1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết đoàn lê luận văn thạc sỹ ngữ văn

126 287 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 620,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đã đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn VN, báo Văn Nghệ...” Nhân sự kiện ra mắt cuốn tiểu thuyết Tiền định của nhà văn Đoàn Lê, tác giả Hà Linh trên trang http://evan.vnexpress.net viết: Ng

Trang 1

MAI THỊ ÁNH TUYẾT

§Æc trng nghÖ thuËt tiÓu thuyÕt §oµn Lª

Chuyªn ngµnh: v¨n häc ViÖt Nam

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của luận văn 4

7 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1 TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986 5

1.1 Vài nét về tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới 5

1.1.1 Đổi mới quan niệm về hiện thực và con người 7

1.1.2 Đổi mới về hình thức nghệ thuật 11

1.2 Vài nét về nhà văn Đoàn Lê và tiểu thuyết của Đoàn Lê 14

1.2.1 Vài nét về cuộc đời, con người Đoàn Lê 14

1.2.2 Vài nét về tiểu thuyết Đoàn Lê 18

1.2.3 Nhìn chung về đóng góp của Đoàn Lê trong bối cảnh đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 21

Chương 2 ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 24

2.1 Cái nhìn về hiện thực và con người trong tiểu thuyết Đoàn Lê 24

2.1.1 Cái nhìn về hiện thực 24

2.1.2 Cái nhìn về con người 48

2.2 Cảm hứng sáng tạo trong tiểu thuyết Đoàn Lê 67

2.2.1 Cảm hứng chiêm nghiệm quá khứ 68

Trang 3

2.2.3 Cảm hứng thân phận con người cá nhân 85

Chương 3 ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ VỀ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC 91

3.1 Kết cấu tiểu thuyết 91

3.1.1 Kết cấu phân mảnh 91

3.1.2 Kết cấu đồng hiện 95

3.1.3 Kết cấu lồng ghép 98

3.2 Giọng điệu 99

3.2.1 Giọng triết lý, chiêm nghiệm 100

3.2.2 Giọng hoài nghi, chất vấn 102

3.2.3 Giọng trữ tình sâu lắng 105

3.3 Ngôn ngữ 107

3.3.1 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 108

3.3.2 Ngôn ngữ đối thoại 110

3.3.3 Sự kết hợp hài hòa nhiều sắc thái ngôn từ 112

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tiểu thuyết là thể loại quan trọng trong hệ thống loại hình vănxuôi nghệ thuật Đây được coi là thể loại chủ lực, giàu khả năng phản ánhhiện thực và gần gũi với cuộc sống nhất Đến với tiểu thuyết, nhà văn cóđiều kiện để tìm tòi, sáng tạo, đổi mới thế giới nghệ thuật của mình một cáchsinh động và đa dạng Đổi mới tư duy nghệ thuật đã khiến cho văn học nóichung và tiểu thuyết nói riêng thời kỳ đổi mới ngày càng có nhiều thành tựu

và cách tân độc đáo

1.2 Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới ghi dấu sự phát triển rực rỡ cả về nộidung và nghệ thuật với rất nhiều cây bút tiêu biểu Nó hàm chứa trong mìnhtất cả những đặc điểm nổi bật của nền văn học vận động theo hướng dân chủhóa với cảm hứng chủ đạo là tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh cá nhân Tiểuthuyết thời kỳ đổi mới với những cách tân của nó đã góp phần vào việc tiếptục hiện đại hóa nền tiểu thuyết Việt Nam

1.3 Đoàn Lê sinh năm 1943 ở Hải Phòng, khởi nghiệp bằng nghề diễnviên điện ảnh, cùng khóa với Trà Giang, Lâm Tới, Minh Đức, Thụy Vân rồichuyển sang viết kịch bản phim, làm đạo diễn, vẽ tranh, viết văn… Đoàn Lêviết cả truyện ngắn và tiểu thuyết Tiểu thuyết của Đoàn Lê có hai cuốn được

giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam là Cuốn gia phả để lại (1990) và Tiền định (2009), một số cuốn sách đã được dịch in ở Mỹ, Thụy Điển đã chứng tỏ

khả năng và vị trí của Đoàn Lê trên văn đàn

1.4 Tìm hiểu Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Lê là tìm hiểu

những nét riêng, phong cách riêng của tiểu thuyết Đoàn Lê về phương diệnnội dung và nghệ thuật Đồng thời, qua đó góp thêm phần tư liệu cần thiếtvào việc tìm hiểu và giảng dạy các tác phẩm văn học thời kỳ đổi mới trongnhà trường

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề

Xuất hiện đã lâu trên văn đàn (những năm 90 của thế kỷ XX), tuy nhiênđến nay vẫn chưa có công trình lớn nào tập trung nghiên cứu về nội dungcũng như nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Lê Về thể loại tiểu thuyết thì tính đến

nay Đoàn Lê có được ba cuốn là Cuốn gia phả để lại, Lão già tâm thần và Tiền định Trong số ba cuốn có đến hai cuốn được giải A của Hội nhà văn Việt Nam là Cuốn gia phả để lại (1990) và Tiền định (2009) Điều đó thôi

cũng đủ khẳng định tài năng và vị trí Đoàn Lê trên văn đàn

Nhà văn Hồ Anh Thái trên trang http://vietbao.vn viết: Đoàn Lê được

ghi nhận ở phong cách đa dạng và sức sáng tạo tươi mới Với giới học giả

Mỹ, những truyện ngắn này cho một cái nhìn vào bên trong văn hóa Việt Nâmsau đổi mới

Với người đọc nói chung, đây là những tác phẩm bao quát và đầy nhânvăn về những đề tài như lòng tham, hôn nhân, ly dị, tuổi già; đó là những tácphẩm về quyền con người, khảo sát tất cả những gì bí ẩn tinh tế của lòng người

Đoàn Lê đã có những thành tựu thật sự với văn chương Một giọng vănđược nhớ, nền nã dung dị nhưng bao giờ cũng kèm theo chất hài hước ngầm

Những tập truyện Thành hoàng làng xổ số, Nghĩa địa xóm Chùa, Trinh tiết xóm Chùa; những tiểu thuyết Lão già tâm thần, Cuốn gia phả để lại đã đoạt

giải thưởng của Hội Nhà văn VN, báo Văn Nghệ ”

Nhân sự kiện ra mắt cuốn tiểu thuyết Tiền định của nhà văn Đoàn Lê, tác giả Hà Linh trên trang http://evan.vnexpress.net viết: Ngoài câu chuyện

về một cuộc đời, một tiền định, cuốn tiểu thuyết tái hiện cả một thời đại mà côChín sống Nhà văn Lê Minh Khuê nhận xét: Tiểu thuyết tạo không khí củathời điểm mà nhân vật đi qua Tuổi thơ Tản cư Pháp, chạy bom Mỹ, HảiPhòng loạn lạc Tất cả hiện lên rõ nét với ngôn ngữ của từng thời, với cách

nghĩ cách sống của từng gia đình, từng người Tiền định được viết theo lối hồi

ức, với dòng kể chảy theo những suy nghĩ của nhân vật Chín về cuộc đời đã

Trang 6

qua Theo nhà phê bình Minh Thái, lối lể chuyện này đã cũ, mang màu sắc cổđiển Điểm hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết là giọng kể chuyện tình cảm, nhữngđối thoại hấp dẫn và sự thú vị của từng chi tiết được nhà văn chọn lọc.

Nhà văn Hồ Anh Thái trên trang http://evan.vnexpress.net, trong những

dòng hồi ký có viết: Mãi cho đến đầu năm 1988, đọc cuốn tiểu thuyết mới

xuất bản của chị, Cuốn gia phả để lại, càng đọc mới càng ngớ ra, như là lâu

nay mình hiểu sai về một con người Cuốn sách chứng tỏ một tay nghề tiểuthuyết chững chạc Tổ chức ngăn nắp các đường dây nhân vật, khéo léo láchqua cái mê cung nhân vật chằng chịt ấy để tới được cái đích của mình Nhânvật của chị không chỉ là những số phận cá thể sinh động, mà là cả một dòng

họ Chẳng dễ dàng gì mà làm cho cái nhân vật - tập thể này ra hồn ra vía một

nhân vật, gây được ấn tượng là nhân vật có số phận và khúc quanh phát triển

số phận khá phức tạp Một điều đáng kể nữa ở Cuốn gia phả để lại là ngôn

ngữ, một thứ ngôn ngữ dịu dàng nền nã mà hóm hỉnh, được tiếp tục ở nhữngtác phẩm văn học sau này của Đoàn Lê, nhưng không có điều kiện phát huytrong tác phẩm điện ảnh

Nhìn chung, ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình về tiểuthuyết Đoàn Lê còn ít Hơn nữa các bài viết mới chỉ dừng lại ở những cảmnhận chung chung, chưa đi sâu vào tìm hiểu giá trị nội dung và hình thức cụ

thể của tiểu thuyết Đoàn Lê Đề tài Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn

Lê của chúng tôi không chỉ dừng lại ở những cảm nhận, đánh giá chủ quan

mà còn vận dụng lý thuyết, thực tiễn thể loại để khẳng định một cách khoahọc những giá trị nghệ thuật của tiểu thuyết Đoàn Lê

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung khảo sát ba cuốn tiểu thuyết của Đoàn Lê là Cuốn gia phả để lại, Lão già tâm thần, Tiền định Bên cạnh đó chúng tôi còn khảo sát thêm một số tác phẩm khác như Luật đời và cha con (Nguyễn Bắc Sơn), Cõi

Trang 7

người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Đức phật, nàng Savitri và tôi (Hồ Anh Thái), Trò đùa số phận (Tạ Duy Anh),… để đối sánh khi cần thiết.

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhìn nhận vị trí tiểu thuyết Đoàn Lê trong bối cảnh đổi mới của tiểuthuyết Việt Nam sau 1986

- Khảo sát đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Lê về phương diệnnội dung

- Khảo sát đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Lê về phương diệnhình thức

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp sau: phương pháp phân tổng hợp, phương pháp so sánh- đối chiếu, phương pháp phân loại- thống kê,phương pháp cấu trúc hệ thống,…

tích-6 Đóng góp của luận văn

Với đề tài Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Lê, lần đầu tiên tiểu

thuyết Đoàn Lê được xem xét đánh giá một cách có hệ thống Trên cơ sở đó,chúng tôi khảo sát, phân tích, chứng minh cụ thể, chi tiết những giá trị độc đáocủa tiểu thuyết Đoàn Lê về phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật

7 Cấu trúc luận văn

Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo được

triển khai trong ba chương:

Chương 1 Tiểu thuyết Đoàn Lê trong bối cảnh đổi mới của tiểu

thuyết Việt Nam sau 1986

Chương 2 Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Lê về phương diện

nội dung

Chương 3 Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Lê về phương diện

hình thức

Trang 8

Chương 1 TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI

CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986

1.1 Vài nét về tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới

Văn học giai đoạn 1945- 1975 là nền văn học gắn bó mật thiết với đờisống xã hội, theo sát từng biến cố lịch sử, từng bước phát triển của cáchmạng Xác định văn học là vũ khí cách mạng, các nhà văn tự đặt cho mìnhnhiệm vụ làm người lính trên mặt trận văn nghệ Giá trị của tác phẩm văn họctrong thời kỳ này được đánh giá theo tiêu chí chính trị, hiện thực hào hùng trởthành mục đích của phản ánh nghệ thuật Văn học giai đoạn này đã làm tròn

sứ mệnh cao cả của một nền văn học phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cáchmạng, sự nghiệp chính trị Nhìn từ đặc điểm loại hình, đó là nền văn học đượcviết theo khuynh hướng sử thi có sự thống nhất từ cảm hứng, đề tài, chủ đề,nhân vật cho đến kết cấu, giọng điệu… Nền văn học ấy diễn ra trong hoàncảnh đất nước có chiến tranh kéo dài suốt 30 năm nhưng đã đóng góp mộtphần to lớn vào sự nghiệp chung của đất nước, dân tộc

