1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sóc sơn (hà nội) trong thời kì đổi mới (1986 2006)

79 346 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 245 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ mộthuyện nghèo, đời sống của nhân rất thấp kém, nền sản xuất chủ yếu là nôngnghiệp với hơn 90% dân số là nông dân, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thờitiết nên thờng xuyên mất mùa, đ

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khoá luận này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Huyện uỷ, Phòng lu trữ, Uỷ ban nhân dân, Th viện của huyện Sóc Sơn đã giúp đỡ chúng tôi về mặt tài liệu Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong ban lãnh đạo huyện và các thầy cô giáo trong khoa Lịch Sử tr-ờng Đại Học Vinh đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ Và đặc biệt tôi chân thành cảm

ơn ngời đã hớng dẫn tôi hoàn thành tốt khoá luận là thầy giáo, Tiến sĩ Trần Văn Thức – Ngời đã có công lớn trong quá trình hớng dẫn tôi hoàn thành luận văn.

Nhân dịp này, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã động

Trờng đại học vinhKhoa lịch sử

………

Nguyễn thị thanh tâm

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Sóc sơn trong thời kì đổi mới

(1986 2006)

Chuyên ngành: lịch sử việt nam

Vinh - 2007

Trang 2

Tuy đã có nhiều cố gắng nhng đề tài này vẫn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến và chỉ dẫn của mọi ngời.

Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân cả nớc cùng bắt tay vào giai đoan cách mạngmới: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc

Hơn một thập kỷ kể từ sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đây là chặng ờng đầy gian nan thử thách, cả nớc ra sức khôi phục và hàn gắn vết thơng sauchiến tranh Trải qua hai nhiệm kì Đại hội Đảng lần thứ IV và lần thứ V, Đảng vànhân dân Việt Nam vừa làm, vừa tìm tòi, thử nghiệm con đờng xây dựng theo

đ-định hớng xã hội chủ nghĩa Trong quá trình đó, chúng ta đã đạt đợc những thànhtựu đáng kể, nhng cũng gặp không ít khó khăn, yếu kém và sai lầm làm cho đấtnớc từ giữa những năm 80 lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống Trớc hết, là về kinh tế - xã hội nh sản xuất trì trệ, lạm phátlên tới mức phi mã, thất nghiệp tăng, đời sống nhân dân khó khăn Để khắc phục

Trang 3

những sai lầm khuyết điểm, đa đất nớc vợt qua cuộc khủng hoảng và đẩy mạnh

sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi Đảng và Nhà nớc ta phải đổi mớicăn bản Đại hội tiếp theo - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộngsản Việt Nam (12 - 1986) đã đáp ứng yêu cầu đó Và thực tế không phụ lòngmong mỏi của nhân dân cả nớc cũng nh toàn Đảng, toàn dân, Đại hội toàn quốclần thứ VI đã đánh giá đúng tình hình đất nớc, kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng,vai trò quản lí của nhà nớc, tổng kết lại kinh nghiệm quý báu, từ đó xác địnhnhiệm vụ, mục tiêu và biện pháp để ổn định tình hình đa sự nghiệp cách mạngtiến lên Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đi vào lịch sử nh Đại hội mở đầucho thời kì đổi mới ở Việt Nam, thời kì phát huy sức mạnh dân tộc xây dựng đấtnớc Việt Nam độc lập, dân chủ giàu mạnh, xã hội công bằng văn minh theo hớngxã hội chủ nghĩa

Chặng đờng đổi mới của dân tộc đã đi đợc 20 năm ( 1986 - 2006), khoảngthời gian đó không phải là dài so với lịch sử của dân tộc, nhng cả nớc ta đangthực sự chuyển mình Nhìn lại nền kinh tế nớc nhà chúng ta không thể không tựhào vì đất nớc ta đã “thay da đổi thịt” Công cuộc đổi mới đã đạt đợc những

thành tựu quan trọng, nhiệm vụ đề ra cho thời kì đầu của chặng đờng quá độ cơbản đã hoàn thành, cho phép nớc ta bớc tiếp sang thời kì đẩy nhanh quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc

Góp phần chung vào sự nghiệp đổi mới của đất nớc, Sóc Sơn - một huyệnngoại thành của Thủ đô Hà Nội đã thực hiện tốt công cuộc đổi mới Từ mộthuyện nghèo, đời sống của nhân rất thấp kém, nền sản xuất chủ yếu là nôngnghiệp với hơn 90% dân số là nông dân, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thờitiết nên thờng xuyên mất mùa, đói kém, dân trí cha cao, cơ sở hạ tầng kĩ thuậtthấp kém, tiềm năng cha đợc khai thác… Giờ đây, bộ mặt của Sóc Sơn đã hoàntoàn đổi khác, Sóc Sơn đang dần chuyển thành huyện công nghiệp - dịch vụ -nông nghiệp Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã đợc cải thiện rõ rệt, tỉ

lệ hộ nghèo giảm nhanh, an ninh chính trị , trật tự an toàn xã hội đợc giữ vững,văn hóa - giáo dục - y tế có bớc phát triển tốt, thực hiện tốt các chính sách xã hội.Sóc Sơn đang góp phần cùng với Thủ đô tiến nhanh trên con đờng công nghiệphóa - hiện đại hóa

Trong thời kì đổi mới, Sóc Sơn đã giành đợc nhiều thành tựu quan trọng,

Trang 4

niềm tin yêu của cả nớc Thật đáng tự hào vì những thành tựu đã làm đợc, tuynhiên tất cả chỉ là bớc đầu, trong quá trình đó vẫn tồn tại nhiều yếu kém, khuyết

điểm đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Sóc Sơn phải có những biện pháp phù hợpkhắc phục tình hình để tiếp tục vững bớc trên con đờng công nghiệp hóa - hiện

đại hóa

Sự nghiệp đổi mới của đất nớc là cần thiết, là sự sống còn, đó là đờng lối hoàntoàn đúng đúng đắn, thể hiện sự sáng tạo dám nghĩ dám làm của Đảng ta Đểgóp phần vào sự nghiệp đó, Sóc Sơn cùng nhân dân cả nớc bớc vào thời kì đổimới Sau 20 năm tiến hành đổi mới, để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa -hiện đại hóa, Sóc Sơn cần phải tổng kết lại những thành tựu đạt đợc, nhữnghạn chế còn tồn tại trong 20 năm qua (1986 - 2006) Rồi từ đó đánh giá lạinhững kết quả đạt đợc, tồn tại khuyết điểm, nguyên nhân và rút ra bài họckinh nghiệm

Sinh ra và lớn lên ở Sóc Sơn, là một ngời con của quê hơng Sóc Sơn lại maymắn đợc sinh vào đúng thời điểm cả nớc bớc vào con đờng đổi mới Lớn lên,từng bớc chứng kiến sự “thay da đổi thịt” của quê hơng mình, tác giả muốn

góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu đờng lối đổi mới của Đảng tronggiai đoạn lịch sử hiện nay và thể hiện nh một nghĩa cử với quê nhà, hơn nữatác giả muốn tìm hiểu nghiên cứu về Sóc Sơn nhằm góp một phần giới thiệuvới quý vị gần xa về quê hơng chúng tôi Vì lí do trên, tác giả đã mạnh dạnchọn đề tài: “Sóc Sơn (Hà Nội) trong thời kì đổi mới 1986 - 2006“ làmkhóa luận tốt nghiệp Đại học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Công cuộc đổi mới đã trải qua 20 năm, đó là quãng thời gian gần vớichúng ta ngày nay nhất với nhiều sự kịên đã, đang và sẽ còn diễn ra Bởi vậy, đểnghiên cứu đề tài “Sóc Sơn (Hà Nội) trong thời kì đổi mới 1986 - 2006” thì

đây quả là một đề tài mới mẻ mang tính chất thời sự vì các sự kiện còn đangtrong quá trình diễn biến do đó việc đánh giá, tổng kết gặp không ít khó khăn.Song để hoàn thành tốt việc nghiên cứu đề tài này, tác giả đã cố gắng thu thậpmột số tài liệu mang tính chuyên khảo nghiên cứu đờng lối đổi mới của Đảng có

đề cập một số khía cạnh của đề tài

Trong các văn kiện của Đảng tại các Đại hội Đại biểu toàn quốc (từ Đạihội VI đến Đại hội IX) đã tổng kết những thành tựu và hạn chế của việc thực hiện

Trang 5

các mục tiêu, nhiệm vụ mà các Nghị quyết của Đại hội đề ra trên phạm vi cả ớc.

n-Trong các cuốn: “Đại c ơng lịch sử Việt Nam” tập III (1945 - 2000) của Lê

Mậu Hãn (CB), Trần Bá Đệ và Nguyễn Văn Th, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997, vàcuốn “Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay”, của Trần Bá Đệ biên soạn, NXB Đại

học Quốc gia, Hà Nội, 2003, đã nêu lên nhiều thành tựu và hạn chế, yếu kém của

đất nớc từ khi thực hiện đờng lối đổi mới đến năm 2000

Trong cuốn “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của GS Trần Bá Đệ biên soạn do NXB Đại học Quốc gia xuất bản năm

1998 đã nêu lên nhiều thành tích và hạn chế yếu kém của đất nớc từ khi thực hiện

đờng lối đổi mới đến năm 1996

Trong cuốn “Lịch sử cách mạng huyện Sóc Sơn , ” tập I, 1930 - 1954, củaBan thờng vụ huyện ủy Sóc Sơn khóa V, xuất bản năm 1991 đã giới thiệu mộtcách khái quát về điều kiện tự nhiên lịch sử - xã hội huyện Sóc Sơn

Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ và nhân dân huyện Sóc Sơn” tập II (1954

-2000), xuất bản năm 2000 (tái bản lần I, có chỉnh lí và bổ sung) trên cơ sở chỉnh

lí cuốn “Lịch sử Đảng bộ và nhân dân huyện Sóc Sơn” tập II (1954 -1996) bổ

sung thêm một giai đọan quan trọng của quá trình đổi mới từ 1996 đến 2000 giai

đoạn Sóc Sơn trên con đờng công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Trong cuốn “Kỷ yếu Đảng bộ huyện Sóc Sơn từ Đại hội đến Đại hội”

(1933 -2005), xuất bản tháng 9 - 2005 đã trình bày một cách khái quát Đảng bộhuyện Sóc Sơn ( Kim Anh - Đa Phúc) tình hình và phát triển (1933 - 1977) và các

kỳ Đại hội từ Đại hội Đảng bộ huyện khóa I đến Đại hội Đảng bộ khóa VIII,trong đó nêu lên danh sách Ban chấp hành Đảng bộ huyện các khóa từ khóa I đếnkhóa VIII, đánh giá, tổng kết kết quả nhiệm kỳ trớc và phơng hớng, nhiệm vụnhiệm kỳ tới

Ngoài những công trình nghiên cứu còn có một số báo cáo của Ban chấphành Đảng bộ huyện Sóc Sơn từ khóa V đến khóa IX đã đánh giá tổng kết nhữngthành tựu và hạn chế, khuyết điểm của Sóc Sơn trong quá trình thực hiện đờng lối

đổi mới của từng thời kỳ cụ thể, đồng thời nêu ra những phơng hớng, biện phápkhắc phục ở thời kỳ sau

Trang 6

Ngoài các bản báo cáo chính trị của từng Đại hội còn có các bản “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” trong từng giai đoạn cụ thể, các bản “Đề án”

về xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nghề giải quyết việc làm, hay các “Chơng trình hành động” đã nêu một cách khái quát những mục tiêu, nhiệm vụ của công

cuộc đổi mới trong từng giai đọan và biện pháp thực hiện nhiệm vụ đó

Nhìn chung, các tài liệu và công trình nêu trên cha thể nêu lên đợc mộtcách đầy đủ những thành tựu tiến bộ và hạn chế, khuyết điểm, yếu kém còn tồntại, cha nêu lên đợc giải pháp cụ thể, bài học kinh nghiệm trong suốt quá trình

đổi mới từ 1986 đến nay Chính vì vậy, để hoàn thành đề tài “Sóc Sơn (Hà Nội)

trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2006” là công việc cần phải đợc đầu t nhiều về thời

gian và trí tuệ

3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tợng nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu đề tài “Sóc Sơn ( Hà Nội ) trong thời kỳ đổi mới 1986

-2006“tác giả xác định đối tợng nghiên cứu của đề tài là những thành tựu Sóc Sơn

đạt đợc, cũng nh những hạn chế, những yếu kém khuyết điểm của Sóc Sơn trongquá trình đổi mới trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa - giáo dục - y tế, chínhtrị - an ninh - quốc phòng Việc đầu tiên tác giả đề cập đến trong đề tài nghiêncứu của mình là điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử - xã hội của huyện Sóc Sơncũng nh tình hình kinh tế - xã hội Sóc Sơn trớc đổi mới, sự chuẩn bị tiền đề chocông cuộc đổi mới Để từ đó khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của đờng lối đổimới do Đảng đề ra từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI (12 - 1986) Qua đó khẳng

định năng lực lãnh đạo của Đảng bộ và các cấp ngành của huyện Sóc Sơn đã vậndụng sáng tạo đờng lối của Đảng vào tình hình điều kiện riêng của huyện mìnhmột cách phù hợp Trên cơ sở đó, chúng tôi mạnh dạn rút ra những nguyên nhân

và bài học kinh nghiệm với hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé công sức của mìnhvào việc tìm hiểu sự nghiệp đổi mới của huyện Sóc Sơn

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu của đề tài “Sóc Sơn (Hà Nội) trong thời kì đổi mới

1986 - 2006“ là tổng kết, đánh giá lại những thành tựu, hạn chế từ đó rút ra

nguyên nhân và một số bài học kinh nghiệm trong những năm đổi mới từ 1986

đến 2006 trên địa bàn huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội

Trang 7

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài “Sóc Sơn (Hà Nội) trong thời kì đổi mới 1986 -2006”tôi chủ yếu tập trung khai thác các nguồn tài liệu sau:

Tài liệu thành văn: Các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam (từ Đại hội

VI đến Đại hội IX), giáo trình “Lịch sử Việt Nam hiện đại”, tài liệu báo cáo của

Huyện ủy, UBND huyện Sóc Sơn qua các nhiệm kì từ nhiệm kì I đến nhiệm kìVIII, các bài báo, các tạp chí Trung ơng và địa phơng, các công trình nghiên cứu

về Sóc Sơn, các câu chuyện, truyền thuyết, dã sử

Tài liệu điền dã: các cuộc trao đổi, trò chuyện với các cán bộ lãnh đạohuyện, những cán bộ nghỉ hu, những cụ lão thành các mạng để thấy đợc tính sátthực trong thời kì đổi mới

Thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phơng pháp nghiên cứu chủ yếu

là phơng pháp lịch sử, phơng pháp Lôgíc, ngoài ra sử dụng các phơng phápchuyên ngành nh thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp Kết hợp hainguồn tài liệu: tài liệu thành văn và tài liệu điền dã để xử lí số liệu trong các bảnbáo cáo của UBND Huyện

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phục lục nội dung của đềtài gồm 3 chơng:

Chơng 1: Tình hình kinh tế - xã hội Sóc Sơn trớc những năm đổi mới (trớc năm 1986)

Chơng 2: Sóc Sơn trong 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1995)

Chơng 3: Sóc Sơn với sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa (1996 2006)

Trang 8

-Nội dung

Chơng 1

Tình hình kinh tế - xã hội Sóc Sơn trớc những năm đổi mới ( trớc năm 1986) 1.1 Điều kiện tự nhiên.

