1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề xuất khẩu của hà nội trong thời kỳ đổi mới - thực trạng và giải pháp

82 597 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề xuất khẩu của hà nội trong thời kỳ đổi mới - thực trạng và giải pháp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2000
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 336 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề xuất khẩu của Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu và đề cập, song cha có công trình tổng kết quá trình phát triển hoạt động xuấtkhẩu của Hà Nội một cách toàn diện để đa ra

Trang 1

Lời mở đầu

Xuất khẩu có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế nói chung vàtrong hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng Hớng về xuất khẩu là một công cụhữu hiệu trong chiến lợc công nghiệp hoá của mỗi quốc gia Xuất khẩu có vaitrò trong việc thúc đẩy phân công lao động, mở rộng sản xuất của mỗi quốcgia; tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá, hiện đạihoá của đất nớc; thu hút lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mở rộng kinh

tế đối ngoại

Hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Nội trong thời gian qua đã đạt đợcnhững thành tích to lớn góp phần quan trọng trong phần kinh tế của Thủ đô.Mặt khác, việc "Xây dựng Thủ đô thành trung tâm hàng hoá bán buôn, xuấtnhập khẩu hàng đầu của khu vực phía Bắc và có vai trò quan trọng của cả n-ớc" đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của Chính phủ, Bộ ngành Trung ơng và

địa phơng Đẩy mạnh xuất khẩu là vấn đề đợc quan tâm hàng đầu của Thànhphố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

Vấn đề xuất khẩu của Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu và

đề cập, song cha có công trình tổng kết quá trình phát triển hoạt động xuấtkhẩu của Hà Nội một cách toàn diện để đa ra bức tranh toàn cảnh về sự nghiệpphát triển xuất khẩu của Thủ đô trong thời kỳ đổi mới, đánh giá thuận lợi, khókhăn, từ đó đề xuất những quan điểm, mục tiêu và giải pháp chủ yếu đẩymạnh xuất khẩu của Thành phố Hà Nội trong thời gian tới

Chính vì vậy báo cáo chuyên đề có tên "Vấn đề xuất khẩu của Hà Nội trong thời kỳ đổi mới - thực trạng và giải pháp".

Trang 2

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài :

Hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Nội trong thời gian qua đã đạt đợcnhững thành tích to lớn góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế Thủ

đô Mặt khác, việc “ xây dựng Thủ đô thành Trung tâm hàng hoá bán buôn,xuất nhập khẩu hàng đầu của Khu vực Phía Bắc và có vai trò quan trọng củacả nớc” đang là nhiệm vụ chung không những của Thành phố mà cũng lànhiệm vụ của Chính phủ, Bộ, Ngành trung ơng Đẩy mạnh xuất khẩu là vấn đề

đợc quan tâm hàng đầu của Thành phố Hà Nội trong điều kiện hiện nay

Vấn đề xuất khẩu của Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu và

đề cập, song cha có công trình đi sâu nghiên cứu vấn đề xuất khẩu của Hà Nộimột cách toàn diện để đa ra bức tranh toàn cảnh về sự nghiệp phát triển xuấtkhẩu của Thủ đô trong thời kỳ đổi mới, đánh giá thuận lợi, khó khăn, thấy rõnhững thành tựu và hạn chế, từ đó đề xuất những quan điểm, mục tiêu và giảipháp chủ yếu để đẩy mạnh xuất khẩu của Thành phố trong thời gian tới Do đó

luận văn lấy vấn đề “Hoạt động xuất khẩu của Hà Nội thời kỳ đổi mới (1986

- 2000)- Thực trạng và giải pháp" làm đề tài nghiên cứu.

2 Đối t ợng và phạm vi nghiên cứu:

Luận văn có đối tợng nghiên cứu là hoạt động xuất khẩu của Hà Nộithời kỳ đổi mới kinh tế (1986 - 2000)

Hoạt động xuất khẩu của Thủ đô trải qua nhiều thời kỳ biến động thăngtrầm với việc mở rộng và thu hẹp về địa giới cho nên đánh giá một cách hệthống, toàn diện và chính xác là việc làm không đơn giản (Truớc năm 1989

địa giới Hà Nội rộng hơn so với từ 1989 đến nay khá nhiều) Mặt khác việc

đổi mới chỉ thực sự đi vào cuộc sống từ sau 1989 nên luận văn sẽ tập trung chủ yếu phân tích trong khoảng thời gian từ năm 1991 trở lại đến năm

2000 Trên cơ sở đó, luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất

một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu của Hà Nội trong giai

đoạn 2001 - 2010

3 Ph ơng pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dựng phơng pháp lịch sử kết hợp với phơng pháp logic,

ph-ơng pháp so sánh, phph-ơng pháp phân tích và tổng hợp, phph-ơng pháp thống kê đểnghiên cứu

4 Những đóng góp chủ yếu của luận văn:

Trang 3

- Hệ thống hoá các lý thuyết về xuất khẩu

- Khảo sát thực trạng quá trình phát triển của hoạt động xuất khẩu củaThành phố Hà Nội trong thời kỳ đổi mới Phân tích những u nhợc điểm và cácvấn đề tồn tại gây cản trở cho việc mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quảhoạt động xuất khẩu của Thủ đô; Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm

- Đề xuất một số quan điểm và các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnhxuất khẩu của Hà Nội trong thời gian tới

5 Kết cấu, nội dung của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chơng:Chơng 1: Các lý thuyết về xuất khẩu và kinh nghiệm của một số Thànhphố trong nớc và nớc ngoài trong việc đẩy mạnh xuất khẩu

Chơng 2: thực trạng hoạt động xuất khẩu của Hà Nội trong thời kỳ đổimới kinh tế (1986 - 2000)

Chơng 3: Quan điểm và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu củaThành phố Hà Nội thời kỳ 2001 - 2010

Trang 4

Ch ơng 1

Các lý thuyết về xuất khẩu và kinh nghiệm của một

số Thành phố trong nớc và nớc ngoài trong việc đẩy

mạnh xuất khẩu 1.1 Các lý thuyết về xuất khẩu:

1.1.1 Khái niệm và vai trò của xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm xuất khẩu

+ Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động ngoại thơng, trong đó hànghoá và dịch vụ đợc bán cho nớc ngoài nhằm thu ngoại tệ Xét dới góc độ cáchình thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu là hình thức cơ bản đầu tiên củadoanh nghiệp khi bớc vào lĩnh vực kinh doanh quốc tế, nhằm : sử dụng khảnăng vợt trội (hoặc những lợi thế ) của doanh nghiệp; giảm chi phí cho một

đơn vị sản phẩm do nâng cao khối lợng sản xuất ; nâng cao đợc lợi nhuận vàgiảm rủi ro do tối thiểu hoá sự dao động của nhu cầu

+ Xuất khẩu là một hoạt động thơng mại quốc tế, một hoạt động kinhdoanh buôn bán trên phạm vi quốc tế Nó không phải là hành vi buôn bánriêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức bêntrong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy hàng hoá phát triển,chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định và từng bớc nâng cao đời sống của nhândân

Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh dễ đem lại những hiệu quả to lớnnhng có thể gây thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với hệ thống kinh tế khác từbên ngoài mà các chủ thể trong nớc tham gia xuất khẩu không dễ dàng khốngchế đợc

+ Theo Điều 2 nghị đinh 57/1998 của Chính phủ, hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt động bán hàng hoá của thơng nhân Việt Nam với thơng nhân nớc ngoài theo các hợp đồng mua bán hàng hoá, bao gồm cả hoạt động tạm nhập tái xuất và chuyển khẩu hàng hoá.Nh vậy, với khái niệm nh trên

xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh nhng phạm vi kinh doanh vợt khỏibiên giới quốc gia hay nói cách khác đố là hoạt động buôn bán với nớc ngoài.Thông qua hoạt động xuất khẩu, quốc gia có thể thu đợc những thuận lợi tolớn cho nền sản xuất trong nớc

1.1.1.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu :

Trang 5

Xuất khẩu đã đợc thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế

đối ngoại, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển, thểhiện ở những mặt sau:

+ Xuất khẩu thúc đẩy phân công lao động và hợp tác đôi bên cùng có lợi, tạo điều kiện mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng của mỗi quốc gia

Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sảnxuất và tăng nhanh khả năng tiêu dùng của một quốc gia Xuất khẩu tiêu thụmột bộ phận lớn tổng sản phẩm xã hội ở thị trờng nớc ngoài để thu ngoại tệ

Nó tạo điều kiện để nền kinh tế quốc dân có thể sản xuất với quy mô lớn trêncơ sở chuyên môn hoá và hơp tác quốc tế Nhờ sản xuất với quy mô lớn nên

có thể tạo thuận lợi cho đầu t, cho việc hiện đại hoá kỹ thuật và công nghệ,hợp lý hoá sản xuất, qua đó tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm

Xuất khẩu tạo điều kiện khai thác triệt để lợi thế so sánh và các tiềmnăng kinh tế Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng rất phong phú về tiềmnăng(các nguồn lực) Song điều đó chỉ mới là khả năng Tính hiện thực của

nó lại đợc quyết định ở việc thực hiện hệ số khai thác tiềm năng ngày mộtnâng cao

Hệ số khai thác Tiềm năng thực tế đợc khai thác

Tiềm năng =

-Tổng tiềm năng đã đợc điều tra có khả năng huy độngHiệu suất sinh lợi kém nếu công nghệ khai thác, hình thức, đối tác vàbạn hàng (nhất là bạn hàng nớc ngoài) xác định không đúng và ngợc lại hiệusuất lợi nhuận cao nếu ta biết lựa chọn bạn hàng, đối tác khai thác tiêu thụ cáctiềm năng đem lại Chính vì vậy, bằng cách đó, xuất khẩu.góp phần không nhỏvào việc nâng cao tốc độ tăng trởng kinh tế và hiệu suất tích luỹ từ nội lực của

Hà Nội, một nhiệm vụ rất quan trọng hiện nay

+ Xuất khẩu tạo nên nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc

Nguồn vốn để nhập khẩu có thể đợc hình thành từ các nguồn nh : Đầu tnớc ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ ngoại tệ, xuấtkhẩu sức lao động Các nguồn vốn nh đầu t nớc ngoài, vay nợ và viện trợ

Trang 6

sau Nh vậy, nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, phục vụ công nghiệphoá - hiện đại hoá đất nớc là xuất khẩu Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc

độ tăng của nhập khẩu

Thông qua việc lựa chọn bạn hàng, đối tác và các hình thức xuất khẩu

để thu ngoại tệ, tích luỹ vốn sẽ giúp Hà Nội nâng cao hiệu ích sử dụng vốn,nhập khẩu các công nghệ mới từ bên ngoài, đồng thời phát huy hiệu quả cácnguồn lực từ bên trong và ngoại lực trong quá trình mở rộng quan hệ kinh tế

đối ngoại của Thủ đô Vai trò này ngày càng trở nên quan trọng khi năng lựctích luỹ và huy động trong GDP của nền kinh tế Việt Nam, trong đó có HàNội còn rất hạn chế

+ Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển:

Đẩy mạnh xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản xuất, nhiều ngànhnghề mới ra đời gây phản ứng dây truyền giúp các ngành khác phát triển theo.Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội đầy đủ cho việc pháttriển; Nó tạo ra khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ góp phần cho sản xuấtphát triển và ổn định; tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào chosản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nớc; Xuất khẩu tạo ra những tiền

đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nớc;xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việcquản trị sản xuất kinh doanh để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoátrên thị trờng thế giới

Thực tế vừa qua cho thấy, thắng lợi bớc đầu của sự nghiệp đổi mới sẽchững lại hoặc tăng trởng chậm nếu không tiếp tục đổi mới cơ chế quản lýmột cách đồng bộ, nếu không tập trung sức ngời sức của vào đổi mới cơ cấukinh tế theo hớng công nghiệp hoá hiện đại hoá Việc kết hợp hài hoà giữachiến lợc công nghiệp hoá thay thế hàng nhập khẩu và chiến lợc công nghiệphoá theo hớng xuất khẩu là một quan điểm đúng đắn Song quá trình này cóthành công hay không thì không thể thiếu vắng hoặc xem nhẹ vai trò của xuấtkhẩu

+ Xuất khẩu tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm

và cải thiện đời sống của nhân dân

Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt Trớc hếtsản xuất xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu

Trang 7

nhập cao hơn Xuất khẩu còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùngthiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú nhu cầu tiêu dùngcủa ngời dân.

