Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ chí Minh đã sớm xác định: đất nước Việt Nam là một, cộng đồng các dân tộc ở nước ta là không thể chia cắt, các dân tộc song trên đất nước
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LICH SỬ
===£T)CŨỊ|oa===
VI VĂN THẾ
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG
TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986 - 2006)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN DŨNG
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Xin chân thành cảm ơn Thầy TS Nguyên Văn Dũng đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài, tuy nhiên do mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý Thầy, Cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Vi Văn Thế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Dũng Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phàn tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khóa luận của mình Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 không liên quan đén những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2016
Tác giả
Vi Văn Thế
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 Cơ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986 - 2006) 5
1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 5
1.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÔNG TÁC DÂN TỘC 11
1.2.1 về vấn đề dân tộc 11
1.2.2 về công tác dân tộc 17
1.3 KHÁI QUÁT VỀ CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM 20
1.4 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRƯỚC NĂM 1986 27
Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THựC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2006 31
2.1 CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TỪ SAU ĐỔI MỚI ĐẾN NĂM 2006 31
2.1.1 về kinh tế 32
2.1.2 về giáo dục đào tạo 34
2.1.3 về y tế 35
2.1.4 về văn hóa 37
2.1.5 về an ninh quốc phòng 40
2.2 THÀNH Tựu VÀ HẠN CHẾ CỦA VIỆC THựC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI 42
2.2.1 Những thành tựu cơ bản 42
2.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 58
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 62
3.1 NHẬN XÉT 62
Trang 53.1.1 ưu điểm 62
3.1.2 Hạn chế 63
3.2 MỘT SỐ KINH NGHIỆM 65
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 6Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ chí Minh đã sớm xác định: đất
nước Việt Nam là một, cộng đồng các dân tộc ở nước ta là không thể chia cắt, các dân tộc song trên đất nước đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Hiện thực lịch sử Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc hàm chứa những sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo cách mạng và là một nội dung nghiên cứu có sức hấp dẫn lớn đối với nhiều chuyên ngành khoa học, trong đó có khoa học lịch sử.Đen nay, đã có không ít vấn đề nghiên cứu đề cập và làm sáng tỏ nhiều nội dung công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam Tuy nhiên vẫn còn có những vấn đề cần tiếp tục được làm rõ thêm
Hiện nay, trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với
nhiều cơ hội và thách thức đan xen, Đảng ta xác định vẩn đề dân tộc là vẩn đề chiến
lược, cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau thực hiện thẳng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
thời gian qua cũng đang đặt ra nhiều vấn đề rất cần được quan tâm giải quyết như: vấn
đề quan hệ dân tộc - quốc gia, dân tộc - tộc người, vấn đề di dân tự do, vấn đề đói nghèo, vấn đề đất đai, đòi hỏi hệ thống chính sách phải được xây dựng và vận hành
để đảm bảo mang lại quyền bình đẳng thực sự cho các dân tộc trên mọi lĩnh vực Phát triển chính sách dân tộc một cách đúng đắn, đáp ứng những yêu cầu khách quan, bức thiết đang đặt ra, ngoài việc nghiên cứu thực tiễn, tiếp thu những thành tựu khoa học trong nước và thế giới về lý luận, rất cần nghiên cứu, đúc kết những kinh nghiệm
Trang 72
thành công và không thành công của quá trình thực hiện các chính sách dân tộc trước đây
Đề tài “Chính sách dân tộc của Đảng trong thời kì đổi mới (1986 - 2006)”
là rất cần thiết và có ý nghĩa thiết thực, góp phàn làm sáng rõ quá trình và những sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trong thời kì đổi mới có tầm quan trọng về mặt chiến lược; góp phần đấu tranh chống lại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm phá vỡ khối đại đoàn két các dân tộc Việt Nam; cung cấp những luận cứ khoa học cho công tác phát triển lý luận xây dựng và hoàn thiện chính sách dân tộc, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài đã liệt kê một số công trình nghiên cứu về vấn đề dân tộc và chính sách
dân tộc nói chung như: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tể - xã hội ở miền
núi, Nxb CTQG, H, 1996; 50 năm các dân tộc thiểu sổ Việt Nam (1945 - 1995), Nxb Khoa học Xã Hội, H, 1995 do Bé Viết Đằng (chủ biên); Bảo đảm bình đẳng và tăng
giả Hoàng Chí Bảo, Nxb CTQG, H, 2009; Viện nghiên cứu chính sách dân tộc và
miền núi, vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công
2010; Miền núi Việt Nam thành tựu và phát triển những năm đổi mới, Nxb Nông nghiệp,
H, 2002 của các tác giả Trần Văn Thuật, Nguyễn Lâm Thành, Nguyễn Hữu Hải (chủ
biên); vẩn đề dân tộc và công tác dân tộc sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
2009 Đây là những công trình nghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn
Trong các công trình nói trên, vấn đề dân tộc đều được nghiên cứu ở nhiều góc
độ khác nhau từ kinh tế, văn hóa, xã hội Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng, làm rõ quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc toong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến năm 2006 để
Trang 83.2 Nhiệm vụ
Nghiên cứu, hệ thống hóa quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
về các chính sách dân tộc từ năm 1986 đến năm 2006 để thấy rõ được bước phát triển trong tư duy, nhận thức và chỉ đạo thực tiễn của Đảng về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc
- Phân tích, làm rõ quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm
1986 đến 2006
- Chỉ ra những thành công và hạn ché, từ đó rút ra một số kinh nghiệm có ý nghĩa trong việc chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc trong các năm tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc
- Sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và đảng bộ các địa phương trong cả nước trong quá trình triển khai thực hiện chính sách dân tộc từ năm 1986 đến năm
Trang 94
2006 nhằm muốn có một độ lùi lịch sử nhất định để đánh giá hiệu quả của quá trình thực hiện chính sách dân tộc sau 20 năm đổi mới
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc Đặc biệt, đề tài đã vận dụng triệt để những quan điểm, chính sách đổi mới của Đảng
và Nhà nước về chính sách dân tộc
- Đe tài chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, tác giả đã vận dụng một số phương pháp khác như: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phân tích xã hội học
- Nguồn tư liệu của để tài chủ yếu dựa vào các văn kiện, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các văn bản của Nhà nước, các báo cáo của Vụ Chính sách dân tộc - ủy ban Dân tộc miền núi, số liệu của một sô địa phương và một số sách chuyên khảo, đề tài khoa học, bài nghiên cứu có liên quan
6 Đóng góp của khóa luận
- Hệ thống hóa nguồn tư liệu về công tác dân tộc của Đảng
- Đưa ra một số kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ hoạt động nghiên cứu về chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
7 Bổ cục khóa luận
Ngoài các phần Phụ lục, Mở đầu và Tài liệu tham khảo, Khóa luận có bố cục:
Chương 1: Cơ sở hình thành chính sách dân tộc của Đảng trong thời kì đổi mới (1986-2006)
Chương 2: Đảng lãnh đạo thực hiện Chính sách dân tộc từ năm 1986 đến năm 2006
Chương 3 :Nhận xét và một số kinh nghiệm
Trang 105
Chương 1
Cơ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH DÂN Tôc CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986 - 2006)
1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN Tộc
