1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phong cách tiểu thuyết tô hoài

110 612 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 673 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu mét thể loại trong sáng tác của nhà văn: đã là tiểu thuyết, qua đó tìm ra những nét phong cách trong tiểu thuyết của ông.. Trong luận án

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ do chọn đề tài

1.1.Tô Hoài là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại Xuất hiện

và được chó ý từ tuổi hai mươi, Tô Hoài đã mau chóng trưởng thành và trở thành mét cây bót tiêu biểu của nền văn xuôi hiện đại

Viết sớm, viết nhiều, đều đặn, dẻo dai và bền bỉ ở mọi đề tài: miền nói, lịch sử, truyện đồng thoại Tô Hoài là “Con dao pha”, “pha” hết mọi thứ truyện ngắn, truyện dài, truyện loài vật, hồi kí, bót kí, kịch, kịch bản phim v.v và ở thể loại nào, “ngón nghề của ông cũng thật là thiện nghệ” [67,169] Cho đến nay, Tô Hoài đã xuất bản được hơn 160 đầu sách các loại và trở thành một nhà văn có khối lượng tác phẩm vào loại đồ sộ nhất của nền văn học hiện đại

Vào nghề sớm lại kéo dài tuổi nghề, cho đến nay Tô Hoài đã có gần 70 năm cầm bót Hành trình sáng tạo của Tô Hoài bắt đầu từ những năm 40 của thế kỉ trước, trải qua những mốc lịch sử quan trọng của đất nước và vẫn tiếp tục viết cho đến ngày hôm nay Càng viết, ông càng tỏ ra có vốn sống phong phú và sức làm việc dẻo dai, bền bỉ, đáng khâm phục Ở mỗi chặng đường, Tô Hoài đều có những thành tựu khác nhau và bao giê Tô Hoài cũng có tiếng nói riêng, cách nhìn riêng và tạo dựng được một phong cách riêng

Ngay từ những năm 40 của thế kỉ XX, Tô Hoài đã được bạn đọc yêu

thÝch và đón nhận nồng nhiệt qua Dế mèn phiêu lưu kí Sau cách mạng,

những sáng tác về đề tài miền núi đã mang lại vinh quang cho Tô Hoài Ở

tuổi 72, Tô Hoài lại cho ra mắt độc giả Cát bụi chân ai và ông đã trở thành

nhà văn “thượng thặng trong thể hồi kí” với “phần tư liệu vô giá”[67,168]

BÊt ngờ hơn nữa, khi ở tuổi 86, ông lại cho ra đời cuốn tiểu thuyết Ba người khác Cuốn sách vừa được xuất bản đã thu hót được sự quan tâm chó ý của

bạn đọc

Trang 2

Vì những cống hiến, đóng góp của ông cho văn học nước nhà nên Tô Hoài đã vinh dự được nhà nước ta trao giải thưởng cao quÝ: Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật ngay từ đợt đầu (1996)

1.2 Là một nhà văn có những tác phẩm đạt đến trình độ nghệ thuật xuất

sắc, tác phẩm của Tô Hoài đã được chọn giảng trong nhà trường từ các cấp phổ thông cho đến đại học Sức sáng tạo dẻo dai và bền bỉ của Tô Hoài và những sáng tạo mới mẻ trong nghệ thuật của nhà văn đã khiến cho sù “khám phá về ông cả về văn lẫn đời là một niềm say mê với chúng ta” [67,165] Và

đó cũng chính là lÝ do chúng tôi chọn Tô Hoài làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn của mình

1.3 Sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài phong phó, đa dạng cả về đề tài, thể

loại Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu mét thể loại trong sáng tác của nhà văn: đã là tiểu thuyết, qua đó tìm ra những nét phong cách trong tiểu thuyết của ông

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Là nhà văn lớn có những đóng góp quan trọng cho nền văn học nước nhà nên Tô Hoài đã được nhiều nhà phê bình trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Ở đây, chúng tôi chỉ xin điểm lại những công trình nghiên cứu về

Tô Hoài và những tác phẩm của ông có liên quan đến đề tài này

2.1 Những công trình nghiên cứu trên góc độ tổng quan

Vũ Ngọc Phan - Ông chủ bót của Hà Nội tân văn đã cho in những truyện

ngắn đầu tiên của của nhà văn trẻ này và cũng là người đầu tiên có những nhận xét, đánh giá về Tô Hoài và tiểu thuyết của ông: “Tiểu thuyết của Tô Hoài thuộc loại tả chân” nhưng Tô Hoài “có khuynh hướng về xã hội” Vũ Ngọc Phan cũng khẳng định Tô Hoài “là một nhà tiểu thuyết có con mắt quan sát sâu sắc” [67,53]

Sau cách mạng tháng Tám, Tô Hoài đã được nghiên cứu trên các chuyên luận của các nhà nghiên cứu: Phan Cự Đệ, Trần Hữu Tá, Hà Minh Đức,Vân

Trang 3

Thanh, Đoàn Trọng Huy v.v Các nhà nghiên cứu đều chỉ ra những đặc điểm nổi bật ở Tô Hoài và sáng tác của ông ở các phương diện: khiếu quan sát, khuynh hướng sáng tác, nhãn quan phong tục, kiểu nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ văn chương

Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh đều đánh giá cao Tô Hoài khiếu quan sát, sù thông minh, hãm hỉnh và tinh tế

Hà Minh Đức lại khẳng định Tô Hoài là “Mét cây bót văn xuôi sắc sảo đa dạng”, tác phẩm của ông bao giê cũng có “tiếng nói, cách nhìn, mét phong cách riêng độc đáo” [16,39]

Khám phá hiện thực đời sống qua những trang mô tả phong tục sinh động, đó là đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Tô Hoài Các nhà nghiên cứu đều chỉ ra năng lực đặc biệt này của nhà văn Trần Hữu Tá đã khẳng định:

“Có thể nói Tô Hoài có một nhãn quan phong tôc đặc biệt nhạy bén và sắc sảo” [67,160]

Cùng quan điểm trên, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long còng đưa ra nhận xét: “Ở Tô Hoài, cảm quan hiện thực nghiêng về phía sinh hoạt và phong tục” [37,456]

Nh vậy, các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao Tô Hoài ở khiếu quan sát, nhãn quan phong tục

Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm và có những nhận xét đánh giá khá tập trung và thống nhất Phan Cự Đệ đã nhận xét: “Anh quen viết về những nhân vật, những cảnh đời hồn nhiên như hơi thở của sù sống, khoẻ mạnh, thuần phác, lạc quan như những câu chuyện trong cổ tích, trữ tình trong sáng, đẹp ý nhị như ca dao” [5,682] Nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế trong cách xây dựng nhân vật của Tô Hoài “Anh chưa thật thành công khi thể hiện những bước ngoặt của tính cách”, “Anh Ýt khai thác nhân vật của mình ở góc độ trí tuệ, ở sù bõng tỉnh của trí tuệ” [5,699]

Trang 4

Đáng chó ý hơn cả là ý kiến của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh trong bài

viết: Tô Hoài với quan niệm “Con người là con người” Trong bài viết này,

giáo sư đã phân tích làm rõ những nét riêng trong cách nhìn đời sống, cách xây dựng nhân vật của Tô Hoài Ông khẳng định: “Tôi cho rằng Tô Hoài quan niệm con người là con người, chỉ là con người, thế thôi” Viết về những con người bình thường trong cuộc sống nên nhân vật của Tô Hoài, ( ) thường Ýt được lí tưởng hoá” [44,120]

Những phương diện khác làm nên diện mạo riêng của văn chương Tô Hoài là giọng điệu và ngôn ngữ cũng được quan tâm chú ý Vũ Ngọc Phan đã chỉ ra giọng văn đặc biệt của Tô Hoài: “Một lối văn dí dám, tinh quái, đầy những phong vị và màu sắc thôn quê”, văn Tô Hoài có chất giọng “trào lộng

và khinh bạc” [67,59-63]

Ngôn ngữ của Tô Hoài là một nét đặc sắc nổi trội, thể hiện rõ nhất sự tìm tòi, sáng tạo, lao động công phu của nhà văn Một số sách, giáo trình văn học,

những bài viết đăng tải trên Tạp chí văn học, các nhà nghiên cứu đều đề cập

tới phương diện này

Trần Đình Nam khẳng định Tô Hoài là “Chuyên gia Tiếng Việt siêu hạng”, “Ông có cả một kho từ vựng phong phó, giàu có bậc nhất” [67,170] Vân Thanh cũng đưa ra nhận xét “Ngôn ngữ Tô Hoài thường ngắn gọn và rất gần với khẩu ngữ của nhân dân lao động” [67,77]

Có thể thấy, mọi phương diện của phong cách văn chương Tô Hoài đều

đã được đề cập tới Tuy nhiên, đó mới chỉ là những ý kiến rải rác trên các bài

nghiên cứu Năm 2005, Mai Thị Nhung đã cho công bố: Phong cách nghệ thuật Tô Hoài (luận án Tiến sĩ Ngữ Văn trường Đại học sư phạm Hà Nội)

Trong luận án này, tác giả đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về cảm quan hiện thực đời thường – hạt nhân phong cách nghệ thuật Tô Hoài, những biểu hiện

cụ thể của phong cách nghệ thuật nhà văn trên các phương diện: thế giới nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ Đây là công trình nghiên cứu công phu và khá

Trang 5

toàn diện về phong cách nghệ thuật của nhà văn Luận án này góp thêm một tiếng nói khẳng định vị trí vững vàng của Tô Hoài trong nền văn học hiện đại Việt Nam

2.2 Những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Tô Hoài

2.2.1 Tiểu thuyết Quê người

Vũ Ngọc Phan đánh giá cao tiểu thuyết Quê người ở giá trị phong tục

“Trong Quê người có rất nhiều thãi tục có thể là những tài liệu chân xác cho

nhà xã hội học muốn khảo sát phong tục và sự tiến hoá của dân téc Việt Nam” [67,56]

Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức đã chỉ ra giá trị hiện thực của cuốn tiểu

thuyết Quê người Ông cũng đánh giá cao “vốn hiểu biết phong phú về làng

quê, một năng lực quan sát nhạy bén, tinh tế, một óc phân tích khách quan, chân thực và tấm lòng đôn hậu chân tình” [16,18] của Tô Hoài

Phong Lê còng nhấn mạnh đến “dấu Ên phong tục là nét nổi trội” trong

tiểu thuyết Quê người, đằng sau bức tranh phong tục Êy là hiện thực của đời

sống Nhà nghiên cứu khẳng định: đó là giá trị, là “đặc điểm riêng trong bức tranh hiện thực của Tô Hoài, và cũng là dấu Ên riêng nơi chủ nghĩa hiện thực kiểu Tô Hoài trong văn xuôi Việt Nam trước cách mạng” [67, 29]

2.2.2 Tiểu thuyết Mười năm

Cuốn tiểu thuyết này khi mới ra đời đã từng có những ý kiến đánh giá, phê phán gay gắt Các ý kiến phê bình đều tập trung phê phán về nội dung của tác phẩm, cách tiếp nhận và khám phá đời sống của nhà văn Như Phong đã phê phán đây là một cuốn tiểu thuyết “chưa thành công” [67,288] Tác giả bài

viết đã kết luận: “Vấn đề của Mười năm chính là vấn đề của một chủ trương

sáng tác sai lầm, mét khuynh hướng nghệ thuật lệch lạc” [67, 299]

Trần Hữu Tá, Vân Thanh cũng phê phán những “sai lầm” của tác giả

Mười năm Theo các nhà nghiên cứu, tác phẩm chưa nêu được những nét chủ

yếu của hiện thực như: những mâu thuẫn cơ bản của thời đại, âm mưu và tội

Trang 6

ác của bọn phong kiến thực dân, phong trào quần chúng dưới sự lãnh đạo của

Đảng Có thể thấy, Mười năm đã được tiếp nhận với những cách nhìn, cách

đánh giá phê phán khá nặng nề và có phần khiên cưỡng, máy móc

Trong không khí đổi mới sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nhiều

“vụ án” văn học, nhiều tác phẩm văn học đã được nhìn nhận đánh giá xem

xét lại Trong báo Người giáo viên nhân dân sè đặc biệt 7-1989, Hà Minh Đức đã nêu lên vấn đề: Cần xác định lại giá trị của Mười năm Ông đã chỉ ra rằng Mười năm đã bị “phê phán quá mức” Ông khẳng định: “Mười năm là

một bước phát triển mới mẻ của phong cách Tô Hoài” [67, 307]