Từ sau 1975, đặc biệt là từ 1986, đổi mới không chỉ là nhu cầu cấp thiếtcủa xã hội mà nó còn được ý thức như là tính tất yếu của văn học Với nhữngthay đổi lớn lao của đời sống, văn học Việt Nam đang dần bước vào một quỹđạo phát triển mới Sau 1975, khi đất nước trở về với hòa bình thì văn họccũng được trả về với cuộc sống bình thường của nó Tuy vậy, phải mất gẩnmười năm trượt dài theo “quán tính sử thi” văn học Việt Nam mới thật sựchuyển mình Vào cuối những năm 70 đã hình thành rõ rệt nhu cầu nhìn lạigiai đoạn văn học trước đó, chỉ ra những hạn chế của nó để từ đó hình thànhhướng phát triển mới cho văn học dân tộc Một trong những nhà văn tiênphong là Nguyễn Minh Châu, “người mở đường tinh anh và tài hoa” của văn

Trang 9

học Việt Nam thời kỳ đổi mới Với truyện ngắn Cái mặt (viết từ năm 1976 nhưng mãi đến năm 1982 mới được công bố dưới cái tên Bức tranh) Nguyễn

Minh Châu đã đặt những viên gạch đầu tiên cho công cuộc đổi mới diễn rahết sức sôi động sau đó Những trăn trở của các nhà nghiên cứu như HoàngNgọc Hiến, Phương Lựu, Lê Đình Kỵ,… về vấn đề tính chân thực trong vănhọc, về quan hệ giữa văn học và hiện thực, về tính dân tộc trong văn học lànhững khởi động đáng chú ý báo hiệu sự chuyển mình mạnh mẽ của văn họcViệt Nam sau 1986

Tại đại hội VI, tinh thần đổi mới, chống quan liêu, bao cấp, thực hiệndân chủ trở thành khẩu hiệu chính thức, khẩu hiệu lớn nhất của cả nước.Tiếp đó, cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giớivăn nghệ sỹ vào cuối năm 1987 đã thổi một luồng gió mới vào đời sốngvăn nghệ cả nước, tạo nên một hiệu ứng lan truyền tinh thần đổi mới tưduy, nhìn thẳng vào sự thật với khẩu hiệu “cởi trói”, “tự cứu lấy mình”.Năm 1987, Nguyễn Minh Châu tiếp tục gây sự chú ý đặc biệt với bài viết

Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa Bài báo như một

phát súng lệnh tiến công vào thành trì của những định kiến và quan niệmcứng nhắc về văn nghệ Nguyễn Minh Châu phê phán đường hướng lãnhđạo văn nghệ can thiệp quá sâu vào tự do sáng tác của nhà văn và làm chonhà văn Việt Nam đang tự hèn đi, tự thui chột đi và kêu gọi sự giải phóng,tạo không khí tự do, dân chủ thật sự trong đời sống văn nghệ nước nhà.Hiệu ứng xã hội mà bài báo của Nguyễn Minh Châu tạo ra là hết sức mạnh

mẽ Trên lĩnh vực sáng tác, Thời xa vắng của Lê Lựu là tác phẩm mở

đường cho sự xuất hiện rầm rộ của rất nhiều tác phẩm được viết theo tinhthần dân chủ, đổi mới Tiếp theo đó là sự ra đời của hàng loạt các tác phẩmcủa Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn HuyThiệp, Bảo Ninh,…

Trang 10

1.1.1 Đổi mới quan niệm về hiện thực và con người

Hiện thực cuộc sống luôn là đối tượng phản ánh của văn học trong mọithời kỳ Tuy nhiên trong mỗi giai đoạn văn học, thường các nhà văn lại cómột quan niệm về hiện thực và con người Có ý kiến cho rằng, văn học là tấmgương phản ánh hiện thực Nhưng cũng có ý kiến khác cho rằng hiện thực vănhọc không phải là phản ánh mà là nghiền ngẫm hiện thực Nói như vậy đểthấy rằng cái nhìn hiện thực không đơn giản, xuôi chiều mà rất phong phú và

đa dạng

Khi bàn về tiểu thuyết, M.Bakhtin nhận định: “ Tiểu thuyết tiếp xúc vớicái hiện thực chưa hoàn thành, chính đặc điểm này không cho phép thể loại ấyđông cứng lại Người viết tiểu thuyết thiên về những gì chưa xong xuôi Anh

ta có thể xuất hiện trong trường miêu tả ở bất cứ tư thế tác giả nào, có thểmiêu tả những sự việc có thật trong đời mình hoặc ám chỉ đến chúng, có thểcan thiệp vào cuộc trò chuyện giữa các nhân vật, có thể bút chiến công khaivới các địch thủ văn học của mình” [3,57], tức là nhà tiểu thuyết hoàn toàn tự

do trong sáng tạo nghệ thuật của mình Với quan niệm này, tiểu thuyết ViệtNam sau 1986 đã thực sự có nhiều cách tân đáng kể về cách phản ánh hiệnthực, không chỉ là sự thay đổi trong quan niệm của mỗi nhà văn mà còn đổimới cả trong thực tiễn sáng tác của họ

Nhà văn Nguyễn Khải trong Gặp gỡ cuối năm đã nêu lên quan niệm về

hiện thực hôm nay: Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn,bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, nhữngbất ngờ mới thật là một mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ.Quan niệm này của Nguyễn Khải có lẽ không phải chỉ là “cái thích” riêng củaông mà còn là của nhiều nhà văn khác Nguyễn Minh Châu được xem là mộtnhà văn luôn trăn trở về sự đổi mới văn học và đã có nhiều đóng góp cho vănhọc sau 1975 Nguyễn Minh Châu hiểu một cách sâu sắc rằng: Cái thước đo

Trang 11

cuối cùng cho văn học là sự đóng góp của nhà văn cho cuộc sống hôm nay, là

sự cải tạo nó, cho xây dựng nên nó, và trước tiên là xây dựng con người Điều

đó đòi hỏi nhà văn viết sao cho chạm được vào các tầng sâu, vào tận đáy sâunhững sự thật về quê hương đất nước, dân tộc mình để tác phẩm tiếp giáp lá

cà đời sống, xông vào những chốn gai góc thâm u của cuộc đời

Văn học giai đoạn 1945-1975, do tính đặc thù về lịch sử, văn học pháttriển theo khuynh hướng sử thi Ở thể loại tiểu thuyết, tính chất sử thi càngđược phát huy đậm đặc qua hiện tượng dung hợp thể loại tạo nên một kiểu thểloại đặc thù là tiểu thuyết sử thi Tiểu thuyết sử thi tiếp cận cuộc sống chủ yếutrên bình diện của “hiện thực lớn”, khám phá và phản ánh “cuộc sống mới,con người mới”, đó là những tác phẩm mang đặc trưng thể loại của tiểu thuyếtnhưng lại lấy nội dung lịch sử- dân tộc làm đề tài sáng tạo nghệ thuật với cảmhứng anh hùng, ngợi ca con người và dân tộc Nhưng từ đầu những năm 80,

đề tài lịch sử và cách mạng không còn giữ vị trí độc tôn như thời kỳ chiếntranh nữa, văn học đã chuyển sự quan tâm chủ yếu sang đề tài thế sự và đời

tư Họ quan tâm nhiều hơn đến cuộc sống đời tư, đến số phận cá nhân, đếnnhững mặt khuất lấp của cuộc sống bấy lâu vẫn bị phong tỏa hoặc che lấp.Bằng sự trải nghiệm của riêng mình, các nhà văn đã cho người đọc thấy rằngđời sống là một “kết cấu của cả cái tốt lẫn cái xấu, cái thiện và cái ác” Khivăn chương được giải phóng khỏi “chủ nghĩa đề tài” thì đó vừa là thuận lợi,vừa là thử thách đối với nhà văn Văn học 1945-1975, do đặc thù lịch sửthường giới hạn đề tài cho nhà văn như đề tài Tổ quốc, chiến tranh, tập thể,…những đề tài có tính chất cá nhân, riêng tư như tình yêu, tình dục, hôn nhân-gia đình thường là bị cấm kỵ Ngay cả trong hơn mười năm sau chiến tranh,văn học Việt Nam vẫn bị ám ảnh bởi “chủ nghĩa đề tài”, các nhà văn loayhoay trong biển kí ức về chiến tranh mà chưa tìm được lối ra cho nền văn họcdân tộc Những bứt phá, xé rào của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng,

Trang 12

Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp,…có thể coi là những sáng tạo có tính lịch

sử cho tiến trình văn học

Từ sự thay đổi trong quan niệm và cách tiếp cận hiện thực, văn học sau

1986 xuất hiện khuynh hướng nhận thức lại Trước nhu cầu bức thiết của đờisống, yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nhiều tác phẩm đã dũng cảm phơi bàynhững mặt trái bị che khuất, lên án những định kiến lỗi thời đã trở thành vậtcản trên bước đường phát triển của xã hội Việc nhận thức lại quá khứ, đề cậpđến những vấn đề của con người và đời sống thường nhật với biết bao nhọcnhằn, khó khăn do hậu quả của chiến tranh để lại cùng với những quan hệchồng chéo trong cuộc sống được các nhà văn quan tâm thể hiện Tiểu thuyết

Thời xa vắng của Lê Lựu được coi là tác phẩm chính thức khơi dòng cho

khuynh hướng này Chiến tranh được coi là tác động ghê gớm đến số phậncon người, là nguyên nhân gây nên những bi kịch thời hậu chiến (bi kịch giađình, bi kịch tình yêu, bi kịch đời sống, bi kịch thân phận,…) vết thươngchiến tranh, trước những biến động nghiệt ngã của đời sống, nó lại nhức nhối

hơn bao giờ hết Những tác phẩm của Ma Văn Kháng (Đám cưới không có giấy giá thú, Mùa lá rụng trong vườn), Nguyễn Minh Châu (Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành), Dương Hướng (Bến không chồng), Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh),…đã đem đến một cái nhìn khác trước về cuộc

chiến mà dân tộc đã đi qua

Bên cạnh sự đổi mới về cái nhìn hiện thực là sự đổi mới quan niệmnghệ thuật về con người Trong văn học chiến tranh 1945-1975, con ngườichủ yếu được nhìn nhận ở tư cách công dân, con người chính trị, con ngườigiai cấp, cá nhân tự nguyện hòa tan trong cộng đồng Phát hiện “con ngườicộng đồng” trong mỗi cá nhân, con người vận động theo chiều hướng tích cực

và lạc quan của quan điểm cách mạng là một cống hiến quan trọng của vănhọc giai đoạn này Nhà văn muốn thông qua con người để biểu hiện lịch sử,

Trang 13

con người trở thành phương tiện để khám phá lịch sử Văn học sau 1986 có sựthay đổi từ sử thi sang tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứngthế sự đời tư Đại hội VI và VII của Đảng ta đã nhấn mạnh đến nhân tố conngười: con người vừa là động lực vừa là mục đích của cách mạng, của sựnghiệp đổi mới đất nước, “con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúccủa con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta” Được soi sángbởi lý tưởng của Đảng, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới ngày càng đi tới một quanniệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người Con người vừa là điểm xuất phát,

là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồngthời cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội Do đó,con người được nhìn ở nhiều vị thế và trong nhiều mối quan hệ khác nhau:con người của xã hội, con người của lịch sử, con người của gia đình, con

người tự nhiên,… Trong Bức tranh của Nguyễn Minh Châu, con người được

nhìn nhận ở hai tư cách Ở tư cách thứ nhất, người họa sỹ có lý “tôi là nghệ sỹchứ đâu phải là một anh thợ vẽ truyền thần… Công việc của người nghệ sỹ làphục vụ cả số đông người chứ đâu phải chỉ phục vụ một người” Ở tư cáchthứ hai, anh ta là một kẻ ích kỷ, dối trá “vì mục đích phục vụ số đông củangười nghệ sỹ cho nên anh quên tôi đi hả? Có quyền lừa dối hả?”