Nói về quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin với vấn đề dân tộc có nghĩa rằng
chúng ta phải đề cập đến: Quan niệm về sự ra đời và phát triển của dân tộc; Nhìn nhận
phong trào dân tộc trong sự phát triển của nhân loại; Quan điểm về việc giải quyết vẩn đề dân tộc
về sự ra đời của khối cộng đồng dân tộc với tư cách là dân tộc - quốc gia, có nhả
nước (Nation - Etat hay Nation State) Mỗi quốc gia có hoàn cảnh lịch sử, văn hóa cụ thể mà sự hình thành dân tộc theo tiêu chí trên không giống nhau, không phải chỉ xuất hiện trong thời kỳ hình thành Chủ nghĩa Tư bản ở Phương Tây; Việt Nam và một số khu vực khác trên thế giới không như vậy, mà dân tộc - nhà nước ra đời từ rất sớm
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin được chia làm ba thời kỳ:
Một, thời kỳ thủ tiêu Ché độ Phong kiến và thiết lập Chủ nghĩa Tư bản Do sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất nên ở Châu Âu thế kỉ XVII, XVIII,
XIX đã hình thành phong trào dân tộc và thành lập các quốc gia độc lập dân tộc về
mặt bản chất thì đây là cuộc cách mạng dân chủ tư sản trong lòng xã hội phong kiến
do giai cấp Tư sản lãnh đạo Trong xu thế đó, ở Đông Âu đã hình thành các quốc gia tập quyền, trong các quốc gia đó các dân tộc ở trình độ phát triển không đều nhau, hình thành trong các thời gian khác nhau Điểm đáng chú ý là trong các quốc gia có nhiều dân tộc đó có tình trạng áp bức dân tộc, đó là sự áp bức, bóc lột của dân tộc có trình độ phát triển cao và sớm hơn với các dân tộc kém phát triển Đây chính là nguyên nhân làm cho các dân tộc bị áp bức trong các quốc gia đó nảy sinh yêu càu đấu tranh đòi tách ra thành các quốc gia độc lập như ở Áo, Nga, Trong thời kỳ đó, những người lãnh đạo chủ yếu thuộc giai cấp Tư sản của các dân tộc bị áp bức (giai
Trang 116
cấp vô sản lúc này chưa phát triển)
Hai, thời kỳ chủ nghĩa Đế quốc - thời kỳ các quốc gia Tư bản đã hoàn thiện Do bản chất của nền kinh té - xã hội, do nhu cầu phát triển của Chủ nghĩa Tư bản đòi hỏi phải mở rộng thị trường vượt ra khỏi chính các quốc gia tư bản phát triển nên các quốc gia này đã tiến hành xâm lược các quốc gia và dân tộc chậm phát triển hơn Các dân tộc và quốc gia kém phát triển hơn trên thé giới (trong đó có Việt Nam) bị các nước Chủ nghĩa Tư bản xâm lược và khai thác tài nguyên thiên nhiên, các di sản văn hóa, bóc lột sức lao động về làm giàu cho “chính quốc” Tình trạng đó làm nảy sinh một
xu thế xã hội từ phía các dân tộc bị áp bức, bóc lột đối với các quốc gia Tư bản Phương Tây đi xâm lược, đó là sự đấu tranh chống lại bóc lột, nô dịch về chính trị,
kinh tế, văn hóa đối với họ mà chúng ta thường gọi là phong trào dân tộc Ban đàu
phong trào này cũng do giai cấp Tư sản lãnh đạo, song không đi đến thành công Sau này, do sự lớn mạnh của phong trào công nhân quốc tế và sự lớn mạnh của giai cấp vô sản trong lòng xã hội tư bản, giai cấp tư sản dân tộc lại có xu hướng thỏa hiệp với đế quốc, nhất là sau Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) Từ đó trở đi, giai cấp vô sản thé giới nắm vai trò lãnh đạo các cuộc đấu tranh của phong trào dân tộc đòi các quyền dân tộc cơ bản
Hai thời kỳ trên là thời kỳ áp bức dân tộc diễn ra gay gắt, phong trào dân tộc với mục tiêu đấu tranh chống áp bức, nô dịch dân tộc diễn ra từ đầu đến cuối, vấn đề dân tộc nói chung chưa được giải quyết Nếu thời kỳ thứ nhất vấn đề dân tộc không vượt
ra khỏi khuôn khổ một số quốc gia phát triển sớm ở Châu Âu thì thời kỳ thứ hai Vấn
đề dân tộc lại trở thành phong trào chung của nhiều quốc gia bị áp bức trên thế giới, là phong trào của các nước thuộc địa chống lại Chủ nghĩa Đế quốc Một điểm đặc biệt là
ở thời kỳ thứ hai có sự xuất hiện và phát triển của giai cấp vô sản thì sự tương đồng về quyền lợi của các dân tộc và của giai cấp vô sản đã đưa họ lên vị thế lãnh đạo các phong trào dân tộc Phong trào dân tộc, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc gắn chặt với cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản ở các quốc gia và trên thế giới
Ba, thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa - thành tựu của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, xóa bỏ sự áp bức, nô dịch, bóc lột của Chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa
Trang 127
đế quốc, hình thành nên một loại hình dân tộc thường được gọi là dân tộc xã hội chủ
một và hai) hay trong xã hội xã hội chủ nghĩa đều được đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ và các đặc điểm tộc người thể hiện qua các đặc trưng về sinh hoạt - văn hóa
Tuy nhiên, ở các nước thuộc địa phụ thuộc, sau khi giải phóng khỏi ách đô hộ của nước ngoài thì quá trình tộc người diễn ra phức tạp Xu thế chung là trong bối cảnh mới các dân tộc trong quốc gia xích lại gần nhau về kinh tế, văn hóa, chính trị Ở các quốc gia, biên giới, chính trị ngày nay đã trở thành ranh giới giữa các cộng đồng lịch sử lớn của một loại hình mới Một số quốc gia Châu Á như Ấn Độ, Nê Pan, Thái Lan, thành phàn cư dân có thể thuần nhất song cũng có thể không thuần nhất Mặt khác, sự tham gia vào cuộc đấu tranh chung của phong trào dân tộc chống lại sự xâm lược của bên ngoài chính là điều kiện khách quan để hình thành và củng cố các mối quan hệ dân cư trong các quốc gia đó về chính trị, kinh tế, xã hội, ý thức về một tổ quốc
Nội dung thứ ba là quan điểm về việc giải quyết vẩn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác
- Lênin Thời kỳ của chủ nghĩa Tư bản trước độc quyền và thời kỳ chủ nghĩa Tư bản độc quyền, c Mác, Ph Ăngghen và V I Lênin đã nêu ra các vấn đề dân tộc, giai cấp
về phương diện lý luận và thực tiễn Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin trong nhiều tác phẩm đã bàn luận về vấn đề dân tộc, thể hiện quan điểm của học thuyết
Mác - Lênin trong việc nhìn nhận và giải quyết vấn đề dân tộc Thực ra trong thời kỳ của c Mác và Ph Ăngghen vấn đề dân tộc chưa nổi lên, bức xúc như thời kỳ lịch sử
của V I Lênin
Tuy nhiên, vấn đề dân tộc tự quyết được c Mác bàn đến khi đề cập đến tình hình
của Ai - rơ - len trong mối quan hệ với nước Anh trong một bức của ông: “ Trước kia, tôi coi việc Ai-rơ-len tách khỏi nước Anh là không thể có được Ngày nay thì tôi lại coi đó là việc không thể tránh khỏi, dẫu cho sau khi phân lập lại đi đến kết thành liên bang” [54, tr.249]
Trang 138
Kế thừa quan điểm của c Mác và Ph Ăngghen và căn cứ vào tình hình phong
trào dân tộc trong thời đại của mình, V I Lênin đã có nhiều công trình bàn về vấn đề
dân tộc Ông đã có những ý kiến rất sâu sắc về vấn đề dân tộc Trong tác phẩm Ý kiến
bản, có hai xu hướng lịch sử trong vấn đề dân tộc Xu hướng thứ nhất là: sự thức tỉnh của đời sống dân tộc và của các phong trào dân tộc, cuộc đấu tranh chống mọi ách áp bức dân tộc, việc thiết lập các quốc gia dân tộc Xu hướng thứ hai là: việc phát triển và tăng cường đủ mọi thứ quan hệ giữa các dân tộc, việc xóa bỏ những hàng rào ngăn cách các dân tộc và việc thiết lập sự thống nhất quốc té của tư sản, của đời sống kinh
tế nói chung, của chính trị, của khoa học,v.v ” [53, t24, tr.157] Và ông cho rằng “Cả hai xu hướng đó là quy luật phổ biến của chủ nghĩa tư bản” [53, t24, tr.158]
Theo V I Lênin, chủ nghĩa dân tộc tư sản và chủ nghĩa quốc tế vô sản là hai khẩu hiệu đối lập không thể dung hòa được, là biểu hiện của hai giai cấp trong thế giới
tư bản, là biểu thị của hai chính sách, hơn thé nữa là “thé giới quan” trong vấn đề dân tộc Trong nhiều tác phẩm quan trọng của mình như: về quyền dân tộc tự quyết, Ý kiến phê phán về vẩn đề dân tộc, Những kết quả thảo luận về quyền tự quyết, Sơ thảo lần thứ
triển học thuyết Mác về vấn đề dân tộc, xuất phát từ những hoàn cảnh cụ thể của cách mạng vô sản, của phong trào giải phóng dân tộc và thuộc địa Trong thời đại đế quốc
chủ nghĩa vẩn đề dân tộc trở thành vấn đề thuộc địa và như vậy chủ nghĩa đế quốc
đồng thời cũng là chủ nghĩa bóc lột các dân tộc một cách tinh vi và bạo ngược Trong
thời đại của mình, V I Lênin đã nêu lên khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân
tộc bị áp bức, đoàn kết lại”.