Nguyễn Đăng Điệp đã nhận xét đánh giá về Mười năm là tác phẩm “đáng

chú ý về tư duy nghệ thuật Trong khi nhiều cây bót hướng tới cảm hướng sử thi thì Tô Hoài vẫn chú ý đến cuộc sống thường nhật” [9,119]

2.2.3 Tiểu thuyết Ba người khác

Ngay từ khi mới ra mắt độc giả, cuốn tiểu thuyết này đã lập tức gây được

sự chú ý của đông đảo độc giả Sáng ngày 22-12 -2006 Hội nhà văn Hà Nội đã

tổ chức hội thảo tại trụ sở Viện văn học về tiểu thuyết Ba người khác với sự

tham gia đông đảo của nhiều nhà văn, nhiều nhà nghiên cứu như: Nguyên Ngọc, Nguyễn Xuân Khánh, Bằng Việt, Nguyên Ân, Lê Sơn, Văn Chinh, Hoàng Minh Tường, Phan Thị Thanh Nhàn, Thu Huệ, Nguyễn Trọng Tân và

Tô Hoài, tác giả của cuốn tiểu thuyết Những bài tham luận và những ý kiến của những nhà văn, nhà nghiên cứu đã được đăng tải trên talaws Các ý kiến của các nhà văn, nhà nghiên cứu, đều đánh giá cao giá trị phản ánh của tác phẩm

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đánh giá: “Ba người khác là cuốn sách hay nhất của Tô Hoài”

Dịch giả Lê Sơn cho rằng “Đây là một trong những đỉnh cao của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại”

Trang 7

Nhà phê bình Lại Nguyên Ân nhìn nhận cuốn tiểu thuyết ở góc độ tâm lí

xã hội: “Sự xuất hiện của những cuốn sách như thế này là một cách giải toả cho mét trong những chấn thương của xã hội” Ông còng khẳng định nét mới trong nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết “cách chọn vị trí thể hiện – hoá thân và một nhân vật xưng “tôi” nào đó giúp nhà văn “trần tình” được nhiều hơn và cảm giác tin cậy của người đọc khi đọc ông cũng ngày một nhiều hơn là vì thế”

Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét về những đặc sắc trên phương diện nghệ thuật của tác phẩm: “cách viết hay, độc đáo về cải cách ruộng đất Không viết

về nông dân mà viết về ba anh đội Hoá ra cái thảm kịch của đất nước, xã hội

là do ba cái anh lăng nhăng ( ) Ba kẻ chẳng có kiến thức gì tự nhiên làm đảo lộn cả xã hội”

Trong lời giới thiệu tác phẩm, nhà xuất bản Đà Nẵng cũng đánh giá cao

giá trị phản ánh hiện thực của tác phẩm: “Ba người khác sẽ lấp vào đầy thuyết

phục một trong những chỗ khuyết hôt” của bức tranh toàn cảnh thời kì cải

cách ruộng đất” [23, 8]

3 Đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài

Trong luận văn này, chóng tôi tập trung vào khảo sát các tiểu thuyết Quê

người, Mười năm, Ba người khác để tìm ra những đặc điểm phong cách của

tiểu thuyết Tô Hoài trên các phương diện: cách tiếp cận đời sống, cốt truyện, kết cấu và hệ thống nhân vật, nghệ thuật trần thuật và những đặc sắc ngôn ngữ Do khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, và nhiều lÝ do khác, chóng tôi

chỉ tập trung khảo sát các tiểu thuyết: Quê người, Mười năm, Ba người khác

Đây là những tiểu thuyết tiêu biểu cho những chặng đường sáng tác của Tô Hoài

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

Trang 8

4.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp: Chúng tôi tập trung vào tìm hiểu

và phân tích những đặc điểm của tiểu thuyết của Tô Hoài, tổng hợp kết quả phân tích để chứng minh cho các đặc điểm Êy

4.2 Phương pháp so sánh đối chiếu đồng đại và lịch đại: Chóng tôi tiến

hành so sánh, đối chiếu tiểu thuyết Tô Hoài với tiểu thuyết của các nhà văn sáng tác trước Tô Hoài và các nhà văn cùng thời với Tô Hoài, để thấy những đặc điểm riêng trong các tiểu thuyết của Tô Hoài

4.3 Phương pháp hệ thống: Chúng tôi đặt tiểu thuyết của Tô Hoài trong

hệ thống tác phẩm ở thể loại khác của ông như truyện ngắn, hồi kí để thấy được những nét riêng biệt của thể loại tiểu thuyết và sự vận động trong tiểu thuyết của Tô Hoài

4.4 Phương pháp thống kê: Chúng tôi tiến hành thống kê, so sánh, để tìm

ra những đặc sắc về cách xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Tô Hoài

5 Cấu trúc của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham

khảo, luận văn được chia thành bốn chương

Chương 1: Quan niệm về đề tài và những tiền đề tạo nên phong cách

nghệ thuật tiểu thuyết Tô Hoài

Chương 2: Cách tiếp cận đời sống trong tiểu thuyÕt Tô Hoài

Chương 3: Cốt truyện , kết cấu và hệ thống nhân vật

Chương 4: Nghệ thuật trần thuật và đặc sắc ngôn ngữ.

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

QUAN NIỆM VỀ ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ TẠO NÊN PHONG

CÁCH TIỂU THUYẾT TÔ HOÀI 1.1 Quan niệm về đề tài

1.1.1 Khái niệm phong cách

Phong cách tiếng Hy Lạp cổ là “stylos” nghĩa là một cái que vót nhọn để viết trên các tấm bảng cã phủ nến” [53,385] Ban đầu, các nhà văn La Mã dùng từ trên theo lối hoán dô để chỉ ra các đặc điểm của lời văn viết của một tác giả nào đó Sau này, khái niệm phong cách đã được dùng rộng rãi, phổ biến, không chỉ trong lĩnh vực văn học nghệ thuật mà còn được dùng trong nhiều ngành khoa học và đời sống như kiến trúc, điện ảnh, thời trang

Đầu thế kỉ XX, thuật ngữ phong cách đã được quan tâm sâu sắc Ở Liên

xô (cò), viện sĩ M.B.Khráp chen cô đã dành khá nhiều công sức nghiên cứu

vấn đÒ này Trong cuốn: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, ông đã thống kê và đưa ra đến gần 20 cách hiểu khác nhau về phong cách Hê Ghen trong cuốn Mĩ học tập 1 cũng chỉ ra rằng: “Phong cách nói

chung bao hàm tính chất độc đáo của một chủ thể nhất định Chủ thể này sẽ biểu lé trong phương thức biểu đạt, trong cách nói năng” Ông khẳng định:

“Hạt nhân của phong cách nghệ thuật là tính chất độc đáo của một chủ thể nhất định” [11,472]

Ở nước ta, mãi những năm 80 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu về phong cách

mới được chú ý đến Cuốn Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên (1984) đã

đưa ra định nghĩa: phong cách “Là chỗ độc đáo mang phẩm chất thẩm mĩ cao được kết tinh trong sự sáng tạo của nhà văn Không phải nhà văn nào cũng tất yếu có phong cách” Phong cách “đòi hái sự bền vững, không chấp nhận sự chóng phai mê, nhưng phải lặp đi lặp lại một cách đổi mới” [30, 214]

Trang 10

Cuốn 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, Từ điển thuật ngữ văn học do tập thể các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi (đồng chủ biên) còng nêu lên khái niệm phong cách

Tác giả Phương Lựu khi viết cuốn Lí luận văn học còng đã khẳng định:

“Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng nh nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ được thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tó Nó đòi hỏi trước hết nhà văn phải đem lại tiếng nói mới cho văn học” [35, 482]

Nh vậy, dù diễn đạt dưới những hình thức khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đều chỉ ra rằng: Điểm cốt lõi, yếu tố quyết định tạo lên phong cách nghệ thuật của nhà văn là tính độc đáo thể hiện trong sáng tác

Phong cách bắt nguồn sâu xa từ hiện thực khách quan, bằng thực tiễn sống của nhà văn Nhà văn muốn tạo cho mình phong cách riêng trước hết phải có cách cảm nhận thế giới độc đáo, có tư tưởng nghệ thuật độc đáo, và

có phương thức thể hiện độc đáo phù hợp với nội dung của nó Bởi vì “sự thống nhất của các phương tiện biểu hiện phù hợp với cách nhìn độc đáo đối với đời sống”sẽ tạo nên “diện mạo riêng biệt” trong sáng tác của nhà văn [32,169] và đó chính là phong cách của người nghệ sĩ

Nh vậy, căn cứ duy nhất để khẳng định phong cách tác giả là những yếu

tố thể hiện sự độc đáo trong sáng tác của nhà văn, thể hiện tài năng của người nghệ sĩ Phong cách có thể được biểu hiện ở nội dung tư tưởng, cách nhìn, cách khám phá hiện thực của nhà văn Cách nhìn Êy sẽ chi phối đến thế giới nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ tức là chi phối đến hình thức nghệ thuật của tác phẩm Nhà văn Pháp MácxenPruxt đã viết: “Đối với nhà văn ( ) phong cách không phải là vấn đề kĩ thuật mà là vấn đề cách nhìn” [Dẫn theo 32,152] Cái nhìn hay thế giới quan chính là yếu tố quan trọng tạo nên phong cách người nghệ sĩ Nhà văn Nguyễn Tuân đã nhấn mạnh: “Mỗi người viết có mét cái vision (nhãn quan) riêng, nó đẻ ra phong cách” [43,174]

Trang 11

Nói tóm lại: Phong cách chính là những biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật, có tính chất thống nhất và tương đối ổn định được lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn, thể hiện cái nhìn và sự chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo của nhà văn đối với thế giới và con người Phong cách nhà văn vừa thống nhất, ổn định vừa luôn vận động biến đổi qua mỗi giai đoạn, mỗi chặng đường sáng tác, nã chịu sự chi phối của các yếu tố khách quan: môi trường, xã hội, thời đại Tuy vậy, yếu tè độc đáo mang tính chất thẩm mĩ - hạt nhân của phong cách nhà văn vẫn ổn định, bền vững và vẫn thường xuyên lặp lại

1.1.2 Phân biệt phong cách tác giả và phong cách thể loại

1.1.2.1 Thể loại và phong cách thể loại

Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ “qui luật loại hình của tác phẩm Ứng với một nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể” [35, 339]

Thể loại tác phẩm văn học cho người đọc biết phương thức tái hiện đời sống và hệ thống các phương tiện, biện pháp thể hiện tương ứng Trong thể loại tác phẩm văn học, bao giê cũng có sự thống nhất qui định lẫn nhau của đề tài, chủ đề, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn

Mỗi một thể loại tạo ra mét kênh giao tiếp với bạn đọc Nói đến thể loại

là nói đến một cách tổ chức tác phẩm, một kiểu tái hiện đời sống và một kiểu giao tiếp nghệ thuật Thể loại tác phẩm văn học hình thành trong lịch sử văn học trên cơ sở lặp lại có quy luật của các yếu tố tác phẩm Cuộc sống luôn vận động, biến đổi, đổi mới các kênh giao tiếp, bởi vậy thể loại tác phẩm văn học không chỉ đơn giản là sù lặp lại các yếu tè loại hình mà luôn vận động biến đổi cho phù hợp với nhu cầu thị hiếu của con người trong các thời kì, các giai đoạn cụ thể Sự hình thành và phát triển của thể loại gắn liền với sự phát triển của văn học qua các giai đoạn, nã đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu văn hoá và trải qua sự trải nghiệm trong sáng tác của các nghệ sĩ để rồi cuối cùng hình thành nên những thể loại tương đối ổn định

