Vì vậy, việc nghiên cứu để đánh giá đúng vai trò, vị trí của khu vực kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội trong thời gian hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp chính sách hợp lý cho sự ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu 1
Chương 1 Sự cần thiết của khu vực kinh tế tư nhân đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hà Nội 5
1.1 Những luận cứ chủ yếu đúc rút từ lịch sử kinh tế thị trường và
từ hệ quan điểm của các nhà kinh điển mác-xít 5 1.2 Duy trì và khuyến khích sự phát triển lâu dài của khu vực kinh
tế tư nhân ở Hà Nội đã hoàn toàn phù hợp với chủ trương và chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta
21 1.3 Khu vực kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng trong
cấu trúc kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội 29
Chương 2 Tiềm năng, lợi thế phát triển và thực trạng khu vực kinh tế
tư nhân ở thành phố Hà Nội 38
2.1 Nhận định tổng quát về tiềm năng, lợi thế của thành phố Hà
Nội trong việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân 38 2.2 Tác động của đường lối đổi mới và thực trạng của khu vực kinh
tế tư nhân ở thành phố Hà Nội trong những năm gần đây 41 2.3 Một số nhận xét, đánh giá về thành tựu và hạn chế của khu vực
kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm đổi mới vừa qua
64
Chương 3 Mục tiêu, phương hướng và các giải pháp phát triển khu
vực kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn
2005 - 2010
75 3.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân
trên địa bàn thành phố Hà Nội 77 3.2 Các giải pháp đẩy mạnh phát triển khu vực kinh tế tư nhân trên
địa bàn thành phố Hà Nội 84
Kết luận 101
Trang 3Danh mục tài liệu tham khảo 103
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đổi mới cơ chế, hoàn thiện quan hệ sản xuất theo nguyên tắc phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất của các thành phần kinh tế là một thành công lớn của Đảng ta trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội Với những đổi mới trong tư duy lý luận, cơ chế và chính sách, Đảng và Nhà nước
đã đổi mới cách nhìn nhận về sự tồn tại các loại hình doanh nghiệp và doanh nhân, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng này mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
Từ Đại hội lần thứ VI đến Đại hội lần thứ IX, Đảng ta luôn luôn nhất quán đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đường lối và chủ trương của Đảng đã được cụ thể hoá thành các văn bản pháp luật của Nhà nước, tạo cơ sở pháp lý cho sự ra đời và phát triển các thành phần kinh tế
Thành phần kinh tế tư nhân đã được khẳng định là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Và gần đây, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX
đã thông qua nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”
Nhìn chung trong phạm vi cả nước, kinh tế tư nhân đã và đang từng bước phát triển cả về quy mô lẫn tốc độ, ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Tuy nhiên, Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX cũng thừa nhận: kinh tế
tư nhân ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, phần lớn có quy mô nhỏ, vốn
ít, công nghệ sản xuất còn lạc hậu, trình độ quản lý còn yếu kém, hiệu quả và sức cạnh tranh yếu, ít đầu tư vào lĩnh vực sản xuất; mặt khác một số cơ chế chính sách của Nhà nước còn chưa phù hợp với đặc điểm của kinh tế tư nhân
Trang 5Riêng ở thành phố Hà Nội, khu vực kinh tế tư nhân cũng đang phát triển nhanh, đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, và nhìn chung, đã thể hiện được vai trò cần thiết đối với sự phát triển kinh tế xã hội Nhưng theo kết quả khảo sát của các cơ quan chuyên trách của Thành phố cho thấy: tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội chưa được khai thác đúng mức; hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tay nghề, trình độ kỹ thuật, công nghệ, tính năng động sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực này còn thấp Vì vậy, việc nghiên cứu để đánh giá đúng vai trò, vị trí của khu vực kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội trong thời gian hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp chính sách hợp lý cho
sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội là một vấn đề cần thiết, nhằm góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, chống
“tụt hậu” về kinh tế so với cả nước, tạo điều kiện nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới
Với những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Khu vực kinh tế tư
nhân ở thành phố Hà Nội trong thời kỳ đổi mới - thực trạng và giải pháp phát triển” để thực hiện luận văn cao học, với hy vọng đóng góp một phần
cho sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm trước đổi mới, theo cách tư duy cũ, thành phần kinh
tế tư nhân được xem là đối tượng cải tạo và phải xoá bỏ, vì thế việc nghiên cứu và phát triển thành phần kinh tế này hầu như không được đặt ra Từ khi Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt là chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc nghiên cứu về thành phần kinh tế tư nhân trở nên sôi động và được nhìn nhận theo hướng tích cực
ở nhiều góc độ khác nhau Từ năm 1986 cho đến nay đã có nhiều bài báo,
Trang 6tham luận khoa học, các công trình nghiên cứu về thành phần kinh tế này cụ thể như:
- Đào Thị Phương Liên (1995): “Sự phát triển của kinh tế tư nhân
trong giai đoạn chuyển nền kinh tế Việt Nam sang kinh tế thị trường”, Luận
án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội
- Nguyễn Huy Oánh (2001): “Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền
kinh tế Việt Nam”, Nghiên cứu kinh tế, (12), tr.45 - 55
- GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền (2002): Thành phần kinh tế tư bản tư
nhân trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội
- TS Hà Huy Thành (2002): Thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ và tư
bản tư nhân, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Nguyễn Minh Thảo (2003): Kinh tế tư nhân ở Việt Nam thực trạng và
giải pháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học quốc gia, Hà Nội
Các công trình nói trên đã nghiên cứu thành phần kinh tế tư nhân ở nhiều góc độ khác nhau như: phát triển khu vực kinh tế tư nhân, quan điểm
về sự phát triển kinh tế tư nhân, các giải pháp cụ thể về môi trường, thể chế chính sách nhằm phát triển kinh tế tư nhân trong phạm vi cả nước nói chung Song cho đến nay, các đề tài nghiên cứu một cách hệ thống về kinh tế tư nhân
ở Hà Nội, hầu như không đáng kể Do đó, thực hiện đề tài này dưới góc độ kinh tế chính trị, chúng tôi sẽ tập trung phân tích và làm rõ bức tranh về khu vực kinh tế tư nhân ở Hà Nội trong những năm gần đây
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
Mục đích: Góp thêm những luận cứ khoa học và thực tiễn để làm rõ
thực trạng phát triển, những chính sách khuyến khích, đồng thời nêu lên những giải pháp để phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội
Trang 7Nhiệm vụ: Thông qua phân tích về vai trò, thực trạng của khu vực kinh
tế tư nhân ở thành phố Hà Nội trong thời kỳ đổi mới, luận văn nêu lên một số giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội phát
triển trong những năm tới
4 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
Đối tượng: Nghiên cứu vai trò, vị trí và thực trạng của khu vực kinh tế
tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: Khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố
Hà Nội trong thời kỳ đổi mới
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
Cơ sở lý luận: Dựa trên những luận cứ chủ yếu đúc rút từ lịch sử kinh
tế thị trường và từ hệ quan điểm của các nhà kinh điển mácxít, đặc biệt đi từ góc độ sở hữu để phân tích về kinh tế tư nhân
Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu:
Luận văn vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh dựa trên các nguồn tài liệu thu thập được về kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội
6 Đóng góp của luận văn: Xác định cơ bản vai trò, vị trí của khu vực
kinh tế tư nhân trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở thành phố Hà Nội hiện nay, từ đó nêu lên một số giải pháp để phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong những năm tới, nhất là từ năm 2005 - 2010
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn học có liên quan
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
Trang 8Chương 1: Sự cần thiết của khu vực kinh tế tư nhân đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hà Nội
