Hiện thực lịch sử Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc hàm chứa những sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo cách mạng và là một nội dun
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN DŨNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
`
Để hoàn thành khóa luận này Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo
đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Xin chân thành cảm ơn Thầy TS Nguyên Văn Dũng đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài, tuy nhiên do mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý Thầy, Cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Vi Văn Thế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng
dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Dũng Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong
đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây
Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá
được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu
tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số
liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn
gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về
nội dung khóa luận của mình Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 không liên quan
đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện
(nếu có)
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2016
Tác giả
Vi Văn Thế
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986 – 2006) 5
1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 5
1.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÔNG TÁC DÂN TỘC 11
1.2.1 Về vấn đề dân tộc 11
1.2.2 Về công tác dân tộc 17
1.3 KHÁI QUÁT VỀ CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM 20
1.4 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRƯỚC NĂM 1986 27
Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2006 31
2.1 CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TỪ SAU ĐỔI MỚI ĐẾN NĂM 2006 31
2.1.1 Về kinh tế 32
2.1.2 Về giáo dục đào tạo 34
2.1.3 Về y tế 35
2.1.4 Về văn hóa 37
2.1.5 Về an ninh quốc phòng 40
2.2 THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI 42
2.2.1 Những thành tựu cơ bản 42
2.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 58
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 62
3.1 NHẬN XÉT 62
Trang 53.1.1 Ƣu điểm 62
3.1.2 Hạn chế 63
3.2 MỘT SỐ KINH NGHIỆM 65
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ nhận thức về vị trí, vai trò của vấn đề dân tộc của một quốc gia
đa dân tộc như Việt Nam, sau khi ra đời và trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ chí Minh đã sớm xác
định: đất nước Việt Nam là một, cộng đồng các dân tộc ở nước ta là không thể chia
cắt, các dân tộc sống trên đất nước đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển Đó cũng chính là nội dung xuyên suốt,
bao trùm đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Hiện thực lịch sử Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc hàm chứa những sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo cách mạng và là một nội dung nghiên cứu có sức hấp dẫn lớn đối với nhiều chuyên ngành khoa học, trong đó có khoa học lịch sử.Đến nay, đã có không ít vấn đề nghiên cứu đề cập và làm sáng tỏ nhiều nội dung công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam Tuy nhiên vẫn còn có những vấn đề cần tiếp tục được làm rõ thêm
Hiện nay, trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với
nhiều cơ hội và thách thức đan xen, Đảng ta xác định vấn đề dân tộc là vấn đề chiến
lược, cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Thực tiễn công tác dân tộc, thực hiện chính
sách dân tộc trong thời gian qua cũng đang đặt ra nhiều vấn đề rất cần được quan tâm giải quyết như: vấn đề quan hệ dân tộc – quốc gia, dân tộc – tộc người, vấn đề
di dân tự do, vấn đề đói nghèo, vấn đề đất đai,… đòi hỏi hệ thống chính sách phải được xây dựng và vận hành để đảm bảo mang lại quyền bình đẳng thực sự cho các dân tộc trên mọi lĩnh vực Phát triển chính sách dân tộc một cách đúng đắn, đáp ứng những yêu cầu khách quan, bức thiết đang đặt ra, ngoài việc nghiên cứu thực tiễn, tiếp thu những thành tựu khoa học trong nước và thế giới về lý luận, rất cần nghiên
Trang 7cứu, đúc kết những kinh nghiệm thành công và không thành công của quá trình thực hiện các chính sách dân tộc trước đây
Đề tài “Chính sách dân tộc của Đảng trong thời kì đổi mới (1986 – 2006)”
là rất cần thiết và có ý nghĩa thiết thực, góp phần làm sáng rõ quá trình và những sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trong thời kì đổi mới
có tầm quan trọng về mặt chiến lược; góp phần đấu tranh chống lại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam; cung cấp những luận cứ khoa học cho công tác phát triển lý luận xây dựng và hoàn thiện chính sách dân tộc, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài đã liệt kê một số công trình nghiên cứu về vấn đề dân tộc và chính sách
dân tộc nói chung như: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở
miền núi, Nxb CTQG, H, 1996; 50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945 – 1995), Nxb Khoa học Xã Hội, H, 1995 do Bế Viết Đằng (chủ biên); Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế -xã hội ở nước ta hiện nay của tác giả Hoàng Chí Bảo, Nxb CTQG, H, 2009; Viện nghiên
cứu chính sách dân tộc và miền núi, Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính
sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, Nxb CTQG, H, 2002; Vấn
đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta, Nxb CTQG, H, 2001; Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay do Phan Xuân Sơn và Lưu Văn
Quảng (chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, H, 2010; Miền núi Việt Nam thành tựu và
phát triển những năm đổi mới, Nxb Nông nghiệp, H, 2002 của các tác giả Trần Văn
Thuật, Nguyễn Lâm Thành, Nguyễn Hữu Hải (chủ biên); Vấn đề dân tộc và công
tác dân tộc sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, (Kỷ yếu hội thảo), Nxb CTQG, H, 2009 Đây là những
công trình nghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn
Trong các công trình nói trên, vấn đề dân tộc đều được nghiên cứu ở nhiều góc
độ khác nhau từ kinh tế, văn hóa, xã hội… Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên
Trang 8cứu một cách hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng, làm rõ quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến năm 2006
để từ đó, trên cơ sở đánh giá những thành tựu và hạn chế rút ra được những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích làm rõ nội dung, phương thức lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng từ năm 1986 đến năm 2006 Làm nổi bật tính chủ động và sáng tạo của Đảng về việc thực thi chính sách dân tộc một cách khéo léo, hài hòa giữa từng vùng miền, từng địa phương Đồng thời , cung cấp thêm các luận
cứ khoa học để Đảng và Nhà nước tiếp tục bổ sung và phát triển đường lối, chính sách đối với các dân tộc trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Nghiên cứu, hệ thống hóa quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về các chính sách dân tộc từ năm 1986 đến năm 2006 để thấy rõ được bước phát triển trong tư duy, nhận thức và chỉ đạo thực tiễn của Đảng về vấn đề dân tộc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc
- Sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và đảng bộ các địa phương trong cả nước trong quá trình triển khai thực hiện chính sách dân tộc từ năm 1986 đến năm
2006
- Kết quả đạt được sau 20 năm đổi mới thực hiện chính sách dân tộc và một số hạn chế còn tồn tại
Trang 94.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến năm
2006 nhằm muốn có một độ lùi lịch sử nhất định để đánh giá hiệu quả của quá trình thực hiện chính sách dân tộc sau 20 năm đổi mới
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc Đặc biệt, đề tài đã vận dụng triệt để những quan điểm, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc
- Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, tác giả đã vận dụng một số phương pháp khác như: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phân tích xã hội học…
- Nguồn tư liệu của để tài chủ yếu dựa vào các văn kiện, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các văn bản của Nhà nước, các báo cáo của Vụ Chính sách dân tộc - Ủy ban Dân tộc miền núi, số liệu của một sô địa phương và một số sách chuyên khảo, đề tài khoa học, bài nghiên cứu có liên quan
6 Đóng góp của khóa luận
- Hệ thống hóa nguồn tư liệu về công tác dân tộc của Đảng
- Đưa ra một số kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ hoạt động nghiên cứu về chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
7 Bố cục khóa luận