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn các dân tộc bị áp bức dưới chế độ Nga Sa hoàng, Lênin đã rút ra những vấn đề, đặc điểm chính yếu để từ đó đưa ra các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc, của quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng Cộng sản Bônsêvich Nga Trong Cương lĩnh nổi tiếng về quyền dân tộc tự quyết, V I Lênin đã đưa ra các vấn đề có tính nguyên tắc cho việc giải quyết vấn đề dân tộc trong thời đại mình: “ Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết:
Trang 14đẳng thực sự đối với các dân tộc về chính trị, kinh tế, văn hóa
Quyền bình đẳng của các dân tộc trước và sau khi giai cấp vô sản giành chính quyền từ tay giai cấp tư sản trong thời đại của Lênin được hiểu là: Trước khi giành chính quyền, quyền bình đẳng là một bộ phận của sự đòi hỏi dân chủ chung, là quyền dùng để lôi cuốn các dân tộc bị áp bức vào cuộc đấu tranh cách mạng 9auk hi chính quyền về tay giai cấp vô sản thì đó là quyền của các công dân trong một nhà nước của mình, không phụ thuộc dân tộc trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa được ghi
trong văn bản pháp quy cao nhất - Hiến pháp của các quốc gia
- Hai, quyền tự quyết của các dân tộc Trong bối cảnh thời đại của mình, V.I
Lênin đã đề ra “quyền dân tộc tự quyết” nghĩa là “quyền phân lập và thành lập một quốc gia dân tộc riêng biệt” đối với ba loại nước liên quan:
1 Các nước tư bản tiên tiến ở Tây Âu và nước Mỹ;
2 Các nước ở Đông Âu;
3 Các nước nửa thuộc địa và thuộc địa;
Quyền dân tộc tự quyết là một biện pháp tích cực trong đấu tranh của giai cấp vô sản cho sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc tự nguyện, đoàn kết và phát triển thuận lợi
Trong thời đại của Lênin những năm đầu thế kỉ XX, cũng nhu xu thế phát triển chung của nhân loại hiện nay, khẩu hiệu “các dân tộc tự quyết” không phải là để các dân tộc tách ra mà là để các dân tộc xích lại gần nhau Cách hiểu đúng khẩu hiệu trên
đó là gạt bỏ tất cả mọi sự ngờ vực, mọi cơ sở nghi ngờ về mưu đồ xâm lược của dân tộc này đối với dân tộc khác và nhằm chuẩn bị cho các dân tộc tiếp đến sự liên minh
tự nguyện vào một quốc gia xã hội chủ nghĩa đa dân tộc
V.I Lênin cũng chỉ ra rằng: Chủ nghĩa xã hội có mục đích xóa bỏ tình trạng nhân loại bị chia cắt thành những quốc gia nhỏ, xóa bỏ mọi trạng thái biệt lập giữa các
Trang 1510
dân tộc, vừa làm cho các dân tộc gần gũi nhau vừa thực hiện việc hợp nhất các dân tộc Vấn đề tự trị của các khu vực là một hình thức để gải quyết vấn đề dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc Tất nhiên tùy tình hình cụ thể của từng quốc gia có những vùng “có những đặc điểm quan trọng đôi chút về kinh té hoặc lối sinh sống và có một thành phần dân tộc riêng trong dân cư, v.v ”
-Ba, liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại Đây là luận điểm về sự liên minh
quốc té và đoàn két nhân dân lao động của tất cả các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp bóc lột vì sự giải phóng dân tộc và xã hội V.I.Lênin kiên trì nguyên tắc thống nhất giữa các nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc té của giai cấp công nhân Chủ nghĩa quốc tế vô sản thể hiện tính chất chung của những quyền lợi cơ bản và những ý nguyện tiến bộ của nhân dân lao động tất cả các dân tộc đối lập với chủ nghĩa dân tộc tư sản gây thù hằn chia rẽ dân tộc
Tư tưởng của V.I Lênin về sự hợp nhất, đoàn két những người vô sản trên thế
giới được thể hiện rõ trong tác phẩm Ý kiến phê phán về vẩn đề dân tộc Trong tác phẩm
này Lênin đã đề cập: nếu trong xã hội tư bản có “những cuộc xung đột dân tộc không lối thoát” thì “giai cấp vô sản không thể tán thành bất cứ một sự thừa nhận nào đối với chủ nghĩa dân tộc cả; trái lại nó tán thành bất cứ cái gì giúp vào việc xóa bỏ mọi sự phân biệt dân tộc, vào việc phá hủy bức tường ngăn cách các dân tộc, tán thành bất cứ cái gì làm cho mối liên hệ giữa các dân tộc được luôn luôn mật thiết, bất cứ cái gì dẫn đến sự hợp nhất các dân tộc Hành động khác đi, có nghĩa là đứng về phía chủ nghĩa dân tộc Phi-li-xtanh phản động” [55, tr.31]
Theo nhiều nhà nghiên cứu ở nước ta hiện nay, sau khi V.I Lênin mất, chính sách dân tộc của V.I Lênin ở Liên Xô không được thực hiện một cách đúng đắn và có biểu hiện xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc Sự thất bại do việc thực hiện Chính sách dân tộc ở Liên Xô do yếu tố chủ quan là chính
và yếu tố khách quan với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch GS Phan Hữu Dật khi đề cập đến vấn đề trên đã cho rằng: “Nguyên nhân và cũng là hậu quả của Chính sách dân tộc ở Liên Xô là do đã không tuân thủ nguyên lý đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc
Trang 1611
Trong những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI vẩn đề dân tộc vẫn mang tính
thời sự và có nhiều diễn biến phức tạp cùng với các vấn đề khác như tôn giáo, nhân quyền, Đây là các vấn đề nhạy cảm đối với các dân tộc quốc gia và thành phàn tộc người (ethnies) trong các quốc gia đa dân tộc Đó cũng chính là vấn đề các thế lực thù địch quốc tế tìm mọi cách lợi dụng, tận dụng để phá vỡ khối đại đoàn kết, chia rẽ các thành phần dân tộc trong các quốc gia và giữa các quốc Trong bối cảnh đó, các
nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về Dân tộc và vẩn đề dân tộc vẫn là cơ sở lý luận
để chúng ta vận dụng vào hoàn cảnh thực tiễn của đất nước trong thời đại mới
1.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN Tộc VÀ CÔNG TÁC DÂN
TỘC
1.2.1 về vấn để dân tộc
Trong những năm 20 của thế kỉ XX Hồ Chí Minh là người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc đó là con đường cách mạng vô sản, đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin Những năm vừa qua, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân tộc Có hai nhóm khác nhau với hai cách nghiên cứu, tiếp cận tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc:
- Nhóm thứ nhất [43, tr.45-50] khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
dân tộc được thể hiện qua các nội dung sau:
a, Vẩn đề dân tộc chi có thể được giải quyết triệt để bằng con đường cách mạng vô
sản: Nội dung này phân tích quan điểm dân tộc đặt trong hoàn cảnh của một nước thuộc địa nửa phong kiến Khi chủ tịch Hồ Chí Minh bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin vào những năm 20 của thế kỉ XX đặc biệt là khi Người đọc được Luận cương của
Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người đã rút ra két luận rằng: “Chỉ có giải phóng
sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản” [27, tr.416]
Khi đề cập về vấn đề dân tộc và cách mạng vô sản thì chủ tịch Hồ Chí Minh đã
giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vẩn đề dân tộc và giai cấp; khẳng định con đường