Tài nguyên và lực lợng lao động (nhất là lao động trí tuệ) là nguồn lựcrất quan trọng của Hà Nôị, đòi hỏi phải đợc sử dụng hợp lý Muốn khai thácnguồn lực, điều quan trọng là phải có điều kiện nhất định nh : vốn, khoa học -công nghệ cao, cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế hơp lý Các điều kiện

đó không tách rời vai trò của hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và xuấtkhẩu nói riêng ở đây cần nhấn mạnh các khía cạnh sau:

- Việc hình thành các khu công nghiệp, các khu chế xuất nằm trong tamgiác kinh tế Hà Nội - Hải phòng- Quảng Ninh để thu hút tiềm năng của HàNội và các Tỉnh lân cận, cũng nh các Tỉnh đồng bằng Bắc bộ, tạo lực lợnghàng hoá đợc tinh chế và tái chế làm tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu Từ đótăng công ăn việc làm cho ngời lao động

- Thông qua việc mở rộng và hiện đại hoá các ngành dịch vụ thu ngoại

tệ trên địa bàn Hà nội - hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ Bằngcách này, Hà Nội từng bớc có nguồn thu ngoại tệ lớn, cho phép tăng nhanhkim ngạch nhập khẩu vật t, khoa học kỹ huật và công nghệ hiện đại mà HàNội thiếu nhng lại rất cần Mặt khác, làm tăng công ăn việc làm cho ngời lao

động mà Hà nội đang phải chịu sức ép lớn cần phải giải toả

+ Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại

Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụthuộc lẫn nhau Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại Có thể hoạt

động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, tạo điềukiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển Chẳng hạn, xuất khẩu và côngnghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu t, mở rộng vậntải quốc tế Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại nêu trên tạo tiền

đề mở rộng xuất khẩu

Xuất khẩu có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân và khảnăng hội nhập của quốc gia vào thị trờng quốc tế Do đó, đẩy mạnh xuất khẩuluôn là chiến lợc quan trọng của mỗi quốc gia Đối với Thành phố Hà Nội,hoạt động xuất khẩu đang ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng trong sự phát

Trang 8

hiện đại hoá của Thủ đô Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh về quy mô và tốc

độ đã góp phần tăng trởng GDP của Hà Nội

Trang 9

1.1.2.Các lý thuyết về xuất khẩu trong thơng mại quốc tế:

Một trong những tiền đề xuất hiện sự trao đổi hàng hoá là do sự phâncông lao động xã hội cùng vơí sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cho nên thơngmại quốc tế ngày càng phát triển thì sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa cácnhà sản xuất riêng biệt của mỗi quốc gia ngày càng tăng Điều đó đợc quy

định bởi sự đa dạng về điều kiện sản xuất và tiêu dùng của các nớc

Hoạt động xuất khẩu là một trong 2 nội dung cốt lõi và hết sức quantrọng của thơng mại quốc tế Tuy cách thức tiếp cận và nhìn nhận vai trò củangoại thơng có khác nhau, nhng ngay từ rất sớm các nhà kinh tế đã thừa nhậnvai trò quan trọng của ngoại thơng nói chung và xuất khẩu nói riêng đối với sựphát triển kinh tế

- Quan điểm của trờng phái trọng thơng

Lý thuết trọng thơng là lý thuyết nền tảng cho các t duy kinh tế Lýthuyết này cho rằng sự phồn vinh của một quốc gia đợc đo bằng lợng tài sản

mà quốc gia đó cất giữ, thờng đợc tính bằng vàng Các nhà kinh tế ngoại

th-ơng mà tiêu biểu là Thomas Mun đã cho rằng ‘nội thth-ơng là một hệ thống ốngdẫn, ngoại thơng là cái máy bơm, muốn tăng của cải vật chất phải có ngoại th-

ơng nhập dần của cải qua nội thơng” Do đó, theo lý thuyết này Chính phủ nênxuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu và nếu thành công họ sẽ nhận đợc giá trị thặng

d mậu dịch tính theo vàng từ một nớc hay nhiều nớc bị thâm hụt Sự phát triểncủa sản xuất t bản chủ nghĩa đã chứng minh sự sai lầm phiến diện trong việctuyệt đối hoá vai trò của ngoại thơng của trờng phái này Chủ nghĩa trọng th-

ơng là t tởng kinh tế của gia cấp t sản trong gia đoạn phơng thức sản xuấtphong kiến tan rã và chủ nghĩa t bản mới ra đời Đây là gia đoạn chủ nghĩa tbản đang trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ t bản, sẵn sàng dùng bạo lực đểthực hiện cớp bóc tích luỹ Ngoại thơng lúc đó là phơng tiện để giai cấp t sảnthực hiện cách cớp bóc ở thuộc địa thông qua việc trao đổi không ngang giá

Để tăng cờng xuất khẩu, các cờng quốc thực dân không chỉ giữ độc quuyềncác quan hệ thơng mại mà còn ngăn cản các nớc thuộc địa sản xuất Do đó màcác nớc thuộc địa phải xuất khẩu nguyên liệu thô, kém giá trị hơn và nhậpkhẩu các sản phẩm có giá trị cao hơn Chính vì những hạn chế đó, lý thuyếttrọng thơng đã nhờng chỗ cho các học thuyết nghiên cứu kinh tế t bản chủnghĩa một cách toàn diện hơn Tuy vậy, chủ nghĩa trọng thơng đã có những

Trang 10

cống hiến nhất định về mặt lý luận khi chỉ ra vai trò của hoạt động ngoại

th-ơng đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia

- Lý thuyết của Adam Smith về lợi thế tuyệt đối:

Ông cho rằng những quốc gia khác nhau có thể sản xuất ra những loạihàng hoá khác nhau có hiệu quả hơn những thú khác, mỗi quốc gia nếuchuyên môn hoá vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, nghĩa

là cho phép họ sản xuất ra những sản phẩm với chi phí thấp hơn các nớc khác,gia tăng hiệu quả của họ do : ngời lao động sẽ lành nghề hơn vì công việc đợclặp đi lặp lại nhiều lần, không phải mất thời gian chuyển từ việc sản xuất sảnphẩm này sang sản phẩm khác và do làm một công việc lâu dài, sẽ nảy sinh racác sáng kiến, đề xuất các phơng pháp làm việc tốt hơn

Theo quan điểm về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, một nớc chỉ sảnxuất các loại hàng hoá sử dụng tốt nhất các loại tài nguyên của quốc gia đó

Đây là cách giải thích đơn giản nhất về nguyên nhân của thơng mại quốc tế

Rõ ràng, việc tiến hành trao đổi giữa các quốc gia phải tạo ra lợi ích cho cả haibên Nêu một quốc gia có lợi còn quốc gia khác bị thiệt hại thì họ sẽ từ chốitham gia vào thơng mại quốc tế

Giả sử thế giới chỉ có hai quốc gia và mỗi quốc gia chỉ sản xuất hai loạihàng hoá A và B Quốc gia thứ nhất có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuấthàng hoá A, còn quốc gia thứ hai có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất hàng hoá

B Nếu mỗi quốc gia đều tiến hành chuyên môn hoá sản xuất mặt hàng có lợithế tuyệt đối, sau đó tiến hành trao đổi thì cả hai bên đều có lợi Trong quátrình này, các nguồn lực đợc sử dụng một cách hiệu quả nhất, do đó tổng sảnphẩm của cả hai nớc sẽ tăng lên Sự tăng lên về số lợng là nhờ vào chuyênmôn hoá và sẽ đợc phân bổ giữa hai quốc gia theo tỷ lệ trao đổi ngoại thơng

Có thể minh hoạ về lợi thế tuyệt đối qua ví dụ sau:

Bảng 1.1 : Lợi thế tuyệt đối

Từ Bảng 1 cho thấy, giả sử cứ 1 giờ lao động ở Việt Nam thì sản xuất

đ-ợc 6 kg gạo hoặc 4 kg thịt bò, trong khi đó cứ 1 giờ lao động Đài loan sản xuất

đợc 1 kg gạo hoặc 5 kg thịt bò Nh vậy, Việt nam có lợi thế tuyệt đối trongviệc sản xuất gạo, còn Đài Loan có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất thịt bò Sau

đó, hai nớc trao đổi một phần sản phẩm cho nhau Nếu tỷ lệ trao đổi là 6 kg

Trang 11

gạo của Việt Nam đổi lấy 6 kg thịt bò của Đài loan thì Việt Nam sẽ lãi đợc 2

kg thịt bò và tiết kiệm đợc 1/2 giờ công lao động vì mỗ giờ Việt nam hỉ sảnxuấct đợc 4 kg thịt bò Tơng tự, nếu Đài loan đổi 6kg thịt bò lấy 6kg gạo thì

Đài loan có lợi đựoc 24 kg thịt bò hoặc tiết kiệm đợc 5 giờ công Nh vậy, ĐàiLoan sẽ có lợi nhiều hơn ViệtNam và lợi ích đó sẽ thay đổi nếu thay đổi tỷ lệtrao đổi Tuy nhiên, điều đáng chú ý là cả hai quốc gia đều có lợi Tỷ lệ trao

đổi quốc tế sẽ là : 6/4>Tỷ lệ trao đổi quốc tế (Gạo/thịt bò)>1/5

Tuy vậy, lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích đợc một phần nhỏ của thơngmại quốc tế là thơng mại giữa các nớc đang phát triển và các nớc phát triển.Không thể giải thích lý thuyết tuyệt đối khi phần lớn thơng mại quốc tế diễn

ra giữa các nớc phát triển với nhau

- Lý thuyết của David Recardo về lợi thế tơng đối

Trên cơ sở đa ra mô hình kinh tế dơn giản, dự trên 5 giả thuyết: 1) Thếgiới chỉ có hai quốc gia và chỉ sản xuất hai mặt hàng, mỗi quốc gia có một lợithế về một mặt hàng 2) Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất có thể di chuyểntrong mỗi nớc nhng không thể di chuyển giữa các nớc 3) công nghệ sản xuất

ở mỗi nớc là cố định 4) chi phí sản xuất cố định, không có chi phí vận tải 5)thơng mại hoàn toàn tự do giữa hai nớc David Recardo đã đa ra kết luận về sựxuất hiện lợi ích trong thơng mại quốc tế là : Thứ nhất, mọi nớc đều có lợi khitham gia vào phân công lao động quốc tế Khi tham gia vào thơng mại quốc

tế, quốc gia đó sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hoá

mà việc sản xuất hàng hoá đó ít bất lợi nhất (đó là những hàng hoá có lợi thếtơng đối) và nhập khẩu từ nớc khác những hàng hoá mà sản xuất chúng bấtlợi nhất (Những hàng hoá không có lợi thế tơng đối) Thứ hai, những nớc cólợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn nớc khác hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn sovới nớc khác trong việc sản xuất mọi sản phẩm thì vẫn có lợi thế khi tham gialao động quốc tế ví dụ về lợi thế tơng đối của David Recardo đợc minh hoạ ởbảng 2 nh sau:

Trang 12

6 lần của Việt Nam thì năng suất lao động của ngành dệt chỉ gấp 2 lần NHvậy, giữa hai hàng hoá thép và vải, Việt Nam có lợi thế so sánh trong sản xuấtvải Theo quy luật của lợi thế so sánh, khi hai quốc gia trao đổi một phần sảnphẩm cho nhau Tỷ lệ trao đổi quốc tế phải ở khoảng giữa là : 6/4 > tỷ lệ trao

đổi quốc tế thép/vải > 1/2

Nếu tỷ lệ trao đổi gần với tỷ lệ trao đổi của Đài loan thì Việt Nam càng

có lợi và ngợc lại Tuy nhiên, lý thuyết của Recardo chủ yếu dựa vào lý luậngiá trị lao động và cho rằng lao động là yếu tố đâù vào duy nhất Vì vậy, môhình này cha giải quyết đợc rõ ràng nguồn gốc của htơng mại quốc tế trongnền kinh tế hiện đại

- Lý thuyết của Heckscher - Ohlin:

Để trả lời câu hỏi tại sao lại có lợi thế so sánh? Vì sao các nớc lại có chiphí cơ hội khác nhau? Hai nhà kinh tế học ngời Thuỵ điển là Eli Heckscher vàBertil Ohlin đã đa ra mô hình 3 nhân tố : quốc gia, hàng hoá, và nguồn lực đểgiải thích, dựa trên các giả thuyết : Thế giới chỉ có hai quốc gia, hai loại hànghoá (Xvà Y) và chỉ có hai yếu tố là lao động và t bản; cả hai quốc gia sử dụngcùng một kỹ thuậtcông nghệ sản xuất; Hàng hoá X là laọi sử dụng nhiều lao

động và hàng hoá Y là loại sử dụng nhiều vốn ở cả hai quốc gia; Cả hai loạihàng hoá đợc sử dụng trong điều kiện tỷ lệ thu hồi theo quy mô là không đổi ởcả hai quốc gia; không có sự chuyên môn hoá sản xuất hoàn toàn ở cả haiquốc gia; Sở thích ở hai quốc gia nh nhau; Có sự cạnh tranh hoàn hảo trong thịtrờng hàng hoá và thị trờng yếu tố ở cả hai nớc, toàn bộ tài nguyên đợc sửdụng triệt để trong cả hai quốc gia; Thơng mại quốc tế của hai quốc gia đợccân đối