Ngoài các phần Phụ lục, Mở đầu và Tài liệu tham khảo, Khóa luận có bố cục: Chương 1: Cơ sở hình thành chính sách dân tộc của Đảng trong thời kì đổi mới (1986-2006)
Chương 2: Đảng lãnh đạo thực hiện Chính sách dân tộc từ năm 1986 đến năm 2006
Chương 3:Nhận xét và một số kinh nghiệm
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986 – 2006)
1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
Nói về quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin với vấn đề dân tộc có nghĩa rằng
chúng ta phải đề cập đến: Quan niệm về sự ra đời và phát triển của dân tộc; Nhìn
nhận phong trào dân tộc trong sự phát triển của nhân loại; Quan điểm về việc giải quyết vấn đề dân tộc
Về sự ra đời của khối cộng đồng dân tộc với tư cách là dân tộc – quốc gia, có nhà nước (Nation – Etat hay Nation State) Mỗi quốc gia có hoàn cảnh lịch sử, văn hóa cụ thể mà sự hình thành dân tộc theo tiêu chí trên không giống nhau, không phải chỉ xuất hiện trong thời kỳ hình thành Chủ nghĩa Tư bản ở Phương Tây; Việt Nam và một số khu vực khác trên thế giới không như vậy, mà dân tộc – nhà nước ra đời từ rất sớm
Sự ra đời và phát triển của phong trào dân tộc trong xã hội có giai cấp thì
theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin được chia làm ba thời kỳ:
Một, thời kỳ thủ tiêu Chế độ Phong kiến và thiết lập Chủ nghĩa Tư bản Do sự
phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất nên ở Châu Âu thế kỉ XVII, XVIII, XIX đã hình thành phong trào dân tộc và thành lập các quốc gia độc lập dân tộc Về mặt bản chất thì đây là cuộc cách mạng dân chủ tư sản trong lòng xã hội phong kiến
do giai cấp Tư sản lãnh đạo Trong xu thế đó, ở Đông Âu đã hình thành các quốc gia tập quyền, trong các quốc gia đó các dân tộc ở trình độ phát triển không đều nhau, hình thành trong các thời gian khác nhau Điểm đáng chú ý là trong các quốc gia có nhiều dân tộc đó có tình trạng áp bức dân tộc, đó là sự áp bức, bóc lột của dân tộc có trình độ phát triển cao và sớm hơn với các dân tộc kém phát triển Đây chính là nguyên nhân làm cho các dân tộc bị áp bức trong các quốc gia đó nảy sinh yêu cầu đấu tranh đòi tách ra thành các quốc gia độc lập như ở Áo, Nga, … Trong
Trang 11thời kỳ đó, những người lãnh đạo chủ yếu thuộc giai cấp Tư sản của các dân tộc bị
áp bức (giai cấp vô sản lúc này chưa phát triển)
Hai, thời kỳ chủ nghĩa Đế quốc – thời kỳ các quốc gia Tư bản đã hoàn thiện
Do bản chất của nền kinh tế - xã hội, do nhu cầu phát triển của Chủ nghĩa Tư bản đòi hỏi phải mở rộng thị trường vượt ra khỏi chính các quốc gia tư bản phát triển nên các quốc gia này đã tiến hành xâm lược các quốc gia và dân tộc chậm phát triển hơn Các dân tộc và quốc gia kém phát triển hơn trên thế giới (trong đó có Việt Nam) bị các nước Chủ nghĩa Tư bản xâm lược và khai thác tài nguyên thiên nhiên, các di sản văn hóa, bóc lột sức lao động… về làm giàu cho “chính quốc” Tình trạng
đó làm nảy sinh một xu thế xã hội từ phía các dân tộc bị áp bức, bóc lột đối với các quốc gia Tư bản Phương Tây đi xâm lược, đó là sự đấu tranh chống lại bóc lột, nô
dịch về chính trị, kinh tế, văn hóa đối với họ mà chúng ta thường gọi là phong trào
dân tộc Ban đầu phong trào này cũng do giai cấp Tư sản lãnh đạo, song không đi
đến thành công Sau này, do sự lớn mạnh của phong trào công nhân quốc tế và sự lớn mạnh của giai cấp vô sản trong lòng xã hội tư bản, giai cấp tư sản dân tộc lại có
xu hướng thỏa hiệp với đế quốc, nhất là sau Cách mạng Tháng Mười Nga (1917)
Từ đó trở đi, giai cấp vô sản thế giới nắm vai trò lãnh đạo các cuộc đấu tranh của phong trào dân tộc đòi các quyền dân tộc cơ bản
Hai thời kỳ trên là thời kỳ áp bức dân tộc diễn ra gay gắt, phong trào dân tộc với mục tiêu đấu tranh chống áp bức, nô dịch dân tộc diễn ra từ đầu đến cuối, Vấn
đề dân tộc nói chung chưa được giải quyết Nếu thời kỳ thứ nhất Vấn đề dân tộc không vượt ra khỏi khuôn khổ một số quốc gia phát triển sớm ở Châu Âu thì thời kỳ thứ hai Vấn đề dân tộc lại trở thành phong trào chung của nhiều quốc gia bị áp bức trên thế giới, là phong trào của các nước thuộc địa chống lại Chủ nghĩa Đế quốc Một điểm đặc biệt là ở thời kỳ thứ hai có sự xuất hiện và phát triển của giai cấp vô sản thì sự tương đồng về quyền lợi của các dân tộc và của giai cấp vô sản đã đưa họ lên vị thế lãnh đạo các phong trào dân tộc Phong trào dân tộc, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc gắn chặt với cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản ở các quốc gia
và trên thế giới
Trang 12Ba, thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa – thành tựu của phong trào đấu tranh
giải phóng dân tộc, xóa bỏ sự áp bức, nô dịch, bóc lột của Chủ nghĩa thực dân, chủ
nghĩa đế quốc, hình thành nên một loại hình dân tộc thường được gọi là dân tộc xã
hội chủ nghĩa Các khối cộng đồng người với tư cách là dân tộc trong xã hội tư bản
(thời kỳ một và hai) hay trong xã hội xã hội chủ nghĩa đều được đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ và các đặc điểm tộc người thể hiện qua các đặc trưng về sinh hoạt – văn hóa
Tuy nhiên, ở các nước thuộc địa phụ thuộc, sau khi giải phóng khỏi ách đô hộ của nước ngoài thì quá trình tộc người diễn ra phức tạp Xu thế chung là trong bối cảnh mới các dân tộc trong quốc gia xích lại gần nhau về kinh tế, văn hóa, chính trị
Ở các quốc gia, biên giới, chính trị ngày nay đã trở thành ranh giới giữa các cộng đồng lịch sử lớn của một loại hình mới Một số quốc gia Châu Á như Ấn Độ, Nê Pan, Thái Lan,…thành phần cư dân có thể thuần nhất song cũng có thể không thuần nhất Mặt khác, sự tham gia vào cuộc đấu tranh chung của phong trào dân tộc chống lại sự xâm lược của bên ngoài chính là điều kiện khách quan để hình thành và củng
cố các mối quan hệ dân cư trong các quốc gia đó về chính trị, kinh tế, xã hội, ý thức
về một tổ quốc
Nội dung thứ ba là quan điểm về việc giải quyết Vấn đề dân tộc của chủ nghĩa
Mác – Lênin Thời kỳ của chủ nghĩa Tư bản trước độc quyền và thời kỳ chủ nghĩa
Tư bản độc quyền, C Mác, Ph Ăngghen và V I Lênin đã nêu ra các vấn đề dân tộc, giai cấp về phương diện lý luận và thực tiễn Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin trong nhiều tác phẩm đã bàn luận về Vấn đề dân tộc, thể hiện quan điểm của học thuyết Mác – Lênin trong việc nhìn nhận và giải quyết Vấn đề dân tộc Thực ra trong thời kỳ của C Mác và Ph Ăngghen vấn đề dân tộc chưa nổi lên, bức xúc như thời kỳ lịch sử của V I Lênin
Tuy nhiên, vấn đề dân tộc tự quyết được C Mác bàn đến khi đề cập đến tình hình của Ai – rơ – len trong mối quan hệ với nước Anh trong một bức của ông: “… Trước kia, tôi coi việc Ai-rơ-len tách khỏi nước Anh là không thể có được Ngày
Trang 13nay thì tôi lại coi đó là việc không thể tránh khỏi, dẫu cho sau khi phân lập lại đi đến kết thành liên bang” [54, tr.249]
Kế thừa quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen và căn cứ vào tình hình phong trào dân tộc trong thời đại của mình, V I Lênin đã có nhiều công trình bàn về vấn
đề dân tộc Ông đã có những ý kiến rất sâu sắc về Vấn đề dân tộc Trong tác phẩm Ý
kiến phê phán về vấn đề dân tộc, Lênin đã viết: “Trong quá trình phát triển của chủ
nghĩa tư bản, có hai xu hướng lịch sử trong Vấn đề dân tộc Xu hướng thứ nhất là:
sự thức tỉnh của đời sống dân tộc và của các phong trào dân tộc, cuộc đấu tranh chống mọi ách áp bức dân tộc, việc thiết lập các quốc gia dân tộc Xu hướng thứ hai là: việc phát triển và tăng cường đủ mọi thứ quan hệ giữa các dân tộc, việc xóa bỏ những hàng rào ngăn cách các dân tộc và việc thiết lập sự thống nhất quốc tế của tư sản, của đời sống kinh tế nói chung, của chính trị, của khoa học,v.v ” [53, t24, tr.157] Và ông cho rằng “Cả hai xu hướng đó là quy luật phổ biến của chủ nghĩa tư bản” [53, t24, tr.158]
Theo V I Lênin, chủ nghĩa dân tộc tư sản và chủ nghĩa quốc tế vô sản là hai khẩu hiệu đối lập không thể dung hòa được, là biểu hiện của hai giai cấp trong thế giới tư bản, là biểu thị của hai chính sách, hơn thế nữa là “thế giới quan” trong Vấn
đề dân tộc Trong nhiều tác phẩm quan trọng của mình như: Về quyền dân tộc tự
quyết, Ý kiến phê phán về vấn đề dân tộc, Những kết quả thảo luận về quyền tự quyết, Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về Vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, v v… V I Lênin đã phát triển học thuyết Mác về vấn đề dân tộc, xuất phát từ
những hoàn cảnh cụ thể của cách mạng vô sản, của phong trào giải phóng dân tộc
và thuộc địa Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa Vấn đề dân tộc trở thành vấn đề
thuộc địa và như vậy chủ nghĩa đế quốc đồng thời cũng là chủ nghĩa bóc lột các dân tộc một cách tinh vi và bạo ngược Trong thời đại của mình, V I Lênin đã nêu lên
khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn các dân tộc bị áp bức dưới chế độ Nga Sa hoàng, Lênin đã rút ra những vấn đề, đặc điểm chính yếu để từ đó đưa ra các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc, của quan điểm giải quyết Vấn đề dân tộc
Trang 14của Đảng Cộng sản Bônsêvich Nga Trong Cương lĩnh nổi tiếng Về quyền dân tộc
tự quyết, V I Lênin đã đưa ra các vấn đề có tính nguyên tắc cho việc giải quyết vấn
đề dân tộc trong thời đại mình: “ Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết: liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại”[54, t25, tr.375] Qua nội dung trên chúng ta thấy có ba nội dung quan trọng trong cương lĩnh đó là:
- Một, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong Cương lĩnh của Lênin về Vấn đề dân tộc Đó là thực hiện quyền
bình đẳng thực sự đối với các dân tộc về chính trị, kinh tế, văn hóa
Quyền bình đẳng của các dân tộc trước và sau khi giai cấp vô sản giành chính quyền từ tay giai cấp tư sản trong thời đại của Lênin được hiểu là: Trước khi giành chính quyền, quyền bình đẳng là một bộ phận của sự đòi hỏi dân chủ chung, là quyền dùng để lôi cuốn các dân tộc bị áp bức vào cuộc đấu tranh cách mạng 9auk
hi chính quyền về tay giai cấp vô sản thì đó là quyền của các công dân trong một nhà nước của mình, không phụ thuộc dân tộc trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hóa được ghi trong văn bản pháp quy cao nhất – Hiến pháp của các quốc gia
- Hai, quyền tự quyết của các dân tộc Trong bối cảnh thời đại của mình, V.I
Lênin đã đề ra “quyền dân tộc tự quyết” nghĩa là “quyền phân lập và thành lập một quốc gia dân tộc riêng biệt” đối với ba loại nước liên quan:
1 Các nước tư bản tiên tiến ở Tây Âu và nước Mỹ;
2 Các nước ở Đông Âu;
3 Các nước nửa thuộc địa và thuộc địa;
Quyền dân tộc tự quyết là một biện pháp tích cực trong đấu tranh của giai cấp
vô sản cho sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc tự nguyện, đoàn kết và phát triển thuận lợi
Trong thời đại của Lênin những năm đầu thế kỉ XX, cũng như xu thế phát triển chung của nhân loại hiện nay, khẩu hiệu “các dân tộc tự quyết” không phải là
để các dân tộc tách ra mà là để các dân tộc xích lại gần nhau Cách hiểu đúng khẩu hiệu trên đó là gạt bỏ tất cả mọi sự ngờ vực, mọi cơ sở nghi ngờ về mưu đồ xâm
Trang 15lược của dân tộc này đối với dân tộc khác và nhằm chuẩn bị cho các dân tộc tiếp đến sự liên minh tự nguyện vào một quốc gia xã hội chủ nghĩa đa dân tộc
V.I Lênin cũng chỉ ra rằng: Chủ nghĩa xã hội có mục đích xóa bỏ tình trạng nhân loại bị chia cắt thành những quốc gia nhỏ, xóa bỏ mọi trạng thái biệt lập giữa các dân tộc, vừa làm cho các dân tộc gần gũi nhau vừa thực hiện việc hợp nhất các dân tộc… Vấn đề tự trị của các khu vực là một hình thức để gải quyết Vấn đề dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc Tất nhiên tùy tình hình cụ thể của từng quốc gia
có những vùng “có những đặc điểm quan trọng đôi chút về kinh tế hoặc lối sinh sống và có một thành phần dân tộc riêng trong dân cư, v.v…”
-Ba, liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại Đây là luận điểm về sự liên
minh quốc tế và đoàn kết nhân dân lao động của tất cả các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp bóc lột vì sự giải phóng dân tộc và xã hội V.I.Lênin kiên trì nguyên tắc thống nhất giữa các nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế của giai cấp công nhân Chủ nghĩa quốc tế vô sản thể hiện tính chất chung của những quyền lợi cơ bản và những ý nguyện tiến bộ của nhân dân lao động tất cả các dân tộc đối lập với chủ nghĩa dân tộc tư sản gây thù hằn chia rẽ dân tộc
Tư tưởng của V.I Lênin về sự hợp nhất, đoàn kết những người vô sản trên thế
giới được thể hiện rõ trong tác phẩm Ý kiến phê phán về Vấn đề dân tộc Trong tác
phẩm này Lênin đã đề cập: nếu trong xã hội tư bản có “những cuộc xung đột dân tộc không lối thoát” thì “giai cấp vô sản không thể tán thành bất cứ một sự thừa nhận nào đối với chủ nghĩa dân tộc cả; trái lại nó tán thành bất cứ cái gì giúp vào việc xóa bỏ mọi sự phân biệt dân tộc, vào việc phá hủy bức tường ngăn cách các dân tộc, tán thành bất cứ cái gì làm cho mối liên hệ giữa các dân tộc được luôn luôn mật thiết, bất cứ cái gì dẫn đến sự hợp nhất các dân tộc Hành động khác đi, có nghĩa là đứng về phía chủ nghĩa dân tộc Phi-li-xtanh phản động” [55, tr.31]
Theo nhiều nhà nghiên cứu ở nước ta hiện nay, sau khi V.I Lênin mất, chính sách dân tộc của V.I Lênin ở Liên Xô không được thực hiện một cách đúng đắn và
có biểu hiện xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc
Sự thất bại do việc thực hiện Chính sách dân tộc ở Liên Xô do yếu tố chủ quan là
Trang 16chính và yếu tố khách quan với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch GS Phan Hữu Dật khi đề cập đến vấn đề trên đã cho rằng: “Nguyên nhân và cũng là hậu quả của Chính sách dân tộc ở Liên Xô là do đã không tuân thủ nguyên
lý đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin về Vấn đề dân tộc
Trong những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI Vấn đề dân tộc vẫn mang
tính thời sự và có nhiều diễn biến phức tạp cùng với các vấn đề khác như tôn giáo, nhân quyền,…Đây là các vấn đề nhạy cảm đối với các dân tộc quốc gia và thành phần tộc người (ethnies) trong các quốc gia đa dân tộc Đó cũng chính là vấn đề các thế lực thù địch quốc tế tìm mọi cách lợi dụng, tận dụng để phá vỡ khối đại đoàn kết, chia rẽ các thành phần dân tộc trong các quốc gia và giữa các quốc… Trong bối
cảnh đó, các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về Dân tộc và Vấn đề dân tộc
vẫn là cơ sở lý luận để chúng ta vận dụng vào hoàn cảnh thực tiễn của đất nước trong thời đại mới
1.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÔNG TÁC DÂN TỘC
1.2.1 Về vấn đề dân tộc
Trong những năm 20 của thế kỉ XX Hồ Chí Minh là người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc đó là con đường cách mạng vô sản, đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin Những năm vừa qua, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Vấn đề dân tộc Có hai nhóm khác nhau với hai cách nghiên cứu, tiếp cận tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc:
- Nhóm thứ nhất [43, tr.45-50] khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề dân tộc được thể hiện qua các nội dung sau:
a, Vấn đề dân tộc chỉ có thể được giải quyết triệt để bằng con đường cách
mạng vô sản: Nội dung này phân tích quan điểm dân tộc đặt trong hoàn cảnh của
một nước thuộc địa nửa phong kiến Khi chủ tịch Hồ Chí Minh bắt gặp chủ nghĩa Mác – Lênin vào những năm 20 của thế kỉ XX đặc biệt là khi Người đọc được Luận
cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người đã rút ra kết luận rằng: “Chỉ
Trang 17có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải
phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản” [27, tr.416]
Khi đề cập về vấn đề dân tộc và cách mạng vô sản thì chủ tịch Hồ Chí Minh
đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Vấn đề dân tộc và giai cấp; khẳng định
con đường đi đến thực hiện quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam trong việc tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa; khẳng định tương lai của các dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Cách mạng vô sản là cuộc cách
mạng to lớn ở nước ta, đồng thời bao gồm cả hai tiến trình giải phóng gắn bó mật thiết với nhau: giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp – đây là điều mà hầu hết các nhà yêu nước phong kiến và tư sản thời kì trước Hồ Chí Minh bế tắc và không nhìn thấy được
b, Khẳng định Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm nhiều dân tộc: Đây là
tư tưởng nhất quán và sâu sắc của chủ tịch Hồ Chí Minh Tư tưởng đó vừa thể hiện
tính thống nhất vừa thể hiện tính đa dạng của quốc gia đa dân tộc như Việt Nam Tính thống nhất của quốc gia là một thực tại khách quan, là sản phẩm của lịch
sử và mối quan hệ lâu đời của các thành phần tộc người cùng sinh sống trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam Nước ta là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống từ lâu đời Với bề dày lịch sử hơn bốn ngàn năm, các dân tộc đã cùng nhau sinh sống, lao động, liên kết lại chống giặc ngoại xâm… tất cả những điều này đã tạo nên một dân tộc Việt Nam mang bản lĩnh, bản sắc văn hóa, cốt cách riêng của quốc gia Việt Nam trong khu vực và trên thế giới
Tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về một nước Việt Nam thống nhất bao gồm nhiều dân tộc anh em đã được Người thể hiện trong nhiều tác phẩm, bài viết,
bài phát biểu như tác phẩm Lịch sử nước ta bằng thơ hay trong Thư gửi Đại hội các
dân tộc thiểu số miền Nam năm 1946… Người luôn có một khát khao cháy bỏng
khi mà đất nước ta chưa giành được độc lập, tự do chính là muốn giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa thực dân đế quốc