Quan niệm nghệ thuật về con người là yếu tố chi phối các yếu tố kháccủa nghệ thuật biểu hiện, gắn với đời sống văn học của mỗi giai đoạn lịch sử.Nhiều tiểu thuyết hướng đến miêu tả số phận những con người bình thườngvới những bi kịch của đời họ: bi kịch giữa khát vọng và thực trạng, giữa nhânbản và phi nhân bản… Vấn đề con người cá thể được đặt ra một cách mạnh

mẽ trong cảm hứng sáng tạo của các nhà văn Ở đây, số phận cá nhân đượcgiải quyết thỏa đáng trong mối quan hệ mật thiết với xã hội, với cộng đồng.Các nhà văn đã thể hiện thành công những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh củathời đại, những bi kịch cá nhân của con người như nhân vật Giang Minh Sài

Trang 14

(Thời xa vắng), Vạn, Hạnh (Bến không chồng), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh),

…Tiểu thuyết thời kỳ này cũng không ngần ngại đi sâu vào khám phá, thểhiện những vấn đề thầm kín của con người mà văn học trước đó bị coi là cấm

kỵ

Văn học thời kỳ này còn quan tâm, đi sâu vào khám phá thế giới tâmhồn con người ở góc độ tâm linh, nhận diện con người một cách sâu sắc vàđích thực hơn Tiểu thuyết tiếp cận với thế giới đằng sau hiện thực, thế giới củatâm linh, vô thức, giấc mơ, tiềm thức để khai thác “con người ở bên trong conngười” Con người “bao hàm cả con người tự nhiên và con người xã hội Sựtìm hiểu hai con người đó, lí giải quan hệ giữa chúng là nhiệm vụ hàng đầu củavăn học” (Nguyễn Huy Thiệp) Điều này thể hiện mạnh mẽ qua các tác phẩm

Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Cuốn gia phả để lại, ,Tiền định (Đoàn Lê), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),

…Việc phát hiện con người phức tạp, con người lưỡng diện, con người khôngnhất quán với mình, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới khước từ lối biểu hiện côngthức, đề xuất giá trị mới để đánh giá con người: hệ giá trị nhân bản

1.1.2 Đổi mới về hình thức nghệ thuật

Nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay đã có nhữngchuyển biến đáng ghi nhận ở hầu hết các thể loại, trong đó có tiểu thuyết.Trong sự vận động chung của nền văn học, tiểu thuyết- một loại hình tự sự

cỡ lớn đã và đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu củathời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả đương đại Khôngkhí dân chủ của môi trường sáng tạo đã giúp nhà văn ý thức sâu sắc hơn về

tư cách nghệ sỹ nơi mình, vượt lên trên những quy định, khuôn khổ truyềnthống Chưa bao giờ những quan niệm mới về văn chương, về nhà văn, vềhiện thực và con người, về đổi mới tư duy nghệ thuật lại cởi mở, dân chủnhư lúc này

Trang 15

Đổi mới về nghệ thuật trần thuật và cấu trúc thể loại là một đặc điểmnổi bật của tiểu thuyết sau 1986 Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã từ bỏ lốitrần thuật có tính mô thức, áp đặt của văn học 1945- 1975, mà trước hết là

có sự dịch chuyển điểm nhìn vào các nhân vật, để tự mỗi nhân vật tự nóilên quan điểm, thái độ của mình Đó là một lối trần thuật hướng đến sự dânchủ, nhân vật không còn là “loa phát ngôn” cho tác giả, tính đa thanh, phứcđiệu, đối thoại trong nghệ thuật trần thuật được coi là tiêu chí cho sự đổimới văn học Sự phá vỡ, làm thay đổi kết cấu trần thuật truyền thống chỉ làhình thức thể hiện một quan niệm về thế giới hiện thực và thế giới nghệthuật Đó không còn là một thế giới đã an bài, trật tự, hợp lí mà là một thếgiới hỗn độn, bị chia cắt, đầy mâu thuẫn, nhiều bất trắc Tương ứng với nó

là những đổi mới trong cấu trúc thể loại tiểu thuyết Từ sau 1986, “tiểuthuyết hoàn cảnh” đã hầu như vắng bóng, tiểu thuyết phiêu lưu cũng ít ỏi,thay vào đó là sự phong phú của tiểu thuyết tâm lí và tiểu thuyết triết luận.Ngoài ra kiểu tiểu thuyết “cổ điển” (câu chuyện về lịch sử và số phận mộtcon người, một gia đình, dòng họ…) cũng được vận dụng trở lại với nhiều

tiết tấu như: Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo),

… Thêm vào đó là hàng loạt các tác phẩm có nhiều cách tân theo hướng

hiện đại như: Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),

Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà), Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm (Hồ Anh Thái), Thoạt kì thủy, Người đi vắng, Những đứa trẻ chết già, Ngồi (Nguyễn Bình Phương), Dòng sông mía (Đào Thắng), Phố Tầu, Vân Vy, Pari 11 tháng 8 (Thuận),…

Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới một mặt vẫn kế thừa và phát triển nhữngđặc trưng của cốt truyện truyền thống, mặt khác đã tiếp cận với tiểu thuyếthiện đại thế giới ở những nét tinh túy Nghệ thuật đồng hiện, kỹ thuật độc

Trang 16

thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép, sử dụng huyền thoại, nghệ thuật giáncách,… là những yếu tố khiến cho cốt truyện co giãn theo từng tác phẩm cụthể Mỗi chủ thể nhà văn có thể sáng tạo ra nó bằng nhiều hình thức, kiểudạng để thể hiện ý đồ nghệ thuật một cách có hiệu quả Sự tan rã của cốttruyện trong tác phẩm tự sự thông qua cấu trúc lắp ghép, chắp nối từ nhữngmảnh ghép hiện thực làm thay đổi cảm quan của nhà văn về cuộc đời Bêncạnh đó, tiểu thuyết không tạo ra những tình huống kịch hoặc lối kể chuyện

có trước có sau, các yếu tố sự kiện, tình tiết nhân vật được triển khai theo sựvận động của cảm xúc, suy nghĩ Vì vậy, tiểu thuyết vừa là tiếng nói của ýthức, vừa là tiếng nói của tiềm thức, của giấc mơ, thể hiện cái hiện tại đangvận động, biến chuyển, không khép kín

Sự xâm nhập của các thể loại khác vào tiểu thuyết là một nhân tố làm

co giãn cốt truyện Tiểu thuyết có thể chứa trong chính nó hình thức nhật ký,thơ, điển cố, điển tích,… Những hình thức văn bản trong văn bản này gópphần tạo thành tiếng nói khác nhau trong tiểu thuyết, nới rộng cấu trúc thểloại, mở rộng trường nhìn

Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người dẫn đến sự biến đổi về hệthống nhân vật được xem là nhân tố then chốt quyết định sự đổi mới của tiểuthuyết sau 1986 Các nhà tiểu thuyết xây dựng tác phẩm theo dòng tâm trạngnhân vật, bao gồm cả ý thức lẫn vô thức sáng tạo, dựa trên trực giác, linh cảm

để ngòi bút phiêu lưu trong thế giới tâm linh con người Trong tiểu thuyết thời

kỳ đổi mới, nhân vật rất đa dạng, có loại nhân vật bi kịch, nhân vật tự nhậnthức, nhân vật tha hóa, nhân vật tìm kiếm… Thế giới nội tâm nhân vật là mốiquan tâm hàng đầu của các nhà văn Thế giới nội tâm thường được phức điệuhóa qua thủ pháp đồng hiện và kỹ thuật dòng ý thức Nhân vật được đặt trong

vô vàn mối quan hệ phức tạp giữa cá nhân với cộng đồng, cá nhân với hônnhân, gia đình; cá nhân trong tương quan với chính mình…

Trang 17

Đổi mới ngôn ngữ cũng là dấu hiệu đặc trưng của văn học thời đổi mới.Ngôn ngữ tiểu thuyết là thứ ngôn ngữ gần gũi ở mức tối đa với đời sống,mang các đặc trưng thể loại như: tính văn xuôi, tính đa thanh, tính tổng hợp.

Tư duy tiểu thuyết thay thế tư duy sử thi, khoảng cách trần thuật cũng thayđổi, ngôn ngữ tiểu thuyết cũng biến đổi theo chiều hướng đó Tiếp cận đờisống ở một khoảng cách gần gũi, với thái độ thân mật, suồng sã, hệ lời tiểuthuyết thay đổi từ thứ ngôn ngữ chuẩn mực sang ngôn ngữ đời thường, thôngtục, đậm tính khẩu ngữ Các tác giả đã tạo lập được hệ lời mới cho tiểuthuyết: đầy tính đối thoại, tự do, thậm chí cách tân bằng việc phá bỏ cácchuẩn quy tắc tiếng Việt như: không thanh điệu, pha trộn các phụ âm, khôngdấu câu, phối chen từ nước ngoài… Ngoài ra, sự trở lại của tiếng cười và đặcbiệt là giọng diễu nhại đã mang đến cho tiểu thuyết thời kỳ đổi mới diện mạophong phú hơn, gần gũi hơn

1.2 Vài nét về nhà văn Đoàn Lê và tiểu thuyết của Đoàn Lê

1.2.1 Vài nét về cuộc đời, con người Đoàn Lê

Thế là chị ơi Rụng bông gạo đỏ

Ô hay, trời không nín gió Cho ngày chị sinh

Ngày chị sinh trời cho làm thơ Cho nết buồn vui bốn mùa trăn trở Cho làn một câu hát cổ

Để người lý lơi Vấn vương với sợi tơ trời Tình riêng bỏ chợ tình người đa đoan.

Mười năm qua, những câu hát từ ca khúc Chị tôi trong phim Người

Hà Nội vẫn còn làm thổn thức hàng triệu trái tim khán giả truyền hình cả

Trang 18

nước Nhiều người bình giá rằng: bài hát trở nên nổi tiếng bởi nó được sinh

ra từ một bộ phim dài tập khá hấp dẫn và ngược lại, bộ phim đọng lại được

trong lòng người xem cũng chính là nhờ ca khúc Chị tôi có giai điệu và lời

ca rất đẹp

Nhưng cho đến bây giờ, ít ai biết được rằng ca từ trong ca khúc Chị tôi

đã được nhạc sĩ Trọng Đài phổ từ bài thơ Cho một ngày sinh của Đoàn Thị

Tảo Và chỉ với 10 câu thơ ngắn đầy hàm súc, nhưng tác giả đã dựng đượcmột chân dung thơ từ nguyên mẫu một nhà văn, nhà biên kịch, đạo diễn điệnảnh khá thành danh mà người dân trong vùng Hải - tần - phòng - thủ trìu mếngọi tắt bằng hai từ “nữ sĩ” Vâng, đó là chân dung thơ về nữ sĩ Đoàn Lê

Đoàn Lê sinh năm 1943 ở Hải Phòng, khởi nghiệp bằng nghề diễn viênđiện ảnh, cùng khóa với Trà Giang, Lâm Tới, Minh Đức, Thụy Vân rồichuyển sang viết kịch bản phim, làm đạo diễn, vẽ tranh Năm 19 tuổi, Đoàn

Lê đã có bài thơ Bói hoa khá nổi tiếng Bài thơ vừa được công bố trên báo và trên tập thơ Tình yêu của NXB Thanh niên đã được nhiều bạn trẻ chép vào sổ

tay hay học thuộc:

“Ngày xưa em thơ ngây Ngồi bói bông hồng nở Đoán tình yêu sau này Vẹn tròn hay dang dở”…

Chẳng hiểu những câu thơ trên trong bài Bói hoa có là tiên cảm của

một thiếu phụ tài hoa hay đó là trò chơi số mệnh của Đoàn Lê Chỉ biết rằngnhiều câu thơ tình của Đoàn Lê đã khiến nhiều cô gái mới lớn hào hứng đón

nhận và vì vậy cô em Đoàn Thị Tảo phải thốt lên trong bài Cho một ngày sinh

tặng chị mình rằng:

