Cảnớc lâm vào cuộc khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống nh: sảnxuất trì trệ, lạm phát phi mã, thất nghiệp tăng, đời sống nhân dân gặp nhiềukhó khăn… Để phát huy những thành
Trang 1Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của văn phòng Huyện ủy, Ban tôn giáo, Phòng lu trữ, ủy ban nhân dân, Th viện huyện Triệu Sơn đã giúp đỡ tôi về mặt t liệu Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong Ban lãnh
đạo huyện, các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử - Trờng Đại học Vinh, cùng gia đình, bạn bè đã quan tâm giúp đỡ tôi Và đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn ngời đã tận tình hớng dẫn tôi hoàn thành khóa luận thầy giáo Tiến sĩ Trần Văn Thức - ngời đã có công lớn
trong quá trình hớng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này
Tuy đã có nhiều cố gắng nhng đề tài vẫn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Tôi rất mong nhận đợc các ý kiến đóng góp của các thầy, cô và các bạn sinh viên
Vinh, tháng 5 năm 2005
Sinh viên
Đỗ Thị Vân
Mục lục
Trang
A Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3 Đối tợng phạm vi nghiên cứu đề của đề tài
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
5 Đóng góp của đề tài
6 Bố cục của đề tài
Trang 2B Nội dung
Chơng 1 Triệu Sơn trớc khi tiến hành đổi mới (1986)
1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên và lịch sử xã hội của Huyện Triệu Sơn
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
1.1.2 Đặc điểm lịch sử xã hội
1.2 Tình hình kinh tế xã hội Triệu Sơn trớc những năm đổi mới (1976 -1985)
Chơng 2 Triệu Sơn bớc đầu trên đờng đổi mới (1986 - 1995)
2.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trơng đổi mới của Đảng bộ Triệu Sơn
2.2 Triệu Sơn trong thời kỳ đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 1990) 2.2.1 Kinh tế
2.2.2 Chính trị - an ninh - quốc phòng
2.2.3 Văn hoá - giáo dục - y tế
2.3 Triệu Sơn trong thời kỳ 1991 - 1995
2.3.1 yêu cầu và nhiệm vụ
2.3.2 Những thành tựu và hạn chế của Triệu Sơn trong thời kỳ 1991 - 1995 Chơng 3 Triệu Sơn đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới (1996 - 2004)
3.1 Điều kiện lịch sử
3.2 Triệu Sơn trong thơì kỳ đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới (1996 - 2004)
3.2.1 Kinh tế
3.2.2 Chính trị - an ninh - quốc phòng
3.2.3 Văn hoá - giáo dục - y tế
3.3 Nguyên nhân thành công và bài học kinh nghiệm
C Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 3A Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc của dân tộc ta kết thúc bằng thắnglợi của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975, cách mạng Việt Namchuyển sang giai đoạn mới: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xãhội chủ nghĩa
Trong giai đoạn mới 1976 - 1985, cả nớc thực hiện những nhiệm vụ củathời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh đất nớc vừa giành đợc
độc lập và thống nhất sau 30 năm chiến tranh Trong việc thực hiện nhữngnhiệm vụ của thời kỳ quá độ, mà mục tiêu chủ yếu của nhiệm vụ này nhằmphục vụ cho nhiệm vụ xây dựng đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, đấtnớc ta đã đạt đợc những thành tựu và tiến bộ đáng kể trong các lĩnh vực của
đời sống xã hội Nhng cách mạng cũng gặp không ít khó khăn, yếu kém Cảnớc lâm vào cuộc khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống nh: sảnxuất trì trệ, lạm phát phi mã, thất nghiệp tăng, đời sống nhân dân gặp nhiềukhó khăn…
Để phát huy những thành quả đã đạt đợc, đồng thời khắc phục những khókhăn, hạn chế, đa đất nớc vợt qua cuộc khủng hoảng và đẩy mạnh cách mạngxã hội chủ nghĩa tiến lên, đòi hỏi Đảng ta phải đổi mới Đại hội lần thứ VIcủa Đảng (12/1986) đã đánh giá đúng tình hình của đất nớc, tổng kết nhữngkinh nghiệm vừa qua, xác định những mục tiêu của cách mạng trong thờigian tới Với những kết quả đã đạt đợc, Đại hội lần thứ VI đánh dấu bớcchuyển quan trọng trong quá trình tiến lên của cách mạng nớc ta, đáp ứnglòng mong đợi của toàn Đảng, toàn dân ta, mở ra triển vọng phát triển mớicủa đất nớc
Đờng lối đổi mới của đất nớc đi lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội VI của
Đảng đề ra đến nay đã gần 20 năm và thực sự đi vào cuộc sống, đạt đợcnhững thành tựu quan trọng Nhiệm vụ đề ra cho thời kỳ đầu của chặng đờngquá độ cơ bản đã hoàn thành cho phép nớc ta chuyển sang thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hoá - hiện đại hoá, đủ sức cạnh tranh và phát triển trong quátrình hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực
Cùng với cả nớc bớc vào thực hiện đờng lối đổi mới, Triệu Sơn đã nhanhchóng tiếp nhận và vận dụng sáng tạo những chủ trơng, quan điểm và chínhsách đổi mới của Đảng và Nhà nớc vào hoàn cảnh cụ thể của địa phơng, đã
Trang 4khai thác có hiệu quả tiềm năng nội lực, cùng với sự nỗ lực vơn lên của nhândân Triệu Sơn cho nên gần 20 năm đổi mới (1986 - 2004) Triệu Sơn đã đạt đ-
ợc những thành tựu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,
an ninh, quốc phòng… Nhờ đó từng bớc đa Triệu Sơn thoát khỏi tình trạngkhủng hoảng về kinh tế - xã hội Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dântừng bớc đợc nâng lên Triệu Sơn thực sự trở thành một huyện nông - lâm -công - thơng nghiệp và dịch vụ phát triển, sản xuất không những đủ tiêu dùng
mà còn xuất khẩu Tuy nhiên đó mới chỉ là bớc đầu, trong quá trình thực hiện
sự nghiệp đổi mới vẫn còn nhiều yếu kém, khuyết điểm đòi hỏi nhân dânTriệu Sơn phải có biện pháp khắc phục để tiếp tục đa sự nghiệp đổi mới tiếnlên
Sự nghiệp đổi mới của đất nớc là cần thiết, là sự sống còn, đó là đờng lốihoàn toàn đúng đắn, thể hiện sự sáng tạo dám nghĩ dám làm của Đảng ta Đểgóp phần vào sự nghiệp đó Triệu Sơn cùng nhân dân cả nớc bớc vào con đờng
đổi mới Triệu Sơn cần phải tổng kết lại những thành tựu đạt đợc, những hạnchế còn tồn tại trong gần 20 năm đổi mới (1986 - 2004) Rồi từ đó đánh giálại quá trình đổi mới, những nguyên nhân thành tích đạt đợc và những hạnchế để rút ra bài học kinh nghiệm nhằm định hớng cho giai đoạn phát triểntiếp theo Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập huyện (1965 - 2004), làngời con của Triệu Sơn tôi cảm thấy tự hào quê hơng mình ngày càng khởisắc và phát triển, tôi muốn mình góp một phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu lịch
sử địa phơng mình, nhất là trong những năm đổi mới Đó chính là những lý
do để chúng tôi chọn đề tài "Triệu Sơn trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2004"
làm khoá luận tốt nghiệp đại học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Nghiên cứu về công cuộc đổi mới của đất nớc đợc đề ra từ đại hội VI(12/1986) nói chung, vấn đề "Triệu Sơn trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2004"
nói riêng hiện đang là một đề tài hết sức mới mẻ, mang tính thời sự và hàmchứa trong đó cả tính lý luận và thực tiễn, do đó việc đánh giá tổng kết gặprất nhiều khó khăn
Trong các văn kiện của Đảng, tại các Đại hội đại biểu toàn quốc (Đại hội
VI, VII, VIII, IX) đã tổng kết những thành tựu, hạn chế của việc thực hiện cácmục tiêu, nhiệm vụ mà các nghị quyết của Đại hội đề ra trong phạm vi cả nớc
Trang 5Trong cuốn “Lịch sử Việt nam từ 1975 đến nay - những vấn đề lý luận và thực tiễn ” của Trần Bá Đệ biên soạn, Nhà xuất bản đại học Quốc gia Hà Nội,
1988 đã nêu lên nhiều thành tựu tiến bộ và những hạn chế của đất nớc từ khithực hiện đờng lối đổi mới cho đến năm 1996
Trong cuốn “Tìm hiểu Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (hỏi và đáp)” của
nhà xuất bản chính trị Quốc gia đã nêu lên câu hỏi và trả lời xung quanh Đạihội VIII, những thành tựu và hạn chế trong 10 năm đổi mới
Trong cuốn “ Đảng cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới của đất nớc” của Nguyễn Phú Trọng biên soạn, đã tổng kết kinh nghiệm để tiếp tục
đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới của đất nớc ngày càng đạt hiệu qủa cao hơn.Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Triệu Sơn”(1965-2004) của nhà xuất
bản Thanh Hoá 2004, đã đề cập đến đặc điểm tự nhiên, xã hội và truyềnthống đấu tranh của huyện Triệu Sơn trong tiến trình lịch sử, trong đó có đềcập đến sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với sự nghiệp đổi mới của nhân dânTriệu Sơn
Ngoài những công trình trên còn có một số báo cáo của Ban chấp hành
Đảng bộ huyện Triệu Sơn từ khoá X đến khoá XIV đã đánh giá tổng kếtnhững thành tựu và hạn chế của Triệu Sơn trong quá trình thực hiện đổi mớicủa từng thời kỳ cụ thể
Nhìn chung, các tác phẩm và tài liệu nói trên cha nêu lên đợc một cáchtoàn diện và có hệ thống về những thành tựu tiến bộ và những hạn chế yếukém, cha nêu lên đợc những giải pháp cụ thể, bài học kinh nghiệm trong suốtquá trình đổi mới 1986 –2004 Để có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh
“ Triệu Sơn trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2004” cần phải đợc đầu t nhiều thời
gian công sức và trí tuệ hơn nữa
3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tợng nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề tài “Triệu Sơn trong thời kỳ đổi mới 1986-2004”
chúng tôi xác định đối tợng nghiên cứu của đề tài là những thành tựuTriệu Sơn đạt đợc cũng nh những hạn chế của Triệu Sơn trong quá trình
đổi mới Trớc hết đề cập đến điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử xã hộinhững nhân tố ảnh hởng đến sự nghiệp đổi mới Khẳng định đờng lối
đổi mới của Đảng vạch ra từ Đại hội VI (12/ 1986) là đúng đắn, sáng
Trang 6tạo và sự vận dụng đờng lối của Đảng vào hoàn cảnh thể của Triệu Sơnmột cách phù hợp Trên cơ sở đó, chúng tôi mạnh dạn rút ra một sốnguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong gần 20 năm đổi mới trên địabàn huyện Triệu Sơn.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chỉ tập trung nghiên cứu công cuộc đổi mới của huyện Triệu Sơn
từ (1986-2004) trên các lĩnh vực kinh tế- văn hoá- giáo dục- y tế- chínhtrị- an ninh quốc phòng, nhằm tổng kết đánh giá lại công cuộc đổi mới ởTriệu Sơn
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
Để thực hiện nghiên cứu đề tài “Triệu Sơn trong thời kỳ đổi mới 1986- 2004”
chúng tôi tập chung khai thác các nguồn tài liệu sau:
Tài liệu thành văn: Các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam (từ Đại hội
VI đến Đại hội IX), giáo trình lịch sử Việt Nam hiện đại, các tạp chí lịch sử
Đảng với một số chuyên mục có liên quan đến quá trình đổi mới, các tài liệuviết về lịch sử, xã hội, con ngời Triệu Sơn… Trong đó, tôi đặc biệt tập trungkhai thác các báo cáo chính trị của Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân Triệu Sơn quacác nhiệm kỳ từ 1986 - 2004
Tài liệu điền dã: Những cuộc trao đổi với cán bộ lãnh đạo của huyện: Vănphòng Huyện uỷ, Văn phòng tuyên giáo, Ban dân vận, những cán bộ đã nghỉ
hu Quan sát thực tế quá trình đổi mới ở Triệu Sơn
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phơng pháp nghiên cứu chủyếu nh: phơng pháp lịch sử, phơng pháp lô gíc là những phơng pháp cơ bản đểvận dụng nghiên cứu, ngoài ra sử dụng phơng pháp chuyên ngành nh thống
kê, so sánh, đối chiếu, phân tích tổng hợp kết hợp t liệu thành văn với t liệu
điền dã để sử lý các số liệu trong báo cáo của Huyện uỷ và Uỷ ban
5 Đóng góp của đề tài.