Dựa vào giả thuyết trên, Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã công nhậnrằng thơng mại quốc tế dựa trên sự khác nhau của chi phí tơng đối nhng cốgắng giải thích các yếu tố tạo ra sự khác nhau trong giá tơng đối với việc đa ramô hình H-O để trình bày lý thuyết u đãi về nguồn lực sản xuất vốn có nhvốn, lao động, tài nguyên, đất đaiv v Mô hình này thừa nhận hàm sản xuấtcho các loại hàng hoá khác nhau sử dụng các yếu tố sản xuất theo tỷ lệ khácnhau nhng hàm sản xuất cho bất kỳ một hàng hoá nào cũng giống nh nhau ởtất cả các nớc Mô hình này cho rằng mỗi quốc gia, chẳng hạn có nguồn nhânlực dồi dào, sẽ chuyển sản xuất và xuất khẩu loại hàng hoá sử dụng nhiều lao

động và nhập khẩu các hàng hoá sử dụng các yếu tố sản xuất mà trong nớc

Trang 13

khan hiếm Kết quả là thơng mại quốc tế sẽ làm lợi nhuận tơng đối cũng nhtuyệt đối của cùng một loại yêú tố sản xuất trở nên đồng đều nhau giữa các n -

ớc

1.1.3 Các hình thức xuất khẩu:

- Xuất khẩu trực tiếp: xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các hàng hoá

và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc đặt mua từ các doanhnghiệp sản xuất trong nớc sau đó xuất khẩu những sản phẩm này ra ngoài vớidanh nghĩa là hàng của mình Hình thức này có u điểm là lợi nhuận thu đợccủa doanh nghiệp thờng cao hơn các hình thức khác Với vai trò là ngời bánhàng trực tiếp doanh nghiệp có thể nâng cao uy tín của mình thông qua quycách và phẩm chất hàng hoá, tiếp cận thị trờng, nắm bắt đợc nhu cầu, thị hiếucủa ngời tiêu dùng Tuy vậy, hình thức này đòi hỏi các doanh nghiệp phải ứngtrớc lợng vốn lớn để sản xuất hoặc thu mua hàng xuất khẩu Doanh nghiệp cóthể gặp rủi ro nh không xuất đợc hàng, không thu mua đợc hàng, rủi ro dothay đổi tỷ giá hối đoái

- Xuất khẩu gia công uỷ thác: theo hình thức này các doanh nghiệp kinh

doanh hàng xuất khẩu đứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm chocác doanh nghiệp gia công sau đó thu hồi thành phẩm để xuất lại cho bên nớcngoài Doanh nghiệp sẽ đợc hởng phí uỷ thác theo thoả thuận với các doanhnghiệp trực tiếp chế biến Hình thức này có u điểm là khôngcần bỏ vốn vàokinh doanh nhng vẫn thu đợc lợi nhuận, ít rủi ro, việc thanh toán đợc đảm bảo

đầu ra chắc chắn Song nó cũng đòi hỏi nhiều thủ tục xuất và nhập khẩu Do

đó để thực hiện tốt hình thức này các doanh nghiệp cần có cán bộ kinh doanh

có kinh nghiệm về nghiệp vụ xuất nhập khẩu Hình thức này là đơn vị sản xuấtphải tự tìm lấy nguồn nguyên liệu để sản xuất sản phẩm theo đúng đơn đặthàng

- Xuất khẩu uỷ thác: Trong hình thức này các doanh nghiệp kinh doanh

hàng xuất khẩu đứng ra đóng vai trò là trung gian xuất khẩu làm thay cho các

đơn vị sản xuất(bên có hàng) những thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng và ởng phẩn trăm theo giá trị hàng xuất khẩu đã đợc thoả thuận Ưu điểm củahình thức này là mức độ rủi ro thấp, ít trách nhiệm, ngời đứng ra xuất khẩukhông phải là ngời chịu trách nhiệm cuối cùng Đặc biệt không cần bỏ vốn đểmua hàng, nhận tiền nhanh, ít thủ tục và tơng đối tin cậy

Trang 14

h Buôn bán đối lu : Đây là phơng thức giao dịch mà xuất khẩu kết hợp

chặt chẽ với nhập khẩu, ngời bán đồng thời là ngời mua, lợng hàng trao đổi cógiá trị tơng đơng nhau Mục đích của hình thức này không phải nhằm thungoại tệ mà nhằm thu về một lợng hàng có giá trị tơng đơng giá trị của lôhàng đã xuất Có nhiều loại hình buôn bán đối l nh : hàng đổi hàng, trao đổi

bù trừ, mua đối lu, chuyển giao nghĩa vụ, mua lại sản phẩm

- Xuất khẩu theo nghị định th: xuất khẩu theo nghị định th là xuất khẩu

hàng hoá trả nợ đợc ký kết theo nghị định th giữa hai chính phủ Ưu điểm củahình thức này là đợc đảm bảo thanh toán (do Nhà nớc là ngời thanh toán chodoanh nghiệp)

- Xuất khẩu tại chỗ: đó là hình thức cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho

ngoại giao đoàn, cho khách du lịch quốc tế Hoạt động xuất khẩu tại chỗ cóthể đạt hiệu quả cao do giảm bớt chi phí đóng gói, chi phí bảo quản, vận tải,thời gian thu hồi vốn nhanh

- Gia công quốc tế: là hình thức trong đó bên nhận gia công nhập

nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên đặt gia công để chế biến ra thànhphẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công Ưu điểm của hình thức này là giúpbên nhận gia công tạo công ăn việc làm cho ngời lao động, nhận đợc các thiết

bị công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất

Đây là hình thức đợc áp dụng khá phổ biến ở các nớc đang phát triển cónguồn nhân công dồi dào Đối với nớc đặt gia công cũng có lợi khi khai thácnguồn nhân công dồi dào với giá rẻ, nguồn nguyên liệu sẵn có của các nớcnhận gia công

- Tạm nhập tái xuất: là hình thức xuất khẩu đi những hàng hoá đã nhập

khẩu trớc đây và cha tiến hành các hoạt động chế biến Mục đích của hìnhthức này là thu về một lợng ngoại tệ lớn hơn số bỏ ra ban đầu Hàng hoá cóthể đi từ nớc xuất khẩu đến nớc tái xuất sang nớc nhập khẩu hoặc đi thẳng từnớc xuất khẩu sang nớc nhập khẩu Sau đó nớc tái xuất sẽ thu tiền của nớcnhập khẩu và trả tiền cho nớc xuất khẩu

1.1.4 Các công cụ chủ yếu của chính sách thơng mại quốc tế nhằm thúc đẩy xuất khẩu:

1.1.4.1 Chính sách tỷ giá:

Trong cơ chế thị trờng, giá cả hàng hoá và tỷ giá hối đoái là hai mặt đểxác định sức mua đối nội và đối ngoại của đồng tiền trong nớc Tỷ giá hối

Trang 15

đoái đợc coi là một công cụ tác động tới thơng mại quốc tế, trớc hết là tác

động đến xuất nhập khẩu, trong hai trờng hợp nâng hoặc giảm đồng nội tệ

- Nâng giá đồng nội tệ :

Khi đồng nội tệ đợc nâng giá tức là cần ít đồng nội tệ hơn để có thể đổi

đợc một đồng ngoại tệ dẫn đến nhập khẩu hàng hoá sẽ có lợi hơn Điều nàygiúp các nhà sản xuất trong nớc có cơ hội nhập khẩu nguyên vật liệu, thiết bịtrung gian để sản xuất hàng hoá cuối cùng Vì vậy, các nớc đang phát triểntheo đuổi chính sách thay thế nhập khẩu để giữ tỷ giá đồng nội tệ luôn caohơn cộng với hàng rào thuế quan đối với sản phẩm sẽ tạo điều kiện để hànghoá trong nớc đợc tồn tại Tuy nhiên, hàng hoá trong nớc sẽ mất khả năngcạnh tranh với hàng hoá nớc ngoài, giá bán cao dẫn đến xuất khẩu giảm sút.Vì vậy, việc nâng giá đồng nội tệ sẽ dẫn đến hiện tợng giảm xuất khẩu

- Hạ giá đồng nội tệ:

Những nớc theo đuổi chính sách hớng về xuất khẩu thờng dùng chínhsách hạ giá (phá giá) đồng nội tệ để thúc đẩy xuất khẩu Khi đồng tiền nội tệgiảm giá, giá cả hàng hoá xuất khẩu ra nớc ngoài sẽ rẻ tơng đối so với hànghoá cùng loại trên thế giới Vì vậy, cầu về sản phẩm xuất khẩu sẽ cao hơn,thúc đẩy các nhà sản xuất tăng cờng xuất khẩu, tăng quy mô sản xuất để nângcao chất lợng sản phẩm để cạnh tranh

Việc giảm giá đồng nội tệ sẽ bất lợi cho việc nhập khẩu Các nhà sảnxuất trong nớc có cơ hội cạnh tranh với hàng nhập khẩu Từ đó cải thiện cáncân thơng mại

Tuy nhiên tỷ giá hối đoái thấp không phải lúc nào cũng tăng đợc xuấtkhẩu Nguyên nhân:

- Hoạt động xuất khẩu còn phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh của sảnphẩm về chất lợng, chủng loại hàng hoá, khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanhcủa các nhà xuất khẩu, thị hiếu thói quen tiêu dùng, môi trờng thơng mại quốc

tế, chính sách của các nớc

- Tác động phá giá đồng tiền phụ thuộc vào điều kiện sản xuất vàthuơng mại của mỗi nớc Tác động tích cực của phá giá đồng tiền nhiều khi bịvô hiệu hoá hoàn toàn, nhất là sản xuất trong nớc phụ thuộc quá nhiều vào các

điều kiện sản xuất nhập khẩu

Trang 16

- Đôi khi sau một thời gian nhất định khi giảm giá đồng nội tệ Nớcnhập khẩu cũng thực hiện chính sách phá giá đồng tiền và khi đó xuất khẩu sẽkhông có cơ hôị tăng trởng.

Một số hạn chế khi phá giá đồng nội tệ;

+ Nguy cơ làm tăng tỷ lệ lạm phát

+ Hậu quả về tâm lý

Nhìn chung, trớc năm 1989, đặc trng của chính sách ngoại hối của ViệtNam có đặc điểm sau:

- Nhà nớc độc quyền quản lý và không có thị trờng ngoại tệ tự do

- Nhà nớc quy định tỷ giá hối đoái theo nguyên tắc định giá của cơ chếhành chính, bao cấp Do đó, tỷ giá thờng bị méo mó, không phản ánh đúngsức mua của đồng VND so với USD hoặc đồng Rup Mức chênh lệch tỷ giánày thực chất làm xuất khẩu đi vào ngõ cụt, trong một thời gian dài khôngkhuyến khích đợc việc sản xuất hàng xuất khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu, tạocán cân thơng mại bị nhập siêu nghiêm trọng, không kích thích đợc cán cânthơng mại quốc tế phát triển theo hớng tích cực

Từ năm 1989, tỷ giá hối đoái kế hoạch bao cấp đã bị xoá bỏ và đãchuyển sang trạng thái thả nổi cho đến cuối năm 1991 Từ 1992 đến nay, tỷgiá hối đoái đã đợc hình thành theo phơng pháp ổn định có điều chỉnh Việcchuyển từ chế độ tỷ giá theo mục tiêu kế hoạch sang chế độ tỷ giá sát với thịtrờng hối đoái là một bớc đi có tính chất mở đầu trong chính sách mở cửa ở n-

ớc ta Chế độ tỷ giá này đã mang lại những thành tựu đáng kể trong việc đẩymạnh xuất khẩu Có thể nói, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng rấtnhanh

1.1.4.2 Chính sách thuế xuất nhập khẩu:

Thuế quan là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu, nhậpkhẩu hoặc quá cảnh

Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị nhập khẩu, theo đóngời mua trong nớc phải trả cho những hàng hoá nhập khẩu một khoản lớnhơn mức mà ngời xuất khẩu ngoại quốc thu đợc

Thuế xuất khẩu là thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu

Thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu đều tác động đến giá cả hàng hoá cóliên quan Nhng thuế xuất khẩu khác thuế nhập khẩu ở hai điểm: Một là, thuếxuất khẩu đánh vào hàng hoá xuất khẩu chứ không phải đánh vào hàng hoá

Trang 17

nhập khẩu; Hai là, thuế xuất khẩu làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá bị

đánh thuế vợt quá xa giá cả trong nớc, hay nói cách khác nó hạ thấp tơng đốimức giá cả trong nớc của hàng hoá có thể xuất khẩu so với mức giá quốc tế

Điều này sẽ làm cho sản lợng trong nớc của hàng hoá có thể xuất khẩu giảm

đi và sản xuất trong nớc sẽ thay đổi bất lợi cho mặt hàng này Vì vậy, các nớcphát triển hiện nay hầu nh không áp dụng thuế xuất khẩu Còn thuế nhập khẩu