“Ngày chị sinh Trời cho làm thơ”…

Trang 19

Năm 1961, tốt nghiệp khóa diễn viên điện ảnh, Đoàn Lê không chỉđóng phim, mà vì có năng khiếu hội họa, bà còn được giao thêm nhiệm vụ:trợ lý thiết kế mỹ thuật cho Hãng phim truyện Việt Nam Hồi ấy, hầu như cáccảnh phim thực hiện trong trường quay đều có nét cọ tài hoa do Đoàn Lê thểhiện theo ý tưởng của các họa sĩ Ngọc Tuân, Vĩnh Bảo và Trần Kiền Đượchỏi: “Nhà văn học vẽ ở đâu và từ bao giờ?” Bà tủm tỉm cười và kể rằng: Tựhọc là chính Nhưng trong quá trình mày mò lại có may mắn được thụ giáo từhai người thầy, hai họa sĩ tiền bối danh tiếng là Bùi Xuân Phái và Dương BíchLiên Thương cô học trò nghèo ham học, hai họa sĩ không chỉ giảng dạy miễnphí mà thỉnh thoảng còn cho không vải toan và màu vẽ

Suốt hai chục năm trời, những người ở số nhà 4 phố Thụy Khuê - mộttrong những cái nôi của nền điện ảnh Việt Nam chỉ biết nữ diễn viên Đoàn

Lê khá thành công khi đóng vai cô giáo Hồng Vân trong phim Quyển vở sang trang của đạo diễn Nguyễn Ngọc Chung, hay họa sĩ Đoàn Lê suốt ngày

cặm cụi bên tấm vải cao hơn chục mét để tạo dựng phông cảnh cho phim thì

đột nhiên Gienaric của phim Bình minh xôn xao xuất hiện 4 chữ: Biên kịch

Đoàn Lê

Đoàn Lê bắt đầu khởi nghiệp biên kịch từ bộ phim đầu tay Bình minh xôn xao cũng bằng con đường tự học như khi bà dấn thân vào nghiệp vẽ Thành công của Bình minh xôn xao khiến Đoàn Lê vững tin vào khả năng cầm bút của mình và bà tiếp tục bắt tay vào dựng kịch bản Làng Vũ Đại ngày

ấy Dẫu tác phẩm điện ảnh của bà dựa vào hồn cốt của một số truyện ngắn và cuộc đời của cố nhà văn Nam Cao, nhưng xem phim Làng Vũ Đại ngày ấy,

khán giả vẫn nhận ra rằng Đoàn Lê đã thổi vào trang viết của nhà văn khôngkhí điện điện ảnh vừa lung linh, vừa chân thực

Từ khi phim truyền hình lên ngôi, những dòng chữ Biên kịch Đoàn Lêtrở nên quen thuộc với khán giả và phim nào của bà cũng có dấu ấn rất riêng

Trang 20

Nhân vật trong mỗi bộ phim của bà thường là có số phận đặc biệt và thôngqua họ để bà nói đến cái lẽ ăn ở trong đời và rộng hơn là quan niệm về nhântình thế thái

Những bộ phim như Con Vá do Đoàn Lê viết kịch bản và đạo diễn đã đoạt giải Bông sen Bạc tại Liên hoan phim toàn quốc, hay phim Chim bìm bịp

cũng do Đoàn Lê làm đạo diễn đã giành giải cao trong một kỳ liên hoan phimkhác, chính là những thông điệp điện ảnh về chuyện đối nhân xử thế mà bàmuốn gửi cho đời nay và cả đời sau

Hơn mười năm trước, khi mà thông tin đại chúng chưa bùng nổ, khi màcác trang viết về chân dung nghệ sĩ chưa được độc giả hào hứng tìm đọc nhưbây giờ thì người ta chỉ biết đến Đoàn Lê là một người của điện ảnh chứ chưabiết về một Đoàn Lê văn học Ngày nay, người đọc đã biết đến một sự nghiệp

văn chương khá to lớn của Đoàn Lê với những cuốn tiểu thuyết như Cuốn gia phả để lại, Lão già tâm thần, Tiền định; những tập truyện ngắn như Thành hoàng làng xổ số, Trinh tiết xóm Chùa, Nghĩa địa xóm Chùa… Trong số các tác phẩm đó có hai cuốn tiểu thuyết là Cuốn gia phả để lại (1990) và Tiền định (2009) được giải A của Hội nhà văn Việt Nam.

Cũng vào năm 1990, Đoàn Lê được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam

với tư cách một nhà văn Còn truyện Trinh tiết xóm Chùa của bà cũng được

Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật toàn quốc trao giải nhì, tập truyện

Nghĩa địa xóm Chùa được dịch sang tiếng Anh và đã được độc giả thế giới

đón nhận Chỉ ngần ấy thông tin, thiết nghĩ, nghiệp viết văn của Đoàn Lê xemnhư là có duyên nhất và gặt hái được nhiều mùa vui nhất

Làm thơ, cầm cọ vẽ, viết kịch bản, đạo điễn phim và viết tiểu thuyết,ngần ấy công việc, ngần ấy thành tựu, Đoàn Lê là một trong những nữ sĩ vừa

đa tài và cũng thật đa mang Đoàn Lê “đa mang” việc của đời, việc của người,vừa là để đáp đền ơn trời đất và cha mẹ đã phú cho chút năng khiếu, vừa làđể“bỏ chợ” những “mối tình riêng” chẳng mấy ngọt ngào

Trang 21

Năm 17 tuổi, khi rời quê lên Hà Nội học, Đoàn Lê cũng không ngờrằng giấc mơ diễn viên chưa kịp thực hiện thì bà bị cái bẫy ngọt ngào, nhưngcũng lại đầy "cảm giác" của tình yêu đã giăng Đoàn Lê bước lên xe hoa, ngơngác yêu, ngơ ngác thành đàn bà và ngơ ngác làm mẹ Trong ba năm vỏn vẹncủa cuộc hôn nhân này, Đoàn Lê đã kịp sinh hai đứa trẻ, đã kịp nhận ra nhữnggiá trị đích thực của cái gọi là tình yêu và hôn nhân Cảm giác bị đánh lừakhông nặng nề bằng cảm giác ta không nhận được điều gì ý nghĩa, hay gọi làhạnh phúc từ hôn nhân mang lại Tất cả chỉ như là một sự ngốn ngấu của thờigian đã vội vã ăn cắp thời con gái, vội vã kết thúc những mộng đẹp của tuổithiếu nữ trắng trong Cảm giác ấy đè nặng, và người đàn bà ngay từ đầu ẩnchứa tính cách mạnh mẽ đến hoang dã là Đoàn Lê đã kiên quyết chia tay vớihôn nhân cũng nhanh như khi bà đón nhận nó, vừa lúc bà tròn 20 tuổi.

Năm 1967, sau tan vỡ cuộc hôn nhân đầu tiên với người chồng là nhàbiên kịch, Đoàn Lê lại yêu, lại ngỡ đã cầm nắm được hạnh phúc đích thực củađời người Đoàn Lê lên xe hoa lần thứ hai với diễn viên, đạo diễn Từ Huy.Cuộc hôn nhân kéo dài 27 năm, bà có thêm một con trai, và tưởng chừng đãvẹn tròn với hạnh phúc Thế nhưng, ai có thể ngờ rằng, Đoàn Lê đã xách va ly

ra khỏi căn nhà hôn nhân sau 27 năm khi bà đã 53 tuổi, mái tóc đã nhuốmbạc, cơ thể bệnh tật

Quê nội ở Nam Trực, Nam Định, suốt thời thơ ấu, sinh sống và họchành ở quê ngoại Hải Phòng, xa nhà từ năm 1959, đến năm 1997 nhận sổ hưu,Đoàn Lê trở lại đất xưa, chọn một vùng non nước hữu tình nhất, một ngõ phốvắng vẻ nhất để dựng nhà nương náu Nơi ấy, Đoàn Lê tiếp tục thỏa sức tunghoành cây bút trên trang giấy, cây cọ trên giá vẽ

1.2.2 Vài nét về tiểu thuyết Đoàn Lê

Đoàn Lê được người đọc biết đến với những cuốn tiểu thuyết như

Cuốn gia phả để lại, Lão già tâm thần, Tiền định; những tập truyện ngắn như

Trang 22

Thành hoàng làng xổ số, Trinh tiết xóm Chùa, Nghĩa địa xóm Chùa… Trong

số các tác phẩm đó có hai cuốn tiểu thuyết là Cuốn gia phả để lại (1990) và Tiền định (2009) được giải A của Hội nhà văn Việt Nam.

Tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại có nhân vật là cả một dòng họ Dòng

họ này may mắn (hay là bất hạnh?) có một ông cụ tổ là danh nhân Bao nhiêuxích mích, kiện tụng, xô xát và xung đột nảy sinh từ đấy Ai cũng muốn giằng

xé lấy một mẩu danh nhân cho riêng mình Xung đột đẫm máu luôn có nguy

cơ bùng nổ vì chuyện phế trưởng lập thứ, vì chuyện vợ lẽ con thêm bị coi như

kẻ đi ở và con hoang, vì chuyện tranh giành mảnh đất trên đó có nhà thờ họ.Nhân vật - dòng họ khi đầy màu sắc truyền thuyết huyền thoại, lúc lại hiện đạiđến từng chi tiết sống động của đời thường Về phía vợ chồng Mỗ-Tự và bà

mẹ, nhân vật ấy trong sáng ngây thơ, nhưng khi cần cũng biết phản khángquyết liệt Về phía nhóm mợ phán Ba, Ngọc Đường, Ty cùng cánh họ Trần,nhân vật ấy xảo quyệt và trắng trợn, gian tham và độc ác, mưu sâu kế hiểmquay quắt khôn lường

Trong tiểu thuyết này, không thể hình dung nhân vật nhà biên kịch Mỗxông ra tuyến đầu để bảo vệ chồng con - người trong họ đã rậm rịch giáo mácdao kéo để bao vây nhà chị Một chi tiết tâm lý suy luận theo kiểu đạo diễnđiện ảnh: chị chủ tâm mặc chiếc áo bay của con gái, chiếc áo màu đỏ huyếtchiến với hàng cúc bạc lanh canh kim khí, nhằm tăng ấn tượng uy hiếp lúcxông ra đứng chắn trước ngõ

Tiểu thuyết Lão già tâm thần xoay quanh câu chuyện cuộc đời của lão

Khảm từ thời trai trẻ cho đến khi về già Tác phẩm đi vào miêu tả chi tiết mốitình dang dở của lão Khảm với bà Hằng; quá trình xây dựng cầu Bội và nỗi

ám ảnh, day dứt của lão Khảm vì là tổng công trình sư một công trình kémchất lượng Lão luôn bị ám ảnh rằng một lúc nào đó cây cầu sẽ bị đổ Mười banăm sau, lão quyết định gửi lá đơn tường trình, tự thú tất cả sự việc với ban

Trang 23

thanh tra Cuối cùng người ta xác định đó là lá đơn của lão Khảm viết tronglúc thần kinh không bình thường Tác phẩm phản ánh hiện thực đất nướcnhững năm đầu đổi mới như: bệnh thành tích, giáo điều, duy ý chí…

Tiểu thuyết Tiền định kể về cuộc đời nhân vật Chín là con thứ chín

trong gia đình có hơn 10 người con, Chín nổi loạn, bứt phá khỏi sự sắp đặtcủa gia đình để trở thành một diễn viên điện ảnh Nhưng sự nghiệp của nàng

bị cắt ngang bởi nàng sống quá thiên về chữ tình Lấy chồng từ năm 17,không chịu nổi cuộc hôn nhân bất hạnh, nàng vẫy vùng thoát ra khỏi nó dù đã

có với nhau hai mặt con Trót mang thai với người yêu trong thời gian ly thânchồng, Chín cay đắng vứt bỏ cái thai 4 tháng tuổi và đối mặt với nguy cơ mấtviệc, sống cuộc sống bấp bênh vì bị trù dập

Rồi cuộc tình ấy cũng trôi qua, nhẹ bẫng Xung quanh Chín vẫn cónhiều người đàn ông, đủ tốt, đủ yêu thương nhưng dường như vẫn thiếu mộtđiều gì đó để che chở cuộc đời nàng Hoặc giả, họ không thể che chở nổi, bởicuộc đời Chín có gì đó như là tiền định, như là "Trời cứ bắt tội vẻ đẹp cứ phảilầm cát bụi" Chính vì thế, khi Chín tưởng như đã tìm thấy hạnh phúc bên mộtnhà báo - người đã lặng lẽ đi bên cuộc đời nàng - số mệnh vẫn cướp đi niềmhạnh phúc cuối cùng ấy Trên con đường họ tìm về ngôi nhà nhỏ của nàng,một tai nạn bất ngờ đã khiến hai con người ấy âm dương cách biệt mãi mãi.Nhà văn hạ câu kết: "Sự lỡ này có phải cũng nằm trong tiền định?"