Với đề tài “Triệu Sơn trong thời kỳ đổi mới 1986-2004” nhằm trình bày
một cách cụ thể, đầy đủ có hệ thống công cuộc đổi mới của huyện Triệu Sơn
và sự vận dụng đờng lối đổi mới của Đảng đợc đề ra từ Đại hội VI (12/1986).Những thành tựu đã đạt đợc và những yếu kém, khuyết điểm cần khắc phục để
Trang 7từ đó rút ra bài học kinh nghiệm không chỉ Đảng bộ Triệu Sơn nói riêng màcòn là bài học chung cho những huyện đang tiến hành công cuộc đổi mới.Viết về công cuộc đổi mới của huyện nhà cũng nh nghiên cứu lịch sử địaphơng, góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu để ngời đọc có cái nhìntoàn diện hơn về công cuộc đổi mới ở huyện Triệu Sơn.
Công cuộc đổi mới của huyện đã đạt đợc những thành tựu hết sức quantrọng nhờ vào sự vận dụng, linh hoạt, sáng tạo đờng lối đổi mới của Đảng vàohoàn cảnh cụ thể của địa phơng thông qua đề tài góp phần nhìn nhận một cáchkhái quát nhất, từ đó thấy đợc sự nổ lực của Đảng bộ và nhân dân Triệu Sơntrong công cuộc đổi mới
6 Bố cục của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung củakhoá luận đợc chia làm 3 chơng
Chơng 1: Triệu Sơn trớc khi tiến hành công cuộc đổi mới (1986)
Chơng 2: Triệu Sơn bớc đầu trên đờng đổi mới (1986- 1995)
Chơng 3: Triệu Sơn đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới (1996 2004)–
Trang 8B Nội dung
ch
ơng 1.
Triệu Sơn trớc khi tiến hành đổi mới (1986)
1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên và lịch sử xã hội của huyện Triệu Sơn.
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên.
Theo quyết định của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộnghoà, tháng 2/1965 huyện Triệu Sơn chính thức đợc thành lập Huyện bao gồmphần đất của 13 xã ở phía Bắc huyện Thọ Xuân và 20 xã phía Nam huyệnNông Cống
Phía Đông giáp với huyện Đông Sơn, phía Nam giáp với huyện NôngCống, Nh Thanh, phía Tây giáp với Nh Xuân, Thờng Xuân, phía Bắc giáp vớiThọ Xuân, Thiệu Hoá Trung tâm huyện cách Thành phố Thanh Hoá 20 km vềphía tây Hiện nay huyện có 36 xã, 1 thị trấn Huyện đợc mang tên Tân BàTriệu, sử sách ghi lại bà Triệu Thị Trinh đã từng dấy binh khởi nghĩa núi Na(Na) năm 248
Diện tích tự nhiên của huyện là 29.221 ha Trong đó đất nông nghiệp16.910 ha, ao hồ 543 ha, bình quân đất nông nghiệp 680 m2/đầu ngời, đất lâmnghiệp 8.970 ha [1, 2]
Huyện Triệu Sơn có vị trí địa lý thuận lợi, có cả đồng bằng, trung du vàmiền núi, ở độ cao trung bình so với mực nớc biển từ 6-10m, nơi cao nhất588m, đợc chia ra làm 2 vùng rõ rệt vùng đồng bằng và bán sơn địa miền núi Vùng bán sơn địa và miền núi gồm 8 xã Hợp Thành, Hợp Tiến, Hợp Lý, ThọTiến, Triệu Thành, Thọ Bình, Thọ Sơn, Bình Sơn có diện tích tự nhiên 9.193
ha, trong đó 223 ha đất nông nghiệp Đây là vùng đồi núi có nhiều tiềm năngcho trồng cây nông, lâm nghiệp, cây ăn quả và cây công nghiệp nh mía, chè,
cà phê, cao su, vải, cam, xoài, dứa, nguyên liệu giấy
Vùng đất đồng bằng gồm 28 xã, thị trấn, còn lại là vùng đất phù hợpcho sản xuất nông nghiệp, có diện tích 29.028 ha, trong đó có 16 ha đất nôngnghiệp khu vực trũng nhất là Đồng Thắng, Đồng Lợi, Đồng Tiến [1,2]
Hệ thống sông ngòi, hồ đập Triệu Sơn có 2 con sông chính chảy qua,sông Nhơm và sông Hoàng Cả hai sông này đều nhỏ hẹp, quanh co, mùa khôkhông có dòng chảy, mùa ma không tiêu nớc kịp, không có lợi thế cho giaothông đờng thuỷ Vùng bán sơn địa có 51 hồ đập lớn nhỏ đã đợc đầu t đáng kểtới tiêu cho hàng trăm ha canh tác ở các xã Triệu Thành, Hợp Lý, Hợp Tiến,
Trang 9Thọ Bình, Thọ Sơn… nh Hồ Đồng Bể (Triệu Thành), Khe Lùng (Thọ Bình), AoLốc (Hợp Thành), Nội Sơn (Hợp Lý), Ngô Công (Thọ Sơn)… ở các xã vùng
đồng bằng có nhiều ao hồ hệ thống mơng máng thuận lợi cho sản xuất nôngnghiệp và nuôi cá [1,3]
Hệ thống giao thông thuỷ lợi có quốc lộ 47 đi qua theo hớng Đông Tây
từ Thiều đi Thọ Sơn, tỉnh lộ 9 Thiều đi Triệu Thành, tỉnh lộ 12 đi qua 20 km
có đờng 47 Dân lực đi Thọ Xuân, hệ thống đờng liên xã liên thôn hình thànhrộng khắp tạo điều kiện đi lại dễ dàng
Các xã phía tây nam là Tân Ninh, Thái Hoà, Vân Sơn có mỏ khoáng sảnCrôm duy nhất của nớc ta có trữ lợng 5 triệu tấn Núi đá Đồng Thắng có trữ l-ợng 8 triệu m3 có giá trị xuất khẩu [2, 3]
Khí hậu của Triệu Sơn tơng đối thuận lợi cho sản xuất, chăn nuôi, cóthảm thực vật phong phú với nhiều loại cây quý nh: lim, dổi, luồng, nứa… Nh-
ng do địa hình dốc theo hớng Đông Tây mùa nớc dồn về 2 con sông Nhơm vàsông Hoàng hàng năm thờng gây ra úng lụt cho các xã nh: Xuân Thọ, HợpThắng,Thọ Tân, Minh Sơn, Thái Hoà, Tân Ninh, Đồng Thắng, Đồng Tiến,
Đồng Lợi, Khuyến Nông, Tiến Nông, Dân Lý
Về quốc phòng - an ninh Do nằm ở vị trí vùng xung yếu vào Nam raBắc đờng sang nớc bạn Lào, nên từ xa xa các anh hùng dân tộc đã chọn nơi
đây làm căn cứ dừng chân để xây dựng lực lợng mu đồ việc lớn Trong khángchiến chống Pháp kẻ địch luôn dòm ngó đánh phá, đặc biệt trong thời kỳchống Mỹ Triệu Sơn là một trong những nơi đọ sức quyết liệt giữa ta và địch
Nhìn một cách tổng quát điều kiện tự nhiên của huyện Triệu Sơn cónhững đặc điểm sau:
Triệu Sơn là huyện bán sơn địa, ở vị trí chuyển tiếp giữa các huyện
đồng bằng với các huyện trung du miền núi Thanh Hoá, có đờng quốc lộ 47, 2tỉnh lộ số 9 và 506 đi qua (là huyết mạch giao thông quan trọng của tỉnh đicác huyện) Chính vị trí địa lí thuận lợi nh vậy, Triệu Sơn là nơi giao lu kinh tế
và văn hóa với các huyện trong tỉnh
Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm 2 vùng trung du miền núi
và đồng bằng Đây là điều kiện để cho huyện Triệu Sơn phát triển một nềnnông nghiệp đa dạng, đang tạo ra u thế của huyện trong quá trình phát triểnkinh tế của huyện
Trang 10Tuy nhiên điều kiện tự nhiên tác động không nhỏ đến quá trình pháttriển kinh tế xã hội của huyện, do độ dốc nên thờng bị úng lụt về mùa ma, hạnhán về mùa khô.