Huyện Sóc Sơn nguyên là vùng đất của hai huyện Đa Phúc - Kim Anh(tỉnh Vĩnh Phúc), nay là vùng đất nằm ở phía Bắc Thủ đô Hà Nội, diện tích tựnhiên của toàn huyện là 30.651,24 ha Về vị trí địa lý của huyện, phía Nam giáphuyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội, ranh giới tự nhiên là con sông Cà Lồ, cócầu Phủ Lỗ bắc ngang; Phía Đông giáp huyện Yên Phong (Hiệp Hòa -Hà Bắc),ranh giới tự nhiên là con sông Cầu, sông Cà Lồ (sông Nh Nguyệt), phía Bắc giáphuyện Phổ Yên (tỉnh Bắc Thái), ranh giới tự nhiên là sông Công, có cầu Đa Phúcbắc ngang; Phía Tây giáp huyện Mê Linh (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc)

Sóc Sơn thuộc miền đất trung du, địa hình đa dạng, cao dần từ Đông Namlên Tây Bắc, hình thành ba vùng rõ rệt Vùng cao ở phía Tây Bắc, nhiều đồi núi,

có xen kẽ những cánh đồng nhỏ hẹp, đất bị xói mòn, chua và bạc màu nặng, năngsuất cây trồng thấp Vùng đất giữa bậc thang gập ghềnh nghiêng dần về phíaNam và Đông Nam, đất bạc màu nhiều rất thiếu nớc nhng đây là vùng thích nghicho cây công nghiệp ngắn ngày (thuốc lá, lạc) Vùng đất ven sông Cà Lồ màu mỡhơn, vùng ven sông Cầu đât trũng, chuyên cấy lúa

Số liệu thống kê hiện nay cho thấy toàn huyện có 6.553,820 ha đất lâmnghiệp (chiếm 21,38%), đất nông nghiệp là 12.826,048 ha (chiếm41,85%), đấtchuyên dùng là 6.057,849 ha (chiếm 19,76%), đất cha sử dụng và sông suối, núi

đá là 2.219,489 ha (chiếm 7,24%) [51, 1]

Xa xa Sóc Sơn đợc bao phủ bởi những cánh rừng bạt ngàn Ngày nay, rừng

tự nhiên hầu nh không còn ở Sóc Sơn, thay vào đó là những vùng đất trồng câycông nghiệp, đất trồng cây lâm nghiệp theo các dự án, kế hoạch Trong nhữngnăm qua, diện tích đất rừng tiếp tục đợc trồng để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.Diện tích của rừng hiện nay là 6.289,9 ha chủ yếu tập trung ở các xã Nam Sơn,Bắc Sơn, Hồng Kì, diện tích đã trồng nhng cha thành rừng, cha có rừng là 123,9

ha, diện tích đã quy hoạch sử dụng khác là 216,3 ha (gồm hồ, bãi rác, đờng giaothông) [51, 2]

Trang 9

Khí hậu của Sóc Sơn thuộc dạng nhiệt đới gió mùa, nắng lắm, ma nhiều.Thời tiết diễn ra phức tạp, đặc biệt hạn hán thờng xảy ra, luôn là mối đe dọa vớimột huyện mà nền sản xuất chính là nông nghiệp Gió mùa Đông Bắc thịnh hànhvào mùa đông Vào mùa đông giá rét thờng có sơng muối về đêm và sáng sớm,rất có hại cho cây trồng và vật nuôi, nắng nóng, khô hạn kéo dài nên đất đai bạcmàu làm ảnh hởng rất lớn đến sản xuất và nhiều mặt của đời sống xã hội.

Do đặc điểm của một huyện trung du, bán sơn địa, độ cao mặt đất biến đổi

đa dạng, địa hình mặt đất chia cắt nhỏ, lẻ, không có vùng châu thổ lớn nh cáchuyện vùng đồng bằng Thời tiết phức tạp, lợng ma phân bố không đều, gâynhiều khó khăn trong công tác sản xuất của một huyện mà sản xuất nông nghiệp

là chính Do vậy, vấn đề trị thủy ở Sóc Sơn trở nên quan trọng và cấp thiết Hiệntại đã bớc đầu khắc phục đợc khó khăn do thiên tai gây ra Tính đến năm 2000,toàn huyện có 156 công trình thủy lợi, tới tiêu vừa và nhỏ các loại trong đó có hệthống kênh tới Thá - Đồng Chầm, hệ thống tiêu úng Đông Bắc, 126 trạm bơm

điện với trạm bơm tới là 119 trạm, trạm bơm tiêu là 7 trạm và 30 hồ đập nhỏ,diện tích tới chủ động là 7.600 ha [50, 2]

Là cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội đi Tây Bắc - Việt Bắc, huyện Sóc Sơn cónhiều đờng giao thông huyết mạch chạy qua Đờng quốc lộ số 2 từ Phủ Lỗ điPhúc Yên (Vĩnh Phúc) lên Tây Bắc Đờng quốc lộ số 3 từ đầu phía Bắc cầu

Đuống qua Đông Anh đến Sóc Sơn đi lên Việt Bắc Đờng số 16 từ Phủ Lỗ đi đến

đò Lo, sang Hà Bắc Đờng số 35 chạy từ Nỉ qua dốc Dây Diều gặp đờng số 2 tại

địa phận xã Thanh Xuân Ngoài ra, có quốc lộ số 18, đờng Thăng Long - Nội Bài,

đờng sắt Hà Nội - Thái Nguyên Đờng thủy từ sông Công, sông Cà Lồ, sông Cầu

đi Phả Lại và ra biển

Tài nguyên khoáng sản ở Sóc Sơn khá phong phú, có thể kể đến vật liệuxây dựng nh cát, sỏi ở sông Cầu, đất sét để sản xuất gạch ngói, Cao Lanh, vàng Sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị lên nhân dân Việt Nam, thăm dò đợc ởSóc Sơn có đất Cao Lanh, chúng đã mở mang lò bát ở địa phận xã Hồng Kỳ, lògốm ở Tăng Long (xã Việt Long), khai thác vàng ở núi Mỏ (xã Hồng Kỳ)

Nhìn một cách tổng quát điều kiện tự nhiên của huyện Sóc Sơn có những

đặc điểm sau:

Trang 10

Thứ nhất: Sóc Sơn là vùng có vị trí quan trọng về kinh tế cũng nh an ninhquốc phòng của Thủ đô, là cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội đi Tây Bắc - Việt Bắc, cónhiều đờng giao thông huyết mạch chạy qua, trong kháng chiến chống thực dânPhápvà can thiệp Mĩ, Sóc Sơn đã trở thành lũy thép bảo vệ Việt Bắc, khi giặc từ

Hà Nộitiến lên

Thứ hai: Sóc Sơn là một huyện trung du, địa hình đa dạng, có thế cao dần

từ Đông Nam lên Tây Bắc, với ba vùng khác nhau: vùng núi, vùng trung du và

đồng bằng Là một vùng bán sơn địa nên ruộng đất màu mỡ không nhiều, do vậychủ yếu là sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp

Thứ ba: Khí hậu khắc nhiệt thời tiết không ổn định, lũ lụt và hạn hán thờngxuyên xảy ra đã tác động không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội củahuyện Sóc Sơn

Tất cả những thuận lợi cũng nh khó khăn của huyện đều đợc quan tâm tậndụng phát huy và cần phải khắc phục hơn nữa Nếu lãnh đạo chính quyền và nhândân Sóc Sơn biết khai thác và thức dậy những tiềm năng sẵn có trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội, thì nhất định Sóc Sơn còn tiến xa hơn trên con đờngphát triển của mình

1.2 Điều kiện lịch sử - xã hội.

Huyện Sóc Sơn là một địa phơng giàu truyền thống văn hóa sản xuất, yêunớc và cách mạng Đất và ngời Sóc Sơn gắn liền với truyền thống lịch sử dựng n-

ớc và giữ nớc của dân tộc; kiên cờng, bất khuất trong chiến đấu chống giặc ngoạixâm, cần cù, sáng tạo trong lao động, xây dựng cuộc sống

Huyện Sóc Sơn nguyên là đất của hai huyện Đa Phúc và Kim Anh (thuộctỉnh Vĩnh Phú) hợp nhất và lấy tên dãy núi Sóc Sơn với địa danh lịch sử nổi tiếng

đã đi vào huyền thoại để đặt tên cho huyện từ tháng 10 năm 1977, từ hai xãQuang Minh và Kim Hoa chuyển về huyện Mê Linh Chiến tranh biên giới chấmdứt đến ngày 1- 4 - 1979, Sóc Sơn chuyển về trực thuộc Thủ đô Hà Nội Từ đâybắt đầu một trang sử mới của huyện, Sóc Sơn trở thành địa danh hành chính của

Hà Nội sát cánh cùng nhân dân các quận, huyện trực tiếp xây dựng và bảo vệ Thủ

đô yêu quý - trái tim của cả nớc Là một vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đờitrải qua hàng ngàn năm kiến tạo, cả hai huyện Kim Anh - Đa Phúc đã nhiều lầnthay đổi tên gọi địa giới hành chính, thay đổi về châu tỉnh trực thuộc

Trang 11

Huyện Đa Phúc thời Trần gọi là Tân Phúc, thời thuộc Minh vẫn gọi là TânPhúc, thuộc châu Bắc Giang Đời Lê Hoằng Định (1600 - 1619) đổi là ThiênPhúc rồi lại đổi là Tiên Phúc thuộc châu Bắc Giang - lộ Bắc Giang.

Đầu đời Nguyễn đổi là Đa Phúc thuộc phủ Bắc Hà, trấn Kinh Bắc

Năm 1822 thuộc trấn Bắc Ninh, 1831 thuộc tỉnh Bắc Ninh, 1901 thuộc tỉnhPhúc Yên Thành phủ Đa Phúc trớc đây đắp bằng đất ở địa phận hai làng TiênTảo và Ngọc Hà (thuộc hai xã Việt Long và Xuân Giang hiện nay) Chu vi 207trợng (khoảng hơn 800 mét), cao 7 thớc (2,8 mét), bốn mặt đào hào, có ba cổngxây bằng gạch Đầu năm 1907 huyện lị chuyển sang làng Bình Kỳ (thuộc xãTrung Giã hiện nay), về sau này lại chuyển về xã Lạc Long (thuộc Phù Linh -Tiên Dợc hiện nay)

Huyện Kim Anh đổi là Đại Hành nằm trong trấn Cổ Pháp, đời Lý nằmtrong phủ Thiên Đức, đời Trần nằm trong huyện Đông Ngàn thuộc châu VũNinh, lộ Bắc Giang Đời Hậu Lê vẫn là một phần của huyện Đông Ngàn thuộcphủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc

Từ thời Lê Quang Nhậm (Lê Thánh Tôn 1461 - 1499), Kim Anh đợc gọi làKim Hoa, phủ Bắc Hà, trấn Kinh Bắc Năm 1841 đổi tên là huyện Kim Anhthuộc tỉnh Bắc Ninh Năm 1901 thuộc tỉnh Phủ Lỗ, sau là tỉnh Phúc Yên

Huyện lị Kim Anh năm 1836 đặt ở làng Hơng Gia, năm 1907 đặt ở ThạchLỗi cho đến năm 1977

Sau khi sáp nhập hai huyện Kim Anh Đa Phúc thành huyện Sóc Sơn (10 1977) huyện lị đóng ở vị trí hiện nay (giữa hai xã Phù Linh và Tiên Dợc)

-Sóc Sơn ngày nay có 25 xã và một Thị trấn Trung tâm huyện lị nằm trêntrục đờng quốc lộ số 3 thuộc phần đất hai xã Phù Linh - Tiên Dợc Dân số theo

điều tra cuối năm 1989 là 199.243 ngời, đến 2001 là 260.000 ngời, hầu hết là

ng-ời kinh Thống kê năm 2002 tổng số hộ toàn huyện là 55.439 hộ, với tổng sốnhân khẩu là 252.356 khẩu, số hộ nông nghiệp toàn huyện là 44.638 hộ, với sốkhẩu là 240.000 khẩu (chiếm 95,1%), số nông dân từ 18 tuổi trở lên là 13.4016ngời [34, 1] Tỉ lệ tăng dân số trong những năm qua khoảng 1,4% Số liệu nàyphản ảnh rõ nét về cơ cấu hoạt động kinh tế của địa phơng c dân chủ yếu sốngbằng nghề nông

Trang 12

Nghề nông là nghề chính của đại đa số nhân dân trong huyện Cùng vớiviệc trồng lúa nớc, nhân dân còn trồng màu (ngô, khoai, sắn), trồng cây thựcphẩm (lạc, vừng, đậu, rau), và một số cây công nghiệp (chè, cà phê, thuốc lá), cây

ăn quả

Sóc Sơn cũng có những vùng lúa gạo, rau ngon có tiếng, có nghề thủ côngtruyền thống mà nhân dân trong vùng đều biết đến qua câu ca dao:

“Gạo cốc, rau ngô ngon có tiếng

Giờng tre Thu Thủy đệm rung rinh ” [1, 19]

