Đối với Nghệ An nói chung, Thành phố Vinh nói riêng, từ khi đổi mới đếnnay cũng thu hút đợc sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, với các công trình nh: - Cuốn "Kinh tế - văn hoá - xã hội
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Tr
ờng đại học Vinh
Phạm thuý hiền
Sự chuyển biến kinh tế - xã hội thành phố Vinh trong thời kỳ đổi mới (1986- 2005)
Chuyên ngành: lịch sử việt nam
Mã số: 60 22 54
Luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử
Ngời hớng dẫn : PGS TS Nguyễn Trọng Văn
vinh - 2006 mục lục
Mở đầu 1
Nội dung 6
Chơng 1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Thành phố Vinh thời kỳ trớc đổi mới 6
1.1 Khái quát về Thành phố Vinh 6
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 8
1.1.2 Một vài nét về Lịch sử 12
1.2 Tình hình kinh tế - xã hội Thành phố Vinh trớc năm 1986 12
Trang 21.2.1 Về kinh tế 25
1.2.2 Về xã hội 25
Chơng 2 Sự chuyển biến về kinh tế của Thành phố Vinh trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2005) 29
2.1 Thành phố Vinh trong thời kỳ đất nớc đổi mới 29
2.1.1 Bối cảnh lịch sử mới 29
2.1.2 Đờng lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự vận dụng của Đảng bộ thành phố …30
2.2 Sự chuyển biến về kinh tế của Thành phố Vinh trong thời kỳ đất nớc đổi mới (1986 - 2005) 34
2.2.1 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 34
2.2.2 Nông nghiệp 47
2.2.3 Thơng mại và dịch vụ 59
2.2.4 Tài chính và kinh tế đối ngoại 66
2.2.5.Giao thông vận tải và xây dựng cơ bản 72
Chơng 3 Sự biến đổi về xã hội của Thành phố Vinh trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2005) 83
3.1 Về lao động - việc làm 84
3.2 Về thu nhập và đời sống 88
3.3 Về văn hoá - giáo dục 91
3.4 Về y tế - môi trờng 107
3.5 Về chính sách xã hội 113
Kết luận 118
Tài liệu tham khảo 122
Phụ lục 133
Lời cảm ơn
Đến nay luận văn Thạc sỹ đã hoàn thành, nhân dịp này, Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Trọng Văn - ngời đã trực tiếp hớng dẫn tác giả một cách tận tình, chu đáo từ khi nhận đề tài cho đến khi hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn các thầy cô trong bộ môn Lịch sử Việt Nam khoa lịch sử, khoa sau đại học trờng Đại học Vinh, các cán bộ ở các th viện trờng Đại học Vinh, th viện tỉnh Nghệ An, phòng lu trữ của Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân thành phố Vinh, các phòng ban, gia đình, bạn bè đã tạo điều
Trang 3kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tác giả
Phạm Thuý Hiền
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
1.1 Năm 1986, Đảng ta đề ra chủ trơng đổi mới đất nớc Cũng từ đó, nớc
ta đã thu đợc nhiều thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, Việt Namkhông những thoát khỏi cuộc khủng hoảng sâu sắc vào cuối thập niên 70 đầuthập niên 80 mà còn vơn lên bắt kịp với nhịp phát triển sôi động của nền kinh tếkhu vực và thế giới Chính sách đổi mới của Đảng đã tác động sâu sắc tới sự pháttriển kinh tế - xã hội của nhiều địa phơng trong cả nớc, Thành phố Vinh cũng làmột trong những địa phơng thực hiện tốt đờng lối đổi mới đó
1.2 Thành phố Vinh là một trong những thành phố quan trọng, là trungtâm kinh tế lớn của khu vực Bắc Trung Bộ Trải qua 20 năm đổi mới, Thành phốVinh đã có những chuyển biến lớn về mặt kinh tế - xã hội Sự chuyển biến đó đãmang lại diện mạo mới cho thành phố, cảnh quan đô thị đẹp hơn, đời sống củanhân dân đợc cải thiện một bớc quan trọng
Tìm hiểu công cuộc đổi mới ở Thành phố Vinh là tìm hiểu quá trình vậndụng đờng lối đổi mới của Trung ơng Đảng vào một thành phố đã bị chiến tranhtàn phá hoàn toàn trong chiến tranh và làm rõ những thành tựu mà công cuộc đổimới đã mang lại cho quê hơng mình
1.3 Triển khai đề tài "Sự chuyển biến kinh tế - xã hội Thành phố Vinhtrong thời kỳ đổi mới (1986 - 2005)" chúng tôi mong muốn góp phần vào việccung cấp tài liệu lịch sử địa phơng cho những ai quan tâm đến Thành phố Vinh -
"thành phố Đỏ" anh hùng, mà trớc hết là những ngời dạy lịch sử địa phơng
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “ Sự chuyển biến kinh tế – xãhội Thành phố Vinh trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2005) làm để tài luận văn tốtnghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Trang 4Công cuộc đổi mới của nớc ta dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam không còn là vấn đề mới mẻ đối với các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhànghiên cứu lịch sử Đổi mới là một chủ trơng hết sức quan trọng của đất nớc, chủtrơng đó đã tác động sâu rộng đến từng ngành, từng địa phơng trong cả nớc,chính vì thế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về công cuộc đổi mới của ViệtNam, của các tỉnh và thành phố
Đối với Nghệ An nói chung, Thành phố Vinh nói riêng, từ khi đổi mới đếnnay cũng thu hút đợc sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, với các công trình nh:
- Cuốn "Kinh tế - văn hoá - xã hội của tỉnh Nghệ An trong tiến trình đổi mới" do Nguyễn Duy Quý chủ biên, Sở khoa học - công nghệ và môi trờng Nghệ
An biên soạn năm 1994 Trong cuốn sách các tác giả đã đánh giá thực trạng tìnhhình kinh tế - xã hội và văn hoá của tỉnh Nghệ An từ khi thực hiện đờng lối đổimới cho đến năm 1993, trong đó các tác giả đã đi sâu phân tích những thành tựu
đạt đợc, những thế mạnh của tỉnh, đồng thời nêu rõ những hạn chế và thiếu sót củatỉnh Nghệ An trong việc thực hiện đờng lối đổi mới từ 1986 đến 1993
- Cuốn "Lịch sử công nghiệp Nghệ An" Sở công nghiệp Nghệ An biên soạn
năm 1999 Cuốn sách đã nêu đợc sự phát triển của ngành công nghiệp của tỉnh quacác giai đoạn, với những t liệu đã tập hợp đợc trong cuốn sách tạo cơ sở cho ta suyngẫm về phơng hớng, bớc đi và cách làm để phát triển công nghiệp
- Cuốn "60 năm ngành văn hoá thông tin tỉnh Nghệ An (1945 - 2005)" Sở
văn hoá Nghệ An, NXB Nghệ An năm 2005 Cuốn sách đã khái quát đợc nhữngnét chính về các vùng văn hoá xứ Nghệ, về những chặng đờng của ngành văn hoáthông tin tỉnh Nghệ An Cuốn sách cũng nêu lên những lễ hội, danh thắng, những
điểm văn hoá vui chơi, những phong trào văn hoá của thành phố Vinh
- Cuốn "Lịch sử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam" do T.S Nguyễn Quang Hồng
chủ biên, NXB Nghệ An năm 2005 Cuốn sách đã nêu lên một số hoạt động đổimới của thành phố Vinh từ năm 1986 - 2005, tuy nhiên cuốn sách chỉ chú trọng
đến vai trò của Mặt trận tổ quốc thành phố trong công cuộc đổi mới mà thôi
- Các bài báo, các công trình nghiên cứu trên các lĩnh vực nh những tiến bộtrong nông nghiệp, những thay đổi trong công nghiệp, sự biến đổi trong văn hoá,
sự phát triển mạng lới y tế nh: Chợ cói Hng Hoà (Hng Lam - Báo Nghệ An ngày
17/02/1995), Bốn vấn đề bức xúc sẽ giải quyết ở Vinh (Đặng Thị Thắng - Báo
Trang 5Nghệ An ngày 21/03/1995), Vinh thành phố mở miền Trung (Uông Thái Biểu
-Báo Nghệ An ngày 16/06/1995), Thành phố Vinh làm gì để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (Bá Dũng - Báo Nghệ An ngày 10/02/1996), Thành phố Vinh hoạt động văn hoá truyền thống vui xuân (Báo Nghệ An ngày
27/02/1996), Những giải pháp để phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp thành phố Vinh (Đặng Thị Thắng - Báo Nghệ An ngày 19/07/2000), Hng Hoà biến vùng đất chua mặn thành đất bạc đất vàng (Võ Trọng Quý - Báo Nghệ An
ngày 10/10/2002), Chuyện cây rau Hng Đông (Phạm Thuỳ Vinh - Báo Nghệ An
ngày 22/10/2003), Thành phố đang trẻ lại (Võ Văn Thành - Báo Nghệ An ngày
07/11/2003), Những chuyển biến của ngành giáo dục - đào tạo Thành phố Vinh
(Vơng Đình Bảng - Báo Nghệ An ngày 24/11/2003), Hiệu quả những chính sách
đòn bẩy tiểu thủ công nghiệp - làng nghề Vinh (Hoàng Văn Tâm - Báo Nghệ An
ngày 06/10/2004), Nâng cao hiệu quả của hoạt động khuyến công (Anh Vũ - Báo
Nghệ An ngày 28/10/2004), Thành phố Vinh đổi mới hoạt động du lịch trên diện rộng (Nguyễn Ngọc Đức - Báo Nghệ An ngày 04/11/2004, Khu đô thị mới tây
đại lộ Xô Viết Nghệ Tĩnh điểm nhấn của Thành phố Vinh (Hải Yến - Báo Nghệ
An ngày 19/05/2005), Để ngành công nghiệp có bớc tiến vững chắc (Báo Nghệ
An ngày 26/05/2005)
- Các báo cáo hàng năm của các phòng ban báo cáo lên Thành uỷ Vinh,Tỉnh uỷ Nghệ An; Các bản phơng hớng, nhiệm vụ của các kỳ đại hội Đảng bộthành phố
Các công trình nghiên cứu, bài viết trên đây đã làm sáng tỏ đợc một số vấn
đề về tỉnh Nghệ An nói chung và Thành phố Vinh nói riêng Tuy nhiên, cho đếnnay vẫn cha có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể về sự chuyển biếnkinh tế - xã hội của Thành phố Vinh từ 1986 - 2005 Chính vì thế, luận văn tậptrung tìm hiểu một cách có hệ thống những chuyển biến kinh tế - xã hội củaThành phố Vinh trong giai đoạn từ 1986 - 2005
3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
3.1 Đối tợng nghiên cứu.