Trang 12

Trong mỗi thể loại tác phẩm văn học, có các yếu tố ổn định, truyền thống lại

có các yếu tố đổi mới do tiến trình văn học và tài năng của nhà văn đóng góp Như vậy, thể loại văn học thể hiện các qui luật phản ánh đời sống và tổ chức tác phẩm tương đối bền vững, ổn định, đã được hình thành trong thực tiễn sáng tác Nhưng mặt khác, thể loại cũng được tái sinh đổi mới để đáp ứng với nội dung hiện thực Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã chỉ ra rằng: “Thể loại

có thể ra đời rất sớm nhưng phải đến mét giai đoạn lịch sử nhất định nó mới được định hình và trở thành một tiếng nói mới mẻ của nghệ thuật và tạo dựng được phong cách của nã” [48,396] Phong cách thể loại chính là những đặc điểm riêng biệt độc đáo của mỗi thể loại Mỗi một thể loại trong quá trình hình thành đều tạo nên những đặc điểm của thể loại mình, nhưng qua tài năng sáng tạo của những người nghệ sĩ, thì những đặc điểm của thể loại Êy lại có thêm những nét đặc sắc mới và in dấu Ên của sự sáng tạo riêng của những người nghệ sĩ tài hoa Êy Cùng là thơ Đường luật nhưng thơ Đường luật của

Hồ Xuân Hương khác với thơ Bà huyệnThanh Quan, là truyện thơ Nôm

nhưng Truyện Kiều của Nguyễn Du đã vượt xa rất nhiều các truyện thơ Nôm

khuyết danh cùng thời, cùng là truyện ngắn nhưng truyện ngắn Thạch Lam khác với truyện ngắn của Nam Cao hay truyện ngắn Nguyễn Công Hoan v.v Những điểm khác nhau Êy tạo nên phong cách nghệ thuật cho mỗi thể loại, tạo sự đa dạng phong phó cho nền văn học dân téc

1.1.2.2 Quan hệ giữa phong cách tác giả và phong cách thể loại

Chóng ta biết rằng phong cách có nhiều cấp độ khác nhau: có phong cách tác phẩm, thể loại, trào lưu, thời đại v.v nhưng thực tế qua các công trình nghiên cứu về phong cách, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu dường như mới chỉ tập trung nghiên cứu phong cách tác giả - phong cách cá nhân mà chưa có sự quan tâm thích đáng đến phong cách thể loại Thực tế sáng tác của các nhà văn cho thấy, phong cách cá nhân là sự thể hiện độc đáo phong cách chung của thời đại Ở mỗi nhà văn, tài năng văn học thường bộc

Trang 13

lé, thể hiện rõ trên mét thÓ loại nào đó Có người sáng tác văn xuôi thành công nhưng viết thơ lại không hay, có người thành công trong truyện ngắn nhưng lại thất bại trong tiểu thuyết v.v Tất nhiên với những nghệ sĩ đa tài,

họ có thể sáng tác thành công trên nhiều thể loại, song bao giê cũng có một thể loại kết tinh tài năng của họ Khi đó người nghệ sĩ không chỉ đóng góp cho sự phát triển của văn học dân téc, làm phong phó, đa dạng cho nền văn học dân téc mà bằng những tác phẩm xuất sắc của mình, họ còn đóng góp cho

sự phát triển của thể loại, đưa thể loại lên đến những đỉnh cao Đó là Hồ Xuân Hương với thơ Nôm Đường luật, Nguyễn Du với truyện thơ Nôm, Nguyễn Đình Chiểu với thể loại Văn tế v.v

Với những nhà văn tài năng, giàu sức sáng tạo, họ không chỉ in đậm cá tính độc đáo của mình trên những trang viết mà còn đóng góp cho sự phát triển của thể loại, tạo cho những thể loại vốn đã định hình và phát triển từ trước có thêm những nét mới mẻ, tạo sự đa dạng, phong phó, cho những thể loại tưởng như đã xơ cứng đi vì những đặc điểm riêng biệt của nó

Phong cách thể loại cũng có mang những đặc điểm của phong cách nhà văn, nhưng những nét phong cách Êy sẽ thể hiện trên một thể loại và chịu sự quy định của đặc điểm của thể loại Êy

Tiểu thuyết của Tô Hoài mang những đặc điểm của thể loại tiểu thuyết truyền thống của Việt Nam nhưng đồng thời Tô Hoài cũng mang đến cho tiểu thuyết những nét riêng biệt Qua tiểu thuyết của Tô Hoài, ta thấy được sự vận động và phát triển của thể loại tiểu thuyết, bởi tiểu thuyết là “Thể loại duy nhất đang hình thành và chưa xong xuôi” [27,331]

Tìm hiểu phong cách thể loại tiểu thuyết của Tô Hoài, chúng tôi sẽ tìm hiểu những nét độc đáo mang phẩm chất thẩm mĩ, lặp đi lặp lại trong tiểu thuyết của nhà văn, qua đó thấy được những đóng góp của Tô Hoài cho tiểu thuyết Việt Nam, thấy được cả khuynh hướng vận động của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Trang 14

1.2 Những tiền đề tạo nên phong cách tiểu thuyết Tô Hoài

1.2.1 Hoàn cảnh gia đình, quê hương, xã hội

Tô Hoài sinh năm 1920, tên thật là Nguyễn Sen Ngoài tên thật khi viết báo, ông còn dùng những bót danh khác nh: Mắt Biển, Mai Trang, Duy Phương, Hồng Hoa Quê nội của ông ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây nhưng nhà văn lại sinh ra, lớn lên và rất gắn bó với quê ngoại ở làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ (Nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội )

Bót danh Tô Hoài là sự ghép tên của hai địa danh thân thiết của quê hương nhà văn: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức Làng Nghĩa Đô nghèo “Sự sống loanh quanh buộc vào mấy khung cửi mọt” [22,27] Gia đình ông bà ngoại của Tô Hoài cũng nghèo túng như bao người dân làng Nghĩa Đô Mẹ của Tô Hoài làm nghề giấy, “giấy phÌn đem bán rong cho người ta gói hàng” [22,29], người cha tiếng là làm việc ở ngoài Kẻ Chợ nhưng thực chất là “ngồi

xe ngựa đi đưa bánh cho mét lò bánh mì trong thành phố” [22, 27] Cuộc sống của gia đình nghèo Êy và làng quê chuyên sống về nghề dệt lĩnh - lĩnh Bưởi cũng như bao miền quê khác cứ bình lặng trôi qua với những lo toan về cuộc sống hàng ngày Làng quê Êy đã có những ngày tháng bình yên Nhưng rồi cuộc sống cứ mỗi ngày mét ngặt nghèo, khèn khó hơn Chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, của chiến tranh, làng nghề cứ sa sót, lụn bại dần “Hàng Õ, người ta nghỉ, mà người đi làm thuê nhiều ứ lên Gạo lại kém nữa ( ) Bây giê trong làng vắng tanh Những khung cửi guồng tơ xếp cả lại Nhiều nhà túng bán cả đi, không hòng sinh nhai gì về nghề nữa” [19,497] Làng nghề sa sót, lụn bại, các gia đình li tán, mỗi người đi kiếm ăn một phương Người cha của Tô Hoài vì sinh kế đã phải giã từ vợ con vào Sà Goòng xa xôi kiếm sống vì ông “đã đi tìm việc nhiều nơi ngoài Kẻ Chợ nhưng không đâu có việc” [22,67] Thư từ, tin tức cứ thưa dần rồi chẳng thấy trở về “Có người đồn thầy tôi đã lấy vợ bên Sà Goòng” [22,105] Người mẹ ở

Trang 15

nhà với hai đứa con tần tảo, nheo nhóc Ám ảnh và day dứt trong trái tim thơ ngây và nhạy cảm của cậu bé Sen là hình ảnh người mẹ như “cái bóng lầm lũi, hoà với bóng tối ( ) cái bóng mơ hồ bên cạnh những líp líp những ngậm ngùi, những thắc thỏm đợi chờ dài dặc trong ngấn nước mắt và tiếng thở dài” [22,28] Vất vả, túng thiếu và những nỗi đau buồn đã khiến cho bà trở nên tàn

tạ, phôi pha, nhanh chóng “Tóc đường ngôi của u tôi lốm đốm rụng, chỉ còn lưa thưa ( ) U tôi cười, nếp nhăn ở đuôi mắt nheo lại, xếp lên nhau, đến khi hết cười còn hằn những vết rạn khía quanh xuống hai bên gò má Hàm răng trên của u tôi khuyết hai chiếc đã mấy năm nay U tôi già đi từ bao giê? Từ lúc nào?” Hình ảnh người mẹ cặm côi trong những đêm khuya lắm rồi vẫn ngồi “lặng lẽ xắm giấy, bóng đổ chập chờn trên vách” [22, 28- 29] bao năm qua vẫn còn in đậm trong tâm trí nhà văn với nỗi cảm thương day dứt

Những kỉ niệm sâu đậm về gia đình, về quê hương nghèo khó của mình

đã chi phối đến ngòi bót của Tô Hoài giúp chúng ta hiểu vì sao những trang viết đầu tiên của nhà văn trẻ khi mới bước chân vào nghề viết lại là viết về những con người lao động, những con người nhỏ bé, bình dị xung quanh mình, trên quê hương mình

Quê nội Tô Hoài cũng nghèo túng, khó khăn Người cha cứ đi biền biệt rồi không thấy trở về Quê nội chỉ cách quê ngoại khoảng hai, ba chục cây số

mà giê đây trở nên xa lăng lắc Sinh ra ở quê ngoại và lớn lên rồi dùa hẳn vào bên ngoại, cuộc đời Tô Hoài gắn bó với quê ngoại, với ông bà ngoại và các dì Ngay từ nhỏ, cậu bé Sen đã phải chứng kiến những cảnh bất hoà, lục đục trong gia đình Ông ngoại thương cháu nhưng cũng là người nóng tính Buồn

vì gia cảnh sa sót, buồn vì nỗi cậu con trai duy nhất ốm chết, ông trở nên nghiện rượu, những lóc say rượu, ông thường hay gọi tên bà ra mà réo chửi, rồi “đập tất cả những thứ gì vô phóc có ở quanh mình” và chỉ cần bà nói lại một câu là “ông tôi ra góc nhà, vớ cái rõi cửa, đuổi theo bà tôi Bà tôi huỳnh huỵch trèn ra ngõ” [22, 21] Những cảnh hãi hùng nh thế đã để lại trong tâm

Trang 16

hồn, trí óc non nít, ngây thơ của cậu bé Sen những Ên tượng về một cuộc sống đan xen những vui buồn chua chát Bà ngoại tuy lắm điều nhưng còng là người rất chiều cháu Kí ức về những ngày đầu tiên đi học của Tô Hoài luôn gắn với hình ảnh người bà Bà đưa cháu đến trường rồi cùng ngồi với cháu một ghế,

“trống tan học bà tôi dắt tôi về ( ) Cái lệ Êy kéo dài đến nửa tháng” [22, 48] Lớn lên và phải chứng kiến cảnh sống sa sút của gia đình và quê hương, hiện thực bủa vây xung quanh Tô Hoài là cảnh sống khó khăn túng quẫn của gia đình, của làng xóm vì nghề dệt thủ công đang dần dần phá sản Tô Hoài

đã ghi lại cảnh sống khó khăn của gia đình ông trong Tự truyện Những ngày

chợ phiên Õ hàng thì không khí của gia đình càng trở nên nặng nề: “Nhà tôi, ngày chợ không sinh chuyện này thì chuyện khác Hàng Ýt lại xấu, không đều, mặt hàng gùn gút lên, không ai mua Thế là xảy ra những trận xô sát giữa bà ngoại tôi và các dì tôi Ông ngoại tôi ngồi uống rượu Cuối cùng, bao giê ông tôi cũng vác gậy đuổi đánh tất cả Mọi người chạy toán loạn đêm mới về ( ) Sáng hôm sau, lại vẫn cãi nhau, làm ầm cả xóm” [22,156] Khèn khó đến mức ngôi nhà của ông bà ngoại vốn là nhà hương hoả giê đây cũng phải đem cầm cố Cuộc sống túng quẫn khó khăn Êy đã chi phối đến cảm quan hiện thực của Tô Hoài, hình thành nên thế giới quan hiện thực của nhà văn Thùc ra cảnh ngộ nghèo đói túng quẫn Êy đâu phải là cảnh ngộ riêng của gia đình Tô Hoài, của làng quê ông, mà đó là sự suy thoái của quê hương, của mọi miền trên đất nước

Chóng ta biết rằng, xã hội Việt Nam từ những năm 1930 đang có những biển chuyển gay gắt dữ dội bởi chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933), rồi đại chiến thế giới thứ 2 (1939-1945) bùng

nổ, Nhật vào Đông Dương cùng với thực dân Pháp ra sức đàn áp và bóc lột nhân dân ta Bên cạnh những chính sách đàn áp về chính trị, Pháp và Nhật còn tăng cường bóc lột, vơ vét về kinh tế khiến cho nạn đói hoành hành khắp nơi, nhân dân chết đói đầy đường “Giá cả sinh hoạt 1945 đắt gấp 25 lần năm