Ngoài việc phát triển trồng lúa nớc, Sóc Sơn cũng rất phát triển với kinh tếtrang trại, vờn rừng, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm Đến nay toàn huyện có 83trang trại, trong đó 36 trang trại chăn nuôi, thu nhập bình quân hàng năm đạt 38 -

40 triệu đồng/ trang trại Diện tích cây ăn quả hiện có 1050 ha, chè 575 ha Kếtquả của hoạt động kinh tế trang trại tạo ra giá trị sản phẩm hàng hóa, công ănviệc làm đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Đây là tiềm năng lớn cho huyện phát triển kinh tế

Nghề thủ công ở Sóc Sơn cũng khá phát triển, chủ yếu là đan lát (thúng, rổ,rá), nghề làm gốm, nghề nung gạch ngói, trong huyện có làng nghề truyền thống:Hợp tác xã mây, tre đan Thu Hồng - xã Xuân Thu khá nổi tiếng

Thơng mại - dịch vụ phát triển khá sầm uất, hầu nh xã nào cũng có chợ,hình thành nên các trung tâm buôn bán lớn nh Thị trấn, phố Nỉ (Trung Giã) Hệthống chợ và nhịp độ buôn bán, trao đổi chính là bộ mặt hoạt động thơng mại củaSóc Sơn

Sóc Sơn cũng là vùng đất có truyền thống văn hóa hiếu học, là cái nôi củanhiều nhà danh nhân văn hóa

Trong khoảng 5 thế kỉ (từ thế kỉ XV trở đi), Sóc Sơn có hơn hai chục ngời

đỗ đại khoa, tức là từ Tiến sĩ trở lên, không kể Hơng cống, Cử nhân và những học

vị mới sau này

Trong số các địa phơng có nhiều ngời đỗ đạt cao phải kể đến Phủ Lỗ,Thanh Thủy Riêng Phủ Lỗ có 4 ngời đỗ đại khoa về văn là Nguyễn Tĩnh đỗ năm

1475, Nguyễn Dơng Hiền đỗ năm 1475, Nguyễn Thuận Lễ đỗ năm 1487,Nguyễn Đôn Mục đỗ năm 1547; Phủ Lỗ còn có 4 ngời đỗ đại khoa về võ( Tiến sĩ

Trang 13

võ) đều là ngời họ Trịnh: Trịnh Tự Đình đỗ năm 1754, Trịnh Tự Hiếu đỗ năm

1779, Trịnh Tự Thuần đỗ năm 1785, Trịnh Tự Thức đỗ năm 1785

Trong số các danh nhân, ngời thuộc huyện Sóc Sơn có thể kể vài vị códanh tiếng nh: Đỗ Nhuận, đỗ Tiến sĩ năm Bính Tuất (1466) đời Lê Quang Thuận(niên hiệu của Lê Thánh Tông), ông là Phó Nguyên soái Tao Đàn Đầu năm

1483, ông cùng Thân Nhân Trung (cũng là Phó Nguyên soái Tao Đàn) biên soạnsách “Thiên Nam d hạ tập ,” một loại văn sử Sau đó lại cùng Thân Nhân Trungthi hành việc dựng bia Tiến sĩ đầu tiên ở Văn Miếu, Hà Nội

Vợ chồng Ngô Chi Lan và Phù Thúc Hoành hai ngời cùng là danh nhân làmột điều hiếm có Bà quê ở Phù Lỗ, ông quê ở Phù Xá Bà giỏi văn thơ đợc vua

Lê Thánh Tông mời vào cung dạy các cung nữ và phong cho chức “Phù gia nữ sĩ học ” Tác phẩm của bà có tập “Mai Trang”và còn lại bảy bài Ông tự là Nhâm

Nhâm (có thể đỗ Hơng cống), làm học sĩ Hàn lâm viện Ông còn để lại 2 bài thơtrong “Toàn Việt thi lục” của Lê Quý Đôn

Đỗ Viễn, ngời làng Thống Thợng, tự là Hữu Khắc, hiệu là Phổ Sơn, đỗTiến sĩ năm Lê Hồng Đức thứ 9 (1478), đợc vua Thánh Tông đổi là Đỗ Cân Ông

có tài văn học, chính trị, đã làm tới chức Thợng th, tác phẩm của ông chỉ còn vàibài thơ chép (theo “Toàn Việt thi lục” của Lê Quý Đôn) [1, 17-18].

Truyền thống hiếu học của Sóc Sơn vẫn đợc thế hệ trẻ ngày nay kế tục,những năm gần đây Sóc Sơn có tỉ lệ học sinh đỗ Đại học, Cao đẳng tơng đối cao

Huyện Sóc Sơn nằm ở chỗ tiếp giáp của các tỉnh Phúc Yên, Bắc Ninh, TháiNguyên, có nhiều đờng giao thông thủy bộ chạy qua có vùng đồi núi ở phía TâyBắc, từ phía Đông Bắc đến phía Nam đợc bao quanh bởi một số con sông có đêxây dựng từ ngàn năm và qua các triều đại đều đợc tu bổ thêm, đông thời vùng

đất này qua các triều đại là địa bàn chiến lợc quân sự quan trọng, nhân dân địaphơng có truyền thống vẻ vang đánh giặc giữ làng bảo vệ đất nớc

Sóc Sơn tự hào vì đã trở thành một lũy thép bảo vệ Kinh thành Thăng Long

xa và Hà Nội ngày nay Nơi đây đã diễn ra những trận chiến đấu oanh liệt củacha ông ta chống giặc ngoại xâm làm nên truyền thuyết của anh hùng Gióng cỡingựa sắt nhổ khóm tre Đằng Ngà đánh tan giặc Ân bảo vệ đất nớc, cuộc chiến

đấu và chiến thắng quân Tống xâm lợc của Lý Thờng Kiệt bên bờ sông Nh

Trang 14

Nguyệt và biết bao những anh hùng khác mà chiến tích của họ đã góp phần viếtnên những trang sử vẻ vang của dân tộc.

Mở đầu cho trang sử chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập dân tộc làchiến công hiển hách đánh tan giặc Ân của anh hùng Gióng Theo truyền thuyết

đời vua Hùng thứ 6, giặc Ân đem quân xâm lợc nớc ta Đi đến đâu chúng cũng

c-ớp bóc của cải, tàn phá nhà cửa xóm làng, hãm hiếp dân chúng Vua Hùng phảihạ chiếu chỉ đi khắp nơi để cầu ngời tài giỏi ra đánh giặc cứu nớc Lúc bấy giờ, ởlàng Phù Đổng - huyện Gia Lâm đã xuất hiện một tớng tài mà ngời xa tôn làThánh Gióng, xin nhận với nhà vua đi đánh giặc Ân Thánh Gióng đánh đến đâugiặc Ân tan đến đó, giặc chết nh ngả rạ, thua bỏ chạy toán loạn Cuối cùng,Gióng đã dồn giặc Ân đến vùng Đa Phúc (Sóc Sơn ngày nay) Giặc tan, ThánhGióng dừng chân tại núi Sóc nhìn lại quê hơng đất nớc hùng vĩ rất đỗi tự hào, rồicởi áo giáp sắt, từ biệt vua Hùng, mẹ già, quê hơng, đất nớc ngời và ngựa bay vềtrời

Để tởng nhớ công đức của ngời anh hùng cứu nớc, nhà vua đã phong choGióng là Phù Đổng Thiên Vơng

Nhân dân địa phơng vùng núi Sóc nhớ công ơn Ngời đã lập đền thờ tại núiSóc (Cách mạng Tháng 8 - 1945 thành công, chính quyền về tay nhân dân, Nhànớc đã xếp hạng di tích lịch sử này) Hàng năm cứ đến ngày 6 tháng giêng âmlịch nhân dân địa phơng lại mở hội tng bừng tại đền Sóc để tởng nhớ nơi ThánhGióng bay về trời

Truyền thuyết về Thánh Gióng là một bản anh hùng ca của dân tộc ta, thểhiện tinh thần quyết chiến, quyết thắng giặc ngoại xâm của nhân dân ta Truyềnthuyết đó cũng ghi nhận Sóc Sơn là vùng đất đã diễn ra trận đánh quyết địnhThánh Gióng hoàn thành sứ mệnh quét sạch giặc Ân và bay về trời

Năm 1077, thời Lý Nhân Tông đang trị vì nớc ta, 30 vạn quân Tống (cómột vạn quân kỵ mã) do Chánh tớng Quách Quỳ và Phó tớng Triệu Tiết chỉ huy

đã ồ ạt vợt biên giới tiến vào nớc ta Quân ta do Lý Thờng Kiệt chỉ huy, bằng trậnquyết chiến trên bờ Bắc sông Nh Nguyệt (khúc sông ở địa phận xã Nh Nguyệt,huyện Yên Phong, Bắc Thái, bên này sông thuộc địa phận Sóc Sơn, Mê Linhngày nay) đã đánh tan quân xâm lợc, bảo tồn đợc độc lập dân tộc Với sự kiện

Trang 15

này đã ghi thêm một chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm củadân tộc và mãi là niềm t hào to lớn của nhân dân Sóc Sơn.

Trong “Đại Việt sử kí toàn th” tập I, NXB Khoa học xã hội 1972 trang 238

có chép: “Tục truyền rằng Lý Thờng Kiệt cho quân đi đắp luỹ, làm rào ở dọcsông để cố giữ Một đêm, các quân sĩ chợt nghe trong đền Trơng tớng quân(1) cótiếng ngâm to:

Nam quốc sơn hà Nam đế c

Tiệt nhiên định phận tại thiên th

Nh hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành kham thủ bại h

Dịch :

Sông núi nớc Nam vua Nam ở

Cõi bờ ngăn cách tự sách trời

Cớ chi quân giặc sang xâm lấn

Thất bại bay xem sẽ đến nơi

Rồi sau quả nhiên thế.” [1, 14-15]

Dới thời Trần Thái Tông, ngày 12 – 12 - 1257, tớng nhà Nguyên là NgộtLơng Hợp Thai đem quân sang xâm lợc nớc ta; quân Nguyên tiến vào nớc ta theohai đờng, hội nhau ở Việt Trì và Bạch Hạc Quân ta, dới sự chỉ huy trực tiếp của

Vũ Trần Thái, ngày 17 – 01 - 1258 đã chiến đấu anh dũng chống quân NguyênMông, bảo vệ Thăng Long Sau một trận chiến đấu ác liệt, quân ta đã rút lui vềPhù Lỗ, vừa đánh vừa bảo vệ vua Trần Thái Tông [1, 15]

Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, chúng đã phải đơng đầuvới sự chống trả quyết liệt của dân tộc ta, nổi bật lên là phong trào “Cần V ơng”.

Cùng nhân dân cả nớc, Sóc Sơn đứng dậy chống thực dân Pháp Ngay khi thựcdân Pháp bắt đầu xâm lợc nớc ta, cùng với các trận chiến đấu của ông cha ta dọcsông Hồng, phía Bắc Lập Thạch, vùng núi Tam Đảo (nay thuộc Vĩnh Phúc) mặttrận vùng Kim Anh - Đa Phúc cũng đợc mở rộng

Khi thực dân Pháp đem quân ra đánh Bắc kỳ lần thứ 3, trên đất Sóc Sơn,ngày 27 – 04 - 1884, nghĩa quân của Đốc Kết với 200 nghĩa sĩ dũng cảm tập

Trang 16

kích vào đội quân thám thính của giặc Pháp do tên thiếu uý Grivet chỉ huy, đóng

ở đồn Đa Phúc, tiêu diệt hàng trăm tên địch, thu nhiều vũ khí (Theo “Lịch sửVĩnh Phúc”, tập 1, trang 118)

Sau đó dới ngọn cờ Cần Vơng, còn có các cuộc kháng chiến chống Pháp

do các Thổ hào chỉ huy nh các ông: Trần Bốn, Đốc Huỳnh, Đốc Khoát, LãnhGiang liên tiếp nổ ra khắp vùng Kim Anh - Đa Phúc

Sang đầu thế kỉ XX, qua hàng chục năm ròng, có những trận chiến đấuquyết liệt của nghĩa quân Đề Thám diễn ra ở một số nơi thuộc huyện nh: ThắngTrí, Xuân Lai, Dợc Thợng chống thực dân Pháp xâm lợc.Thanh niên trong vùng

có một số ngời theo nghĩa quân Hoàng Hoa Thám và ông đã đặt một trạm tiềntiêu ở gò Đồng Cao (thuộc xã Phù Linh hiện nay) xung quanh có đào hào, đắpluỹ

Vùng Đa Phúc suốt từ Dợc Thợng đến Lơng Châu có đội Huân và đội

H-ơng nổi lên chống Pháp đã giành đợc một số thắng lợi và xây dựng đóng đồn ở

gò Đồng Cao Tiếp đó nghĩa quân phát triển căn cứ đến Lai Sơn, Xuân Bảngthuộc xã Nam Sơn ngày nay Thực dân Pháp đã đa quân về đàn áp hết sức dãman Hàng trăm ngời trong đó có cả nhân dân địa phơng đã bị chúng bắn giếthoặc đa đi tù đầy

Có thể nói, ngay từ thời kì Hùng Vơng dựng nớc cho đến đầu thế kỉ XX,qua các thời kì nhân dân ta chống xâm lợc phơng Bắc cũng nh thời kì nổi dạychống Pháp những năm cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, trớc khi Đảng cộngsản Việt Nam ra đời, vùng đất Sóc Sơn nhiều năm là bản doanh, là chiến tuyếncủa ông cha ta chống giặc Bằng sự trực tiếp tham gia hoặc giúp đỡ quân sĩ chốnggiặc, nhân dân các dân tộc Sóc Sơn đã thể hiện rõ tinh thần yêu nớc, hy sinh anhdũng của mình

Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, truyền thống cách mạng hào hùng,tinh thần yêu nớc vì độc lập tự do của ông cha ta tiếp tục đợc thế hệ con cháu trênmảnh đất Sóc Sơn anh hùng tô thắm

Ngày 17- 03 - 1933, chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của huyện đợc thànhlập tại ấp Tân Yên, xã Hồng Kỳ Đây cũng chính là chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnhPhúc Yên, tiếp đến là các chi bộ Xuân Kỳ - xã Đông Xuân, rồi lần lợt các tổ chức

Đảng đợc thành lập và lớn mạnh ở huyện Đa Phúc và ở huyện Kim Anh, lãnh

Trang 17

đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng ở khắp các xã trong huyện; nhiều địa phơng

đã trở thành cơ sở cách mạng ở Trung ơng và Xứ uỷ Bắc kì nh: Thôn Xuân Kỳ xã Đông Xuân, thôn Đình Phú - xã Minh Phú, thôn Xuân Tảo - xã Xuân Giang Mùa thu năm 1945, khi thời cơ cách mạng đến, dới sự lãnh đạo của Đảng, nhândân Sóc Sơn đã vùng lên khởi nghĩa lật đổ chế độ cũ giành chính quyền về taynhân dân vào ngày 19 – 08 - 1945 Trong 9 năm kháng chiến chống thực dânPháp xâm lợc (1945 - 1954), nhân dân Sóc Sơn luôn giữ vững tinh thần “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nớc, nhất định không chịu làm nô lệ”.