Đối tợng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu sự chuyển biến vềkinh tế - xã hội của Thành phố Vinh trong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến 2005
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 6Toàn bộ công cuộc đổi mới trong đó có sự chuyển biến kinh tế - xã hội củaThành phố Vinh từ năm 1986 đến năm 2005
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.
4.1 Nguồn t liệu.
Để có đợc nguồn t liệu phong phú phục vụ việc làm luận văn, chúng tôi đãtiến hành su tầm, tích luỹ, sao chép tại các th viện, phòng t liệu của Thành uỷVinh, phòng thống kê của Uỷ ban nhân dân thành phố, phòng kinh tế thành phố
và đến các cơ sở kinh tế và văn hoá của thành phố
Để làm cơ sở lý luận trong quá trình giải quyết đề tài, chúng tôi còn đọccác văn kiện của Ban chấp hành Trung ơng Đảng, của Tỉnh uỷ Nghệ An, Thành
uỷ Vinh và các bài viết và các tác phẩm của các nhà nghiên cứu
4.2 Phơng pháp nghiên cứu.
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phơng pháp tổng hợp, thống
kê, hệ thống và phân loại t liệu theo từng lĩnh vực, sau đó dùng phơng pháp phântích, đối chiếu, so sánh để xử lý t liệu
5 Đóng góp của luận văn.
- Luận văn đã hệ thống đợc những t liệu liên quan đến đề tài để cho những
ai quan tâm đến sự chuyển biến về kinh tế - xã hội của Thành phố Vinh thamkhảo
- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể về kinh
tế - xã hội thành phố trong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến 2005
- Dựa vào nguồn tài liệu phong phú, luận văn đã dựng lại bức tranh toàncảnh về kinh tế - xã hội của Thành phố Vinh, làm sáng tỏ sự chuyển biến kinh tế
- xã hội của Thành phố Vinh trong thời kỳ từ 1986 - 2005: thành tựu và hạn chế
- Luận văn cung cấp tài liệu để giảng dạy lịch sử địa phơng, góp phần giáodục truyền thống qua các bài học lịch sử đã rút ra trong thời kỳ đổi mới
6 Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của luận văn đợc trình bày trong 3 chơng:
Chơng 1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Thành phố Vinh trớc đổimới
Trang 7Chơng 2 Sự chuyển biến kinh tế của Thành phố Vinh trong thời kỳ đổimới (1986 - 2005).
Chơng 3 Sự biến đổi về xã hội của Thành phố Vinh trong thời kỳ đổi mới(1986 - 2005)
Nội dung
Chơng 1
khái quát tình hình kinh tế - xã hội thành
phố Vinh trớc thời kỳ đổi mới.
1.1 Khái quát về Thành phố Vinh.
1.1.1 Điều kiện tự nhiên.
* Vị trí địa lý:
Thành phố Vinh nằm ở phía Đông Nam tỉnh Nghệ An, là trung tâm kinh
tế, chính trị, văn hoá của tỉnh Nằm ở tọa độ từ 18038'50" đến 18038' 36" vĩ độBắc và 105056'30" đến 105049'50" kinh độ Đông Diện tích tự nhiên là 63,99 km2,xếp thứ 18 trong 19 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh (Về diện tích tự nhiên,hiện nay theo số liệu mới là 66,9 km2, có sự khác nhau đó không phải là do sự
mở rộng diện tích mà là do sai số trong việc sử dụng dụng cụ đo, 63,99 km2 làcon số do đo bằng thớc, còn 66,9 km2 là con số đo bằng máy)
Thành phố Vinh cách Hà Nội 291 km về phía Bắc, cách thành phố Huế 363
km về phía Nam (theo quốc lộ 1A).Thành phố Vinh nằm ở hạ lu sông Lam, đây làcon sông lớn thứ ba cả nớc Sông Lam có chiều dài 532 km, bắt nguồn từ thợng Lào,chảy về biển Đông theo hớng Tây Bắc - Đông Nam, phần chảy trên địa bàn Nghệ
An có chiều dài tới 375 km, tạo điều kiện thuận lợi cho c dân xứ Nghệ đi lại buônbán dễ dàng Bên cạnh đó, hàng năm sông Lam cũng đã bồi đắp một lợng phù sa lớncho nhân dân hai bên bờ sông trồng trọt, sản xuất Sông Lam cũng là ranh giới tựnhiên ngăn cách Thành phố Vinh với tỉnh Hà Tĩnh về phía Nam
Phía Đông, Thành phố Vinh tiếp giáp với biển Đông, một biển phụ củaThái Bình Dơng, tạo cơ hội thuận lợi để Vinh hớng ra thế giới bằng tuyến đờngbiển quốc tế
Trang 8Phía Tây và Tây Bắc, Thành phố Vinh tiếp giáp với huyện Hng Nguyên,nhờ có tuyến giao thông đờng bộ (đờng 49, đờng 30, đờng 15 ) mọi hoạt độnggiao thông từ Vinh đi các huyện miền Tây nh: Nam Đàn, Thanh Chơng, Đô L-
ơng, Anh Sơn đợc thực hiện thuận lợi
Phía Bắc, Thành phố Vinh tiếp giáp với huyện Nghi Lộc và nối liền với cáchuyện Diễn Châu, Quỳnh Lu cũng nh các tỉnh phía Bắc bằng tuyến quốc lộ 1A
và tuyến đờng sắt xuyên Việt
Với vị trí địa lý nh vậy, Thành phố Vinh thực sự là đầu mối giao thôngthuận tiện cả đờng biển, đờng sông, đờng bộ, đờng sắt với các huyện, các thànhphố, các tỉnh khác trong cả nớc
*Địa hình:
Địa hình Thành phố Vinh khá lý tởng, bên cạnh các vùng đồng bằng bằngphẳng là các dãy núi bao bọc xung quanh nh: núi Hồng Lĩnh ở phía Nam, núiThành ở phía Tây Nam, núi Cấm ở phía Bắc, núi Đại Huệ ở phía Tây Bắc Ngay ởphía Đông Nam của thành phố là dãy núi Quyết hùng dũng vơn thẳng ra biển
Đông mà ngời xa ví nh con chim Phợng Hoàng đang chuẩn bị cất cánh NúiQuyết dài chừng 4 km, đỉnh cao nhất của núi hơn 100m, đây là nơi mà ngời anhhùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ chọn làm nơi định đô của mình
Địa hình Thành phố Vinh nghiêng dần từ Tây sang Đông Qua khảo sátthực tế địa bàn thành phố các nhà nghiên cứu cho rằng, Vinh là sản phẩm màbiển Đông và Sông Lam ban tặng cho cộng đồng c dân xứ Nghệ sau hàng triệunăm bồi đắp Từ phía bắc phờng Trờng Thi ngày nay, đến phờng Hng Bình, HngLộc kéo dài cho tới các xã của huyện Nghi Lộc, là một dải cát dài, cao thấp khácnhau Trong khi đó từ chùa Cần Linh (hay còn gọi là chùa S Nữ) phờng Cửa Nam
đến phờng Hồng Sơn, phờng Vinh Tân, phờng Trung Đô dọc theo tả ngạn sôngLam lại còn nhiều vùng ngập nớc, lầy lội
* Khí hậu:
Khí hậu thời tiết Thành phố Vinh mang đặc điểm chung của khí hậu Nghệ
An, có các yếu tố phân dị đáng chú ý là lợng ma ở đây là một trong những nơilớn nhất tỉnh (2095,2 mm); Cũng nh tỉnh Nghệ An, Thành phố Vinh nằm trong
Trang 9vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, hàng năm có hai mùa rõ rệt, mùa nóng
từ tháng 5 đến tháng 9, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 2
Nhiệt độ trung bình cả năm của Thành phố Vinh là 23,90 C, lợng ma trungbình năm là 484,0 mm ở đây vào mùa nóng có loại gió nóng Phơn Tây Nam màngời ta quen gọi là gió Lào, loại gió này mang lại cho Thành phố Vinh nói riêng
và tỉnh Nghệ An nói chung nền khí hậu nóng rát điển hình của miền trung nắngcháy Vào những tháng gió Lào xuất hiện, khí hậu ở đây hết sức khó chịu nóngrát, oi bức, gây ảnh hởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của con ngời
* Về hành chính:
Hiện nay, Thành phố Vinh có 15 phờng nh: phờng Đội Cung, Trung Đô,Quang Trung, Trờng Thi, Bến Thuỷ, Hồng Sơn, Lê Mao, Cửa Nam, Lê Lợi, HngBình, Hà Huy Tập, Hng Dũng, Đông Vĩnh, Quán Bàu, Hng Phúc; và 5 xã : Hng
Đông, Hng Lộc, Vinh Tân, Hng Hoà, Nghi Phú
Toàn thành phố có 285 khối xóm
1.1.2 Một vài nét về lịch sử:
Thành phố Vinh ngày nay nằm trên phần đất Vĩnh Yên và Yên Trờng, tổngNgô Trờng, sau đổi thành tổng Yên Trờng huyện Chân Lộc, trấn Nghệ An thờiGia Long
Năm 1788, trong cuộc hành quân thần tốc ra Bắc để tiêu diệt 29 vạn quânThanh, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã chọn vùng đất dới chân núi Dũng Quyếtlàm nơi định đô mới của mình gọi là Phợng Hoàng Trung Đô Bởi theo Ông, nếu
đóng đô ở đây thì "độ đờng vừa cân" vừa có thể khống chế giặc từ Nam ra lại vừa
có thể khống chế giặc từ Bắc vào Đáng tiếc Quang Trung - Nguyễn Huệ đột ngột
từ trần vào năm 1792 nên công việc xây thành bị bỏ giữa chừng
Tháng 5/1804, trấn lỵ Nghệ An đợc chuyển dời từ Lam Thành - Phù Thạch
về Vĩnh Yên và Yên Trờng Từ tháng 5/1804 cho đến trớc Cách mạng tháng Támnăm 1945, Vinh đã trải qua bốn lần đổi tên gọi, song việc thay đổi tên ấy khônglàm mất đi chức năng là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội củaVinh đối với cộng đồng c dân xứ Nghệ
Do vị trí địa lý và sự phát triển về kinh tế xã hội của vùng đất Vĩnh Yên vàYên Trờng, nên trong những năm đầu của thế kỷ XX ở đây đã lần lợt ra đời cáctrung tâm đô thị: Vinh (12 / 07 / 1899), Bến Thuỷ (11 / 03 / 1914), Trờng Thi
Trang 10(28/07/1917) Ba trung tâm đô thị Vinh - Bến Thuỷ - Trờng Thi nhanh chóng pháttriển trong chơng trình khai thác thuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp (1919 -1929) tạo nên những biến đổi quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hoá trên vùng đấtVĩnh Yên và Yên Trờng Ngày 10/12/1927, toàn quyền Đông Dơng Mông - ghi -nhô ký nghị định sát nhập ba trung tâm trên thành Thành phố Vinh - Bến Thuỷ.Theo đó Thành phố Vinh - Bến Thuỷ có diện tích 20 km2, 2 vạn dân c c trú ở 10khu phố, từ khu phố Đệ nhất đến khu phố Đệ thập.