Tất cả những thuận lợi cũng nh những khó khăn của huyện đều đợcquan tâm, phát huy và cần phải khắc phục hơn nữa Nếu chính quyền và nhândân Triệu Sơn biết khai thác và thức dậy tiềm năng sẵn có trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội thì nhất định Triệu Sơn còn tiến xa hơn nữa trong quátrình phát triển của mình
1.1.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội.
Tháng 2/1965, huyện Triệu Sơn chính thức đợc thành lập, địa bàn hànhchính ngày đầu có 33 xã (20 xã của huyện Nông Cống, 13 xã của huyện ThọXuân) Hiện nay huyện Triệu Sơn có 36 xã,thị trấn, dân số toàn huyện219,790 ngời, có 4 xã miền núi và 3 dân tộc anh em Kinh, Thái, Mờng, trong
đó đa số là dân tộc Kinh [23, 1]
Mật độ dân c phân bố không đều, vùng đồng bằng dân c dày đặc bìnhquân 545ngời/1 km2, vùng bán sơn địa miền núi bình quân 270 ngời/1 km2,vùng đất có tiềm năng mở rộng phát triển kinh tế trang trại, trồng cây côngnghiệp, chăn nuôi đại gia xúc đem lại hiệu quả kinh tế cao
Triệu Sơn có nền kinh tế nông nghiệp phong phú sản vật, đa dạng ngànhnghề Trong đó nghề trồng lúa nớc là phổ biến và xuyên suốt hàng ngàn nămlịch sử kế thừa ngành nông nghiệp lâu đời của 2 huyện Thọ Xuân và NôngCống, với các xã có trình độ thâm canh cao nh Thái Hoà, Khuyến Nông, TiếnNông, Vân Sơn
ở các khu vực trung du miền núi, lâm nghiệp của vùng đang đợc quantâm và đầu t, ở các xã nh Triệu Thành, Thọ Bình, Thọ Sơn, Bình Sơn, đanghình thành khu công nghiệp chế bién nông- lâm- sản, đang từng bớc làm thay
đổi tập quán sinh hoạt độc canh chuyển sang kinh tế hàng hoá phát triển ở khuvực miền núi của huyện
Triệu Sơn cách trung tâm Thành phố Thanh Hoá 20 km về phía tây, làhuyện chuyển tiếp của các huyện đồng bằng lên miền núi nên nền kinh tế th-
ơng nghiệp ở đây khá phát triển với trung tâm thơng mại thị trấn Giắt đang thuhút lớn đối với các huyện xung quanh
Sinh ra từ một dải đất của 2 huyện: Nông Cống, Thọ Xuân có bề dàylịch sử, là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, giàu truyền thống yêu nớc và cách
Trang 11mạng Triệu Sơn là vùng đất hiểm trở trong kế sách chống giặc ngoại xâm, conngời nơi đầy nghĩa khí, kiên trung.
Từ xa xa Triệu Sơn là căn cứ địa của nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc, lànơi tụ nghĩa dấy binh của nữ tớng anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh chốnggiặc Ngô xâm lợc ở thế kỷ thứ III
Lịch sử dân tộc ta ghi lại “Năm vừa tròn 19 tuổi, Triệu Thị Trinh cùnganh hô hào nhân dân trong vùng nổi dậy, cuộc khởi nghĩa đợc dân chúng CửuChân hởng ứng nhiệt liệt và nhanh chóng lan toả ra quận Giao Chỉ” [26, 90]
Cuộc khởi nghĩa vang dội vào năm 248 đã từng là “Chân Giao chấn
động”, làm cho quân Ngô ở 2 quận Giao Chỉ, Cửu Chân khiếp sợ Cuộc khởinghĩa đó đợc đánh giá là đỉnh cao của phong trào nông dân thế kỷ thứ III
Hình ảnh ngời phụ nữ anh hùng từ xa xa ấy, tinh thần nghĩa sĩ cùng thời
là tợng trng cho khí phách dân tộc, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam nóichung, của nhân dân Triệu Sơn nói riêng Khí phách anh hùng ấy đợc mọi thế
hệ ngời dân Triệu Sơn hun đúc qua mỗi chặng đờng đấu tranh và xây dựng
Khi thành lập huyện 1965, ngời dân nơi đây đã lấy tên họ Triệu của nữanh hùng Triệu Thị Trinh và dấu ấn chiến tích núi Na xa tạo nên một tên mới-huyện Triệu Sơn, cũng đồng nghĩa huyện Triệu Sơn anh hùng
Quê hơng Triệu Sơn còn là nơi đứng chân cung cấp sức ngời, sức củacho nhiều cuộc khởi nghĩa dành độc lập cho dân tộc, đặc biệt là hậu phơng tincậy của cuộc khởi nghĩa vĩ đại do Lê Lợi lãnh đạo thế kỷ XV Chính từ mảnh
đất Triệu Sơn nhiều ngời đã trở thành dũng tớng của khởi nghĩa Lam Sơn nhDoãn Thịnh…
Triệu Sơn là nơi hoại động quân sự thời Lê- Mạc thế kỷ XVI, cũng lànơi mảnh đất trung tâm chính trị - quân sự thời Lê-Trịnh- Nguyễn thế kỷXVII
Thời phong kiến, Triệu Sơn là vùng đất hiếu học, khoa bảng, nhiều ngời
đỗ đại khoa đó là: Doãn Đình Tác, Tống Nho, Nguyễn Hoàn, Nguyễn Tài, LêDuy Thúc, Lê Thân, Lê Tuấn Dơng, Lê Bất Tứ [1, 10]
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lợc và đô hộ đất nớc ta, chúng đãphải đơng đầu với sự chống trả quyết liệt của nhân dân ta Triệu Sơn là nơi mànhiều sĩ phu yêu nớc trong phong trào Cần Vơng đã về chiêu mộ binh sĩ, xâydựng căn cứ địa để đánh Pháp
Từ những năm 30 của thế kỷ XX trở đi phong trào cách mạng ở TriệuSơn khá phát triển Dới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh bộ Thanh Hoá, tháng
Trang 128/1940 chi bộ Đảng ở Triệu Sơn đã đợc thành lập, đánh dấu bớc ngoặt lớn đốivới phong trào cách mạng ở Triệu Sơn Từ đây phong trào cách mạng củahuyện đã hoà chung khí thế và đóng góp tích cực vào phong trào cách mạngcủa tỉnh Thanh Hoá và nhân dân cả nớc Dới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dânTriệu Sơn cùng cả nớc làm nên cách mạng tháng Tám thắng lợi, khai sinh ranớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (8/1945) Hoà bình đến với nhân dân ViệtNam cha đợc bao lâu thì thực dân Pháp quay lại hòng xâm lợc đất nớc ta mộtlần nữa Ngày 19/12/1946 kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cùng với nhân dâncả nớc, Triệu Sơn “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nớc, nhất
định không chịu làm nô lệ ”, nhiều thanh niên đã hăng hái lên đờng bảo vệ quê
hơng đất nớc Trong 9 năm kháng chiến trờng kỳ gian khổ, nhân dân TriệuSơn bằng chính máu và công sức của mình đã góp phần vào thắng lợi chungcủa dân tộc với 1.900 ngời con u tú tham gia chủ lực, 288 đồng chí hy sinhtrong cuộc kháng chiến, đóng góp hàng trăm tấn lơng thực, thực phẩm cungcấp cho tiền tuyến Đặc biệt Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo, tấm gơng
hy sinh anh dũng đó mãi mãi là niềm tự hào của quê hơng, dân tộc [1, 18]
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ đợc ký kết, hoà bình
đã đến với miền Bắc nớc ta trong đó có quê hơng Triệu Sơn Các vùng nôngthôn Triệu Sơn đều tiến hành thực hiện chủ chơng cải cách ruộng đất của Đảnglàm cho ngời cày có ruộng và thực sự làm chủ cuộc đời mình từ đây
Quá trình hoại động của Đảng bộ Triệu Sơn từ khi có tổ chức Đảng8/1940 gắn liền với quá trình hoạt động và trởng thành của Đảng bộ 2 huyệnThọ Xuân và Nông Cống cho đến năm 1965
Tháng 2/1965, theo quyết định của Ban thờng vụ Tỉnh uỷ, Đảng bộTriệu Sơn đợc thành lập, gồm 43 Đảng bộ sơ sở cả 2 huyện Thọ Xuân và NôngCống sát nhập lại, 10 Đảng bộ khối cơ quan trờng học, bệnh viện, các ngành
đóng trên địa bàn huyện với trên 3.000 đảng viên sinh hoạt ở 103 chi bộ cơ sở.Ban chấp hành Đảng bộ lúc thành lập gồm 16 đồng chí, với đội ngũ cán bộtham mu còn thiếu về số lợng và hạn chế về năng lực, trình độ [1,19]
Ra đời trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1965), Triệu Sơn là mộttrong những trọng điểm bị địch đánh phá ác liệt nhất của tỉnh Thanh Hoá
Đảng bộ và nhân dân Triệu Sơn đã sát cánh cùng nhân dân cả nớc vừa trực tiếp
đơng đầu với cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của đế quốc Mỹ để bảo vệquê hơng vừa phải cung cấp sức ngời, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam.Trong thời kỳ này huyện Triệu Sơn lại đợc đón nhận nhiều cơ quan, đơn vị của
Trang 13tỉnh, của quân đội nh: S đoàn 325, S đoàn 338, Trung đoàn 14 về đây chiến
đấu và huấn luyện để tăng cờng chi viện cho miền Nam Đồng thời Triệu Sơnvẫn là nơi cất dấu những kho tàng chiến lợc quân sự quan trọng là nơi sơ táncủa các cơ quan đầu não của tỉnh nh: Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, bệnhviện 111, trạm Giao liên 559, công ty Dợc, Nhà in Ba đình… [23,2]
Trong chiến tranh phá hoại, biến đau thơng thành hành động cáchmạng, các lực lợng dân quân tự vệ trực tiếp xã Tân Ninh, Hợp Thắng, Dân Lý,Thọ Bình đã phối hợp với bộ đội chủ lực, phòng không và tự vệ của mỏ Cổ
Định đã đánh trả quyết liệt, bắn rơi 7 máy bay Mỹ [23, 3]
Trong khánh chiến chống Mỹ cứu nớc, Triệu Sơn là hậu phơng lớn vớitinh thần “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một ngời ” Triệu Sơn
đã tiễn đa 16.680 thanh niên lên đờng nhập ngũ vào quân đội, 4.000 ngời vàothanh niên xung phong, 32.150 ngời tham gia dân công du kích, 2.500 ngờitham gia dân công hoả tuyến, 4.500 xe đạp thồ Phối hợp với chủ lực đánh trảmáy bay Mỹ 205 trận, bắn rơi 7 máy bay địch Trên khắp mọi miền của Tổquốc, con em Triệu Sơn có 3.241 liệt sĩ, 2.032 thơng bệnh binh Đào đắp287.288 m giao thông hào, 100 hầm cất dấu xe tăng và xăng dầu, 62 km đờnggiao thông dã chiến, 28.000 ngày công phục vụ chiến đấu, cung cấp 60.000tấn lơng thực, 20.000 tấn thịt lợn, 1.104 tấn gà, vịt và hàng chục ngàn tấn rauquả các loại [14, 7]
Những đóng góp trên đặt trong hoàn cảnh hết sức khó khăn thì đây làmột điều có ý nghĩa lớn thể hiện sự cố gắng vợt bậc của Đảng bộ và nhân dânTriệu Sơn là tình cảm sâu nặng của hậu phơng đối với tiền tuyến Là quê hơngvốn có truyền thống cách mạng kiên cờng cho nên Triệu Sơn luôn hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ phục vụ chiến trờng miền Nam đánh thắng giặc Mỹ
Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, đất nớc thống nhất, nhân dân Triệu Sơnbắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thơng chiến tranh và xây dựng lại quê hơng.Trên 1.000 ha đất bị bom Mỹ cày xới đã đợc khôi phục lại để trồng lúa màu.Chỉ mấy năm sau chiến tranh, với các phong trào thi đua “Na Sơn nổi lửa”,
“Ra quân một lúc, kết thúc một ngày”, Triệu Sơn đã giành đợc nhiều thành quả
quan trọng : Đợc Chính phủ công nhận huyện đầu tiên trên miền Bắc hoànchỉnh hệ thống thủy nông, là huyện dẫn đầu trong công tác sinh đẻ có kếhoạch và vinh dự đợc đón các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nớcnh: Lê Duẩn, Trờng Chinh, Võ Nguyên Giáp… về thăm
Trang 141.2 Tình hình kinh tế - xã hội Triệu sơn trớc những năm đổi mới
(1976 - 1986).