Tính chất luận đề của tiểu thuyết bộc lộ rất rõ, từ tên cuốn sách cho tớicách lặp đi lặp lại những suy nghĩ về số mệnh của nhân vật chính Chín đãluôn nỗ lực vùng vẫy để chạy trốn những gì nàng cho là tiền định, nhưng chạykhông thoát khỏi số trời Cuộc đời nghiệt ngã đã đày đọa nàng đến tận cáichết Qua cuốn sách, Đoàn Lê muốn thể hiện một thông điệp mang tính triết

lý, đậm màu sắc duy tâm, lý giải mối quan hệ giữa chữ tài và chữ mệnh

Ngoài câu chuyện về một cuộc đời, một tiền định, cuốn tiểu thuyếttái hiện cả một thời đại mà cô Chín sống Nhà văn Lê Minh Khuê nhận xét:

Trang 24

"Tiểu thuyết tạo không khí của thời điểm mà nhân vật đi qua Tuổi thơ Tản

cư Pháp, chạy bom Mỹ, Hải Phòng loạn lạc Tất cả hiện lên rõ nét vớingôn ngữ của từng thời, với cách nghĩ cách sống của từng gia đình, từngngười" [39,314]

Tiền định được viết theo lối hồi ức, với dòng kể chảy theo những suy

nghĩ của nhân vật Chín về cuộc đời đã qua Theo nhà phê bình Minh Thái, lối

lể chuyện này đã cũ, mang màu sắc cổ điển Điểm hấp dẫn của cuốn tiểuthuyết là giọng kể chuyện tình cảm, những đối thoại hấp dẫn và sự thú vị củatừng chi tiết được nhà văn chọn lọc

Trên đây là vài nét sơ lược về tiểu thuyết Đoàn Lê Ở những hương tiếptheo, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu cụ thể và chi tiết về đặc trưng nghệ thuậttiểu thuyết Đoàn Lê Qua đó, người đọc thấy được những giá trị nghệ thuật vàgiá trị nội dung của tiểu thuyết Đoàn Lê trong nền văn học chung

1.2.3 Nhìn chung về đóng góp của Đoàn Lê trong bối cảnh đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986.

Đoàn Lê bắt đầu được người đọc biết đến với những tác phẩm đầu tay

xuất hiện sau thời kỳ đổi mới Sự thành công của tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại ra đời năm 1988 và những cuốn tiểu thuyết được dư luận biết đến sau này như Lão già tâm thần, Tiền định đã khẳng định được phong cách cũng như

dấu ấn tên tuổi nhà văn trong quá trình vận động của tiểu thuyết Việt Namđương đại

Với mỗi nhà văn, cái nhìn về hiện thực một mặt chịu sự chi phối của hệthống tư tưởng, quan niệm mang tính thời đại, mặt khác lại phụ thuộc vào vốnsống và khả năng nắm bắt cảm nhận hiện thực của chính nhà văn Điều đó tạonên nét chung, nhất quán trong cái riêng cá biệt độc đáo ở mỗi cây bút Đoàn

Lê đã tạo nên trong tiểu thuyết của mình một bức tranh tổng thể đời sống hiệnthực đa dạng, phức tạp Nằm trong quá trình vận động của tiểu thuyết Việt

Trang 25

Nam đương đại, Đoàn Lê đề cập đến nhiều vấn đề của đời sống, đi sâu vàophân tích những mối quan hệ phức tạp, mâu thuẫn trong xã hội, gia đình, hônnhân, tình yêu,… Nhà văn giúp cho chúng ta có cái nhìn sâu vào mọi ngócngách của cuộc sống trước những thay đổi lớn của thời đại Tiểu thuyết củaĐoàn Lê toát lên được không khí của thời đại, của xã hội, của nhiều tầng lớp,nhiều thế hệ, nhưng bên cạnh những thành quả đạt được còn có cả sự ấu trĩ,cay đắng và thất bại, cả những bất hạnh và ngang trái mà trước đó người tachưa thể nói hết ra, chưa thể đi đến tận cùng

Một trong những biểu hiện chuyển mình mạnh mẽ của văn xuôi nóichung và tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới nói riêng là sự phong phútrong cảm hứng sáng tạo Ở giai đoạn này, văn học chuyển từ tư duy sử thisang tư duy tiểu thuyết Đối tượng quan tâm của nhà văn không chỉ là hiệnthực đấu tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà là đời sống hậuchiến với bao bộn bề lo toan Hướng tới cuộc sống đời thường, đến con ngườiđời tư, văn học đã chuyển từ cảm hứng ngợi ca hào hùng sang cảm hứng thếsự- đời tư Trong nguồn cảm hứng đời tư- thế sự, nhà văn có thể chiêmnghiệm quá khứ hay trăn trở với thân phận con người

Là cây bút trưởng thành trong giai đoạn văn học đầy biến động sau

1986, nhà văn Đoàn Lê đã nhạy bén lĩnh hội những yêu cầu đổi mới của vănhọc Trong các tiểu thuyết của mình, nhà văn không chỉ có cái nhìn mới vềcuộc đời và con người mà còn khơi được những cảm hứng sáng tạo mới mẻ

Có thể nhận thấy ba dòng cảm hứng trong tiểu thuyết Đoàn Lê là cảm hứngchiêm nghiệm quá khứ, cảm hứng bi kịch và cảm hứng thân phận con người

cá nhân

Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn vềcon người Tiểu thuyết ngoài khả năng tái hiện bức tranh toàn cảnh của đờisống xã hội còn có khả năng đi sâu khám phá số phận con người Quan niệm

Trang 26

nghệ thuật về con người là yếu tố chi phối các yếu tố khác của nghệ thuật thểhiện, gắn với đời sống văn học của mỗi một giai đoạn lịch sử Ở giai đoạn lịch

sử mới, người viết có những chuyển hướng trong nhận thức, tư duy về bản thểngười Các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã phá vỡ cái nhìn đơn phiến, tĩnh tại đểtạo ra một cái nhìn phức tạp hơn, đa diện hơn và vì thế sâu sắc hơn về conngười Con người xuất hiện trong hàng loạt các tiểu thuyết là con người trầnthế với tất cả chất người tự nhiên của nó: ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấphèn, ý thức và vô thức

Nhân vật trong tiểu thuyết Đoàn Lê cũng không nằm ngoài những quanniệm ấy, nhà văn đã nhận diện con người đích thực với nhiều kiểu dáng nhânvật, biểu hiện phong phú và đa dạng chân dung những con người vừa đờithường, trần thế vừa đẹp đẽ, thánh thiện, luôn khao khát cái đẹp và hướng tớicái thiện Trong tiểu thuyết Đoàn Lê nổi lên ba kiểu con người là con người tựnhận thức, con người tìm kiếm và con người tự nhiên, bản năng Đó là nét nổibật mang đậm ý nghĩa nhân văn khi nhìn nhận con người, tạo nên tiếng nói đathanh đầy “hoà âm” và “nghịch âm” của tiểu thuyết Đoàn Lê trong bối cảnhtiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Tiểu thuyết Đoàn Lê thể hiện sự nỗ lực cách tân nghệ thuật về nhữngvấn đề hiện thực, con người, nhân vật, cảm hứng, ngôn ngữ, nghệ thuật trầnthuật, Sự cách tân nghệ thuật của Đoàn Lê đã đem lại cho bà một phongcách độc đáo trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới

Trang 27

Chương 2 ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ

VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Cái nhìn về hiện thực và con người trong tiểu thuyết Đoàn Lê

2.1.1 Cái nhìn về hiện thực

Trong sáng tạo nghệ thuật nói chung, quan niệm về hiện thực là mộtvấn đề rất lớn, liên quan trực tiếp đến nhận thức về bản chất, chức năng củanghệ thuật Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), Nghị quyết

05 của Bộ chính trị chính là cú hích cho văn học Việt Nam bước sang giaiđoạn đổi mới Văn học được xác định là bộ phận trọng yếu của cách mạng tưtưởng và văn hóa, là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khátvọng của con người về chân, thiện, mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm , tâmhồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạođức trong xã hội Với chủ trương “nhìn thẳng vào sự thật”, nhà văn được tự

do trong sáng tạo, được nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật Sự đổimới trong tư duy nhận thức của người nghệ sỹ chính là động lực thúc đẩy cáinhìn mới mẻ về hiện thực trong văn học sau 1986 Nếu ở giai đoạn văn họctrước (1945-1975), hiện thực được nhìn nhận trong sự toàn vẹn, tròn trịa của

lí tưởng và hoài bão thì giờ đây, những gì thô ráp, xù xì của cuộc sống đượcchiếu rọi đến mọi ngõ ngách Hiện thực cuộc sống không chỉ tồn tại hai tháicực duy nhất, những ranh giới rõ ràng mà luôn luôn có sự đan xen, trộn lẫn,không có gì là không xảy ra, không có gì là không thể có Những vui, buồn,mâu thuẫn, trái nghịch của hiện thực được phơi bày tất cả Người nghệ sỹkhông ngần ngại tái hiện tất cả những gì đang diễn ra, kể cả những gì mà vănhọc trước đây cho là kiêng kị, cần phải dấu kín Các nhà văn đã nhìn thấytrong cuộc sống sự đa dạng của nhiều gam màu tối- sáng, thật- giả, hạnh

Trang 28

phúc- đau khổ, hiện tại- quá khứ,…Bức tranh hiện thực trong văn học sau

1986 hiện lên chân thực nhất, đời thường nhất

2.1.1.1 Hiện thực cuộc sống

Đoàn Lê bắt đầu được người đọc biết đến với những tác phẩm đầu tay

xuất hiện sau thời kỳ đổi mới Sự thành công của tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại ra đời năm 1988 và những cuốn tiểu thuyết được dư luận biết đến sau này như Lão già tâm thần, Tiền định đã khẳng định được phong cách cũng như

dấu ấn tên tuổi nhà văn trong quá trình vận động của tiểu thuyết Việt Namđương đại

Với mỗi nhà văn, cái nhìn về hiện thực một mặt chịu sự chi phối của hệthống tư tưởng, quan niệm mang tính thời đại, mặt khác lại phụ thuộc vào vốnsống và khả năng nắm bắt cảm nhận hiện thực của chính nhà văn Điều đó tạonên nét chung, nhất quán trong cái riêng cá biệt độc đáo ở mỗi cây bút Đoàn

Lê đã tạo nên trong tiểu thuyết của mình một bức tranh tổng thể đời sống hiệnthực đa dạng, phức tạp Nằm trong quá trình vận động của tiểu thuyết ViệtNam đương đại, Đoàn Lê đề cập đến nhiều vấn đề của đời sống, đi sâu vàophân tích những mối quan hệ phức tạp, mâu thuẫn trong xã hội, gia đình, hônnhân, tình yêu,…

Nguyên Ngọc trong bài thuyết trình về văn học Việt Nam có nhắc đếntrào lưu đổi mới với biểu hiện trước hết là “phơi bày cái tiêu cực, mô tả và tốcáo nó”, nhiều nhà văn đã tham gia tích cực vào trào lưu này, trong đó có Đoàn