đợc áp dụng phổ biến ở các nớc,tuy rằng mức thuế khác nhau Đơng nhiên, kếtquả kinh tế của thuế nhập khẩu và chính ngời tiêu dùng trong nớc phải trangtrải gánh nặng giá nhập khẩu Vì vậy việc quy định thuế nhập khẩu là vấn đềquan tâm từ mọi phơng diện

Thuế xuất nhập khẩu tác động đến hoạt động xuất khẩu nh sau;

+Miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu: ở một nớc sản xuất nhỏ, khi không

có thuế: nếu Chính phủ giảm thuế nhập khẩu, giá cả trong nớc sẽ giảm xuống,dấn đến chi phí sản xuất trong nớc giảm và khuyến khích xuất khẩu

+ Miễn hoặc giảm thuế xuất khẩu: Khi đánh thuế xuất khẩu, giá cảtrong nớc thấp hơn giá cả quốc tế Dẫn đến sản xuất trong nớc giảm, tiêu dùngtăng và xuất khẩu sẽ giảm xuống Ngợc lại nếu Chính phủ miễn hoặc giảmthuế xuất khẩu, sản xuất trong nớc tăng lên và khuyến khích xuất khẩu

ở Việt Nam, bên cạnh chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách thuế xuấtnhập khẩu có vai trò rất quan trọng trong điều hành họat động xuất nhập khâủ.Thời gian qua, chính sách thuế nói chung và thuế xuất nhập khẩu nói riêng đã

đợc Chính phủ rất quan tâm chú ý Hàng loạt những thay đổi, những quy địnhmới đã đợc ban hành để hoàn thiện theo hớng mở cửa, dần hội nhập vào nềnkinh tế khu vực và thế giới Tuy nhiên, thuế xuất nhập khẩu nhìn chung còncao, cha phù hợp với xu thế chung của quá trình hội nhập đòi hỏi phải tích cựcsửa đổi cho phù hợp với tình hình mới

1.1.4.3 Hạn ngạch(Quota)xuất khẩu:

Hạn ngạch xuất khẩu là quy định của nhà nớc về số lợng hoặc giá trịcủa một mặt hàng hoặc nhóm mặt hàng đợc phép xuất khẩu Đây là hình thứcquan trọng nhằm hạn chế xuất khẩu hay nhập khẩu Thờng hạn ngạch đợc banhành cho các mặt hàng xuất khẩu và những mặt hàng nhập khẩu mà có sự kýkết hiệp định giữa hai nớc Hạn ngạch đợc áp dụng ở các nớc là khác nhau,

đối với từng thời gian, mặt hàng khác nhau Cũng nh thuế quan, hạn ngạch

Trang 18

Trong thời kỳ đổi mới, chính sách hạn ngạch xuất nhập khẩu có tầmquan trọng rất lớn trong việc ổn định tình hình sản xuất, tiêu dùng trong nớc,bảo vệ những ngành công nghiệp, sản xuất non trẻ của ViệtNam trớc sự cạnhtranh gay gắt của hàng ngoại Ví dụ, sử dụng hạn ngạch xuất khẩu gạo vàhàng dệt may là do bắt buộc để đảm bảo tình hình an toàn lơng thực trong nớc

và cam kết Chính phủ Việt Nam với chính phủ các nớc

Hạn ngạch nhập khẩu là chính sách để quản lý thị trờng, thông qua xác

định nhu cầu thực tế về chủng loại, số lợng hàng hoá mà thị trờng cần, từ đólên kế hoạch nhập khẩu Tuy nhiên, khi Việt Nam tham gia các tổ chức thơngmại thế giới nh WTO, APEC, AFTA thì đây là trở ngại lớn Nếu quản lý hạnngạch xuất nhập khẩu không tốt sẽ xảy ra nhiều cơn sốt hàng nh “sốt nóng”,tức là thiếu hàng, “sốt lạnh” tức là thừa hàng đối với một số mặt hàng, còn đốivới hàng xuất khẩu thì các doanh nghiệp tranh mua tranh bán, ép giá ngời sảnxuất Nếu quản lý hạn ngạch không tốt sẽ xảy ra hiện tợng mua bán hạnngạch, tiêu cực trong cơ chế cấp hạn ngạch, thậm chí nhiều doanh nghiệp khi

có hạn ngạch thu mua hàng để xuất khẩu không có kế hoạch trớc nên thu muakhông có lựa chọn kể cả hàng không đủ quy cách, chất lợng, giá cả làm ảnh h-ởng không tốt đến vị thế hàng hoá Việt nam trên thị trờng quốc tế

1.1.4.4 Quản lý ngoại tệ:

Đây là hình thức Nhà nớc đòi hỏi tất cả các khoản thu chi ngoại tệ phải

đợc thực hiện qua hệ thống ngân hàng hoặc cơ quan quản lý ngoại hối Trêncơ sơ đó Nhà nớc có thể kiểm soát đợc các nghiệp vụ thanh toán ngoại tệ củacác đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu để điều tiết hoạt động ngoại thơng

Do đa số doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt nam đềuquy mô nhỏ, thiếu vốn , vì vậy việc quản lý ngoại tệ là cần thiết để nhằm tạo

sự ổn định trong thị trờng ngoại hối Việt Nam, thực hiện tốt chức năng quản

lý nợ nớc ngoài của doanh nghiệp ViệtNam, tạo môi trờng cung cấp tín dụng

có hiệu quả

1.1.4.5 Những công cụ mang tính hỗ trợ:

- Nhà nớc thành lập các Quỹ bảo lãnh xuất nhập khẩu thông qua việc sửdụng các phơng thức thanh toán hợp lý Ví dụ cho phép thơng nhân bán chịu,bán trả chậm những lô hàng xuất khẩu có giá trị lớn thông qua hoạt động chiếtkhấu th tín dụng (L/C), phuơng thức thanh toán chậm góp phầntăng thêmvốn kinh doanh của thơng nhân và đẩy mạnh xuất khẩu

Trang 19

- Tín dụng xuất khẩu : là hình thức khuyến khích mở rộng xuất khẩubằng cách nhà nớc cho thơng nhân nớc ngoài vay vốn mua hàng của nớc chovay Trong trờng hơp này, nớc cho vay thờng có những tiềm lực kinh tế lớn,muốn cạnh tranh giành thị trờng hàng xuất khẩu hoặc nâng cao uy tín cũng

nh sản phẩm của nớc mình trên thơng trờng quốc tế

- Trợ cấp xuất khẩu:

+ Trợ cấp trực tiếp: đây là hình thức Chính phủ thực hiện các u đãi chonhà sản xuất và kinh doanh xuất khẩu về cơ sở hạ tầng, các dịch vụ thanhtoán, điện nớc, thông tin liên lạc

+ Trợ cấp gián tiếp là hình thức Nhà nớc sử dụng các biện pháp kinh tế

vĩ mô để qua đó hỗ trợ hoạt động xuất khẩu

1.1.4.6 Một số công cụ khác:

Hạn chế xuất khẩu tự nguyện : đây là biện pháp theo đó quốc gia nhậpkhẩu yêu cầu quốc gia xuất khẩu phải hạn chế số lợng hàng xuất khẩu sangquốc gia mình một cách “tự nguyện” nếu không họ sẽ áp dụng các biện pháptrả đũa kiên quyết Thực tế hạn chế xuất khẩu tự nguyện mang tính chất miễncỡng và gắn với các quốc gia có khối loựng xuất khẩu quá lớn ở một số mặthàng nào đó nh xuất khẩu hàng dệt may của Trung quốc và hàng điện tử củaNhật Bản chẳng hạn

Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: bao gồm tất cả những quy định

về tiêu chuẩn vệ sinh, đo lờng, tiêu chuẩn bảo đàm an toàn lao động, tiêuchuẩn bao bì đóng gói, tiêu chuẩn về độ an toàn chính xác của máy móc thiếtbị Những quy định này xuất phát từ đòi hỏi thực tế của đời sống xã hội vàphản ánh trình độ phát triển của nền văn minh nhân loại Tuy nhiên, nhữngcông cụ này thờng đợc các quốc gia sử dụng một cách khéo léo để biến chúngthành những công cụ cạnh tranh có lợi trong hoạt động kinh doanh thơng mại

1.2 Kinh nghiệm phát triển ngoại thơng của một số thành phố trong nớc và quốc tế

1.2.1.Kinh nghiệm của Singapore:

Singapore là một nớc trong khối ASEAN đi đầu trong việc áp dụngchiến lợc công nghiệp hoá đúng đắn, chuyển từ nền kinh tế hớng nội sang nềnkinh tế hớng ngoại Ngay từ những năm 1960(thời kỳ này Singapore còn nằmtrong liên bang Malaysia), Chính phủ sớm phát triển thơng mại mà mục tiêu là

Trang 20

nhằm vào thị trờng trong nớc với mô hình công nghiệp hoá thay thế hàng nhậpkhẩu

Mô hình này đợc áp dụng phổ biến tại các nớc ASEAN trong nhữngnăm 50, 60 của thế kỷ XX Nguyên nhân là do : sau khi giành độc lập, cácquốc gia bị lệ thuộc vào kinh tế các nớc t bản Hầu hết các sản phẩm côngnghiệp đáp ứng tiêu dùng trong nớc đều phải nhập khẩu Do vậy, để thoát khỏitình trạng đố, Singapore cũng nh một số nớc ASEAN khác cũng tiến hànhxây dựng cho minh nền kinh tế độc lập, tự chủ Trong bối cảnh đó, chiến lợccông nghiệp hoá thay thế nhập khẩu là một sự lựa chọn tất yếu của Singapore

Để xây dựng đợc mô hình này, Singapore đã có những chính sách pháttriển một số ngành công nghiệp chủ chốt nhằm thay thế dần các sản phẩmhàng hoá nhập khẩu Nhà nớc có chế độ bảo hộ nh : thuế quan, hạn ngạch, trợcấp Những chế độ này đợc thực hiện nhằm bảo vệ những ngành công nghiệpnon trẻ trớc sự cạnh tranh của hàng hoá nớc ngoài

- Về ngoại thơng, Singapore đã chủ trơng cân bằng xuất nhập khẩu, chỉxuất cái gì khả năng sản xuất trong nớc đã vợt quá nhu cầu tiêu dùng

Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện , chiến lợc công nghiệp hoá thaythế hàng nhập khẩu đã bộ lộ những nhợc điểm sau:

- Không đáp ứng đợc nhu cầu về ngoại tệ để thực hiện công nghiệphoá, thiếu vốn, kỹ thuật, công nghệ Không đẩy mạnh xuất khẩu thì thâm hụtcán cân thơng mại ngày càng lớn nên vay nợ nớc ngoài càng tăng., khôngthoát khỏi sự lệ thuộc vào các nớc t bản phát triển

- Để xây dựng nhng ngành công nghiệp chủ chốt đáp ứng tiêu dùngtrong nớc, Singapore phải nhập khẩu máy móc, công nghệ, nguyên liệu trongnớc cha sản xuất đợc Các máy móc thiết bị nhập khẩu thờng là lạc hậu vì cácnớc tiên tiến không bán các công nghệ tiến tiến Vì vậy, chất lợng hàng hoáthấp, giá thành cao, sức cạnh tranh kém

- Do đợc nhà nớc bao cấp, khối kinh tế nhà nớc hoạt động kém hiệuquả, nhà nớc phải bù lỗ từ ngân sách và ngân sách nhà nớc bị thiếu hụt

Nhìn chung, những hạn chế trong thực hiện công nghiệp hoá thay thếhàng nhập khẩu đã đẩy Singapore cũng nh các nớc ASEAN khác vào tìnhtrạng suy thoái, trì trệ về kinh tế Đứng trớc tình hình đó, cùng với sự xuấthiện các nhân tố mới của kinh tế thế giới nh sự thành công của các nớc côngnghiệp mới (NIC s) trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế hớng ngoại,

Trang 21

các nớc ASEAN đã mạnh dạn thay đổi chiến lợc công nghiệp hoá từ thay thếnhập khẩu sang hớng về xuất khẩu Singapore là nớc chuyển đổi sớm nhất khitách khỏi Liên bang Malaysia

Nội dung cơ bản của chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu làphát triển các ngành sản xuât phục vụ xuất khẩu, phát huy lợi thế so sánhtrong quan hệ quốc tế

Bản chất của chiến lợc công nghiệp hoá theo hớng về xuất khẩu là căn

cứ vào nhu cầu thị trờng thế giới và lợi thế so sánh của từng nớc để điều chỉnhcơ cấu công nghiệp một cách hợp lý và hiệu quả Từ chỗ xuất khẩu các mặthàng sơ cấp là chủ yếu, bao gồm các nguyên liệu thô, Singapore đã chuyểnsang xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nhẹ cần nhiều lao động nh : hàngdệt may, giày dép, chế biến nông sản Dần đần, Singapore là một trongnhững nớc trong khu vực đi đầu trong xuất khẩu sản phẩm kỹ thuật cao nh bándẫn, điện tử cao cấp, công nghệ thông tin