Thắng lợi của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã kếtthúc cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại Việt Nam hoàn toàn thống nhất, đấtnớc bớc vào thời kỳ cách mạng mới - thời kỳ cả nớc làm cách mạng xã hộichủ nghĩa
Đứng trớc tình hình đó, nhiệm vụ đặt ra cho Triệu Sơn là nhanh chónghàn gắn vết thơng chiến tranh, ổn định và khôi phục kinh tế - xã hội, văn hoá,quốc phòng- an ninh, xây dựng quê hơng theo mục tiêu của thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội
Trong 10 năm (1975 - 1986), Triệu Sơn cùng nhân dân cả nớc bớc đầuxây dựng theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Trớc hết về kinh tế: sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ côngnghiệp có bớc phát triển mới, nhiều mặt có chuyển biến khá hơn so với thời kỳtrớc Đặc biệt là mặt trận nông nghiệp giành đợc thắng lợi quan trọng, nổi bật
là sản xuất và huy động lơng thực đạt mức cao nhất từ trớc đến nay
Sản lợng lơng thực từ 41.114 tấn bình quân (1976 - 1987) lên 58.513 tấnthời kỳ 1981 - 1985, bình quân mỗi năm tăng 14.535 tấn Riêng năm 1985mặc dù mất lụt trên 200 ha, sản lợng lơng thực vẫn đạt 66.503 tấn, thời kỳ(1981 - 1985), 15.636 tấn, năm 1985 huy động gần: 18.000 tấn, gấp 2,2 lầnmức huy động bình quân năm (1976 - 1980) [2, 2]
Sản xuất màu vụ đông, vụ thu đợc khôi phục diện tích, cây lạc tăngnhanh, từ 125 ha (1982) lên 637 ha (1985), riêng vụ xuân 1986 đạt 540 ha Cơcấu cây trồng mùa vụ, trong nông nghiệp có biến chuyển theo hớng toàn diện
và thâm canh mở rộng việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật giống mới,tăng thêm cơ sở vật chất cho thâm canh nh: thuỷ lợi, phân bón, giải quyết tốt
sự đồng đều ở từng cơ sở và trên địa bàn huyện
Về chăn nuôi: tăng sức kéo, phân bón, còn cải thiện bữa ăn cho nhândân, đàn lợn tăng 8.667 con so với thời kỳ (1976 - 1980), đàn trâu, bò tăng:
1435 con, nuôi vịt nuôi cá tiếp tục phát triển [2, 3]
Lâm nghiệp có những chuyển biến tích cực trong việc hoàn thành sớmgiao đất, giao rừng, xây dựng tốt các vờn ơm cây Trong ba năm trồng đợc1.200 ha rừng mới và gần 2 triệu cây trồng phân tán
Giá trị xuất khẩu 1985 đạt đợc: 15 triệu đồng, tăng gần 7 lần so với năm
1983 Giá trị sản lợng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 1985 đạt 42.154.000
đồng, bình quân hàng năm thời kỳ 1981 - 1985 là 41.563.000đ, so với thời kỳ
Trang 151976 - 1980 mỗi năm tăng 12.863.000 đồng Duy trì và cũng cố những cơ sởsản xuất hiện có, phát triển nghề sành sứ, đào tạo hàng ngàn lao động chonghề đan lát, mây tre xuất khẩu [2, 3].
Trong nông nghiệp của huyện mặc dù có điều kiện phát triển nhng năngxuất, sản lợng cây trồng cả lúa và màu đều đạt thấp, cha ổn định, chăn nuôiphát triển chậm, trồng rừng cha đạt kế hoạch Xuất khẩu còn bấp bênh, cha cómặt hàng chủ lực, công nghiệp, thủ công nghiệp địa phơng cha đáp ứng đợcyêu cầu bức thiết của sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống Một số ngành sảnxuất và sản phẩm chủ yếu nh nhựa, công cụ cơ khí sữa chữa, vôi bón phânruộng, vật liệu xây dựng… đều phát triển chậm Nét nổi lên là sự chậm trễ kéodài của công nghiệp hàng tiêu dùng và chế biến nông sản, xây dựng cơ bảnphân tán, nhiều công trình dở dang, giao thông vận tải mất cân đối lớn T tởng
ỷ lại vào phơng tiện cơ giới của Nhà nớc còn nặng, cơ cấu kinh tế trên địa bànhuyện và từng cơ sở cha sát đúng, cha toàn diện Sai lầm là chỉ mới tập trungcho nông nghiệp, trong nông nghiệp là chỉ tập trung cho trồng trọt, buônglỏng lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tỷ trọng giá trị tổng sản lợng côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp so với nông nghiệp cha có biến đổi Năm 1978 là17.7% Năm 1985 cũng chỉ đạt 19%, lao động trong công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp năm 1985 mới chiểm tỷ trọng: 0,034 %, lâm nghiệp 0,007%trong tổng số lao động xã hội [2, 7]
Cha quan tâm cũng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa cả tập thể vàquốc doanh Trong nông nghiệp, tình trạng khoán trắng vẫn còn phổ biến kéodài, cơ sở vật chất kỹ thuật của tập thể tiếp tục sa sút, công tác hạch toán, kếtoán trong các hợp tác xã lỏng lẻo gây ra lãng phí, tham ô phát sinh nhiều tiêucực, chất lợng và hiệu quả hoạt động của kinh tế quốc doanh đạt thấp, khôngphát huy đợc vai trò chủ đạo, nhiều hiện tợng tiêu cực phổ biến và kéo dàitrong thơng nghiệp quốc doanh, trong các hoạt động dịch vụ phục vụ nôngnghiệp chậm đợc khắc phục Công tác lu thông phân phối có nhiều khuyết
điểm, yếu kém, thụ động, trông chờ, hành chính quan lu, thiếu trách nhiệm,cha khai thác đợc nguồn hàng địa phơng để thúc đấy sản xuất phát triển, cha
mở rộng khuyến khích sản xuất thậm chí gây thêm khó khăn cản trở cho sảnxuất và cơ sở Hệ thống thơng nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán chậmchuyển sang phơng thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, cha đảm bảo các mặthàng thứ yếu phục vụ đời sống và sản xuất, cung cách kinh doanh còn hànhchính giản đơn, công tác tiền tệ cha chuyển kịp theo yêu cầu mới của sản xuất
và lu thông phân phối
Trang 16Công tác quốc phòng an ninh cha xây dựng đợc lực lợng vững mạnh từcơ sở đến huyện, sự lãnh đạo của các cấp uỷ, chính quyền đối với công tácquốc phòng, an ninh cha chặt chẽ, thờng xuyên còn phạm hữu khuynh, mơ hồ,thiếu cảnh giác, cha thực hiện nghiêm túc các chính sách hậu phơng quân đội.