Trang 17

1939 ( ) thế mà phát xít Nhật vẫn xuất cảng 50 vạn tấn gạo, và số thóc dự trữ của thực dân Pháp tới tháng 3 cũng lên đến 50 vạn Số gạo này có thể nuôi 10 triệu dân trong 7 tháng” [6,16] Lớn lên trong những năm tháng Êy, Tô Hoài

đã phải chứng kiến những ngày tháng ảm đạm, tăm tối đến nghẹt thở của quê hương Đói kém và thất nghiệp “Người trong làng bá đi làm đủ nghề Những

gã lên tỉnh gánh nước thuê và kéo xe Có những người nhập vào đám phu mộ

đi các đồn điền trồng cao su ở Nam Kì, lại có những nhà bồng bế nhau lên tỉnh ghi tên vào sở di dân lên mạn ngược” [22, 497] Cuộc sống túng quẫn kéo theo mọi điều rắc rối, mọi tệ nạn phát triển: “Làng đã nghèo lại sinh ra lắm điều rắc rối Người ta chơi chắn cạ, xóc đĩa suốt ngày đêm, sát phạt nhau từ một xu trở lên Và cái sự mất trộm vặt thì thường xảy ra luôn Con chã, con

gà đi tha thẩn ngoài ngõ vô ý không ai trông mất ngoém ngay Cái váy, cái quần phơi ngoài sân biến là thường Thậm chí ngoài vườn có mấy quả đu đủ xanh cũng bị vặt trụi Không hôm nào là không có người vác gậy, cầm mõ đi dong ra dong vào để chửi những đứa ăn cắp vặt Những đám cãi nhau thì nổi lên thường ngày vang vang từ ngõ nọ trở qua ngõ kia” [22, 497- 498] Kết cục

bi thảm nhất là nạn đói 1945 tràn đến nhấn chìm quê hương Việt Nam trong những cái chết thê thảm, kinh hoàng

Những cảnh sống của quê hương, của gia đình với bao nỗi buồn vui như thế đã in đậm trong kí ức của Tô Hoài và trở thành những Ên tượng, những cảm nhận đầu tiên của nhà văn về cuộc sống và góp phần hình thành nên thế giới quan hiện thực của nhà văn

1.2.2 Tiểu sử, tính cách con người Tô Hoài

Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh xã hội thực dân phong kiến đang có những biến động sâu sắc, sù sa sút đói khổ ở quê hương, cảnh sống nghèo túng ở gia đình, Tô Hoài đã phải làm nhiều nghề để kiếm sống: dạy học tư, bán hàng, kế toán cho một hiệu buôn Người thanh niên của vùng Nghĩa Đô

Êy đã sống trong những ngày thất nghiệp tủi nhục, lang thang, vất vưởng

Trang 18

kiếm sống Có những ngày phải nương nhờ vợ chồng nhà người bạn, thậm chí phải nghe vợ bạn “quân sư” tìm, kết bạn với một cô gái nhảy nào đó mà cô ta

có thể “bao”mình sống tạm qua ngày trong cảnh thất nghiệp Thế rồi những ngày lang thang ăn mày cửa Phật, bước chân phiêu lưu kiếm sống đưa Tô Hoài hết vào chùa Trầm, chùa Hoả Tinh, lại đến chùa Trăm Gian Nhưng cửa Phật cũng không thể là nơi kiếm ăn mãi được, cuộc đời lại ném trả Tô Hoài về quê hương nghèo khó

Cảnh khèn khó của gia đình, sự tù túng của một người tiểu tư sản thất nghiệp, sù lay lắt kiếm sống của bản thân hoàn cảnh Êy đã tác động sâu sắc đến Tô Hoài khiến ông đồng cảm và gắn bó thiết tha với cuộc sống của những con người lao động nghèo khổ của quê hương Ngay từ những trang viết đầu tiên, Tô Hoài đã thuộc số những nhà văn tả chân Sau này, những ảnh hưởng sâu sắc của phong trào Mặt trận Dân chủ đã hướng ngòi bót Tô Hoài vào con đường của chủ nghĩa hiện thực

Hoàn cảnh sống Êy đã thôi thúc Tô Hoài sớm tìm đến với cách mạng Từ thời kì Mặt trận Dân chủ sôi nổi, Tô Hoài đã hăng hái tham gia Hội ái hữu thợ dệt, làm thư kí ban trị sự Hội ái hữu thợ dệt Hà Đông, rồi tham gia phong trào Thanh niên phản đế Năm 1943, ông gia nhập tổ Văn hoá cứu quốc đầu tiên ở

Hà Nội Sau cách mạng, Tô Hoài đã tham gia phong trào Nam tiến, rồi sau đó

lên Việt Bắc làm báo Cứu quèc, chủ nhiệm Cứu quốc Việt Bắc chủ bót Tạp chí cứu quốc Sau ngày hoà bình lập lại, ông được bầu làm Phó Tổng thư kí

Hội nhà văn rồi Tổng thư kí của Hội nhà văn Việt Nam, làm Chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội Không chỉ thế, Tô Hoài còn tham gia nhiều công tác xã hội khác như đại biểu quốc hội khoá VII, Phó Chủ tịch uỷ ban đoàn kết Á- Phi, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Ên, uỷ viên ban chấp hành Hội hữu nghị Việt- Xô Thậm chí, Tô Hoài còn tham gia làm tổ trưởng dân phố Có lẽ tham gia hoạt động trên nhiều cương vị khác nhau đã giúp cho nhà văn có điều kiện gắn bó với cuộc sống của đông đảo tầng líp nhân nhân lao động Sự từng trải, vốn

Trang 19

sống thực tế Êy đã mang đến cho Tô Hoài những hiểu biết phong phú và trở thành nguồn tư liệu không bao giê vơi cạn cho những sáng tác của nhà văn Cuộc sống đã đẩy Tô Hoài còng nh các nhà văn Vò Träng Phông, Nam Cao đến với nghề viết Tô Hoài đã từng làm nhiÒu nghề để kiếm sống, nhưng nghề nào cũng rẻ mạt, bấp bênh, chẳng nghề nào có thể giúp ông nuôi nổi bản thân và đỡ đần cho bà, cho mẹ Người thanh niên có chút Ýt chữ nghĩa làm vốn liếng bèn thử sức trên lĩnh vực viết văn, viết báo và thật không ngờ: “Tôi không thể so sánh và tưởng tượng ra giá một bài báo với công xá những công việc đã làm bấy lâu nay để kiếm sống Hãng giày BaTa mỗi tháng trả lương tôi sáu đồng Bây giê một cái truyện ngắn tôi được mười đồng Mà một tháng tôi có thể viết mấy cái truyện ngắn! Điếc không sợ súng, tôi cứ lia tràn Tôi khoắng một đêm xong cái truyện ngắn, là thường [22, 321] Anh thợ cửi thất nghiệp, anh bán hàng Ba Ta Tô Hoài bước vào nghề viết bất ngờ, giản dị tự nhiên nh thế

Vào nghề viết, Tô Hoài “viết nh chạy thi” [22, 236], ông đã tự bộc bạch

“viết để kiếm miếng sống lúc Êy thì phải viết khoẻ nh vậy” [67, 20] Và để sống được với nghề viết khi vốn văn hoá vừa mới chỉ hết líp bốn, Tô Hoài phải tự học hỏi rất nhiều Lòng yêu văn học, tài năng bẩm sinh, cuộc đời ba chìm bảy nổi, và lòng ham thích sáng tác văn chương đã rèn đúc Tô Hoài thành một nhà văn tầm cỡ Đi nhiều, lại chịu khó học hỏi, quan sát, thãi quen của người tự học “thượng vàng hạ cám” [67,529] cái gì cũng đọc, đọc và ghi chép Tất cả đã tạo cho Tô Hoài một vốn sống, vốn hiểu biết cực kì phong phó Vò Quần Phương đã phải thán phục coi Tô Hoài “nh mét cuốn từ điển sống về nhiều sự kiện văn học và xã hội” [67,163]

Cách mạng tháng Tám bùng nổ, Tô Hoài vừa hăng hái tham gia cách mạng vừa đều đặn viết Hành trình dài theo cách mạng và kháng chiến đã thay đổi đề tài và cảm hứng viết của Tô Hoài Nhà văn của vùng ngoại thành Hà

Nội trong vai phãng viên báo Cứu quốc đã từng có mặt ở Vĩnh Yên, Việt Trì

Trang 20

vào mặt trận phía Nam, đến Nha Trang, lên Tây Nguyên rồi trở về Hà Nội

và lên Việt Bắc Lên Tây Bắc, Tô Hoài đã từng cùng “ăn thịt ngựa nhạt, rêu

đá nướng, bọ hung xào như bà con, cùng vác củi, thổi sáo, bắt con dói và đêm trăng sáng theo thanh niên Hmông đi “cướp vợ” [33, 22] Kết quả của những chuyến đi thực tế “hiếm có” Êy là những tác phẩm xuất sắc viết về đề tài miền núi đã ra đời và mang lại những vinh quang cho Tô Hoài

Có thể nói tài năng bẩm sinh, lòng đam mê sáng tác, ý thức trau dồi nghề nghiệp và sự nỗ lực tìm tòi, khám phá đã khiến cho Tô Hoài dù chỉ là tự học

đã vươn lên trở thành một nhà văn đàn anh dạn dày kinh nghiệm, một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại

1.2.3 Quan niệm về sáng tác văn chương và quan niệm nghệ thuật

về con người

Một yếu tè quan trọng làm nên nét đặc sắc, diện mạo riêng của văn chương Tô Hoài đó chính là quan niệm nghệ thuật của ông về sáng tác văn chương, về con người Có thể nói đây chính là yếu tố cốt lõi khiến văn chương của Tô Hoài dù được sáng tác ở thể loại nào, sáng tác trong giai đoạn nào vẫn có điểm riêng biệt không thể bị trộn lẫn Không béc lé quan điểm nghệ thuật của mình một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc như Nam Cao, cũng không trực tiếp tranh luận quan điểm nghệ thuật của mình một cách đanh thép, hùng hồn trên báo chí như Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài cứ lặng

lẽ miệt mài sáng tác, cần mẫn như người làng Nghĩa Đô dệt lụa Nhưng tìm hiểu các tác phẩm của Tô Hoài, chóng ta thấy rõ rằng, các tác phẩm của nhà văn đều được viết dưới ánh sáng của một tư tưởng, mét quan điểm nghệ thuật của riêng ông Quan điểm nghệ thuật đó đã được thể hiện nhất quán trong sáng tác của Tô Hoài, từ những tác phẩm được sáng tác ở chặng đầu cho đến những tác phẩm được viết khi nhà văn đã qua tuổi bát tuần Quan điểm nghệ thuật của Tô Hoài được thể hiện trên hai phương diện: quan niệm về sáng tác văn chương và quan niệm nghệ thuật về con người

Trang 21

1.2.3.1 Quan niệm về sáng tác văn chương

Sớm đến với văn chương, ban đầu Tô Hoài cũng chịu ảnh hưởng của xu hướng sáng tác lãng mạn đương thời, cây bót trẻ Êy cũng bắt đầu nghiệp viết bằng những bài thơ tình lãng mạn, nhưng rồi nhà văn trẻ tuổi đời và tuổi nghề

Êy đã nhanh chóng nhận ra đó không phải cái “gu thẩm mĩ” của mình và ông

đã chuyển hướng Sau này, trong Tự truyện nhà văn đã từng bộc bạch: “Chưa

bao giê tôi bắt chước viết theo truyện của Khái Hưng, Nhất Linh, mặc dầu tôi thích đọc những truyện Êy Bởi lẽ giản dị: viết truyện viển vông giang hồ kỳ hiệp, ai cũng có thể tưởng tượng, nhưng viết giống cái thật thì nhân vật trong truyện của các ông nhà giàu con quan có đồn điền như thế, tôi không biết những kiểu người Êy, không bắt chước được”[22, 218] Lời thổ lé chân tình

Êy của Tô Hoài đã bộc lé rất rõ quan niệm của ông về văn chương Còng giống như các nhà văn hiện thực quan niệm : “nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối” [3, 318], “tiểu thuyết là sự thực ở đời” [57], Tô Hoài không thi vị hoá đời sống, không viết về những lứa đôi “lá ngọc cành vàng”,Tô Hoài chỉ viết về những điều mà ông nhìn thấy ở quanh mình, ở bạn bè, làng xóm, quê hương, những gì gần gũi ở quanh mình,

ở chính mình “Đời sống xã hội quanh tôi, tư tưởng và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả những sáng tác của tôi Ý nghĩ tự nhiên của tôi bấy giê là viết những sự thực xảy ra trong nhà, trong làng quanh mình” [22, 218] Hoàn cảnh xuất thân và môi trường sống của Tô Hoài quá xa cách với những tầng líp trên

- tầng líp thượng lưu của xã hội, ông chỉ gần gũi quen thuộc với đám bình dân, những con người lam lò, khổ nghèo, nhếch nhác Nhà văn đã từng tâm sù :

“Đời không suông nhạt của một mảnh cổ tích nhăng cuội, ở những chuyện trai gái thông thường đem bôi nhèm trên giấy Tôi có thể viết vô vàn truyện mơ mộng hoa lá Mà tôi viết không được Xưa nay tôi chỉ quen với những cái gì vụn vặt nhem nhọ” [67,118] Viết về những con người lao động nhỏ bé bình dị sống quanh mình, Tô Hoài tỏ ra am hiểu tâm lí, tư tưởng tình cảm của họ và

Trang 22

viÕt về họ với tất cả sự cảm thông sâu sắc Trong truyện ngắn Hết một buổi chiều, Tô Hoài đã để nhân vật chàng văn sĩ nghèo tâm sự: “Mỗi khi cầm bót

lên mà kể chuyện một dòng nước, mét cánh hoa, một làn mây trắng thì gã thấy như mình đương làm một việc gì trào phúng quá Gã ngượng với bót Gã ngượng với chính cái mặt gã soi thấy ở trong gương” [16,195] Ý thức tự vấn của chàng văn sĩ nọ phải chăng cũng chính là suy ngẫm của Tô Hoài về nghề viết?

Tô Hoài cũng là nhà văn có ý thức sâu sắc về nghề viết Ông quan niệm nghề viết là một nghề để kiếm sống nh bất cứ nghề nào khác, vì thế “nghề viết phải học suốt đời”

Như vậy, viết về hiện thực đời sống quanh mình là phương châm sáng tác của Tô Hoài, nhà văn không tìm đến những chuyện li kì giật gân, cũng không viết về những cái xa lạ, tô vẽ trong tưởng tượng như những cây bót lãng mạn

mà chỉ viết về hiện thực cuộc sống như đang diễn ra hàng ngày Đúng như

Nguyễn Đăng Điệp đã nhận xét: “Viết về cái của mình, quanh mình là định

hướng nghệ thuật và cũng là kênh thẩm mĩ của Tô Hoài Đúng hơn đây là yếu

tố cốt lõi làm nên quan niệm nghệ thuật của ông Nó khiến cho văn Tô Hoài

có phong cách, giọng điệu riêng Đó là giọng kể nhẩn nha, hãm hỉnh, tinh

quái” [9,114]

1.2.3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người

Tô Hoài có một cái nhìn giản dị và xác thực về con người Trong cuốn

hồi kí nổi tiếng Cát bụi chân ai, ông đã viết: “Ô hay! Người ta ra người ta thì

phải là người ta đã chứ” [22,385 ] Theo ông, con người trước khi là một ai đó thì trước hết phải là chính mình, phải là mình với tất cả những gì mà tạo hoá

đã sinh ra chóng ta Có xấu, có tốt, có hay, có dở, có những thãi tật của riêng mình Con người không phải là thánh nhân cũng không phải là cái gì đó siêu phàm Bên cạnh những tính tốt con người còn những hạn chế , thậm chí

Trang 23

những thãi xấu Con người có những phần cao cả nhưng cũng có phần khuất lấp Èn sâu trong tâm hồn

Với quan niệm và cách nhìn về con người như vậy nên trong tác phẩm của mình, Tô Hoài thường khai thác con người ở phương diện đời thường Đó

là những con người trong những mối quan hệ sinh hoạt với vô vàn những cá tính, thãi tật, với cả sự nhếch nhác Cái nhìn đời thường khiến cho Tô Hoài đôi khi nhìn và khai thác nhân vật ở góc độ bản năng, từ đó khiến họ trở nên thô lỗ, tầm thường

Nhìn thấy ở con người cái hay cũng như cái dở, cái xấu và cái tốt Tô Hoài đã đem đến cho văn học một cái nhìn riêng về con người Sự đa dạng trong cá tính thãi tật của con người mới thực sự tạo nên sự trọn vẹn trong thế giới vô cùng sinh động và phong phú của chúng ta Có thể nói với quan niệm nghệ thuật mới về con người, Tô Hoài - và sau này là một loạt các nhà văn thời đổi mới như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp v.v đã phá vỡ cái nhìn lí tưởng hoá về con người, phá vỡ cách nhìn nhận đánh giá con người ở phương diện giai cấp hay đạo đức của một thời trước đây Con người phải được sống đúng với con người tự nhiên của mình Đấy là chất nhân văn đáng quí trong quan niệm của Tô Hoài

Như vậy, hoàn cảnh xuất thân, môi trường sống đã chi phối và tạo nên cảm quan hiện thực đời thường của Tô Hoài Cảm quan hiện thực Êy được cụ thể hoá qua cách nhìn về đời sống, cách nhìn nhận về con người, tạo nên quan niệm nghệ thuật về con người, quan niệm về sáng tác văn chương Những yếu

tố đó là những cơ sở quan trọng tạo nên phong cách nghệ thuật Tô Hoài

Trang 24

CHƯƠNG 2 CÁCH TIẾP CẬN ĐỜI SỐNG TRONG TIỂU THUYẾT TÔ HOÀI

2.1 Miêu tả đời sống qua những chi tiết vặt vãnh đời thường

“Tiểu thuyết là tác phẩm tù sự cỡ lớn có khả năng phản ánh cuộc sống trên mọi giới hạn của không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức, xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [27,328] Đặc trưng của thể loại tiểu thuyết giúp cho tiểu thuyết có thể phản ánh cuộc sống xã hội trên mọi bình diện với những quy mô lớn của xã hội nhưng cũng

có thể đi sâu phản ánh những vấn đề riêng tư, những số phận con người với tất cả sự đa dạng phức tạp của nó

Trên thế giới, tiểu thuyết đã có một lịch sử phát triển lâu dài Ở phương Đông, mầm mèng của tiểu thuyết Trung Quốc có vào thế kỉ III-IV Riêng ở Việt Nam, tiểu thuyết phát triển muộn, mãi đến thế kỉ XVIII míi xuất hiện

Trang 25

một vài tiểu thuyết Phải đến đầu thế kỉ XX trở đi, Việt Nam mới có tiểu thuyết hiện đại

Trong truyền thống, tiểu thuyết phản ánh cuộc sống với qui mô lớn, sù

bao quát rộng và thời gian dài hàng vài chục, vài trăm năm Hoàng Lê nhất thống chí của các tác giả Ngô Gia Văn phái đã phản ánh cả một giai đoạn lịch

sử với những biến cố lớn lao trong phủ chóa Trịnh trong suốt 30 năm cuối của thế kỉ XVIII Cảm hứng lịch sử với cái nhìn bao quát kết hợp với sự phân tích

lí giải thực trạng xã hội là khuynh hướng của các nhà tiểu thuyết lịch sử trong truyền thống

Tiểu thuyết Việt Nam đến những năm 1932 mới bắt đầu phát triển và nở

ré với sự ra đời của một loạt những cây bót tên tuổi: Nhất Linh, Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Nam Cao v.v Mỗi một nhà văn có một cách tiếp cận khám phá và miêu tả đời sống theo cách riêng của mình Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định:

“Tâm hồn mỗi nhà văn có một “chất dính” riêng dù ông ta có quan sát thực tế đời sống ở nhiều lĩnh vực khác nhau “chất dính” Êy vẫn chỉ có thể bắt lấy được những gì thích hợp với nó mà thôi Những cái gì đó tạo nên ở mỗi cây bót một “đối tượng thẩm mĩ riêng”, nơi đó cung cấp những nguồn chất liệu phù hợp để nhà văn tạo dựng nên thế giới nghệ thuật riêng của mình” [42,14] Nếu như những cây bót lãng mạn như đi sâu vào những mối tình Ðo le ngang trái, lên tiếng đấu tranh đòi giải phóng con người thoát khỏi những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, của hôn nhân phong kiến, đòi giải phóng cho người phụ nữ trong tình yêu, trong hôn nhân thì các nhà văn hiện thực qua những tiểu thuyết của mình lại đề cập đến những xung đột xã hội, xung đột giai cấp nảy lửa với những biến cố giàu kịch tính Nếu tiểu thuyết lãng mạn kiêng kị, né tránh những chi tiết sinh hoạt đời thường thì tiểu thuyết hiện thực lại lấy hiện thực đời thường làm chất liệu cho tác phẩm của mình

Trang 26

Ngay từ những trang viết đầu tay, Tô Hoài đã chọn cho mình một cách khám phá riêng Tiểu thuyết của ông không đi vào khai thác những vấn đề nóng báng như chính sách thuế thân tàn bạo, dã man, không mô tả sự hà hiếp, bóc lột tàn tệ của bọn địa chủ hòng cướp đoạt ruộng đất của nông dân, còng không mô tả cuộc sống của những con người hiền lành, lương thiện bị xô đẩy vào con đường lưu manh, tội lỗi mà Tô Hoài viết về những chuyện đời thường, những buồn vui, lo âu, và đói nghèo của những người dân lao động bình thường nhỏ bé Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét: “Cã thể nói, Tô Hoài là nhà văn của những người thường, của chuyện thường, của đời thường” [44, 120] Ngòi bót của Tô Hoài thường đi sâu vào những chi tiết vặt vãnh, xoàng xĩnh để tái hiện cuộc sống của những người dân quê.

Ở tiểu thuyết Quê người, Tô Hoài đã đi sâu và miêu tả cuộc sống của những người nông dân ở một vùng quê ngoại thành Hà Nội Tiểu thuyết Quê người toàn là những chuyện vặt vãnh, chuyện sinh hoạt đời thường Cuốn tiểu

thuyết xoay quanh cuộc đời vài ba cặp trai, gái, vài ba cặp gia đình: Thoại - Bướm, Hời - Ngây Họ sống trong những mối quan hệ đời thường Ban ngày

họ dệt cửi, quay tơ, chạy chợ để kiếm sống Những đêm trăng sáng họ cùng nhau tụ tập chơi đùa đàn hát Tình yêu nảy nở giữa những lứa đôi Ngòi bót của Tô Hoài miêu tả cảnh những đêm hội, những đêm hát chèo Đó là dịp để trai gái của làng trên xóm dưới gặp gỡ, hẹn hò Những chi tiết vặt vãnh quen thuộc muôn đời của làng quê được xâu chuỗi để tạo nên diện mạo của cuộc

sống trong Quê người Đó là cảnh trêu ghẹo của đám trai làng Thượng với

những cô gái làng Nha, cảnh đám thanh niên làng Thượng rình đánh đôi trai gái yêu nhau ngồi tình tự trên địa phận của làng họ Cảnh bêu riếu nói xấu nhau Ngây bị thằng Khói dán giấy nói xấu bêu riÕu khắp làng Bà Ba tức cho cháu mình bị kẻ xấu đặt điều và người đàn bà nổi tiếng lắm điều chua ngoa Êy vác mõ đi chửi rong khắp các làng trên xóm dưới Cảnh Thìn nói xấu Toản - chồng Lụa Lụa chê chồng - thằng chồng trẻ con Cãi cọ, chửi

Trang 27

nhau, đánh nhau chán, cô đã bỏ nhà đi với người tình cũ Lụa bỏ đi khiến cho hai gia đình thông gia chửi nhau rồi đánh nhau một trận kịch liệt Thấy Thằng Sù câng cha lên Phủ kiện anh trai mình, bà Ba liền rò đầu rò tóc ngay tại cổng nhà ông Thủ Dân để nằm vạ Thằng Toản từ ngày vợ bá đi, ốm một trận kịch liệt rồi ngÈn ngơ, hoá rồ Ông Nhiêu Thục phiền muộn về thằng con trai lớn hư háng, thằng Toản hoá rồ, trở nên nghiện rượu, tìm rượu giải sầu và ông nhiều lần say bí tỉ v.v Ngòi bót của Tô Hoài cứ đi sâu miêu tả cuộc sống đời thường Nhịp sống làng quê từ bao đời nay vẫn diễn ra với bao chi tiết vặt vãnh, tạp nham như thế