-Dới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Sóc Sơn đã mu trí, dũng cảm, kiên cờngbám đất, bám dân chiến đấu chống địch Những chiến sĩ du kích Sóc Sơn cùngvới bộ đội địa phơng C470, C472 phối hợp với bộ đội chủ lực đã liên tiếp tiếncông quân địch lập nên những chiến công lớn Những trận đánh diễn ra ở bãiNăm Cây, cống Thái Phù, bốt Cầu Đen, bốt Cầu Xây, ngã ba Thá đã làm kẻ thùkhiếp sợ Vừa chiến đấu, vừa bám làng sản xuất, vừa đóng góp sức ngời, sức củacho cuộc kháng chiến, Đảng bộ và nhân dân xã Sóc Sơn đã có những đóng gópxứng đáng vào thắng lợi của dân tộc [5, 10]

Cuộc chiến đấu giữa ta và địch trên địa bàn Sóc Sơn nằm trên phòng tuyếntrung du ở cửa ngõ phía Bắc của Hà Nội diễn ra hết sức ác liệt Từ tháng 07 -

1949 đến tháng 07 - 1954, trong 5 năm bị tạm chiếm, Đa Phúc - Kim Anh bị chà

đi sát lại, dồn làng đuổi dân, lập vành đai trắng, nhà cửa, thóc lúa, của cải củanhân dân bị địch đốt phá, cớp bóc nặng nề; cán bộ, bộ đội, du kích và nhân dân

từ cụ già đến em bé bị địch giết hại dã man Ngày giải phóng, nhiều nơi hầu nhkhông có một mái nhà, một cây cối, hầu nh không có gia đình nào là không cómất mát đau thơng Cán bộ đảng viên và nhân dân Đa Phúc -Kim Anh đã nêu caotinh thần chiến đấu xả thân vì độc lập, tự do [1, 103]

Gian khổ hiểm nghèo, dù đầu rơi máu chảy, nhân dân vẫn một lòng nuôidấu cán bộ, đảng viên và cán bộ, đảng viên vẫn một lòng vì nhân dân phục vụ.Nhân dân tin ở Đảng, Đảng tin ở nhân dân Đảng với nhân dân gắn bó máu thịt,

đồng cam cộng khổ Đó là nguồn gốc của thắng lợi

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơnevơ đợc kí kết (20 – 07 1954) lịch sử đã sang trang, Sóc Sơn cùng cả nớc bớc vào giai đoạn cách mạngmới xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống

Trang 18

-cách mạng, cán bộ, đảng viên và nhân dân Sóc Sơn đoàn kết tin tởng, quyết vợtqua mọi thử thách khó khăn, tập trung công sức hàn gắn vết thơng chiến tranh,khai hoang, phục hoá, khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, xây dng quêhơng giàu đẹp đồng thời cùng nhân dân miền Bắc thực hiện nhiệm vụ cải tạo vàxây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm tròn nhiệm vụ đối với miền Nam ruộtthịt, xứng đáng với những thế hệ đi trớc trong kháng chiến chống Pháp.

Khi đế quốc Mĩ mở rộng cuộc đấu tranh đánh phá miền Bắc, Sóc Sơn làtrọng điểm bị đánh phá ác liệt, nhiều khu vực trong huyện bị giặc Mĩ đánh phámang tính huỷ diệt Trớc những tội ác man rợ của kẻ thù, ý chí quật cờng củanhân dân Sóc Sơn ngày càng đợc hun đúc, càng đoàn kết một lòng với ý chí

không có gì quý hơn độc lập tự do” quyết tâm chiến đấu và chiến thắng giặc Mĩ.

Dới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân và các lực lợng vũ trang nhân dân SócSơn bình tĩnh, tự tin, biến đau thơng thành hành động cách mạng, vừa sản xuất,vừa chiến đấu, vừa chi viện sức ngời, sức của cho tiền tuyến lớn với tinh thần

thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một ng

ời, tất cả vì miền Nam ruột thịt” Các phong trào cách mạng đợc đẩy mạnh nh: Phong trào thanh niên “ba sẵn sàng ,” phụ nữ “ba đảm đang”, phụ lão “ba giỏi”, “mỗi ngời làm việc bằng 2”

vì miền Nam ruột thịt, giặc đến là đánh, giặc đi lại sản xuất [5, 10-11]

Trong các cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc để bảo vệ độc lập, tự docủa tổ quốc, hàng vạn thanh niên Sóc Sơn đã hăng hái lên đờng tòng quân giếtgiặc; 3.351 ngời con u tú của Sóc Sơn đã anh dũng hi sinh trên các chiến trờng,hàng trăm gia đình có từ 2 đến 3 con là liệt sĩ, 61 bà mẹ đã đợc Đảng và Nhà nớctôn vinh danh hiệu cao quí “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” [5, 11].

Mời năm đơng đầu trực tiếp với chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, vừakhôi phực kinh tế vừa chi viện cho miền Nam, Đảng bộ và nhân dân Sóc Sơn đãvợt qua bao khó khăn ác liệt, đóng góp sức ngời, sức của, kể cả xơng máu cùngquân dân cả nớc làm nên “Điện Biên Phủ trên không , ” góp phần vào chiến thắnglịch sử mùa xuân 1975, thống nhất đất nớc Từ năm 1965 - 1975 là thập niênoanh liệt nhất, hi sinh gian khổ nhất và cũng vinh quang nhất trong suốt chặng đ-ờng lịch sử cách mạng của quê hơng Sóc Sơn

Với những thành tích to lớn, những chiến công đặc biệt xuất sắc trong haicuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, nhân dân và lực lợng vũ

Trang 19

trang nhân dân huyện Sóc Sơn đã đợc Đảng, Nhà nớc tuyên dơng danh hiệu caoquí “anh hùng lực l ợng vũ trang” [5, 11]

Sau đại thắng mùa xuân 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nớcthống nhất, cả nớc đi lên chủ nghĩa xã hội Đảng bộ và nhân dân Sóc Sơn tiếp tụcphát huy truyền thống lịch sử - văn hoá của quê hơng mình, không ngừng phấn

đấu vơn lên, vợt qua mọi khó khăn, thử thách trong lao động cùng Thủ đô và cảnớc vững bớc tiến vào thời kì lịch sử mới

1.3 Tình hình kinh tế - xã hội Sóc Sơn trong những năm 1975 1985.

Chiến tranh đã qua đi, hoà bình đợc lập lại, nhân dân Sóc Sơn một lòngtheo Đảng, tiếp bớc con đờng mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn đó là cùng nhân dâncả nớc bớc vào thời kì cách mạng mới, thời kì cả nớc làm cách mạng xã hội chủnghĩa

Năm 1976, năm mở đầu kế hoạch 5 năm 1976 - 1980, nhiều sự kiện trọng

đại đánh dấu bớc ngoặt mới trong lịch sử dân tộc: Ngày 25 – 04 - 1976, cử tri cảnớc cầm lá phiếu bầu Quốc hội khoá VI - Quốc hội của nớc Việt Nam thốngnhất Ngày 02 – 07 - 1976 kì họp thứ nhất Quốc hội khoá VI đã quyết định đổitên nớc thành nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Thủ đô là Hà Nội Từ 14

- 12 đến 20 – 12 - 1976, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đảng lao độngViệt Nam quyết định đổi tên Đảng là Đảng cộng sản Việt Nam Thực hiện Nghịquyết Đại hội Đảng bộ Vĩnh Phúc lần thứ II, Đảng bộ và nhân dân Đa Phúc -Kim Anh đã kiên trì nỗ lực phấn đấu khắc phục khó khăn, ra sức hàn gắn vết th-

ơng chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế Với khí thế “tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì tổ quốc giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân ”, khắp Đa Phúc - Kim Anh đã dấy lên phong trào thi đua lập thành

tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV

Trong 10 năm (1975 - 1985), Sóc Sơn cùng nhân dân cả nớc bớc đầu xâydựng theo định hớng xã hội chủ nghĩa Sóc Sơn đã đạt đợc những thành tựu cơbản về kinh tế - xã hội

Trớc hết về kinh tế: Với một huyện mà nền kinh tế chủ yếu là kinh tế nôngnghiệp, nhiệm vụ trọng tâm của huyện trong những năm đầu sau chiến tranhchống Mĩ (1975 - 1985) là khôi phục và phát triển nông nghiệp

Trang 20

Tuy thời tiết diễn biến phức tạp, thiên tai khắc nghiệt gây khó khăn cho sảnxuất nhất là sản xuất nông nghiệp Nhng với phong trào “chiến dịch làm mùa”,

với khẩu hiệu “tất cả cho sản xuất nông nghiệp ”, nhân dân Sóc Sơn đã vợt qua

những khó khăn thử thách sau chiến tranh và thời tiết khắc nghiệt để hoàn thànhnhiệm vụ ổn định và phát triển sản xuất

Trong chỉ đạo, Huyện uỷ chủ trơng lấy thuỷ lợi và phân bón làm hai mũinhọn trong các biện pháp thâm canh Chỉ trong sáu tháng cuối năm 1977 đầunăm 1978, Huyện uỷ đã chủ động nâng cấp lắp đặt các trạm bơm điện Thạch Lỗi,Tân Dân, Thá, Tăng Long với công suất 13.000m3/h; ngoài ra còn xây dựng 11công trình thuỷ lợi khác Phong trào làm phân bón phát triển rộng khắp, có 22/29hợp tác xã tổ chức đợc đội phân chuyên trách với hơn 2.300 đội viên Vì vậy,sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt phát triển khá Nổi bật là vụ Đông - Xuân

1977 - 1978, diện tích, năng suất, sản lợng khoai lang, khoai tây vụ đông vợt mứccao so với các năm trớc, diện tích cây lơng thực vụ xuân vợt kế hoạch 6%, đặcbiệt cây màu đạt mức cao nhất bằng 110% kế hoạch, chiếm 45% diện tích nhómcây lơng thực, là sự chuyển biến mới về sản xuất hoa màu cho huyện Giao nộpnghĩa vụ nông sản cho Nhà nớc nhanh, gọn đạt chỉ tiêu kế hoạch tỉnh giao; riêngthịt lợn 3 tháng cuối năm 1977 giao nộp gấp 3 lần 9 tháng đầu năm [2, 75]

Bớc sang năm 1981, từ kinh nghiệm chỉ đạo thực hiện khoán trong nôngnghiệp những năm 1979 - 1980, nhất là sự chủ động chuyển đổi qui mô tổ chức

đội sản xuất và hình thức khoán sản phẩm đến ngời lao động cuối năm 1980, toànhuyện bớc vào triển khai thực hiện “khoán 100” với khí thế khẩn trơng, sôi nổi.

Chỉ qua vụ Đông Xuân và vụ mùa đã khẳng định u thế của cách khoán mới; lợiích đã thực sự trở thành động lực kích thích sản xuất; đồng ruộng Sóc Sơn nhộnnhịp đầy sức sống, nông dân đổ ra đồng 10-12h/ngày; tự bỏ tiền ra mua hànghàng trăm tấn phân đạm, hàng ngàn trâu bò cày kéo Thắng lợi của “khoán 100”

thể hiện bằng kết quả sản xuất của năm 1981, nông nghiệp đã ngăn chặn đợc tìnhtrạng giảm sút quá nhiều; diện tích, năng suất, sản lợng cây trồng tăng khá; trong

đó lúa 2 vụ diện tích tăng 13%, năng suất tăng 8%, sản lợng lơng thực qui thóctăng 14% so với năm 1980 Chăn nuôi tập thể và gia đình phát triển mạnh Tổng

đàn gia súc năm 1981 đạt số lợng cao nhất từ trớc đến nay; trong đó trâu bò có15.000 con, lợn có 41.000 con, đạt 108% kế hoạch, tăng 10% so với năm 1980[2, 88]

Trang 21

Năm 1982 sản xuất nông nghiệp của huyện thắng lợi toàn diện, là năm đợcmùa lớn vợt các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nớc So với năm 1981 nhiều mặt hàng tăngkhá: Tổng sản phẩm lơng thực tăng 9%, đàn trâu tăng 1,3%, bò tăng 84,1%, lợntăng 16% Các tiến bộ khoa học đợc áp dụng rộng rãi trong quá trình sản xuất,nổi bật là những giống lúa mới năng suất cao chiếm 40 - 50% diện tích canh tác[2, 90]

Trong 3 năm thực hiện nhiệm vụ của Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III(1983 - 1985) có 7 vụ sản xuất chính thì 5 vụ thiên nhiên gây thiệt hại lớn Trong

đó, vụ Đông Xuân 1983 - 1985 đều gặp phải thời tiết rét đậm kéo dài, mạ và lúa

bị chết, phải gieo cấy nhiều lần; trâu bò chết rét và dịch bệnh gây thiếu sức kéonghiêm trọng (vụ rét 1983 chết 50 con, 1984 chết 1.300 con), vụ mùa bị bão lụt,sâu bệnh tàn phá nặng nề; riêng cơn bão số 5 và số 6 năm 1983 gây thiệt hại1.000 ha lúa, hoa màu; cơn bão số 4 kèm theo ma lớn đầu tháng 9 - 1985 làm úngngập nặng hơn 2.200 ha lúa ; đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn [2, 93]