Giao thông là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội nhngtrong mời năm (1975 - 1985) mặc dù đã đợc tu bổ, sữa chữa nhiều, nhng tìnhtrạng cầu cống, đờng sá h hỏng xuống cấp cha khắc phục kịp thời Vì vậy, đãgây cản trở cho việc đi lại của nhân dân và ảnh hởng đến sản xuất, phát triểnkinh tế của huyện
Những nguyên nhân trên làm cho kinh tế Triệu Sơn nằm trong tìnhtrạng lạc hậu, chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, một bộphận phải chạy ăn từng bữa, đời sống công nhân viên chức, lực lợng vũ trangnhất là khu vực hành chính sự nghiệp và trực tiếp sản xuất làm ăn chân chínhgặp nhiều khó khăn do tiền lơng thực tế giảm sút, giá cả tăng vọt, các mặthàng thiếu không đảm bảo Thêm vào đó, công tác cán bộ có nhiều khuyết
điểm yếu kém kéo dài, việc lựa chọn, bố trí cán bộ cha có cách nhìn mới, còngiản đơn bảo thủ, hẹp hòi, hữu khuynh, thiên lệch để cho bộ máy các cấpphình ra quá lớn, cồng kềnh kém hiệu lực làm cho nhân dân mất lòng tin
Bên cạnh kinh tế, về xã hội: Qua 10 năm (1975 - 1985) bớc đầu xâydựng theo định hớng xã hội chủ nghĩa, Triệu Sơn đã đạt đợc một số thành tựu
về văn hoá, giáo dục, y tế Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thaotrở thành những phong trào hoạt động mạnh mẽ trong toàn huyện Mạng lớigiáo dục, y tế phát triển rộng khắp ở địa phơng Nhng nhìn chung văn hoá,giáo dục, y tế còn nhiều yếu kém, chất lợng thấp, các hủ tục, mê tín dị đoan cóchiều hớng phát triển, tỷ lệ tăng dân số quá cao 2,27 %, cơ sở vật chất chocông tác giáo dục, y tế thiếu thốn kéo dài, số học sinh bỏ học có xu hớng tănglên, số học sinh đi học so với dân số từ 33, 3% (1982) xuống 27,7 % (1985)[2, 8] Do cha nhận thức đầy đủ và sâu sắc quan điểm của Đảng về chiến lợcxây dựng con ngời mới xã hội chủ nghĩa, cha thật sự gắn nội dung “ Dạy chữ,dạy ngời và dạy nghề” và phối hợp thờng xuyên giữa “ Gia đình - nhà trờng -xã hội” Các mặt công tác văn hoá, xã hội cha đợc quan tâm, chất lợng thấp.Mạng lới y tế cơ sở yếu kém, việc chăm lo sức khỏe cho nhân dân cha đợcquan tâm đúng mức, những tiêu cực trong lu thông phân phối thuốc, trongkhám chữa bệnh cha đợc khắc phục
Trong 10 năm (1975 - 1985), Triệu Sơn lâm vào tình trạng khủng hoảngtrầm trọng về xã hội, kinh tế suy giảm, văn hoá, giáo dục, xã hội biểu hiện
Trang 17tiêu cực đã ảnh hởng mạnh mẻ đến niềm tin của quần chúng nhân dân đối với
Đảng, Nhà nớc và các cấp chính quyền
Nguyên nhân của tình trạng trên trớc hết là do trong chỉ đạo, xây dựngcấp huyện, tổ chức sản xuất trên địa bàn huyện, mở rộng quy mô các hợp tácxã… cha vận hành đúng chủ trơng của Đảng, Nhà nớc, rập khuôn một cáchmáy móc, vận dụng vào điều kiện huyện cha phù hợp, linh hoạt Vì vậy sựlãnh đạo của huyện và tổ chức thực hiện từ huyện đến cơ sở còn quan liêuhành chính, thiếu cụ thể, sâu sát thực tế, thiếu kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổngkết, điều hành công việc cha chặt chẽ, kiên quyết kỷ luật không nghiêm; Chacoi trọng đúng mức xây dựng Đảng về tổ chức và t tởng, tổ chức bộ máy vàcán bộ cha phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, cha quan tâm cũng cố xâydựng cơ sở Đảng và công tác đảng viên, cho nên nhiều cán bộ cha ý thức đợccông việc của mình mà còn tỏ ra hống hách, vô trách nhiệm… làm gây mấtlòng tin đối với quần chúng Trong kinh tế do bố trí cơ cấu cha hợp lý, vùng có
điều kiện tự nhiên nh đất, khí hậu phù hợp cho phát triển lâm nghiệp nhng lạikhông đợc đầu t phát triển diện tích đất trống đồi trọc tăng nhanh gây ảnh h-ởng xấu đến đời sống, xã hội của nhân dân Trong tổ chức lại sản xuất baogồm cơ cấu sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cơ cấu đầu t vừa cha sát đúng, vừaphân tán chậm trễ, cha thực hiện vận dụng đồng thời ba cuộc cách mạng trong
đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt, cha kết hợp hữu cơ việc pháttriển lực lợng sản xuất với cũng cố và tăng cờng quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa, chậm đổi mới t duy kinh tế và cơ chế quản lý, bảo thủ, trì trệ trongcung cách làm ăn, cha coi trọng công tác kế hoạch hoá với sử dụng các chínhsách đòn bẩy kinh tế
Mặc dù có nhiều cố gắng, song do tác động của nhiều yếu tố kháchquan và chủ quan cho nên từ 1975 đến 1985 kinh tế đang nằm trong tình trạngphát triển chậm và mất cân đối, sản xuất nông nghiệp cha ổn định, đời sốngnhân dân gặp nhiều khó khăn, lơng thực không đủ ăn dẫn đến nhiều tiêu cựccủa xã hội phát sinh, không có điều kiện đầu t cho sự nghiệp giáo dục, vănhoá, y tế Đây là thời kỳ gay go, khó khăn của huyện theo mô hình quản lýkinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, bộc lộ nhiều khuyết điểm Trong 10 nămthử thách ban đầu trên con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội còn mang tính mới
mẻ nên những sai lầm là không tránh khỏi Nhng điều quan trọng hơn là phảibiết những sai lầm đó để cán bộ, Đảng viên và nhân dân Triệu Sơn nghiêmkhắc phê bình, tự phê bình, dám nhìn thẳng vào sự thật đó cũng là một biểuhiện mới của sự trởng thành Đồng thời phát huy truyền thống đoàn kết, năng
Trang 18động, sáng tạo, không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức, phát huy nội lực uytín trong cán bộ, đảng viên để tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng
bộ và uy tín trong nhân dân Từ đó đề ra phơng hớng nhiệm vụ mục tiêu chophù hợp với tiềm năng của huyện trong thời kỳ mới tiếp theo
Trang 19ơng 2.
Triệu Sơn bớc đầu trên con đờng đổi mới 1986
- 1995
2.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trơng đổi mới của Đảng bộ Triệu Sơn.
10 năm (1975 - 1985) đất nớc ta đi vào chặng đờng đầu tiên của thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng và nhân dân ta vừa làm, vừa tìm tòi, thửnghiệm con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội Trong quá trình đó, cách mạng xã hộichủ nghĩa đạt đợc những thành tựu và tiến bộ đáng kể trong các lĩnh vực của
đời sống xã hội Nhng cách mạng cũng gặp không ít khó khăn và yếu kém do
điều kiện khách quan và chủ quan, do hậu quả của cuộc chiến tranh kéo dài trớc
đây và cả những cuộc chiến tranh mới, tàn d của chế độ cũ, đồng thời trên bớc
đầu công cuộc đổi mới chúng ta mắc phải những sai lầm nh kéo dài chủ trơngchính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lợc, về tổ chức thực hiện Trớc nhữngkhó khăn thử thách lớn đòi hỏi Đảng phải có những quyết sách, xoay chuyểntình hình tạo ra một bớc ngoặt cho sự phát triển
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam(12/1986) đề ra đờng lối đổi mới đất nớc, nhằm đa đất nớc vợt qua cuộc khủnghoảng và đẩy mạnh cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Cho nên Đại hội đã đề
ra đờng lối đổi mới một cách toàn diện, trên tất cả các lĩnh vực, từ đổi mớikinh tế, chính trị đến đổi mới về t tởng, văn hoá mà trọng tâm là đổi mới kinh
kế, đó là một “việc làm cấp bách” đồng thời đó là việc thờng xuyên lâu dài
Đại hội xác định “nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát” của chặng đờng
đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, mà quan trọng nhất là
ổn định sản xuất, ổn định đời sống vật chất và văn hoá Phải thực sự tập trungsức ngời, sức của vào việc thực hiện đợc ba chơng trình kinh tế: lơng thực -thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Đồng thời tăng cờng các nhiệm
vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách thờng xuyên tích cực với những bớc đithích hợp, thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, kiên quyết xoá bỏ chế độ tậptrung quan liêu, bao cấp, thiết lập và hình thành đồng bộ cơ chế, kế hoạch hoátheo phơng thức hạch toán kinh doanh tập trung dân chủ, khoa học kỹ thuật có
ý nghĩa quyết định đối với việc đổi mới kinh tế, cho nên luôn coi trọng côngtác khoa học kỹ thuật để đa nhanh tiến bộ khoa học vào đời sống và sản xuất.Hơn lúc nào hết phải gắn kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với xã hội, xã hội với
Trang 20kinh tế Vì vậy cần phải giải quyết các vấn đề xã hội từ việc làm cho đến đờisống vật chất và văn hoá.
Đại hội lần thứ VI đánh dấu bớc chuyển quan trọng trong quá trình tiếnlên của cách mạng nớc ta, đáp ứng lòng mong đợi của toàn Đảng, toàn dân,
mở ra triển vọng mới phát triển của đất nớc với những nhiệm vụ, kế hoạchmục tiêu mà Đại hội VI vạch ra đợc cụ thể đến từng địa phơng và dới sự lãnh
đạo của Đảng, toàn dân tích cực thực hiện công cuộc đổi mới trên tất cả cácmặt
Triệu Sơn cũng nh khắp nơi trên cả nớc, đã thấy đợc tình hình và nhiệm
vụ của cách mạng trong giai đoạn mới là cần thiết phải đổi mới Với vị trí,trách nhiệm và tiềm năng của huyện, Đảng bộ huyện đã đề ra những nhiệm vụ
đổi mới kinh tế - xã hội trong 10 năm (1986 - 1995)
Trên quy hoạch tổng thể về kinh tế - xã hội, những năm 1986-1990 đã
đ-ợc xác định, cần bố trí hợp lý cơ cấu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cơ cấu
đầu t, theo phơng hớng từ lơng thực, xuất khẩu và sản xuất hàng hoá phongphú, đa dạng mà đi lên Tập trung sức phát triển nông nghiệp toàn diện, coinông nghiệp thật sự là mặt trận hàng đầu, lấy thâm canh, tăng vụ, tận dụng diệntích là biện pháp số một để giải quyết ổn định lơng thực Đẩy mạnh chăn nuôitoàn diện, trớc hết là trâu, bò, lợn, cá, vịt, để giải quyết nhu cầu thực phẩm, sứckéo, phân bón và xuất khẩu,tăng nhanh cây công nghiệp cho xuất khẩu, đẩymạnh trồng rừng, thực hiện nông lâm kết hợp phát triển công nghiệp hàng tiêudùng, tiểu thủ công nghiệp Xây dựng có trọng điểm cơ sở vật chất kỹ thuật,ứng dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện cơ chếquản lý mới, chuyển mạnh sang hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa từngbớc ổn định đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân
Trong sản xuất nông nghiệp: đa diện tích gieo trồng bình quân thời kỳ(1981 - 1985) từ 25.634 ha lên 27.000 ha những năm (1986 - 1990) Tổng sảnlợng lơng thực năm 1986: 75.000 tấn trong đó màu quy thóc 8.000 tấn, Năm1986: 85.000 tấn, đến 1990: 90.000 tấn Bình quân lơng thực trên đầu ngờinăm 1986: 400kg Năm 1990 là: 414 kg / ngời, làm nghĩa vụ cho nhà nớc1986: 19.000 tấn, những năm từ (1986 - 1990): 20.000 tấn, dự trữ lơng thựctrong năm năm tới: 20.000 tấn [2,10]
Về phát triển lúa thâm canh cao độ, vụ chiêm xuân để có năng xuất bìnhquân 45 tạ/ha, vùng thâm canh cao đạt 60 tạ /ha, sản lợng lúa chiêm xuân đạttừ: 40 - 43.000 tấn Vụ mùa đầu t thâm canh có trọng điểm cho 6.000 ha lúa
Trang 21ăn chắc đạt năng xuất 45 tạ/ha, bố trí lại cơ cấu giống, cơ cấu cây trồng cónăng xuất cao, chống chịu sâu bệnh và có khả năng tránh né thiên tai Về màuphát triển mạnh sản xuất màu khắp các vùng, mở rộng diện tích và thâm canhmàu vụ đông trên đất 2 vụ lúa, chủ yếu là khoai lang, khoai tây, ngô, cây thựcthẩm [2, 11].