Để thực hiện chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu, các nớcASEAN đã áp dụng một hệ thống các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệnhằm thúc đẩy nhanh nhịp độ xuất khẩu Ngoài các chính sách thu hút đầu tnớc ngoài nhằm thúc đẩy xuất khẩu, chính phủ Singapore đã thực hiện chế độtrợ cấp đối với các nhà sản xuất xuất khẩu nh: nhà nớc xoá bỏ các hàng ràophi thuế quan, áp dụng chính sách kinh tế vĩ mô (thuê, tỷ giá linh hoạt) Đồngthời kinh tế t nhân đợc khuyến khích phát triển, giảm bớt tỷ trọng của khu vựckinh tế nhà nớc nhằm nâng cao hiệu quả và giảm bớt gánh nặng chi tiêu ngânsách Chính phủ thực hiện mở rộng tín dụng khuyến khích xuất khẩu, tăng chingân sách cho cơ sở hạ tầng, đào tạo và nâng cao chất lợng nguồn nhânlực

Nhờ có chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu, Singapore đã đạt

đợc nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế nh : tăng tởng kinh tế nhanh và ổn

định; cơ cấu kinh tế chuyển dịch linh hoạt, giá trị xuất khẩu trong GDP khôngngừng tăng lên Sing apore là một trong những nớc xuất khẩu lớn trong khuvực và thế giới

Trang 22

1.2.2 Kinh nghiệm của Th ành phố Hồ Chí Minh

Kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là một bộ phận của nềnkinh tế việt Nam, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế phía Nam Trong quátrình phát triển của Thành phố, hoạt động ngoại thơng cũng trải qua các bớcthăng trầm, còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết song phải khẳng địnhrằng Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt đợc những thành tựu to lớn, đi đầu trongcả nớc về thực hiện chính sách phát triển kinh tế đối ngoại

Sau ngày giải phóng, thống nhất đất nớc, thục hiện cơ chế tập trungquan liêu bao cấp, hoạt động ngoại thơng do nhà nớc độc quyền Trong thời

kỳ này, quan hệ đối ngoại của Thành phố chủ yếu đợc tiến hành với các nớcXNCN trong khối SEV Mặc dù trong thời kỳ này, Thành phố đã có nhiều cốgắng để sản xuất và thu mua phục vụ xuất khẩu nhng do tình trạng khó khăncủa nền kinh tế nên kim ngạch xuất khẩu còn rất nhỏ bé Hàng xuất khẩutrong thời kỳ này chủ yếu là một số loại hàng thủ công mỹ nghệ, tiểu thủ côngnghiệp

Bớc vào đầu những năm 80, cùng với chính sách “bung sản xuất” cảkhu vực kinh tế trong nớc, lĩnh vực kinh tế đối ngoại có những thay đổi và mởrộng Số lợng các đơn vị tham gia xuất nhập khẩu tăng lên và bắt đầu mở rộngbuôn bán với các nớc ngoài hệ thống Xã hội chủ nghĩa Nghị quyết Đại hội

Đảng bộ Thành phố lần thứ II (1980) đã xác định : ‘Phát triển mạnh xuất khẩutơng xứng với tiềm năng, vị trí và yêu cầu phát triển của Thành phố là mộttrong những Trung tâm giao dịch lớn của cả nớc ”(15,trang 99)

Từ năm 1980, thực hiện chủ trơng cho phép địa phơng tham gia xuấtnhập khẩu trực tiếp, Thành phố đã tiến hành thành lập một số công ty chuyên

về xuất nhập khẩu và ngoài nghĩa vụ nộp hàng xuất khẩu cho Trung ơng,Thành phố đã chủ động mở rộng hoạt động xuất khẩu của địa phơng mình.Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 24,7 triệu USD/Rup năm 1979 lên 130, 8 triệuUSD/RUp năm 1982 (15, trang 100)

Đến năm 1986, Thành phố lại xác định xuất nhập khẩu là mũi nhọnchiến lợc của kinh tế Thành phố Đầu tiên là thực hiện các chơng trình sảnxuất lớn (sản xuất lơng thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, và sản xuấthàng xuất khẩu) Sản xuất hàng xuất khẩu tăng rất nhanh sau năm 1986 Mặc

dù vào cuối những năm 80, đầu năm 90, khi khối các nớc Liên xô (cũ) và

Đông Âu sụp đổ, thị trờng truyền thống này giảm đột ngột, nhng nhờ có sự

Trang 23

linh hoạt nhanh chuyển sang quan hệ với thị trờng các nớc ngoài hệ thống Xãhội chủ nghĩa nh : Singapore, Hồng kong, Pháp, Đài loan, Nhật nên kimngạch xuất khẩu của Thành phố cũng không hề giảm mà còn tăng Đây là mặtnăng động của Thành phố Hồ Chí Minh so với Hà Nội và các Tỉnh Phía Bắc.

Kim ngạch xuất khẩu năm 1987 tăng 50% so với 1986, kim ngạch 1989tăng 102% so với 1988 và các năm sau 1990 có tốc độ tăng rất cao Chỉ tínhriêng kim ngạch địa phơng năm 1990 là 372triệu Rup/USD, năm 1992 là 464triệu rup/USD (Nếu tính trên địa bàn năm 1992 xuất khẩu của Thành phố là1.550 triệu USD, chiếm 41,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc)(15,trang100-101)

Tốc độ tăng trởng xuất khẩu thời kỳ 1993 - 1999 trên địa bàn là 18,4%năm Đây là tốc độ tăng trởng khá cao nếu so với cả nớc và so với các nớc cómô hình phát triển hớng về xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu năm 1993 là1.655 triệu USD, tăng lên là 4.599 triệu USD vào năm 1999

Về cơ cấu hàng xuất khẩu : từ năm1991 đến nay, cơ cấu hàng xuất khẩu

đã có những chuyển dịch tiến bộ Nếu trớc đây, hàng xuất khẩu của Thànhphố chủ yếu là hàng của các Tỉnh khác sản xuất nh : nông sản thô và nông sảnchế biến, thủ công mỹ nghệ thì đến nay chủ yếu là xuất khẩu hàng côngnghiệp Theo số liệu thông kê thì đến năm 1999, xuất khẩu hàng công nghiệp(không kể dầu khí) chiếm tỷ trọng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu trên địabàn Còn lại là các hàng nông sản, hải sản và lâm sản Việc thay đổi này làphản ánh đúng lợi thế so sánh của thành phố Hồ Chí Minh Nếu nh thời kỳ

đầu đổi mới, Thành phố là đầu mối xuất khẩu cho các Tỉnh về mặt hàng nôngsản, hải sản và lâm sản thì nay các Tỉnh đã tự chế biến và xuất khẩu Nh vậy,Thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung đi vào phát triển các ngành công nghiệpkhác dựa trên u thế về kỹ thuật, lao động có kỹ năng, hạ tầng kỹ thuật tốt Các mặt hàng công nghiệp sử dụng nhiều lao động là : may mặc, giày dép Hiện nay, các sản phẩm công nghiệp, có hàm lợng công nghệ cao thờng tậptrung trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài năm trong các khu chếxuất Do vậy, hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh đang cố gắng khuyến khíchliên kết nhiều hơn nữa giữa các doanh nghiệp trong và ngoài khu chế xuất,khu công nghiệp để thúc đẩy sự khuyếch tán về công nghệ, quản lý vào nềnkinh tế nội địa

Trang 24

Thành phố Hồ Chí Minh cũng là đơn vị đi đầu trong việc chuyển dịchcơ cấu xuất khẩu sang linh vực công nghiệp chế biến Yếu tố chính quyết định

sự thành công của chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu là đẩy mạnhxuất khẩu hàng công nghiệp chế biến

1.2.3 Kinh nghiệm phát triển xuất khẩu của Thành phố Hải Phòng:

Hải Phòng là Thành phố lớn thứ ba của Việt Nam sau Thành phố HồChí Minh và Thủ đô Hà Nội Hải Phòng là Thành phố cảng - biển Do Thànhphố là Trung tâm công nghiệp chế biến và công nghiệp xuất khẩu nên nhữngnăm qua, từ các nguồn đầu t , Thành phố đã hiện đại hoá kỹ thuật, công nghệ

và xây dựng các khu công nghiệp tập trung, kỹ nghệ cao gắn với gia công vàphát triển công nghiệp nông thôn khối lợng và chủng loại sản phẩm đợc giacông chế biến tại Thành phố này rất lớn

Từ những năm 1994 - 1997, kim ngạch xuất khẩu của Thành phố so vớinhững năm trớc đều tăng 25 - 33%, bớc đầu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, đổi mới công nghệ theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng tỷ trọngsản xuất dịch vụ và đẩy mạnh xuất khẩu Thời kỳ 1991 - 2000, tốc độ pháttriển xuất khẩu tăng bình quân 24% Tỷ trọng các nhóm, mặt hàng chế biếnsâu và cơ khí tăng dần Chất lợng hàng xuất khẩu đợc nâng lên đáng kể, cósức cạnh tranh trên thế giới Về cơ cấu hàng xuất khẩu, Hải phòng đã hìnhthành và phát triển một số ngành nghề mới, mặt hàng xuất khẩu chủ lực nh :thuỷ sản, thịt lợn, rau quả, giày dép, dệt may, thủ công mỹ nghệ, cơ khí Hoạt

động thu gom hàng xuất khẩu từ các địa phơng khác, tạm nhập - tái xuất cũng

- Hải Phòng không có mặt hàng chủ lực nh dầu thô và vùng nguyênliệu nông sản nh lúa, cà phê, cao su

- Thời gian qua, định hớng phát triển kinh tế”thay thế nhập khẩu” lấn

át “hớng về xuất khẩu” Một số vấn đề cha đợc xử lý triệt để nh : chuyển

Trang 25

khẩu, tạm nhập tái xuất, quá cảnh hàng hoá và vận chuyển hàng hoá quá cảnh,tạm nhập tái xuất theo đầu mối,

- Cơ cấu nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu cha hợp lý: Tỷ lệ hàng giacông, hàng tạm nhập tái xuất và hàng thu mua ở các địa phơng khác chiếmngạch lớn làm giảm hiệu quả sản xuất

- Hải Phòng cha tận dụng lợi thế so sánh của địa phơng mình đển xâydựng những mặt hàng xuất khâủ chiến lợc Ví dụ về thuỷ sản, Hải Phòng cónhiều ng trờng lớn, có nhiều lọai hải sản có giá trị xuất khẩu cao, có điềukiện tự nhiên tốt để nuôi trồng nh trong thời gian qua, địa phơng còn chậm cómột chiến lợc phát triển lĩnh vực này một cách có hệ thống khép kín từ nuôitrồng, khai thác, chế biến Do “thiếu vốn” nên doanh nghiệp chế biến thuỷsản của Hải Phòng vẫn phải “vật lộn” để thu mua nguyên liệu cho chế biếnxuất khẩu, vay vốn đầu t cho dân để nuôi tôm nguyên liệu

- Thị trờng xuất khẩu của Hải Phòng còn hạn hẹp Cả nớc có 164 thị ờng thì Hải Phòng mới tiếp cận đợc 26 thị trờng)

Những bài học kinh nghiệm của các Thành phố trên Hà Nội có thể tham khảo :

+ Chỉ có hớng mạnh về xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh , mới phát

huy đợc lợi thế so sánh, mở rộng đợc thị trờng trong nớc và ngoài nớc, đẩynhanh đổi mới công nghệ và chuyển dịch cơ cấu có hiệu quả Tuy nhiên, h-ớngvề xuất khẩu không có nghĩa là loại trừ thay thế hàng nhập khẩu Càn kếthợp chúng một cách hợp lý nhằm đạt tới hiệu quả tối đa

+ Thành phố cần xây dựng đợc một chiến lợc xuất khẩu mang tính khảthi cao, trớc hết cần xác định các ngành kinh tế, các sản phẩm mũi nhọn của

địa phơng trên cơ sở đánh giá lợi thế về điều kiện tự nhiên, lao động, khả năngtài chính, hiệu quả kinh tế xã hội

+ Có kế hoạch đồng bộ trong các khâu, công đoạn của quá trình kinhdoanh xuất nhập khẩu, đảm bảo hiệu quả toàn diện của hệ thống Để phát triểnxuất khẩu, đạt đợc những bớc đột phá, không chỉ dựa vào tiềm năng sẵn cócủa địa phơng hoặc chú trọng đến công nghệ mà phải xuất phát từ việc nghiêncứu nhu cầu thị trờng để lựa chọn phơng án đầu t

+ Cần xác định rõ mặt hàng xuất khẩu chủ lực của thành phố để có biệnpháp đầu t tập trung có hiệu quả, tránh giàn trải, manh mún Đẩy mạnh xuất