đi đến thực hiện quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam trong việc tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa; khẳng định tương lai của các dân tộc gan
Trang 1712
thời bao gồm cả hai tiến trình giải phóng gắn bó mật thiết với nhau: giải phóng dân tộc
và giải phóng giai cấp - đây là điều mà hầu hét các nhà yêu nước phong kiến và tư sản thời kì trước Hồ Chí Minh bế tắc và không nhìn thấy được
b, Khẳng định Việt Nam là một quốc gia thong nhất gồm nhiều dân tộc: Đây là tư tưởng nhất quán và sâu sắc của chủ tịch Hồ Chí Minh Tư tưởng đó vừa thể hiện tính
và mối quan hệ lâu đời của các thành phần tộc người cùng sinh sống trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam Nước ta là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống từ lâu đời Với bề dày lịch sử hơn bốn ngàn năm, các dân tộc đã cùng nhau sinh sống, lao động, liên két lại chống giặc ngoại xâm tất cả những điều này đã tạo nên một dân tộc Việt Nam mang bản lĩnh, bản sắc văn hóa, cốt cách riêng của quốc gia Việt Nam trong khu vực và trên thế giới
Tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về một nước Việt Nam thống nhất bao gồm nhiều dân tộc anh em đã được Người thể hiện trong nhiều tác phẩm, bài viết, bài phát
biểu như tác phẩm Lịch sử nước ta bằng thơ hay trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu
chưa giành được độc lập, tự do chính là muốn giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa thực dân đế quốc
đấy là điểm tốt”[27, tr.137] Dân tộc Việt Nam là một cộng đồng đa dân tộc có lịch sử, văn hóa lâu đời và nhiều giá trị, mang bản sắc văn hóa độc đáo tạo nên tính phong phú, đa dạng trong tính thống nhất của quốc gia dân tộc Với nhãn quan chính trị sâu rộng, tính nhân văn sâu sắc thì trong suốt quá trình tìm đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã luôn ý thức và coi trọng nét độc đáo, bản sắc riêng của các thành phần dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
Tính đa dạng cũng có nghĩa là phải hiểu được những phong tục tập quán của các dân tộc anh em trong cộng đồng quốc gia để có những biện pháp hoạt động nhằm cùng
Trang 1813
nhau phát triển kinh tế - xã hội hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc Tư tưởng đó của Người được thể hiện qua lời căn dặn cán bộ tuyên giáo miền núi: “Một tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào Mèo thì tuyên truyền huấn luyện đối với đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác, phải có sự thay đổi cho thích hợp Bởi vì đời sống, trình độ đồng bào Mèo và đồng bào Thái khác nhau nên tuyên truyền huấn luyện phải khác”[28, tr.127]
c, Tư tưởng về các dân tộc đoàn kết bình đẳng, tương trợ lẫn nhau trong sự nghiệp
của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với vấn đề dân tộc ở nước ta Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và đặt nền móng cho ché độ xã hội mới với nhiều vấn đề phức tạp trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chế độ xã hội mới Hồ Chí Minh đã hình thành, xây dựng nên tư tưởng đoàn két bình đẳng, tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc
Tư tưởng đó của Người còn là sự kế thừa và phát huy cao độ truyền thống đoàn kết của dân tộc tạo nên sức mạnh vật chất vĩ đại của dân tộc trong thời đại của Người
Tư tưởng đoàn kết, bình đẳng, tương trợ trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam của Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng để Đảng và Nhà nước hoạch định và thực hiện Chính sách dân tộc từ đó cho tới nay và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Cũng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn theo dõi, nhắc nhở , uốn nắn những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng đoàn két, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc với cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, cán bộ đảng viên các cấp Người viết: “Phải khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự
ti dân tộc” Người phân tích rõ cho cán bộ quần chúng hiểu rõ: “Người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo Cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dân tộc nhỏ bé, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được, rồi không cố gắng Đó là những điểm phải tránh”[27, te 136]
d, Tư tưởng làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho đồng bào các dân tộc ít
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc về sự phát triển giữa các dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số, giữa miền núi với miền xuôi là không đồng đều Nhận thức
Trang 1914
được điều đó, sau khi đất nước giành được độc lập Người đã chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương, cán bộ phải làm sao nâng cao đời sống của nhân dân làm cho các dân tộc thiểu số tiến kịp các dân tộc đa số, miền núi phát triển tiến kịp miền xuôi Người viết: “Dưới chế độ thực dân và phong kiến , đồng bào rẻo cao sống rất cực khổ Ngày nay, đồng bào rẻo cao được tự do bình đẳng, không bị áp bức, bóc lột như trước kia Nhưng đời sống vật chất, văn hóa chưa được nâng cao mấy Đó là vì cán bộ lãnh đạo không chú ý đầy đủ đén đồng bào rẻo cao Bác thay mặt Trung ương
và Chính phủ giao cho cán bộ từ tỉnh đến xã phải ra sức giúp đỡ hơn nữa đồng bào rẻo
cao về mọi mặt”[27, tio, tr.323]
cập trên hai phương diện là phương diện vĩ mô và phương diện vi mô
a, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trên phương diện vĩ mô: trên phương
diện này đề cập chủ yếu đến các nội dung tư tưởng của Hồ Chí Minh trong bối cảnh lịch sử đất nước chưa giành được độc lập tự do Và vấn đề dân tộc trong tư tưởng của
Hồ Chí Minh lúc bấy giờ là giành lại độc lập tự do cho toàn dân tộc bao gồm tất cả các dân tộc cả đa số và thiểu số trên đất nước Việt Nam, làm cho các dân tộc từ thân phận người nô lệ trở thành người làm chủ của đất nước
b, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trên phương diện vỉ mô: trên phương
diện này chủ yếu là đề cập tới việc xác định đường lối, chính sách để đưa các dân tộc thoát khỏi đói nghèo lạc hậu đi lên phát triển, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc
và văn minh
Nhóm tác giả này khi đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trên phương diện vi mô đã điểm lại việc chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng những thuật ngữ nào đề chỉ các thành phần dân tộc ở nước ta khi đề cập đến nội dung và việc giải quyết
vấn đề dân tộc như: dân tộc Kinh, dân tộc đa sổ, dân tộc thiểu số, đồng bào thượng du,
dân tộc thiểu số trong cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam Tư tưởng của Hồ Chí Minh về một dân tộc Việt Nam là cơ sở giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng dân
Trang 2015
tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức được rằng nước ta là một quốc gia đa dân tộc với nhiều thành phàn dân tộc anh em có sự khác nhau về văn hóa, tiếng nói, phong tục tập quán, trình độ Đây không chỉ là nhãn quan chính trị mà còn là luận điểm khoa học chân xác để giải quyết vấn đề dân tộc, để lãnh đạo việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc của Người
Hồ Chí Minh không chỉ là người đã tìm và đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước
ta mà còn là người đã vận dụng một cách sáng tạo các nguyên tắc về vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin vào tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam Các nội dung cõ bản về vấn ðề dân tộc cũng ðýợc Ngýời quan niệm phải thực hiện thông qua
hệ thống chính trị, thông qua chính sách dân tộc Ðó chính là nguyên tắc ðýợc Ngýời quán triệt và chỉ ðạo trong suốt quá trình cách mạng nước ta Các nguyên tắc về vấn
đề dân tộc của Hồ Chí Minh đã được quán triệt trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta:
- về nguyên tắc đoàn kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn cứ vào nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền thống dân tộc, vào thực tiễn tình hình các dân tộc ở nước
ta để đề ra chủ trương kế thừa và nâng cao một bước nội dung đoàn kết trong công tác dân tộc ở nước ta Người đưa ra khẩu hiệu: “Đoàn két, đoàn két, đại đoàn kết” đây được coi là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố dân tộc, giai cấp, quốc tế và thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh Khẩu hiệu này là nhằm kêu gọi và thực hiện 3 cấp độ của nội dung đoàn kết: đoàn kết trong Đảng - đoàn kết dân tộc - đoàn kết quốc tế Nội hàm của vấn đề đoàn kết do Hồ Chí Minh đưa ra có nhiều sáng tạo hơn so với các nội dung đoàn két trước đó của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin
- về nguyên tắc bình đẳng, dựa trên cơ sở quán triệt tư tưởng chủ nghĩa Mác -
Lênin về vấn đề dân tộc và căn cứ vào nhận thức sâu sắc của Người về tình hình thực tiễn dân tộc ở nước ta đã đề ra nguyên tắc này và luôn được coi trọng trong việc hoạch định các chính sách dân tộc qua các thời kì Bình đẳng là yếu tố không thể thiếu trong quan hệ giữa các dân tộc và chính sách dân tộc để tạo nên sự đoàn kết vững chắc giữa các dân tộc Bình đẳng được đặt ra vừa là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về
Trang 2116
vấn đề dân tộc, đồng thời cũng vừa xuất phát từ hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, cộng đồng các tộc người vừa ở tình trạng phát triển không đều vừa nằm trong tình hình xã hội thực dân, phong kiến bị kìm hãm sự phát triển về chính trị, kinh tế, xã hội
Chính sách dân tộc của Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước ta là làm sao cho các dân tộc rút ngắn khoảng cách phát triển, để các dân tộc thực sự làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình về tất cả mọi mặt Chỉ có thực sự bình đẳng thì các mục tiêu trên mới có khả năng trở thành hiện thực
- về nguyên tắc tương ữợ, đây là nguyên tắc có tính độc đáo trong tư tưởng Hồ
Chí Minh về công tác dân tộc Người coi trọng và đề cao tinh thần tương trợ giữa các dân tộc Đây là nguyên tắc vừa có tính pháp lý vừa phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc Việc đưa ra nguyên tắc này của Hồ Chí Minh vừa phản ánh những cơ sở lý luận vừa phản ánh, kế thừa và phát huy truyền thống tương thân tương ái của cộng đồng các dân tộc nước ta Những truyền thống của dân tộc như “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” hay “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng” được chủ tịch Hồ Chí Minh ké thừa
và nâng lên một tầm cao mới Người còn nghiêm túc phê phán tư tưởng lớn, dân tộc hẹp hòi
- về quyền dân tộc tự quyết: đây chính là một trong những nguyên tắc cơ bản
trong chính sách dân tộc của Lênin Khi nghiên cứu vấn đề này trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, nhóm thứ hai này đã cho rằng nó được biểu hiện dưới hai cấp độ khác nhau: 1) cấp độ dân tộc - quốc gia, đó chính là cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho toàn dân tộc Việt (chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ); 2) Cấp độ tộc người, vấn đề dân tộc tự quyết là thực hiện ba nguyên tắc: đoàn két, bình đẳng, tương trợ để các dân tộc được phát triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của đất nước và rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc
Ngoài hai nhóm tác giả trên còn có một nhóm thứ ba, đó là quan điểm của tác giả trong cuốn sách mang tên: Chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề dân tộc [46] khi đề cập đến
nội dung chính sách dân tộc và vấn đề dân tộc đã đề cập tới các vấn đề: Là nhận thức
Trang 2217
của Người về đặc điểm tình hình dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta; Coi trọng việc thực hiện chính sách dân tộc và coi vấn đề dân tộc có tầm quan trọng chiến lược; Đánh giá cao vai trò vị trí của các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp cách mạng chung của cả nước: Luôn luôn kêu gọi đoàn két trong toàn thể các dân tộc; Hiểu rất rõ âm mưu của kẻ thù trong việc tìm mọi cách để thực hiện chính sách chia để trị, chia rẽ các dân tộc; Là người Việt Nam đầu tiên xem xét và giải quyết vấn đề dân tộc trên cơ sở học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin Luôn đấu tranh với những tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tư tưởng dân tộc lớn, coi thường các dân tộc nhỏ, trình độ phát triển thấp; Chính sách dân tộc của Hồ Chí Minh được thể hiện trong Hiến Pháp, các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc; Các dân tộc có quyền bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau; Coi trọng việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc và chỉ ra nội dung cốt yếu của Chính sách dân tộc;
1.2.2 về công tác dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân tộc chưa được nhiều học giả chú ý và không có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề này Công tác dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, thể hiện cụ thể và sinh động quan điểm, tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong thực tế cuộc sống, trong công tác lãnh đạo
và quản lý đất nước
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân tộc được thể hiện trước nhu cầu thực tiễn, cụ thể là nhiệm vụ của công tác dân tộc đối với Chính phủ mới được hình thành sau cách mạng tháng Tám 1945 Để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc sau cách mạng tháng Tám năm 1945 và chính phủ mới thì công việc đầu tiên cần làm đó là thành lập cơ quan công tác dân tộc - một trong những cơ quan đầu tiên
của chế độ mới ở nước ta được ra đời sớm nhất, đó là việc thành lập Nha dân tộc thiểu