Chương 2: Tiềm năng, lợi thế phát triển và thực trạng của khu vực
kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội
Chương 3: Mục tiêu, phương hướng và các giải pháp phát triển khu
vực kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2005 - 2010
Chương 1
SỰ CẦN THIẾT CỦA KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ở Việt Nam nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, trong suốt một thời gian dài từ sau 1954 đến 1985, kinh tế tư nhân được coi là đối tượng chính của cải tạo xã hội chủ nghĩa, bị cấm đoán ngặt nghèo và kỳ thị rất nặng
nề Từ năm 1986 đến nay, với đường lối đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được hình thành ngày càng rõ nét, nhờ đó, thế
và lực của đất nước được nâng lên đáng kể, và trong bối cảnh đó, khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng như ở tất cả các địa phương trong cả nước được khuyến khích phát triển, ngày càng thể hiện rõ vai trò và ảnh hưởng tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước
Tuy nhiên cho đến nay, sau gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, bên trong xã hội Việt Nam vẫn còn những vướng mắc lớn không chỉ về nhận thức lý luận mà ngay cả trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách đối với khu vực kinh tế tư nhân
Xuất phát từ tình hình nói trên, việc luận chứng để khẳng định về sự cần thiết của khu vực kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội lâu dài của Việt Nam nói chung và của thành phố Hà Nội nói riêng được chúng tôi coi là nhiệm vụ đầu tiên trong công trình nghiên cứu này
Trang 91.1 Những luận cứ chủ yếu đúc rút từ lịch sử kinh tế thị trường và
từ hệ quan điểm của các nhà kinh điển mác-xít
1.1.1 Phân tích từ góc độ lịch sử và thông lệ của kinh tế thị trường trên thế giới
Để có nhận thức đúng và chính sách đúng đối với kinh tế tư nhân ở Việt Nam nói chung và ở thành phố Hà Nội nói riêng, dĩ nhiên là cần phải bám sát thực tế và những đặc điểm riêng của quốc gia, của địa phương Ở đây, chúng tôi chưa đi sâu vào khía cạnh này, vấn đề mà chúng tôi muốn nhấn mạnh là: không thể biệt lập hoá kinh tế tư nhân ở Việt Nam nói chung và ở
Hà Nội nói riêng; trái lại phải đặt nó trong mối liên hệ với những trật tự khách quan và có tính phổ biến đã được kiểm nghiệm bởi lịch sử hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường trên thế giới nói chung
1.1.1.1 Lịch sử phát triển kinh tế của nhân loại không thể tách rời vai trò của kinh tế tư nhân
Xét về góc độ lịch sử của nhân loại nói chung, kinh tế tư nhân ra đời tồn tại và phát triển là một tất yếu khách quan Điều đó về căn bản được quy định bởi quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Ở các xã hội khác nhau, kinh tế tư nhân đạt tới trình độ phát triển khác nhau và có vai trò cụ thể khác nhau, và vì vậy, sự nhìn nhận về vị trí của kinh tế tư nhân ở từng thời kỳ cũng khác nhau
Ngay từ khi nền sản xuất hàng hoá mới ra đời, ở nhiều nước châu Âu, kinh tế tư nhân đã bắt đầu xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội Dựa trên nền tảng của sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân phát triển một cách tự phát và khá nhanh bên trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, với nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh, buôn bán đa dạng và phong phú Trong nền kinh tế hàng hoá có quy mô nhỏ, kinh tế tư nhân chiếm tỉ trọng lớn nhất và có vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng những nhu cầu
Trang 10Trong xã hội phong kiến ở các nước phương Đông, do sự thống trị của tầng lớp vua chúa và quan lại, với cơ chế ban phát - cống nạp, quan hệ buôn bán dường như bị ngăn cấm, bài xích Kinh tế tư nhân dưới cơ chế này bị kiểm soát chặt chẽ và hạn chế phát triển Trong bối cảnh đó, kinh tế tư nhân không có ưu thế như ở các nước phong kiến Tây Âu Việc đề cao mệnh lệnh của nhà nước phong kiến và sự tập trung ruộng đất cùng một số tư liệu sản xuất chủ yếu khác vào trong tay một số ít người thuộc tầng lớp thống trị đã kìm hãm sự phát triển của kinh tế tư nhân ở các nước phương Đông
Đến xã hội tư bản chủ nghĩa, với cơ chế thị trường, kinh tế tư nhân được phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn loại hình, kinh tế tư nhân được đánh giá cao và được coi là động lực thúc đẩy sản xuất, đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội
Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, với sự khống chế của thiết chế
sở hữu công cộng mang nặng tính hình thức về phương diện pháp lý, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung và các hình thức biến tướng của nó, kinh tế thị trường gần hoàn toàn bị phủ nhận Quan hệ buôn bán trong xã hội bị kìm hãm Nhận thức về kinh tế tư nhân của giới lãnh đạo và hoạch định chính sách
có những tụt hậu nghiêm trọng, những ưu thế về thị trường của kinh tế tư nhân không được chấp nhận, thậm chí Nhà nước còn có những biện pháp kìm hãm không cho kinh tế tư nhân tồn tại và phát triển
Tuy nhiên, về mặt khách quan, với sự tồn tại và phát triển lâu dài của nền kinh tế thị trường, mỗi thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân ở từng quốc gia đều phải có cơ hội phát triển và được thừa nhận về mặt pháp lý Kinh tế tư nhân tiếp tục được phát triển và ngày càng bộc lộ những lợi thế vốn
có của nó cho nền kinh tế - xã hội Thực tế đó đã được minh chứng rất sống động bởi toàn bộ quá trình phát triển của nhân loại kể từ khi nền sản xuất hàng hoá giản đơn bắt đầu xuất hiện cho đến tận ngày nay
Trang 11Như vậy, sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam nói chung và ở thành phố Hà Nội nói riêng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường là hoàn toàn phù hợp với quy luật tiến hoá chung của thế giới
1.1.1.2 Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường nói chung
Từ kinh nghiệm của thế giới, có thể khẳng định rằng: không có kinh tế
tư nhân thì về thực chất cũng không có kinh tế thị trường; trong khi đó kinh tế thị trường lại là con đường phát triển mang tính phổ biến đối với cả nhân loại
Trong mọi nền kinh tế thị trường, sự tăng trưởng và phát triển của khu vực tư nhân và sự phát triển của cộng đồng gắn liền với nhau trong mối quan
hệ phụ thuộc lẫn nhau Sự tăng trưởng và phát triển của khu vực tư nhân sẽ đem lại thu nhập cao hơn, y tế và giáo dục tốt hơn cho người dân trong cộng đồng Mặt khác, đối với các doanh nghiệp, thu nhập cao hơn có nghĩa là thị trường rộng lớn hơn, sức khoẻ và giáo dục tốt hơn thì lực lượng lao động có năng suất cao hơn và năng suất cao hơn sẽ đem lại nhiều lợi nhuận hơn
Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường được thể hiện trên những khía cạnh của đời sống xã hội như phát triển kinh tế, phát triển xã hội và quản lý khu vực công
a Đối với phát triển kinh tế:
Mục tiêu kinh tế của phát triển là nhằm tạo cho người dân có mức thu nhập cao hơn thông qua sự tăng trưởng nhanh về tổng sản phẩm quốc nội Trong nền kinh tế thị trường, điều này có thể đạt được cùng với nỗ lực của khu vực công và khu vực tư nhân
Thứ nhất, một trong những đóng góp quan trọng của khu vực kinh tế
tư nhân đối với phát triển kinh tế là khả năng huy động vốn cho các ngành sản xuất hàng hoá và dịch vụ Nguồn vốn là yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình
Trang 12Đặc biệt đối với các nền kinh tế chuyển đổi như ở Việt Nam thì nguồn vốn lại càng khan hiếm hơn khi các tổ chức tài chính chưa phát triển hoặc không có khả năng huy động tiền tiết kiệm từ dân cư, cũng như do hạn chế của ngân sách trong việc phân bổ vốn cho đầu tư Do đó, khả năng tự huy động vốn của khu vực kinh tế tư nhân trở nên rất quan trọng và cần thiết
Thứ hai, việc phát triển kinh tế tư nhân góp phần tạo ra các cơ hội việc
làm Một trong những kết quả quan trọng của việc huy động và hình thành vốn của các doanh nghiệp tư nhân là tạo ra các cơ hội việc làm cho các thành viên khác trong cộng đồng Việc làm sẽ mang lại thu nhập cho những người lao động và nâng cao mức sống của gia đình họ Nhìn chung, chủ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân khác với nhà quản lý ở các doanh nghiệp nhà nước ở chỗ họ có quyền quyết định lớn hơn trong việc thuê mướn lao động (số lượng, kỹ năng cần thiết của người lao động) Vì vậy, lực lượng doanh nhân không những hoàn toàn có thể tăng số lượng lao động làm thuê theo ý họ, mà còn có thể nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng nguồn nhân lực trong cộng đồng
Thứ ba, sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân thường đi liền với