Trang 26

khẩu hàng công nghiệp chế biến, tăng sản phẩm công nghiệp xuất khẩu, giảm

tỷ trọng các sản phẩm thô hoặc sơ chế

+ Liên kết các Tỉnh để phát triển vùng nguyên liệu nông lâm thuỷ sảnphục vụ công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu

Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Hà Nội trong

thời kỳ đổi mới kinh tế (1986 - 2000) 2.1.Đặc điểm chung của Thành phố Hà Nội:

2.1.1 Những lợi thế của Thủ đô Hà Nội trong việc phát triển xuất khẩu:

Là Thủ đô của cả nớc, Hà Nội có điều kiện tiếp xúc và nắm bắt kịp thời,

có hệ thống những thông tin và động thái mới của đời sống thị trờng trong nớc

và quốc tế, giúp tiếp cận nhanh các cơ hội, xử lý sớm và hiệu quả những vấn

đề kinh tế-xã hội phát sinh có liên quan trong quá trình chuyển đổi và pháttriển theo xu hớng hội nhập kinh tế thế giới Thành phố còn có u thế so với các

địa phơng khác ở khu vực phía Bắc trong việc triển khai hoạt động đầu t, sảnxuất và tiêu thụ những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trên địa bàn Thành phố,

mở rộng các dịch vụ đô thị, đặc biệt là các dịch vụ công nghệ cao, dịch vụ tàichính-ngân hàng, dịch vụ thơng mại, du lịch, đối ngoại Về lâu dài, chínhkhả năng kế thừa, lôi cuốn, quy tụ và đồng kết đợc nhiều tiềm lực, điều kiện từbên ngoài, trình độ phát triển về hạ tầng kỹ thuật, về các nguồn vốn, tri thức,công nghệ và các dạng thị trờng, nguồn nhân lực cũng nh năng lực tự tích lũy

đợc về kinh nghiệm và bản lĩnh quản lý, kinh doanh sẽ tạo cơ sở vững chắccho sự phát triển và cất cánh của Thủ đô trong tơng lai

Hà Nội có vị trí địa lý kinh tế thuận lợi: nằm ở giữa Bắc Bộ, là trung tâmcủa vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, tập trung toàn bộ các đầu mối giao thôngquan trọng, nối với cả nớc và quốc tế, bao gồm cả đờng bộ, đờng sắt, đờng thuỷ

và đờng hàng không Do đó, Hà Nội có điều kiện thuận lợi mở rộng giao lu kinh

tế trong và ngoài nớc

Hà Nội tập trung nhiều cơ sở sản xuất lớn của cả nớc, không những củatrung ơng, địa phơng mà còn có các doanh nghiệp liên doanh nớc ngoài Nhiềusản phẩm hàng hoá do Hà Nội sản xuất có chất lợng cao, có khối lợng lớn, nhiềumặt hàng thủ công truyền thống có trình độ kỹ thuật và tay nghề tinh xảo, có giátrị kinh tế

Trang 27

Hà Nội có hoạt động thơng mại phát triển sớm, có kinh nghiệm về tổchức kinh doanh có hiệu quả do nhu cầu tiêu thụ và phát triển sản xuất củaThủ đô Nhiều hộ kinh doanh, thơng nhân và doanh nghiệp có tiếng trong toàn

quốc và ở nớc ngoài, có quan hệ quốc tế rộng rãi, khả năng sản xuất và thu

gom hàng xuất khẩu lớn, đồng thời cung cấp hàng nhập khẩu tốt

Hà Nội còn tập trung các cơ sở dịch vụ phục vụ kinh doanh hiện đại với

hệ thống thông tin - liên lạc, tài chính - ngân hàng, tiên tiến, có khả năngcung cấp các dịch vụ đa dạng với chất lợng cao, có thể thu ngoại tệ tại chỗ HàNội còn có nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động thơng mại: hệthống các cửa hàng, của hiệu, các chợ và siêu thị đã đợc hình thành từ nhiềunăm với mạng lới bố trí rộng khắp trên địa bàn, tại nhiều khu vực đã hìnhthành các phố, các cửa hàng chuyên doanh hoạt động phong phú, nhộn nhịptạo điều kiện phát triển loại hình dịch vụ thu ngoại tệ tại chỗ

Hà Nội còn có lợi thế về nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế nóichung và phát triển xuất khẩu nói riêng so với các địa phơng khác trong cả n-

ớc Hà Nội tập trung nhiều nhân tài, nhiều cán bộ, chuyên gia giỏi, nhiều nghệnhân đầu đàn Tại Hà Nội có 43 trờng đại học và cao đẳng, gần 100 việnnghiên cứu khoa học đầu ngành của cả nớc với lực lợng đông đảo các nhàkhoa học có trình độ, có tâm huyết với sự phát triển của Thủ đô nói riêng vàcủa đất nớc nói chung Có 42,26% số lao động Hà Nội đợc đào tạo có bằng từsơ cấp trở lên (trong khi đó cả nớc chỉ có 13,3%); số lao động có chứng chỉngoại ngữ chiếm 9,7%, trong đó tiếng anh chiếm trên 6%; có 9% số lao độngbiết vi tính, đây là tỷ lệ vào loại cao nhất trong cả nớc Đây là những bậcthang đầu tiên của sự phát triển một lực lợng lao động có trình độ, có taynghề, có hiểu biết để sản xuất ra những sản phẩm chất lợng cao, đủ khả năngxuất khẩu cũng nh đáp ứng đợc những đòi hỏi ngày càng cao của thị trờng lao

động quốc tế

Đặc biệt, là Thủ đô, Hà Nội đã, đang và sẽ tiếp tục nhận đợc sự quantâm chỉ đạo sát sao và những điều kiện u đãi của Trung ơng trong quá trìnhphát triển của mình: Nghị quyết 15/NQ-TW, Pháp lệnh Thủ đô mới đợc banhành cuối năm 2000 và Nghị định của Chính phủ đang đợc soạn thảo về Thủ

đô Hà Nội đã chỉ rõ "xây dựng Thủ đô trở thành trung tâm hàng hoá bán buôn, xuất - nhập khẩu, trung tâm tài chính - ngân hàng hàng đầu ở khu vực

Trang 28

chung không những của chính quyền và nhân dân Hà Nội mà cũng là củaChính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thông quaviệc ban hành các quy định u đãi đối với các ngành trọng điểm, khuyến khíchphát triển xuất khẩu cho từng thời kỳ, từng ngành kinh tế Hà Nội cần tậndụng tối đa những thuận lợi này để tạo bớc phát triển có tính đột phá cho pháttriển kinh tế - xã hội nói chung và cho hoạt động xuất khẩu trong 10 năm tớinói riêng

2.1.2.Những khó khăn của Thành phố Hà Nội trong việc phát triển xuất khẩu

- Hà Nội không có cảng biển, mà chỉ có cảng sông nhỏ bé, hơn nữa, cáccảng này còn cha đợc quan tâm đầu t đúng mức để mở rộng luồng lạch

- Các nguồn hàng có khả năng hấp dẫn thị trờng quốc tế và có kimngạch xuất khẩu lớn là nông hải sản (gạo, cao su, cà phê, hạt tiêu, hạt điều,tôm, mực đông lạnh ) phần lớn lại nằm ở các tỉnh phía Nam Các mặt hàngcông nghiệp có giá trị thơng mại cao (tivi, tủ lạnh, ô tô, xe máy ) chủ yếutập trung ở các doanh nghiệp liên doanh

- Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Hà Nội vẫn là hàng gia công,thu gom nên chi phí sản xuất cao, hiệu quả thấp Công nghiệp chế biến nôngsản, thuỷ- hải sản cha phát triển nên ít có sản phẩm chất lợng cao đủ sứccạnh tranh xuất khẩu

- Cơ sở sản xuất kinh doanh của Hà Nội còn nhỏ bé, cha đợc sắp xếp vàcủng cố để tạo sức mạnh cạnh tranh và phát huy tốt tiềm năng Vẫn còn nhữngcơ sở sản xuất - kinh doanh hàng xuất khẩu với trang thiết bị, công nghệ lạchậu của các thế hệ trớc, ít đợc đổi mới hoặc nếu có đầu t mới thì cũng cònchắp vá, cha đồng bộ

- Chỉ đạo, điều hành cha tập trung, sự phối kết hợp của các ngành cha cao

2.2.Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Hà Nội

2.2.1.Hoạt động xuất khẩu của Hà Nội trớc đổi mới (Trớc 1986)

Nền kinh tế nớc ta thời kỳ 1976 – 1985, trong đó có Hà Nội chịu ảnhhởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nảy sinh từ cuối hập kỷ

70 đầu thập kỷ 80, kéo dài nhiều năm liền, tốc độ tăng không đều giữa cácnăm, trong đó xuất khẩu tăng trởng âm trong nhiều năm liên tiếp Sản phẩmxuất khẩu nhỏ bé, đơn điệu về cơ chế chủng loại, chất lợng và mẫu mã Cơ cấu

Trang 29

xuất khẩu là những sản phẩm thô và sơ chế Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu

là nông lâm sản, thủ công mỹ nghệ, tiểu thủ công nghiệp

Từ năm 1980, thực hiện chủ trơng cho phép các địa phơng tham giaxuất nhập khẩu trực tiếp, thành phố đã tiến hành thành lập một số công tychuyên xuất nhập khẩu nh : Liên hiệp xuát nhập khẩu Hà Nội(UNIMEX);Liên hiệp tiểu thủ công nghiệp và ngoài nghĩa vụ giao nộp hàng xuất khẩucho trung ơng, Hà Nội đã chủ động mở rộng hoạt động xuất khẩu của Thànhphố Kim ngạch xuất khẩu của Thành phố ngày càng tăng (nhng lợng thì rấtnhỏ) Tổng kim ngạch 5 năm 1981 - 1985) là 189,3 triệu R/USD (145,4 triệurup và 43.9 triệu US), bình quân hàng năm tăng 9,7% bằng 6% kim ngạchxuất khẩu của cả nớc Trong đó, xuất khẩu của địa phơng bình quân hàng nămtăng 11,65% đạt 18,4 triệu Rup và 3,9 triệu USD trong 5 năm Kim ngạchxuất khẩu tăng nhanh góp phần tăng khả năng nhập khẩu đáp ứng nhu cầunhập khẩu vật t, máy móc, thiết bị mà nhà nớc đang rất cần (Bảng 2.1)

Về cơ cấu hàng xuất khẩu :

Trong giai đoạn này, hàng xuất khẩu của Hà Nội chủ yếu là hàng côngnghệ phẩm (hàng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp), hàng nông sản, dịch

vụ xuất khầu tại chỗ

+ Xuất khẩu hàng công nghiệp và thủ công nghiệp nhỏ, chiếm 12,9%trong tổng sản lợng công nghiệp địa phơng(1985)

+ Xuất khẩu hàng nông sản tuy tốc độ tăng nhanh (bình quân hàng nămtăng 57,5% nhng mới chiếm 1,7 % giá trị sản lợng nông nghiệp Thành phố,bằng 1,9 % tổng kim ngạch nông sản xuất khẩu cả nớc

+ Xuất khẩu tại chỗ và dịch vụ là hoạt động có lãi ngoại tệ cao nhng

ch-a đợc mở rộng và thăng trầm quch-a từng năm Tổng kim ngạch 5 năm đạt 20,6triệu USD chiếm 10,9% của địa phơng

+ Hàng xuất khẩu mang tính chất thu gom trên cơ sở sản xuất sẵn có,cha tạo đợc những vùng sản xuất hàng hoá lớn, số lợng bé, bấp bênh, không

co mặt hàng chủ lực Trong 38 mặt hàng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệpchỉ có 5 mặt hàng có kim ngạch từ 1 - 3 triệu Rup

Một số mặt hàng đợc giữ vững và phát triển nh: may gia công, dệt kim,khăn mặt, găng tay, rau quả tơi, đồ hộp, lạc vỏ Một số mặt hàng truyềnthống nh giày vải, dép mềm, thêu , thảm, mây tre, mỹ nghệ do chất lợng

Trang 30

mẫu mã, hình thức và thị hiếu không phù hợp với thị trờng nên số lợng xuấtkhẩu thay đổi có nguy cơ mất thị trờng.