Về tính đa dạng, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rằng: “Nước ta có nhiều dân
tộc, đấy là điểm tốt”[27, tr.137] Dân tộc Việt Nam là một cộng đồng đa dân tộc có
Trang 18lịch sử, văn hóa lâu đời và nhiều giá trị, mang bản sắc văn hóa độc đáo tạo nên tính phong phú, đa dạng trong tính thống nhất của quốc gia dân tộc Với nhãn quan chính trị sâu rộng, tính nhân văn sâu sắc thì trong suốt quá trình tìm đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã luôn ý thức và coi trọng nét độc đáo, bản sắc riêng của các thành phần dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
Tính đa dạng cũng có nghĩa là phải hiểu được những phong tục tập quán của các dân tộc anh em trong cộng đồng quốc gia để có những biện pháp hoạt động nhằm cùng nhau phát triển kinh tế - xã hội hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc
Tư tưởng đó của Người được thể hiện qua lời căn dặn cán bộ tuyên giáo miền núi:
“Một tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào Mèo thì tuyên truyền huấn luyện đối với đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác, phải có sự thay đổi cho thích hợp Bởi vì đời sống, trình độ đồng bào Mèo và đồng bào Thái khác nhau nên tuyên truyền huấn luyện phải khác”[28, tr.127]
c, Tư tưởng về các dân tộc đoàn kết bình đẳng, tương trợ lẫn nhau trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Đoàn kết là một trong những di sản tư tưởng
quan trọng của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Vấn đề dân tộc ở nước ta Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và đặt nền móng cho chế độ xã hội mới với nhiều vấn đề phức tạp trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chế độ xã hội mới… Hồ Chí Minh đã hình thành, xây dựng nên tư tưởng đoàn kết bình đẳng, tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc Tư tưởng đó của Người còn là sự kế thừa và phát huy cao độ truyền thống đoàn kết của dân tộc tạo nên sức mạnh vật chất vĩ đại của dân tộc trong thời đại của Người
Tư tưởng đoàn kết, bình đẳng, tương trợ trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam của Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng để Đảng và Nhà nước hoạch định và thực hiện Chính sách dân tộc từ đó cho tới nay và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Cũng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn theo dõi, nhắc nhở , uốn nắn những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc với cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, cán bộ đảng viên các cấp Người viết: “Phải khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn,
Trang 19dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc” Người phân tích rõ cho cán bộ quần chúng hiểu rõ:
“Người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo Cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dân tộc nhỏ bé, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được, rồi không cố gắng Đó là những điểm phải tránh”[27, tr.136]
d, Tư tưởng làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho đồng bào các dân
tộc ít người được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa: Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc về sự phát triển giữa các
dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số, giữa miền núi với miền xuôi là không đồng đều Nhận thức được điều đó, sau khi đất nước giành được độc lập Người đã chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương, cán bộ phải làm sao nâng cao đời sống của nhân dân làm cho các dân tộc thiểu số tiến kịp các dân tộc đa số, miền núi phát triển tiến kịp miền xuôi Người viết: “Dưới chế độ thực dân và phong kiến , đồng bào rẻo cao sống rất cực khổ Ngày nay, đồng bào rẻo cao được tự do bình đẳng, không bị áp bức, bóc lột như trước kia Nhưng đời sống vật chất, văn hóa chưa được nâng cao mấy Đó là vì cán bộ lãnh đạo không chú ý đầy đủ đến đồng bào rẻo cao Bác thay mặt Trung ương và Chính phủ giao cho cán bộ từ tỉnh đến xã phải ra sức giúp đỡ hơn nữa đồng bào rẻo cao về mọi mặt”[27, t10, tr.323]
Nhóm thứ hai, khi đề cập về tư tưởng Hồ Chí Minh về Vấn đề dân tộc thì lại
đề cập trên hai phương diện là phương diện vĩ mô và phương diện vi mô
a, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trên phương diện vĩ mô: trên
phương diện này đề cập chủ yếu đến các nội dung tư tưởng của Hồ Chí Minh trong bối cảnh lịch sử đất nước chưa giành được độc lập tự do Và vấn đề dân tộc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh lúc bấy giờ là giành lại độc lập tự do cho toàn dân tộc bao gồm tất cả các dân tộc cả đa số và thiểu số trên đất nước Việt Nam, làm cho các dân tộc từ thân phận người nô lệ trở thành người làm chủ của đất nước
b, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trên phương diện vi mô: trên
phương diện này chủ yếu là đề cập tới việc xác định đường lối, chính sách để đưa các dân tộc thoát khỏi đói nghèo lạc hậu đi lên phát triển, xây dựng cuộc sống ấm
no, hạnh phúc và văn minh
Trang 20Nhóm tác giả này khi đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trên phương diện vi mô đã điểm lại việc chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng những thuật ngữ nào đề chỉ các thành phần dân tộc ở nước ta khi đề cập đến nội dung và việc giải
quyết vấn đề dân tộc như: dân tộc Kinh, dân tộc đa số, dân tộc thiểu số, đồng bào
thượng du, đồng bào hạ du, các dân tộc,v,v,… Chứ Người không dùng những thuật
ngữ như thị tộc, bộ tộc, sắc tộc mà Người chỉ dùng thuật ngữ dân tộc đề chỉ các dân
tộc đa số và các dân tộc thiểu số trong cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam Tư tưởng của Hồ Chí Minh về một dân tộc Việt Nam là cơ sở giải quyết Vấn đề dân tộc trong cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức được rằng nước ta là một quốc gia đa dân tộc với nhiều thành phần dân tộc anh em có sự khác nhau về văn hóa, tiếng nói, phong tục tập quán, trình độ… Đây không chỉ là nhãn quan chính trị mà còn là luận điểm khoa học chân xác để giải quyết vấn đề dân tộc, để lãnh đạo việc hoạch định
và thực hiện chính sách dân tộc của Người
Hồ Chí Minh không chỉ là người đã tìm và đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào nước ta mà còn là người đã vận dụng một cách sáng tạo các nguyên tắc về vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin vào tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam Các nội dung cơ bản về vấn đề dân tộc cũng được Người quan niệm phải thực hiện thông qua hệ thống chính trị, thông qua chính sách dân tộc Đó chính là nguyên tắc được Người quán triệt và chỉ đạo trong suốt quá trình cách mạng nước ta Các nguyên tắc về vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minh đã được quán triệt trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta:
- Về nguyên tắc đoàn kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn cứ vào nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền thống dân tộc, vào thực tiễn tình hình các dân tộc
ở nước ta để đề ra chủ trương kế thừa và nâng cao một bước nội dung đoàn kết trong công tác dân tộc ở nước ta Người đưa ra khẩu hiệu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” đây được coi là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố dân tộc, giai cấp, quốc tế và thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh Khẩu hiệu này là nhằm kêu gọi và thực hiện 3 cấp độ của nội dung đoàn kết: đoàn kết trong Đảng – đoàn kết dân tộc –
Trang 21đoàn kết quốc tế Nội hàm của vấn đề đoàn kết do Hồ Chí Minh đưa ra có nhiều sáng tạo hơn so với các nội dung đoàn kết trước đó của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin
- Về nguyên tắc bình đẳng, dựa trên cơ sở quán triệt tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc và căn cứ vào nhận thức sâu sắc của Người về tình hình thực tiễn dân tộc ở nước ta đã đề ra nguyên tắc này và luôn được coi trọng trong việc hoạch định các chính sách dân tộc qua các thời kì Bình đẳng là yếu tố không thể thiếu trong quan hệ giữa các dân tộc và chính sách dân tộc để tạo nên sự đoàn kết vững chắc giữa các dân tộc Bình đẳng được đặt ra vừa là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc, đồng thời cũng vừa xuất phát từ hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, cộng đồng các tộc người vừa ở tình trạng phát triển không đều vừa nằm trong tình hình xã hội thực dân, phong kiến
bị kìm hãm sự phát triển về chính trị, kinh tế, xã hội…
Chính sách dân tộc của Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước ta là làm sao cho các dân tộc rút ngắn khoảng cách phát triển, để các dân tộc thực sự làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình về tất cả mọi mặt Chỉ có thực sự bình đẳng thì các mục tiêu trên mới có khả năng trở thành hiện thực
- Về nguyên tắc tương trợ, đây là nguyên tắc có tính độc đáo trong tư tưởng
Hồ Chí Minh về công tác dân tộc Người coi trọng và đề cao tinh thần tương trợ giữa các dân tộc Đây là nguyên tắc vừa có tính pháp lý vừa phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc Việc đưa ra nguyên tắc này của Hồ Chí Minh vừa phản ánh những cơ sở lý luận vừa phản ánh, kế thừa và phát huy truyền thống tương thân tương ái của cộng đồng các dân tộc nước ta Những truyền thống của dân tộc như
“Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” hay
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”… được chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và nâng lên một tầm cao mới Người còn nghiêm túc phê phán tư tưởng lớn, dân tộc hẹp hòi
- Về quyền dân tộc tự quyết: đây chính là một trong những nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Lênin Khi nghiên cứu vấn đề này trong tư tưởng Hồ
Trang 22Chí Minh về vấn đề dân tộc, nhóm thứ hai này đã cho rằng nó được biểu hiện dưới hai cấp độ khác nhau: 1) Cấp độ dân tộc – quốc gia, đó chính là cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho toàn dân tộc Việt (chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ); 2) Cấp độ tộc người, vấn đề dân tộc tự quyết là thực hiện ba nguyên tắc: đoàn kết, bình đẳng, tương trợ để các dân tộc được phát triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của đất nước và rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc
Ngoài hai nhóm tác giả trên còn có một nhóm thứ ba, đó là quan điểm của tác giả trong cuốn sách mang tên: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Vấn đề dân tộc [46] khi đề
cập đến nội dung chính sách dân tộc và vấn đề dân tộc đã đề cập tới các vấn đề: Là nhận thức của Người về đặc điểm tình hình dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta; Coi trọng việc thực hiện chính sách dân tộc và coi vấn đề dân tộc có tầm quan trọng chiến lược; Đánh giá cao vai trò vị trí của các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp cách mạng chung của cả nước: Luôn luôn kêu gọi đoàn kết trong toàn thể các dân tộc; Hiểu rất rõ âm mưu của kẻ thù trong việc tìm mọi cách để thực hiện chính sách chia
để trị, chia rẽ các dân tộc; Là người Việt Nam đầu tiên xem xét và giải quyết Vấn đề dân tộc trên cơ sở học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin Luôn đấu tranh với những
tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tư tưởng dân tộc lớn, coi thường các dân tộc nhỏ, trình độ phát triển thấp; Chính sách dân tộc của Hồ Chí Minh được thể hiện trong Hiến Pháp, các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc; Các dân tộc có quyền bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau; Coi trọng việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc và chỉ ra nội dung cốt yếu của Chính sách dân tộc; …
1.2.2 Về công tác dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân tộc chưa được nhiều học giả chú ý và không có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề này Công tác dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, thể hiện cụ thể và sinh động quan điểm, tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong thực tế cuộc sống, trong công tác lãnh đạo và quản lý đất nước
Trang 23Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân tộc được thể hiện trước nhu cầu thực tiễn, cụ thể là nhiệm vụ của công tác dân tộc đối với Chính phủ mới được hình thành sau cách mạng tháng Tám 1945 Để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc sau cách mạng tháng Tám năm 1945 và chính phủ mới thì công việc đầu tiên cần làm đó là thành lập cơ quan công tác dân tộc – một trong những cơ quan đầu tiên của chế độ mới ở nước ta được ra đời sớm nhất, đó là việc thành lập
Nha dân tộc thiểu số Nha dân tộc thiểu số được thành lập trên cơ sở Sắc lệnh số 58
ngày 3 – 5 – 1946 do chủ tịch Hồ Chí Minh ký và theo Nghị định 359 ngày 9 – 9 –
1946 của Bộ Nội vụ
Tại sao chủ tịch Hồ Chí Minh lại cho thành lập cơ quan công tác dân tộc? và
để làm gì? Thì câu trả lời được thể hiện trong thư Người gửi các đồng bào dân tộc thiểu số tại Đại hội ở Playcu: “Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng
ta Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc Chính phủ thì có “NHA DÂN TỘC THIỂU SỐ” để săn sóc cho tất cả các đồng bào”
Trong đoạn trích bức thư trên có hai vấn đề cần phải quan tâm liên quan tới tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân tộc:
- Thứ nhất, Người viết hoa tên tổ chức làm công tác dân tộc là NHA DÂN TỘC THIỂU SỐ nhằm khẳng định trước đồng bào các dân tộc một tổ chức quan trọng làm công tác dân tộc của nhà nước mới, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong
sự phát triển của các dân tộc
- Thứ hai, Người cũng đã giải thích rõ việc thành lập cơ quan làm công tác dân tộc là “để săn sóc cho tất cả các dân tộc”
- Công tác dân tộc có liên quan đến nhiều vấn đề tác động đến sự phát triển toàn diện của đồng bào các dân tộc về kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng,… Chính vì lẽ đó mà trong quản lý nhà nước thường không được gọi là nghành dân tộc mà thường gọi là lĩnh vực công tác dân tộc (thực chất là sự liên nghành, đa lĩnh vực của công tác dân tộc); không thành lập Bộ Dân tộc mà thành lập Ủy ban Dân tộc (cơ quan ngang Bộ; người đứng đầu gọi là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc)
Trang 24Vậy công tác dân tộc là gì ngoài các chức năng, nhiệm vụ cụ thể được quy
định trong các Nghị định 359, ngày 9 – 9 – 1946 về thành lập Nha dân tộc thiểu số
thuộc Bộ Nội vụ; Kết luận của Hội nghị Trung ương tháng 1 – 1947 về thành lập
Phòng Quốc dân thiểu số thuộc Ban Dân vận Mặt trận Trung ương; Nghị quyết số
03 – NQNS/TƯ ngày 29 – 1 – 1955 về thành lập Tiểu ban Dân tộc thuộc Trung
ương Đảng và Thủ tướng chính phủ; Sắc lệnh số 017/SL ngày 6 – 3 – 1959 về thành
lập Ủy ban Dân tộc thuộc Hội đồng Chính phủ và ngang bộ; Quyết định số QĐTƯ ngày 14-5-1979 thành lập Ban dân tộc Trung ương thuộc Ban Bí thư Trung
38-ương Đảng; Nghị định 11/CP ngày 20-3-1993 và Nghị định 59/1998/NĐCP ngày
13-8-1998 thành lập Ủy ban Dân tộc và Miền núi thuộc Chính phủ; Nghị định 51/2003/NĐ-CP ngày 16-5-2003 thành lập Ủy ban Dân tộc thuộc Chính phủ Nhiều
người lúng túng trong nhận thức về công tác dân tộc không phải là không có căn cứ, bởi tính liên nghành, đa lĩnh vực của công tác dân tộc; bởi như trên vừa nêu, tên cơ quan đã nhiều lần thay đổi và trực thuộc nhiều cơ quan khác nhau, do vậy chức năng nhiệm vụ cũng không cố định; hơn thế nữa, việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong thực tiễn không mấy dễ dàng… Có lẽ tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh khi đề cập đến sự ra đời của Nha Dân tộc thiểu số đã gợi
ý cho chúng ta về công tác dân tộc: đó là thái độ, nhận thức và hoạt động làm sao để thể hiện sự săn sóc của Chính phủ đối với đồng bào các dân tộc thiểu số
“Săn sóc cho tất cả các đồng bào” là bản chất của công tác dân tộc, là thể hiện tập trung trách nhiệm của nhà nước đối với các dân tộc thiểu số để tiến kịp sự phát triển chung của đất nước Săn sóc phải được hiểu là sự quan tâm toàn diện, là thể hiện trách nhiệm thường xuyên đối với sự phát triển, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, mức sống của đồng bào dân tộc Săn sóc là cơ sở của quan điểm trong hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện chính sách phát triển đối với vùng dân tộc thiểu số trong mọi giai đoạn cách mạng Công tác dân tộc phải quán triệt tư tưởng đó của Người trong mọi hoạt động từ khâu hoạch định đến thực hiện các chính sách, chương trình, dự án liên quan đến sự phát triển của dân tộc thiểu số ở nước ta
Trang 25Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về Vấn đề dân tộc và Công tác dân tộc là hệ
thống các quan điểm được hình thành trên cơ sở học thuyết Mác – Lênin về Vấn đề dân tộc kết hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam Tư tưởng đó được đặt trong bối cảnh và yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng đặt ra trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước vì sự phát triển của dân tộc – quốc gia và sự phát triển của mỗi thành phần tộc người Đó là hệ thống các vấn đề mang tính toàn diện liên quan đến mục tiêu rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các tộc người trong sự phát triển của quốc gia dân tộc Việt Nam; được xuất phát từ tình hình đặc điểm của các tộc người và nhiệm vụ cách mạng cụ thể trong từng giai đoạn Các cách tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh với Vấn đề dân tộc trên đây cho ta những lý giải về tính chính trị và tính nhân văn của Người đối với dân tộc – quốc gia và thành phần tộc người Tuy nhiên, ngoài nhiều vấn đề liên quan khác thì các nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc mang tính xuyên suốt Đó chính là sự sáng tạo của Hồ Chí Minh khi nhận thức