việc ứng dụng và quảng bá công nghệ Một yếu tố quan trọng để tạo được hiệu quả trong sản xuất là công nghệ phù hợp Thực tế cho thấy, cách suy nghĩ và hành động không bao giờ tự hài lòng của các chủ doanh nghiệp thường xuyên thúc đẩy họ tìm kiếm các công nghệ phù hợp hơn cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp Sự phù hợp về công nghệ không phải lúc nào cũng hàm ý là công nghệ tiên tiến nhất mà ở đây là công nghệ phù hợp với những điều kiện của quá trình sản xuất, xét về mặt cấu thành chi phí và các nguyên liệu đầu vào sẵn có Nếu đem so sánh với các doanh nghiệp nhà nước thì rõ ràng các chủ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân phải đối mặt trực tiếp với những chi phí thực tế về sản xuất, lao động, vốn, nguyên vật liệu Quá trình tìm kiếm công nghệ phù hợp của một doanh nghiệp tư nhân có ảnh
Trang 13hưởng tích cực nhất đến việc phân bổ một cách có hiệu quả nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế
Thứ tư, phát triển kinh tế tư nhân góp phần tạo nguồn thu thuế cho
chính phủ, thông qua hệ thống thuế, các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả
sẽ đóng góp vào tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Các khoản đóng góp này giúp duy trì bộ máy hoạt động của chính phủ cũng như là nguồn quan trọng để xây dựng phần lớn các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cần thiết Để bảo đảm vững chắc nguồn thu này, điều quan trọng là cơ cấu thuế, quy trình thu thuế, quá trình kiểm toán cần được phát triển phù hợp sao cho việc trốn thuế và các tác nhân xấu ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và hiệu quả được tối thiểu hoá
b Đối với phát triển xã hội:
Xét về tổng thể, mục tiêu của phát triển xã hội là tạo nên sự công bằng
về cơ hội cho tất cả các thành viên trong xã hội bất kể vị thế kinh tế và xã hội của họ thông qua các dự án xã hội Những dự án này bao gồm giáo dục và đào tạo, sức khoẻ, nhà ở, trợ giúp cho sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ,
Về trách nhiệm xã hội, nhiều công ty thuộc khu vực kinh tế tư nhân xem trách nhiệm xã hội như là trách nhiệm của họ, hành động với tư cách như những công dân tốt trong xã hội, nhằm bảo đảm rằng những mối quan tâm của xã hội như môi trường, an toàn của khách hàng, an toàn của người lao động sẽ được đề cập, quan tâm một cách thích đáng trong kế hoạch kinh doanh và trong quá trình hoạt động Tại một số quốc gia, các doanh nghiệp tư nhân thường tuân thủ tốt hơn theo những quy định về mặt môi trường so với các doanh nghiệp nhà nước
Việc thực hiện các dự án xã hội ở nhiều quốc gia cho thấy: các dự án xã hội thành công thường là các dự án do các tổ chức phi chính phủ thuộc khu vực tư nhân thực hiện, chứ không phải là các dự án do các cơ quan thuộc
Trang 14doanh nghiệp nhỏ vay vốn do các cơ quan chính phủ thực hiện thường có tỷ lệ hoàn trả rất thấp; trong khi đó, tỷ lệ hoàn trả này lại tăng lên đáng kể, khi chúng được giao cho các tổ chức phi chính phủ của khu vực tư nhân quản lý thực hiện thông qua các hợp đồng Lý do là, khi các tổ chức thuộc chính phủ
tổ chức thực hiện thì những người vay vốn thường có ấn tượng rằng họ không thực sự cần thiết phải hoàn trả lại những khoản vốn này, vì đây là tiền chính phủ, mà tiền của chính phủ lại là tiền của mọi người Tuy nhiên, vấn đề lại hoàn toàn khác khi việc thực hiện dự án do các tổ chức phi chính phủ thuộc khu vực tư nhân thực hiện, người vay cảm thấy mục đích thực sự của dự án và phải bảo đảm chắc rằng những khoản vay của họ sẽ được hoàn trả Hơn nữa, người đi vay có thể có cảm giác nghĩa vụ do các tổ chức phi chính phủ tạo ra cho họ, những cảm giác mà những nhân viên thuộc chính phủ có thể đã không chỉ rõ cho người vay thấy
c Đối với quản lý khu vực công:
Mặc dù khu vực tư nhân và khu vực công cộng đều có vai trò riêng trong nền kinh tế thị trường, tuy nhiên có rất nhiều công cụ nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động cung cấp dịch vụ công cộng có nguồn gốc ban đầu
từ khu vực tư nhân
Tại những quốc gia có sự phối hợp giữa khu vực tư nhân và khu vực công cộng trong việc xây dựng kế hoạch, chính sách phát triển, các viên chức chính phủ thừa nhận rằng các đồng nghiệp ở khu vực tư nhân đã tạo ra những suy nghĩ khách quan, tiến bộ, mới mẻ hơn khi giải quyết các vấn đề Xét về
xu hướng chung, các viên chức chính phủ thường tương đối thụ động và bảo thủ hơn so với các đồng nghiệp năng động, sáng tạo và cầu tiến hơn ở khu vực tư nhân vốn đã quen với môi trường cạnh tranh bên ngoài Vì thế, những
kế hoạch của các doanh nghiệp tư nhân thường sẽ mang tính thực tế, tập trung hơn và có thể đạt tới khả năng linh lợi cao hơn
Trang 15Ở phần lớn các nền kinh tế thị trường thuộc các nước phát triển, doanh nhân thường được mời vào một vị trí tạm thời ở khu vực công, từ đó họ có thể
có cơ hội chuyển tải phương pháp làm việc, cách suy nghĩ cho các nhân viên chính phủ Một trong những khó khăn mà các nhà kế hoạch và hoạch định chính sách trong nền kinh tế thị trường hay gặp phải là việc dự báo tác động
và kết quả của các chính sách, vì họ phải dựa trên các phản ứng của khu vực
tư nhân đối với các chính sách này Bằng cách đưa khu vực tư nhân tham gia một cách chủ động vào quá trình hoạt động và xây dựng chính sách, vấn đề khó khăn này sẽ được tối thiểu hoá Nhờ có sự tham gia của các đại diện khu vực kinh tế tư nhân, chúng ta có thể hình dung được tác động có thể có của một chính sách nhất định xét đến giác độ phản ứng của khu vực doanh nghiệp Khu vực tư nhân có thể cung cấp những chỉ dẫn trong việc lựa chọn chính sách và cũng nhờ có khu vực này mà chính sách mang tính kịp thời và cập nhật hơn
Việc tham gia hiệu quả của khu vực tư nhân trong việc xây dựng chính sách đòi hỏi khu vực tư nhân phải được tổ chức sao cho những vấn đề cần phải có chính sách mới hay cần phải có sự thay đổi chính sách có thể được thảo luận một cách tự do, độc lập ở khu vực tư nhân vì họ có quyền tự do bầu
cử cho những người đại diện của họ vào các cơ quan xây dựng chính sách Sự thành công trong việc tham gia của khu vực tư nhân phụ thuộc vào việc các tổ chức tư nhân này được tổ chức hiệu quả và vững chắc như thế nào Kinh nghiệm ở các nước cho thấy, trình độ giáo dục của chủ doanh nghiệp và quy
mô doanh nghiệp là những nhân tố quan trọng bảo đảm tham gia có hiệu quả với tư cách là một đối tác của chính phủ trong hoạch định kế hoạch, xây dựng chính sách và giám sát thực hiện Và một nhân tố quan trọng khác là sự sẵn sàng của các viên chức chính phủ trong việc chia sẻ trách nhiệm với khu vực
tư nhân trong quá trình ra quyết định và cung cấp những thông tin cần thiết
Trang 16tư nhân thấy, và từ đó các tổ chức của khu vực tư nhân có thể chuẩn bị tinh thần và nhiệt tình tham gia với tư cách như những đối tác ngang bằng trong quá trình hoạch định chính sách
Từ các kết quả phân tích trên đây, có thể khẳng định rằng khu vực kinh
tế tư nhân có vai trò hết sức cần thiết và quan trọng trong quá trình tiếp tục phát triển lâu dài của nền kinh tế thị trường trên thế giới hiện nay Và như vậy, chúng ta có thêm một cơ sở xác đáng để vững tin vào sự cần thiết của khu vực kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội lâu dài của Việt Nam nói chung và của thành phố Hà Nội nói riêng trong tiến trình thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 171.1.2 Phân tích từ góc độ sở hữu theo quan điểm của các nhà kinh điển mác-xít
Vấn đề được coi là có tính nguyên tắc hiện nay khi bàn đến các khía cạnh lý luận và chính sách về phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam nói chung và ở thành phố Hà Nội nói riêng là không thể thoát ly hệ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin Song, yêu cầu hàng đầu đặt ra ở đây là phải hiểu đúng, vận dụng và phát triển sáng tạo những giá trị đích thực khoa học mà các nhà kinh điển mác-xít đã để lại trong điều kiện thực tế của nước ta và của thành phố Hà Nội hiện nay
1.1.2.1 Những luận cứ rút ra từ quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen
Kinh tế tư nhân ra đời là một tất yếu của sự phát triển lịch sử gắn với sự phát triển của sản xuất hàng hoá của sở hữu tư nhân - đó là một trong những luận điểm rất quan trọng của C.Mác và Ph.Ăngghen
Khi nghiên cứu vấn đề sở hữu gắn liền với sự phát triển của sản xuất, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa sự phát triển của phân công lao động, của lực lượng sản xuất với sự thay đổi các hình thức sở hữu Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, những giai đoạn phát triển khác nhau của