Hàng nông sản xuất khẩu với số lợng ít, manh mún, chất lợng thấp Hầuhết xuất khẩu dới dạng thô (lạc nhân, rau quả) cha qua khâu chế biến Từ năm

1982, thành phố bắt đầu tăng cờng hợp tác với các Tỉnh Phía Nam để tạonguồn hàng xuất khẩu Môt loạt các Công ty đã mở chi nhánh hoạt động xuấtnhập khẩu ở Phía Nam nh: Công ty Xuất nhập khẩu nam Hà Nội(SIMEX),Công ty HAPROSIMEX, UNIMEX

Về thị trờng xuất khẩu :

Trong thời kỳ này quan hệ ngoại thơng chủ yếu đợc tiến hành với các

n-ớc xã hội chủ nghĩa Quan hệ ngoại thơng mang tính chất trao đổi nội bộ trongkhối SEV (Hội dồng tơng trợ kinh tế của các nớc xã hội chủ nghĩa) nhằm giúp

đỡ lẫn nhau giữa các nuớc xã hội chủ nghĩa và chủ yếu thực hiện thông quacác hiệp định ký kết giữa các chính phủ Thị trờng xuất khẩu trong giai đoạnnày chủ yếu là thị trờng XHCN(Khu vực 1) chiếm 78% kim ngạch xuất khẩu.Thị trờng ngoài các nớc XHCN (Khu vực 2) chiếm 12%

Với nguyên tắc “ Nhà nớc độc quyền ngoại thơng’ diễn ra phổ biếntrong hoạt động xuất khẩu đã dẫn tới sự ràng buộc về cơ chế, về thị trờng, về

đầu t phát triển hàng xuất khẩu Đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sựyếu kém trong hoạt động xuất khẩu của Thành phố Hà Nội

Một số nhận xét về xuất khẩu của Hà Nội giai đoạn 1981 - 1985 :

+ Không ổn định thị trờng xuất khẩu, cha giữ đợc chữ tín trong quan hệbuôn bán với bạn hàng nớc ngoài

+ Thông tin liên lạc còn quá chậm chạp, năm bắt tình hình thị trờng hạnchế

+ Nhiều yếu kém trong sản xuất, thu hoá, kiểm tra hàng xuất khẩu nh :chất lợng hàng kém, không có giám định kiểm tra chặt chẽ hàng xuất khẩu,chính sách tỷ giá hối đoái cha thích hợp, không khuyến khích ngời làm xuấtkhẩu, hàng giao không đúng hợp đồng, thủ tục hải quan rờm rà, bao bì kém,chi phí vận chuyển và cầu cảng cao làm nâng cao giá thành

Chính vì vậy, trong Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ Hà Nội lần thứ

10 đã thừa nhận rằng tình hình chuyển biến chậm chạp, cha tơng xứng với vịtrí” Trungtâm đầu não về chính trị , văn hoá, kỹ thật và đồng thời là trung tâmlớn về kinh tế và một trung giao dịch quốc tế của cả nớc”, cũng cha tơng xứng

Trang 31

với tiềm năng của Thủ đô Sản xuất phát triển chậm và chất lợng đạt kết quảthấp, nhiều tiềm năng kinh tế cha đợc khai thác Mặc dù Thành uỷ và chínhquyền Thành phố đã cố gắng chỉ đạo sản xuất công nghiệp, nông nghiệp nhngcha quan tâm xác định rõ cơ cấu mặt hàng chủ lực của Thủ đô để đáp ứng nhucâù trong nớc hoặc của nhiều địa phơng và phục vụ xuất khẩu, cha ứng dụngnhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật để sản phẩm thủ đô có chất lợng cao Về

điểm này, thành phố cha làm đợc nhiều, sản phẩm công nghiệp còn quá ít, chalàm đợc nhiệm vụ cung ứng cho các Tỉnh Công nghiệp chế biến kém pháttriển, công nghiệp bao bì cho xuất khẩu cha đợc chú ý, còn nhiều sản phẩmchất lợng kém

2.2.2 Hoạt động xuất khẩu của Hà Nội thời kỳ đổi mới (1986 2000):

-2.2.2.1 Giai đoạn 1986 - 1990:

- Những chủ trơng, chính sách của Trung ơng và địa phơng Hà Nội về

xuất khẩu :

+ Chủ trơng của Trung ơng :

Đây là thời kỳ mà sự nghiệp đổi mới đợc khởi xớng với mốc đánh dấu

từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 diến ra vào ngày 15/12/1986 tại Hà Nội

Đại hội 6 đã khẳng định vị trí và vai trò, tác dụng của kinh tế đối ngoại đốivới nền kinh tế quốc dân “ Nhiệm vụ ổn định v à phát triển kinh tế trongchặng đờng đầu tiên cũng nh sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghiệphoá xã hội chủ nghĩa của nớc ta tiến hành nhanh hay chậm, điều đó phụ thuộcmột phần quan trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đốingoại”(16)

Thực hiện đờng lối đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam đề ra, kinh tế

đối ngoại đợc coi là mũi nhọn của sự nghiệp đổi mới Trong thời kỳ này, mộtloạt các chính sách, chơng trình để đẩy mạnh xuất khẩu đã đợc ban hành nh :

+ Chơng trình sản xuất hàng xuất khẩu đợc đề ra năm 1988 là một trong

3 chơng trình kinh tế lớn của Việt Nam Chơng trình kinh tế này xuất phát từnhu cầu và nguồn lực hiện có của đất nớc, coi xuất khẩu là một trong nhữngnguồn đảm bảo tăng trởng kinh tế và tạo tiền đề cho công nghiệp hoá ở giai

đoạn sau

+ Quyết định số 217 - HĐBT về chính sách đổi mới kế hoạch hoá và

Trang 32

quyết định này, nhà nớc khuyến khích mọi xí nghiệp quốc doanh phát triểnsản xuất hàng xuất khẩu, mở rộng thêm quyền trực tiếp tham gia xuất khẩucho nhiều xí nghiệp Cũng thời kỳ này, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu đói vớithành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũng đợc quan tâm hơn thời kỳ trớc.

+ Việc đổi mới cơ chế quản lý xuất khẩu nh trên nhằm mở rộng quyền

tự chủ của các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu và quyền bình đẳng của cácthành phần kinh tế trong sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu, bớc đầu mởrộng quyền kinh doanh cho các đơn vị ngoài quốc doanh và hạn chế bớt tính

độc quyền của doanh nghiệp nhà nớc chuyên kinh doanh xuất khẩu trớc đây.Tuy nhiên, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu vẫn cha thoát khỏi nguyên tắc “Nhà nớc độc quyền ngoại thơng, trung ơng thống nhất quản lý ngoại thơng”

+ Vào cuối thập kỷ 80, Nhà nớc đã tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc đổimới cơ chế quản lý kinh tế, trong đó có cơ chế quản lý xuất khẩu theo cơ chếthị trờng

Nghi định 64/HĐBT ngày 16/6/1989 của Hội đồng Bộ trởng về chế độ

tổ chức, quản lý kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu đã thể chế hoá chủ

tr-ơng đổi mới cơ chế quản lý ngoại thtr-ơng thời kỳ này theo tinh thần của Nghị

định này, hoạt động xuất khẩu đợc tiến hành theo nguyên tắc hạch toán kinhdoanh XHCN, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong kinh doanhcủa tất ca các tổ chức kinh doanh tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu: tự chủ

về tài chính, tự hoàn vón bằng đồng Việt Nam và bằng ngoại tệ, tự chịu về kếtquả kinh doanh Nguyên tắc “Nhà nớc độc quyền ngoại thơng” tồn tại từ lâu

đã bị xóa bỏ

Chính sách tỷ giá hối đoái:

Trớc năm 1990, quan hệ ngoại thơng của Việt Nam chủ yếu là các nớctrong khối SEV mà chủ yếu là Liên xỗ (cũ) và Đông Âu Trong thanh toánxuất nhập khẩu hình thành 2 loại tỷ giá hối đoái: tỷ giá mậu dịch (áp dụngtrong thanh toán xuất nhập khẩu)và tỷ giá phi mậu dịch (áp dụng cho các hoạt

động nh ngoại giao, giáo dục, văn hoá ) Tỷ giá hối đoái đợc thực hiện theonguyên tắc lấy đồng Rup để chuyển đổi trong nội bộ khối SEV theo nguyêntắc bù trừ và đổi hàng Do vậy, tỷ giá đồng VNĐ với USD đợc xác định qua

đồng Rup nên VNĐ thờng bị đánh giá cáo Từ năm 1986 - 1990, tỷ giá đợc

điều chỉnh mạnh

Năm 1986 : 1Rup = 18 đồng VNĐ

Trang 33

Năm 1987 : 1 Rup = 150 đồng VNĐ, cuối năm còn lên tới 700 đồngViệt Nam.

Tuy có nhiều sửa đổi, tỷ giá hối đoái này hoàn toàn theo mục tiêu kếhoạch của Nhà nớc, không xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế trong nớc vàquốc tế

Đến năm 1989, Nhà nớc đã xoá bỏ tỷ giá kết toán nội bộ và thực hiệnchế độ một tỷ giá Tỷ giá đợc xây dựng gắn sát với giá thị trờng Điều này đãgóp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất khẩu

Chính sách thuế xuất nhập khẩu :

Sự ra đời của Thuế xuất nhập khẩu do Quốc hội ban hành ngày29/12/1987 đã ảnh hởng mạnh mẽ đến hoạt động ngoại thơng của nớc ta Luậtthuế xuất nhập khẩu đợc ban hành đã thay thế cho chế độ thu bù chênh lệchngoại thơng tồn tại trong suốt thời kỳ quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tậptrung Điều này làm cho quan hệ buôn bán giữa các doanh nghiệp bình đẳnghơn trong hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời Luật thuế Xuất nhập khẩucũng làm nền tảng pháp lý cho sự ra đời các Nghị định, Quyết định của Chínhphủ nhằm điều chỉnh cơ chế quản lý xuất nhập khẩu một cách hiệu quả hơn

Sự đổi mới về các cơ chế chính sách vĩ mô trên đã khuyến khích cácthành phần kinh tế tích cực chủ động hơn trong hoạt động xuất khẩu, góp phầnthúc đẩy hoạt động xuất khẩu của cả nớc và Hà Nội trong thời kỳ này

+ Chủ trơng của Hà Nội:

Căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI và tinh thần Nghịquyết 08 của Bộ Chính trị , Đảng bộ thành phố Hà Nội đã định ra chiến lợcdài hạn xây dựng Thủ đô đến năm 2000 và kế hoạch 5 năm 1986 - 1990 HàNội cùng với Thành phố Hồ Chí Minh là những nơi đi đầu trong việc thựchiện các chính sách của Nhà nớc Đại hội Đảng bộ của Thành phố lần thứ 10

đã xác định “ Phải đẩy nhanh tốc độ phát triển, nâng cao chất lợng và hiệu quảsản xuất Kiên quyết điều chỉnh vốn đầu t và xây dựng cơ bản theo hớng chútrọng đầu t chiều sâu để khai thác tốt những cơ sở sản xuất hiện có, xây dựngnhững cơ sở mới đúng quy hoạch và đảm bảo hiệu quả kinh tế, trớc hết làphục vụ mục tiêu ổn định đời sống, tạo việc làm và mở rộng xuất khẩu ”.(21)

Thành phố đã chủ trơng mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại “Thủ đô

có thể mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại trong khâu mấu chốt là đẩy

Trang 34

ờng hợp tác toàn diện với Liên xô và các nớc XHCN anh em về gia công hàngtiêu dùng và phát triển nông sản xuất khẩu Thực hiện tốt quan hệ giao dịchvới các tổ chức kinh tế một số nớc theo các hợp đồng đã ký kết, tăng cờngquản lý các hoạt động ngoại thơng và liên kết với các Tỉnh để tạo nguồn hàngxuất khẩu Đảng bộ Thành phố đã rất quan tâm lãnh đạo đẩy mạnh xuất khẩu

mà đầu tiên là thực hiện các chơng trình sản xuất lớn (sản xuất lơng thực, sảnxuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu) Chính vì vậy, mặc dù cuốinhững năm 80 đầu những năm 90, thị trờng Liên xô (cũ) và Đông Âu giảm độtngột nhng kim ngạch xuất khẩu của địa phơng Hà Nội vẫn đạt 32 triệuUSD và

49 triệu Rup, tăng trởng bình quân là 11%/năm

Nhìn nhận từ góc độ các thành phần kinh tế, Thành phố đã có chínhsách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Trong đó, kinh tế nhà nớcvẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực(thành phốvẫn tồn tại đầu mối xuất khẩu) Kinh tế hợp tác xã, kinh tế t nhân đã có sựtăng trởng khá và dần dần tham gia vào xuất khâu Tuy vậy, vào thời kỳ này,Thành phố vẫn cha chú trọng phát triển đúng mức khu vực kinh tế t nhân

Các chính sách và biện pháp chủ yếu Thành phố đã thực hiện trong gia

kỹ thuật bảo quản để chế biến nông sản

- Thành phố đã có những chơng trình đầu t vốn để nhập khẩu các t liệusản xuất hàng xuất khẩu Với chủ trơng, những xí nghiệp xây dựng mới phải

có kỹ thuật tiên tiến, sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Chọn phơng thức đầu

t ít nhất nhng tạo đợc hàng xuất khẩu nhanh nhất thì đầu t, không phân biệthình thức sở hữu Giám đốc xí nghiệp làm hàng xuất khẩu chủ động vay ngoại

tệ đầu t sản xuất , lo thị trờng tiêu thụ, Thành phố không bao cấp

- Ban hành các chính sách khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, cácdịch vụ tăng ngoại tệ

- Quy định về giá sản xuất đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Chấp nhận sảnphẩm xuất khẩu phải đợc hởng giá cao nhất

Trang 35

- Ưu tiên vốn đầu t ngoại tệ và vốn cho việc xây dựng cơ sở vật chất kỹthuật đối với các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu

Bên cạnh những chuyển biến tích cực mà Đảng bộ và Chính quyềnThành phố đã thực hiện để đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, song phảithừa nhận rằng sự đổi mới nói chung và trong hoạt động kinh tế đối ngoại diễn

ra còn chậm chạp

- Kết quả hoạt động xuất khẩu giai đoạn 1986 - 1990:

Theo số liệu thông tin kinh tế - xã hội của Hà Nội, tình hình xuất khẩu

đợc thể hiện trong Bảng 2.1.Nếu lấy năm 1990 so với 1986, kim ngạch xuấtkhẩu đã tăng 69,80% Về nhóm hàng.: Hàng nông sản xuất khẩu qua cácnăm đều tăng, nhất là năm 1989 và năm 1990 Cơ cấu hàng xuất khẩu của HàNội trong thời kỳ này cha có chuyển biến lớn so với thời kỳ 1981 -1985, chủyếu vẫn là hàng nông lâm hải sản ở dạng thô và sơ chế(rau quả tơi, lạc, tỏikhô, nâm), hàng thủ công(thêu ren, mây tre, mỹ nghệ) và hàng tiêu dùngthuộc ngành công nghiệp nhẹ(may mặc, mũ, giày, khăn bông, dệt kim .)