Lê Nhà văn không chỉ mở rộng phạm vi hiện thực được phản ánh, không chỉtiếp nhận kỹ thuật hiện đại mà còn có tư duy mới mẻ về đời sống Với cái nhìntrực diện vào những mặt trái của xã hội và thái độ phê phán sự xấu xa, tha hóacủa con người, nhà văn đặt ra những vấn đề của thời đại mà nhờ trải nghiệm cánhân trở thành những thông điệp có ý nghĩa nhân văn sâu sắc Tiểu thuyếtĐoàn Lê mở ra một hiện thực sống động nhưng hết sức phức tạp

Trang 29

Sau 1975, chiến tranh kết thúc, đất nước được thống nhất, cả dân tộcbước vào công cuộc tái thiết và phục hồi sau những đổ nát chiến tranh vớirất nhiều khó khăn, thử thách Hậu quả nặng nề của hai cuộc chiến ác liệt vàlâu dài nhất trong lịch sử dân tộc đã khiến cả đất nước hết sức vất vả trongviệc tái thiết mà cho đến nay vẫn không thể khắc phục hết được Đặc biệt lànhững hậu quả nặng nề về tinh thần mà không gì có thể đo đếm được và sẽcòn rất lâu nữa những vết thương tinh thần ấy mới có thể lắng xuống Điều

này được nhà văn Đoàn Lê khắc họa rõ nét và sâu sắc trong tiểu thuyết Lão già tâm thần

Sau khi giải phóng miền Bắc 1954, Đảng và Nhà nước ta quyết địnhđưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội với nhiều chính sách tiến bộ nhằm khắcphục hậu quả chiến tranh Về nông nghiệp, Đảng ta đã đưa ra chính sách xóa

bỏ địa chủ, chia lại ruộng đất cho nông dân Do chủ quan, nóng vội nên đấtnước ta đã vấp phải sai lầm nghiêm trọng trong việc thực hiện đấu tố địa chủ

Rất nhiều người đã phải chịu cái chết oan ức Ông cụ Tuần trong Lão già tâm thần đã chọn cái chết là thắt cổ tự tử trong chuồng trâu vì không chịu nổi sụ

oan uổng “Một ông Tuần cáo quan về hưu, trông vào vườn cây với mấy mẫuruộng, kẻ ăn người làm chỉ một lão bộc, làm gì nên tội đại gian ác?” Sau khithắt cổ chết, con cháu cụ Tuần không được làm đám ma cụ mà chỉ được phép

bó chiếu ông cụ rồi đào hố bỏ xuống “Cũng chẳng ai đưa ra đồng Chônđêm” Không ai dám khóc cả và sáng hôm sau phải về ngay Thông quatrường hợp của ông cụ Tuần, nhà văn Đoàn Lê đã tái hiện lại được hiện thựcquang cảnh của những cuộc đấu tố thảm khốc, đau lòng “Cha mẹ con đấu tốnhau, vợ tố chồng, anh em họ hàng lại càng không nói đến nữa… Có thể họđấu mà lòng họ ứa máu Nhưng cứ phải đấu, nếu không thì chính họ sẽ ngồivào chỗ bị đấu nốt” “Người ta nói có những chị con gái muốn thoát thân đãlên trước hội nghị bà con nông dân chửi cả bố đẻ: “Mày đã áp bức tao hai

Trang 30

mươi ba năm nay Đêm nào mày cũng đòi tao phải cho vào buồng Rồi màyđánh tao, chửi tao, có nhớ không hả lão địa chủ gian ác kia?” Lúc ấy ông bốgià nua của chị ta chẳng hiểu trước mặt có phải đứa con đứt ruột đẻ ra đấykhông, ông lão cứ phải cúi đầu thật thiểu não: “Con xin nhận tội ạ” [37,78].

Đó là một hiện thực nhức nhối mà cho đến tận hôm nay nhiều người cũng vẫncòn nhớ mãi

Cuộc khủng hoảng dẫn đến sự tan rã của hệ thống Xã hội chủ nghĩa và

sự sụp đổ của Liên bang Xô viết đã tác động mạnh mẽ, toàn diện đến toàn bộđời sống của đất nước Những chủ trương, chính sách kinh tế- xã hội nóngvội, chủ quan, duy ý chí đã khiến cho tình hình đất nước gặp nhiều khó khăn

và lâm vào bế tắc Trước tình hình đó, Đại hội lần thứ VI của Đảng 1986) đã xác định đường lối đổi mới toàn diện, mở ra một thời kỳ mới cho đấtnước vượt qua khủng hoảng để bước vào giai đoạn ổn định, phát triển mạnh

(12-mẽ và ngày càng vững chắc Đường lối đổi mới tại Đại hội VI của Đảng vàNghị quyết 05 của Bộ chính trị được thông qua đã khẳng định một cách mạnh

mẽ quyết tâm đổi mới đất nước

Tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại ra đời năm 1988 đề cập đến vấn đề

mâu thuẫn, xung đột, kiện tụng, tranh dành của một dòng họ Dòng họ nàymay mắn (hay bất hạnh?) vì có một ông cụ tổ là danh nhân Chí Đạo Ai cũngmuốn giằng xé lấy một mẩu danh nhân cho riêng mình

“Thời gian đó đã mở màn một tấn bi kịch lịch sử Tấn bi kịch đã đẩy họhàng cầm mác và cầm dao thái kẹo tử chiến” Ngọc Đường- tên cầm đầu gâyxung đột về quê khơi dậy một mặt trận đông đảo các cụ có máu mặt trongdòng họ Trần để chống đối lại vợ chồng Trần Tự Đây được xem là một mặttrận đông đảo với ông trưởng Kim được ví như con chim đầu đàn hăng máu,ông tôn trưởng Thống và tất cả con em của Họ ở khắp nơi xa gần cũng đượchuy động Những cuộc đại hội Họ liên tiếp được mở ra để tìm cách đối phó

Trang 31

Mỗi lần họp đại hội Họ, cả làng Thượng sôi lên Xe đạp, xe máy nườm nượp

về Quần áo tỉnh thành phấp phới đường làng không khác ngày hội Họ tự đề

ra những bản nghị quyết, thành lập Ban bảo vệ di tích họ, thành lập các ban

bệ như một “chính quyền Họ” Mọi việc được tiến hành một cách bài bản.Nhưng họ đâu ngờ họ chỉ là tay sai cho Ngọc Đường, lão Ty “Ngọc Đườngcùng đám chủ mưu đã giấu mặt Chúng chỉ đứng sau hậu trường giật dây rối.Pháp luật không động được tới lông chân chúng Trăm tội đều do con chimđầu đàn kia hiếu sự!”

Sự việc diễn ra quyết liệt, “chính quyền Họ” liên tiếp gửi tối hậu thư,nghị quyết đuổi vợ chồng Trần Tự khỏi nhà thờ, cương quyết giữ chủ quyềncổng ngõ, chủ quyền trông coi từ từ Họ liên tiếp huy động con cháu kéo đếnnhà trưởng tự tuyên chiến Có đoạn nhà văn miêu tả cuộc xung đột như mộtcuộc tiến công đầy khí thế mạnh mẽ : “Sáng mai, họ tập trung tại ba điểmchung quanh khu nhà thờ Đúng mười giờ, họ sẽ tấn công ba mặt một lượt Họhuy động dao, kéo thái kẹo, gạch củ đậu, gạch gộc đến phá Trận này con chimđầu đàn đã mài một mũi mác thật sắc, nêu cao ý chí chiến đấu Hai ba ông quanviên khác tuyên bố ầm ĩ sẽ tử chiến Họ dặn con cháu nhớ lấy ngày mai làmgiỗ, nếu họ có mệnh hệ gì Đặc biệt họ dự định mang theo cờ đỏ, lập bàn míttinh ngay giữa vườn nhà tôi, tuyên án trước khi phá khu đang xây dựng”[38,613] Không những thế, họ Trần còn khẳng định thế lực của mình bằngcách phế, lập chính quyền xã, huyện Ông Quyết- phó chủ tịch xã phụ tráchcông an xã bị họ cho là ủng hộ vợ chồng Trần Tự vì mấy lần xung đột ông nàyđều mời công an huyện về Thế là họ lập ngay một kế hoạch vu khống, nói xấu

uy tín ông Quyết Và cuối cùng, “trước bầu cử ba ngày, quyết định kỷ luật ôngQuyết “cảnh cáo trong Đảng” được thi hành Quả nhiên cái ghế phó chủ tịchrơi sang làng Quán” Rồi “sau vụ xử kiện thiên vị cho thằng Tự, ông Huyện cũ

bị đổi đi rồi Ông Huyện mới người bên cánh ta Ông phó cũng là chỗ thân tình

Trang 32

quen biết” Nhưng “ông chủ tịch Huyện cũ thuyên chuyển công tác, việc ấy rấtbình thường Nhưng họ cố tình gắn nó vào vụ kiện cáo Cứ như họ Trần có đủquyền thế vận động, thay đổi tất cả các ông Huyện theo ý muốn Ông nàokhông vào phe họ, họ sẽ cho “cánh” luôn” [38,599]

Hiện thực cuộc xung đột được Đoàn Lê lột tả từng chi tiết cụ thể Cólúc nó diễn ra sôi nổi, ầm ĩ, quyết liệt, nhưng có lúc lại lắng xuống, âm ỉ Mấytrăm năm qua, những chuyện xích mích mâu thuẫn giữa hai bên đã như mộtthứ cỏ độc, cứ gặp đúng điều kiện, chúng sẽ mọc mầm đâm rễ Sự việc banđầu chỉ gây ầm ĩ ở cấp xã, sau lên tới cấp huyện, rồi Trung ương, Quốc hội,thậm chí lên tới cả Chủ tịch nước Bên cạnh các cấp chính quyền, sự việc cònlôi kéo theo các ngành nghề như báo chí, viện nghiên cứu, công an, Bộ Vănhóa,… cũng vào cuộc Sau khi tòa án huyện tuyên bố nhận quyền sở hữu khunhà thờ thuộc con cháu cụ Chí Đạo, và ngôi nhà đang xây đương nhiên hợppháp, tới lúc đó hầu hết con em họ Trần ở làng Thượng bỏ cuộc, họ hiểu raban chỉ đạo họ Trần cùng lão Ty đã dẫn dắt họ vào một chuyện ấm ớ Conchim đầu đàn cụ trưởng Kim cũng bỏ cuộc vì nhận ra Ngọc Đường và lão Tychẳng hiếu tổ gì cả, chúng chỉ đưa tổ ra làm bình phong hòng giành lấy một týdanh nhân và làm hại vợ chồng Trần Tự mà thôi “Chúng khôn ngoan mamãnh, chỉ khích động người khác đứng ra giơ đầu chịu báng Đến ký một cáitên trong đơn, thằng Ngọc Đường còn thoái thác rằng nó họ ngoại, ký khôngtiện” “Sau khi khuấy bùng được ngọn lửa kiện cáo, hắn ít khi ló mặt vềThượng Và dù tuyệt nhiên không phải đối mặt với chúng tôi, hắn vẫn đạtđược mục đích Suốt năm năm, chúng tôi không một chút được nghỉ ngơitrước các chiến dịch tấn công của họ Trần”

Kết thúc truyện, nhà văn gây bất ngờ cho người đọc về cái hiện thựcvẫn chưa đến hồi kết thúc: “Và tôi thấm thía tiếc sáu năm vất vả của vợ chồngtôi Kết cục lại, rồi người ta sẽ thấy chúng tôi phải đương đầu với một…

Trang 33

chuyện tầm phào Vâng, tầm phào lắm! Bao nhiêu con người đã chạy vạynháo nhào, bao nhiêu toan tính cay cú, bao nhiêu cán bộ nhân viên bị sai phảikhiển trách, bao cuộc lên đền xuống phủ trong từng ấy năm tháng… tất cả đềuvun đắp cho chuyện tầm phào Tầm phào lắm! Tiền bạc vứt như nước vàomục mở cuộc khảo sát nọ sát kia, cửa tiền cửa hậu đăng báo thuê viết, lót taycho ông nghị đi xe, đưa chân bà phó tới thực địa Rồi những gà cùng lợn chếtnhư ngả rạ cho họ Trần họp hành, tâng bốc mừng nhau quyết định được dựthảo, quyết định đã ký, quyết định đang triển khai cho cái vụ… tầm phào”.