Để phục vụ cho công cuộc khai thác tài nguyên của mình, thực dân Pháp
đã cho xây dựng ở Vinh một hệ thống giao thông thuỷ bộ Năm 1905 làm đờng
xe lửa Vinh - Hà Nội, năm 1913 làm đờng Vinh Cửa Hội, Cửa Lò, năm 1915 làm
đờng xe lửa Vinh - Đông Hà, năm 1924 cho nạo vét mở rộng cảng sông BếnThuỷ, chúng xem cảng sông Bến Thuỷ là cảng quan trọng thứ hai sau cảng HảiPhòng, hàng năm có khoảng 154 tàu của các nớc Mã Lai, Pháp, Nhật Bản, TrungQuốc đến cập bến Từ đó cho đến Cách mạng tháng Tám 1945, Thành phố Vinh
- Bến Thuỷ thực sự là một trung tâm công nghiệp thơng mại, giao thông vận tảilớn nhất ở Bắc Trung Bộ và là một trong những thành phố lớn nhất trong liênbang Đông Dơng thời thuộc Pháp
Là một trung tâm công nghiệp thơng mại, giao thông vận tải lớn nên ở đây
ách áp bức của thực dân Pháp đè nặng khiến nhân dân Vinh - Bến Thuỷ khôngngừng nổi dậy mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931, mặc dù bị thựcdân Pháp đàn áp, khủng bố nhng tinh thần cách mạng của nhân dân Vinh - BếnThuỷ vẫn bùng cháy Sau 15 năm đấu tranh anh dũng kiên cờng, ngày 21/8/1945,dới sự lãnh đạo của Việt Minh liên tỉnh Nghệ Tĩnh, cuộc khởi nghĩa tháng Támtrên đất Vinh đã dành đợc thắng lợi hoàn toàn, lịch sử Vinh bớc sang một trangmới
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi đã đa lịch sử dân tộc ta bớc sangmột kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập - tự do Nhng với dã tâm chiếm nớc tamột lần nữa, thực dân Pháp đã mang quân xâm lợc trở lại nớc ta, cuộc kháng chiếntoàn quốc bùng nổ Hoà chung với tinh thần của cả nớc "thà hi sinh tất cả chứkhông chịu mất nớc không chịu làm nô lệ", nhân dân thị xã Vinh sục sôi khángchiến, mu trí, kiên cờng Theo chủ trơng của Trung ơng và chủ tịch Hồ Chí Minh,nhân dân Vinh đã tiến hành tiêu thổ kháng chiến "Qua 5 tháng thực hiện, công
Trang 11nhân Vinh - Bến Thuỷ đã đóng góp 45.700 ngày công, phá dỡ đợc 1335 ngôi nhà, trong đó có 301 nhà cao tầng, 300 toa xe lửa và 12 đầu máy, đã có 9 cán bộ và ng-
ời dân bị thơng, 2 chiến sỹ vệ quốc quân hy sinh" [2.51].
Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc sạch bóng quân thù đi lênxây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu phơng lớn cho tiền tuyến miền Nam Trongkhông khí tng bừng đó, nhân dân thị xã Vinh trở về bắt tay xây dựng lại quê h-
ơng Mời năm sống trong hoà bình (1954 - 1964), Đảng bộ và nhân dân thị xãkhông ngừng nỗ lực khôi phục, cải thiện kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa, bớc
đầu xây dựng cơ sở vật chất xã hội chủ nghĩa và đã đạt đợc những thành tựu đángmừng Từ một đô thị đổ nát sau chiến tranh, Vinh đã vơn dậy trở thành một đô thịcông nghiệp lớn của miền Bắc xã hội chủ nghĩa Với những thành tựu đã đạt đợctrên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, Bộ chính trị đã có nghị quyết nâng cấpthị xã Vinh lên Thành phố Ngày 10/10/1963, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết
định số 148 - CP thành lập Thành phố Vinh Và, Vinh trở thành một trong nămthành phố công nghiệp lớn nhất miền Bắc lúc bấy giờ
Vinh cha kịp hân hoan, vui mừng thì tháng 8/1964 Mỹ - Ngụy tiến hànhchiến tranh phá hoại lần thứ nhất bằng không quân, hải quân đối với miền Bắc,Thành phố Vinh trở thành một trong những trọng điểm bắn phá ác liệt, dữ dội của
Mỹ - Ngụy Từ năm 1964 đến cuối năm 1972 không biết bao nhiêu tấn bom đạn
đổ xuống Thành phố Vinh Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và tay sai
đã gây nên không biết bao nhiêu tội ác cho nhân dân Vinh - Bến Thuỷ, hàng nghìnngời dân vô tội thiệt mạng, những thành quả mà nhân dân Vinh dành đợc trong 10năm xây dựng chủ nghĩa xã hội đã trở thành một đống gạch ngổn ngang
Từ đổ nát hoang tàn do chiến tranh để lại, Đảng bộ và nhân dân thành phốlại bắt tay xây dựng Thành phố Vinh "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" nh lời Bácdặn Từ năm 1974, với sự quan tâm của Trung ơng Đảng, Thành phố Vinh đợcquy hoạch lại, phố phờng tiếp tục mọc lên, các cơ quan trung ơng, tỉnh, thànhphố, phờng, xã gấp rút đợc xây dựng trong nhịp điệu chung của công cuộc xâydựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Thành phố Vinh cuối thế kỷ XX, phát triển cả về quy mô, diện tích, khônggian đô thị, nhất là trong 20 năm sau đổi mới Nhà cửa, phố xá hiện đại mọc lênsan sát Đờng giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, bệnh viên, trờng học, khách
Trang 12sạn, công viên tiếp nối nhau ra đời Một thành phố dịch vụ - công nghiệp hiện
đại đã và đang đợc hình thành Ngày 13/8/1993 Thủ tớng Chính phủ ký Quyết
định số 10 404 TTg, xếp Vinh là đô thị loại II, trong tổng số 8 đô thị loại II của cảnớc Ngày 23/1/1998, Thủ tớng Chính phủ ký Quyết định số 10/1998/QĐ - TTg,phê duyệt định hớng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam, đến năm 2020xếp Vinh là đô thị cấp vùng của Bắc Trung Bộ Từ đó đến nay, tốc độ xây dựng hạtầng cơ sở, phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế trên địa bàn Thành phốVinh tăng lên với tốc độ nhanh chóng Vinh thực sự là trung tâm kinh tế - chính trị,văn hoá- xã hội của tỉnh Nghệ An, góp phần to lớn trong việc thúc đẩy sự tăng tr-ởng kinh tế văn hoá - khoa học kỷ thuật của cả tỉnh
1.2 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội thành phố Vinh trớc năm 1986.