Về chăn nuôi: đẩy mạnh chăn nuôi toàn diện ở cả 3 khu vực: quốcdoanh, tập thể và gia đình Tăng nhanh đàn trâu, bò để giải quyết sức kéo vàphân bón cho thâm canh, đổi mới cơ cấu và chất lợng đàn lợn, tận dụng diệntích mặt nớc: ao hồ, sông lụt để nuôi cá Đàn trâu, bò tăng từ 9.700 con (1986)lên 16.100 con (1990); đàn bò 7.600 con lên 12.800 con (1990); đàn lợn49.000 con (1986) lên 60.000 con (1990) [2, 11]
Lâm nghiệp: Phát triển nhanh việc trồng cây gây rừng, phủ xanh đồitrọc, đất trống trên diện tích đất, rừng đã giao, phát triển cây lâm nghiệp ở tấtcả các hợp tác xã, trờng học, cơ quan Thực hiện nông - lâm kết hợp, lấy ngắnnuôi dài, nhà nớc - hợp tác xã và nhân dân cùng làm, để phát triển kinh tế đồirừng, bố trí hợp lý cơ cấu cây trồng để vừa có thu hoạch trớc mắt, vừa có thuhoạch lâu dài, trong năm tới (1986 - 1990) diện tích trồng rừng mới đạt là4.526 ha [2, 12]
Về công nghiệp tiểu thủ công nghiệp: tổ chức sắp xếp lại sản xuất, khaithác các tiềm năng tại chỗ, sử dụng nguồn nguyên liệu nông - lâm sản địa ph-
ơng để chủ động sản xuất, tăng nhanh khối lợng sản phẩm phục vụ sản xuấtnông lâm nghiệp, tiêu dùng và xuất khẩu Mở rộng công tác đào tạo, bồi dỡngtay nghề, trang bị cải tiến kỹ thuật, trao đổi liên kết kinh tế để tăng thêm vật tnguyên liệu, phấn đấu đạt giá trị tổng sản lợng 1996: 52 triệu đồng Năm 1990là: 160 triệu đồng [2, 14]
Đẩy mạnh xuất khẩu, bố trí lại cơ cấu sản xuất hàng xuất khẩu, xác địnhmặt hàng chủ lực vừa làm tập trung, vừa làm phân tán, đặc biệt tổ chức kinh tếgia đình làm hàng xuất khẩu Những năm trớc mắt tập trung tăng nhanh câycông nghiệp ngắn ngày và nông sản thực phẩm cho xuất khẩu, mũi nhọn làcây lạc, kê, hấu, ớt, đay, cây dợc liệu, hàng mây tre đan, trứng vịt, lông vịt, thịtlợn Để có hàng xuất khẩu huyện và cơ sở phải có chuyển biến mới về nhậnthức mới và tổ chức thực hiện đầu t tập trung vật t, tiền vốn cho mặt hàng chủlực, phân công lại lao động, đào tạo tay nghề, tập huấn rộng rãi kỹ thuật chongời lao động
Trang 22Về giao thông vận tải xây dựng cơ bản: Củng cố và mở rộng các trục ờng cầu Trắng đi Đồng Lợi, Na đi Gốm, Hợp Lý đi Thọ Tiến, Thọ Cờng điThọ Sơn… Phát triển vận tải đờng thuỷ trên sông Hoàng, sông Nhơm Cả hợptác xã và t nhân, sắp xếp lại vận tải cơ giới hiện có, phát triển mạnh vận tải thôsơ, xe xúc vật kéo ở từng cơ sở, xây dựng bến và kho chứa hàng ở cầu Thiều,bến xe khách ở Na, Giắt Tập trung đầu t làm hoàn chỉnh các công trình xâydựng cơ bản trọng điểm đang thi công nh: trạm bơm điện Tho Dân, Dân lực,Tiến Nông, Khuyến Nông Giành một phần vốn, vật t, để xây dựng trờng học,nhà trẻ, trạm xá.
đ-Lu thông phân phối, củng cố hoàn thiện quan hệ sản xuất, thực hiện cơchế quản lý mới, củng cố, phát triển hệ thống thơng nghiệp quốc doanh vàHợp tác xã mua bán từ huyện đến cơ sở, mở rộng mạng lới thu mua, dịch vụkinh doanh đủ sức làm chủ thị trờng Tổ chức tốt dịch vụ cả mua và bán ở cáctrọng điểm giao lu kinh tế nh: Giắt, Thiều, Đà, Sim, Na thực hiện tốt các biệnpháp quản lý thị trờng từ cơ sở và từ nội bộ các cơ quan Nhà nớc, tăng cờngkiểm soát việc niên yếu giá, cải tạo tiểu thơng để ổn định giá cả, đổi mới ph-
ơng thức quản lý, kinh doanh tiền vốn của ngân hàng, đảm bảo tốt lu thôngtiền tệ, thực hiện tốt các chính sách huy động vốn, huy động tiền tiết kiệm,tăng cờng quản lý tiền mặt Củng cố và nâng cao chất lợng quan hệ sản xuất
đối với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, nâng cao trình độ tổ chức quản
lý sản xuất kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đảm bảo kinh doanh sản xuất có lãivới năng xuất chất lợng và hiệu quả ngày càng cao
Phát triển văn hoá xã hội: Phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo theo ớng nâng cao chất lợng: Đạo đức, trí dục và hớng nghiệp "dạy chữ, dạy ngời, dạy nghề" kết hợp các hình thức giáo dục với các hoạt động xã hội nhà trờng
h-với đoàn và gia đình để thực hiện chiến lợc xây dựng con ngời mới Nâng caochất lợng toàn diện của công tác văn hoá, văn nghệ, thông tin truyền hình, thểdục thể thao, chiếu phim, trớc hết là nâng cao tính t tởng và mục đích giáodục, đi sát thực tế, năng động, sáng tạo và loại hình phơng pháp, phục vụ kịpthời nhiệm vụ chính trị làm thông suốt các nghị quyết, chính sách của Đảng
và Nhà nớc trong nhân dân, đấu tranh chống mọi thủ đoạn phá hoại của địch,bài trừ mê tín dị đoan Năm 1998 xã nào cũng có đội văn nghệ, thông tin, thviện, bãi chiếu bóng, sân vận động huyện, xây dựng đủ phòng học, nhà trẻ,mẫu giáo, đến 1990 xây xong trờng trung học Triệu Sơn I [1; 18]
Trang 23Củng cố mạng lới y tế từ cơ sở đến huyện, thực sự tạo ra bớc chuyểnbiến về chất lợng và hiệu quả của công tác y tế, của phong trào vệ sinh phòngbệnh, phòng và chống dịch của công tác khám và chữa bệnh, ở bệnh việnhuyện và các trạm y tế cơ sở.
Tổ chức tốt đời sống nhân dân về ăn, ở, học tập, khám chữa bệnh, đi lại
và vui chơi từ cơ sở Thực hiện đầy đủ kịp thời các chính sách, chế độ và quantâm đúng mức đời sống vật chất, tinh thần đối với những cán bộ hoạt động lâunăm, gia đình ân nhân cách mạng, những ngời về hu, mất sức, các gia đình liệt
sỹ, thơng binh, gia đình có ngời đi chiến đấu xa, có chính sách chăm sóc trẻ
mồ côi, ngời tàn tật, ngời già không nơi nơng tựa
2.2 Triệu Sơn trong thời kỳ đầu thực hiện công cuộc đổi mới 1986 - 1990.
Dới đờng lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân huyện Triệu Sơn đãtiếp thu và đa vào thực tiễn cuộc sống đạt đợc những thành tựu quan trọng trêntất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong năm năm (1986 - 1990)
2.2.1 Kinh tế.
Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, Triệu Sơn đã khôngngừng tìm tòi, vận dụng sáng tạo những chủ trơng chính sách của Đảng, Nhànớc và phát huy những kinh nghiệm truyền thống của địa phơng, nh việc ápdụng khoa học công nghệ vào những đổi mới về cơ chế quản lý, đã tạo ra sựchuyển biến toàn diện trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp, nhất làchơng trình lơng thực - thực phẩm Với phơng châm lấy nông nghiệp là mặttrận hàng đầu, gắn nông nghiệp với lâm nghiệp, nông nghiệp với công nghiệp
- thủ công nghiệp, kết hợp chuyên môn hoá với phát triển toàn diện, cân đốigiữa trồng trọt và chăn nuôi, giữa lúa và màu, cây lơng thực và cây côngnghiệp Vì vậy, Triệu Sơn đã xác định tập trung đầu t nhiều cho nông nghiệp
mà mũi nhọn đầu t là thuỷ lợi, giống mới và phân bón… thay đổi cơ cấu mùa
vụ, đa vụ đông lên thành vụ sản xuất chính, đa tiến bộ khoa học - kỹ thuật
Đặc biệt là việc áp dụng cơ chế khoán mới tạo ra sức bật trong quá trình sảnxuất của ngời nông dân Từ đây nông dân đợc chủ động trên mảnh ruộng màmình nhận khoán Cũng từ khoán 10 mà bớc đầu tiềm năng về đất đai, lao
động, tiền vốn đợc huy động tốt hơn Nhờ đó sản lợng lơng thực bình quân 2năm (1989 - 1990) tăng 3.000 tấn so với thời kỳ (1987-1988).Riêng năm 1990tăng 6.000 tấn so với năm 1989, bình quân lơng thực đầu ngời năm 1990 tăng
Trang 2413 kg so với năm 1989 [2, 2] Do kết quả sản xuất Triệu Sơn đã hoàn thànhnghĩa vụ lơng thực đối với nhà nớc, bảo đảm đời sống nhân dân trong huyện,hợp tác xã và các loại gia cầm đều phát triển cả về số lợng và chất lợng.