“Thật đau lòng cho cái chuyện tầm phào! Không ai được gì cả Họa may chỉ

có vài con cò què được dịp béo lê vì nước đã khuấy đục chăng? Và may chocon cháu cụ Chí Đạo chưa đến nỗi dốt nát ngờ nghệch lắm, chưa bị cái thứluận chứng khoa học trói gô cổ lại cho người ta đến phá nhà cửa, tước đoạt cảquyền hương khói cha ông” [38,716]

Thông qua cuộc xung đột, mâu thuẫn của một dòng họ, Đoàn Lê muốndựng lên một bức tranh hiện thực đau lòng về băng hoại đạo đức, lôi kéo, kíchđộng người khác làm những việc trái với lẽ thường tình Ngọc Đường, lão Ty

và đám con cháu họ Trần ngang nhiên hống hách, lúc nào cũng dương caokhẩu hiệu luôn hướng về quê hương, tổ tiên Nhưng thực chất “trong lúc đó

mồ mả cụ Chí Đạo không ai nhắc nhở, không ai đến giẫy cỏ, thắp hương,trong nhà thờ thủy tổ không ai xin đóng góp một xu để sửa chữa, bảo tồn,những ngày giỗ tết biến thành ngày đánh chén, ngày tới cửa tổ tiên cạnh khóe,phỉ báng, gây sự đánh nhau” [38,717]

Đất nước thoát khỏi chiến tranh, cuộc sống được cởi bỏ cơ chế bao cấptrì trệ Con người được trả về với đời sống xã hội thường nhật, với đời thường

mà ở đó có muôn màu muôn vẻ, lẫn lột tốt xấu, trắng đen, bi hài… Xã hộiViệt Nam chứng kiến quy luật nghiệt ngã của buổi giao thời: những giá trị vềđạo đức, xã hội, nhân cách trước đây bền vững là thế thì nay đã bị nền kinh tế

Trang 34

thị trường tấn công mạnh mẽ không khoan nhượng dẫn đến lung lay, rạn nứt,

đổ vỡ Trong khi đó, các chuẩn mực và các giá trị mới chưa thực sự hìnhthành Tiểu thuyết Đoàn Lê đưa người đọc đến với dời sống thường ngày đểthấy được những mối quan hệ phức tạp trong gia đình, hôn nhân, làng xómláng giềng,… những năm đầu thời kỳ đổi mới Đó là những cuộc đánh nhau,chửi nhau của vợ chồng Ngọc Đường: “Thời kỳ ấy vợ chồng ông cháu đanglục đục mạnh Chị vợ từng nện vào mặt chồng cái gáo sắt khiến máu me chảyđầm đìa Công an, đại diện dân phố, phải mươi lần thu xếp mới xong Nào họcòn trẻ trung gì nữa” [38,497] Điều đáng nói là vợ chồng Ngọc Đường đều lànhững tri thức có vị trí cao trong xã hội Ngọc Đường là phó giám đốc mộtnhà máy lớn, vợ ông sắp thi phó tiến sĩ Thế mà họ xử sự như những kẻ kémgiáo dục Đoàn Lê còn nhấn mạnh “chuyện ấy không có gì lạ” Nhà văn cònliệt kê ra nhiều vụ khác “Cao điểm là vợ ông thợ giày vác giao bầu đâm chết

ba bố con địch thủ nhà trên gác Hoặc vụ anh trai nửa đêm khóa trái cửa, tướixăng đốt chết cả gia đình mình lẫn gia đình em ruột, vì tranh chấp hai métvuông nhà Kết quả mười ba mạng sống đi về cõi mênh mông… tha hồ rộngrãi Còn xích mích đâm chém nhau bị thương thì khối Chỉ sợ không có giấyviết” Và nó xảy ra “thường xuyên, dai dẳng, dấm dứt Nó không làm chếtngười, chỉ như bệnh ghẻ lở, ngứa ngáy kinh niên Mùa hè nước chảy chậm,phải xếp hàng lấy nước, lập tức có chuyện cãi cọ Khách nhà tôi để xe đạpdưới sân lũ trẻ đùa nghịch đánh đổ vào người, chúng khóc thét, lại chửi Conchuột tha mấy lõi ngô, xương cá, ở rổ rác nhà tôi, xuống sân dưới cũng đủlàm bùng nổ chiến tranh Khi người ta trông thấy mặt nhau đã khó chịu, tất sẽ

có trăm ngàn duyên cớ tủn mủn để hành nhau” [38,498] Chỉ chừng ấy dẫnchứng thôi, Đoàn Lê đã cho thấy một hiện thực đời sống thành thị thời hậuchiến đầy những vấn đề gai góc Đoàn Lê đã nhìn thấy những bất hợp lí trong

cơ chế xã hội Nhà văn khái quát lối sống thực dụng, ích kỷ đang dần hình

Trang 35

thành Đó là sự tấn công mạnh mẽ từ bên ngoài vào “tế bào” gia đình, làm tan

rã mô hình gia đình truyền thống Bằng cái nhìn sắc sảo, ráo riết, Đoàn Lêphân tích, lý giải những biến động của đời sống xã hội, sự tác động đến sốphận con người Không chỉ phê phán sự tha hóa, cái xấu xa mà Đoàn Lê còncảm nhận thấm thía những lầm lẫn, hạn chế của một thời Nhận thức quá khứ

và thực tại đời sống, tiểu thuyết Đoàn Lê còn có khả năng dự báo xu thế pháttriển tất yếu và những đổi thay trong xã hội

Một hiện thực cũng nổi lên trong tiểu thuyết của Đoàn Lê là nhiều nhânvật cán bộ, viên chức nhà nước là những kẻ đạo đức giả, lợi dụng danh nghĩacách mạng để trục lợi, để thỏa mãn ham muốn quyền lực của cá nhân, trù dậpngười khác nhằm nâng cao uy tín của bản thân, của gia đình và dòng họ mình

Ví dụ như ông cựu bộ trưởng H trong tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại mà tác

giả “mạn phép gọi là ông Cựu cho tiện” chỉ nghe lời xúi dục, xúi bẩy củanhững kẻ xấu tính đã dựa vào quyền lực của mình để trù dập vợ chồng Trần

Tự “Bao năm rồi ông Cựu chưa lai vãng tới quê cha đất tổ? Đã khi nào ôngtrông thấy cái nhà thờ thủy tổ họ Trần này ra sao? Đã bao giờ ông biết rõ bộmặt Trần Tự sát nhân hay bụi đời như các đơn từ miêu tả” Ấy vậy mà vừanghe một đám họ tộc “ỏn thót” ông Cựu đã vội vàng “nơi này ông gửi thưriêng, nơi kia ông muợn công văn thúc ép Cấp nào tỏ ra thận trọng với đám

họ Trần to mồm, liền bị ông trách cứ Đừng đùa với nghị sĩ! Tiếc rằng ôngđã… cựu, nhưng cái thân ông còn oai, cái thế ông còn gớm lắm!” “Làm gì cótên gọi cho việc làm của ông Cựu? Ông tư thù chúng tôi, hay ông chân thànhngăn chặn bằng được một tên tặc tử nào đó đang phá phách, bán chác một khu

di tích?” Nhà văn Đoàn Lê dùng những ngôn ngữ sắc sảo để đánh giá: “Baonhiêu năm giữ quyền, giữ chức, với một tư- cách- quan kiểu đó, tôi tự hỏi ôngCựu đã gây ra bao nhiêu trò thối nát?” [38,685] Ông Cựu đường đường làmột bộ trưởng thế mà không phân biệt nổi trắng đen Nhà văn phê phán,

Trang 36

châm biếm sự thiếu hiểu biết, thói lợi dụng danh nghĩa để trục lợi, để thỏamãn ham muốn cá nhân của ông Cựu.

Nối tiếp hiện thực có tính chất phê phán về những người làm việc trong

bộ máy nhà nước, cán bộ cơ quan, chính quyền sa sút về đạo đức hay những

lỗi lầm trong công việc, trong hai tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại và Lão già tâm thần đều có đề cập đến đội ngũ cán bộ làm văn hóa Ông thủ trưởng trong Lão già tâm thần do đã nhận tiền hối lộ nên làm ra bản luận chứng giả Sự

thật là mộ cụ Đặng Thuần Công đã bị khai quật từ năm 1972 và ngôi mộ bâygiờ không có xương cốt gì cả Tước- một cán bộ văn hóa đã kiên quyếtkhông ký tên vào bản luận chứng khoa học Suy nghĩ của Tước cũng là suynghĩ của chính tác giả: “Khu di tích thuộc loại công trình để lại cho hậu thế.Nếu con cháu ta biết các bậc tiền bối dối trá trơ tráo đến nhường ấy, chúng

sẽ khinh cho, nghi ngờ hết thảy di sản văn hóa của cha ông chúng đều làhàng dởm Tôi cứ tưởng tượng hàng triệu người hành hương đến trước cáibằng chứng lừa lọc của chúng ta để cúi đầu thành kính… tôi lại rợn cảngười” Chính sự ngay thẳng của Tước khiến anh bị ông thủ trưởng thuyênchuyển công tác về tăng cường cho một huyện đảo Tất cả những ngườikhông nghe theo ý thủ trưởng đều phải chịu kết cục như Tước Còn trong

tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại cũng đề cập đến việc xếp hạng di tích cho cụ

danh nhân Chí Đạo Ông Mích- trưởng Phòng Bảo tồn đã cố tình làm sailệch nội dung lịch sử của bản luận chứng khoa học Đó cũng bởi vì ông đãnhận hối lộ của đám con cháu họ Trần Nhà văn Đoàn Lê đã châm biếm ôngMích: “Cái vẻ ông là vẻ đi vạch lưng cho thiên hạ xem những nốt ghẻ ruồi,chứ không ra người đàng hoàng đi bảo vệ luận chứng khoa học” [38,710].Nhà văn muốn phê phán sự tha hóa về đạo đức dẫn đến những sai lầm trongcông việc của đội ngũ cán bộ nhà nước thời hậu chiến Đây cũng là hiệntượng không phải hiếm trong xã hội ngày nay

Trang 37

Trong các cây bút tiểu thuyết, Đoàn Lê là một trong những người nhìnnhận hiện thực đời sống xã hội một cách tỉnh táo và khách quan Để cắtnghĩa, lý giải hiện thực, nhà văn đi sâu vào phân tích đời sống tinh thần conngười, chỉ ra những tồn tại trong ý thức hệ tư tưởng Các tiểu thuyết củaĐoàn Lê cho thấy sự phản ứng với quan niệm duy ý chí một thời, cái thời

mà với lối tư duy bảo thủ và thói vị kỷ, những kẻ nhân danh gia đình, đoàn

thể có thể áp đặt suy nghĩ của mình cho người khác Trong Thời xa vắng của

Lê Lựu, cuộc đời Sài đã chịu sự áp đặt một cách phi lý bởi những quan niệm

và niềm tin của người khác Hồi nhỏ, Sài phải lấy vợ theo sự sắp đặt củacha, lớn lên, Sài không được bỏ vợ vì chú Hà và anh Tính là những cán bộ

xã, cán bộ huyện, bản thân Sài cũng là liên đội trưởng, phải gương mẫu

“không được bỏ vợ” Sợ mất danh tiếng, ảnh hưởng đến uy tín gia đình, dùthâm tâm muốn tốt cho Sài nhưng các bậc cha chú đã buộc anh phải theo lốinghĩ của họ Khi Sài đi bộ đội, theo sự chỉ đạo của tổ chức, anh phải “kiênquyết cắt đứt quan hệ với người mình yêu” để “thực sự yêu vợ” Nhân vật

lão Khảm trong tiểu thuyết Lão già tâm thần của Đoàn Lê cũng là con người

như vậy Dường như suốt cuộc đời của lão Khảm chịu theo sự chỉ đạo và ápđặt của người khác, mà ở đây chính là ông Tạc- Giám đốc Sở giao thông.Công trình cầu Bội chính là cái gông suốt đời lão Khảm phải gánh chịu Lúcđầu lão Khảm được giao thiết kết công trình cầu Bội Mất gần một năm khổ

sở, vất vả, người xanh như tàu lá lão Khảm mới gần hoàn thành bản thiết kế.Nhưng đùng một cái, lão Khảm phải dừng bản thiết kế vì đã có một bản thiết

kế của một tiến sỹ đi học ở nước ngoài về Lão Khảm không có quyền phảnứng hay tức giận mà chỉ biết cúi đầu cam chịu Bi kịch cuộc đời lão Khảmbắt đầu từ cây cầu Bội định mệnh Trong suốt quá trình thi công cầu Bội, lãoKhảm chỉ biết chấp nhận thi công mặc dù ông biết rõ những sai phạm về kỹthuật Suốt từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật ông Tạc luôn theo sát cùng