sổ. Nha dân tộc thiểu số được thành lập trên cơ sở sắc lệnh số 58 ngày 3 - 5 - 1946 do chủ tịch Hồ Chí Minh ký và theo Nghị định 359 ngày 9 - 9 - 1946 của Bộ Nội vụ Tại sao chủ tịch Hồ Chí Minh lại cho thành lập cơ quan công tác dân tộc? và để làm gì? Thì câu trả lời được thể hiện trong thư Người gửi các đồng bào dân tộc thiểu
số tại Đại hội ở Playcu: “Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta Trong
Trang 2318
Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc Chính phủ thì có “NHA DÂN Tộc THIÊU SỐ”
để săn sóc cho tất cả các đồng bào”
Trong đoạn trích bức thư trên có hai vấn đề càn phải quan tâm liên quan tới tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân tộc:
- Thứ nhất, Người viết hoa tên tổ chức làm công tác dân tộc là NHA DÂN TỘC THIỂU SỐ nhằm khẳng định trước đồng bào các dân tộc một tổ chức quan trọng làm công tác dân tộc của nhà nước mới, có ý nghĩa hét sức quan trọng trong sự phát triển của các dân tộc
- Thứ hai, Người cũng đã giải thích rõ việc thành lập cơ quan làm công tác dân tộc là “để săn sóc cho tất cả các dân tộc”
- Công tác dân tộc có liên quan đến nhiều vấn đề tác động đến sự phát triển toàn diện của đồng bào các dân tộc về kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng, Chính vì lẽ đó mà trong quản lý nhà nước thường không được gọi là nghành dân tộc
mà thường gọi là lĩnh vực công tác dân tộc (thực chất là sự liên nghành, đa lĩnh vục của công tác dân tộc); không thành lập Bộ Dân tộc mà thành lập ủy ban Dân tộc (cơ quan ngang Bộ; người đứng đầu gọi là Bộ trưởng, Chủ nhiệm ủy ban Dân tộc)
Vậy công tác dân tộc là gì ngoài các chức năng, nhiệm vụ cụ thể được quy định
trong các Nghị định 359, ngày 9 - 9 - 1946 về thành lập Nha dân tộc thiểu số thuộc Bộ Nội vụ; Kết luận của Hội nghị Trung ương tháng 1 - 1947 về thành lập Phòng Quốc
ngày 29 - 1 - 1955 về thành lập Tiểu ban Dân tộc thuộc Trung ương Đảng và Thủ tướng chính phủ; sắc lệnh số 017/SL ngày 6 - 3 - 1959 về thành lập ủy ban Dân tộc
thuộc Hội đồng Chính phủ và ngang bộ; Quyết định số 38- QĐTƯ ngày 14-5-1979
thành lập Ban dân tộc Trung ương thuộc Ban Bí thu Trung ương Đảng; Nghị định 11/CP ngày 20-3-1993 và Nghị định 59/1998/NĐCP ngày 13-8-1998 thành lập ủy ban
thành lập ủy ban Dân tộc thuộc Chính phủ Nhiều người lúng túng trong nhận thức về
công tác dân tộc không phải là không có căn cứ, bởi tính liên nghành, đa lĩnh vực của công tác dân tộc; bởi như trên vừa nêu, tên cơ quan đã nhiều lần thay đổi và trực thuộc
Trang 2419
nhiều cơ quan khác nhau, do vậy chức năng nhiệm vụ cũng không cố định; hơn thế nữa, việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong thực tiễn không mấy dễ dàng Có lẽ tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh khi đề cập đến sự ra đời của Nha Dân tộc thiểu số đã gợi ý cho chúng ta về công tác dân tộc: đó là thái độ, nhận thức và hoạt động làm sao để thể hiện sự săn sóc của Chính phủ đối với đồng bào các dân tộc thiểu số
“Săn sóc cho tất cả các đồng bào” là bản chất của công tác dân tộc, là thể hiện tập trung trách nhiệm của nhà nước đối với các dân tộc thiểu số để tiến kịp sự phát triển chung của đất nước Săn sóc phải được hiểu là sự quan tâm toàn diện, là thể hiện trách nhiệm thường xuyên đối với sự phát triển, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, mức sống của đồng bào dân tộc Săn sóc là cơ sở của quan điểm trong hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện chính sách phát triển đối với vùng dân tộc thiểu
số trong mọi giai đoạn cách mạng Công tác dân tộc phải quán triệt tư tưởng đó của Người trong mọi hoạt động từ khâu hoạch định đến thực hiện các chính sách, chương trình, dự án liên quan đến sự phát triển của dân tộc thiểu số ở nước ta
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về vẩn đề dân tộc và Công tác dân tộc là hệ
thống các quan điểm được hình thành trên cơ sở học thuyết Mác - Lênin về vấn đề dân tộc kết hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam Tư tưởng đó được đặt trong bối cảnh và yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng đặt ra toong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước vì sự phát triển của dân tộc - quốc gia và
sự phát triển của mồi thành phần tộc người Đó là hệ thống các vấn đề mang tính toàn diện liên quan đến mục tiêu rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các tộc người toong
sự phát triển của quốc gia dân tộc Việt Nam; được xuất phát từ tình hình đặc điểm của các tộc người và nhiệm vụ cách mạng cụ thể toong từng giai đoạn Các cách tiếp cận
tư tưởng Hồ Chí Minh với vấn đề dân tộc trên đây cho ta những lý giải về tính chính trị và tính nhân văn của Người đối với dân tộc - quốc gia và thành phần tộc người Tuy nhiên, ngoài nhiều vấn đề liên quan khác thì các nguyên tắc bình đẳng, đoàn két, tương trợ giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc mang tính xuyên suốt Đó chính
là sự sáng tạo của Hồ Chí Minh khi nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta
Trang 2520
thế kỉ XX
1.3 KHÁI QUÁT VỀ CÁC DÂN Tộc Ở VIỆT NAM
a, Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc và giữa các dân tộc tỉ lệ dân số rất không đều nhau
Quốc gia dân tộc Việt Nam hiện nay có 54 dân tộc anh em Theo số liệu thống
kê năm 1995, dân tộc Kinh (Việt) là dân tộc đa số chiếm tới 65 triệu người toong tổng
số 73,5 triệu người, chiếm hơn 88% dân số nước ta lúc đó Còn các dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 12% Tỉ lệ dân số giữa các dân tộc thiểu số cũng rất không đồng đều nhau Có thể chia ra thành các nhóm nhu sau:
- Các dân tộc có số dân trên dưới 1 triệu người như: Tày, Thái, Hoa, Kho me, Nùng,
- Các dân tộc có số dân từ 10 vạn đến dưới 50 vạn là: H’Möng, Dao, Giarai, Êđê, Bana, Sán Chay,
- Các dân tộc có số dân từ 1000 đến 100.000 người như: Chàm, Xơ đăng, Sán dìu, Hrê, Cơ ho, Mơ nông, Thổ, Khơ Mú, Giáy, Mạ, Chơ ro, Hà Nhì, Kháng, Lô Lô,
- Có một số dân tộc có số dân từ 100 đến 500 người như Sila, ơđu, PuPéo, Rơmăm, Brâu
Tuy có số dân không đồng đều nhau nhưng các dân tộc coi nhau như anh em trong công đồng dân tộc Việt Nam, yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới việc tạo điều kiện để các dân tộc cùng nhau phát triển, đặc biệt là đối với các dân tộc có dân số quá ít, cuộc sống cơ cực, khó khăn Nhờ những chính sách của Đảng và Nhà nước về khắc phục tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc có quá ít dân, những năm gàn đây dân số của các dân tộc này đã tăng lên
b, Các dân tộc ở nước ta có truyền thống đoàn két trong đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm, xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, một số dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử như:
Trang 26Cũng có những dân tộc khác nhau về nguồn gốc lịch sử nhu giữa các dân tộc La
hủ, Lô Lô, Vân kiều,
về lịch sử cư trú, có những dân tộc đã cư trú từ lâu đời ở Việt Nam nhu Mường,