Phát huy thế mạnh của huyện trong lâm nghiệp, kinh tế đồi rừng đã thu
đ-ợc kết quả bớc đầu, do nắm bắt đđ-ợc nhu cầu của thị trờng và căn cứ vào độ dốc,
địa hình, chất đất, Triệu Sơn đã bố trí đúng cơ cấu cây trồng ở từng vùng, từng
đồi Trong hai năm 1989 - 1990, hơn 2.000 ha đất đồi đã đợc các hộ nông nhânnhận đa vào khai thác, trong đó trồng rừng tập trung hơn 1000 ha, mía 240 ha.Chỉ sau một năm thực hiện nghị quyết 03 của Thờng vụ Huyện uỷ về phủ xanh
đất trống, đồi trọc, đã có hơn 200 ha đất đồi trọc đợc khai thác thêm để trồngmía, chè và cây lâm nghiệp khác Một số mô hình vờn đồi, vờn rừng có chủ tr-
ơng đúng và kết quả khai thác bớc đầu nên chúng ta đã tranh thủ đợc nguồn vốncủa Trung ơng và tỉnh, phơng án khai thác kinh tế của các ngành, các cấp đợcnhân dân trong huyện hởng ứng [3, 2]
Một kết quả đáng khích lệ về kinh tế là qua ba năm thực hiện cơ chế
“khoán 10" và chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong nông thônbắt đầu đã diễn ra quá trình phân công lại lao động theo hớng phát huy sứcmạnh của vùng Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển, dịch vụ cungứng vật t và tiêu thụ nông sản hàng hoá đợc mở rộng, đã có 4,5% số hộ nhậnthầu 1.500 ha trồng cây lâm nghiệp, cây công nghiệp ngắn ngày và làm cácnghề rèn, mộc, xây dựng, xay sát, sản xuất gạch ngói; 27 % số hộ nhận thầu
690 ha ruộng đa sản xuất lên 95 tấn, hàng vụ; 9% số hộ làm kinh tế gia đìnhbằng các nghề chuyên chế biến nông sản, sữa chữa cơ khí nhỏ, nề, mộc, đanlát, làm bánh kẹo, dịch vụ, dịch vụ thơng nghiệp Nhờ đó đã khơi dậy và khaithác nhiều tiềm năng trí tuệ, vốn, sức lao động của nhân dân đẩy mạnh sảnxuất, mở mang ngành nghề, tạo thêm nhiều của cải, thúc đẩy sự hình thành cơcấu kinh tế mới theo hớng sản xuất hàng hoá của nhiều thành phần kinh tế [3,2]
Kinh tế hộ gia đình phát triển mạnh mẽ trên cả hai vùng, đã trở thànhkinh tế tự chủ, sức sản xuất đợc giải phóng tăng tiềm năng lao động Vốn củanhân dân bắt đầu tập trung đầu t cho sản xuất kinh doanh phát triển một cách tựnguyện theo cơ chế mới, đa số các hộ nông dân và một số bộ phận nhân dân có
đầu óc kinh doanh có mức thu nhập cao, đời sống đợc cải thiện Theo thống kêcủa 27 xã: nhà ở trong nông thôn và các tụ điểm giao thông tăng thêm, 60 % số
hộ trong huyện có nhà xây, trong đó có 46 nhà tầng, 265 hộ có nhà mái bằng,
Trang 25giao thông đi lại thuận tiện, hàng hoá nông sản hàng tiêu dùng, thuốc chữabệnh ngày càng nhiều… Do đó đời sống nhân dân đợc cải thiện [3,3].
Giao thông vận tải và xây dựng cơ bản trong giai đoạn này cũng cónhững bớc tiến bộ đáng kể Với phơng châm " nhà nớc và nhân dân cùng làm"
lấy hiệu quả là mục tiêu, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của các ngành các cấp
và trung ơng, đã tập trung xây dựng các công trình điện, thuỷ lợi, giao thông,công trình lớn phục vụ cho sản xuất đời sống, đã xây dựng các công trìnhtrọng yếu nh sữa chữa cống Đô Xá, làm hàng chục km đờng giao thông nôngthôn, đào đắp 160.000 mét khối đất, khai thác và rải 7 km đờng nhựa, xây mới
7 cầu, làm mới và đại tu 160 công trình, xây dựng 14 trạm biến áp và đờng
điện đa số xã có điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt từ 30 % năm 1989 lên 70
% năm 1990 [3, 4] Ngoài ra còn xây dựng, sữa chữa lớn các công trình dândụng khác trị giá 9,8 tỷ đồng, khắc phục một bớc quan trọng trong sự xuốngcấp về cơ sở hạ tầng của kinh tế và xã hội Nhiều công trình ở Thị trấn và Thị
tứ đang đợc thi công phục vụ cho nhu cầu lu thông
Trên cơ sở kết quả sản xuất không còn chế độ bao cấp, cộng với việc ápdụng các biện pháp tích cực nên công tác thu chi ngân sách của huyện và xã
đã có chuyển biến tích cực, đảm bảo chi tiêu cho ngân sách của huyện và xã
đã có chuyển biến tích cực Tổng thu chi ngân sách xã năm 1990 đạt 1.179triệu, bình quân ngang xã 33 triệu, bằng 175% năm 1989 và bằng 290% năm
1988 [3, 3]
Hoạt động thơng nghiệp ngày càng mở rộng, hàng hoá ngày càng phongphú, đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nhu cầu, nhu yếu phẩm của nhân dân, đặcbiệt vùng sâu, vùng xa Thơng nghiệp hoạt động có hiệu quả đã tạo điều kiệncho các ngành kinh tế khác phát triển, góp phần nâng cao đời sống vật chấtcho nhân dân
Qua 5 năm bớc đầu thực hiện đờng lối đổi mới (1986 - 1990) dới sự lãnh
đạo của Đảng và các cấp chính quyền, Triệu Sơn đã vơn lên nhiều mặt theo ớng chung của sự nghiệp đổi mới Đảng bộ và nhân dân trong huyện luôn luônnắm vững định hớng đổi mới và đổi mới trên từng lĩnh vực, trong từng thờigian cho phù hợp và điều kiện của từng địa phơng, đáp ứng đợc nguyện vọngcủa nhân dân Trong đó nội dung cốt lõi của đổi mới là đổi mới cơ cấu kinh tếgắn với cơ chế quản lý theo định hớng sản xuất hàng hoá nhiều thành phần,lấy kinh tế quốc doanh và tập thể làm nòng cốt, từ đó khơi dậy và phát huy
Trang 26h-truyền thống, tự lực, tự cờng và hết sức tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên, đểchủ động khắc phục khó khăn, khắc phục t tởng trông chờ, ỷ lại.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc trong 5 năm tiến hành đổi mới(1986 - 1990), Triệu Sơn còn bộc lộ nhiều tồn tại yếu kém
Trong nông nghiệp: Việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và cây trồng cònchậm nên kết quả sản xuất và phân phối lơng thực còn chênh lệch giữa cácvùng, các xã và các hộ, sản lợng lơng thực tăng chậm, bình quân lơng thực
đầu ngời còn thấp do cha ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất.Thêm vào đó bộ máy chỉ đạo nông nghiệp nhiều khi không thống nhất, cònbộc lộ nhiều non yếu, lơng thực, thực phẩm, nông sản xuất khẩu vốn là thếmạnh của huyện nhng cha thực sự, cha có sản phẩm hàng hoá lớn Nội dungkhoán thầu, đấu thầu còn nhiều phiền hà
Trong lâm nghiệp: Công tác giao đất, giao rừng còn chậm, cha thực sựkết hợp chặt chẽ giữa kinh tế nông nghiệp Nạn khai thác, chặt phá rừng bừabãi làm ảnh hởng không tốt đến điều kiện tự nhiên và môi trờng
Công nghiệp, thủ công nghiệp chậm đổi mới thiết bị và công nghệ, côngnghiệp cơ khí, chế tạo sữa chữa gặp nhiều khó khăn, một số mặt hàng giảmsút nghề truyền thống phát triển tự phát, ngành nghề trong công nghiệp thiếu
sự quan tâm và tổ chức lại sản xuất
Hoạt động phân phối lu thông còn nhiều thiếu xót: Vật t cho sản xuấtcha đảm bảo, hàng hoá thiết yếu phục vụ nhân dân còn thiếu, nhất là vùng sâu,vùng xa Nguồn thu ngân sách còn eo hẹp lại không ổn định nên thiếu vốn đầu
t cho sự nghiệp phát triển kinh tế có thời gian
Có thể nói rằng trong 5 năm đầu đổi mới (1986 - 1990) Triệu Sơn đã đạt
đợc nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội Nhng nhìn chung nềnkinh tế phát triển cha cao, đang còn mất cân đối giữa các ngành kinh tế, nhiềungành kinh tế còn chậm phát triển,đời sống nhân dân còn nhiều thiếu thốn cha
đợc giải quyết
2.2.2 Chính trị - An ninh - Quốc phòng
Trong 5 năm (1986 - 1990) Triệu Sơn đã chú trọng hơn đến công tác xâydựng Đảng: Đã tổ chức truyền đạt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhữngchủ trơng công tác của cấp uỷ đến cán bộ đảng viên và nhân dân Thờngxuyên bồi dỡng thời sự, chính sách cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyềnviên, tổ chức nhiều lớp bồi dỡng, trang bị lại kiến thức về đổi mới t duy kinh
Trang 27tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng và các chuyên
đề về công cuộc đổi mới cho cán bộ đảng viên đợc làm thờng xuyên
Thông qua đợt kiểm tra đảng viên chấp hành điều lệ Đảng, đợt triển khaithực hiện nghị quyết 24 của Tỉnh uỷ và qua Đại hội đại biểu Đảng bộ huyệnTriệu Sơn đã từng bớc làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của đội ngũcán bộ, đảng viên, công tác phê bình và tự phê bình Đoàn kết nội bộ đợc tăngcờng, tinh thần trách nhiệm, gơng mẫu của đảng viên đợc nâng lên, quan hệgiữa đảng với quần chúng đợc gắn bó Nhiệm kỳ qua, đồng thời với việc kếtnạp 196 đảng viên, chúng ta đã làm rõ, xem xét thi hành kỷ luật 2970 Đảngviên, trong đó đa ra khỏi đảng bằng cách hình thức thích hợp 370 đảng viên,khai trừ ra khỏi đảng 82 đảng viên thoái hoá về chính trị và đạo đức, biến chất
về lối sống, đợc đa số đảng viên và quần chúng đồng tình [3, 5]
Phơng thức lãnh đạo, công tác điều hành của các cấp uỷ Đảng có chuyểnbiến theo phơng hớng đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, đề ra tráchnhiệm cá nhân Những kết quả đạt đợc trong công tác xây dựng Đảng đã cũng
cố nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, tăng thêm lòng tin của nhân dân đốivới sự lãnh đạo của Đảng bộ trong sự nghiệp đổi mới
Tuy vậy, trớc cơ chế mới, bên cạnh đại bộ phận đảng viên nâng cao sứcchiến đấu, một bộ phận đảng viên không thiết tha với sinh hoạt Đảng, thiếu g-