Tuy nhiên, dới sự chỉ đạo của Huyện uỷ, UBND huyện, cấp uỷ, chínhquyền cấp xã, nhân dân Sóc Sơn đã vơn lên, vợt qua những khó khăn đó Vì vậy

so với 3 năm 1980 - 1982, chỉ có sản lợng lúa giảm; nhng rau màu, cây côngnghiệp, chăn nuôi đều tăng khá nên tổng giá trị sản lợng nông nghiệp vẫn tăng36%, nhiều hợp tác xã đạt bình quân 5 tấn/ha, đại bộ phận gia đình xã viên đạtsản lợng khoán hợp tác xã Đặc biệt bắt đầu từ Đại hội III đã nêu t tởng quyếttâm làm giàu từ cây thuốc lá nên nhiều năm trớc chỉ trồng đợc 500 ha trở xuống,riêng vụ xuân năm 1983 đã trồng hơn 700 ha và từ đó mỗi năm tăng từ 1 đến 200

ha Đến năm 1985 cả huyện trồng gần 1.000 ha thuốc lá cả 2 vụ ( Xuân và

Đông) Thuốc lá phát triển nhân dân có tiền, hợp tác xã có thuốc lá trao đổi, vốnhợp tác xã tăng, ngân sách huyện khá lên, đời sống cơ sở vật chất ngày càng đợccải thện [2, 93]

Sản xuất công - tiểu thủ công nghiệp mở rộng Năm 1981 so với năm 1980,giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tăng 21,7% Năm

1982, sản xuất công nghiệp trên địa bàn có mức tăng trởng khá Giá trị tổng sảnlợng đạt 117% kế hoạch và tăng 29% so với năm 1981 Trong đó công nghiệpquốc doanh đạt 110% kế hoạch, tăng 7%, tiểu thủ công nghiệp đạt 118% kếhoạch, tăng 22% so với 1981 [2, 91]

Trang 22

Từ 1983 - 1985, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong điềukiện nguyên, nhiên liệu thiếu gay gắt, nhà nớc chỉ cung ứng đợc 30 - 40%, nhngcác cơ sở sản xuất đã phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, khai thác mọi tiềmnăng để giữ vững và phát triển sản xuất, phấn đấu đa giá trị tổng sản lợng côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện bình quân hàng năm tăng 40 - 42% Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp cố gắng sử dụng nguyên, vật liệu tại chỗ, khaithác nguồn hàng, tìm kiếm khách hàng để phát triển thêm ngành nghề và phụchồi những mặt hàng truyền thống Các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, chếbiến nông sản thực phẩm, thêu ren, may mặc đạt kết quả khá, góp phần phâncông lao động tại chỗ, giải quyết việc làm cho 1.930 lao động thủ công nghiệp và3.070 lao động thủ công trong nông nghiệp [2, 94]

Ngành thơng nghiệp huyện đợc thành phố phân cấp quản lí nh: Công ty vật

t tổng hợp và dịch vụ ăn uống; Công ty bách hoá, Công ty thực phẩm cấp 3 đã

đợc sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, cải tiến công tác quản lí, bảo đảm các đơn vị phục

vụ ngày càng tốt hơn sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện; nhất là cungứng vật t, nguyên liệu, dịch vụ cho sản xuất, hàng tiêu dùng sinh hoạt cho nhândân và hàng cung cấp định lợng cho cán bộ, công nhân viên chức

Mạng lới hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng phát triển đều khắp, thực

sự là trợ thủ đắc lực cho hợp tác xã nông nghiệp và là ngời nội trợ cho nhân dân;bảo đảm cung ứng phục vụ vật t, công cụ sản xuất, hàng tiêu dùng thiết yếu, thumua nông sản, thực phẩm cho nhà nớc, huy động nguồn vốn tín dụng phục vụcho sản xuất, kinh doanh

Đặc biệt năm 1985, lĩnh vực phân phối lu thông của huyện luôn biến độngphức tạp, nóng bỏng Những tháng cuối năm, thực hiện Nghị quyết Đại hội Trung

ơng lần thứ 8 (khoá V), Nghị quyết 28 của Bộ chính trị, việc chỉ đạo đổi tiền theogiá mới đợc triển khai nhanh, dồn dập trên địa bàn huyện Huyện đã mở rộngmạng lới thơng nghiệp, tổ chức thêm 29 buổi bán hàng, phấn đấu thờng xuyênlàm chủ thị trờng đối với các mặt hàng thiết yếu; đồng thời tăng cờng quản lý thịtrờng, sắp xếp lại các chợ và tụ điểm bán hàng, kiểm tra chặt chẽ việc niêm yếtgiá…

Phong trào xây dựng cơ sở hạ tầng đợc phát động mạnh mẽ trong toànhuyện, mỗi năm có hàng chục, hàng vạn ngày công làm thuỷ lợi, làm 3 - 4 vạnm3 đê Năm 1985, triển khai công trình trạm bơm Tân Hng kết hợp tới tiêu, công

Trang 23

suất thiết kế tới 700 ha, tiêu hơn 300 ha Các đờng giao thông, mạng lới điện đợcchăm lo sửa chữa nâng cấp từng phần.

Cùng với phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hoá xã hội của huyện đợc quantâm chỉ đạo và có chuyển biến tiến bộ Sự nghiệp giáo dục phát triển từng bớc, cơ

sở vật chất đợc tăng cờng đáng kể, một số trờng xây dựng hai tầng kiên cố nh ờng cấp III Phù Lỗ, Trờng PTCS Tiên Dợc, rồi lần lợt đến các Trờng Phú Minh,Phù Linh Tỉ lệ tốt nghiệp phổ thông và lên lớp cao… Năm 1981, 96% học sinhcấp I, cấp II đợc lên lớp; xây dựng thêm 24 lớp học, sửa chữa nâng cấp 500 lớp

Tr-Đến năm 1985 toàn huyện có 34 nhà trẻ, thu hút 35% cháu trong độ tuổi

Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân có bớc phát triển mới, đã đầu txây dựng phòng sản ở các xã, mở rộng hệ thống giờng bệnh tại các trạm xá Vận

động kế hoạch hoá gia đình đạt kết quả rõ nét, tỉ lệ tăng dân số từ2,1% năm 1984 xuống 1,9% năm 1985 [2, 96]

Phong trào văn nghệ quần chúng năm 1985 phát triển mạnh, đã có 41 đơn

vị với 780 diễn viên tham gia biểu diễn, 1.200 tiết mục có chất lợng tốt

Phong trào thể dục thể thao rèn luyện sức khoẻ phát triển rộng khắp Trongmùa thi đấu của Thành phố năm 1985, đội tuyển bóng đá huyện đạt giải nhì, độituyển việt dã đạt giải nhất Công tác thơng binh xã hội đợc đặc biệt quan tâm.Việc xét duyệt, cấp phát chế độ cho các đối tợng chính sách bảo đảm kịp thời

Công tác giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đựơc đẩy mạnh.Lực lợng công an huyện đạt thành tích xuất sắc trong thi đua thực hiện 6 lời dạycủa Bác Hồ Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc và xây dựng lực lợngquốc phòng toàn dân tiếp tục giữ vững

Bộ máy chính quyền huyện từ sau khi đợc phân cấp toàn diện đã tiến hànhsắp xếp lại, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ cố gắng phát huy hiệu lực trongquản lí kinh tế xã hội Huyện chú trọng củng cố chính quyền cấp xã; năm 1985

đã tổ chức bầu bổ sung 26 uỷ viên UBND xã; trong đó có 15 Chủ tịch, Phó Chủtịch Công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ đợc đẩy mạnh [2, 98]

Bên cạnh những thành tựu đạt đợc, tình hình kinh tế Sóc Sơn trớc đổi mớivẫn còn tồn tại nhiều hạn chế

Trang 24

Tuy nông nghiệp là mục tiêu hàng đầu luôn đợc quan tâm hơn nhng trongnông nghiệp cha phát triển một cách toàn diện, cha ổn định, còn bị gián

đoạn.Trong sản xuất nông nghiệp, qua tổng kết thấy rõ hình thức khoán sản phẩm

đến ngời lao động với cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày, do vậy kết quả sảnxuất tăng.Tuy nhiên đó chỉ là bớc đầu, xét cho cùng nó mang nặng tính bìnhquân chủ nghĩa, không kích thích đợc ngời lao động, họ nhận việc gì thanh toánviệc đó, không quan tâm đến kết quả cuối cùng Mặt khác, thực tiễn cho thấy quimô đội sản xuất quá lớn, trình độ đội ngũ lãnh đạo không đủ sức quản lí, điềuhành sản xuất, mang nặng dấu ấn của quản lí tập trung quan liêu bao cấp, dẫn tớikìm hãm nặng nề sự phát triển sản xuất Cây công nghiệp xuất khẩu cha pháttriển, chăn nuôi cha cân đối với trồng trọt, trong chăn nuôi chỉ chú ý đầu t pháttriển sức kéo là trâu bò, cha chú ý nhiều đến phát triển chăn nuôi gia súc, giacầm

Về công nghiệp - thủ công nghiệp cha đợc nhà nớc chú trọng đầu t,nguyên, nhiên liệu thiếu gay gắt chủ yếu là nguồn nguyên vật liệu tại chỗ có hạn.Sản phẩm sản xuất ra cha có thị trờng tiêu thụ rộng, các ngành nghề truyền thốngcha có điều kiện phục hồi và phát triển

Hoạt động tài chính ngân hàng và phân phối lu thông cha đáp ứng yêu cầusản xuất cho đời sống nhân dân và làm chủ thị trờng, phơng pháp phân phối cònnhiều khuyết điểm sai lầm, không đúng đối tợng dẫn tới sản xuất kinh doanh

đình đốn, vật t, hàng hoá ngày càng khan hiếm, giá cả tăng vọt, đồng tiền mất giánhanh chóng, chính sách thu mua, đối lu hàng hoá nông sản của nhà nớc cha phùhợp, cha kích thích sản xuất, đời sống cán bộ công nhân viên chức và nông dângặp nhiều khó khăn, nạn đói trong nông dân kéo dài gay gắt

Giao thông là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế, nhng trong 10năm (1975 - 1985) bộ mặt giao thông của huyện cha có thay đổi cơ bản, đờng sáxuống cấp h hại gây cho việc đi lại và lu thông hàng hoá gặp nhiều khó khăn

Nguyên nhân trên là điều khiến cho kinh tế Sóc Sơn gặp nhiều khó khăn,nền sản xuất chính vẫn là sản xuất nông nghiệp lạc hậu, kĩ thuật canh tác chaphát triển, đời sống nhân dân còn thiếu thốn Thêm vào đó, bộ máy quản lí cồngkềnh, các tiêu cực phát sinh, làm việc quan liêu buông lỏng, đội ngũ cán bộ, khoahọc kĩ thuật còn ít và trình độ cha cao, do đó việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào

Trang 25

sản xuất cha tốt, gây ảnh hởng tới năng suất lao động và lòng tin của quần chúngnhân dân.

Về văn hoá xã hội, tuy đạt đợc một số thành tựu nhất định nhng nhìnchung văn hoá, giáo dục, y tế của Sóc Sơn vẫn còn yếu kém, nghèo nàn Đội ngũcán bộ văn hoá còn yếu kém về trình độ, phẩm chất năng lực còn yếu Truyềnthống hiếu học giảm sút, tình trạng học sinh bỏ học nhiều Trong y tế, hệ thốnggiờng bệnh tuy đợc mở rộng song cha đủ đáp ứng yêu cầu của ngời bệnh, cơ sởhạ tầng kém, công tác quản lí bệnh viện và trạm y tế xã cha tốt, thuốc còn thiếu Dân số tăng nhanh, tỉ lệ ngời thiếu việc làm lớn An ninh trật tự diễn biến phứctạp, các thế lực phản động, thù địch vẫn tăng cờng chiến tranh tâm lí, hoạt độngchống phá cách mạng T tởng của Đảng viên, nhân dân còn nhiều lo lắng Cơ sở

Đảng đến năm 1985 mới cơ bản xoá đợc tình trạng yếu kém Tất cả đều gây khókhăn, phức tạp cho huyện trong quá trình xây dựng và phát triển

Mời năm sau ngày đất nớc thống nhất (1975 - 1985) cũng là 10 năm khókhăn chồng chất, đất nớc vẫn còn trong hoàn cảnh vừa có hoà bình vừa có chiếntranh; các thế lực thù địch trong và ngoài nớc âm mu cấu kết tiến hành cuộcchiến tranh phá hoại nhiều mặt, chống phá cách mạng nớc ta; thiên tai liên tiếpxảy ra, tàn phá tài sản, mùa màng nghiêm trọng; cơ chế quản lí tập trung quanliêu bao cấp kìm hãm nặng nề kinh tế Sản xuất kinh doanh đình đốn, vật t, hànghoá ngày càng khan hiếm, giá cả tăng vọt, đồng tiền mất giá, đời sống công nhânviên và nông dân khó khăn gay gắt Trớc tình trạng khó khăn chung của cả nớc,Sóc Sơn trong 10 năm (1976 - 1985) cũng lâm vào tình trạng kinh tế - xã hộikhủng hoảng trầm trọng; văn hoá giáo dục còn thấp kém, xã hội biểu hiện nhiềutiêu cực đã ảnh hởng mạnh mẽ đến niềm tin của quần chúng nhân dân đối với

Đảng, Nhà nớc và các cấp chính quyền Song dới sự lãnh đạo sáng suốt củaTrung ơng Đảng, Chính phủ; sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, UBNDthành phố Hà Nội, Đảng bộ và nhân dân huyện Sóc Sơn đã phát huy truyền thốnglao động cần cù, sáng tạo trong lao động, anh dũng kiên cờng trong chiến đấu,lần lợt vợt qua mọi khó khăn, vững vàng trong thử thách cùng Thủ đô và cả nớc

đạt nhiều thành tựu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo tiền đề quantrọng cho sự nghiệp đổi mới trong giai đoạn tiếp theo

Trang 26

Chơng 2

Sóc sơn trong 10 năm đầu đổi mới

(1986 1995)

2.1.chủ trơng đờng lối đổi mới của đảng.