Chăm, Kho me, có dân tộc cư trú ở nước ta trên dưới 1000 năm nhu Thái; có những dân tộc mới vào nước ta cư trú cách đây 200 - 300 năm nhu H’Mông, Dao, Kho Mú,
Tuy nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán có điểm khác nhau, thời điểm cư trú cũng khác nhau, song các dân tộc đã đoàn kết, tương trợ, xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất
Nước ta là một đất nước nông nghiệp với nền kinh té nông nghiệp trồng lúa nước là chủ yếu Chính vì thế, ngay từ khi lập nước nhân dân các dân tộc đã phải cùng nhau chung sức, đoàn kết lại đắp đê, xây đập, đào kênh mương để chống đỡ lại thiên tai như hạn hán, lũ lụt hét đời này qua đời khác Hiện nay, hệ thống đê điều đồ sộ trên đất nước ta là công trình vĩ đại được xây lên bằng sức mạnh đoàn két của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong chiều dài của lịch sử mấy ngàn năm
Ngày nay, trước những biến đổi bất lợi về khí hậu và thời tiết mang tính toàn càu thì lại càng phải đòi hỏi nhân dân các dân tộc nước ta chung sức chung lòng để phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai cũng như là khắc phục hậu quả do bão, lũ gây ra Cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên vẫn đòi hỏi tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc và thông qua cuộc đấu tranh đó đại gia đình các dân tộc Việt Nam càng thêm gắn bó, chặt chẽ
Cùng với lịch sử đấu tranh chinh phục thiên nhiên, nhân dân các dân tộc Việt Nam còn có một bề dày lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước Việt
Trang 27là lịch sử chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia dân tộc Để làm được điều đó, lịch sử dân tộc đòi hỏi nhân dân các dân tộc
Việt Nam phải luôn luôn sát cánh bên nhau, đoàn kết làm nên sức mạnh chống lại kẻ thù xâm lược, giành lại độc lập và giữ vững chủ quyền đất nước
c, Các dân tộc ở Việt Nam cư trú rất phân tán và xen kẽ nhau
Nước ta trải dài từ Bắc chí Nam, lại có vị trí địa lý hét sức thuận tiện cho việc giao lưu, tiếp xúc giữa các luồng văn hóa, với nhiều luồng nhân chủng khác nhau trong khu vực Đông Nam Á Chính vì vậy, những cư dân bản địa cùng với các tộc người di cư đến đã cùng nhau chia sẻ, sinh sống trên lãnh thổ nước ta để tạo nên một cộng đồng dân tộc Việt Nam
Dân tộc Kinh (Việt) thường cư trú ở những vùng như đồng bằng, ven biển hay trung du Còn các dân tộc thiểu số sống ở miền núi phía Bắc, vùng núi Thanh - Nghệ - Tĩnh, Trường Sơn - Tây Nguyên, đồng bằng Nam Bộ; người Hoa thì lại sống tập trung
ở một số nơi thuận tiện cho làm ăn buôn bán, đặc biệt là ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh
Tình trạng cư trú phân tán, xen kẽ lẫn nhau giữa các dân tộc ở nước ta có hai mặt, một mặt nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau và xích lại gần nhau Mặt khác nó
có thể làm nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa các dân tộc, dẫn tới khả năng xung đột giữa các dân tộc trong một địa bàn cư trú Trước đây, các the lực thù địch luôn lợi dụng nhược điểm này để hòng gây chia rẽ, làm suy yếu khối ðại ðoàn kết dân tộc
Trang 2823
nhằm dễ dàng thực hiện ý đồ xâm lược hoặc duy trì ách thống trị
Ngày nay, tình trạng cư trú xen kẽ lẫn nhau giữa các dân tộc dẫn tới sự giao lưu văn hóa - kinh tế của các dân tộc Lại cộng thêm việc kết hôn giữa thanh niên nam nữ thuộc các dân tộc khác nhau ngày càng phổ biến, sự giao lưu văn hóa - kinh tế giữa các dân tộc càng thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hòa hợp dân tộc
d, Các dân tộc thiểu số ở nước ta chủ yếu cư trú trên các vùng rừng núi, có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, môi trường sinh thái
- về kinh té:
Nước ta với 3 Á diện tích là đồi núi và là nơi cư trú chủ yếu của các dân tộc thiểu
số Đây là khu vực có tiềm năng kinh té to lớn về tài nguyên đất và rừng Từ nhiều thế
kỉ qua, hàng triệu cư dân đã sống dựa vào các nguồn thực phẩm có sẵn của núi rừng, sông suối như các loại rau rừng, chim muông, thú, cá sông, Từ lâu, núi rừng đã là nguồn cung cấp chủ yếu các loại toe, gỗ, lâm thổ sản quý hiếm Miền núi còn là nơi có điều kiện phát triển chăn nuôi, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, Ngoài ra, miền núi còn là nơi có tiềm năng to lớn về các nguồn tài nguyên khoáng chất như vàng, bạc, đá quý, than, sắt,
Hầu hết tất cả các con sông đều bắt nguồn từ miền núi, hằng năm cung cấp hàng
tỉ mét khối nước cho các nhà máy thủy điện, các công trình thủy lợi và bồi đắp hàng triệu mét khối phù sa cho vùng đồng bằng châu thổ
Đối với môi trường sinh thái của cả nước, miền núi có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu trong mùa mưa lũ Tình trạng phá rừng đang diễn ra nghiêm trọng do lâm tặc và người dân phá rừng khai hoang làm nương rẫy đã làm cho diện tích rừng giảm đi nhanh chóng, chỉ khoảng 30%, cá biệt một số nơi chưa đầy 10% Diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng đã ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, gây ra những thiên tai như lũ ống, lũ quét, Đường biên giới của nước ta trên đất liền kéo dài hơn 4000 km thì 3000 km nằm
ở khu vực miền núi Nơi đây có nhiều cửa ngõ thông thương với các nước láng giềng Đây là điều kiện thuận lợi để mở rông quan hệ kinh tế, văn hóa giữa nước ta với các nước láng giềng trong khu vực và trên thế giới
Trang 2924
- về an ninh quốc phòng
Miền núi có một vị trí chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng Từ xưa đến nay, các thế lực thù địch luôn sử dụng địa bàn rừng núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và giữ nước, phá hoại sự nghiệp cách mạng nước ta
Rừng núi từng là căn cứ địa cách mạng trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ Lợi dụng địa hình hiểm trở của miền núi, nhân dân ta đã làm nên những thắng lợi lịch sử như chiến thắng Điện Biên Phủ, hay núi rừng Tây Nguyên là nơi mở đầu cho chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng
Trong giai đoạn hiện nay, miền núi - biên giới là phên dậu vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về an ninh quốc phòng trong bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia dân tộc, chống và làm thất bại mọi âm mưu xâm nhập, “diễn biến hòa bình” của kẻ thù, bảo vệ sự nghiệp hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội
- về quan hệ đối ngoại
Ở vùng biên giới, các dân tộc thiểu số vừa cư trú ở Việt Nam, vừa cư trú ở nước láng giềng, giữ quan hệ dòng họ, quan hệ thân tộc với nhau Các dân tộc Kinh, Tày, Mường, Thổ, Chứt, Bân, Cơho, chủ yếu cư trú ở Việt Nam, chỉ có một bộ phận nhỏ sống ở nước khác Ngược lại, một số dân tộc chỉ có một bộ phận nhỏ sinh sống ở nước
ta, còn lại đa phàn là cư trú ở nước ngoài (các dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ H’Mông, Tạng - Mianma, Tày - Thái, Môn - Khome) Hiện nay một số dân tộc như Dao, H’Mông, Thái là đối tượng nghiên cứu của một số tổ chức mang tính quốc tế