ơng mẫu trớc quần chúng, tình trạng mất đoàn kết vẫn còn diễn ra ở một số
Đảng uỷ, chi bộ cơ sở Trong lãnh đạo, chỉ đạo cha khắc phục lề lối làm việcthiếu khoa học, thiếu kiên quyết Một số công việc còn mang tính độc đoánNgoài công tác xây dựng Đảng, Triệu Sơn còn chú trọng đến lĩnh vực anninh, quốc phòng Thờng xuyên phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninhtrong tình hình mới Thờng xuyên phát động phong trào toàn dân bảo vệ anninh Tổ quốc, giữ gìn trật tự an toàn xã hội Công tác chính trị, t tởng đã đợctăng cờng trong các lực lợng vũ trang, lực lợng công an, an ninh nhân dân, dânquân, lực lợng dự bị động viên đợc cũng cố về tổ chức, bồi dỡng nghiệp vụ,huấn luyện nâng cao trình độ chỉ huy tác chiến Đã triển khai xây dựng, củng
cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng phơng án phòng thủ, xây dựng làng xãchiến đấu với xây dựng cơ sở an toàn làm chủ Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụgiao quân Đã tổ chức nhiều đợt đấu tranh truy quét bọn tội phạm hình sự, tậptrung cải tạo những phần tử lu manh gây rối
Tuy nhiên công tác quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội cònnhiều mặt yếu, hoạt động của lực lợng quân sự, công an cha đáp ứng đợc yêu
Trang 28cầu Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, việc nắm và vận hành theocơ chế còn hạn chế Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc cha sâu,cha rộng Một bộ phận cán bộ và nhân dân còn lơ là mất cảnh giác trớc âm mu
“Diễn biến hoà bình”
2.2.3 Văn hoá - giáo dục - y tế
Trong những năm đầu đổi mới, sự chuyển biến có ý nghĩa nhất đối vớiTriệu Sơn là từng bớc nhận thức đúng đắn mục tiêu kinh tế với mục tiêu xãhội, trong đó trọng tâm là việc đặt cơ sở chiến lợc xây dựng nhân tố con ngời Trong hoàn cảnh đang còn gặp nhiều khó khăn, việc đặt ra phơng hớngnhiệm vụ phát triển văn hoá, giáo dục là điều rất cần thiết đối với sự nghiệp
đổi mới ở Triệu Sơn Trớc Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/ 1986)hoạt động văn hoá ở Triệu Sơn còn nghèo nàn, tệ nạn xã hội và các tập tục cónguy cơ phát triển, giáo dục, y tế xuống cấp, giảm chất lợng gây mất lòng tin
đối với nhân dân
Trớc những thử thách đó, Đảng bộ và chính quyền Triệu Sơn đã tậptrung chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân kiên trì xây dựng nếp sống văn minh - gia
đình văn hoá với các hình thức phong phú đa dạng Các hoạt động văn hoá vănnghệ, thể dục, thể thao, đã gắn đợc với các ngày lễ lớn để phát động phongtrào, tạo điều kiện cho nhân dân làm chủ trong sáng tạo và hởng thụ đời sốngvăn hoá tinh thần Phong trào còn phát triển đến tận vùng sâu, vùng xa, giúpcho nhân dân ở các vùng này có điều kiện hoà mình vào phong trào chung củatoàn huyện Từng bớc xây dựng các cơ sở văn hoá, bảo vệ và tôn tạo các ditích lịch sử, tôn trọng tự do tín ngỡng của đồng bào, chống các tệ nạn xã hội
đang tồn tại ở huyện Xây dựng nếp sống văn hoá mới, con ngời mới
Trong giai đoạn đầu (1986 - 1990), ngành giáo dục có bớc chuyển biến
đáng kể trong dạy học, ngành học, cấp học, ổn định, nhờ sự đóng góp củanhân dân và sự cộng trợ của Nhà nớc, cơ sở vật chất ở các trờng học đợc bổsung thêm, tình trạng thiếu phòng, thiếu bàn ghế, phải học 3 ca đã đợc khắcphục Đời sống giáo viên tuy còn thấp nhng lơng và các khoản phụ cấp đợclĩnh đều kỳ cộng với giáo dục lớp 1, trờng chuyên lớp chọn có tiến bộ Hàngnăm Triệu Sơn có nhiều học sinh đỗ vào các trờng đại học, cao đẳng và trunghọc chuyên nghiệp
Công tác bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân cũng đợc quan tâm đúng mức.Cơ sở vật chất phục vụ cho khám, chữa bệnh từ huyện đến cơ sở đợc tăng cờng
Trang 29thêm, công tác khám, chữa bệnh chăm lo sức khoẻ ban đầu cho nhân dân cónhiều tiến bộ Công tác tiêm chủng mở rộng cho trẻ em đợc tổ chức đều kỳ.Công tác kế hoạch hoá dân số và bảo vệ bà mẹ, trẻ em có chuyển biến tốt.Phong trào vận động ăn ở hợp vệ sinh,phòng chống dịch bệnh đợc quan tâmnhắc nhở thờng xuyên Hoạt động thể dục, thể thao trong các trờng học và một
số xã, cơ quan vẫn đợc duy trì Hoạt động văn hoá, thông tin đã bám sát nhiệm
vụ chính trị của địa phơng trong từng thời gian, từng chiến dịch để tuyêntruyền vận động cổ vũ
Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc, công tác văn hoá - giáo dục - y tế
ở Triệu Sơn vẫn còn nhiều yếu kém Chất lợng hoạt động văn hoá còn yếu,một số lĩnh vực hoạt động văn hoá, văn nghệ sa sút Nhiều nơi tệ nạn xã hội,
mê tín dị đoan, ma chay, cới xin cha đợc ngăn chặn Chất lợng giáo dục chacao, tình trạng học sinh bỏ học ngày càng tăng, số lợng và chất lợng đội ngũgiáo viên còn thiếu và bất cập, thiết bị dạy học còn nhiều thiếu thốn Đặc biệtgiáo dục t tởng có chiều hớng xuống cấp Chất lợng hoạt động y tế còn thấp,
tổ chức y tế cơ sở nhiều nơi yếu kém, lạc hậu nhất là phơng tiện kỹ thuật,nhiều cán bộ chuyên môn có tay nghề cao, thái độ phục vụ của một bộ phậncán bộ y tế cha tốt làm cho quần chúng giảm lòng tin
2.3 Triệu Sơn trong thời kỳ 1991 - 1995.
2.3.1 Yêu cầu và nhiệm vụ.
Trong thời kỳ đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986 -1990) theo đờnglối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân huyện Triệu Sơn đã đạt đợc nhữngthành tựu đáng khích lệ
Nền kinh tế bớc đầu có những chuyển biến theo chiều hớng tốt, cơ cấukinh tế, cơ cấu quản lý mới đã hình thành và vận động theo nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần, cơ chế thị trờng đã gắn và có tác động trực tiếp đến sảnxuất kinh doanh thúc đấy kinh tế - xã hội phát triển Cơ cấu sản xuất và cơ cấu
đầu t đã có bớc điều chỉnh theo hớng tập trung cho 3 chơng trình kinh tế lớn,
đáp ứng có hiệu quả nhu cầu đời sống, xã hội trong huyện và từng bớc mởrộng quan hệ với thị trờng bên ngoài Đời sống vật chất và tinh thần,các nhucầu hởng thụ văn hoá khác của nhân dân lao động đã có bớc cải thiện, bộ mặtlàng quê thay đổi tiến bộ An ninh trật tự, an toàn xã hội cơ bản đợc đảm bảo.Những kết quả này đã khẳng định sự vững vàng, hớng đi đúng đắn của Triệu
Trang 30Sơn trong thời kỳ đầu đổi mới, đó là những cơ sở quan trọng để huyện tiếp tục
đi lên
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc Triệu Sơn còn tồn tạinhiều yếu kém và khuyết điểm: Tốc độ tăng trởng kinh tế chậm, phát triểnkhông đồng đều, đời sống nhân dân trong huyện còn nhiều thiếu thốn, cha đápứng nhu cầu của nhân dân
Công cuộc đổi mới ở nớc ta đang chuyển biến theo chiều hớng tích cựcthì trên thế giới lại sảy ra những biến động phức tạp Bớc vào những năm đầucủa thập niên 90 thế kỷ XX, đặc biệt là khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô
và các nớc Đông Âu tan rã Tình hình trên đã ảnh hởng đến tâm t, tình cảm vàniềm tin vào chế độ của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhândân Song với bản lĩnh chính trị vững vàng, Đảng ta vẫn kiên định con đờng đãlựa chọn: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Trong bối cảnh đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đãtổng kết đánh giá việc thực hiện đờng lối mới do Đại hội VI đề ra và đa ranhững chủ trơng, chính sách, nhiệm vụ, nhằm kế thừa phát huy những thànhtựu, u điểm đã đạt đợc cũng nh khắc phục những khó khăn hạn chế mắc phảitrong bớc đầu đổi mới Ngăn ngừa những lệch lạc phát sinh trong quá trình đó,
điều chỉnh, bổ sung, phát triển đờng lối đổi mới đề ra từ Đại hội VI để tiếp tục
đa sự nghiệp đổi mới tiến lên Đại hội đã thông qua “Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và chiến lợc “ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000” Đại hội khẳng định “Kiên trì đa đất nớc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh công cuộc đổi mới đa đất nớc ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội” để đạt tới xã hội “dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh” [17, 60].
Trên các quan điểm lớn của Đại hội toàn quốc lần thứ VII và nghị quyết
đại hội lần thứ XIII của Đảng bộ tỉnh, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII đã
đề ra mục tiêu tổng quát về kinh tế xã hội thời kỳ 1991 - 1995 là: “Chủ độngvợt qua khó khăn thử thách làm chuyển biến căn bản hiện trạng nền kinh tế,
ổn định và từng bớc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp toàn diện, thu đợc kếtquả đáng kể về khai thác kinh tế đồi rừng, khôi phục và phát triển đa dạng cáchình thức sản xuất tiểu thủ công nghiệp, tạo ra khối lợng nông, lâm sản hànghoá lớn, tại địa bàn và công ăn việc làm cho ngời lao động, làm tròn nghĩa vụ
đối với nhà nớc ổn định và nâng cao một bớc đời sống nhân dân, ổn định t