Trang 38

nhân vật lão Khảm Ông Tạc lúc thì dịu dàng, bỡn cợt, bông đùa tình cảmvới lão Khảm, lúc thì quát mắng thậm tệ Cứ lúc nào lão Khảm chùn bước,trốn chạy là ông Tạc kịp thời đến bên Cứ như vậy, lão Khảm đã xây lên mộtcông trình tội lỗi Suốt cuộc đời ông chỉ yêu một người con gái là bà Hằng.Thế nhưng suốt cuộc đời họ cứ mãi lỡ hẹn nhau Ngày ăn hỏi và ngày cướicủa họ đều không thành Lão Khảm không làm chủ được cuộc đời mình,suốt đời ông chịu sự chỉ đạo của tổ chức Ông Tạc đã nhân danh tổ chức để

áp đặt suy nghĩ của mình cho lão Khảm

Hiện thực cuộc sống được nhà văn Đoàn Lê tái hiện một cách chânthực nhất gương mặt lịch sử và đời sống xã hội Nhà văn giúp cho chúng ta cócái nhìn sâu vào mọi ngóc ngách của cuộc sống trước những thay đổi lớn củathời đại Tiểu thuyết của Đoàn Lê toát lên được không khí của thời đại, của xãhội, của nhiều tầng lớp, nhiều thế hệ, nhưng bên cạnh những thành quả đạtđược còn có cả sự ấu trĩ, cay đắng và thất bại, cả những bất hạnh và ngang trái

mà trước đó người ta chưa thể nói hết ra, chưa thể đi đến tận cùng

2.1.1.2 Hiện thực tâm linh

Từ sau 1986 đến nay, trong cao trào đổi mới tư duy, đội ngũ nhữngngười làm công tác văn học, trong đó có nhà văn có dịp thuận lợi để nhìn lạichặng đường đã qua của văn học Họ sớm nhận ra rằng: không thể khuôn đốitượng nhận thức, phản ánh của văn học vào những lĩnh vực hạn hẹp, cứngnhắc nhằm phục vụ cho những mục tiêu, nhiệm vụ không thực sự phù hợp vớibản chất của nó, mà chính là phải mở rộng phạm vi khám phá của văn học đểloại hình nghệ thuật này ngày càng đáp ứng được những đòi hỏi mới củangười đọc Chính vì vậy mà biên độ phản ánh hiện thực hôm nay được mởrộng hơn, đuợc soi chiếu từ nhiều góc độ Quan niệm hiện thực, nói như HồAnh Thái, gồm “những gì ta thấy, ta nghe, ta trải nghiệm là chưa đủ Hiệnthực còn là cái ta cảm nữa… Cả một đời sống tâm linh cũng là hiện thực”

Trang 39

Tương tự Hồ Anh Thái, Ngô Tự Lập cũng cho rằng: Ngay cả hiện thực cũngchỉ là một giấc mơ, một giấc mơ hỗn loạn, vô tận, giấc mơ với những đường

bay mê lộ Nguyễn Khải trong tiểu thuyết Thời gian của người cho rằng:

“Bên cạnh Chúa có Quỷ, bên cạnh Phật có Ma Ma quỷ cũng dự phần bất tử

để làm mặt đối lập, để thế giới này tiếp tục vận động và tồn tại” Điều đó đặtnhà văn trước những trách nhiệm, thử thách mới, với sự ý thức mới về thiênchức của người nghệ sỹ: “Nghệ thuật cũng sẽ không ôm hết cái dữ dằn, đanh

đá của cuộc sống, cả cuộc chết nữa! Sẽ chẳng đi đến đâu một thứ nghệ thuật

không thấy hết cái bờ kia của hiện thực” (Trương Vũ Thiên An- Nước mắt Chí Phèo).

Hiện thực tâm linh không hề xa lạ với độc giả Việt Nam Khả năngtiềm tàng của thần thoại, cổ tích, nói như Amiatốp, là dưỡng chất nuôi dưỡngnền văn hóa hiện đại Ngoài văn học dân gian, hiện thực tâm linh còn gắn bóchặt chẽ với triết học Phật giáo và triết học Lão Trang Chính các học thuyết

về kiếp, về cuộc sống sau cái chết và vấn đề tái sinh của Phật đã mở ra chovăn học phương Đông một nguồn mạch tư duy hết sức phong phú Triết họcLão Trang, triết học biện chứng tự nhiên, lại đặc biệt nhấn mạnh sự biến hóaqua lại giữa hai mặt đối lập: âm và dương, họa và phúc, thực và hư,… là mộtloạt những cặp phạm trù có thể nhìn dưới quan điểm biến dịch Chính nhờ haihọc thuyết này cộng với văn hóa dân gian làm cho quan niệm thô sơ, giản đơn

về hiện thực đã bộc lộ những hạn chế nhất định của nó và vì thế bộ phận vănhọc có yếu tố tâm linh trở nên phổ biến

Từ năm 1986 đến nay có thể ví như thời kỳ hồi sinh rầm rộ, đầy sứcsống của yếu tố tâm linh trong tác phẩm văn học Biểu hiện rõ nhất là sự vượttrội cả về số lượng tác giả lẫn tác phẩm Với lối viết ngẫu hứng đầy sáng tạo,đan xen tài tình giữa hư và thực, chi tiết gạn lọc, cô đúc, sử dụng các môtípnhư báo oán, lời nguyền, phân thân, ký giao kèo với ma,… truyện mang yếu

Trang 40

tố tâm linh đã mang một luồng gió mới vào đời sống văn học đương đại Sự

nở rộ của lớp nhà văn này, theo như nhận xét của Trần Quốc Vượng: Có thểdiễn giải như một cơn lốc giải tỏa những khát vọng sáng tạo bị dồn nén từ lâu.Các nghệ sỹ trẻ đang tìm kiếm bản sắc riêng của mình dựa trên những trảinghiệm cá nhân và cách nhìn riêng biệt, càng ngày càng tỏ ra tự tin và táo bạotrong công việc sáng tạo… họ ráng làm một cuộc hôn phối giữa truyền thống

và hiện đại

Người ta kể rằng, ở Ấn Độ, trong cái nhộn nhịp của cuộc sống, conngười thường nghe văng vẳng tiếng gọi: “Hãy chở ta sang bờ bên kia” Đó làtiếng gọi của con người khi “cảm thấy rằng mình còn chưa đến đích”(Tagore) Nhưng cái “bờ bên kia” ấy lại gợi chúng ta những liên tưởng thú vị

Nó không phải là bờ bên kia của một dòng sông, hiện hữu trong giới hạn củađất trời Nó chính là “bờ ta” nhưng lại tồn tại trong cõi mông lung mà ta cầnphải soi rọi, phải hướng đến trong tiếng gọi tha thiết từ cõi lòng mình Cõimông lung đó “chính là tâm hồn, tâm thức, tâm linh, là những điều gì diễn ratrong tầng sâu ý thức, trong bộ não, trái tim của con người trước khi thể hiện

ra ngoài” (Bùi Hiển)

Nhưng tâm linh là gì? Cho đến nay, vẫn chưa có định nghĩa nào về

“tâm linh” “đầy đủ và sáng rõ” Theo Từ điển tiếng Việt: “Tâm linh là khả

năng đoán trước những điều sắp xảy ra theo quan niệm duy tâm” (tr.264)

Theo tác giả Nguyễn Đăng Duy trong cuốn Văn hóa tâm linh: “Tâm linh là

cái thiêng liêng cao cả trong cuộc đời thường, là niềm tin thiêng liêng trongcuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” Còn với một số tác giả khác, tâm linh

“thường được hiểu như đời sống tinh thần đầy bí ẩn của con người, đối lậpvới “ý thức” kiểu lý tính thuần túy Nó bao gồm cái phi lý tính, cái tiềm thức,

vô thức, bản năng thiên phú “có thể nhấn mạnh phần trực cảm, linh giác,những khả năng bí ẩn” (nhưng vẫn có ý thức của con người)

Ngày đăng: 15/12/2015, 06:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại- Nhận định và thẩm định, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại- Nhận định và thẩmđịnh
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2001
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
3. M.Bakhtin (1998), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1998
4. M.Bakhtin (1998), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
5. Vũ Bằng (1996), Khảo về tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo về tiểu thuyết
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1996
6. Nguyễn Thị Bình (2003), “Một vài suy nghĩ về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 1975, Tạp chí văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về quan niệm hiện thựctrong văn xuôi nước ta từ sau 1975, "Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2003
7. Nguyễn Thị Bình (1999), “Một vài đặc điểm của tiểu thuyết mới”, Tạp chí văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm của tiểu thuyết mới”, "Tạpchí văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1999
8. Nguyễn Thị Bình, (2001), “Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam gần đây”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyếtViệt Nam gần đây”", Tạp chí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2001
9. Nguyễn Thị Bình (2008), “Tư duy thơ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy thơ trong tiểu thuyết Việt Nam đươngđại”, "Tạp chí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2008
10. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975- 1995, những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975- 1995, những đổimới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
11. Trịnh Thị Bích (2010), Khuynh hướng nhận thức lại trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, Luận văn Thạc sỹ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng nhận thức lại trong tiểu thuyếtViệt Nam thời kỳ đổi mới
Tác giả: Trịnh Thị Bích
Năm: 2010
12. Đoàn Cầm Chi (2005), “Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam đương đại”, http://www.evan.vnexpress.net/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn họcViệt Nam đương đại
Tác giả: Đoàn Cầm Chi
Năm: 2005
13. Trần Linh Chi (2005), Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986-2000 bước phát triển về tư duy thể loại, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986-2000 bước pháttriển về tư duy thể loại
Tác giả: Trần Linh Chi
Năm: 2005
14. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NxbKhoa học Xã hội
Năm: 2004
15. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NxbKhoa học Xã hội
Năm: 1998
16. Trần Ngọc Dung (2006), “Đời sống thể loại văn học sau 1975”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống thể loại văn học sau 1975”, "Tạp chíNghiên cứu văn học
Tác giả: Trần Ngọc Dung
Năm: 2006
17. Đinh Trí Dũng- Phan Huy Dũng (2001), Góp phần tìm hiểu con đường vận động tiểu thuyết hiện thực Việt Nam 1900-1945, Đề tài cấp Bộ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu con đườngvận động tiểu thuyết hiện thực Việt Nam 1900-1945
Tác giả: Đinh Trí Dũng- Phan Huy Dũng
Năm: 2001
18. Đặng Anh Đào (1999), “Tính chất hiện đại của tiểu thuyết”, Tạp chí văn học (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất hiện đại của tiểu thuyết”, "Tạp chí vănhọc
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1999
19. Đặng Anh Đào (2006), “Vai trò của cái kỳ ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam”, Tạp chí văn học, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của cái kỳ ảo trong truyện và tiểu thuyếtViệt Nam”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 2006
20. Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w