sự phân công lao động cũng đồng thời là những hình thức khác nhau của sở hữu Nói cách khác, mỗi giai đoạn mới của phân công lao động cũng quy định những quan hệ giữa các cá nhân với nhau, căn cứ vào quan hệ của họ với tư liệu lao động, công cụ lao động và sản phẩm lao động Ở đây sở hữu được hiểu là những hình thức quan hệ của người với tư liệu lao động, công cụ lao động và sản phẩm lao động, hay đó là những hình thức chiếm hữu của cải vật chất hoặc tinh thần trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội
Các hình thức sở hữu đã hình thành và biến đổi cùng với tiến trình phát
triển của xã hội loài người Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, hình thức sở hữu
Trang 18khi người ta sống bằng săn bắn và đánh cá, bằng chăn nuôi hay nhiều lắm là trồng trọt Trong giai đoạn ấy, sự phân công lao động còn rất ít phát triển và chỉ giới hạn trong phạm vi mở rộng hơn nữa sự phân công lao động hình thành một cách tự nhiên trong gia đình
Hình thức sở hữu thứ hai là sở hữu công xã và sở hữu nhà nước tồn
tại trong thời cổ, và ra đời chủ yếu từ sự tập hợp nhiều bộ lạc thành một thị tộc và chế độ nô lệ vẫn tiếp tục tồn tại ở đó Cùng với sở hữu công xã thì sở hữu tư nhân về động sản và sau này về bất động sản cũng đã phát triển nhưng dưới hình thức sở hữu ngoại lệ và phụ thuộc vào sở hữu công xã
Hình thức sở hữu thứ ba là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp
Điểm xuất phát của sở hữu phong kiến là nông thôn với diện tích rộng lớn và dân cư thưa thớt Đối tượng sở hữu chủ yếu ở đây là ruộng đất Bên cạnh cơ cấu phong kiến của sở hữu ruộng đất ở nông thôn thì ở thành thị có sở hữu phường hội, tức là sở hữu phong kiến của thủ công nghiệp Ở đây sở hữu chủ yếu thuộc về những người lao động cá nhân riêng lẻ Đây là những mầm mống của tư bản nhỏ do một số thợ thủ công riêng lẻ dần dần dành dụm được, tạo tiền đề về phát triển chế độ thợ bạn và thợ học nghề, khiến cho ở thành thị nảy sinh một thang đẳng cấp tương tự như ở nông thôn Như vậy là trong thời đại phong kiến, hình thức chủ yếu của sở hữu một mặt là ruộng đất với lao động của nông nô đã cột chặt vào nó, mặt khác là những lượng tư bản nhỏ thuộc về sở hữu của bộ phận tiểu chủ có khả năng chi phối lao động của thợ bạn Cơ cấu của cả hai hình thức đó đều được quyết định bởi những quan hệ sản xuất bị hạn chế, canh tác ruộng đất thô sơ với quy mô nhỏ và công nghiệp tiểu thủ công nghiệp Trong thời kỳ phồn vinh của chế độ phong kiến, sự phân công lao động cũng không tiến triển được mấy Trong các dân tộc thời cổ cũng như trong các dân tộc hiện đại, sở hữu tư nhân chỉ thật sự bắt đầu với sở hữu động sản; còn đối với bất động sản như ruộng đất, rừng núi, tài nguyên, khoáng sản do thiên nhiên đem lại thì sở hữu mang tính cộng đồng Có thể
Trang 19nói, sở hữu đã tiến triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, và đến xã hội tư bản hiện đại do có nền công nghiệp lớn và sự cạnh tranh phổ biến, sở hữu tư nhân thuần tuý đã trút bỏ mọi vẻ ngoài của tính cộng đồng, và khi đó mọi tác động của nhà nước đối với sự phát triển của sở hữu cũng thay đổi một cách căn bản
Như vậy, đối với C.Mác và Ph.Ăngghen, các hình thức sở hữu đã phát triển theo các nấc thang lịch sử Sở hữu bộ lạc, sở hữu công xã và sở hữu đẳng cấp phong kiến đối với ruộng đất hay động sản phường hội vẫn dựa vào cộng đồng nhất định, chỉ có tư bản là hình thức sở hữu tư nhân thuần tuý nhất Hình thức sở hữu này đến một giới hạn nhất định sẽ không thích hợp với lực lượng sản xuất đã được xã hội hoá cao trong chủ nghĩa tư bản, tức là nó mâu thuẫn với và cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất, và vì vậy phải bị thay thế bằng một hình thức sở hữu khác có tính xã hội hoá cao Tư tưởng này
đã được C.Mác và Ph.Ăngghen viết trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” như sau:
“Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xoá bỏ chế độ sở hữu nói chung mà là xoá bỏ chế độ sở hữu tư sản”
Nhưng chế độ sở hữu tư sản lại biểu hiện cuối cùng và hoàn bị nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu dựa trên cơ sở những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột những người kia
Theo ý nghĩa đó, những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành công thức duy nhất đó là: Xoá bỏ chế độ tư hữu
Luận điểm trên của C.Mác và Ph.Ăngghen trước đây được hiểu là chế
độ sở hữu tư sản là sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển, của các chế độ
tư hữu Sản xuất nhỏ dựa trên chế độ tư hữu là nguồn gốc sinh ra chế độ sở hữu tư hữu hoặc là tất yếu sẽ phát triển thành sở hữu tư sản Từ đó không ít người đã suy diễn một cách máy móc và ngộ nhận rằng muốn ngăn cản chủ
Trang 20chung Điều này không những đã bị thực tiễn xã hội bác bỏ mà ngay cả khi đối chiếu với tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đều không đúng Luận điểm trên của C.Mác và Ph.Ăngghen cần phải hiểu rằng với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì chế độ sở hữu phải thay đổi cho phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Tức là những hình thức chiếm hữu của cải vật chất và tinh thần sẽ thay đổi theo sự thay đổi của lực lượng sản xuất Ở đây sự chiếm hữu cần phải xem xét ở cả khía cạnh đối tượng cần chiếm hữu, chủ thể đi chiếm hữu và phương thức thực hiện sự chiếm hữu Nếu đối tượng cần chiếm hữu có trình độ tổ chức xã hội hoá cao thì của cải vật chất sẽ và phải được xã hội hoá Nếu của cải vật chất và tinh thần còn ở trình độ xã hội hoá thấp thì sự chiếm hữu cũng không thể vượt quá trình độ đó của đối tượng chiếm hữu Vì vậy loài người phải có những hình thức chiếm hữu khác nhau như bộ lạc, công xã, đẳng cấp phong kiến, phường hội, tư bản
- đó chính là trật tự tự nhiên của các hình thức sở hữu phù hợp với trình độ phát triển của đối tượng cần chiếm hữu ở những thời kỳ lịch sử khác nhau
C.Mác và Ph.Ăngghen không cho rằng, để tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội thì giai cấp vô sản phải xoá bỏ ngay mọi chế độ tư hữu để xây dựng chế độ công hữu bất kể sự phát triển của lực lượng sản xuất ở trình độ nào C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng khi lực lượng sản xuất phát triển và đã đạt tới trình độ xã hội hoá cao thì để tiến hành sản xuất, các cá nhân phải chiếm hữu tổng thể lực lượng sản xuất - có nghĩa là phải có hình thức sở hữu toàn dân (sở hữu toàn xã hội), và khi những cá nhân liên hợp mà chiếm hữu tổng thể lực lượng sản xuất thì chế độ tư hữu cũng bị thủ tiêu Như vậy, sự thủ tiêu chế độ tư hữu không phải làm theo ý muốn chủ quan được mà phải có những điều kiện khách quan, trong đó điều kiện tiên quyết là sự phát triển cao
độ của lực lượng sản xuất Khi nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã chỉ ra rằng, chế độ sở hữu tư sản là chế độ tư hữu đặc trưng mâu thuẫn với tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản
Trang 21Muốn giải quyết mâu thuẫn này để phát triển hơn nữa lực lượng sản xuất thì phải xoá bỏ chế độ sở hữu đó đi Sự xoá bỏ này phải thông qua cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và phải trải qua một thời kỳ lâu dài mới hoàn thành được
Trang 221.1.2.2 Những luận cứ rút ra từ quan điểm của V.I.Lênin
Ở đây chúng ta phải đặc biệt chú ý đến quan điểm của V.I Lênin về tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Theo V.I Lênin, sự cần thiết khách quan phải có thời kỳ quá độ là do đặc điểm ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa và cách mạng vô sản
Quan hệ sản xuất phong kiến và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đều dựa trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Do vậy quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có thể ra đời trong lòng xã hội phong kiến Sự phát triển của phương thức sản xuất phong kiến đến một trình độ nhất định, sẽ làm sâu sắc thêm mâu thuẫn của xã hội phong kiến, cách mạng tư sản sẽ nổ ra Nhiệm vụ của cách mạng tư sản chủ yếu chỉ giải quyết về mặt chính quyền nhà nước, làm cho kiến trúc thượng tầng thích ứng với cơ sở hạ tầng của nó Cách mạng
vô sản có điểm khác biệt căn bản với cách mạng tư sản Do quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, còn quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nên chủ nghĩa xã hội không thể ra đời từ trong lòng chủ nghĩa tư bản Phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa chỉ ra đời sau khi cách mạng vô sản thành công, giai cấp vô sản giành được chính quyền, bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Hơn nữa, sự phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ lâu dài, không thể ngay một lúc có thể hoàn thiện được