và giải quyết Vấn đề dân tộc ở nước ta thế kỉ XX
1.3 KHÁI QUÁT VỀ CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM
a, Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc và giữa các dân tộc tỉ lệ dân số rất không đều nhau
Quốc gia dân tộc Việt Nam hiện nay có 54 dân tộc anh em Theo số liệu thống
kê năm 1995, dân tộc Kinh (Việt) là dân tộc đa số chiếm tới 65 triệu người trong tổng số 73,5 triệu người, chiếm hơn 88% dân số nước ta lúc đó Còn các dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 12% Tỉ lệ dân số giữa các dân tộc thiểu số cũng rất không đồng đều nhau Có thể chia ra thành các nhóm như sau:
- Các dân tộc có số dân trên dưới 1 triệu người như: Tày, Thái, Hoa, Khơ me, Nùng, …
- Các dân tộc có số dân từ 10 vạn đến dưới 50 vạn là: H’Mông, Dao, Giarai, Êđê, Bana, Sán Chay, …
Trang 26- Các dân tộc có số dân từ 1000 đến 100.000 người như: Chàm, Xơ đăng, Sán dìu, Hrê, Cơ ho, Mơ nông, Thổ, Khơ Mú, Giáy, Mạ, Chơ ro, Hà Nhì, Kháng, Lô Lô,
số của các dân tộc này đã tăng lên
b, Các dân tộc ở nước ta có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm, xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, một số dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử như:
+ Việt – Mường: người Việt và người Mường đều là con cháu của người Lạc Việt (người Việt cổ), là chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn
+ Tày – Thái: người Tày, Thái, Nùng là những bộ phận của người Tày – Thái cổ; trải qua quá trình lịch sử đã tách thành các dân tộc này
+ H’Mông – Dao: trước đây hai dân tộc này cùng có chung nguồn gốc, sau tách thành 3 dân tộc là H’Mông, Dao và Pà Thẻn
Cũng có những dân tộc khác nhau về nguồn gốc lịch sử như giữa các dân tộc
La hủ, Lô Lô, Vân kiều, …
Về lịch sử cư trú, có những dân tộc đã cư trú từ lâu đời ở Việt Nam như Mường, Chăm, Khơ me, … có dân tộc cư trú ở nước ta trên dưới 1000 năm như Thái; có những dân tộc mới vào nước ta cư trú cách đây 200 – 300 năm như H’Mông, Dao, Khơ Mú, …
Trang 27Tuy nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán có điểm khác nhau, thời điểm cư trú cũng khác nhau, song các dân tộc đã đoàn kết, tương trợ, xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất
Nước ta là một đất nước nông nghiệp với nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước là chủ yếu Chính vì thế, ngay từ khi lập nước nhân dân các dân tộc đã phải cùng nhau chung sức, đoàn kết lại đắp đê, xây đập, đào kênh mương để chống đỡ lại thiên tai như hạn hán, lũ lụt… hết đời này qua đời khác Hiện nay, hệ thống đê điều đồ sộ trên đất nước ta là công trình vĩ đại được xây lên bằng sức mạnh đoàn kết của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong chiều dài của lịch sử mấy ngàn năm Ngày nay, trước những biến đổi bất lợi về khí hậu và thời tiết mang tính toàn cầu thì lại càng phải đòi hỏi nhân dân các dân tộc nước ta chung sức chung lòng để phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai cũng như là khắc phục hậu quả do bão, lũ gây ra Cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên vẫn đòi hỏi tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc và thông qua cuộc đấu tranh đó đại gia đình các dân tộc Việt Nam càng thêm gắn bó, chặt chẽ
Cùng với lịch sử đấu tranh chinh phục thiên nhiên, nhân dân các dân tộc Việt Nam còn có một bề dày lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước Việt Nam nằm ở vị trí địa lý hết sức thuận tiện cho giao lưu Đông – Tây, Bắc – Nam của thế giới, giàu tài nguyên và có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng Chính vì thế, ngay từ thủa dựng nước chúng ta đã phải đối mặt với những cuộc xâm lược từ phương Bắc của các triều đại phong kiến Trung Hoa và kéo dài cho tới hết thời kì Trung đại Đến thời Cận đại, nhân dân các dân tộc Việt Nam lại phải đối mặt với một kẻ thù mới không phải đến từ phương Bắc nữa mà là phương Tây, có vũ khí hiện đại và hơn chúng ta một phương thức sản xuất Rồi đến thời hiện đại, nước
ta lại phải đấu tranh chống lại hai tên sừng sỏ nhất trong giới thực dân đế quốc lúc bấy giờ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Một đặc điểm nổi bật trong suốt tiến trình lịch sử của nước ta đó là lịch sử chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia dân tộc Để làm được điều đó, lịch sử dân tộc đòi hỏi nhân dân các dân tộc
Trang 28Việt Nam phải luôn luôn sát cánh bên nhau, đoàn kết làm nên sức mạnh chống lại
kẻ thù xâm lược, giành lại độc lập và giữ vững chủ quyền đất nước
c, Các dân tộc ở Việt Nam cư trú rất phân tán và xen kẽ nhau
Nước ta trải dài từ Bắc chí Nam, lại có vị trí địa lý hết sức thuận tiện cho việc giao lưu, tiếp xúc giữa các luồng văn hóa, với nhiều luồng nhân chủng khác nhau trong khu vực Đông Nam Á Chính vì vậy, những cư dân bản địa cùng với các tộc người di cư đến đã cùng nhau chia sẻ, sinh sống trên lãnh thổ nước ta để tạo nên một cộng đồng dân tộc Việt Nam
Dân tộc Kinh (Việt) thường cư trú ở những vùng như đồng bằng, ven biển hay trung du Còn các dân tộc thiểu số sống ở miền núi phía Bắc, vùng núi Thanh – Nghệ - Tĩnh, Trường Sơn – Tây Nguyên, đồng bằng Nam Bộ; người Hoa thì lại sống tập trung ở một số nơi thuận tiện cho làm ăn buôn bán, đặc biệt là ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh
Tình trạng cư trú phân tán, xen kẽ lẫn nhau giữa các dân tộc ở nước ta có hai mặt, một mặt nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau và xích lại gần nhau Mặt khác nó
có thể làm nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa các dân tộc, dẫn tới khả năng xung đột giữa các dân tộc trong một địa bàn cư trú Trước đây, các thế lực thù địch luôn lợi dụng nhược điểm này để hòng gây chia rẽ, làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc nhằm dễ dàng thực hiện ý đồ xâm lược hoặc duy trì ách thống trị
Ngày nay, tình trạng cư trú xen kẽ lẫn nhau giữa các dân tộc dẫn tới sự giao lưu văn hóa – kinh tế của các dân tộc Lại cộng thêm việc kết hôn giữa thanh niên nam nữ thuộc các dân tộc khác nhau ngày càng phổ biến, sự giao lưu văn hóa – kinh
tế giữa các dân tộc càng thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hòa hợp dân tộc
d, Các dân tộc thiểu số ở nước ta chủ yếu cư trú trên các vùng rừng núi, có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, môi trường sinh thái
- Về kinh tế:
Nước ta với ¾ diện tích là đồi núi và là nơi cư trú chủ yếu của các dân tộc thiểu số Đây là khu vực có tiềm năng kinh tế to lớn về tài nguyên đất và rừng Từ nhiều thế kỉ qua, hàng triệu cư dân đã sống dựa vào các nguồn thực phẩm có sẵn
Trang 29của núi rừng, sông suối như các loại rau rừng, chim muông, thú, cá sông, …Từ lâu, núi rừng đã là nguồn cung cấp chủ yếu các loại tre, gỗ, lâm thổ sản quý hiếm Miền núi còn là nơi có điều kiện phát triển chăn nuôi, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu,…Ngoài ra, miền núi còn là nơi có tiềm năng to lớn về các nguồn tài nguyên khoáng chất như vàng, bạc, đá quý, than, sắt,…
Hầu hết tất cả các con sông đều bắt nguồn từ miền núi, hằng năm cung cấp hàng tỉ mét khối nước cho các nhà máy thủy điện, các công trình thủy lợi và bồi đắp hàng triệu mét khối phù sa cho vùng đồng bằng châu thổ
Đối với môi trường sinh thái của cả nước, miền núi có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu trong mùa mưa lũ Tình trạng phá rừng đang diễn ra nghiêm trọng do lâm tặc và người dân phá rừng khai hoang làm nương rẫy đã làm cho diện tích rừng giảm đi nhanh chóng, chỉ khoảng 30%, cá biệt một số nơi chưa đầy 10% Diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng đã ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, gây ra những thiên tai như lũ ống, lũ quét,…
Đường biên giới của nước ta trên đất liền kéo dài hơn 4000 km thì 3000 km nằm ở khu vực miền núi Nơi đây có nhiều cửa ngõ thông thương với các nước láng giềng Đây là điều kiện thuận lợi để mở rông quan hệ kinh tế, văn hóa giữa nước ta với các nước láng giềng trong khu vực và trên thế giới
- Về an ninh quốc phòng
Miền núi có một vị trí chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng Từ xưa đến nay, các thế lực thù địch luôn sử dụng địa bàn rừng núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và giữ nước, phá hoại sự nghiệp cách mạng nước ta Rừng núi từng là căn cứ địa cách mạng trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ Lợi dụng địa hình hiểm trở của miền núi, nhân dân ta đã làm nên những thắng lợi lịch sử như chiến thắng Điện Biên Phủ, hay núi rừng Tây Nguyên
là nơi mở đầu cho chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng
Trong giai đoạn hiện nay, miền núi – biên giới là phên dậu vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về an ninh quốc phòng trong bảo vệ vững chắc chủ
Trang 30quyền quốc gia dân tộc, chống và làm thất bại mọi âm mưu xâm nhập, “diễn biến hòa bình” của kẻ thù, bảo vệ sự nghiệp hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Về quan hệ đối ngoại
Ở vùng biên giới, các dân tộc thiểu số vừa cư trú ở Việt Nam, vừa cư trú ở nước láng giềng, giữ quan hệ dòng họ, quan hệ thân tộc với nhau Các dân tộc Kinh, Tày, Mường, Thổ, Chứt, Bân, Cơho, chủ yếu cư trú ở Việt Nam, chỉ có một bộ phận nhỏ sống ở nước khác Ngược lại, một số dân tộc chỉ có một bộ phận nhỏ sinh sống ở nước ta, còn lại đa phần là cư trú ở nước ngoài (các dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ H’Mông, Tạng – Mianma, Tày – Thái, Môn – Khome) Hiện nay một số dân tộc như Dao, H’Mông, Thái là đối tượng nghiên cứu của một số tổ chức mang tính quốc tế
Những năm gần đây, dân tộc và tôn giáo là những vấn đề hết sức nhạy cảm Không ít quốc gia đã xảy ra xung đột từ vấn đề dân tộc, tôn giáo Các thế lực phản quốc, thế lực thù địch luôn lợi dụng chiêu bài dân tộc, tôn giáo để trực tiếp can thiệp vào nội bộ nhiều nước, thậm chí là sử dụng vũ lực ép buộc
Do đó, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta không chỉ vì lợi ích của các dân tộc thiểu số mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ vì kinh tế - xã hội mà cả chính trị quốc phòng, an ninh quốc gia
e, Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau giữa các dân tộc ở nước ta
là một thực tế khách quan Có những dân tộc ít người còn có đời sống kinh tế - xã hội thấp kém Nhiều dân tộc cư trú ở những địa bàn có điều kiện tự nhiên khó khăn, khắc nghiệt Điều kiện canh tác nương rẫy không ổn định nên đời sống của đồng bào thường bấp bênh Cuộc sống du canh, du cư thường dẫn tới đói nghèo, bệnh tật Đồng bào các dân tộc ở miền núi đã tổng kết “ba lần chuyển nhà bằng một lần cháy nhà” Đối với cư dân làm nương rẫy ở các tỉnh phía Bắc, trong vòng chu kỳ 10 năm thì tỉ lệ thiếu đói là 7/10
Trang 31Bên cạnh nguyên nhân lịch sử và hoàn cảnh tự nhiên, cần thấy nguyên nhân xã hội là chủ yếu Dưới sự thống trị của các giai cấp bóc lột, miền núi và các dân tộc thiểu số là đối tượng để bọn chúng bòn rút, bóc lột, thực hiện chính sách ngu dân Trong gần một thế kỉ thực dân Pháp đô hộ, với chính sách khai thác thuộc địa triệt
để, đời sống của nhiều dân tộc thiểu số là đói rét, lạc hậu
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách theo tinh thần tạo điều kiện từng bước để miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiến kịp vùng đồng bào đa
số Sau hơn 10 năm đổi mới, kinh tế - xã hội miền núi và vùng dân tộc thiểu số đã
có bước phát triển đáng kể Tuy nhiên giữa các dân tộc thiểu số với nhau cũng như giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn chênh lệch quá nhiều
f, Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc anh em có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, văn hóa Việt Nam vừa có tính đa dạng, vừa có tính thống nhất Bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc là sự biểu hiện cách ứng
xử của một cộng đồng người trong một hoàn cảnh tự nhiên và không gian xã hội cụ thể
Do điều kiện sống xen kẽ và nhu cầu giao tiếp nên ở nhiều dân tộc thường sử dụng song ngữ hoặc đa ngữ Tiếng Việt là quốc ngữ, được dùng làm phương tiện giao tiếp chung của tất cả các dân tộc, là tiếng nói chính thức của Nhà nước, là công
cụ xây dựng ý thức dân tộc thống nhất Trong khi đó, tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc vẫn được duy trì, là công cụ xây dựng và giữ gìn ý thức riêng của dân tộc
Văn hóa sản xuất, kiến trúc, xây dựng, … giữa các dân tộc có nhiều nét khác nhau Không chỉ khác nhau về trồng lúa nước và trồng lúa nương, mà phương thức canh tác cũng khác nhau Nghề dệt thổ cẩm ở dân tộc thiểu số rất độc đáo Có dân tộc ở nhà sàn, có dân tộc ở nhà đất; nhà sàn của người Thái lại khác nhà sàn của người Mường
Trang 32Văn hóa ăn, mặc của các dân tộc hết sức phong phú Phong tập tục quán, lối sống của mỗi dân tộc cũng khác nhau
Tổ chức xã hội của người Kinh có xóm, làng, xã; dân tộc Thái có bản, mường; dân tộc Êđê có buôn, xã; dân tộc Khmer có phum, xóc… Già làng, Trưởng bản là những người rất có uy tín
Đặc biệt, các dân tộc thiểu số ở nước ta có kho tàng văn hóa dân gian, các làn điệu dân ca, các điệu múa, các bản trường ca, … vô cùng phong phú và mang giá trị nghệ thuật lớn
Bản sắc văn hóa mỗi dân tộc nước ta tạo dựng nên nền văn hóa Việt Nam rực
rỡ Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kì mới phải hướng vào việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc Đồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa của các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển của từng dân tộc Ngày nay, chúng ta càng có điều kiện thuận lợi và
cơ sở vững chắc để xây dựng thành công một nền văn hóa Việt Nam thống nhất mà
đa dạng trong cộng đồng các dân tộc nước ta
1.4 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRƯỚC NĂM 1986
- Thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc giành chính quyền 1930 – 1945: Ngay
từ khi ra đời, trong các cương lĩnh và văn kiện đầu tiên, Đảng ta đã khẳng định những nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc Mác xít Trong nghị quyết về các dân tộc thiểu số của Đại hội Đảng lần thứ nhất tháng 3 năm 1935 đã khẳng định:
“Đảng Cộng sản thừa nhận cho các dân tộc được quyền tự do hoàn toàn Đảng chống chế độ thuộc địa, chống hết các hình thức trực tiếp đem dân tộc này vào đàn
áp, bóc lột dân tộc khác” Khẩu hiệu của Đảng là “Xứ Đông Dương hoàn toàn độc lập, thừa nhận quyền dân tộc tự quyết” Vấn đề dân tộc của nước ta lúc này còn là vấn đề nông dân, giải quyết ruộng đất cho nông dân Đảng đã rất quan tâm vận động nông dân trong các cuộc vận động dân chủ, vận động quần chúng, trở thành phong trào rộng lớn, lôi kéo được đông đảo quần chúng nhân dân lao động trong
Trang 33các dân tộc tham gia vì mục tiêu người cày có ruộng, gắn với mục tiêu độc lập dân tộc và quyền dân tộc tự quyết
- Thời kì kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954: Trong thời gian diễn ra cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ nền độc lập nước nhà, Đảng ta đã đề ra những chính sách cụ thể giải quyết vấn đề dân tộc Tháng 8 năm 1952 Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra nghị quyết về vấn đề dân tộc Ngày 22 – 6 – 1953 Chính phủ đã ban hành chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam, quy định các mặt công tác chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tinh thần cơ bản của chính sách đó là: “đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ để kháng chiến kiến quốc, giúp nhau tiến bộ về mọi mặt” Nhờ có chính sách đoàn kết dân tộc đúng đắn mà các dân tộc thiểu số ở vùng núi đã tích cực tham gia cuộc kháng chiến, cùng cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng năm châu chấn động địa cầu, đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng
- Thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống Mỹ ở miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà 1954 – 1975: Cuộc kháng chiến chống Pháp
thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt đầu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Lúc này, việc giải quyết vấn đề dân tộc gắn liền với việc tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa: cải cách dân chủ, cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp, định canh định cư, …Ở miền Nam, việc giải quyết vấn đề dân tộc gắn liền với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bọn tay sai phản động Vấn đề dân tộc được giải quyết đúng đắn đã góp phần làm nên đại thắng mùa xuân năm
1975, đất nước hoàn toàn thống nhất
- Thời kì đất nước thống nhất cho đến trước đổi mới 1975-1985: Từ ngày
miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, chính sách dân tộc của Đảng được thực hiện thống nhất trong phạm vi cả nước Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử nên xuất phát điểm, sự tác động và hưởng thụ chính sách dân tộc của hai miền Nam – Bắc có sự khác nhau Theo đó, đối với công tác dân tộc ở các tỉnh phía Nam, Ban
Trang 34Bí thư đã có Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 15-11-1977 về công tác dân tộc ít người ở
các tỉnh miền Nam trong tình hình hiện nay
Hệ thống chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta thời kì này càng được
cụ thể hóa trên các lĩnh vực cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng
và an ninh Chính sách dân tộc trong giai đoạn 1976-1980 tập trung vào các vấn đề: + Phát triển các nghành kinh tế quốc dân ở vùng dân tộc thiểu số
+ Cải thiện đời sống nhân dân ở vùng dân tộc thiểu số cả về vật chất và tinh thần, tập trung phát triển cơ sở hạ tầng cho đồng bào các dân tộc