Những năm gần đây, dân tộc và tôn giáo là những vấn đề hết sức nhạy cảm Không ít quốc gia đã xảy ra xung đột từ vấn đề dân tộc, tôn giáo Các thế lực phản quốc, thế lực thù địch luôn lợi dụng chiêu bài dân tộc, tôn giáo để trực tiếp can thiệp vào nội bộ nhiều nước, thậm chí là sử dụng vũ lực ép buộc
Do đó, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta không chỉ vì lợi ích của các dân tộc thiểu số mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ vì kinh tế - xã hội mà cả chính trị quốc phòng, an ninh quốc gia
e, Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau
Trang 3025
Trình độ phát ưiển kinh tế - xã hội không đều nhau giữa các dân tộc ở nước ta là một thực tế khách quan Có những dân tộc ít người còn có đời sống kinh tế - xã hội thấp kém Nhiều dân tộc cư trú ở những địa bàn có điều kiện tự nhiên khó khăn, khắc nghiệt Điều kiện canh tác nương rẫy không ổn định nên đời sống của đồng bào thường bấp bênh Cuộc sống du canh, du cư thường dẫn tới đói nghèo, bệnh tật Đồng bào các dân tộc ở miền núi đã tổng kết “ba lần chuyển nhà bằng một lần cháy nhà” Đối với cư dân làm nương rẫy ở các tỉnh phía Bắc, trong vòng chu kỳ 10 năm thì tỉ lệ thiếu đói là 7/10
Bên cạnh nguyên nhân lịch sử và hoàn cảnh tự nhiên, cần thấy nguyên nhân xã hội là chủ yếu Dưới sự thống trị của các giai cấp bóc lột, miền núi và các dân tộc thiểu số là đối tượng để bọn chúng bòn rút, bóc lột, thực hiện chính sách ngu dân Trong gần một thế kỉ thực dân Pháp đô hộ, với chính sách khai thác thuộc địa triệt để, đời sống của nhiều dân tộc thiểu số là đói rét, lạc hậu
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách theo tinh thần tạo điều kiện từng bước để miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiến kịp vùng đồng bào đa số Sau hơn 10 năm đổi mới, kinh tế - xã hội miền núi và vùng dân tộc thiểu số đã có bước phát triển đáng kể Tuy nhiên giữa các dân tộc thiểu số với nhau cũng như giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn chênh lệch quá nhiều
f, Nen văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc anh em có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, văn hóa Việt Nam vừa có tính đa dạng, vừa có tính thống nhất Bản sắc văn hóa của mồi dân tộc là sự biểu hiện cách ứng xử của một cộng đồng người trong một hoàn cảnh tự nhiên và không gian xã hội cụ thể
Do điều kiện sống xen kẽ và nhu cầu giao tiếp nên ở nhiều dân tộc thường sử dụng song ngữ hoặc đa ngữ Tiếng Việt là quốc ngữ, được dùng làm phương tiện giao tiếp chung của tất cả các dân tộc, là tiếng nói chính thức của Nhà nước, là công cụ xây dựng ý thức dân tộc thống nhất Trong khi đó, tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc vẫn được
Trang 3126
duy trì, là công cụ xây dựng và giữ gìn ý thức riêng của dân tộc
Văn hóa sản xuất, kiến trúc, xây dựng, giữa các dân tộc có nhiều nét khác nhau Không chỉ khác nhau về trồng lúa nước và trồng lúa nương, mà phương thức canh tác cũng khác nhau Nghề dệt thổ cẩm ở dân tộc thiểu số rất độc đáo Có dân tộc
ở nhà sàn, có dân tộc ở nhả đất; nhà sàn của người Thái lại khác nhà sàn của người Mường
Văn hóa ăn, mặc của các dân tộc hết sức phong phú Phong tập tục quán, lối sống của mỗi dân tộc cũng khác nhau
Tổ chức xã hội của người Kinh có xóm, làng, xã; dân tộc Thái có bản, mường; dân tộc Êđê có buôn, xã; dân tộc Khmer có phum, xóc Già làng, Trưởng bản là những người rất có uy tín
Đặc biệt, các dân tộc thiểu số ở nước ta có kho tàng văn hóa dân gian, các làn điệu dân ca, các điệu múa, các bản trường ca, vô cùng phong phú và mang giá trị nghệ thuật lớn
Bản sắc văn hóa mỗi dân tộc nước ta tạo dựng nên nền văn hóa Việt Nam rực rỡ
Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kì mới phải hướng vào việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc Đồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa của các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển của từng dân tộc Ngày nay, chúng ta càng có điều kiện thuận lợi và cơ sở vững chắc để xây dựng thành công một nền văn hóa Việt Nam thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc nước ta
1.4 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH DÂN Tộc TRƯỚC NĂM 1986
- Thời kì đẩu tranh giải phóng dân tộc giành chính quyền 1930 - 1945: Ngay từ khi
ra đời, trong các cương lĩnh và văn kiện đầu tiên, Đảng ta đã khẳng định những nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc Mác xít Trong nghị quyết về các dân tộc thiểu số của Đại hội Đảng lần thứ nhất tháng 3 năm 1935 đã khẳng định: “Đảng Cộng sản thừa nhận cho các dân tộc được quyền tự do hoàn toàn Đảng chống chế độ thuộc
Trang 3227
địa, chống hết các hình thức trực tiếp đem dân tộc này vào đàn áp, bóc lột dân tộc khác” Khẩu hiệu của Đảng là “Xứ Đông Dương hoàn toàn độc lập, thừa nhận quyền dân tộc tự quyết”, vấn đề dân tộc của nước ta lúc này còn là vấn đề nông dân, giải quyết ruộng đất cho nông dân Đảng đã rất quan tâm vận động nông dân trong các cuộc vận động dân chủ, vận động quần chúng, trở thành phong trào rộng lớn, lôi kéo được đông đảo quần chúng nhân dân lao động trong
các dân tộc tham gia vì mục tiêu người cày có ruộng, gắn với mục tiêu độc lập dân tộc
và quyền dân tộc tự quyết
- Thời kì kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954: Trong thời gian diễn ra cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ nền độc lập nước nhà, Đảng ta đã đề ra những chính sách cụ thể giải quyết vấn đề dân tộc Tháng 8 năm 1952 Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra nghị quyết về vấn đề dân tộc Ngày 22 - 6
- 1953 Chính phủ đã ban hành chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam, quy định các mặt công tác chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tinh thần cơ bản của chính sách đó là: “đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương ữợ để kháng chiến kiến quốc, giúp nhau tiến bộ về mọi mặt” Nhờ có chính sách đoàn két dân tộc đúng đắn mà các dân tộc thiểu số ở vùng núi đã tích cực tham gia cuộc kháng chiến, cùng cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng năm châu chấn động địa cầu, đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng
- Thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đẩu tranh chống Mỹ ở miền Nam,
miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt đầu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Lúc này, việc giải quyết vấn đề dân tộc gắn liền với việc tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa: cải cách dân chủ, cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp, định canh định cư, Ở miền Nam, việc giải quyết vấn đề dân tộc gắn liền với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bọn tay sai phản động, vấn đề dân tộc được giải quyết đúng đắn đã góp phần làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất