chế thị trờng thời mở cửa, đặt ra những vấn đề nhức nhối
có sức ám ảnh ghê gớm đối với con ngời Tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới
đã tái hiện đợc một bức tranh hiện thực phong phú, đa dạng với các mảng bổ khuyết nhau, hài hòa, phức hợp"[115,35]
1.2.2.3 Những cách tân trong hình thức nghệ thuật.
Tiểu thuyết - nơi đợc xem là "mảnh đất lu giữ bóng hình cuộc đời" đã và
đang có những biến đổi, cách tân đáng kể trong hình thức nghệ thuật của nó
Trang 27Và để tiếp tục là một nghệ thuật đích thực tiểu thuyết nhất thiết phải đổi mới Các nhà văn hôm nay không chỉ khai thác những t tởng, chủ đề mới mà còn tìm tòi, sáng tạo những cách thức thể hiện mới Các nhà tiểu thuyết ngày nay bám sát càng sâu, càng sinh động về hiện thực đời sống, về con ngời Sự cách tân trong hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết có thể thấy rõ trên các bình diện: dung lợng, kết cấu, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, cách
tổ chức tạo dựng không gian, thời gian Nghệ thuật trong tiểu thuyết trở thành vấn đề trung tâm của những cách tân tự sự chứng tỏ yếu tố hình thức trong nghệ thuật đang đợc chú trọng ở mức độ cao Cũng nội dung ấy, cũng hiện thực ấy nhng nói thế nào để đạt hiệu quả nghệ thuật cao nhất, đó là đòi hỏi đồng thời cũng chính là sự thách thức đối với các nhà văn
Về mặt dung lợng văn xuôi hôm nay dờng nh đang "đối thoại" lại quan
niệm truyền thống về tiểu thuyết Đó là sự xuất hiện của loại tiểu thuyết ngắn Nếu trong truyền thống tiểu thuyết thờng có dung lợng lớn, đợc chia thành nhiều chơng, nhiều tập, nhiều hồi và nhiều nhân vật với khả năng khái quát hiện thực rộng lớn, thì các nhà tiểu thuyết hậu hiện đại lại cho trình làng nhiều tác phẩm với dung lợng ngắn, nhỏ Cùng với dung lợng ngắn thì số lợng nhân vật cũng ít đi, thậm chí đôi khi chỉ xoay quanh một sự kiện, một số phận nhân vật nào đó Vì thế cũng chống lại lối kể chuyện truyền thống "bám mãi vào cốt truyện" Nỗ lực của sự cách tân ấy là tiểu thuyết hôm nay "kể những cái không thể kể, kể những cái không xảy ra theo trình tự thời gian, không gian cụ thể, kể những cái nằm sâu trong tiềm thức và vô thức, những cái nằm ngoài lý luận của hiện thực tỉnh táo, những cái hỗn mang Nhiều khi cốt truyện chẳng còn gì để tóm tắt" Có thể kể ra rất nhiều tiểu thuyết có dung lợng ngắn: Phạm Thị Hoài với Thiên sứ (1988) 174 trang; Maria Sến (1996) 158 trang; Nguyễn
Bình Phơng với Thoạt kỳ Thủy (2004) 163 trang; Tạ Duy Anh với Thiên thần sám hối (2004) 186 trang; Hồ Anh Thái với Cõi ngời (2002) 257 trang; Lê
Trang 28Lựu với Thời xa vắng (1986) 344 trang; Sóng ở đáy sông (1994) 333 trang; Hai nhà (2006) 287 trang; Đại tá không biết đùa (2004) 167 trang.v.v.
Giá trị của tác phẩm là ở chiều sâu t tởng của nó, song tiểu thuyết những năm gần đây đã có sự "phá cách", đa ra một quan niệm về lối viết mới
Độ ngắn của tác phẩm không phải là non yếu, mà biểu hiện một dấu hiệu quan trọng của sự nỗ lực tìm tòi, đổi mới kỹ thuật - nghệ thuật tự sự của các nhà văn
đơng đại và minh chứng cho một quan niệm về tính toàn thể của thế giới chỉ
có thể đợc biểu hiện và nhận ra trong phân mảnh của thực tại và tham vọng miêu tả toàn bộ hoặc phần lớn thế giới trong một tác phẩm tiểu thuyết là siêu hình và trên thực tế là không thể đạt đợc
Sự cách tân trong dung lợng kéo theo sự đổi mới trong kết cấu tiểu
thuyết Kết cấu chính là sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật, tức là sự cấu tạo tác phẩm tùy theo nội dung thể tài Kết cấu là kết quả của nhận thức thẩm mĩ, phản ánh những liên hệ bề sâu của thực tại "Kết cấu tác phẩm không những thiết lập đợc nội dung giá trị t tởng cho một sáng tạo nghệ thuật mà nó còn cải biến và đào sâu hàm nghĩa những cái đợc miêu tả" Nhìn vào cách thức tổ chức, kết cấu tác phẩm có thể thấy đợc mối liên hệ cốt lõi giữa các hiện tợng cũng nh khả năng chiếm lĩnh thế giới trong tính đa diện, phức điệu, sinh động, mâu thuẫn lu chuyển và thống nhất của các nghệ sĩ trớc hiện thực khách quan Có thể thấy mạch vận động trong lối kết cấu truyền thống thờng theo kiểu chơng hồi, có thắt nút, cao trào, mở nút Hầu hết tác phẩm đều có kết cấu cốt truyện theo trình tự không gian, thời gian Lối kết thúc có hậu phù hợp với luân thờng đạo lý của lẽ đời, phù hợp tâm lý ngời Việt
Giai đoạn 1930 - 1945 tiểu thuyết đã có những biến chuyển tạo nên sự
đa dạng trong kết cấu: Có kiểu kết cấu vòng tròn, kết cấu theo trật tự liên tiếp của sự kiện, kết cấu đảo lộn trật tự thời gian, thậm chí có cả kiểu kết cấu lắp ghép, phân mảnh nh điện ảnh
Trang 29Những năm 1945 - 1975, do yêu cầu lịch sử, văn học phải hoàn thành nhiệm vụ cao cả của dân tộc, do đó tiểu thuyết mang đậm tính chất sử thi và cảm hứng lãng mạn Kết cấu chủ yếu là một chiều, lấy trục thời gian và sự kiện làm cơ sở.
Sau 1975, đặc biệt là từ sau 1986 đất nớc đi vào ổn định và phát triển Vấn đề dân chủ hóa trong đời sống xã hội đi vào văn học nh một yêu cầu của thời đại Tiểu thuyết không chỉ chuyển đổi trong nội dung miêu tả mà còn thay
đổi phơng thức một cách rõ rệt Kết cấu tiểu thuyết đa dạng nhiều tầng lớp hơn; trong tác phẩm có sự đan cài thời gian quá khứ và hiện tại Kiểu kết cấu nổi bật
đợc các nhà văn sau đổi mới sử dụng là kết cấu phân mảnh, lắp ghép và xu ớng kết thúc mở, để ngỏ trong tự sự thay vì khép kín nh trớc đây
h-Mô hình cấu trúc trong tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975 là cấu trúc lịch sử - sự kiện (Nguyễn Đình Thi với Xung kích, Nguyễn Minh Châu với Dấu chân ngời lính, Anh Đức với Hòn đất ) Trong tiểu thuyết hiện nay xuất
hiện cấu trúc lịch sử - tâm hồn Lịch sử đợc nhìn nhận qua tâm hồn bên trong phong phú và phức tạp, đầy bí ẩn của con ngời Những dấu hiệu tìm tòi đầu tiên theo hớng này là tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu Tiếp đó Nguyễn
Khải, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Phạm Thị Hoài cũng chọn cho mình lối kết cấu mới mẻ Với Phạm Thị Hoài, chỉ 158 trang tiểu thuyết chị đã chia thành mời lăm chơng dài ngắn khác nhau mà mỗi chơng gắn với một tiêu đề
cụ thể (Maria Sến).
Lối kết thúc để ngỏ, kết thúc mở lại làm cho ngời đọc băn khoăn trăn trở, suy nghĩ (Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà; Thiên thần sám hối của
Tạ Duy Anh )
ở Cơ hội của Chúa tác giả đã thể hiện lối viết linh hoạt, cấu trúc khá
hiện đại và các trờng đoạn đợc cắt rời và lắp ghép hợp lý tạo cảm giác liền mạch, tránh đợc lối mòn truyền thống trong văn xuôi Việt Nam Nguyễn Việt
Hà đã thể hiện "một thế giới không thuần nhất và muôn hình vạn trạng, không
Trang 30khép mà mở, không xác thực mà đầy bí hiểm, bất ổn, hoài nghi" Thoạt kỳ Thủy của Nguyễn Bình Phơng cũng là tác phẩm có cấu tứ táo bạo và những
đoạn buông lỏng - đó là sự phức tạp trong thế giới của những ngời điên mà Tính là một nhân vật tiêu biểu Có thể nói lối kết cấu mở là điểm khác biệt cơ bản về hình thức nghệ thuật so với tiểu thuyết cổ điển Lối kết cấu này "đánh dấu hiện thực đa chiều của nhịp sống đơng đại"
Kiểu cấu trúc luận đề cũng đợc nhiều tác giả lựa chọn: Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Cõi ngời rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh).v.v
Bên cạnh việc kết cấu thì trong nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng có
những cách tân đáng kể Cùng với kết cấu, ngôn ngữ, thời gian - không gian nghệ thuật, nhân vật tạo nên gơng mặt cho tác phẩm, làm nên đặc điểm sáng tác của một nhà văn Bởi nhân vật là nơi tập trung nhất quan niệm, t tởng, cách nhìn của nhà văn về con ngời và cuộc đời Trong cuộc sống xô bồ, biến thiên, phức tạp, con ngời đôi khi cũng biến hóa khôn lờng Do đó nhân vật có khi đ-
ợc phác họa ở một vài nét nào đó và trong nhiều tác phẩm thấy xuất hiện hình tợng nhân vật mang đậm tính chất biểu trng Nhân vật có thể là ngời, có khi là vật, là con ngời (Thoạt kỳ Thủy), thậm chí là một bào thai trong bụng mẹ trò
chuyện, suy nghĩ về lẽ đời (Thiên thần sám hối) Nhà văn hôm nay có thể
đứng ở nhiều góc độ khác nhau mà soi chiếu vào hiện thực cuộc sống vốn đa chiều, phức tạp Nhân vật đợc đặt trong nhiều mối quan hệ, có khi nhập nhằng giữa quá khứ - hiện tại và tơng lai Con ngời đợc nhìn nhận trên nhiều bình diện khác nhau Nhà văn cũng quan tâm nhiều hơn đến mọi hạng ngời trong xã hội, thể hiện một cách biện chứng những mặt tự nhiên - xã hội của con ng-ời
Mặt khác, nhân vật hôm nay cũng rất dễ quy thành từng nhóm có nhiều
điểm tơng đồng Chẳng hạn: cùng là giới trí thức, cùng là tầng lớp hạ đẳng, cùng
là hạng ngời tiêu biểu cho sự sa đọa, thoái hóa về nhân cách, đạo đức Mỗi ngời
đều có cách nghĩ và hành động riêng, song tất cả họ là sự minh chứng rõ ràng
Trang 31cho một xã hội đầy những phức tạp và không ít những mặt trái của cơ chế thị ờng đang hoành hành Đồng thời thể hiện bản lĩnh của ngời cầm bút dám khắc họa một cách trung thực và khách quan hiện thực đời sống (Cơ hội của Chúa, Thiên sứ, Cõi ngời rung chuông tận thế, Chuyện làng Cuội ).
tr-Từ quan niệm nghệ thuật về con ngời, về cuộc đời đã chi phối cách tổ chức tạo dựng không gian-thời gian trong tác phẩm Có thể thấy sự trộn lẫn,
tích hợp nhiều bình diện thời gian trong tiểu thuyết Không gian-thời gian nghệ thuật là những hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật thể hiện thực chất sáng tạo của ngời nghệ sĩ Sự miêu tả, trần thuật bao giờ cũng xuất phát
từ một điểm nhìn, diễn ra trong một trờng nhìn, một thời gian nhất định
Thời gian nghệ thuật là thời gian có thể thể nghiệm đợc trong tác phẩm với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, chiều thời gian là hiện tại hay quá khứ, tơng lai "Thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của con ngời trong thế giới, đồng thời cũng thể hiện sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phơng thức tồn tại của con ngời trong thế giới"[74,273] Mỗi nhà văn đều lựa chọn cho mình cách kiến tạo thời gian-không gian riêng trong tác phẩm: Có thời gian quá khứ, hiện tại hoặc tơng lai, cũng có thời gian "trôi" trong diễn biến sinh hoạt hay thời gian gắn với các vận động lịch sử của thời đại
Cũng vậy, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Không có hiện tợng nghệ thuật không có không gian, không có một nhân vật, nền cảnh nào "Không gian nghệ thuật cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, đồng thời cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng nh nghiên cứu loại hình của các hiện tợng nghệ thuật"[74,135] Chính vì thế sự đổi mới cách tân trong hình thức tác phẩm không thể không cách tân trong cách tổ chức thời gian-không gian nghệ thuật Trong văn học giai đoạn trớc đó chủ yếu là thời gian-không gian một chiều theo tuyến tính lịch sử-sự kiện Sau 1975, thời gian đợc tổ chức một cách đa tuyến, nhiều chiều Thời gian chuyển đổi liên tục, bằng các mạch phát triển
Trang 32của thời gian tâm trạng Xây dựng thời gian trên dòng tâm trạng và ý thức cũng là cách đợc nhiều nhà tiểu thuyết lựa chọn Sự đồng hiện quá khứ - hiện tại - tơng lai cũng tạo nên mạch văn có sức hấp dẫn, lôi cuốn (Thân phận tình yêu - Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng - Chu Lai, Bến không chồng - Dơng Hớng )
Không gian trong tác phẩm cũng là không gian đa chiều Điều này phù hợp với hiện thực cuộc sống "đa chiều", phức tạp thời hậu chiến Rõ ràng ý thức và
sự thể hiện không gian - thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới đã có bớc chuyển mạnh mẽ so với trớc Không gian đợc các nhà văn tập trung miêu tả không phải là không gian rộng lớn, không gian cộng
đồng mà là không gian đời thờng gắn với sinh hoạt, đời t cá nhân Đó là không gian hẹp, không gian trong gia đình- nơi bản chất các mối quan hệ, mâu thuẫn, xung đột bộc lộ một cách rõ nét nhất Có thể kiểm chứng điều này trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khắc Trờng, Lê Lựu.v.v
Chiến tranh đi qua, đất nớc trở lại thời bình ổn, tuy nhiên có không ít những bộn bề, phức tạp với những buồn - vui thân phận, những đau khổ, hạnh phúc cá nhân đang diễn ra hàng ngày Cuộc sống tự nó cất lên tiếng nói đa âm sắc của mình và vì thế nhà văn cũng có thêm sự đa dạng trong đề tài, cảm hứng, giọng điệu Nếu văn học trớc đó chủ yếu là giọng đơn thanh thì bây giờ là giọng đa thanh Cảm hứng ngợi ca đã tạo thành một áp lực-"áp lực sử thi" chi phối ngòi bút của nhà văn cho nên họ đều sử dụng lớp ngôn từ đậm màu sắc chính trị - cách mạng Giọng điệu chủ yếu là tự hào, lý tởng hớng về
ca ngợi, chiêm ngỡng đối tợng, với một niềm tôn kính, khâm phục cao độ, vì thế mà ngôn ngữ thanh cao, trong sáng Văn xuôi hôm nay đã không né tránh
đợc những dung tục, trần trụi do đó mà ngôn ngữ giọng điệu cũng trở nên gần gũi, suồng sã, thậm chí có cả thứ ngôn ngữ thông tục hàng ngày của nhiều hạng ngời Nhà văn không còn khoảng cách với các đối tợng cho nên có thể nghe tất cả mọi lời nói từ cửa miệng của đầy đủ các tầng lớp ngời trong xã
Trang 33hội Từ ngôn ngữ một giọng trớc đó đã chuyển sang ngôn ngữ đối thoại, nhiều giọng Có sự hòa trộn giữa ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ ngời trần thuật và giọng nhân vật, nhiều khi rất khó phân biệt đâu là lời nhà văn, đâu là lời của nhân vật trong tác phẩm Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài là những ngời đã mạnh dạn đa cái trần trụi trong đời sống hàng ngày vào tác phẩm (Chuyện làng Cuội, Sóng ở đáy sông, Maria Sến ) Nhà văn để cho
nhân vật tự bộc lộ tính cách bằng ngôn ngữ của mình Nhà văn không "sai khiến", "bắt ép" nhân vật noi theo, làm theo Vì thế, ngôn ngữ trong tác phẩm chủ yếu là ngôn ngữ gắn với đời thờng hàng ngày mang tính cá thể hóa của nhân vật
Tuy nhiên, với sự nhìn nhận, trãi nghiệm trong cuộc đời đã cho phép nhà văn suy t, chiêm nghiệm về con ngời, về lẽ đời Vì vậy, bên cạnh thứ ngôn ngữ đời thờng mang tính cá thể hóa của nhân vật thì trong một số tác phẩm của Nguyễn Việt Hà, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Lê Lựu lại thấy xuất hiện câu văn đậm chất khái quát - triết lý Lúc này nhà văn không chỉ dừng lại ở sự khám phá hiện thực mà còn muốn đi sâu vào cõi tâm linh của con ngời để nắm bắt, lý giải những điều bí ẩn, phức tạp của nó Các hình thức độc thoại nội tâm của con ngời cũng đợc bộc lộ từ đây Có lẽ đó chính là điều thể hiện sự ồn ào, sôi động, hỗn mang trong bức tranh chung của Việt Nam trong sự đổi mới của cơ chế thị trờng Sự xuất hiện nhiều giọng điệu nh vậy trong sáng tác hôm nay
đã mở ra một thời kỳ mới cho văn học Có giọng điệu "nửa đùa nửa thật"- giọng kể không mang tính chất răn dạy mà chỉ đơn giản là thuật lại, thứ giọng
có vẻ "không nghiêm túc", thậm chí nh đùa giỡn, vừa coi điều mình nói là thành thật, vừa coi nó là không quan trọng Điều này có khả năng làm nhòe
mờ về nghĩa, về t tởng gợi lên nơi ngời đọc sự suy nghĩ lắng sâu Do đó làm giàu thêm nội dung của tác phẩm
Sự cách tân trong ngôn ngữ còn thể hiện ở sự xuất hiện giọng điệu suy
t, tranh biện Có thể thấy rất nhiều những cuộc đối thoại tranh biện, những lời
Trang 34nói đầy triết lý về đời sống, về con ngời, nhân sinh thế sự, lơng tâm đạo đức Các cuộc thoại độc đáo, sinh động xuất hiện với tần số rất lớn trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Lê Lựu, Phan Thị Hoài
Nhìn chung, trong tiểu thuyết hôm nay không chỉ mới về nội dung cảm hứng mà còn mới trong cách thức thể hiện Điều này đánh dấu một bớc phát triển mới của văn học, khẳng định sự đổi mới trong t duy, nhận thức nghệ thuật Trong phạm vi luận văn này, ngời viết không đủ thời gian và điều kiện để khảo sát trên tất cả các phơng diện, cũng không thể phân tích thỏa đáng về các tác phẩm của các nhà văn Ngời viết chỉ xin đi sâu vào tác phẩm của Lê Lựu - một ngời đợc xem là "u thời mẫn thế", nhạy cảm đặc biệt trớc sự đổi mới của đất n-
ớc Và ông thực sự đã có những đóng góp không nhỏ cho văn học nớc nhà Bởi vậy, tìm hiểu phân tích, khảo sát tác phẩm của ông trên các phơng diện nội dung và hình thức nghệ thuật là mong muốn khẳng định một phong cách tiểu thuyết nổi bật trên văn đàn Lê Lựu là một minh chứng cho sự đổi mới trong văn học mà trớc hết là ở t duy nghệ thuật, ở quan niệm sáng tác, ở chủ đề, t t-ởng, cảm hứng sáng tạo cũng nh cách nhìn nhận đánh giá về cuộc đời và con ngời
1.3 Lê Lựu - Cây bút "tiền trạm" của đổi mới văn học.
1.3.1 Quá trình sáng tác của Lê Lựu.
Lê Lựu sinh ngày 12.12.1942 trong gia đình nghèo có đông anh em thuộc thuôn Mãn Hòa - Tân Châu - Khoái Châu (nay là Châu Giang) của tỉnh Hng Yên Cuộc đời cầm bút của nhà văn đã trãi qua không ít những thăng trầm, thử thách cả trong thời chiến lẫn thời bình Đó là một cuộc đời lao động nghệ thuật khổ luyện miệt mài không biết mệt mỏi Ông cứ điềm nhiên đi trên lộ trình văn học với những mong muốn và tâm huyết của một con ngời thấm thía nỗi đời Cho đến thời điểm này ông đã có trong tay hàng chục truyện ngắn và tiểu thuyết và thực sự đã tạo đợc chỗ đứng riêng trên văn đàn Việt Nam.Ông là một nhà văn quân đội trởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Lê Lựu
Trang 35đã từng "thử bút" trên nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký và đạt nhiều thành công trong thời chiến cũng nh thời bình Lê Lựu đã góp vào văn học một khối lợng tác phẩm không nhỏ Song, điều đáng nói là chất lợng bên trong tác phẩm ấy Bởi nhà văn luôn viết hết mình nh ông sống,ông tâm niệm
"sống thế nào viết thế ấy", "tốt nhất là không mợn ai cả" Trớc đổi mới, ngay
từ những năm 1963 - khi còn làm báo ở Quân khu, Lê Lựu đã viết truyện ngắn
Tết làng mụa và sau đó là một loạt truyện ngắn Trong làng nhỏ, Ngời cầm súng (1970), Phía mặt trời (1972), Truyện kể từ đêm trớc đến Ngời về từ
đồng cói thì Lê Lựu đã là "một cây bút viết văn kỳ cựu"[32,79] Đến truyện
ngắn này văn Lê Lựu đã có mùi tiểu thuyết Ngời đọc biết ông sẽ là một nhà tiểu thuyết có tài Ngời về từ đồng cói đã đạt giải nhất trong cuộc thi sáng tác
do Bộ Lao động thơng binh xã hội, Tổng cục chính trị, Hội nhà văn và Bộ Văn hóa tổ chức Sau này tác phẩm đợc chuyển thể thành kịch bản phim
Năm 1972 Lê Lựu đi Trờng Sơn và bắt đầu viết Mở rừng (1975), tiểu
thuyết tiêu biểu cho đề tài chiến tranh và ngời lính cách mạng
Sau đổi mới nhà văn bắt đầu ấp ủ và viết về những điều "tâm huyết nhất", "đau đớn nhất" với mong mong muốn "lấp đầy chỗ khiếm khuyết" mà trong chiến tranh vì mục tiêu giải phóng của cả dân tộc nên văn học chỉ viết về cái hạnh phúc mà không nói đến bi kịch, đau khổ Tác phẩm đánh dấu sự chuyển đổi t duy ấy là Thời xa vắng (1986) Tiếp đó là nhiều tác phẩm có giá
trị nh: Đại tá không biết đùa (1987), Chuyện làng Cuội (1993), Sóng ở đáy sông (1995) Nhiều tác phẩm của Lê Lựu đợc chuyển thể thành phim, trong đó
có truyện ngắn Ngời về từ đồng cói và hai tiểu thuyết Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông Nhà văn cũng đợc nhận nhiều giải cao: giải nhì (không có giải nhất) cuộc
thi truyện ngắn Báo Văn nghệ (1967 - 1968) với truyện ngắn Ngời cầm súng;
Giải thởng Hội nhà văn Việt Nam (1986) với tiểu thuyết Thời xa vắng Chừng ấy
không phải là đủ đối với một nhà văn bản lĩnh và tài năng, song nó khẳng định kết quả của sự sàng lọc nghiệt ngã của thời gian cũng nh của độc giả
Trang 36Không thể tách rời hai giai đoạn sáng tác trong cuộc đời cầm bút của Lê Lựu nhng chắc chắn chỉ sau chiến tranh, với những trăn trở, tìm tòi, nỗ lực, nhà văn mới có thể phát huy đợc tài năng và thế mạnh của mình để hình thành nên phong cách nghệ thuật Tìm hiểu tiểu thuyết Lê Lựu trong bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 là mong muốn đặt Lê Lựu trong t-
ơng quan với các nhà văn cùng thời, với những nhà văn mà tài năng đã đợc công nhận để thấy đợc những ảnh hởng, sự kế thừa và phát triển truyền thống cũng nh những yếu tố làm nên nét đặc trng trong sáng tác của ông
1.3.2 Đóng góp của Lê Lựu đối với tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975.
Sáng tạo nghệ thuật là một quá trình khổ luyện đòi hỏi ở ngời cầm bút không chỉ niềm đam mê, tâm huyết mà còn cả tài năng và bản lĩnh thật sự Có thể nói "cuộc đời cầm bút của nhà văn luôn là một cuộc vật lộn căng thẳng với bản thân mình để vơn lên không ngừng cho ngang tầm cuộc sống và thời đại
để phục vụ cuộc sống và thời đại"[59, 91] Có những nhà văn quyết liệt chống lại lối làm việc theo hứng và luôn miệt mài "cày xới" trên thửa ruộng văn chơng
nh Tô Hoài (với hơn 157 đầu sách với nhiều thể loại) Nhng cũng có nhà văn cả
đời chỉ viết đợc một vài tác phẩm nên danh rồi lặng lẽ rút lui nh Kim Lân Lê Lựu không thuộc vào hai loại đó Ông tự nhận mình là "loại nhôm nhoam ở giữa" nhng "không viết không chịu đợc" Và cái day dứt "không chịu đợc" ấy
đã đa nhà văn lên một vị trí xứng đáng trong văn đàn bằng hàng loạt tác phẩm
có giá trị Đóng góp của ông trong văn học nói chung và trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 là không nhỏ, xét cả trên hai bình diện số l-ợng và chất lợng tác phẩm Tìm hiểu về cuộc đời và phong cách tiểu thuyết của nhà văn chúng tôi muốn khẳng định vai trò của sự nỗ lực cá nhân trong việc đổi mới t duy nghệ thuật và đóng góp của ông vào sự phát triển của văn học nớc nhà nói chung, đối với tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 nói riêng Lê Lựu nh là một minh chứng tiêu biểu, một thành tựu của đờng lối đổi mới văn nghệ của Đảng Thành công của Lê Lựu là "sự gặp gỡ giữa thời đại và
Trang 37cảm quan nghệ thuật nhạy bén của ngời nghệ sĩ với những tìm kiếm chân lý kiên trì, những suy ngẫm, trăn trở đầy trách nhiệm của một nhà văn tài năng
và tâm huyết"
Sáng tạo nghệ thuật là quá trình khổ luyện, đôi khi cũng vấp phải những bức tờng và không phải lúc nào cũng đợc thừa nhận "Thuận là khi t tởng nhà văn hòa đợc vào tiếng nói chung của nhân quần, nhà văn là ngời cổ vũ cho một sự nghiệp chung đã thành đờng quen, đã ra đại lộ Nhng không dễ thuận khi tiếng nói đó mới chỉ là của ngời tiền trạm, ngời khai phá cất lên lẻ loi, thậm chí đơn độc hay chỉ mới tìm đợc đồng vọng của một số ít ngời" [44, 206] Tiểu thuyết của Lê Lựu khi ra đời đã chịu không ít những khen, chê nh
Chuyện làng Cuội Song, thời gian thật công bằng, khen hay chê đều đã đợc
minh định Những gì là giá trị đích thực sẽ tồn tại mãi Tác phẩm của Lê Lựu không những góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng văn học mà còn thể hiện một tiếng nói, một phong cách riêng Quá trình mỗi ngời biết tạo ra cho mình một phong cách là quá trình đòi hỏi sự nỗ lực tìm tòi, sáng tạo, "là cuộc hành trình để khẳng định cái bản ngã cá nhân trong nghệ thuật của ngời cầm bút" ở con ngời này, yêu-ghét rõ ràng và luôn sống hết mình, viết cũng hết mình Lê Lựu tâm sự: "Khi viết tôi chỉ biết viết hết mình" và ông luôn cố gắng tìm tòi để sự sống hiện lên trong tác phẩm Có thể nói, phấn đấu để có đợc một phong cách nghệ thuật cá nhân, đó là sự đóng góp đích thực của mỗi ngời cầm bút cho sự nghiệp phát triển của cả nền văn học Bằng hàng chục truyện ngắn và sáu tiểu thuyết tiêu biểu là những con số biết nói về đóng góp của nhà văn
Bên cạnh đó, suốt mấy chục năm ròng trong chiến tranh, cả dân tộc
đang dồn cho một mục tiêu duy nhất: giải phóng Số phận cá nhân là nhỏ, không đáng kể so với số phận của một đất nớc Sự mất mát, hy sinh quá lớn là một nỗi đau không dễ bù đắp nên ngời ta cần sự an ủi, niềm vui và hạnh phúc Cả một thời kỳ dài từ những năm đầu chiến tranh cho đến những năm 1980, ngời ta không nói đến cái bi kịch riêng Nhng, Lê Lựu lại khác ông không thể
Trang 38nhìn thấy nỗi đau mà không nói lên đợc dẫu bằng cách này hay cách khác
Ông quan tâm đặc biệt đến những bi kịch, "tôi muốn viết về một cá nhân, một cuộc đời cụ thể" Và ông đã làm đợc điều này một cách xuất sắc khi viết về số phận nhân vật (Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội, Sóng ở đáy sông ) Nhà văn
đã giám nhìn thẳng vào sự thật, chấp nhận và khắc họa một cách rõ nét số phận con ngời, cá nhân trong xã hội, trong gia đình Đó là những đóng góp lớn lao của Lê Lựu cho tiến trình đổi mới tiểu thuyết Nhà văn luôn mong muốn
"sáng tác đợc một cái gì thật tâm huyết dồn tụ suốt cuộc đời mình" và sự thật
là ông đã sáng tác những tác phẩm có giá trị đóng góp tích cực cho văn học Bởi "một nền văn học càng có nhiều phong cách thì càng có nhiều khả năng trở thành một nền văn học lớn"[40,32] "Những nền văn học lớn đòi hỏi sự kết tinh chất lợng của nó trên những phong cách lớn nh là những cây cổ thụ trên cánh rừng "[43, 274]
Nh vậy, mỗi nhà văn khi miêu tả hiện thực của thời mình đều có đóng góp vào việc cách tân tiểu thuyết hay chí ít cũng mang vào đó một tiếng nói riêng, một cách diễn đạt riêng Lê Lựu là một minh chứng tiêu biểu
Chơng 2 Phong cách tiểu thuyết Lê Lựu nhìn trên
phơng diện lựa chọn đề tài và cảm hứng sáng tạo
2.1 Khái niệm và các phơng diện biểu hiện của phong cách.
2.1.1 Khái niệm phong cách.
Phong cách là một thuật ngữ đợc dùng rộng rãi không chỉ trong nghệ thuật mà còn trong các ngành khoa học khác của đời sống do tính năng và bản chất của từ này ở đề tài này chúng tôi quan tâm đến phạm trù phong cách nghệ thuật, khác với phong cách đợc dùng trong ngôn ngữ học Trong phạm vi nghệ thuật phong cách vẫn đợc hiểu theo nhiều nghĩa: phong cách tác giả (phong cách cá nhân nhà văn), phong cách một thể loại văn học (phong cách tác phẩm), phong cách trào lu, trờng phái văn học, phong cách của một thời
đại Phong cách có thể đợc hiểu nh là một cái gì thuộc về ý thức nghệ thuật hay thuộc về nhãn quan của nhà văn, cũng có thể hiểu là đặc điểm riêng trong
Trang 39hệ thống phơng tiện biểu đạt của nhà văn[82, 11] Bàn về vấn đề này có rất nhiều ý kiến Có quan niệm cho rằng phong cách biểu hiện ở hình thức, có quan niệm lại cho rằng phong cách biểu hiện ở nội dung, cũng có khi biểu hiện ở cả nội dung và hình thức tác phẩm nh Likhashốp từng nói: "Phong cách không những là hình thức của ngôn ngữ mà đó còn là nguyên lý mỹ học của kết cấu thống nhất tất cả nội dung và hình thức tác phẩm".
M Khrapchencô (1904 - 1986) - Nhà lý luận văn học xuất sắc của Nga cho rằng phong cách biểu hiện những đặc điểm hình thức nhng những đặc điểm này có nguồn gốc trong ý thức nghệ thuật của nhà văn, tức là hình thức mang tính nội dung Ông nói: "Mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và những phơng tiện độc đáo để thể hiện những t tởng và hình tợng của mình ( ) Nếu nh dùng một công thức vắn tắt thì phong cách cần phải đợc định nghĩa nh thủ pháp biểu hiện cách khai thác hình tợng đối với cuộc sống, nh thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả" [33, 152] Phong cách thờng đợc định danh là những kiểu lựa chọn, là những đặc điểm hay những dấu hiệu hình thức đợc khẳng định bởi cái nhìn độc đáo hay ý thức nghệ thuật của nhà văn
Theo Phan Ngọc "phong cách là một cấu trúc hữu cơ tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả Nó chứa đựng một cái nhìn đối với hiện thực"[62,22] Phong cách là những gì làm nên đặc sắc riêng của mỗi ngời Tuy nhiên cần phân biệt cái riêng làm nên đặc sắc, làm nên tinh túy, song cũng có cái riêng chỉ là sự khác ngời, khác đời một cách thuần túy
Các tác giả trong Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa một cách khá
trọn vẹn, bao quát: "Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ chỉ sự thống nhất tơng đối ổn định của hệ thống hình tợng của các phơng tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của nhà văn Phong cách là quy luật thống nhất các yếu tố của chỉnh thể nghệ thuật, là một biểu hiện của tính nghệ thuật Không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách,
Trang 40chỉ những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có đợc phong cách Cái nét riêng ấy thể hiện ở tác phẩm và đợc lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn làm cho ta có thể nhận ra sự khác nhau giữa nhà văn này và nhà văn khác"[74, 213] Nói đến phong cách là nói đến những đặc trng độc đáo, có ý nghĩa thẩm mỹ và mang tính quy luật, thể hiện qua hệ thống sáng tác của nhà văn.
Mỗi nhà văn trong quá trình sáng tạo đều cố gắng tìm cho mình một lối
đi riêng, một phong cách không trộn lẫn Sẽ không có những khái niệm về phong cách trở thành chuẩn mực chung cho tất cả ở đây, ngời viết không đa
ra quan niệm riêng mà trên cơ sở tham khảo các quan niệm về phong cách và
từ thực tế nghiên cứu về khái niệm này, cũng là để phù hợp với phạm vi đề tài tác giả luận văn chỉ chọn một quan niệm phù hợp để từ đó khảo sát, tìm hiểu phong cách tiểu thuyết Lê Lựu - nhằm khẳng định giá trị nghệ thuật đích thực
và hình thức tác phẩm của nhà văn đó "Hình thành trên cơ sở mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức, phong cách không phải là một thực thể cụ thể mà là thứ thần sắc, linh hồn ẩn hiện một cách vừa cụ thể vừa trừu tợng nơi các thao tác nghệ thuật của nhà văn "