Cơ cấu thị trờng hàng xuất khẩu trong gia đoạn 1986 - 1990 chủ yếu tậptrung vào thị trờng các nớc xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên tỷ trọng thị trờng xuấtkhẩu sang các nớc XHCN giảm xuống và tỷ trọng thị trờng xuất khẩu với cácnớc khác trong tổng kim ngạch tăng dần Thời kỳ này, cùng với xu hớngchung của cả nớc, Hà Nội đã bắt đầu mở rộng thị trờng sang các nớc trongkhu vực và trên thế giới

Trang 36

Biểu 2.2.xuất khẩu của thành phố hà Nội

Nguồn : thông tin KT-XH (1985 - 1992) Hà Nội, xuất bản 1993

Nhìn chung, Hoạt động xuất khẩu của Thủ đô giai đoạn này đã đạt đợctốc độ tăng trởng đáng kể với sự đa dạng hoá các loại hình, đa phơng hoá thịtrờng và đối tợng hợp tác, đồng thời đã thu hút đợc các thành phần kinh tếtham gia vào xuất khẩu Nh Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ của Đảng bộ HàNội khoá XI đã ghi nhận: “ Hoạt động kinh tế đối ngoại đợc mở rộng, gópphần quan trọng vào việc cấu trúc lại cơ cấu ngành kinh tế và tăng tốc độ pháttriển kinh tế, cải thiện cán cân thơng mại, mở cửa nền kinh tế.”(22)

Tuy nhiên nếu nhìn nhận và phân tích một cách sâu hơn sẽ thấy, hoạt

động kinh tế đối ngoại nói chung và xuất khẩu của Hà Nội còn bộc lộ nhiềuyếu kém và hạn chế Những thành tựu đạt đợc cha tơng xứng với tiềm năngcủa Thủ đô Hà Nội, với t cách là trung tâm kinh tế của cả nớc Tốc độ tăng tr-ởng nhanh song không ổn định

Những yếu kém và hạn chế nói trên là do những nguyên nhân kháchquan và chủ quan, nhất là nguyên nhân chủ quan sau đây:

Về nguyên nhân khách quan :

- Hà Nội chịu ảnh hởng khá nặng nề của mô hình công nghiệp hoá cổ

điển và cơ chế quản lý cứng nhắc của mô hình kế hoạch hoá tập trung quanliêu bao cấp trớc đây Do vậy, Hà nội phải trải qua một giai đoạn chuyển đổi

để từng bớc thiết lập cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc

Sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên xô(cũ) và Đông Âu, sự tanrã của Hội đồng tơng trợ kinh tế và chính sách cấm vận của Mỹ đối với ViệtNam đã đa tới những trở ngaị không nhỏ Nói cách khác, chính nguyên nhânnày làm cho thị trờng truyền thống bị thu hẹp, nếu không muốn nói là mất đi

và thị trờng mới với yêu cầu cao hơn thì Hà Nội cha có đủ điều kiện để đi vàovới quy mô lớn

Về nguyên nhân chủ quan:

Trang 37

- Hà Nội cha biết khai thác tiềm năng là vị trí trung tâm kinh tế của cảnớc và Khu vực Phía Bắc, trớc hết là đối với các Tỉnh lân cận của đồng bằngBắc Bộ Do đó còn chậm có những chủ trơng, biện pháp, đòn bảy kinh tế hữuhiệu để thu hút và tận dụng tiềm năng đó, thu hút các nguồn nguyên liệu từcác Tỉnh để đa vào tinh chế phục vụ xuất khẩu Về điểm này, Thành phố HồChí Minh có kinh nghiệm và đạt đợc thành công lớn hơn nhiều so với Hà Nội.

- Các doanh nghiệp Trung ơng và địa phơng trên địa bàn Hà Nội cònchậm trong việc tạo ra cơ chế đổi mới kỹ thuật - công nghệ và nâng cấp cơ sởvật chất cho sản xuất, kinh doanh Do vậy, Hà Nội chậm xây dựng những mặthàng mũi nhọn có khả năng xuất khẩu, cạnh tranh đợc trên các thị trờng, kể cảnhững “ thị trờng khó tính”

- Sự yếu kém về năng lực của bộ máy cán bộ xuất nhập khẩu đúng nhHội nghị đại biểu giữa kỳ của Đảng bộ Hà Nội khoá XI đã nhận định: “Cái

đáng lo ngại nhất là trình độ của cán bộ về quản lý Nhà nớc, quản lý sản xuấtkinh doanh, đặc biệt là trong liên doanh với nớc ngoài còn thấp so với yêu cầu

Bộ máy còn quá cồng kềnh, kém hiệu lực”

Trang 38

2.2.2.2.Hoạt động xuất khẩu giai đoạn 1991 -2000

- Những chủ trơng của Trung ơng và Thành phố :

+ Chủ trơng của Trung ơng :

Kể từ sau 1990, Trung ơng đã ban hành một số chính sách khuyếnkhích hơn nữa hoạt động xuất khẩu Một loạt các văn bản mới đợc ban hànhnhằm tháo gỡ và đẩy mạnh hơn hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và xuấtkhẩu nói tiêng Nhng chính sách này đã thúc đẩy rát lớn hoạt động xuất khẩutrên địa bàn

+ Nghị định 114/HĐBT quy định các doanh nghiệp không phân biệtthành phần kinh tế đợc cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu khi có đủ 4

điều kiện Nghị định 114/HĐBT đã đánh dấu bớc chuyển dần từ mô hìnhNhà nớc độc quyền ngoại thơng sang tự do hoá ngoại thơng

Nghị định 33/CP ngày 19/4/1994 về quản lý nhà nớc đối với hoạt độngxuất nhập khẩu

Nghị định 57/CP của Chính phủ ngày 31/7/1998 quy định chi tiết thihành Luật Thơng mại về hoạt động xuất nhập khẩu, gia công và đại lý muabán hàng hoá với nớc ngoài

Chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt và có sự điều chỉnh của Nhà nớc có ýnghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu

Chính sách thuế xuất nhập khẩu : ngày 17/11/1998 Chính phủ đã banhành Nghị định 94/CP quy định chi tiết việc sửa đổi, bổ sung một số điềuLuật thuế xuất nhập khẩu Luật thuế XNK đã phù hợp với quy định quốc tế

mà Việt Nam phải thực hiện (kê khai hải quan theo mã số HS, áp dụng Luậtthuế VAT )

+ Chủ tr ơng của Thành phố Hà Nội:

Đầu thập niên 1990, Thành phố đã cùng cả nớc triển khai kế hoạch pháttriển kinh tế xã hội 5 năm 1991 - 1995 với trọng tâm là tiếp tục đ ờng lối đổimới của Đảng và Nhà nớc Trong 5 năm này, Hà Nội phải phấn đấu có bớcchuyển trong cơ cấu kinh tế, trong đó xuất nhập khẩu có vai trò đòn bảy pháttriển kinh tế xã hội Có thể nói, bắt đầu từ giai đạn này, hoạt động xuất khẩucủa Hà nội mới thất sự khởi sắc Tuy thời kỳ này, Hà Nội lấy sản xuất thay thếnhập khẩu là chủ yếu song rất coi trọng đổi mới công nghệ để sản xuất hàngxuất khẩu có khả năng cạnh tranh trên thị trờng quốc tế

Thành phố đã tập trung vào một số chơng trình sau:

Trang 39

+ Tập trung sản xuất công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu theo hớng tăngnhanh tỷ trọng công nghiệp hàng xuất khẩu, đổi mới công nghệ để tăng sảnxuất xuất khẩu các sản phẩm tinh xảo và có hàm lợng kỹ thuật cao nh: điện

điện tử, cơ kim khí tiêu dùng, dệt may da, thực phẩm chế biến Cần có chínhsách u tiên, tập trung đầu t phát triển các ngành xuất khẩu lớn

+Đa phơng hoá quan hệ thơng mại, đa dạng hoá thị trờng xuất khẩu, tậptrung phát triển thị trờng đã có, thâm nhập và khai thác các thị trờng mới + Phát triển mạnh công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu theo h -ớng nâng cao chất lợng các mặt hàng truyền thống đi đôi với mở rộng các mặthàng mới Việc chuyển đổi trọng tâm trong chính sách công nghiệp sang sảnxuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu đã tạo chuyển biến lớn trong cơ cấunội bộ của ngành công nghiệp chế biến

Xuất khẩu hàng hoá trên địa bàn Thành phố Hà Nội 10 năm qua đềutăng trởng liên tục, đạt đợc những mục tiêu đặt ra và đóng góp một phần đáng

kể vào việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Nhịp

độ tăng trởng xuất khẩu trên địa bàn giai đoạn 1996-2000 tăng bình quân16,6%/năm, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 6500 triệu USD Riêngnăm 2000, kim ngạch xuất khẩu đạt 1625 triệu USD, tăng 4,72 lần so với năm

1991 (344 triệu USD)

Xuất khẩu của doanh nghiệp thuộc địa phơng cũng tăng trởng với mứccao Tổng kim ngạch xuất khẩu địa phơng thời kỳ 1991-1995 là 541,9 triệuUSD; bình quân mỗi năm tăng 26%; thời kỳ 1996-2000 là 1.604 triệu USD,bình quân mỗi năm tăng 20%

Tuy nhiên, trong những năm 1996 - 2000, tốc độ tăng trởng của kimngạch xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội thấp hơn so với tốc độ tăng trởng kimngạch xuất khẩu chung của cả nớc Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu Hà Nội có

xu hớng giảm dần trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc (trên địa bàn từ16,85% năm 1991 xuống 14,3% năm 1996 và còn 11,04% năm 2000; của địaphơng tơng ứng là 3,8% - 3,4% và 2,7%) Điều này có thể giải thích bằng việctrong số các mặt hàng xuất khẩu trên địa bàn và của địa phơng Hà Nội không

có dầu thô và một số nông, lâm hải là những mặt hàng có kim ngạch lớn vàtốc độ tăng trởng xuất khẩu cao nhất của Việt Nam

Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu của Thành phố Hà Nội

Trang 40

Kim ngạch các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của địa phơng tăng đều quacác năm )

Bảng 2.4 Kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu

chủ yếu của thành phố Hà Nội 1991- 2002

Ngày đăng: 18/02/2014, 15:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.5: thị trờng xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Hà Nội 1991-2000 - vấn đề xuất khẩu của hà nội trong thời kỳ đổi mới - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.5 thị trờng xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Hà Nội 1991-2000 (Trang 41)
Bảng 2.5. Một số thị trờng xuất khẩu chủ yếu của địa phơng Hà Nội năm 2000 (Xin xem bảng 2.5) - vấn đề xuất khẩu của hà nội trong thời kỳ đổi mới - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.5. Một số thị trờng xuất khẩu chủ yếu của địa phơng Hà Nội năm 2000 (Xin xem bảng 2.5) (Trang 50)
Bảng 2.8.  Kim ngạch xuất khẩu  địa phơng Hà Nội phân theo thành phần kinh tế (1991 -2000) - vấn đề xuất khẩu của hà nội trong thời kỳ đổi mới - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.8. Kim ngạch xuất khẩu địa phơng Hà Nội phân theo thành phần kinh tế (1991 -2000) (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w