1.2.1 Về kinh tế:
Ngay sau hiệp định Pari, Thành phố Vinh đã bắt tay vào công cuộc hàngắn vết thơng chiến tranh khôi phục kinh tế Năm 1976, khi cả nớc bắt tay thựchiện kế hoạch 5 năm (1976 - 1980) thì Vinh đã có những khởi sắc
* Sản xuất nông nghiệp:
Thực hiện kế hoạch 5 năm (1976 - 1980), nền kinh tế nông nghiệp nớc ta
có bớc tăng trởng, khắc phục đợc phần nào hậu quả mà chiến tranh và thiên taigây ra Tuy nhiên, do những sai lầm về đờng lối kinh tế nói chung và đờng lốiphát triển nông nghiệp nói riêng ở nớc ta trong giai đoạn 1976 - 1980, vai trò củanông nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân không đợc đánh giá đúng mức.Việc tập trung hoá cao độ ruộng đất và t liệu sản xuất, nóng vội xoá bỏ các thànhphần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, quản lý theo mệnh lệnh từ trên xuống, phânphối theo kiểu bình quân không kích thích đợc tinh thần lao động của xã viên,cha xây dựng đợc một quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lựclợng sản xuất Do đó đề ra bớc đi, tốc độ phát triển quá cao, tiến nhanh, tiếnmạnh lên chủ nghĩa xã hội trong khi điều kiện thực tế đất nớc cha cho phép Biểuhiện rõ trong nông nghiệp là việc đa ồ ạt quy mô hợp tác xã lên cấp xã trong khicấp thôn cha quản lý đợc Cơ chế quản lý trong hợp tác xã nông nghiệp là tậptrung quan liêu bao cấp, hợp tác xã nắm trong tay mọi mặt từ ruộng đất, phânbón, dụng cụ sản xuất, trâu bò còn ngời nông dân không đợc làm chủ t liệu sảnxuất Ngời lao động đợc giao nghĩa vụ ngày công, đi làm đợc tính bằng công điểm,
Trang 13phân phối theo kết quả lao động, trong khi đó ý thức làm chủ tập thể kém Những
điều trên đã dẫn tới hiện tợng "cha chung không ai khóc", "ăn thật làm giả", thiếutrách nhiệm đối với công việc bảo quản t liệu sản xuất, rất nhiều tài sản của hợptác xã bị h hỏng, mất mát, bớt xén Tình trạng làm dối làm ẩu, "rong công phóng
điểm" diễn ra tràn lan, lao động đi làm chỉ nhằm mục đích lấy công điểm khôngquan tâm đến chất lợng công việc Tình trạng ấy đã làm cho nền kinh tế nớc ta
đặc biệt là nông nghiệp giảm sút nghiêm trọng
Thành phố Vinh cũng không năm ngoài tình trạng ấy, năm 1980, sản lợnglơng thực quy thóc chỉ đạt 4.850 tấn, trong khi đó sản lợng lơng thực quy thócnăm 1975 là 5.245 tấn, tức giảm 7,6 % Năng suất lúa năm 1980 là 13,30 tạ/hagiảm so với 14,96 tạ/ha của năm 1975 Lơng thực bình quân theo đầu ngời giảm
từ 220 kg/ngời (1975) xuống còn 206 kg/ngời (1980) Đàn trâu tập thể giao chogia đình nuôi, đi làm theo sự điều động của đội trởng, làm nhiều ăn ít, nên số l-ợng giảm dần từ 3.240 con (1975) xuống còn 2.450 con (1980) tức giảm 24,4
%
Trớc tình hình khó khăn chung của đất nớc, Trung ơng Đảng đã đa ranhiều chủ trơng chính sách mới nhằm cải thiện tình hình kinh tế - xã hội đó là:Chỉ thị 100 - CT/TW (13/1/1981) của Ban bí th Trung ơng Đảng, Nghị quyết của
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982)
Nội dung cơ bản của Chỉ thị 100 - CT/TW của Ban bí th Trung ơng Đảnglà:
Thứ nhất: thực hiện cải tiến chế độ khoán, mở rộng "khoán sản phẩm đếnnhóm và ngời lao động" (gọi tắt là khoán sản phẩm) nhằm bảo đảm phát triển sảnxuất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở lôi kéo mọi ngời hăng hái lao động,kích thích năng suất lao động, sử dụng tốt đất đai và các cơ sở vật chất kỷ thuậthiện có, áp dụng khoa học kỷ thuật, tiết kiệm chi phí sản xuất, củng cố và tăng c-ờng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, không ngừng nâng cao thu nhập, tăngtích luỹ của hợp tác xã
Thứ hai: phát triển "hình thức đội sản xuất khoán việc cho nhóm lao động
và ngời lao động" (gọi tắt là khoán việc) nhằm ràng buộc trách nhiệm và quyềnlợi của xã viên đối với công việc đợc giao khoán đến sản phẩm cuối cùng, nhằmnâng cao chất lợng công việc, chất lợng sản phẩm
Trang 14Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982), nông nghiệp đợc đa lên
"mặt trận hàng đầu" Đảng ta chỉ rõ: "cần tập trung phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đa nông nghiệp lên một bớc sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, kết hợp nông nghiệp, công nghiệp và hàng tiêu dùng trong một cơ cấu kinh
đai, độ phì nhiêu của đất, năng suất mà định mức khoán Nhng phải dân chủ bànbạc, thảo luận với xã viên, đội sản xuất
Khoán 100 ra đời hợp với tâm t, nguyện vọng của ngời dân lao động, nó
nh "chất men" mới kích thích sản xuất nông nghiệp Nó đã tạo nên động lực mới,phát huy đợc tinh thần làm chủ, khơi dậy đợc tính tích cực tự giác trong sản xuấtcủa ngời lao động, mạnh dạn áp dụng những tiến bộ khoa học kỷ thuật mới vàosản xuất, đầu t giống, phân bón, vốn để đạt năng suất cao nhất trên diện tích đ-
ợc khoán
Ngay sau khi nhận khoán, không khí lao động diễn sôi nổi ra trên khắp các
đồng ruộng, không còn tình trạng đi muộn về sớm, làm dối làm ẩu, lãng phí củacông, lấy cắp của tập thể Tình trạng "rong công phóng điểm" bớc đầu đợc xoá
bỏ Cơ chế khoán mới đã góp phần thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, chặn
đứng thời kỳ sa sút trì trệ, đa sản xuất nông nghiệp có bớc phát triển cả về cơ cấulẫn nhịp độ sản xuất Việc đầu t xây dựng cơ sở vật chất, việc ứng dụng khoa họcvào sản xuất trong các hợp tác xã đợc đẩy mạnh và trở thành phong trào Sản l-ợng lơng thực, năng suất lao động tăng lên:
Bảng 1: Tình hình sản xuất cây Lúa của TP Vinh trớc năm 1986
Trang 15Năng suất (ta/ha) 13,4 14,7 12,9 16,3 19,0
SL lơng thực (tấn) 4329 3665 3662 4564 5225
Nguồn [113,5]Nhìn vào bảng trên ta thấy: diện tích trồng lúa của Thành phố Vinh giảm
rõ rệt từ 3.224 ha (năm 1981) xuống còn 2.746 ha (1985), tuy nhiên năng suất vàsản lợng lại tăng Năng suất từ 13,4 ta/ha năm 1981 tăng lên 19,0 tạ/ha năm
1985 Sản lợng lơng thực từ 4.329 tấn năm 1981 tăng lên 5.225 tấn năm 1985
Nh vậy, sau nhiều năm trì trệ, với chính sách khoán mới đợc thực hiện cùng sựchỉ đạo sát sao của Thành uỷ, Uỷ Ban nhân dân thành phố, sản xuất nông nghiệpcủa thành phố có bớc tiến rõ rệt Có đợc thành quả đó là do các xã, phờng, các
đoàn thể quần chúng phát động thi đua lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm,thâm canh vợt khoán Đây chính là điểm khởi sắc về kinh tế của Thành phố Vinhtrong thời kỳ trớc đổi mới
Bên cạnh cây Lúa, các loại cây lơng thực, cây công nghiệp khác cũng có
b-ớc tăng trởng đáng kể, trong đó phải nói đến cây Lạc Từ năm 1981 trở đi diệntích cây Lạc phát triển nhanh chóng, từ 30 ha năm 1981 đã tăng lên 256 ha năm
1985 Với sự phát triển nhanh chóng của diện tích, năng suất cây Lạc cũng khôngngừng tăng lên từ 6,6 tạ/ha năm 1981 lên 13,0 tạ/ha năm 1984 Bên cạnh đó sảnlợng cây Lạc cũng có bớc phát triển từ 16 tấn năm 1981 lên 201 tấn năm 1985.Ngoài ra các loại cây khác nh cây Khoai Lang, cây Ngô, các loại Rau cũng cónhững bớc tiến bộ nhng cũng không đáng kể
Trồng trọt ổn định đã thúc đẩy chăn nuôi phát triển Ngành chăn nuôitrong thời gian này cũng thực hiện theo cơ chế khoán nên đàn gia súc phát triểntheo hớng gia đình, đồng thời cũng tập trung vào chăn nuôi Lợn là chủ yếu Chănnuôi theo hớng tập thể giảm sút nghiêm trọng, không mang lại hiệu quả kinh tếnên từng bớc bị phá sản Trong khi đó chăn nuôi ở hộ gia đình ngày càng có triểnvọng, mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao Cụ thể là:
Bảng 2: Tình hình chăn nuôi của Thành phố Vinh trớc năm 1986
Trang 161985 1.772 1.186 18.635 65.100
Nguồn [113,7]Nhìn vào bảng trên ta thấy, chăn nuôi có bớc phát triển đặc biệt là đànLợn, từ 15.715 con năm 1981 tăng lên 18.635 con năm 1985 tăng 18% ĐànTrâu, Bò cũng có bớc phát triển do chính sách khoán tới hộ gia đình, do đợc sựquan tâm của các hộ nuôi để sinh sản nhằm tận dụng sức kéo
Những kết quả trên cho thấy, trên lĩnh vực nông nghiệp, Thành phố Vinh
đã thu đợc một số kết quả khả quan Sự phát triển đó là những nỗ lực cố gắng của
bà con xã viên cũng nh Đảng bộ thành phố trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm
1981 - 1985 Tuy nhiên, trên địa bàn thành phố đời sống của ngời dân vẫn khổcực, có nhiều hộ dân ở Hng Lộc, Vinh Tân, Hng Hoà cha đủ ăn, nhiều hộ nôngdân phải thả ruộng đi chạy chợ, buôn bán, làm thuê khắp nơi
* Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Sau chiến tranh cùng với không khí sôi động xây dựng lại thành phố, ngànhcông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp sau những năm sơ tán để sản xuất và bảo đảmlực lợng cũng bắt đầu trở về xây dựng lại cơ sở vật chất kỷ thuật để tiến hành sảnxuất Từ năm 1976 cho đến trớc Đại hội đổi mới, cùng với sự khôi phục, phát triểnkinh tế - xã hội của thành phố, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũngtừng bớc đợc khôi phục và phát triển Trong 10 năm 1976 - 1985, ngành côngnghiệp và tiểu thủ công nghiệp có thể đợc chia thành 3 giai đoạn phát triển
Giai đoạn 1: từ năm 1976 - 1979 Trong giai đoạn này, ngành công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp phát triển sản xuất trong điều kiện đợc nhà nớc bao cấp
Do đất nớc vừa thoát khỏi chiến tranh, t tởng con ngời hoàn toàn đợc giải phóng,sản xuất xây dựng trong độc lập tự do đã kích thích ngời dân hăng say lao động.Chính vì vậy giá trị tổng sản lợng của công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăngnhanh Cụ thể: về công nghiệp:
Trang 17Bảng 3: Giá trị tổng sản lợng công nghiệp của thành phố Vinh từ năm
1976 - 1979:
Đơn vị tính: 1000 đồng
Năm Tổng số
Chia ra Nhà nớc Tập thể Cá thể và kinh tế gia đình
so với nhóm A tăng từ 55,5% (năm 1976) lên 68,4% năm 1979 [70, 66] Điều này
phản ánh nhu cầu phát triển hàng tiêu dùng của thành phố ngày càng cao
Giai đoạn 2: từ năm 1980 - 1982, đây là giai đoạn công nghiệp và tiểu thủcông nghiệp Thành phố Vinh phát triển sản xuất trong điều kiện bớc đầu xoá bỏmột phần bao cấp Trong giai đoạn này hoà chung với những khó khăn của cả nớc
nh sự biến động về giá cả, khó khăn gay gắt về năng lợng, vật t, nguyên liệu hơn nữa nhiều hợp tác xã không tự hạch toán kinh tế độc lập đợc khi nhà nớc xoá
bỏ bao cấp cho nên phong trào sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cóbớc thụt lùi đáng kể Trong ba năm từ 1980 - 1982, giá trị tổng sản lợng từ25.593 triệu đồng (1979) tụt xuống còn 17,5 triệu đồng năm 1982 tức giảm gần30% so với năm cao nhất Nhiều ngành hàng giảm sút nh kim khí, sứ, thuỷ tinh,
da, nhựa Lao động trong hợp tác xã giảm xuống rất nhanh, nhiều cơ sở chỉ còn
Trang 18từ 1/2 đến 1/3 lao động tiếp tục sản xuất, hầu hết bỏ hợp tác xã đi buôn bán, làmngoài nhất là trong các nghề nặng nhọc và độc hại Sản xuất kinh doanh giảm sútmột đồng vốn cố định bỏ ra chỉ làm ra 1,5 đồng giá trị.
Giai đoạn 3: từ 1982 - 1985: đứng trớc những khó khăn đó, Thành uỷ Vinh
đã quán triệt tinh thần chỉ đạo của Trung ơng Đảng, đặc biệt là Chỉ thị 100 CT/TW và nghị quyết của đại hội V, Đảng bộ Thành phố Vinh đã mở đại hội
-Đảng bộ thành phố lần thứ XV (từ ngày 2 đến ngày 7/5/1983), đại hội đã đề ramục tiêu "Tập trung sức đẩy mạnh sản xuất tiêu dùng là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, tạo một số chuyển biến về nông nghiệp ngoại thành, về giải quyết việc làm cho ngời lao động, tiếp tục thực hiện đẩy mạnh phong trào thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng hợp lý mọi nguồn vật t, nguyên liệu, năng lợng, tiền vốn để làm ra nhiều của cải với giá thành hợp lý, chất lợng tốt "[3,161].
Dới ánh sáng của đại hội XV của Đảng bộ thành phố, nền kinh tế của Thànhphố Vinh, đặc biệt là công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có bớc phát triển
Về sản xuất kinh doanh: qua việc phân tích số liệu thống kê từ năm 1982
-1985 cho thấy giá trị tổng sản lợng hàng năm tăng từ 20% đến 35%, tỷ trọnghàng nhóm B tăng nhanh so với nhóm A Cụ thể là:
Bảng 4: Giá trị tổng sản lợng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp từ
Về năng suất lao động, chất lợng và giá thành sản phẩm cũng có tiến bộ rõrệt Các mặt hàng nh da, nhựa, sứ, thuỷ tinh, phụ tùng xe đạp có chất lợng tốthơn, năng suất đợc nâng lên rõ rệt Bởi từ bao cấp bớc sang hạch toán kinh doanhxã hội chủ nghĩa thì năng suất và giá thành là hai yếu tố sống còn của sản xuất,
Trang 19đây cũng là những yếu tố mà Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân yêu cầu các hợp tác xã
đặt ra trong khoán sản phẩm Bên cạnh những mặt hàng cũ, đã xuất hiện các mặthàng mới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nh: bột nhẹ, chai nớc ngọt, potilen, vải giả
da, suốt giấy, khung dệt, máy xe cói, máy tuốt lúa, máy dập đinh, gạch ngói, phụtùng xe đạp, mộc dân dụng
Do đạt đợc nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc khôi phục và phát triểnkinh tế, nhiều cá nhân, hợp tác xã nhận đợc những phần thởng cao quý của Đảng
và Nhà nớc Năm 1983, hợp tác xã 5/8 đợc tặng thởng Huân Chơng lao độnghạng 2, Năm 1984 hợp tác xã Trung Đô đợc tặng thởng Huân Chơng lao độnghạng 2, nhiều đơn vị đợc suy tôn là lá cờ đầu của ngành hàng cấp tỉnh, cấp thànhphố, bốn cán bộ cơ sở đạt danh hiệu thi đua (Đặng Minh Thuần, Võ Hồng Đức,Trần Văn Triều, Nguyễn Thị Thu Phong)
* Thơng nghiệp và dịch vụ.
Hoạt động thơng nghiệp và dịch vụ của Thành phố Vinh trớc những năm
đổi mới cũng có bớc tiến bộ Ngành thơng nghiệp đã có nhiều cố gắng lớn, chủ
động khai thác nguồn hàng, mở rộng liên kết kinh tế, khai thác nguồn hàng khanhiếm phục vụ sản xuất, đời sống và tiêu dùng góp phần quản lý thị trờng, quản lýgiá cả Ngoài các công ty thơng nghiệp, các hợp tác xã mua bán cũng rất pháttriển đạt đợc nhiều thành tựu
Về thu mua, nắm nguồn hàng, giao hàng uỷ thác cho mậu dịch quốc doanh
đã có nhiều cố gắng, các cơ sở mua bán ở phờng xã đã chủ động phân công cán
bộ bám các chợ, đồng thời có sự phối hợp với các ngành công an, thuế vụ, quản
lý thị trờng, quản lý chợ Vinh để hỗ trợ cho công tác thu mua nông sản, thựcphẩm Năm 1984, đã có nhiều phờng xã thực hiện rất tốt nhiệm vụ thu mua uỷthác cho nhà nớc: Hng Lộc (đạt 190% so với kế hoạch), Hng Dũng (đạt 128% sovới kế hoạch), Hà Huy Tập (đạt 126% so với kế hoạch)
Việc đẩy mạnh mở rộng kinh doanh tổ khai thác tự doanh cũng có nhiềutiến bộ, nhiệm vụ này rất đợc coi trọng bởi nó mang tính chất sống còn của hợptác xã mua bán Do vậy, trong năm 1984 trong thành phố nhiều phờng xã đạt đợckết quả cao trong lĩnh vực này: Bến Thuỷ (đạt 281% so với kế hoạch), Hà HuyTập (đạt 279% so với kế hoạch), Trơng Thi (đạt 260% so với kế hoạch) Nhữngthành quả đó của các phờng xã đã đa tổng giá trị hàng tự doanh của toàn thành
Trang 20phố năm 1984 đạt 88.700.000 đồng bằng 172% so với kế hoạch và bằng 160% sovới năm 1983 [74, 48].
Quán triệt tinh thần các nghị quyết của Trung ơng, của tỉnh, của thành,ngành thơng nghiệp - dịch vụ đã tập trung sản xuất phục vụ nông nghiệp Cácloại dụng cụ nh cuốc xẻng, lỡi cày, quang gánh, các loại dao, bột thức ăn giasúc đợc sản xuất ngày một nhiều Ngoài ra, các hợp tác xã mua bán còn phục
vụ các loại nguyên liệu, phụ liệu cho kinh tế gia đình, kinh tế đờng phố phát triểnnh: bột sản xuất miến dong, bột làm kem, cát sỏi, phế liệu phế phẩm
Song song với nhiệm vụ sản xuất phục vụ nông nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp, các cơ sở mua bán ở các phờng xã cũng tổ chức sản xuất cà muối, làm t-
ơng, nấu nớc mắm, làm đá lạnh, nung vôi, nuôi cá, làm xà phòng để phục vụcho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của ngời dân thành phố
Bên cạnh những mặt hàng trên, ngành thơng nghiệp và dịch vụ của Thànhphố Vinh còn kinh doanh các mặt hàng tơi sống, thực phẩm phục vụ cho nhu cầu
đời sống của nhân dân thành phố nh: hoa quả củ, hành củ, miến dong, rợu chai,
mỳ chính, bát đĩa sứ, thịt trâu, thịt bò, thịt lợn, dầu hoả, vải, quần áo may sẵn, nilông
Hoạt động của ngành ngân hàng ngày càng đợc củng cố Huy động tiếtkiệm, mua công trái xây dựng Tổ Quốc đợc tiến hành thờng xuyên Năm 1985,thực hiện Nghị quyết VIII của Trung ơng và Nghị quyết 28 của Bộ chính Trị,Tỉnh uỷ, Thành uỷ đã có chủ trơng, biện pháp khẩn trơng thực hiện ba việc lớn đó
là đổi tiền, thực hiện hệ thống giá mới và hệ thống lơng mới một cách chặt chẽ vànghiêm túc
* Giao thông vận tải và xây dựng cơ bản.