Mời năm sau ngày đất nớc thống nhất (1975 - 1985) là mời năm khó khănchồng chất, đất nớc vẫn còn trong hoàn cảnh vừa có hoà bình, vừa có chiến tranh,nhng cũng là 10 năm đất nớc ta đi vào chặng đờng đầu tiên của thời thời kì quá

độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta đã có điều kiện nhận thức sâu sắc hơn chặng ờng đó Đó là thời kì hậu quả cuộc chiến tranh lâu dài trớc đây và cả những cuộcchiến tranh mới, tàn d của chế độ cũ, là những trở ngại lớn trên con đờng pháttriển của đất nớc Bằng những thành tựu đạt đợc trong sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội, chúng ta từng bớc vợt qua những trở ngại, khắc phục một bớc sự lạchậu về kinh tế, đặt những cơ sở đầu tiên cho bớc phát triển mới Mặc dù chúng tacha tiến xa mấy so với điểm xuất phát quá thấp Đứng trớc thực trạng kinh tế –xã hội phức tạp đòi hỏi Đảng phải có một quyết sách để xoay chuyển tình hình,khắc phục những sai lầm khuyết điểm để đa đất nớc vợt qua cuộc khủng hoảng,tạo một bớc ngoặt cho sự phát triển

đ-Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (12 - 1986) là

Đại hội đánh dấu bớc ngoặt có ý nghĩa quyết định trong quá trình phát triển của

đất nớc Đại hội đề ra đờng lối đổi mới một cách toàn diện, trên tất cả các lĩnhvực, từ đổi mới kinh tế, chính trị đến đổi mới về t tởng văn hoá Đổi mới về kinh

tế không thể không đi đôi đổi mới về chính trị nhng trọng tâm là đổi mới về kinh

tế, đó là một “việc làm cấp bách”, đồng thời đó là một việc thờng xuyên, lâu dài.

Đổi mới chính trị phải tích cực, nhng vững chắc, mang lại kết quả thực tế, khônggây mất ổn định về chính trị, không làm phơng hại đến toàn bộ công cuộc đổimới Đại hội cũng xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của chặng đ-ờng đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế – xã hội, mà quan trọng nhất

là ổn định đời sống vật chất và văn hoá Muốn thực hiện những mục tiêu tổngquát của chặng đờng đầu tiên thì trong 5 năm trớc mắt (1986 - 1990) phải thật sựtập trung sức ngời sức của vào việc thực hiện đợc 3 chơng trình kinh tế về lơngthực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Nội dung 3 chơng trình kinh

tế là sự cụ thể hoá nội dung chính trong công nghiệp hoá xây dựng xã hội chủnghĩa trong chặng đờng đầu tiên Đồng thời tăng cờng các nhiệm vụ cải tạo khoa

Trang 27

học công nghệ một cách thờng xuyên, tích cực với những bớc đi thích hợp nhằmthúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, kiên quyết xoá bỏ chế độ tập trung quanliêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trờng, kế hoạch hoá theo phơng thức hoạchtoán kinh doanh, tập trung dân chủ Khoa học kĩ thuật có ý nghĩa quyết định đốivới việc đổi mới kinh tế vì vậy phải luôn coi trọng công tác khoa học và kĩ thuật

để đa nhanh tiến bộ khoa học vào đời sống và sản xuất Hơn lúc nào hết phải kếthợp chặt chẽ kinh tế với xã hội, xã hội với kinh tế Khoa học và công nghệ, giáodục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dỡng ngời tài Vì vậycần phải giải quyết các vấn đề xã hội từ việc làm cho đến đời sống vật chất vàvăn hoá Giáo dục và đào tạo phải thật sự trở thành “quốc sách hàng đầu” Bằng

nhiều hình thức khác nhau, bảo đảm cho mọi ngời đợc học hành

Những nhiệm vụ, kế hoạch, mục tiêu mà Đại hội VI của Đảng vạch ra đã

đợc cụ thể đến từng địa phơng và dới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân tích cựcthực hiện công cuộc đổi mới trên tất cả các mặt

Sóc Sơn cũng nh khắp các địa phơng trên cả nớc, đã thấy đợc tình hình vànhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới là cần thiết phải đổi mới Năm

1986, đợc mở đầu bằng Đại hội Đảng bộ huyện Sóc Sơn lần thứ IV(từ 16 đến 21– 1 - 1986) với 296 đại biểu Đại hội đã kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của

Đảng bộ khoá III, đề ra phơng hớng, mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của thời kì 1986

1990 Tiếp theo, Đại hội Đảng bộ Sóc Sơn lần thứ V (họp từ 17 đến 19 – 1

-1989 với 264 đại biểu) tiếp tục khẳng định ý chí của toàn Đảng, toàn dân huyệnSóc Sơn, để phát huy thế mạnh khắc phục khó khăn, yếu kém Đại hội quyết địnhphơng hớng, nhiệm vụ, mục tiêu cho năm 1989 - 1990, kiên định đi theo con đ-ờng đổi mới của Đảng: “nỗ lực phấn đấu, chủ động sáng tạo, thực sự đổi mới; tr-

ớc hết là đổi mới về phơng cách lãnh đạo và làm việc… Tập trung mọi cố gắng thực hiện có hiệu quả hai nhiệm vụ:

1 Tạo ra chuyển biến rõ rệt về kinh tế, xã hội, đẩy mạnh sản xuất, ổn định

và cải thiện một bớc đời sống nhân dân, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, tăng cờng khả năng quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, có tiến bộ về trật tự an toàn xã hội, tạo tiền đề vật chất cho những năm tiếp theo.

2 Tiếp tục đổi mới và tạo ra tiến bộ về công tác xây dựng Đảng, cả về t tởng,

tổ chức cán bộ, chất lợng đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng”

Trang 28

Đại hội Đại biểu Đảng bộ Sóc Sơn lần thứ VI (1991) tiếp tục kiểm điểm,

đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ và xây dựng mục tiêu cho thời gian tới

là “Xây dựng huyện Sóc Sơn ổn định về chính trị, đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, cải thiện một bớc đời sống nhân dân” [ 5, 83] .

Với vị trí, trách nhiệm và tiềm năng của huyện, cộng với sự giúp đỡ cóhiệu quả của Nhà nớc và Thành phố, Đảng bộ huyện đã đề ra những nhiệm vụ

đổi mới kinh tế - xã hội trong 10 năm (1986 - 1995)

Trớc hết về sản xuất nông nghiệp: Trong giai đoạn đầu của thời kì đổi mới(1986 - 1990) là xác định phát triển nông nghiệp toàn diện, ra sức thâm canhtăng vụ Nhiệm vụ hàng đầu là sản xuất cây lơng thực, cây màu, cây nông sảnxuất khẩu, phát triển cây vụ đông Từng bớc tổ chức lại và nâng cao hiệu quảquản lý trong nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ chính trị vàNghị quyết Đại hội VIII Đẩy mạnh thâm canh mở rộng vụ đông Phát triểndiện tích gieo trồng, tăng cờng ứng dụng các tiến bộ khoa học - kĩ thuật vềgiống, phân bón, bảo vệ thực vật và các biện pháp canh tác; phấn đấu đến năm

1995 đạt 28.000 ha diện tích gieo trồng, tổng sản lợng lơng thực là 63.000tấn, bình quân đầu ngời 300 kg/ngời/năm

Đẩy mạnh trồng rừng tập trung theo hớng vừa mở rộng diện tích, vừa thâmcanh, coi trọng trồng cây phân tán Tranh thủ mọi nguồn vốn cho trồng rừng.Phát triển mạnh chăn nuôi, phấn đấu từng bớc đa chăn nuôi trở thành ngànhchính Đẩy mạnh chăn nuôi lợn, trâu, bò và đàn gia cầm Phát triển các mặthàng tiêu dùng và xuất khẩu

Tiểu, thủ công nghiệp: tiếp tục vợt qua những thử thách, đổi mới mạnh mẽcông tác quản lý kinh tế trong tình hình mới, tích cực tổ chức lại sản xuất theoQuyết định 176/hđbt của Hội đồng bộ trởng và chủ trơng của Thành phố

Đẩy mạnh hoạt động của các ngành văn hoá - xã hội nhằm nâng cao dântrí của nhân dân Quán triệt nâng cao hơn nữa hai nhiệm vụ chiến lợc của

Đảng là: làm tốt công tác an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, quốc phòngvững mạnh cả về chính trị và quân sự Đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạocủa cấp uỷ, tổ chức cơ sở Đảng, chất lợng đảng viên và sinh hoạt chi bộ; pháthuy hiệu lực quản lý nhà nớc, hoạt động của các đoàn thể xã hội [5, 83 - 84].Mặt trận tổ quốc huyện và đoàn thể quần chúng các cấp bớc đầu củng cố

và kiện toàn tổ chức, đổi mới phơng thức hoạt động cho phù hợp với tình hình

Trang 29

nhiệm vụ mới, theo Nghị quyết VII của Trung ơng, tổ chức và phát động cácphong trào quần chúng, thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Đại hộihuyện lần thứ IV và V đề ra nh: đoàn thanh niên có các phong trào “Thâm canh vợt khoán , Xây dựng các đội chuyên , Thanh” “ ” “ niên giỏi nghề nông”

trong nông nghiệp; “Ngời lao động giỏi” trong công nghiệp Hội phụ nữ có

các phong trào “Giúp nhau làm kinh tế gia đình , Giúp nhau lúc giáp hạt” “ ”,viết th gửi quà cho các chiến sĩ biên giới và đảo Trờng Sa; thực hiện kế hoạchhoá gia đình, “Vì trẻ thơ, nuôi con khoẻ dạy con ngoan”, làm chính sách hậu

phơng quân đội, giúp các gia đình thơng binh, liệt sĩ,… Hội nông dân tổ chức

Hội làm vờn , Hội mẹ chiến sĩ , Hội bảo thọ” “ ” “ ”, phát động phong trào vac,làm “ Ao cá Bác Hồ”, vờn cây ăn quả … [2, 116]

2.2 những thành tựu và hạn chế trong thời kì đầu thực hiện

đổi mới (1986 - 1990).

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12 - 1986) đã đánh dấu một mốc lịch

sử quan trọng trong sự nghiệp đổi mới của đất nớc Dới ánh sáng Nghị quyết Đạihội VI của Đảng, sự nghiệp đổi mới của Sóc Sơn đã mang lại những kết quả bớc

đầu và có ý nghĩa hết sức quan trọng Chỉ sau 5 năm kể từ 1986 đến 1990 SócSơn đã đạt những thành tựu cơ bản trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

tế của Sóc Sơn không những đứng vững mà còn đạt đợc những thành tựu nổi bật,khắc phục đợc nhiều mặt đình đốn và suy thoái, tốc độ tăng trởng khá và liên tụctrong các năm

Một năm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội

Đảng bộ Thành phố lần thứ IX và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IV,Sóc Sơn đã vợt chỉ tiêu kế hoạch đề ra trên các mặt nông – lâm – công nghiệp.Tổng diện tích gieo trồng là 22.244 ha, trong đó lúa cả năm là 14.139 ha, đạt101% kế hoạch; ngô 1.144 ha, đạt 120% kế hoạch Nhng do bão lụt, nên năngsuất cây trông đạt thấp Chăn nuôi phát triển khá với 10.500 con trâu, 9.900 con

bò, 43.400 con lợn Toàn huyện trồng đợc 550 ha rừng, 78 vờn ơm cây giống Giá

Trang 30

trị tổng sản lợng công nghiệp quốc doanh thuộc huyện đạt 8.900.000 đồng, đạt102% kế hoạch Các xí nghiệp thuộc công nghiệp Trung ơng bớc đầu thực hiệnNghị quyết dự thảo của Bộ chính trị về quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh.Tiểu thủ công nghiệp đạt 52.824.000 đồng, đạt 104 % kế hoạch [2, 101 - 102].

Đó là những thuận lợi cơ bản để sau khi có ánh sáng mới Nghị quyết của

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12 - 1986), Nghị quyết của Đảng bộ Thànhphố Hà Nội lần thứ X, Đảng bộ và nhân dân Sóc Sơn cùng Thủ đô vững bớc vàothời kì mới

Với sự giúp đỡ có hiệu quả của Nhà nớc và Thành phố, Đảng bộ và nhândân Sóc Sơn đã quyết tâm phấn đấu tiếp tục thực hiện Nghị quyết mà Đại hội

Đảng bộ huyện lần thứ IV và V đề ra trong hoàn cảnh và điều kiện mới

Trong nông nghiệp: 5 năm đầu, Sóc Sơn đã vận dụng sáng tạo những chủtrơng, chính sách của Đảng, Nhà nớc, cùng với kinh nghiệm đợc tích luỹ Huyện

uỷ và Uỷ ban nhân dân chú trọng chỉ đạo các xã bố trí lại cơ cấu cây trồng, ứngdụng tiến bộ khoa học - kĩ thuật rộng rãi vào các khâu giống, phân bón, mà trớctiên là tập trung mũi nhọn vào công tác thủy lợi để đối phó với tình trạng hạnhán, úng lụt thờng xuyên

Từ năm 1988, cơ cấu kinh tế nông – công – lâm nghiệp – dịch vụ đợchình thành trên địa bàn huyện để khai thác tiềm năng của địa phơng, đồng thờiSóc Sơn cũng thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, thực hiện cơ chế “khoán theo đơn giá, thanh toán gọn” trong các hợp tác xã nông nghiệp Trên tinh thần

ấy, ruộng đất đợc giao khoán đến hộ nông dân Từ đây, nông dân đợc chủ độngtrên mảnh ruộng mà mình nhận khoán Một số hợp tác xã đã thực hiện khoán 10khá tốt nh: Đức Hoà, Thanh Xuân, Phú Tàng, Phú Minh Cũng từ khoán 10 mà b-

ớc đầu diện tích gieo trồng đợc mở rộng bằng khai hoang, phục hoá Cây trồngtrong từng mùa vụ đợc bố trí hợp lý hơn Phong trào trồng cây vụ đông đợc đẩymạnh Do đó, một số cây lơng thực, thực phẩm đạt diện tích và năng suất khá.Năm 1987, lơng thực quy thóc đạt 40.738 tấn Ngô vụ đông từ 10 tạ/ha (1986)lên 15 tạ/ ha (1987) Năm 1988, sản lợng ngô đạt 3.315 tấn, tăng 107% so vớinăm 1987 Đặc biệt, hoa xuất khẩu đã đợc làm thí điểm ở hợp tác xã Phú Minh.Riêng cây thuốc lá tiếp tục phát triển mạnh từ năm 1986 đến 1987… Thời kì này,ngoài trạm thuốc lá Thăng Long, đã xuất hiện một số t nhân làm dịch vụ mua bánthuốc lá và giàu lên nhanh chóng [2, 104]