Miêu tả cuộc sống đời thường, Tô Hoài cứ nhẩn nha kể về bao nỗi buồn, vui, lo lắng của những người dân quê Hời đi dệt cửi mướn nuôi mẹ, anh lo

xa, chơi họ để dành dụm chút vốn liếng Khi Hời thổ lé ý định cưới Ngây, bà Vạng trăn trở, tính toán, thu xếp sao có đủ tiền cưới vợ cho con Những chi tiết đời thường vặt vãnh Êy vốn chẳng có gì nên thơ cứ đi vào những trang viết của Tô Hoài Ngòi bót của nhà văn đi sâu vào miêu tả những niềm vui cùng nỗi buồn của những con người nhỏ bé Êy: đó là nỗi buồn đau của bà Vạng về người con cả bỏ đi Sà goòng làm ăn rồi tin tức cứ thưa dần, là nỗi lo lắng của người dân khi lâm vào cảnh hàng họ Õ Èm, thất nghiệp Cái nghèo đói tràn vào từng nhà rồi loang ra khắp làng Tô Hoài miêu tả rất chi tiết cảnh khèn khó của gia đình Thoại- Bướm Vợ chồng Thoại- Bướm ở cái lều nhỏ chơ vơ giữa đồng Năm hết TÕt đến, gia cảnh nhà anh mới thê thảm làm sao

“Ngày mai mùng một Tết, chẳng có xôi, chẳng có hương, chẳng có nến, nghĩa

là chẳng có một thứ gì là Tết, để cóng” [19,509] Túng quẫn, Thoại đi đánh trém chã rồi bị bắt, bị đánh mét trận thừa sống thiếu chết, vợ chồng anh đã phải bồng bế con nhá, dắt díu nhau bỏ làng ra đi Còn vợ chồng Hời - Ngây,

vì túng quẫn, vì thất nghiệp, phải vay nặng lãi của nhà Lí Chi để rồi phải dỡ nhà gán đất trừ nợ v.v

Trang 28

Cứ thế, cả cuốn tiểu thuyết là những chuyện sinh hoạt đời thường với những niềm vui, nỗi buồn, những lo toan thường nhật của người dân quê Dường như Tô Hoài cứ ghi chép một cách khách quan những câu chuyện có thực xảy ra ở làng quê ngoại thành Êy Những xung đột xã hội gay gắt thường gặp ở các tiểu thuyết hiện thực phê phán Việt Nam những năm 1936-1939 thì đến tiểu thuyết của Tô Hoài dường như hoàn toàn vắng bóng Trong truyện ngắn của Nam Cao, lí trưởng là người nắm quyền sinh, quyền sát đối với

nông dân, còn ở Quê người, ông Lí trưởng Kha đi xe đạp cùng với Hời lên

phủ chứng thực để anh được lĩnh măng đa Trong tác phẩm chỉ có một nhân vật được coi là phản diện đó là vợ chồng lão Lí Chi chuyên sống bằng nghề cho vay nặng lãi để rồi cắm đất, cắm nhà

Qua những chuyện vặt vãnh trong cuộc sống sinh hoạt của những người dân quê nghèo khổ, Tô Hoài đã phản ánh được hiện thực của xã hội thực dân phong kiến trước cách mạng Cuộc sống lay lắt, tàn tụi của những người dân quê là hậu quả tất yếu của nền kinh tế thuộc địa đang suy thoái Bao gia đình rơi vào cảnh khèn cùng, phải rời bỏ quê hương, tha phương cầu thực nơi đất khách quê người

Nam Cao còng hay khai thác những cái nhỏ nhoi, xoàng xĩnh, vặt vãnh của đời thường nhưng qua đó, Nam Cao đã đặt ra những vấn đề mang ý nghĩa xã hội sâu sắc Còn Tô Hoài, những chi tiết vặt vãnh trong tác phẩm của ông lại tái hiện cụ thể, sinh động cuộc sống muôn mặt của làng quê Viết về đời thường với những cái nhỏ bé, vặt vãnh nhưng những trang viết của Tô Hoài vẫn có sức hấp dẫn bởi nhà văn đã biết khám phá những nét riêng, độc đáo, những cái lạ trong những cái quen thuộc

Khai thác những cái vặt vãnh, đời thường, đó là đặc điểm, là nhãn quan của Tô Hoài đồng thời cũng thể hiện bản lĩnh của nhà văn Trong những năm tháng chiến tranh, vấn đề đời thường, số phận cá nhân Ýt được quan tâm đến Những tác phẩm viết về đời thường của Tô Hoài không được đánh giá cao,

Trang 29

thậm chí còn bị phê phán Chỉ khi con người đã được trở lại với cuộc sống bình thường thì người ta mới nhận ra giá trị thật trong những trang viết của Tô Hoài Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhiều nhà văn muốn quay về quá khứ tái hiện lại giai đoạn lịch sử đau thương mà vô cùng anh dũng của dân téc

Những bộ tiểu thuyết như Cửa biển (Nguyên Hồng), Vì bê (Nguyễn Đình Thi)

đã làm sống lại bức tranh xã hội lịch sử với qui mô rộng lớn và những xung

đột xã hội gay gắt Tiểu thuyết Mười năm của Tô Hoài cũng nằm trong mạch

cảm hứng Êy Nhưng trong cuốn tiểu thuyết này, Tô Hoài vẫn bị chi phối bởi cách nhìn đời thường, cách khai thác những chi tiết vặt vãnh quen thuộc

Trong Mười năm, bên cạnh những trang viết về phong trào sôi nổi của làng

quê, ngòi bót của Tô Hoài vẫn đi sâu vào miêu tả những chuyện vặt vãnh đời thường Đó là cảnh làm ăn, vui chơi trong làng, chuyện đám trai làng ghen tuông Èu đả lẫn nhau; chuyện chị Hai Tâm goá chồng phải lòng Khiết, bỏ mẹ chồng và con nhỏ trèn đi; chuyện bà cụ Đôi chửi bới, kể lể, rủa kẻ đã quyến

rò con dâu bà Ngòi bót của Tô Hoài cứ nhẩn nha kể về cuộc đời của các nhân vật Đó là chuyện gia đình ông lão Vùng Từ ngày vợ chết, ông trở nên nát rượu Mắt kém, không đi dệt thuê được nữa, ông bán dần đàn con đi chỉ giữ lại có một mình Lê Bè con thỉnh thoảng lại đánh nhau một trận kịch liệt;

đã là An- mét thanh niên do dù, hèn nhát, cơ hội Mô tả An, Tô Hoài lại có dịp đi sâu vào mô tả những mối tình giăng gió, tính đào hoa thấy gái thì chấp chới của An; những suy tư, tính toán của Bà Hương tìm, kén vợ cho con trai, tìm nơi gả chồng cho con gái v.v

Song song với việc miêu tả những hoạt động cách mạng của đám thanh

niên làng Hạ, tác giả Mười năm còng không ngần ngại khi mô tả những cái lặt

vặt, nhem nhếch của những kẻ mang danh là chính trị phạm như Chúc: thèm

ăn, thèm gái và hễ ở đâu có ăn là có mặt để kiếm chác

Viết Mười năm, Tô Hoài vẫn giữ cách tiếp cận đời sống riêng của ông,

tức là viết về những chuyện đời thường, vặt vãnh trong sinh hoạt của người

Trang 30

cách mạng và quần chúng cách mạng Có vẻ đây là một cách nhìn “lệch hướng” so với xu hướng chung của nền văn học sử thi lúc bấy giê Bởi thế ngay từ khi mới ra đời tác giả cuốn tiểu thuyết đã bị phê phán khá nặng nề Sù

thực với Mười năm, Tô Hoài muốn nói đến cuộc hành trình có tính chất quy

luật của lịch sử, đó là con đường dân téc ta đi đến cách mạng Nhưng Tô Hoài phản ánh lịch sử theo cách riêng của ông - tiếp cận từ phương diện đời thường với những chi tiết vặt vãnh trong sinh hoạt Từ những câu chuyện về cuộc đời của những cá nhân, Tô Hoài cho người đọc thấy được sự vận động của lịch sử Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét: “Cã thể gọi Tô Hoài là người chép sử qua những biểu hiện linh tinh hỗn tạp của đời thường” [44,123] Nét độc đáo, đặc sắc này cứ lặp đi lặp và trở thành một nét phong cách đặc sắc của tiểu thuyết

Tô Hoài

Đến với Ba người khác - cuốn tiểu thuyết xuất bản gần đây nhất của Tô Hoài, chóng ta vẫn thấy cách tiếp cận đời sống quen thuộc Êy của ông Ba người khác viết về một sự kiện lịch sử làm chấn động xã hội Việt Nam những

năm 1953-1956 Nội dung cuốn sách kể về chuyến đi cải cách ruộng đất của

ba người trong đội cải cách xuống các vùng nông thôn ở Hải Dương Qua việc mô tả những chi tiết trong sinh hoạt hàng ngày của ba anh đội trong thời gian làm công tác cải cách, Tô Hoài đã tái hiện lại toàn bộ diện mạo của cuộc cải cách ruộng đất

Chân dung của đội trưởng Cự uy quyền nghiêng ngửa trời đÊt trong cuộc cải cách, được Tô Hoài phác thảo lại qua cách hành xử, qua một vài chi tiết trong cuộc sống sinh hoạt Ngày đầu tiên xuống xã - một vùng nông thôn đói nghèo xơ xác, người dân phải ăn độn cám, rau má, quán triệt tinh thần của cấp trên, đội viên đi cải cách phải “ba cùng” với nhân dân nhưng y lại giấu diếm mua lén bánh đúc cất trong ba lô Mồm răn dạy hai đội viên của mình là Bối

và Đình bằng cách nêu tấm gương của Nguyễn Bổn bị kỉ luật vì tội đi cải cách

hủ hoá nhưng chính Cự lại hủ hoá một cách khôn khéo bằng cách chế tạo ra

Trang 31

mấy cái “rễ vợ” Vì thành tích, Cù sẵn sàng quy chụp cho người nông dân có một chút tài sản là trung nông, “cứ tính đứa nào có ruộng đất thì ghi tên là thằng địa, Ýt nhiều mặc kệ” [23,36] Ai có ý định phản bác, không nghe lời,

Cù nổi cáu và khép vào thành phần địa chủ để đem ra đấu tè

Còn Bối - đội phó đội cải cách cũng là kẻ tham ăn, ăn cắp, ươn hèn, dốt nát và hủ hoá một cách bừa bãi Ngay buổi đầu tiên về cơ sở, Bối đã phát hiện

ra đội trưởng Cự mua lén bánh đúc ngô giấu trong ba lô Rất nhanh, Bối đã thó luôn cả gãi Trong suốt đợt cải cách, Bối hủ hoá hết với với Đơm, với Duyên, với nhiều cô gái dân quân khác trong thôn Những buổi tối đi họp, đi gác với tổ dân quân nữ là anh ta được thoả mãn nhu cầu bản năng đồi bại Tinh ranh, ma mãnh, Bối luôn tìm cách che giấu những nhược điểm, những hạn chế non kém của mình Bối chỉ tìm cách ăn vông để khỏi bị đói, khỏi phải

ăn cơm trộn cám “ba cùng” với nông dân, và lo đối phó với Cù, với Đình Đình - nhân viên đội cải cách cũng giống như Bối, như Cù: còng tham ăn, cũng mưu mô, thủ đoạn, cũng hủ hoá lung tung Khi việc hủ hoá của Đình với Duyên có nguy cơ lé tẩy, Đình đã chuyển bại thành thắng, khống chế đe doạ Bối, rồi vừa đấm vừa xoa: “Còn cái tối hôm qua thì tớ xuý xoá cho, không báo có báo cáo lên lão Cự đâu” [23,76]

Ngòi bót của Tô Hoài cứ thản nhiên, khách quan miêu tả Nét nổi trội

trong Ba người khác vẫn là những chi tiết đời thường, vặt vãnh trong cuộc

sống sinh hoạt của ba anh đội: nào ăn vông, ăn cắp, nào cảnh dối trá lẫn nhau… Nhà văn đặc biệt khai thác những cái nhếch nhác, nhọ nhem, kể cả những thãi quen mang tính chất bản năng của ba anh đội

Thông qua việc miêu tả những chi tiết vặt vãnh trong cuộc sống sinh hoạt, hành động và tâm tình của ba anh đội, Tô Hoài đã làm rõ những sai lầm của cả một thời kì lịch sử Cải cách ruộng đất là một chấn thương của xã hội Việt Nam, làm nhức nhối hàng triệu con người “Cuốn tiểu thuyết này ( ) là chân dung sinh động, chân thực và cuốn hót một cách buồn thảm về một thời

Trang 32

kì không thể quên trong lịch sử hiện đại Việt Nam ”(Lại Nguyên Ân - Báo

Tuổi Trẻ cập nhật ngày 7-12-2006).