Giao thông vận tải và xây dựng cơ bản đợc Tỉnh uỷ, Thành uỷ hết sức quantâm Trong xây dựng cơ bản, tổng số vốn đầu t không ngừng tăng lên từ 35,4triệu năm 1980 lên 66,7 triệu năm 1983 và 105 triệu năm 1985 Thành phố đã
đầu t vốn, hàng ngàn ngày công để xây dựng các công trình thuỷ lợi, các côngtrình phúc lợi nh nhà trẻ, bệnh viện Cụ thể trong 5 năm từ 1981 - 1985 thànhphố đã huy động 1,3 triệu ngày công trong đó làm thuỷ lợi là 431.000 ngày,nhiều trục đờng cầu cống đợc tu sửa và làm mới
Trang 21Về giao thông vận tải, khối lợng vận chuyển hàng hoá ngày càng nhiều.Năm 1981, ngành giao thông vận tải Thành phố Vinh vận chuyển hơn 112,3 ngàntấn hàng hoá, đến năm 1985 đã tăng lên 140,0 ngàn tấn
Có đợc những thành quả trên là do tinh thần lao động hăng say của nhândân toàn thành phố cũng nh sự chỉ đạo có hiệu quả của các cấp uỷ Đảng, chínhquyền và các đoàn thể các cấp
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, nền kinh tế của Thành phố Vinhcũng còn bộc lộ nhiều hạn chế yếu kém:
Nông nghiệp phát triển cha đều, năng suất lúa cha thật ổn định Sản xuấtnông nghiệp còn trong tình trạng mất cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữalúa và màu trình độ thâm canh thấp, cha có sự đồng đều giữa các hợp tác xã vìthế năng suất chung còn hạn chế Công tác thú y phòng dịch còn kém dẫn đếnchăn nuôi phát triển chậm
Các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển cha tơng xứngvới thế mạnh của thành phố Công nghiệp cha có quy hoạch và phơng hớng pháttriển Công tác quản lý bị buông lỏng, sản phẩm làm ra kém chất lợng, mặt hàngcòn nhỏ lẻ, manh mún, khả năng cạnh tranh cha cao cho nên không tìm đợc thịtrờng tiêu thụ Vì vậy, tổng giá trị công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn thấp.Trong khi đó đồng tiền lạm phát, giá cả leo thang với tốc độ chóng mặt thì sựtăng trởng thấp của giá trị sản lợng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp bị coi làbớc thụt lùi Các xí nghiệp công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đứng trớc nhữngkhó khăn khủng hoảng nghiêm trọng
Trên lĩnh vực phân phối còn ứ đọng các sản phẩm của hợp tác xã Công tácquản lý thị trờng buông lỏng, tệ cửa quyền, đặc quyền đặc lợi trong ngành thơngnghiệp, vật t, lơng thực ngày càng phát triển Tệ tham ô lợi dụng do chế độ 2 giá, 3giá và do trợt giá ngày càng phổ biến Tệ mua vét hàng hoá đầu cơ phát triển, các
xí nghiệp, công ty và t nhân đều đầu cơ và hởng chênh lệch giá, ngời tiêu dùngphải chịu nhiều phiền hà tiêu cực Cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp, bao giá quaxuất khẩu và phân phối tem phiếu làm cho chế độ hạch toán không chính xác Vốncho vay của ngân hàng luôn luôn không đáp ứng đợc yêu cầu vay vốn của ngờidân để mở mang sản xuất, tiền mặt cha đợc quản lý chặt chẽ
Trang 22Hệ thống dịch vụ vật t phục vụ nông nghiệp còn yếu kém, không đủ cácchủng loại thiết yếu Trong khi chính sách khoán mới phần nào khuyến khích đợcsản xuất thì hệ thống dịch vụ lại không có sự thay đổi kịp cho phù hợp nên đã
ảnh hởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất
Công tác giao thông vận tải và xây dựng cơ bản của một số công trình thicông kéo dài, chậm phát huy tác dụng và còn lãng phí Công trình cần kíp thì cha
đợc thực hiện, các công trình cha thực sự cần thiết lại đợc chú trọng Năng lựcvận tải còn thấp hơn nhiều so với yêu cầu vận chuyển của hàng hoá vật t, chất l-ợng các trục đờng, cầu cống phục vụ cho giao thông còn kém
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là: thời tiết diễn biến phức tạp, cơ cấukinh tế của Thành phố Vinh còn cha hợp lý Việc ứng dụng khoa học kỷ thuật vàosản xuất còn hạn chế Việc ứng dụng máy móc vào sản xuất nông nghiệp cha đợcchú trọng Ngành công nghiệp chủ yếu là gia công, phụ thuộc vào nguyên liệu vànăng lợng bên ngoài, nguyên liệu địa phơng cha có gì đáng kể
Do các cấp uỷ quán triệt đờng lối chủ trơng chính sách của Đảng cha thực
sự sâu sát, phong cách lãnh đạo các cấp uỷ còn chung chung, thiếu sâu sát, chatập trung sức khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ Việc tổ chức thựchiện của các cấp chính quyền cha kịp thời, nhiều việc giải quyết cha triệt để,thiếu kiên quyết Việc động viên quần chúng phát huy quyền làm chủ tập thể, tổchức đời sống, sản xuất cho nhân dân còn nhiều hạn chế
Do Chỉ thị 100 CT/TW đến đây đã bộc lộ những hạn chế, lỗi thời, nhữngnguyên tắc nêu trong Chỉ thị 100 còn cứng nhắc, cơ chế quản lý về cơ bản là cơchế bao cấp, phân phối theo công điểm Cơ chế khoán mới đợc thực hiện trên cơ
sở duy trì chế độ sở hữu tập thể về t liệu sản xuất và cơ chế quản lý cũ Hợp tácxã vẫn là đơn vị sản xuất, kinh doanh chủ yếu Ngời nhận khoán phải tuân theo
kế hoạch sản xuất, quy trình kỷ thuật và định mức chi phí của hợp tác xã, trongkhi đó giá cả luôn biến động, do vậy một số chính sách khuyến khích thu muacha thực sự là đòn bẩy động viên ngời sản xuất
Nh vậy, đến lúc này, mô hình kinh tế tập thể, quan liêu, bao cấp đã bộc lộnhững yếu kém bất cập nghiêm trọng, gây ra hậu quả to lớn đến toàn bộ nền kinh
tế - xã hội Muốn đa đất nớc phát triển tiến bộ yêu cầu bức thiết đợc đặt ra đó làphải đổi mới kinh tế, đổi mới t duy
Trang 231.2.2 Về xã hội:
Trong những năm trớc đổi mới, Thành phố Vinh cũng đạt đợc những thànhtựu trong lĩnh vực xã hội
* Ngành giáo dục - đào tạo.
Là địa phơng có truyền thống hiếu học, mặc dù tình hình kinh tế có nhiềukhó khăn, nhng Đảng bộ vẫn hết sức quan tâm tới sự nghiệp phát triển giáo dục.Tổng số trờng, lớp, giáo viên, học sinh không ngừng tăng lên Cụ thể:
Bảng 5: Tình hình phát triển giáo dục của thành phố Vinh Từ 1980 - 1985 Năm Trờng phổ
thông
Tổng số lớp
Tổng số giáo viên
Tổng số học sinh
* Ngành Y tế
Với quan niệm sức khoẻ là vốn quý nhất của con ngời nên công tác bảo vệ
và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân đợc các cấp uỷ hết sức quan tâm Phong trào
ăn ở hợp vệ sinh, phòng chống dịch bệnh đợc các sở y tế thờng xuyên kiểm tra,theo dõi Bên cạnh những bệnh viện của tỉnh, thành phố, các trạm xá ở các xã,phờng cũng có đóng góp không nhỏ trong công tác chăm sóc bảo vệ sức khoẻcho nhân dân Tổng số giờng bệnh đợc tăng lên đáng kể để đảm bảo cho nhu cầukhám chữa bệnh thông thờng: từ 1.100 giờng năm 1981 lên 1.308 giờng năm
1985 Tổng số y bác sỹ cũng đợc tăng cờng từ 332 ngời (1981) lên 452 ngời(1985) Các biện pháp kế hoạch hoá gia đình đợc chỉ đạo thờng xuyên Đảng bộlãnh đạo các cấp các ngành tuyên truyền sâu rộng chính sách dân số, sinh đẻ có
kế hoạch, bớc đầu đã hạ tỷ lệ sinh đẻ tự nhiên từ 2,2% (1981) xuống còn 1,8%(1985)
Trang 24* Văn hoá - Thể dục thể thao.
Công tác văn hoá văn nghệ quần chúng, thông tin đại chúng, thể dục thểthao cũng đợc tăng cờng Các đội thông tin tuyên truyền, đội văn nghệ nghiệp d,rạp chiếu bóng, bãi chiếu bóng đợc chú ý phát triển để phục vụ đời sống tinh thầncho nhân dân Nhờ vậy, trong thành phố có nhiều gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá
Công tác an ninh chính trị đợc giữ vững, quốc phòng đợc củng cố và tăngcờng Các lực lợng vũ trang nhân dân, dân quân tự vệ, lực lợng chính trị độngviên thờng xuyên đợc cũng cố và phát triển Luật nghĩa vụ quân sự đợc thực hiệntốt, số lợng và chất lợng tuyển quân hằng năm đều đợc đảm bảo Tuy nhiên, đâycũng là thời kỳ trên địa bàn thành phố diễn ra nhiều tệ nạn nh cớp giật, lừa đảo,móc túi nhất là ở các ga tàu, bến xe, "tam giá quỷ" Cho nên để ổn định tìnhhình, đem lại đời sống an toàn hơn cho ngời dân, yêu cầu phải có một cơ chếchính sách mới
Tuy đạt đợc thành tựu nh vậy nhng trong xã hội vẫn còn tồn tại nhiều hạnchế, vớng mắc:
Nhìn chung tình hình xã hội vẫn còn tồn tại nhiều mặt yếu kém, đời sốngvật chất còn thấp, số hộ nghèo vần chiếm tỷ lệ khá cao Nhiều hộ dân trong cácphờng xã cha đợc dùng điện, số nhà tranh tre nứa lá vẫn còn nhiều
Do điều kiện khó khăn nên tình trạng bỏ lớp, bỏ trờng vẫn còn phổ biến
Số học sinh học trung học cơ sở nhiều nhng số lợng đó lên học ở trung học phổthông rất thấp Nhiều giáo viên do cuộc sống khó khăn nên không chú trọng đếnchất lợng đào tạo vì thế chất lợng giáo dục trong thời kỳ này còn có những mặtyếu kém
Do trang thiết bị lạc hậu, cũ kĩ cho nên ngành y tế cũng còn nhiều bất cập.Thuốc không đủ phục vụ cho nhân dân, trình độ cán bộ của các cơ sở y tế cònnhiều hạn chế, phong cách phục vụ quan liêu gây nhiều khó khăn cho ngời bệnh Bệnh viện, các cơ sở y tế chỉ điều trị đợc các bệnh thông thờng, các ca bệnh nặngphải chuyển lên tuyến trên
Văn hoá thể dục thể thao cha đáp ứng nhu cầu của nhân dân Và, đây cũng
là thời kỳ trên địa bàn thành phố diễn ra nhiều tệ nạn nh cớp giật, lừa đảo, móctúi nhất là ở các ga tàu, bến xe, "tam giá quỷ" Cho nên để ổn định tình hình,
Trang 25đem lại đời sống an toàn hơn cho ngời dân, yêu cầu phải có một cơ chế chínhsách mới.
Trên đây là bức tranh toàn cảnh kinh tế - văn hoá - xã hội - giáo dục của
thành phố Vinh trớc thời kỳ đổi mới Mặc dù đã đạt đợc những tiến bộ, thànhcông so với thời kỳ trớc đó Nhng trong bản thân nó còn tồn tại những thiếu sót,bất cập, những yếu kém, lạc hậu
Nông nghiệp không phát triển, năng suất lao động thấp, đời sống của nôngdân gặp khó khăn, nhiều hộ nông dân phải rời bỏ đồng ruộng hoặc chuyển sangnghề khác
Trên lĩnh vực thơng nghiệp, hàng hoá khan hiếm, mậu dịch quốc doanhkhông thực hiện tốt chức năng là kệnh phân phối hàng hoá cho nhân dân thànhphố, thái độ làm việc của các nhân viên hách dịch, coi thờng ngời dân
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp thì nhiều hợp tác xã phải giải thể,công nhân ít việc làm, lơng thấp, nhiều nhà máy phải đóng cửa Sản phẩm hànghoá kém chất lợng, đầu ra cho sản phẩm gặp nhiều khó khăn
Tình hình đó của thành phố Vinh cũng giống nh tình hình của nhiều tỉnh,thành phố trên cả nớc trong giai đoạn gay go đầy thử thách trong công cuộc khôiphục và xây dựng nền kinh tế mới của đất nớc Thực tế đó đòi hỏi Đảng và nhà n-
ớc phải có một quyết sách mới, một tầm nhìn chiến lợc để đa đất nớc thoát khỏinhững khó khăn là điều hết sức cần thiết và cấp bách
Trang 26Trong hơn một thập niên, trải qua hai nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc
IV và V (1976 - 1986), Đảng và nhân dân ta vừa triển khai vừa tìm tòi thửnghiệm con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội Trong quá trình đó, cách mạng xã hộichủ nghĩa ở nớc ta đã đạt đợc những thành tựu và tiến bộ đáng kể trên các lĩnhvực của đời sống xã hội, song cũng gặp không ít khó khăn yếu kém Khó khăncủa ta trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng làm cho đất nớc từ cuốinhững năm 70 đầu những năm 80 lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng,gay gắt nhất là từ giữa những năm 80 Sản xuất trì trệ, nạn thiếu lơng thực diễn ratriền miên, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp do đợc nhà nớc bao cấpnên luôn ở tình trạng "lời giả lỗ thật", lạm phát lên tới mức ba con số, đời sốngcủa nhân dân giảm sút nghiêm trọng, không phát huy đợc đầy đủ tính chủ độngsáng tạo của quần chúng, không tạo đợc động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triểnnăng động của nền kinh tế - xã hội "Những sai lầm đó cùng với sự trì trệ trong công tác tổ chức cán bộ đã kìm hãm lực lợng sản xuất và triệt tiêu động lực phát triển" [102, 454].
Trong khi đó, tình hình thế giới đã có những biến đổi không ngừng Cuộccách mạng khoa học kỷ thuật đang diễn ra nh vũ bão, tạo thành bớc nhảy vọt củalực lợng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá các lực lợng sản xuất Trênthế giới nhiều trung tâm kinh tế mới đợc hình thành và không ngừng lớn mạnh ởkhu vực Châu á - Thái Bình Dơng cũng đang diễn ra những biến đổi quan trọng,các lực lợng cách mạng và hoà bình tiếp tục lớn mạnh, nền kinh tế khu vực tiếptục phát triển với tốc độ nhanh Liên Xô và các nớc Đông Âu đang đứng trớccuộc khủng hoảng do chậm thích nghi với cuộc cách mạng khoa học kỷ thuật
Đứng trớc những biến đổi to lớn của đất nớc, của thế giới, đồng thời đểkhắc phục những sai lầm, những khuyết điểm, đa đất nớc vợt qua cuộc khủnghoảng, đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên thì đổi mới làvấn đề có ý nghĩa sống còn đối với nớc ta, đồng thời là vấn đề phù hợp với xu thế
Trang 27của thời đại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam(12/1986) đã đáp ứng đợc yêu cầu lịch sử này, và là mốc quan trọng đánh dấu sựchuyển mình của đất nớc sang thời kỳ mới.
2.1.2 Đờng lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự vận dụng của Đảng bộ thành phố.
Với phơng châm "Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật" Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã đánh giá,
phân tích một cách sâu sắc những thành quả cũng nh những khuyết điểm, vạch rõnguyên nhân, đồng thời rút ra bài học về hành động phải phù hợp với quy luậtkhách quan Từ đó Đại hội xác định mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng trongthời kỳ đất nớc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội là: "Toàn Đảng toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lợng tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lợc: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" [13, 37] "Để thực hiện mục tiêu dân giàu nớc mạnh theo con đờng xã hội chủ nghĩa, điều quan trọng nhất là phải cải tiến căn bản tình trạng kinh tế - xã hội kém phát triển, chiến thắng những thế lực cản trở mục tiêu đó" [13, 316].
Với phơng châm đó, Đảng ta đã đề ra đờng lối đổi mới một cách toàn diện,
đồng bộ từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, t tởng mà trọng tâm là đổi mới kinh
tế Cần phải lu ý rằng, đổi mới đất nớc trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hộikhông phải là thay đổi mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà làm cho mục tiêu ấythực hiện có hiệu qủa bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội,những hình thức và bớc đi thích hợp hơn Đờng lối đổi mới kinh tế của Đảng thểhiện trên các lĩnh vực sau:
* Đổi mới cơ cấu kinh tế:
Muốn đa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối, phảisắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý Cụ thể: "Trong những năm còn lại của chặng đờng đầu tiên, trớc mắt trong kế hoạch 5 năm 1986 - 1990, phải thực sự tập trung sức ngời sức của vào việc thực hiện cho đợc ba mục tiêu
về lơng thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu" [13, 48] Để thực
hiện mục tiêu trên thì nông nghiệp phải là mặt trận hàng đầu Chính sách pháttriển nông nghiệp phải gắn kết chặt chẽ với chính sách và giải pháp phát triển các
Trang 28ngành, các lĩnh vực khác, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau tạo nên sự phát triển đồng
bộ đời sống kinh tế xã hội
Đối với công nghiệp nặng và xây dựng kết cấu hạ tầng: phải u tiên phát triểncông nghiệp năng lợng, công nghiệp sản xuất nguyên liệu, vật liệu Bên cạnh đócần phải cân nhắc lựa chọn cho phù hợp với điều kiện vốn, công nghệ, thị trờng vàphải gắn bó chặt chẽ với sự phát triển các ngành, các lĩnh vực khác nhau; về cơ sởhạ tầng phải chú trọng phát triển giao thông vận tải, thông tin liên lạc
Đối với công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, thủ công nghiệp phảikhai thác triệt để mọi nguồn nguyên liệu, tổ chức lại sản xuất, đầu t chiều sâu và
đầu t đồng bộ Các cơ sở sản xuất phải gắn chặt với thị trờng
* Đổi mới quan hệ sản xuất:
Yêu cầu đổi mới quan hệ sản xuất, các thành phần kinh tế lạc hậu kìm hãm
sự phát triển, cải tạo đi đôi với sử dụng và thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa theo từng bớc từ thấp tới cao, với sự đa dạng hình thức sở hữu về t liệu sảnxuất phải đợc coi là nhiệm vụ thờng xuyên, liên tục trong thời kỳ quá độ Yêucầu này xuất phát từ thực tế nớc ta và sự vận dụng quan điểm của Lênin coi cơcấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trng của thời kỳ quá độ Nền kinh tếnhiều thành phần gồm: kinh tế nhà nớc, kinh tế hợp tác, kinh tế t bản nhà nớc,kinh tế cá thể - tiểu chủ, kinh tế t bản t nhân, kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài Đểtạo nên sức mạnh cho nền kinh tế quốc dân, Đảng chủ trơng phát huy nền kinh tếnhiều thành phần đó dới sự quản lý, giám sát chặt chẽ của nhà nớc
* Đổi mới cơ chế quản lý:
Để tháo gỡ khó khăn, tạo ra động lực mới phải đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế với nội dung chủ yếu là xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Sửa đổi cácchính sách đòn bẩy kinh tế, hình thành cơ chế kế hoạch hoá theo phơng thứchạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Nóicách khác, muốn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nền kinh tếnhiều thành phần phải xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng đồng
bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo địnhhớng xã hội chủ nghĩa Thiết lập trật tự, kỷ cơng theo cơ chế mới vừa là nội dungvừa là điều kiện để nớc ta thoát khỏi khủng hoảng đi đến ổn định và phát triểnkinh tế - xã hội
Trang 29* Đổi mới quan hệ đối ngoại:
Trong hoàn cảnh thế giới ngày một phát triển, Đảng và Nhà nớc ta chủ
tr-ơng xây dựng một nền kinh tế mở, đa phtr-ơng hoá, đa dạng hoá với mọi quốc gia,mọi tổ chức kinh tế trên thế giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền,bình đẳng cùng có lợi Củng cố và tăng cờng vị trí ở các thị trờng quen thuộc vàvới các bạn hàng truyền thống, tích cực thâm nhập và tạo chỗ đứng ở các thị tr-ờng mới Phát triển các quan hệ sản xuất mới, tạo môi trờng hoà bình và những
điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh kinh tế - xã hội
Trên đây là những chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc Việt Nam đối vớicác ngành, các lĩnh vực trong sự nghiệp đổi mới kinh tế, đổi mới đất nớc Nhữngchủ trơng đờng lối này tiếp tục đợc hoàn thiện và phát triển qua các kỳ Đại hội
đại biểu toàn quốc VII, VIII, IX của Đảng Cộng sản Việt Nam Chủ trơng, đờnglối, quan điểm đổi mới của Đảng không chỉ dừng lại ở mặt nhận thức mà đã thực
sự đi vào cuộc sống, đợc nhân dân cả nớc hởng ứng, đón nhận, đem lại những kếtquả to lớn, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân trênkhắp cả nớc Nhân dân tỉnh Nghệ An nói chung, Thành phố Vinh nói riêng là mộttrong những địa phơng tích cực triển khai đờng lối mới của Đảng một cách cóhiệu quả, đã tạo nên những chuyển biến lớn, tích cực trong kinh tế, văn hoá, xãhội
Trên tinh thần nghị quyết Đại hội VI của ban chấp hành Trung ơng Đảng,
Đảng bộ tỉnh Nghệ An và Đảng bộ Thành phố Vinh đã nắm bắt kịp thời đờng lốimới của Đảng, căn cứ vào tình hình cụ thể của tỉnh, thành phố đã thực hiện mộtcách chủ động sáng tạo đờng lối đổi mới của Đảng và địa phơng
Dới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, tháng 10/1986, Đảng bộ Thành phố Vinh đã tổchức Đại hội đại biểu lần thứ XVI Đại hội đã đa ra phơng hớng, nhiệm vụ, mụctiêu kinh tế - xã hội của Thành phố Vinh trong những năm đầu của thời kỳ đổimới Đại hội xác định "Thành phố Vinh phải có bớc chuyển biến sâu sắc, toàn diện, tạo ra bớc ngoặt kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng Trong đó về kinh
tế phải đi với nhịp độ nhanh và phát triển mạnh mẽ Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu là nhiệm vụ có tính then chốt Kiên quyết xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, nhanh chóng thực hiện cơ chế quản
lý mới phù hợp với trình độ và lực lợng sản xuất hiện nay [76, 6] Chăm lo tốt
Trang 30hơn đời sống của nhân dân, tăng cờng xây dựng cơ sở vật chất nhất là kết cấu cơ
sở hạ tầng, giữ vững quy hoạch xây dựng thành phố
Không chỉ dừng lại ở đó, khi Nghị quyết mới đi vào cuộc sống, trên cơ sởcác Nghị quyết của các kỳ đại hội của Trung ơng Đảng (Đại hội VII, VIII, IX),thành phố cũng đã tiến hành các kỳ Đại hội XVII (12/1989), XVIII (1/1992),XIX (2/1996), XX (12/2000) và gần đây nhất là Đại hội Đảng bộ thành phố lầnthứ XXI (10/2005), Đảng bộ thành phố đã tìm đợc lối đi cho công cuộc đổi mớicủa thành phố với mong muốn tạo nên diện mạo mới, mang lại một cuộc sống tốt