Trang 31

Mặc dù đã đạt đợc những kết quả bớc đầu, nhng nhìn chung, sản xuất nôngnghiệp của huyện vẫn bị lệ thuộc nặng vào thiên nhiên, úng hạn cha đợc giảiquyết căn bản làm cho tổng sản lợng nông nghiệp hàng năm đều thấp Chẳng hạn

nh năm 1988, do hạn hán kéo dài, sâu bệnh hoành, hành tổng sản lợng lơng thựcchỉ đạt 34.227 tấn, bằng 98% so với năm 1987, trong đó lúa giảm 5%, thuốc lágiảm 4% [2, 105] Tình trạng trên đã tác mạnh đến đời sống hàng ngày của nôngdân, ngời dân thiếu ăn nghiêm trọng Vụ giáp hạt đầu năm 1988 có tới 65% số hộthiêu lợng thực, trong đó 23% số hộ và 24% số nhân khẩu đói gay gắt [2, 105]

Đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn, thiếu thốn Trớc tình hình đó đòi hỏi

Đảng bộ và nhân dân Sóc Sơn phải có những biện pháp tích cực, phù hợp để đahuyện thoát khỏi tình trạng đó

Rút kinh nghiệm các năm trớc, từ năm 1989, huyện chỉ đạo các hợp tác xã

đẩy mạnh tổ chức lại sản xuất để giải phóng năng lực sản xuất, tạo đòn bẩy thúc

đẩy sản xuất phát triển theo hớng sản xuất hàng hoá Tiếp tục thực hiện Nghịquyết 10 của Bộ chính trị và Nghị quyết 02 của Huyện uỷ, các hợp tác xã đã xác

định rõ ràng 2 quỹ đất, mức thuế và phần giao nộp hợp tác xã, tổ chức lại dịch vụnông nghiệp, giảm các khâu trung gian trong bộ máy hành chính, tạo điều kiệncho nông dân thực sự làm chủ và phát huy tiềm năng sản xuất trên ruộng nhậnkhoán Nhờ những biện pháp trên, ngời dân tham gia sản xuất một cách hăng say,

có hiệu quả hơn đạt đợc những kết quả khấn khởi hơn Tính bình quân hai năm

1989 - 1990, tổng sản lợng lơng thực tăng hơn năm 1988 Riêng năm 1990, tổngsản lợng lơng thực đạt 39.700 tấn Tổng diện tích gieo trồng cả năm đạt 23.180

ha, trong đó cây lúa đạt 103,9% kế hoạch, tăng 4% so với 1989; ớt xuất khẩutăng 37,1%; cây thuốc lá tăng 22,5%; đậu tơng tăng 20,8% [2, 105 - 106]

Những kết quả bớc đầu đã đáp ứng đợc nhu cầu lơng thực cho nhân dân,tạo nguồn lơng thực dự trữ và hàng hoá tiêu thụ trong và ngoài huyện

Về chăn nuôi, trong tình hình khó khăn thiếu thốn về lơng thực nhng chăn nuôivẫn đợc giữ vững và phát triển Chăn nuôi lợn, trâu bò và đàn gia cầm đợc đẩymạnh Đến năm 1988, toàn huyện có 11.500 con trâu, 12.500 con bò, 46.500 conlợn, trong đó các đàn lợn nái đợc khôi phục trở lại với 2.530 con để tự lo congiống Nghề nuôi thả cá phát triển mạnh với 16 triệu con cá bột và 2 triệu con cágiống [2, 106] Hai năm 1989 - 1990, chăn nuôi vẫn phát triển về cả số lợng vàchất lợng, cả đại gia súc và tiểu gia súc, gia cầm, vợt chỉ tiêu Đại hội V đề ra Mô

Trang 32

hình VAC phát triển mạnh trong kinh tế hộ gia đình và từ đó xuất hiện một sốngành nghề mới nh nuôi ong, trồng hoa, cây cảnh…

Chăn nuôi phát triển không những góp phần giải quyết về thực phẩm màcòn tận dụng cho ngành trồng trọt về phân bón Chăn nuôi cùng với nông nghiệpphát triển đã góp phần xây dựng huyện Sóc Sơn trở thành huyện vành đai thựcphẩm, cung cấp ngày càng nhiều thực phẩm, lơng thực, hàng hoá xuất khẩu

Lâm nghiệp là một thế mạnh riêng của Sóc Sơn so với các huyện kháctrong Hà Nội (diện tích đất lâm nghiệp là 6.553,820 ha, chiếm 21,38%) nên đợchuyện quan tâm phát triển để phủ xanh đồi trọc, đất trống, góp phần cải thiện đờisống nhân dân: Phong trào trồng rừng, trồng cây phân tán, làm vờn cây ăn quảBác Hồ kết hợp nông nghiệp và lâm nghiệp phát triển mạnh và đều khắp các xã.Huyện đã ứng dụng những thành tựu khoa học – kỹ thuật trong việc nhân congiống Kỹ thuật chăm bón, trang thiết bị máy móc vật t vào việc trồng rừng Đặcbiệt huyện chủ trơng giao đất trống đồi trọc đến từng hộ gia đình xã viên và lâmtrờng viên nhằm tạo điều kiện cho ngời dân nâng cao đời sống kinh tế, khuyếnkhích và đẩy nhanh việc phủ xanh đồi trọc, đất trống Từ năm 1988, chủ trơng đó

đợc mở rộng, đã mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực Diện tích rừng tập trung

đ-ợc trồng từ 210 ha (1988) lên đến 1.973 ha (2 năm 1989 – 1990); cây phân tán

đợc trồng từ hơn 1 triệu cây (1988) lên đến 3.313.000 cây Riêng năm 1990, việcgiao đất trống đồi trọc về cơ bản đã hoàn thành Toàn bộ vùng đồi bãi và núi dới100m đã đợc phủ cây trồng vợt chỉ tiêu Đại hội V của huyện đề ra [2, 107]

Cùng với sự phát triển nông nghiệp kinh tế công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp cũng đợc Đảng bộ huyện quan tâm đúng mức Công nghiệp huyện ( baogồm khối công nghiệp Trung ơng, công nghiệp địa phơng) sau Đại hội VI của

Đảng xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện quyền tự chủ trongsản xuất kinh doanh; góp phần vào chơng trình kinh tế lớn của Thành phố Thủcông nghiệp huyện năm 1980 có 5.300 ngời Nhờ tận dụng khai thác nguồn vật ttại chỗ và từ các tỉnh bạn, từ Thành phố, nhiều ngành thủ công nghiệp phát triểnkhá, nhất là ngành sản xuất công cụ cầm tay, vật liệu xây dựng, may mặc, khaithác cát vàng, làm gạch, chỉ thêu xuất khẩu [2, 107]

Trong 5 năm, kinh tế tiểu thủ công nghiệp của Sóc Sơn có những chuyểnbiến đáng kể: năm 1988 giá trị tổng sản lợng tiểu – thủ công nghiệp đạt 280.000

đồng, tăng 17% so với năm 1987 [2, 108] Sản xuất thủ công nghiệp của các hộgia đình và t nhân, do tiếp cận nhanh nhạy nhu cầu thị trờng nên đợc khôi phục

Trang 33

và phát triển, nhất là ở các nghề xây dựng, mộc, nề, thợ may, gạch ngói Từ năm

1989, các xí nghiệp chuyển mạnh sang hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa,giảm biên chế gián tiếp, xây dựng chế độ khoán sản phẩm đến tổ nhóm, ngời lao

động Các xí nghiệp công nghiệp Trung ơng và Thành phố đã cố gắng vơn lênthích ứng với cơ chế mới, cải tiến quản lý, gắn sản xuất với thị trờng, ổn định sảnxuất và phát triển, điển hình là Nhà máy Chè xuất khẩu Kim Anh

Xây dựng cơ bản và giao thông vận tải có bớc phát triển, mạng lới điện đợcxây dựng và kéo về tận các thôn xóm; đờng liên xã đợc nâng cấp rải đá cấp phối.Nhiều nghĩa trang liệt sĩ đợc xây dựng ở các xã khá khang trang Các công trìnhthủy lợi đợc nâng cấp và xây dựng thêm Năm 1987, huyện hoàn thành trạm bơm

Điệu Thợng Ngân hàng đầu t 900.000 đồng cải tạo hệ thống thuỷ lợi Thá - ĐồngTrầm, nhân dân đóng góp 8.000 ngày công đào đắp 39.000 m3 kênh mơng [2,104], phục vụ sản xuất nông nghiệp Nhờ đó mà sản xuất nông nghiệp đạt đợcnhững thành tựu to lớn

Về thơng nghiệp, thực hiện Nghị quyết II (khoá VI) của Trung ơng Đảng,

và Quyết định số 80 của Hội đồng Bộ trởng về công tác phân phối lu thông,

th-ơng nghiệp huyện Sóc Sơn đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn trong khigiá cả thị trờng không ổn định, cung cầu mất cân đối nghiêm trọng Mạng lớidịch vụ của thơng nghiệp huyện và hợp tác xã mua bán mở rộng hơn trớc T th-

ơng bắt đầu phát triển dới mọi hình thức, với các mặt hàng đa dạng phong phú,

đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của ngời dân Cũng bắt đầu từ năm 1989 trở đi, lơngthực là mặt hàng cuối cùng xoá bao cấp Chuyển sang cơ chế mới, tuy bớc đầucòn lúng túng, song huyện đã lãnh đạo, chỉ đạo thơng nghiệp quốc doanh huyệnthích ứng dần từng bớc

Trong tình hình tiền mặt thiếu nghiêm trọng và bị bội chi lớn, ngành tàichính đã nỗ lực vợt bậc trong việc tạo nguồn, tận thu các nguồn từ các loại thuế,

từ tiết kiệm, tiền công trái để đáp ứng nhu cầu chi cơ bản cho các hoạt động củahuyện

Khu “kinh tế mới” cũng là nét riêng biệt trong kinh tế Sóc Sơn Khu “Đồng

Đò và Ban Tiện” đợc huyện đầu t 60 triệu đồng xây dựng công trình tới nớc cống

hồ Ban Tiện tạo điều kiện cho dân khai hoang phục hoá đợc 81,7 ha (1988)

Đồng thời, huyện cũng xây dựng trờng lớp cho các em, trợ cấp gạo cho các hộlên xây dựng kinh tế mới (năm 1986 có 70 hộ, năm 1988 có 61 hộ) [2, 107]

Trang 34

Từ thực tiễn đạt đợc thời kỳ (1986 - 1990) có thể khẳng định đờng lối đổimới của Đảng đã đi vào cuộc sống và bớc đầu đạt những kết quả tích cực Dới sựlãnh đạo của Đảng bộ và các cấp chính quyền huyện, Sóc Sơn đã vơn lên nhiềumặt theo hớng chung của sự nghiệp đổi mới Nền kinh tế có bớc chuyển biến vềchất, đạt đợc mục tiêu chung của Đảng bộ là Sóc Sơn trở thành huyện có cơ cấunông – công - lâm nghiệp tiên tiến Bớc đầu đổi mới về kinh tế làm cho đời sốngnhân dân ổn định.

Tuy nhiên, nhìn một cách toàn diện đó chỉ là kết quả ban đầu của chặng ờng đầu đổi mới Bên cạnh những thành tựu đạt đợc về kinh tế, Sóc Sơn còn tồntại không ít yếu kém khuyết điểm

đ-Trớc hết về nông nghiệp: mặc dù đợc xác định đây là ngành sản xuất chínhtrong huỵên, là thế mạnh của huyện và đợc đầu t đúng hớng Nhng nhìn chung,nông nghiệp trong huyện vẫn bị lệ thuộc nặng vào thiên nhiên, úng hạn cha đợcgiải quyết căn bản làm cho tổng sản lợng nông nghiệp hàng năm đều thấp Lơngthực bình quân đầu ngời trong huyện vẫn thấp (232kg/ngời) Nhiều hộ làm ănkém, tỷ lệ hộ thiếu đói còn cao Các ban quản lý hợp tác xã còn nhiều yếu kémtrong công tác quản lý và điều hành sản xuất, thực hiện “khoán 10” Nhiều hợp

tác xã cha thực hiện hoạch toán theo đơn giá, phân phối không công bằng, sảnphẩm ế đọng ngày càng tăng, ba lợi ích về lơng thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng

và hàng xuất khẩu không đảm bảo Trồng cây lấy gỗ và cây ăn quả không hiệuquả bởi không đợc chăm sóc và bảo vệ Diện tích núi cao cha có rừng còn nhiều,việc khai thác tiềm năng vùng đồi còn hạn chế, việc chăm sóc và bảo vệ rừng chatốt

Công nghiệp thuộc huyện gặp nhiều khó khăn, ở một số xí nghiệp, côngnhân thiếu việc làm, các mặt hàng cung ứng hầu hết không đạt chỉ tiêu kế hoạch,hàng hoá bán không chạy làm cho vốn sản xuất bị ứ đọng Giá trị tổng sản lợngcông nghiệp năm 1988 chỉ đạt 9.773.000 đồng, bằng 84% kế hoạch Công nghiệpthuộc huyện và tiểu – thủ công nghiệp trong quá trình tổ chức lại sản xuất vẫntiếp tục bị đình đốn, trì trệ Sản phẩm và chất lợng hàng hoá không phù hợp vớiyêu cầu thị trờng, nên không tiêu thụ đợc Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 1989, sảnphẩm trong các xí nghiệp bị tồn đọng 66 triệu đồng, nhiều nhất là ở Xí nghiệp cơkhí, Xí nghiệp cao lanh sứ gốm, Xí nghiệp chế biến nông sản, Xí nghiệp giấynến, Công ty vận tải Giá trị tổng sản lợng thuộc huyện năm 1989 chỉ đạt 68% kế

Trang 35

hoạch, bằng 63% năm 1988 Đời sống công nhân viên chức rất bấp bênh, khókhăn [2, 108]

Sản xuất tiểu – thủ công nghiệp trong các hợp tác xã cũng bị trì trệ, đình

đốn Giá trị tổng sản lợng ngành tiểu thủ công nghiệp năm 1990 chỉ đạt2.200.000 đồng, bằng 22% kế hoạch