+ Tăng cường vai trò của Nhà nước và các đoàn thể trong việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc
Trong thời kì 1981-1985, Chính sách dân tộc dựa trên định hướng chung của Đại hội V đã tập trung vào các vấn đề phát triển kinh tế-xã hội, phát triển nông – lâm nghiệp, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực các tỉnh trung du Bắc Bộ và Tây Nguyên Đảng ta nhận thấy ở các tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ còn chậm phát triển, do đó Hội đồng Bộ trưởng đã có Nghị quyết số 108-HĐBT
ngày 8-10-1981 về việc phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp ở các tỉnh miền núi và
trung du Bắc Bộ
Đối với các tỉnh Tây Nguyên, đây luôn được xác định là vùng chiến lược có vị trí rất quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của đất nước Đảng và Nhà nước rất quan tâm chú trọng đến sự phát triển của đồng bào các dân tộc ở các tỉnh Tây Nguyên Trên cơ sở đó, ngày 22-2-1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị
quyết số 31-HĐBT về phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp các tỉnh Tây Nguyên
trong thời gian 1981-1985 Về văn hóa đối với các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn
này, Nghị quyết cũng nêu rõ là phải “phát triển phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng và thông tin cổ động…”
Tóm lại, chính sách dân tộc giai đoạn 1975-1985 là tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ của một đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh với nhiều vấn đề cải tạo
xã hội, xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất mới Phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho đồng bào các dân tộc thiểu số được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện
Trang 35đem lại sự thay đổi to lớn trong đời sống của nhân dân các dân tộc thiểu số cũng như là toàn bộ đất nước
Tiểu kết
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Vấn đề dân tộc và Công tác dân tộc, Đảng ta đã lấy đó làm kim chỉ nam cho mọi vấn đề liên quan đến vấn đề dân tộc Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, các dân tộc cùng chung sống trên một khu vực địa lý nhất định có mối quan hệ thân thiết với nhau Bên cạnh dân tộc Kinh là dân tộc chiếm đa số trong cơ cấu dân
cư ở nước ta thì các dân tộc thiểu số còn lại cũng chiếm một vị trí hết sức quan trọng Từ khi Đảng ta ra đời đã luôn luôn chú trọng, quan tâm tới các dân tộc thiểu
số và miền núi Trải qua các thời kì khác nhau, từ cách mạng dân tộc dân chủ cho đến xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc tiến tới thống nhất đất nước để cả nước cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn có những chính sách đúng đắn
để đoàn kết các dân tộc thiểu số cùng với dân tộc đa số (dân tộc Kinh) thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, mục tiêu Để từ đó đưa đất nước thoát cảnh chiến tranh lầm than tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước, cải thiện đời sống nhân dân cả về tinh thần lẫn vật chất
Trang 36Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
ta ngày càng rơi vào tình trạng khủng khoảng, trì trệ về nhiều mặt Trước hoàn cảnh
đó, Đảng đã đổi mới tư duy, đổi mới cách hoạt động để nhằm mục đích đưa đất nước thoát khỏi cảnh khủng hoảng và nguy cơ như Liên Xô Bằng sự tư duy đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12 năm 1986 đã diễn ra mở đầu cho sự nghiệp đổi mới Cùng với sự đổi mới tư duy, đổi mới cách hoạt động, Đảng và Nhà nước ta cũng tiến hành đổi mới nhiều chính sách, kế hoạch trong đó có chính sách dân tộc Chính sách dân tộc trong thời kì này là sự đổi mới về chất trong quá trình hoạch định nội dung và phương thức tổ chức thực hiện Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều sự chuyển biến mạnh mẽ, Chính sách dân tộc thời kì đổi mới cũng thể hiện được sự vươn lên trong tầm nhận thức về quản lý, về hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước ta Tính đúng đắn của việc đổi mới tư duy, đổi mới sự lãnh đạo đất nước nói chung và ở vùng dân tộc thiểu số nói riêng được thể hiện qua những thành tựu kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và Công tác dân tộc nói riêng
Quan điểm chính sách về Vấn đề dân tộc của Đảng được kế thừa, thống nhất
và cụ thể hóa trong từng giai đoạn, kế hoạch xây dựng và phát triển đất nước nói chung và ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng Thực hiện các Nghị quyết Đại hội VII, VIII, IX và X, Trung ương Đảng và Chính phủ đã tập trung đề ra nhiều chính sách, giải pháp kinh tế - xã hội cho vùng dân tộc thiểu số và vùng miền núi Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong thời kì này tập trung vào các vấn
đề cơ bản như kinh tế, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, môi trường
Trang 37Trên cơ sở phân tích tình hình kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu
số và miền núi với những thành tựu cũng như hạn chế, Bộ Chính trị đã ra Nghị
quyết quan trọng số 22-NQ/TW ngày 27-12-1989 về một số chủ trương, chính sách
lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi Đây là một Nghị quyết quan trọng chi phối
sơ bản chính sách, tình hình phát triển kinh tế-xã hội tạo nên nét mới trong chính sách phát triển vùng miền núi, dân tộc thiểu số so với các chính sách trước đó Trên
cơ sở đánh giá, phân tích tình hình kinh tế-xã hội, chính sách trước năm 1989, đặc biệt là những tồn tại về tình hình kinh tế-xã hội miền núi, Bộ Chính trị đã chỉ ra nguyên nhân của sự tồn tại đó Các nguyên nhân chủ yếu là: nhận thức chưa sâu sắc
vị trí, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; còn nhiều sai lầm trong công tác xây dựng quan hệ sản xuất; phương thức đào tạo, sử dụng cán bộ tại chỗ, cán bộ dân tộc thiểu số… là chưa tốt; sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương chưa tương xứng, hiệu lực thấp…
Từ việc chỉ ra được những nguyên nhân của sự tồn tại đó, Bộ Chính trị đã đề
ra các chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội tập trung vào các mặt: xây dựng cơ cấu kinh tế miền núi (nông - lâm nghiệp, kết cấu hạ tầng, thương nghiệp và dịch vụ, đầu tư khoa học kỹ thuật, kinh tế đối ngoại); Chính sách kinh tế nhiều thành phần, điều chỉnh quan hệ sản xuất, đổi mới quản lý, giải phóng năng lực sản xuất (đối với các thành phần kinh tế; liên hiệp, công ty, tổng công ty; kinh tế tập thể, kinh tế hộ gia đình; kinh tế tư nhân); đổi mới chính sách kinh tế - xã hội (điều chỉnh thuế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, lưu thông hàng hóa; chuyển từ trợ giá bán vật tư sang trợ giá mua sản phẩm; thành lập các trung tâm công thương
Trang 38nghiệp, dịch vụ; giải quyết về đời sống và công tác giáo dục, đào tạo, văn hóa, xã hội, y tế)
Để cụ thể hóa những nội dung của Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị,
Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 72-HĐBT ngày 13-3-1990 về một
số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi Thời kì này, nhiều
chính sách đã tập trung vào giải quyết các vấn đề xác định quyền làm chủ đất đai gắn với môi trường sống của đồng bào các dân tộc thông qua giao đất giao rừng, khắc phục tranh chấp đất đai, định canh, định cư, bảo vệ và phát triển vốn rừng… Mặt khác, từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, thúc đẩy trao đổi hàng hóa giữa các vùng; điều chỉnh quan hệ sản xuất và cơ chế quản lý, phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, thông qua các chương trình, dự án của Nhà nước Chính sách còn tập trung ưu tiên đầu tư vốn, chuyển giao khoa học công nghệ, xây dựng kết cấu hạ tầng phù hợp với tình hình và nhu cầu phát triển cụ thể của từng vùng; gắn tăng trưởng kinh tế với an ninh quốc phòng và giải quyết các vấn đề bức xúc về mặt xã hội của các dân tộc
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số của Chính phủ đã đề cập đến Quyết định về sự phát triển kinh tế-xã hội khu vực Tây Nguyên, miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long
Đó là Quyết định 168/2001/QĐ-TTg ngày 30-10-2001 về việc định hướng dài hạn,
kế hoạch 5 năm 2001-2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Nguyên Trong 2 năm 2002, 2003 Chính phủ đã đầu tư 694 tỷ đồng để
thực hiện chương trình này Quyết định 173/2001/QĐ-TTg ngày 06-11-2001 về phát
triển kinh tế-xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long; Chính phủ cũng đã đầu tư
2000 tỷ đồng để thực hiện chương trình này Quyết định 186/2001/QĐ-TTg ngày
07-12-2001 về phát triển kinh tế - xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc thời kỳ 2001 – 2005; cũng trong 2 năm 2002, 2003 Chính phủ đã bỏ vốn bố trí
đầu tư 696 tỷ đồng để thực hiện quyết định này
Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31-3-1998 về Chính sách trợ giá cước
được Đảng và Chính phủ ban hành nhằm trợ giá cước vận chuyển 8 mặt hàng cho