Để phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, xây dựng chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, xây dựng một xã hội kiểu mới cần phải có thời gian - nói cách khác, tất yếu phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Từ đó Lênin cho rằng, nếu như cách mạng tư sản thắng lợi đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến lên chủ nghĩa tư bản, thì cách mạng vô sản thắng lợi là sự khởi đầu cho thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội Và theo V.I.Lênin, đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần và xã hội nhiều giai cấp
Trang 23Trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế có tính chất quá độ Nó không còn là nền kinh tế chủ nghĩa tư bản, nhưng cũng chưa hoàn toàn là nền kinh tế chủ nghĩa
xã hội V.I.Lênin chỉ ra rằng: “Danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào nền kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay, có những thành phần, những bộ phận, những mảng của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có” [17, tr.362]
Khi phân tích thực trạng nền kinh tế nước Nga vào những năm đầu sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, V.I.Lênin chỉ ra 5 thành phần kinh tế là: thành phần kinh tế gia trưởng; thành phần kinh tế sản xuất nhỏ của nông dân, tiểu thủ công cá thể và tiểu thương; thành phần kinh tế tư bản tư nhân; thành phần kinh tế tư bản nhà nước; thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa; và tương ứng với nền kinh tế quá độ gồm nhiều thành phần, trong xã hội có nhiều giai cấp, trong đó có 3 giai cấp cơ bản là: giai cấp tiểu tư sản, tư sản và giai cấp công nhân, người lao động tập thể Nền kinh tế nhiều thành phần và xã hội có nhiều giai cấp như trên là sự thống nhất trong mâu thuẫn Những mâu thuẫn này bắt nguồn từ tính độc lập về kinh tế do các hình thức sở hữu khác nhau về
tư liệu sản xuất quy định Trong thời kỳ quá độ, mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, là thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội mới ra đời nhưng còn non yếu với chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn Chính vì tính chất quá độ đó cho nên trong nền kinh tế quá độ chưa có thành phần kinh tế thống trị chi phối Vì vậy, cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là quá trình gay go, quyết liệt, phức tạp, để tiến tới bảo đảm cho thành phần xã hội chủ nghĩa giữ vị trí chi phối chủ đạo Muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, giai cấp vô sản phải xây dựng được chính quyền cách mạng, thiết lập chuyên chính vô sản để bảo vệ và xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa
Trang 24Quan điểm của V.I.Lênin về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ được thể hiện rõ nét trong Chính sách kinh tế mới (NEP) Không bao lâu sau Cách mạng Tháng Mười, việc thực hiện kế hoạch xây dựng chủ nghĩa
xã hội bị gián đoạn bởi cuộc nội chiến 1918-1920 Chính trong giai đoạn này V.I.Lênin đã áp dụng Chính sách cộng sản thời chiến là trưng thu lương thực thừa của nông dân sau khi dành cho họ mức ăn tối thiểu, đồng thời xoá bỏ quan hệ hàng hoá - tiền tệ Thực sự mà nói, Chính sách cộng sản thời chiến đã đóng một vai trò quan trọng trong thắng lợi của Nhà nước Xô Viết chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ Nhà nước Xô Viết Tuy nhiên khi hoà bình lập lại, Chính sách cộng sản thời chiến không còn thích hợp nữa Nó trở thành nhân
tố kìm hãm sự phát triển sản xuất, chẳng hạn như chính sách trưng thu lương thực thừa đã triệt tiêu động lực đối với nông dân Nhìn chung, việc xoá bỏ quan hệ hàng hoá - tiền tệ đã làm mất tính năng động của nền kinh tế vốn dĩ mới bước vào giai đoạn phát triển Vì vậy khủng hoảng kinh tế - chính trị diễn
ra rất sâu sắc, điều đó đòi hỏi phải có Chính sách kinh tế mới để thay thế Và Chính sách kinh tế mới được V.I.Lênin đề xướng đã đáp ứng yêu cầu tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn mới Nội dung của Chính sách kinh tế mới (NEP) như sau: thay thế chính sách trưng thu lương thực bằng chính sách thuế lương thực; tổ chức thị trường, thương nghiệp, thiết lập quan
hệ hàng hoá tiền tệ giữa nhà nước và nhân dân, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp; đặc biệt sử dụng sức mạnh kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh tế quá độ như khuyến khích phát triển sản xuất nhỏ của nông dân, thợ thủ công, khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước; củng cố lại các doanh nghiệp nhà nước, chuyển sang chế độ hạch toán kinh tế Đồng thời V.I.Lênin chủ trương phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác kinh tế với các nước tư bản phương Tây để tranh thủ kỹ thuật, vốn và khuyến khích kinh tế phát triển
Trang 25Có thể nói, Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Chỉ trong một thời gian ngắn đã biến
“nước Nga đói” thành một đất nước có nguồn lương thực dồi dào, khắc phục căn bản tình trạng khủng hoảng kinh tế - chính trị, củng cố lòng tin cho nhân dân vào sự thắng lợi tất yếu và bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội theo những nguyên lý mà V.I.Lênin vạch ra
Ở đây, điều quan trọng là Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin còn đánh dấu một bước phát triển mới về lý thuyết kinh tế xã hội chủ nghĩa Theo
tư tưởng này, nền kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh tế quá độ, việc duy trì và phát triển quan hệ hàng hoá - tiền tệ là những vấn đề có tính chất nguyên tắc trong việc xây dựng mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa
Như vậy, việc xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế tập trung cao độ dựa trên chế độ công hữu mang tính hình thức về tư liệu sản xuất
là một nhận thức lý luận chưa đầy đủ, đồng thời chưa phù hợp với thực tiễn của nhiều nước, nhất là các nước chậm phát triển đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Thực tế cho thấy, xét cả về đối tượng sở hữu, cả về chủ thể sở hữu và phương thức sở hữu thì sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể không phải là những hình thức sở hữu mang tính ước lệ và duy nhất Khi lực lượng sản xuất còn ở vào trình độ thấp, chủ yếu là thủ công và phân tán lại phát triển không đồng đều thì tất yếu phải có những sở hữu tương ứng Hệ thống quản lý điều hành hoạt động sản xuất ở tầm vĩ mô và vi mô còn kém do
hệ thống các quan hệ kinh tế - xã hội khác chưa phát triển tương xứng Vì vậy, “sở hữu toàn dân” không gắn trực tiếp với quyền hạn và nghĩa vụ của chủ thể sở hữu và chủ thể hoạt động là những cá nhân, khi “sở hữu toàn dân” không có cơ chế thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ thì quyền làm chủ của con người vẫn chỉ là hình thức và mang nặng tính ước lệ Điều đó dẫn đến hậu quả là làm mất đi sự quan tâm của hàng triệu người lao động đối với tư liệu
Trang 26sản xuất và sản phẩm xã hội, không khai thác được những nguồn tài nguyên phong phú của đất nước
Như vậy, việc thừa nhận nhiều hình thức sở hữu cùng tồn tại trong nền kinh tế tương ứng với nó là những thành phần kinh tế, đặc biệt là việc sử dụng nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có sự tồn tại các sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nước trong quá trình phát triển kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Điều này không xa rời với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà chính là biện pháp tích cực để gắn quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đó cũng chính là bước phát triển mới trong lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Lênin trong Chính sách kinh tế mới (NEP)
Tóm lại, lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã khẳng định
sự tồn tại tất yếu của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội; kinh tế tư nhân hình thành, phát triển qua rất nhiều hình thức và có vai trò rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tất cả các nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1.2 Duy trì và khuyến khích sự phát triển lâu dài của khu vực kinh
tế tư nhân ở Hà Nội đã hoàn toàn phù hợp với chủ trương và chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta
Trước thời kỳ đổi mới, trong hơn 30 năm đối với miền Bắc và hơn 10 năm đối với miền Nam, chúng ta đã xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình
kế hoạch hoá tập trung, theo đó, duy nhất chỉ có kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã được coi là những thành phần hợp pháp và giữ vai trò nền tảng Đó