Có thể thấy nhãn quan của Tô Hoài đối với đời sống vẫn không đổi Cho

dù viết về đời sống sinh hoạt hay viết về những sự kiện lịch sử, cách tiếp cận của Tô Hoài vẫn nhất quán: vẫn nhìn con người ở phương diện đời thường, vẫn khai thác những cái vặt vãnh trong cuộc sống sinh hoạt Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long đã khẳng định: “Trước sau thì Tô Hoài vẫn là nhà văn của đời sống thường nhật, của sinh hoạt phong tục” [38,78] Nhưng điều đặc sắc

là chuyện đời thường với vô vàn những cái vặt vãnh, tạp nham Êy, qua tài năng nghệ thuật của Tô Hoài, đã được liên kết với những số phận con người

để tạo lên những bức tranh lịch sử, bức tranh xã hội sâu sắc

Cái nhìn con người ở phương diện đời thường, cách khai thác những chi tiết vặt vãnh là nét phong cách ổn định, thống nhất trong tiểu thuyết của Tô

Hoài cho dù những tiểu thuyết Quê người, Mười năm, Ba người khác được

viết trong thời gian cách nhau khá xa

2.2 Miêu tả đời sống qua nhãn quan phong tục

Phong tục là: “lề lối và thãi quen lâu đời của một địa phương hay của một

nước” [49,437] Khi giới thiệu cuốn 100 điều nên biết về phong tục Việt Nam,

tác giả Tân Việt còng viết: “Phong là nếp sống đã lan truyền rộng rãi Tục là thãi quen lâu đời Nội dung phong tục bao hàm mọi mặt sinh hoạt của xã hội” [69,8]

Nh vậy, phong tục là những biểu hiện liên quan về mặt tinh thần mang tính qui ước của một dân téc, một vùng, mét địa phương Trải qua mét thời gian lâu dài, nã trở thành những thãi quen trong nếp sống, nếp nghĩ và tạo nên bản sắc riêng của từng dân téc, từng vùng, từng địa phương Không phải ngẫu

nhiên trong Bình Ngô đại cáo, khi khẳng định quyền độc lập của dân téc,

Nguyễn Trãi còng nhấn mạnh đến yếu tố phong tục: “Phong tục Bắc Nam cũng khác” [62, 25]

Trang 33

Phong tục chính là một yếu tố tạo nên bản sắc riêng của một dân téc, một quốc gia Quang Trung khi tiến quân ra Bắc đánh dẹp quân Thanh, đã từng truyền hịch cho ba quân: “đánh cho để dài tóc, đánh cho để răng đen” Người anh hùng Yên Thế trong một bức thư gửi cho bọn xâm lược đã viết: “chúng tôi gắn bó với phong tục của đất nước chúng tôi Chúng tôi không bao giê bỏ những phong tục Êy dù phải hi sinh cả tính mạng” [dẫn theo 44,124-125] Nh vậy đằng sau phong tục chính là đặc trưng văn hoá của dân téc, là linh hồn của cả một cộng đồng Nội dung của phong tục rất đa dạng và phong phó, nó gắn liền với mọi mặt của đời sống xã hội đặc biệt là trong đời sống hàng ngày

và trong quan hệ cá nhân, gia đình, quê hương hiểu theo nghĩa hẹp

Trong tiểu thuyết, việc thể hiện phong tục có ý nghĩa quan trọng Đã là một phương diện hấp dẫn của thể văn này Người đọc qua những trang sách biết được ở vùng Êy, dân téc Êy, thời Êy có những thãi quen, ăn mặc, nói năng vui chơi, giao tiếp ứng xử, lễ nghi Tất cả tạo nên những màu sắc địa phương độc đáo Văn học Việt Nam từ dân gian đến hiện đại nhiều tác phẩm

đã thể hiện phong tục rất đậm nét Nào tục ăn trầu, tục thờ cóng tổ tiên, dựng cây nêu ngày Tết, tục giải oan cho người chết Trong văn học giai đoạn 1930-

1945, có cả một xu hướng viết về phong tục với các nhà văn Kim Lân, Bùi Hiển, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, song Tô Hoài vẫn nổi bật là một cây bót xuất sắc trên phương diện viết về phong tục

*

* * Đặc điểm nổi bật trong những sáng tác của Tô Hoài là yếu tố phong tục rất đậm nét Có thể nói, chất phong tục là một yếu tè làm nên giá trị đặc sắc

và sức hấp dẫn của văn chương Tô Hoài, và tạo thành một nét phong cách trong tiểu thuyết của ông

Mỗi mét nhà văn viết về phong tục dưới mét cách nhìn riêng Nếu như Nguyễn Tuân cảm nhận phong tục trên góc độ những giá trị thẩm mĩ đặc sắc

Trang 34

với truyền thống văn hoá của líp nhà nho tài hoa tài tử, Kim Lân đến với những phong tục trong thó chơi tao nhã đồng quê, Bùi Hiển cảm nhận phong tục qua cuộc sống sinh hoạt làm ăn của những người dân chài lưới vùng biển, thì Tô Hoài cảm nhận phong tục trên mọi phương diện tự nhiên của nó, từ phong tục đẹp đến những hủ tục Êu trĩ Hiện thực đời sống của những người dân quê trở nên sinh động qua những trang viết đậm đặc chất phong tục của

Tô Hoài

Trong Quê người, ta bắt gặp biết bao nhiêu là cảnh sinh hoạt tái hiện sinh

động cuộc sống của người dân quê Đó là cảnh những đêm trăng sáng đẹp đẽ, thơ mộng, đám trai gái tụ tập ngồi hát xướng và tán chuyện phiếm; cảnh làng vào hội mùa xuân, đêm hát chèo đông vui nhén nhịp, từ người lớn cho tới trẻ con ai ai cũng náo nức, hồ hởi; cảnh đám hỏi, đám cưới Đám cưới của Hời và Ngây đẹp đẽ tưng bõng Qua sự miêu tả của Tô Hoài, người đọc không chỉ thấy tường tận về đám cưới với cách trang phục của cô dâu, chú rể, mà còn thấy được không khí tấp nập và đông vui của đám cưới, đám rước dâu Lúc đưa dâu, bà Ba “móc thắt lưng bao lấy ra mét phong giấy đỏ” [19,429], tặng cho Ngây, khi tiễn cháu về nhà chồng Đó là những phong tục đẹp của người Việt Nam, của cha mẹ, những người thân giúp đỡ cho con, cháu chút vốn liếng khi con, cháu đi lấy chồng Đó còn là cách xử thế của những người dân quê nghèo khổ mà giàu tình nghĩa Nghe tin bà Vạng ốm, “người ta dập dìu kéo đến thăm” [19,524] Những cách cư xử, việc làm giàu tình nghĩa Êy đã trở thành lối sống, phong tục tốt đẹp của người dân Việt Nam

Không chỉ miêu tả những phong tục đẹp, ngòi bót của Tô Hoài còn tá ra sắc sảo khi miêu tả những hủ tục của những người dân quê Ngô Tất Tố đã

từng phơi bày những hủ tục quái gở, mọi rợ ở nông thôn trong Việc làng Còn

trong tiểu thuyết của Tô Hoài, những hủ tục ở nông thôn gắn liền với tâm lí,

thãi quen trong sinh hoạt đời thường của người dân lao động Đó là tục tảo

hôn, chửi rao, đặt vè nói xấu nhau, cho vay lãi, đòi nợ, thãi lắm điều của

Trang 35

những người đàn bà ngoa ngoắt v.v Lụa - cô gái mười tám đôi mươi tràn đầy sức sống lại bị cha mẹ đồng ý gả cho thằng Toản “một thằng oắt con” và không mấy ngày là vợ chồng không “hục hặc” với nhau [19, 456] Đó là cách

xử thế của bà Ba khi thấy cháu gái mình bị đặt điều vu cáo Bà đã vác mõ đi chửi rao khắp làng “Mỗi khi đi đến một ngã ba, bà đứng dừng lại Bà gõ một hồi mõ rồi chắp tay ra sau lưng, bà cất tiếng réo một bài vừa chửi rủa ( ) Mỗi một lần gõ mõ để dọn câu, bà lại có thể đổi ra đủ các thứ bài chửi khác nhau” [19,371] Tiếng chửi của bà làm náo động cả xóm làng Cảnh đánh chửi nhau, đánh nhau ở làng quê nào chả từng diễn ra Bắt đầu chỉ là sự cãi vã giữa các

cá nhân, nhưng những cuộc khẩu chiến không phân thắng bại Êy sẽ biến thành những cuộc Èu đả quyết liệt, kéo theo mọi thành viên trong gia đình

Trong Quê người, Tô Hoài mô tả khá nhiều đám chửi nhau, đánh nhau Đó là

cuộc cuộc chửi nhau, đánh nhau giữa bà Ba với bà Thủ Dân, cuộc đánh nhau giữa gia đình ông Nhiêu Thục với gia đình ông bà Thủ Dân, đám cãi nhau của ông Ba Cấn với ông Nhượng

Những thãi quen trong tâm lí, cách ứng xử trong cuộc sống sinh hoạt của người dân cũng được đưa vào trong những trang viết của Tô Hoài khá sinh động Đó là tục kiêng kem với người vừa sinh nở, là cảnh đuổi tà ma đến quấy nhiễu những đứa trẻ sơ sinh hay quấy khóc đêm, cảnh ăn vạ, cảnh lên đồng v.v Ngay từ khi Tô Hoài mới cho ra đời cuốn truyện dài đầu tay, nhà

nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã đánh giá: “Trong Quê người có rất nhiều thãi

tục có thể là những tài liệu chân xác cho nhà xã hội học nào muốn khảo sát phong tục và sự tiến hoá của dân téc Việt Nam Nào đám hội, đám cưới, đám

ma, đám lên đồng, đám cháy; nào những cách nuôi trẻ, nuôi người ốm, dạy con, chữa bệnh, đuổi tà ma, đòi nợ; nào những thãi chửi rao, đánh nhau, nằm

vạ, cho vay nặng lãi, đặt vè nói xấu nhau, rồi nào những tục ăn uống, chè chén cỗ bàn, kiêng kị, chia phe, chia cánh” [67,56] Qua ngòi bót miêu tả của

Trang 36

Tô Hoài, những phong tôc của vùng nông thôn đồng bằng Bắc bộ đã được tái hiện lại thật chân thực, phong phó, với những trang viết hấp dẫn

Cảm quan phong tục và con mắt quan sát sắc sảo của Tô Hoài đã làm sống dậy bao nhiêu phong tục tập quán của người dân của một miÒn quê Nếu Bùi Hiển tỏ ra am hiểu phong tục sinh hoạt công việc làm ăn của người dân chài lưới vùng biển, Kim Lân am hiểu phong tục sinh hoạt văn hoá của người dân quê ở vùng Bắc Ninh, với những thó chơi trồng cây cảnh, chơi chim bồ câu, nuôi chã săn, chơi gà chọi v.v thì Tô Hoài am hiểu con người, cuộc sống với các phong tục tập quán của một vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội

Tô Hoài miêu tả phong tục bằng một cảm hứng khách quan tỉnh táo Qua điểm nhìn phong tục, bức tranh đời sống của những người dân quê được miêu

tả chân thực và sống động Ông đưa vào tác phẩm những phong tục tập quán truyền thống của quê hương, những hiểu biết về cuộc sống của người dân trong những nghề nghiệp truyền thống quen thuộc, những lời ăn tiếng nói dân gian, bởi thế những trang viết của Tô Hoài mang phong vị và hương sắc riêng của đời sống, tâm hồn dân téc