Thơng nghiệp: Trong quá trình chuyển đổi cơ chế từ bao cấp sang hoạchtoán kinh doanh, thơng nghiệp quốc doanh huyện gặp rất nhiều khó khăn, bộc lộnhững yếu kém trong công tác quản lý kinh doanh, thực hiện cơ chế khoán chomậu dịch viên Nhiều đơn vị t nhân hoá, chiếm dụng vốn, kinh doanh thua lỗ Đa

số các đơn vị thơng nghiệp quốc doanh bị tồn đọng vốn, hàng hoá Sáu tháng đầunăm 1989, hàng hoá tồn đọng là 857 triệu đồng Công tác quản lý thị trờng,chống đầu cơ, buôn lậu, quản lý đăng kí kinh doanh công thơng nghiệp… tuy cónhiều cố gắng nỗ lực, nhng hiệu quả còn kém T thơng phát triển đã lấn át các

đơn vị thơng nghiệp quốc doanh Thu và chi, hàng và tiền vẫn nằm trong tìnhtrạng mất cân đối nghiêm trọng Do sơ hở trong quản lý kinh tế, sau khichuyển đổi cơ chế, hàng trăm triệu ở tín dụng ngân hàng và ở các hợp tác xã tíndụng bị ế đọng, khó đòi, ảnh hởng lớn đến các hoạt động kinh tế – xã hội củahuyện và đời sống nhân dân

Hàng hoá xuất khẩu của huyện, chủ yếu là một số nông phẩm (lạc, ớt) và

gỗ bạch đàn trắng, doanh số xuất khẩu rất thấp do hàng sản xuất và tiêu thụ tạichỗ của nông dân chậm, không khuyến khích đợc họ sản xuất hàng xuất khẩu

Nhìn tổng thể, thời kì đầu đổi mới trong 5 năm (1986 - 1990) nền kinh tếcủa huyện có bớc phát triển, nhng nền kinh tế tăng trởng cha cao vì đang còn mấtcân đối giữa các xã, giữa các ngành kinh tế Nhiều ngành kinh tế còn chậm pháttriển, đời sống nhân dân đang từng bớc ổn định Tuy nhiên, nhiều vùng khó khăn

do thiên tai và đất đai khó canh tác vẫn cha đợc quan tâm đúng mức, đời sốngnhân dân còn nhiều thiếu thốn cha đợc giải quyết

Trang 36

2.2.2 Văn hoá - Giáo dục “ Y tế.

Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lựcthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục

và đào tạo, các hoạt động văn hoá có vị trí quan trọng trong việc hình thành nhâncách, làm phong phú đời sống tinh thần nhân dân

Trong những năm đầu đổi mới, hoạt động các ngành văn hoá - xã hội của huyện

đợc đẩy mạnh nhằm nâng cao dân trí của nhân dân

Nền kinh tế của huyện còn thấp, số hộ làm ăn kém, thiếu đói, nhất là ở vùng núi,vùng trũng, vùng kinh tế mới đã tác động trực tiếp, nhiều chiều đến đời sống vănhoá - xã hội của nhân dân Nếp sống văn hoá mới và đạo đức truyền thống bịxuống cấp nhiều mặt; tệ nạn xã hội tăng lên Sau Đại hội Đảng bộ huyện lần IV,công tác giáo dục có chuyển biến rõ rệt Trong điều kiện một huyện nghèo, vẫn

có số vốn đầu t đáng kể cho việc xây dựng trờng học

Năm 1988, Trờng ptth Đa Phúc và 4 Trờng ptcs đã xây dựng xong.Năm 1990, 10 xã và Trờng ptth Kim Anh xây dựng đợc trờng 2, 3 tầng vớitổng vốn trên 2 tỷ đồng Việc xoá nạn mù chữ, phổ cập cấp I đạt kết quả tốt [2,111]

Công tác bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân cũng đợc quan tâm đúng mức.Công tác y tế từ huyện đến cơ sở đã chú trọng và đạt một số kết quả trong việcchăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân Từ năm 1986, huyện tiếp nhận chơngtrình viện trợ của tổ chức pam; khám chữa bệnh cho hàng chục nghìn lợt ngời ởhuyện và xã Năm 1988, thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện vềcông tác y tế, huyện đã đầu t 18 triệu đồng để xây dựng, sửa chữa và 25 triệu

đồng mua trang thiết bị cho 25 trạm y tế ở 25 xã [2, 111]

Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình đợc thực hiện thờng xuyên, liên tụcvới các biện pháp tuyên truyền và đặt vòng tránh thai, triệt sản cho hàng nghìnngời mỗi năm

Vợt lên những khó khăn gay gắt, các mặt công tác văn hoá - xã hội củahuyện nh: thông tin truyền hình, chính sách đối với các gia đình liệt sĩ – thơngbinh, gia đình có công với cách mạng, trẻ em mồ côi tàn tật, các hộ đói kém vẫn

đợc thực hiện đầy đủ ở Thị trấn Sóc Sơn và các xã Năm 1990, Phòng văn hoáhuyện cho xây dựng một cuốn phim video về truyền thống yêu nớc và cách mạngcủa huyện, sáng tác 4 bài hát về huyện

Trang 37

Đời sống nhân dân có khởi sắc lên từ năm 1990 (số hộ thu nhập khá tănglên, số hộ thu nhập trung bình, đủ ăn chiếm đa số), các phơng tiện thông tin đạichúng cũng có mặt ở nhiều gia đình, mạng lới điện mở rộng đến các thôn xóm…Lực lợng văn hoá thông tin đã kịp thời phục vụ nhu cầu chính trị của địa phơng

có một số kết quả Các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao đợc khơidậy

Bên cạnh thành tựu đạt đợc, Sóc Sơn vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém trongcông tác giáo dục, văn hoá, y tế Do tổng thu nhập huyện quá thấp so với cáchuyện khác, do nhân dân còn thiếu đói nên chất lợng dạy và học có chiều hớnggiảm sút, giáo viên thiếu, đạo đức học trò sa sút, cơ sở vật chất trong nhiều trờngxuống cấp nghiêm trọng, các lớp học 3 ca vẫn còn Tỉ lệ sinh vẫn quá cao (Năm

1990 tỉ lệ sinh là 2,67%) Đảng viên, cán bộ sinh con thứ ba vẫn đông Tệ nạn xãhội, mê tín dị đoan tăng lên Đặc biệt giáo dục, t tởng dần xuống cấp làm cho nếpsống văn hoá mới và đạo đức truyền thống bị xuống cấp nhiều mặt

Đi đôi với việc thờng xuyên giáo dục chính trị, t tởng cho cán bộ đảngviên, học tập các Nghị quyết của Trung ơng, Thành uỷ, Huyện uỷ, giữ vững lậptrờng kiên định, tin tởng vào sự lãnh đạo của Đảng và con đờng xã hội chủ nghĩa,

Đảng bộ huyện tổ chức thực hiện việc phân loại chất lợng đảng viên ở các cơ sở,kiên quyết xử lý, kỷ luật các đảng viên có sai phạm, không đủ t cách

Năm 1988, toàn Đảng bộ huyện có 18 chi bộ cơ sở với 6.400 đảng viên ởcác khối sản xuất nông, lâm, công nghiệp; phân phối lu thông, hành chính sựnghiệp xã và Thị trấn các cơ sở khác Kết quả trong tổng số 6.374 đảng viên củahuyện tự phân loại có: 86 đảng viên loại 1; 94 đảng viên loại 2; 5.394 đảng viênloại 3 Cũng từ năm 1988 đến năm 1990, việc củng cố cơ sở đảng và giáo dụcquản lý đảng viên cơ sở đạt kết quả tơng đối tốt; 623 đảng viên bị xử lý kỷ luật.Nội bộ đảng viên trong sạch và giữ vững sự đoàn kết nhất trí

Để nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của cán bộ từ cơ sở đến huyện,

Trang 38

bộ cơ sở, cử cán bộ đi học lý luận trung cao cấp và quản lý nhà nớc Đội ngũ cán

bộ chủ chốt từ huyện đến cơ sở đợc kiện toàn và sắp xếp lại Ban chấp hành Đảng

bộ huyện đã cố gắng vơn lên, đổi mới phong cách chỉ đạo, bám sát cơ sở, thựctiễn, phát huy dân chủ, lắng nghe ý kiến quần chúng, đảng viên

Bộ máy chính quyền từ huyện đến cơ sở đã sắp xếp lại tổ chức theo hớngxác định lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tinh giản, gọn nhẹ, nâng cao nănglực quản lý nhà nớc của Uỷ ban nhân dân các cấp và các ngành chức năng

Những kết quả đạt đợc trong công tác xây dựng Đảng đã củng cố nâng caovai trò lãnh đạo của Đảng bộ, tăng thêm lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh

đạo của Đảng trong sự nghiệp đổi mới

Song trớc cơ chế mới, bên cạnh bộ phận đảng viên nâng cao sức chiến đấucòn một bộ phận chậm phấn đấu vơn lên, t tởng còn bảo thủ ỷ lại, rụt rè, ngại đấutranh, ngại học tập, sức chiến đấu còn hạn chế Nhìn chung, nhiều cán bộ chínhquyền còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm quản lý theo cơ chế mới Các chi bộ

Đảng cha nêu cao vai trò lãnh đạo Số chi bộ Đảng đạt tiêu chuẩn chi bộ Đảngvững mạnh chỉ có 2/82 cơ sở (bằng 2,4%) trong khi số chi bộ Đảng yếu kémchiếm 21/82 cơ sở ( chiếm 25,6%) Công tác kết nạp đảng viên mới yếu Cảnhiệm kỳ (khoá V) chỉ kết nạp đợc 202 đảng viên, 2 Đảng bộ xã không kết nạp

đợc đảng viên nào [2, 115] Trong thực tiễn lãnh đạo và chỉ đạo, Ban chấp hành

Đảng bộ huyện vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu của công cuộc đổi mới

Ngoài công tác xây dựng Đảng, Sóc Sơn còn chú trọng đến lĩnh vực Anninh, Quốc phòng Trong những năm kinh tế, xã hội khủng hoảng tình hình anninh, trật tự xã hội có nhiều diễn biến phức tạp Thực hiện Kế hoạch 77 của Th-ờng vụ Thành uỷ (ngày 13 tháng 6 năm 1988), Kế hoạch 04 của Huyện uỷ, Chỉthị 135 của Hội đồng Bộ trởng về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ vữngtrật tự an toàn xã hội trong tình hình mới, Huyện uỷ đã chỉ đạo lực lợng công an,phối hợp với các ngành nội chính huyện và phong trào quần chúng bảo vệ anninh làm tốt công tác bảo vệ, làm trong sạch nội bộ, chống tội phạm hình sự, giảiquyết những điểm nóng về kinh tế – xã hội, giữ gìn trật tự an toàn xã hội Năm

1988, công an huyện đã phá 101 vụ phạm pháp tài sản xã hội chủ nghĩa, bắt 200

đối tợng thu lại tài sản và tiền mặt trị giá 267 triệu đồng [2, 112] Đặc biệt, côngtác bảo vệ cụm cảng hàng không quốc tế Nội Bài luôn đợc chú trọng Tuy vậy, tộiphạm và số vụ phạm pháp hình sự cha giảm, hoạt động trong lực lợng công ancòn lúng túng, cha chuyển biến kịp so với yêu cầu trong tình hình mới

Trang 39

Công tác quốc phòng toàn dân, tổ chức lực lợng vũ trang của địa phơngcho phù hợp với tình hình mới, thực hiện kế hoạch tuyển quân, tổ chức diễn tậpphòng thủ khu vực (Hà Nội 90) đợc Ban chỉ huy quân sự huyện chỉ đạo khá tốt.Trong khi địa phơng còn khó khăn nhiều mặt thì tình hình biên giới phía Bắcluôn luôn có diễn biến phức tạp, theo chỉ đạo của Thành phố, Trung ơng và vớitình cảm chân thành của Đảng bộ quân dân Sóc Sơn, với truyền thống cách mạngcủa quê hơng Phù Đổng từ những năm 1985 – 1987, Ban chấp hành Huyện uỷ– UBND đã lãnh đạo nhân dân trong huyện chi viện sức ngời sức của lên PhongThổ giúp đỡ xây dựng bệnh viện và một số công trình chế biến chè, sản xuất gạchngói, đợc Đảng, chính quyền, nhân dân các dân tộc huyện Phong Thổ rất hoannghênh [2, 113]

Mặc dù có nhiều đóng góp trong công cuộc xây dựng và bảo vệ địa phơngnhng chất lợng của dân quân tự vệ xã và xí nghiệp còn yếu, sự phối kết hợp giữaban chỉ huy quân sự địa phơng và các đơn vị vũ trang đóng trên địa bàn huyệncha thờng xuyên, chặt chẽ trong công tác giữ gìn trật tự, trị an

Những bớc đi đầu tiên trên con đờng đổi mới toàn diện (kinh tế, chính trị,xã hội) vợt qua bao gian nan, thử thách gay gắt của một huyện nghèo, đời sốngcủa nhân dân rất thấp kém, Đảng bộ huyện Sóc Sơn đã trực tiếp lãnh đạo Đảngviên và nhân dân Sóc Sơn một lòng tin vào Đảng, đi theo Đảng; dũng cảm, kiêntrì chống thiên tai, đói nghèo, lạc hậu ,trì trệ, bảo thủ để đi tới ấm no, hạnh phúc

Từ nông - lâm nghiệp đi lên, Đảng bộ và nhân dân Sóc Sơn đã đạt đợc những kếtquả đáng khích lệ Bức tranh kinh tế - xã hội của huyện ngày một sáng lên đúng

nh Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ VI đánh giá: Tuy còn nhiều hạn chế trong

ph-ơng thức và năng lực lãnh đạo, quản lí theo cơ chế mới ở các ngành, các cấp của

Đảng, chính quyền, đoàn thể của huyện nhng Đảng bộ và nhân dân Sóc Sơn đã

nỗ lực phấn đấu làm cho tình hình chính trị ổn định, nền kinh tế chuyển biến tíchcực theo hớng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; đời sống của nhân dânnhìn chung đợc cải thiện một bớc… ; tình hình an ninh trật tự tuy còn phức tạpnhng về cơ bản vẫn đợc bảo đảm ổn định Đó là những thành tựu cơ bản nhất, tạo

điều kiện thuận lợi và tiền đề cho Đảng bộ Sóc Sơn lãnh đạo nhân dân tiếp tụcvững bớc đi lên trên con đờng đổi mới

2.3 sóc sơn tiếp tục vững bớc trên con đờng đổi mới (1991 -1995).

2.3.1 Yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra cho Sóc Sơn trong thời kì đổi mới tiếp

theo (1991 - 1995).

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w