là tư tưởng xuyên suốt trong đường lối xây dựng kinh tế của Đảng ta ở thời kỳ trước đổi mới Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất không những không được thừa nhận mà còn coi là bất hợp pháp Tư liệu sản xuất trước đó thuộc sở hữu
tư nhân được quốc hữu hoá hoặc được chuyển thành sở hữu tập thể, các nhà doanh nghiệp là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa
Trang 27Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử ở đất nước ta trong quá trình phát triển kinh
tế cũng đã chỉ rõ rằng, việc xây dựng các quan hệ sản xuất chỉ dựa trên cơ sở
sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là không phù hợp với nền sản xuất nhỏ, lực lượng sản xuất thấp kém, chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp lạc hậu và vừa mới ra khỏi chiến tranh Nội dung của quan hệ sản xuất đó không những không có tác dụng thúc đẩy mà còn hạn chế việc huy động các nguồn lực cho việc giải quyết có hiệu quả tiến trình kinh tế - xã hội thiết thực của đất nước
Từ năm 1986 cho đến nay, Đảng ta đã có hàng loạt thay đổi về tư duy, tạo lập nền tảng chính trị cho việc hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 năm 1986) đã thực sự đánh dấu bước ngoặt về đổi mới tư duy, xoá bỏ dần cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp
để chuyển sang kinh tế thị trường Đó là dấu mốc quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước, trước hết là đổi mới kinh tế trên cơ sở thừa nhận những sai lầm nóng vội, chủ quan duy ý chí trong cải tạo xã hội chủ nghĩa Đại hội VI
đã khẳng định trong thời kỳ quá độ lâu dài lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần bao gồm: thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (kinh tế nhà nước và hợp tác xã); thành phần kinh tế khác (sản xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước với các hình thức khác nhau)
Như vậy, sau nhiều chục năm là đối tượng cải tạo, bắt đầu từ năm 1986, khu vực kinh tế tư nhân được thừa nhận tồn tại lâu dài, và đó là đòi hỏi tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được hoạt động trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực mà luật pháp không cấm, không bị hạn chế về quy mô, địa bàn và hình thức tổ chức sản xuất Những quan điểm đổi mới của
Trang 28sách của Đảng về phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Thông qua các chủ trương, Chính sách kinh tế mới của Đảng và Nhà nước, khu vực kinh
tế tư nhân được hồi sinh và phát triển trong một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước
Trong đường lối phát triển các thành phần kinh tế, Đại hội VI chủ trương: “ Đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, tăng cường nguồn tích luỹ tập trung của Nhà nước và tranh thủ vốn nước ngoài, cần có nhiều chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác” “sử dụng nhiều hình thức kinh tế với quy mô và trình độ kỹ thuật thích hợp nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế liên kết với nhau, trong đó, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo” [6]
Tiếp đó, Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VI) năm 1987 nêu rõ: chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh sang hạch toán kinh doanh
xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế Nghị quyết đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, là cơ sở cho việc xây dựng chính sách về đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý doanh nghiệp
Ngày 15/7/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 16/NQ-TW về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Nghị quyết 16/NQ-TW đã đánh dấu một bước ngoặt mới, một sự phát triển tiếp theo của đổi mới tư duy được khởi xướng bởi Đại hội VI của Đảng Theo Nghị quyết 16-NQ/TW, các thành phần kinh
tế ngoài quốc doanh, nhất là kinh tế tư nhân, không những được thừa nhận,
mà còn được hỗ trợ, khuyến khích phát triển dưới các hình thức khác nhau Nghị quyết đã xác định cụ thể một hệ thống chính sách bao gồm: quy hoạch,
kế hoạch, chính sách vật tư và trang bị kỹ thuật, chính sách tiêu thụ sản phẩm, chính sách khoa học và kỹ thuật, chính sách lao động và chính sách tài chính,
kế toán và tín dụng áp dụng riêng cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Như
Trang 29vậy, những nền tảng ban đầu của môi trường kinh doanh theo cơ chế thị trường đã bắt đầu hình thành
Đặc biệt, ngày 29/3/1989, Hội nghị Trung ương 6 (khoá VI) nêu rõ quan điểm: “Các hình thức kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hoá đi lên chủ nghĩa xã hội”
Từ ngày 24 đến ngày 27/6/1991, Đại hội lần thứ VII của Đảng ta đã họp và ra quyết nghị:
1- Thông qua cương lĩnh “Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”
2- Thông qua nội dung cơ bản của chiến lược “Ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000”
Đại hội Đảng lần thứ VII đánh giá, coi “bước đầu hình thành nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” là một trong những thành tựu về đổi mới kinh tế Đại hội này
đã thông qua hai văn kiện quan trọng - đó là “Phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm 1991 - 1995” và “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000” Về phương hướng phát triển và vai trò của các thành phần kinh tế trong nội dung văn kiện Đại hội VII có một số điểm đáng lưu ý:
- Đại hội lần đầu tiên đề ra chủ trương “giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của cá nhân, tập thể và cộng đồng, tạo điều kiện cho mọi người ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước; thừa nhận lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp” Có thể nói đây là một thay đổi căn bản về quan niệm thang bậc giá trị, thừa nhận và khuyến khích những nỗ lực làm giàu, trước hết cho cá nhân
Trang 30- Đại hội VII đã thể hiện khá rõ chủ trương về quyền tự do và bình đẳng trong kinh doanh “Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo vệ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp”, “mọi đơn vị kinh tế, không phân biệt quan hệ sở hữu đều hoạt động theo cơ chế tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật”
- Về chủ trương phát triển kinh tế tư nhân, nội dung văn kiện Đại hội VII xác định: “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước, trong đó kinh tế cá thể và tiểu thủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường
tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức”
Đại hội toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng đã đánh giá, coi
“cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đang hình thành”, trong đó “kinh tế cá thể
và kinh tế tư nhân phát triển đáng kể Doanh nghiệp cổ phần và liên doanh thu hút vốn đầu tư nước ngoài thuộc nhiều hình thức sở hữu xuất hiện ngày càng nhiều” là một trong những thành tựu to lớn trong giai đoạn 1986 - 1990 Trên
cơ sở đó, Đại hội giữa nhiệm kỳ khoá VII khẳng định đường lối “thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo động lực và môi trường thuận lợi hơn nữa cho các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp phát triển nhanh và có hiệu quả cao”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1996) tiếp tục khẳng định đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần Đặc biệt, Đại hội lần này
đã đưa ra một số điểm mới trong cách xác định thành phần kinh tế ở nước ta
Cụ thể là: Kinh tế nhà nước (thay thế và mở rộng quan niệm về thành phần kinh tế quốc doanh trước đây), kinh tế hợp tác (thay thế khái niệm kinh tế tập thể), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ (thay cho cá thể) và kinh
tế tư bản tư nhân Riêng khu vực kinh tế tư nhân cũng được khẳng định lại và
Trang 31nhấn mạnh: “khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài, bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp”
Tiếp đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 (khoá VIII) tháng 12/1997 tiếp tục cụ thể hoá chủ trương nhất quán xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích phát triển và quản lý tốt kinh tế tư bản tư nhân, phát triển các hình thức hợp tác, liên doanh, liên kết giữa các thành phần kinh tế, đồng thời nghiên cứu thí điểm việc Nhà nước góp vốn mua cổ phần của các công ty tư nhân quản lý doanh nghiệp
Gần đây nhất, Đại hội Đảng lần thứ IX họp vào tháng 4/2001 đã đánh dấu một bước tiến mới về đổi mới tư duy chính trị, thúc đẩy quá trình tiếp tục phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Đại hội IX của Đảng ta nêu rõ:
- Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dài cả ở nông thôn và thành thị, Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ phát triển, khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện
- Thành phần kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật không cấm; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để phát triển kinh tế
tư bản tư nhân trên những hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài, chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước; xây dựng tốt quan hệ giữa chủ và người lao động
- Thành phần kinh tế tư bản nhà nước được phát triển đa dạng dưới các hình thức liên doanh liên kết, giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước
Trang 32- Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng được phát triển theo các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu giữa các thành phần kinh tế, người trong nước và ngoài nước, phát triển các loại hình trang trại với quy mô phù hợp trên từng địa bàn cụ thể
Như vậy, Đại hội Đảng IX đã khẳng định: Một là, sở hữu tư nhân được thừa nhận là một trong các hình thức sở hữu cơ bản trong nền kinh tế Hai là, kinh tế tư bản tư nhân tiếp tục được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm
Nhằm cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội lần thứ IX, các Hội nghị lần thứ 3
và 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bàn và xác định phương hướng cho việc tiếp tục phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác và kinh tế tư nhân
Đặc biệt, Hội nghị lần thứ 5 khoá IX đã ra nghị quyết thống nhất về quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân Nghị quyết đã khẳng định “kinh
tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế tư nhân là chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, nhấn mạnh cần phải “tạo môi trường thuận lợi về thể chế chính sách và tâm lý xã hội để các doanh nghiệp tư nhân phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm, không hạn chế về mặt quy mô” và “cổ vũ, biểu dương kịp thời những doanh nhân, đơn vị sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, đúng pháp luật, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”
Và gần đây nhất, ngày 3/2/2004, Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 9 (khoá IX) đã nêu rõ: “Phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, đồng thời phát triển mạnh, không hạn chế quy mô các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác”, từ đó “có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện đột phá, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, hướng doanh nghiệp vào sản xuất những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, tiếp thu công nghệ hiện đại, công nghệ nguồn, đào tạo và nâng cao năng lực quản lý điều hành của
Trang 33giám đốc doanh nghiệp và tay nghề của công nhân” Để khuyến khích kinh tế
tư nhân phát triển hơn nữa, Nghị quyết nhấn mạnh: Nhà nước sẽ “tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc và có chính sách hỗ trợ về mặt bằng sản xuất kinh doanh, tiếp cận nguồn vốn tín dụng, chuyển giao công nghệ mới, tiếp cận và
mở rộng thị trường, đào tạo nguồn nhân lực để phát triển mạnh và có hiệu quả hơn nữa kinh tế tư nhân, kể cả doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn, chú trọng trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 (khoá IX) là sự cụ thể hoá hơn nữa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế
tư nhân, tiếp thêm sức mạnh và động lực cho khu vực kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới
Như vậy, qua gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi lớn trong tư duy về việc đánh giá, xác định vai trò của kinh tế tư nhân trong xây dựng và phát triển kinh tế đất nước, trên cơ
sở đó đã đề ra phương hướng, đổi mới chính sách, cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Có thể rút ra một số điểm đáng lưu ý sau:
- Một là, khu vực “kinh tế tư nhân” đã được xác định rõ, bao gồm hộ
kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân được coi là vấn đề chiến lược lâu dài trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nói cách khác, thành phần kinh tế tư nhân từ nay được “chính danh” cùng sánh vai với các thành phần kinh tế khác, góp sức lực, trí tuệ và tiền vốn vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội
- Hai là, lần đầu tiên trong các nghị quyết đã xác định và bắt đầu đề
cập đến một tầng lớp xã hội mới, đó là doanh nhân Doanh nhân đã được cùng với người lao động trong sứ mạng huy động nội lực, giải phóng và phát triển
Trang 34- Ba là, cùng với đổi mới thể chế và chính sách, các nghị quyết đã bắt
đầu nhấn mạnh đến việc thay đổi tâm lý, cải thiện môi trường kinh doanh, xoá
bỏ “mặc cảm” hạ thấp giá trị thậm chí coi thường các nhà doanh nghiệp, nghề kinh doanh, coi doanh nhân, kinh doanh thiên về chụp giật, lừa đảo, gian đối và tâm lý coi trọng “Nhà nước” hơn “tư nhân”
Những sự phân tích trên đã cho thấy: đây là bước ngoặt lớn trong tư duy kinh tế của Đảng ta, từ chỗ không thực sự thừa nhận kinh tế nhiều thành phần sang thực hiện nhất quán và lâu dài phát triển nền kinh tế nhiều thành phần như một chiến lược quan trọng trong một thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội Tất cả những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, được cụ thể hoá thành văn bản của Nhà nước đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng và tạo nguồn động lực mới mạnh mẽ hơn cho các thành phần kinh tế, đặc biệt là thành phần kinh tế tư nhân Điều đó đã tạo nên sinh khí mới, sức bật và tiềm lực mới cho nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới
Trang 351.3 Khu vực kinh tế tƣ nhân là bộ phận cấu thành quan trọng trong cấu trúc kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội
Hà Nội - Thủ đô của cả nước, có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với 5 tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hà Tây, Hưng Yên và Vĩnh Phúc, thành phố Hà Nội có tổng diện tích khoảng 918km2
(chiếm 0,28% diện tích cả nước) Trong thời gian gần gây, thành phố Hà Nội
là địa phương đứng thứ hai cả nước về tốc độ phát triển kinh tế, về đóng góp cho ngân sách quốc gia hằng năm (8,1% GDP, 9,4% giá trị sản xuất công nghiệp, 10% kim ngạch xuất khẩu, 9,6% tổng mức hàng hoá bán lẻ và 11,7% tổng đầu tư cho toàn xã hội) Tiềm năng và thực tế huy động các nguồn vốn cho đầu tư cũng rất phát triển Tỷ lệ đô thị hoá của thành phố Hà Nội hiện nay
là 57,6% so với mức trung bình cả nước là 23,5% Kinh tế Thủ đô đã có sự tăng trưởng liên tục, đạt mức cao hơn so với mức bình quân chung của cả nước Vai trò của Hà Nội trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và trong nền kinh tế quốc dân ngày một nâng cao Hạ tầng kỹ thuật đô thị được tăng cường, Thủ đô từng bước được cải tạo và xây dựng theo hướng đồng bộ, hiện đại Vấn đề môi trường đã và đang được quan tâm đặc biệt Công tác văn hoá,
xã hội đã đạt được những thành tựu tốt, được các bộ, ngành trung ương đánh giá là địa phương có nhiều chỉ tiêu dẫn đầu trong cả nước Vùng nông thôn ngoại thành đã có những bước khởi sắc Hệ thống chính trị được củng cố, an ninh quốc phòng được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đã có bước cải thiện rõ rệt Quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế của Thủ đô trong khu vực và quốc tế ngày được nâng cao Thủ đô Hà Nội xứng đáng là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế
Trang 36Sự phát triển kinh tế của thành phố Hà Nội thể hiện sinh động kết quả của sự đổi mới tư duy trong đường lối và chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, nhất là về sử dụng nền kinh tế nhiều thành phần tương ứng với nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất Quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung của thành phố Hà Nội trong những năm đổi mới vừa qua liên quan mật thiết với những đóng góp đáng kể của khu vực kinh tế tư nhân, từ đó cho phép rút ra những căn cứ xác định tính tất yếu tồn tại của khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội về lâu dài:
Thứ nhất, do tính đặc trưng của nền kinh tế vận động theo cơ chế thị
trường Cơ chế thị trường đòi hỏi và cho phép sự tồn tại tất yếu của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sự độc lập tương đối về lợi ích kinh tế giữa những người sản xuất, kinh doanh khác nhau Và cũng chính trong cơ chế thị trường, những người sản xuất, kinh doanh khác nhau đó lại luôn luôn có mối quan hệ phụ thuộc ràng buộc lẫn nhau về lợi ích kinh tế nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nói chung; mặt khác, chính lợi ích kinh tế cá nhân là một trong những động lực thúc đẩy nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển
Thứ hai, sự tồn tại tất yếu và lâu dài của khu vực kinh tế tư nhân ở
thành phố Hà Nội cũng như các địa phương khác còn xuất phát từ yêu cầu giải phóng năng lực sản xuất của xã hội Vì vậy, huy động mọi tiềm năng từ mọi tầng lớp dân cư vào quá trình phát triển kinh tế là yêu cầu hàng đầu của mọi quốc gia, trong mọi thời đại Thực tế cho thấy, nếu tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển sẽ huy động được về vốn, tư liệu sản xuất, trình
độ kỹ năng tổ chức quản lý của các tầng lớp dân cư Trên cơ sở đó tạo động lực cho sự phát triển
Thứ ba, sức lao động của con người luôn là một trong những yếu tố
đầu vào cơ bản của mọi nền sản xuất xã hội Kinh tế tư nhân phát triển sẽ thu hút thêm lao động, nhờ đó một mặt vừa góp phần vào giải quyết việc làm, chống thất nghiệp, vừa tạo động lực cho phát triển Trên địa bàn thành phố Hà
Trang 37Nội, kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, ổn định thu nhập cho khá đông người lao động Chỉ tính riêng cho một số năm gần đây, các doanh nghiệp tư nhân và các hộ sản xuất kinh doanh cá thể ở Hà Nội đã thu hút trên 610.000 người lao động, chiếm gần 48% tổng số lao động xã hội của địa phương, đồng thời kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội mỗi năm tạo ra việc làm mới để thu hút khoảng 60% số lao động (trên địa bàn) có nhu cầu tìm kiếm việc làm, với mức thu nhập tương đối khá và ổn định Mặt khác, kinh tế tư nhân phát triển đã tạo nên một đội ngũ doanh nhân trẻ của Hà Nội có kiến thức, khá năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm
Như vậy, phát triển kinh tế tư nhân là một bước đi quan trọng để giải quyết vấn đề thất nghiệp, góp phần tạo ra những điều kiện thuận lợi để huy động các nguồn nhân lực vì:
- Kinh tế tư nhân sử dụng lao động tại chỗ nên có thể giảm đáng kể chi phí giải quyết nơi ăn chốn ở và các điều kiện về cơ sở hạ tầng
- Điều kiện để đào tạo tay nghề cho người lao động được thuận lợi hơn
so với các khu vực kinh tế khác Đặc biệt là kinh tế hộ gia đình - nơi đào tạo lao động tại chỗ, thông qua kèm cặp của người có tay thề, chi phí đào tạo do vậy giảm đáng kể, đồng thời vẫn duy trì được các làng nghề truyền thống, góp phần cùng xã hội dạy nghề, tiết kiệm được các khoản chi phí từ ngân sách nhà nước
- Nhu cầu về vốn để đào tạo ra một chỗ làm việc trong khu vực kinh tế
tư nhân cũng thấp hơn rất nhiều so với khu vực kinh tế nhà nước hoặc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Thứ tư, đáp ứng nhu cầu về huy động vốn cho sản xuất, kinh doanh
góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hà Nội trong khi ngân sách nhà nước còn hạn hẹp Điều này được thể hiện ở chỗ khu vực kinh
Trang 38nghiệp) được hình thành và phát triển dựa trên vốn của các cá nhân, các nhà kinh doanh tự bỏ vốn đầu tư, tự mình xây dựng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, đồng thời cũng tự chịu trách nhiệm về cơ sở sản xuất kinh doanh của chính cơ
sở do họ làm chủ và quản lý Ở thành phố Hà Nội cũng như một số địa phương khác, nguồn vốn của các doanh nghiệp tư nhân phần lớn được hình thành bằng lao động sáng tạo của cá nhân và gia đình họ, được tích luỹ từ thế
hệ này sang thế hệ khác (tất nhiên cũng không loại trừ các biện pháp tích lũy cực đoan, không chính đáng) và nếu được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn họ, giúp họ có cơ hội sử dụng nguồn vốn chính đáng kể phát triển sản xuất kinh doanh thì hiệu quả kinh tế sẽ tăng lên đáng kể Điều này có thể thấy rõ thông qua vai trò đột phát của Luật Doanh nghiệp trong việc huy động nội lực, vốn đầu tư trong dân cư và vốn trong khu vực kinh tế tư nhân, nhờ thế đã bổ sung quan trọng cho nguồn vốn đầu tư của Nhà nước cũng như làm giảm đáng kể tỷ phần của vốn đầu tư nước ngoài
Theo báo cáo phân tích tình hình kinh tế Thủ đô năm 2003 và các giải pháp tạo động lực phát triển kinh tế xã hội năm 2004 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội: “Năm 2003 ước tính tổng đầu tư xã hội trên địa bàn đạt 24.000 tỷ đồng, tăng 12,2% so với năm 2002 Trong đó vốn trong nước chiếm 85,9% và tăng 12,6%; vốn nước ngoài chiếm 14,1% và tăng 10,2%” “ngoài
ra, Thành phố còn cấp giấy phép đầu tư mới và bổ sung tăng vốn cho 87 dự
án FDI, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho hơn 5.500 doanh nghiệp với số vốn 13.500 tỷ đồng, tăng 30,2% số lượng doanh nghiệp đăng ký
và 89,9% số vốn đăng ký so với năm 2002 [31, tr.8]
Thứ năm, góp phần cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố
Hà Nội, GDP hằng năm của khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng khoảng
20 - 22% trong tổng GDP của Thành phố Điều đáng chú ý là dù chưa được đầu tư lớn như khu vực kinh tế khác, song tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân gần bằng mức tăng chung của toàn thành phố, đóng góp cho
Trang 39ngân sách năm sau cao hơn năm trước Nếu giai đoạn từ 1996 - 1999 tổng số thu ở khu vực này mới đạt 1929 tỷ đồng thì giai đoạn từ 2001 - 2003 số thu đã lên 2484 tỷ đồng (tăng 29%) [3, tr.1-2]
Riêng năm 2001 số thuế nội địa từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 528 tỷ đồng không kể thuế xuất nhập khẩu, phí và lệ phí khác, chiếm 21% tổng thu ngân sách của Hà Nội
Thứ sáu, do yêu cầu xã hội hoá thực tế Xã hội hoá sản xuất là sự liên
kết quá trình kinh tế riêng biệt thành quá trình kinh tế, xã hội Nó là một quá trình được hình thành và phát triển liên tục, tồn tại như một hệ thống có quan
hệ hữu cơ với nhau Trong tiến trình phát triển kinh tế hàng hoá, từ kinh tế hàng hoá giản đơn lên kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa, kinh tế thị trường hiện đại, là tiến trình phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, là tiến trình phát triển đi từ thấp đến cao của trình độ xã hội hoá sản xuất Nội dung của xã hội hoá sản xuất bao gồm ba mặt: xã hội hoá về kinh tế - xã hội (xét về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất); xã hội hoá về kinh tế - kỹ thuật (xét
về lực lượng sản xuất, cơ sở vật chất); xã hội hoá về kinh tế - tổ chức (xét về quan hệ tổ chức quản lý nền sản xuất)
Căn cứ vào nội dung nói trên, nếu chỉ dừng ở xã hội hoá về mặt sở hữu
tư liệu sản xuất thì chỉ mới có xã hội hoá hình thức sự sản xuất Và do đó, chỉ khi nào tiến hành đồng bộ và hoàn thành về cơ bản cả ba mặt nói trên thì mới đạt xã hội hoá thực tế Việc thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ ở nước ta nói chung cũng như ở thành phố Hà Nội nói riêng phải thật sự là chiến lược để thực hiện xã hội hoá thực tế ở nước ta, Trong đó sự tồn tại của khu vực kinh tế tư nhân vừa phù hợp với yêu cầu xã hội hoá thực tế sản xuất vừa thúc đẩy xã hội hoá phát triển
Thứ bảy, do yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với
Trang 40hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình khách quan dưới sự tác động của những quy luật kinh tế - xã hội nhất định, đặc biệt là quy luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Quy luật này đòi hỏi phải xuất phát từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong quá trình phát triển mà chủ động hình thành hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hà Nội do ảnh hưởng của quan niệm mặc cảm “xoá bỏ”, khu vực kinh tế tư nhân chưa thể có ngay lực lượng sản xuất hiện đại với trình độ xã hội hoá cao, nên hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp là dựa trên cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với sự
đa dạng về các hình thức sở hữu, trong đó bao gồm cả sở hữu tư nhân
Thứ tám, kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý nghĩa hàng đầu trong việc giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng lực nội sinh vừa đảm bảo khả năng thích ứng linh hoạt trước những biến đổi của nền kinh tế
Trong vài năm gần đây, số lượng các doanh nghiệp tư nhân chuyển từ kinh doanh thương mại, dịch vụ sang trực tiếp sản xuất (kể cả ở những ngành đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật cao như cán kéo thép, dây cáp điện, xuồng cao su cứu hộ, thiết bị điện máy, máy tính cá nhân ) đã tăng lên đáng kể Tính đến cuối năm 2001, số lượng doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong các lĩnh vực chiếm tỷ lệ như sau:
Bảng 1: Cơ cấu theo ngành của kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội năm 2001
Lĩnh vực Tỷ trọng (%)
- Chế biến nông lâm thuỷ sản và phi nông nghiệp khác 16,5