Ở tiểu thuyết Mười năm yếu tố phong tục không đậm nét nh trong Quê người nhưng vẫn thể hiện tương đối rõ nét Ở tác phẩm này, phong tục không

phải là tiêu điểm để khám phá, tuy vậy yếu tố phong tục vẫn thấp thoáng hiện lên trong những trang sách Đó là cảnh tối tối, đám thanh niên tụ tập ở nhà ông Trương Ba - nét sinh hoạt của đời sống hàng ngày của thanh niên nông thôn, nhưng không phải để đàn hát hay tán chuyện phiếm mà để bàn chuyện chống thuế Chiều chiều vÉn diễn ra cái cảnh quen thuộc: thợ tơ thợ cửi tô tập ở ngã ba đường mỗi buổi chiều phiên chợ lụa nghỉ dệt Nhưng nay thì nơi

“chợ người” quen thuộc Êy đã được đám thanh niên làng Hạ chọn làm địa điểm để nói chuyện thời sự, mít tinh Những đêm hát chèo, cả sân đình đông nghịt Con mắt phong tục của Tô Hoài đã nhìn thấy nếp sống sinh hoạt quen

Trang 37

thuộc bao đời của người dân quê giê đã thêm những cái mới lạ, không khí cách mạng đang được nhen nhúm để bùng lên các hoạt động cách mạng sôi nổi ở vùng quê

Song song với việc mô tả những hoạt động cách mạng của đám thanh niên, Tô Hoài vẫn miêu tả những nét sinh hoạt của người dân quê Tiếng chửi của bà cụ Đôi, lại cái tiếng chửi ngoa ngoắt, bài bản, có vần có điệu “có ngành, có ngọn” “về cái đứa đã rủ rê quyến rò ( ) cái đứa đã cướp nàng dâu

bà như chặt gãy cánh tay phải, chặt mất cái léc cái hoa, cái cần câu cơm của nhà bà” [19,618]

Ngòi bót của tác giả đi sâu vào miêu tả những phong tục quen thuộc Đó cảnh An đi xem mặt vợ, cảnh đám cưới cô Hiền Những trang miêu tả những cảnh sinh hoạt đời thường Êy cứ đi vào tác phẩm một cách tự nhiên, giúp nhà văn thể hiện cuộc sống chân thực và sinh động

Trong tiểu thuyết Ba người khác, dÊu Ên phong tục bộc lé rõ qua những

chi tiết sinh hoạt của người dân Đó là nồi nước chè xanh hay nồi nước vối để tiếp khách, là thãi quen của những người dân quê mỗi khi đi làm đồng hay đi nắng về “uống nước ở ngoài vại, cái vại buộc cái mo cau hứng nước mưa” [23,27] Đó là cái cảnh quen thuộc ở các nhà “cuối sân một chiếc hũ sứt hay chiếc chĩnh đội chiếc nón mê Người đi làm đồng về được con cáy, hay tép thì ném vào cái hũ đã trộn lưng muối, vài tháng lại chắt ra làm cái mắm, thức chấm” [23,28] Êy là thãi quen của những nhà nghèo mùa rét nằm ổ rơm hay

ổ có lót lá chuối khô Những ngày nông nhàn, người dân ra đồng bắt Õch, bắt rắn, bắt chuột về cải thiện Ở nông thôn, những “nhà có máu mặt, con cái chỉ mười lăm mười bảy đã đút tiền hộ lại chữa sổ khai sinh, tăng tuổi sớm để ra làm trưởng bạ, làm thư kí hội đồng kì mục, rồi dần dần lên phó lí, lí trưởng, chánh phó hương hội, chánh phó tổng hàng phủ hàng huyện” [23,68], “hoặc

cố gắng mua được cái tư văn, được ra văn chỉ điếu đóm các cụ khỏi bị xách nhiễu phu phen tạp dịch” [23, 41]

Trang 38

Dù không chủ ý khai thác phong tục vì cảm hứng trong tiểu thuyết Mười năm và Ba người khác là cảm hứng phân tích xã hội, nhưng con mắt phong

tục của Tô Hoài vẫn phát hiện ra những nét phong tục trong sinh hoạt đời thường Chính những chi tiết mang dấu Ên phong tục đậm nét Êy khiến cho tác giả mô tả cuộc sống chân thực, sinh động Có thể thấy dấu Ên phong tục vẫn là một đặc điểm nổi bật trong tiểu thuyết của Tô Hoài, tạo nên sức sống lâu dài cho tác phẩm của ông, và cũng tạo thành một nét phong cách độc đáo không thể trộn lẫn của nhà văn

2.3 Yếu tè tự truyện

2.3.1 Sơ lược về tự truyện

“Tự truyện là những tác phẩm văn học thuộc loại tự sự, do tác giả tự viết về cuộc đời mình” Trong tự truyện, “nhà văn tái hiện đoạn đời đã qua của mình trong tính toàn vẹn cụ thể – cảm tính phù hợp với một lí tưởng xã hội, thẩm mĩ nhất định Nhà văn viết tự truyện như được sống lại một lần nữa với đoạn đời đã qua” [27,389] Trong tác phẩm tự truyện, đời tư của nhà văn chỉ là chất liệu hiện thực được tác giả sử dụng với nhiều mục khác nhau Nhiều nhà văn tự thuật lại cuộc đời mình qua đó phản ánh số phận của một dân téc, cộng đồng và thời đại Tự truyện có thể bao quát hết các phương diện của đời sống: từ đời tư đến thế sự, sử thi Những tù truyện mang tầm bao quát xã hội và thời đại rộng lớn nh thế nh thế thì tác phẩm đã trở thành những tiểu thuyết tự truyện

Trong tiểu thuyết tự truyện, nhà văn thường chọn một quãng đời ghi lại những Ên tượng sâu sắc nhất, có ảnh hưởng quan trọng nhất với cuộc đời của

cá nhân mình, để xây dựng lên một bức tranh xã hội mà cá nhân mình là nhân vật chính Người kể chuyện là - Tôi - nhân vật trung tâm của tác phẩm tự kể truyện về cuộc đời mình Cái tôi tự truyện là cái tôi tự thó, cái tôi tâm sự với bạn đọc những suy nghĩ riêng tư thầm kín của mình, cái tôi là điểm tựa để tác giả nói về cuộc đời chung Nhiều tác phẩm đã vượt qua hồi kí để trở thành

Trang 39

tiểu thuyết tự truyện Bé ba tiểu thuyết: Thời thơ ấu, Kiếm sống và Những trường đại học của tôi của nhà văn Nga M.Gorki đã trở thành bộ ba tiểu

thuyết tự truyện nổi tiếng bởi tác phẩm nói về cái tôi thời thơ Êu và thanh niên của ông song cũng đồng thời nói được nhiều cảnh đời, số phận và các quan hệ xã hội Nh vậy tự truyện chính là: “Truyện kể mang tính chất nhìn lại

dĩ vãng, mà mét người viết có thật, viết về cuộc sống của mình, khi người đó đặt trọng âm lên đời sống riêng, nhất là lên sự hình thành nhân cách” [31,3] Tiểu thuyết tù truyện được đón nhận bởi nã quan tâm và đi sâu phản ánh vận mệnh của cá nhân, những cảnh đời, thân phận của con người trong xã hội bấy giê Tiểu thuyết tự truyện ra đời làm phong phú hơn cho nền văn xuôi hiện đại và nền văn học dân téc

Trong văn học Việt Nam đã từng có những tiểu thuyết tự truyện nh:

Những ngày thơ Êu của Nguyên Hồng (1938), Sống nhờ của Mạnh Phú Tư

Có thể nói đây là những tác phẩm đã mở đầu cho thể loại tự truyện của Việt Nam

2.3.2 Tiểu thuyết Tô Hoài thể hiện đậm nét yếu tố tự truyện

Có thể thấy chất tự truyện là một đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Tô Hoài Cũng như Vũ Trọng Phông, Nam Cao, thường khai thác nguyên mẫu từ chính những người xung quanh mình và cuộc sống của chính bản thân mình, những sáng tác của Tô Hoài cũng viết về cuộc sống con người quê hương ông Chính nhà văn đã béc bạch: “Những sáng tác của tôi đều miêu tả tâm trạng tôi, gia đình tôi, làng tôi, mọi cái của mình, quanh mình Những nghèo đói, cùng túng đau đớn Phần nào nhẹ nhàng, hay xót xa, hay nghịch ngợm và

đá chút khinh bạc là phần nào con người và tư tưởng tiểu tư sản của tôi” [67, 64]

Những lời tâm sự của nhà văn đã béc lé rõ phương châm sáng tác của ông Những tiểu thuyết của Tô Hoài và cả những truyện ngắn của ông thường được

Trang 40

tác giả xây dựng trên cơ sở tự truyện, hoặc chuyện của gia đình, bà con làng xóm quê hương mình

Ở Quê người, Tô Hoài đã miêu tả cuộc sống của một làng chuyên sống

bằng nghề dệt cửi Không phải ngẫu nhiên mà các nhân vật anh thợ cửi, chị thợ tơ cứ trở đi trở lại trong nhiều sáng tác truyện dài, truyện ngắn của Tô

Hoài Nhà văn đã từng kể lại trong Tự truyện: “Từng chi tiết và từng nhân vật

trong sáng tác của tôi, các bạn lứa tuổi tôi trong làng là người và chuyện trong

tiểu thuyết Quê người” [22,250].

Đi sâu vào miêu tả cuộc sống và con người ở quê hương, ngòi bót của Tô Hoài đã miêu tả chân thực cuộc sống của những con người ở vùng quê dệt lụa: Hời - Ngây, Thoại - Bướm, bà Vạng, ông Nhượng Đó là những con người cần mẫn chăm chỉ Những lúc hàng họ chạy tay, nhà nhà, người người thi nhau dệt cửi Hàng họ khá, nhiều nhà đã xây cổng lát sân Những người dân quê Êy đã từng hi vọng, vài ba năm sau làm ăn được thì “dỡ mái nhà lá

đi Rui mè thay bằng gỗ xoan và tre cật Mái được lợp ngãi ( ) lúc bấy giê trong nhà đã có, đã phong lưu Người ta đã nhàn nhã Có thể ngày hai buổi cầm cái quạt nan ra ngồi uống nước chè tươi ở đầu làng, nói chuyện phiếm ( ) ai ai còng mong được nh vậy” [19, 477]

Cái ước mong của người dân quê chỉ nhỏ bé đơn sơ, bình dị như vậy Thế rồi cuộc sống sa sút lụi tàn Ngòi bót của Tô Hoài đã miêu tả chi tiết những ngày khèn khó của những người dân quê vì hàng họ Õ Èm: “Bây giê vào trong làng vắng tanh Những khung cửi guồng tơ xếp cả lại Nhiều nhà túng bán

đi không hòng sinh nhai gì về nghề nữa” [19,497] Cái làng quê tiêu điều xơ xác

rồi li tán trong Quê người cũng chính là làng quê ngoại thân thương, gần gũi

nghèo khổ của nhà văn Sù li tán của những người thợ dệt nghèo khổ như anh Từ con bà Vạng bỏ đi vào Sài Goòng xa xa lắm rồi bặt tăm, phải chăng đó cũng giống như chính là hình ảnh những con người nghèo khổ của quê hương bỏ đi kiếm ăn nơi đất khách quê người trong đó có chính người cha của Tô Hoài

Ngày đăng: 18/12/2014, 21:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Khảo sát số lần xuất hiện hành động và số lần diễn biến nội tâm   của  nhân vật trong tiểu thuyết của Tô Hoài và các nhân vật trong các tiểu - phong cách tiểu thuyết tô hoài
Bảng 1. Khảo sát số lần xuất hiện hành động và số lần diễn biến nội tâm của nhân vật trong tiểu thuyết của Tô Hoài và các nhân vật trong các tiểu (Trang 66)
Bảng 2: Khảo sát và so sánh số lần xuất hiện hành động và số lẫn diễn   biến nội tâm của các nhân vật  trong tiểu thuyết của Tô Hoài - phong cách tiểu thuyết tô hoài
Bảng 2 Khảo sát và so sánh số lần xuất hiện hành động và số lẫn diễn biến nội tâm của các nhân vật trong tiểu thuyết của Tô Hoài (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w