đẹp hơn, hạnh phúc hơn, no đủ hơn cho ngời dân trên thành phố Đỏ anh hùng
2.2 Sự chuyển biến về kinh tế của Thành phố Vinh trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2005).
2.2.1 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Thành phố Vinh là một trong những thành phố đợc Trung ơng xác định làthành phố công nghiệp xã hội chủ nghĩa, chính vì thế công nghiệp và tiểu thủcông nghiệp đợc coi là mặt trận hàng đầu trong chiến lợc phát triển kinh tế củathành phố
Quá trình chuyển biến trong công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp củaThành phố Vinh thời kỳ đổi mới từ 1986 đến 2005 có thể chia làm hai giai đoạn.Giai đoạn I từ 1986 - 1996; Giai đoạn II từ 1996 - 2005
Giai đoạn I: Từ 1986 - 1996, đây là giai đoạn công nghiệp và tiểu thủ côngnghiệp vợt qua thử thách bớc đầu trong công cuộc đổi mới
Bớc vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Thành phốVinh không tránh khỏi những khó khăn Trớc đây sản xuất công nghiệp và tiểuthủ công nghiệp vốn quen với việc đợc bao cấp cả đầu vào lẫn đầu ra Nay, theocơ chế mới, phát triển theo quy luật thị trờng mang tính cạnh tranh cho nên trongnhững năm đầu đổi mới, các xí nghiệp công nghiệp, các đơn vị sản xuất gia cônggặp rất nhiều khó khăn, bế tắc: sản phẩm làm ra không tìm đợc thị trờng tiêu thụ,thiếu nguyên liệu, công nhân không có việc làm tiêu biểu nh hợp tác xã HngTiến (sản xuất than Quả Bàng), hợp tác xã Thành Đô (dệt vải), hợp tác xã ViệtThắng (dệt chiếu xuất khẩu), hợp tác xã Vĩnh Nam (sản xuất vôi, gạch) Chỉ cómột số ít cơ sở ổn định đợc sản xuất nh gạch Trung Đô, sứ Quyết Tiến, dệt Thành
Đô, cơ khí 5 - 8, mộc Trung Dũng Một số hợp tác xã phải chuyển sang dịch vụ
Trang 31thơng nghiệp, một số chỉ tồn tại trên hình thức, số còn lại phải ngừng sản xuấthoặc giải thể giao lại nhà xởng cho Uỷ ban nhân dân phờng, xã quản lý để cóhiệu quả hơn nh: công ty công nghệ phẩm Quán Bàu, công ty công nghệ phẩmTrung Đô
Đứng trớc những khó khăn mới đó, Tỉnh uỷ Nghệ An, Thành uỷ Vinh đãchỉ đạo các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp hoạt động không có hiệu quả nên giảithể sớm, quá trình giải thể thực hiện đúng theo hớng dẫn của Uỷ ban nhân dânthành phố Các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp chỉ duy trì phát triển những đơn
vị đang có nhu cầu, đang giải quyết đợc việc làm cho xã viên, sản xuất các sảnphẩm có hiệu quả; các xí nghiệp, hợp tác xã phải đề cao chủ trơng sản xuất kinhdoanh, thực hiện chuyển hớng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị tr-ờng, điều chỉnh một phần cơ cấu đầu t theo hớng tập trung cho 3 mục tiêu kinh tếlớn; tổ chức sắp xếp lại một số xí nghiệp quốc doanh và các hợp tác xã tiểu thủcông nghiệp; đổi mới trang thiết bị, sắp xếp lại sản xuất, đổi mới công nghệ, mặthàng, từng bớc thích nghi với cơ chế mới Đặc biệt Thành uỷ Vinh chỉ đạo cầnphải phát triển kinh tế t nhân, nhất là kinh tế hộ gia đình, làm nh vậy không chỉhuy động đợc vốn trong dân mà còn đem lại công ăn việc làm cho nhiều cá nhântrong xã hội
Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Trung ơng Đảng, Tỉnh uỷ Nghệ An, Thành
uỷ Vinh, nhiều đơn vị đã chủ động đổi mới cơ chế quản lý, mở rộng thị trờng,
đầu t chiều sâu, cải tiến công nghệ nên bớc đầu đã mang lại cho đơn vị của mìnhhiệu quả kinh doanh khá nh: nhà máy Bia, nhà máy Xi Măng, nhà máy Dệt, xínghiệp Sợi, xí nghiệp cung ứng vật t và vật liệu xây dựng, công ty điện tử Các
đơn vị kinh tế cấp thành đã hình thành đợc công ty cổ phần đúng hớng Xí nghiệpliên doanh ViFon đã tạo ra một khối lợng sản phẩm khá hiệu quả và đang mở ratriển vọng mới Các xí nghiệp gia công, xuất khẩu (dệt, da) đã có sản phẩm thamgia vào chơng trình xuất khẩu Xí nghiệp giày da Vinh đã liên doanh với Cộnghoà Liên Bang Nga cho ra đời xí nghiệp liên doanh Hữu Nghị sản xuất giày dahoàn chỉnh để xuất sang thị trờng Xibêri Xí nghiệp khăn mặt Vinh đã xuất khẩu
đợc một số lô hàng sang Đài Loan Chính vì thế, giá trị công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp trên địa bàn thành phố tăng lên nhanh chóng từ 47 tỷ đồng (1990)lên 56,8 tỷ đồng (1991)
Trang 32Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Trung ơng Đảng, Đại hội
Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIII và Đại hội Đảng bộ Thành phố Vinh lần thứXVIII, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Thành phố Vinh có bớc phát triển mới.Dới sự chỉ đạo của Trung ơng, tỉnh, Đại hội Đảng bộ Thành phố Vinh lần thứXVIII xác định: "cơ cấu kinh tế Thành phố Vinh trong tơng lai là công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thơng mại - dịch vụ và du lịch Trớc mắt tiếp tục phát triển 3 chơng trình kinh tế, hớng chính là công nghiệp chế biến thực phẩm, nông, lâm, hải sản, công nghiệp hàng tiêu dùng, dệt, da, may, vật liệu xây dựng, điện tử, thủ công
mỹ nghệ, gia công xuất khẩu và dịch vụ tổng hợp" [17, 12 - 13]
Dới sự chỉ đạo sát sao của Thành uỷ và Uỷ ban nhân dân thành phố, cácngành công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng dệt may, vật liệu xâydựng có bớc phát triển nhanh chóng đem lại sự thay đổi khả quan cho nền kinh tếtrên địa bàn thành phố Cụ thể:
Bảng 6: Giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến phân theo ngành kinh tế cấp II của Thành phố Vinh từ 1990 - 1996.
96.837-89.9976.8406.840
111.283-100.85610.41810.418
Sản xuất vật liệu xây dựng
31.4151.24019.12811.04711.047
38.4921.46424.48212.54612.546
Chế biến Lâm sản, Giấy
- Tỉnh:
5.7854.425
18.2998.497
18.1016.476
Trang 33- Thành phố:
Trong đó ngoài quốc doanh:
1.3061.306
10.10210.102
11.62511.625
49.3085.27334.2439.7929.792
38.4576.05521.03111.37111.371Nguồn [118, 13 - 14]Nhìn vào bảng trên ta thấy giá trị sản xuất các ngành công nghiệp chế biếncủa Thành phố Vinh tăng lên hết sức nhanh chóng nh: sản xuất vật liệu xây dựngtăng lên 10 lần từ 3.876 triệu đồng lên 38.492 triệu đồng trong vòng 5 năm từ
1990 - 1996 Đặc biệt khu vực ngoài quốc doanh tăng lên rất nhanh, tổng giá trịsản lợng hàng năm của khu vực này là 14%, số xí nghiệp t nhân, tổ hợp, công tytrách nhiệm hữu hạn tăng từ 47 đơn vị (năm 1991) lên 108 đơn vị (năm 1995)
Điều này rất dễ giải thích, bởi do khu vực này nhanh chóng thay đổi, nắm bắtthông tin thị trờng nhanh nhạy, bắt kịp với những chủ trơng đờng lối của Đảng vàNhà nớc nên làm ăn đem lại hiệu quả cao Trong khi đó khu vực quốc doanh lạidần bị thu hẹp, gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh do cha bắt kịpvới nhịp phát triển đầy năng động của nền kinh tế, với cơ chế thị trờng nên làm
ăn cha mang lại hiệu quả kinh tế nh mong muốn
Đạt đợc những thành quả đó một phần là do sự chỉ đạo sát sao tận tình củaTỉnh uỷ, Thành uỷ, phần còn lại là do nhiều đơn vị chủ động tổ chức lại sản xuất,
mở rộng thị trờng, từng bớc ổn định và phát triển nh: nhà máy dệt kim Hoàng ThịLoan, nhà máy Bia Nghệ An, công ty Xăng Dầu
Mặc dù thu đợc một số kết quả khả quan nh vậy, nhng trong giai đoạn nàykinh tế công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Thành phố Vinh vẫn còn tồn tạinhiều khó khăn vớng mắc Nhiều công ty, xí nghiệp, hợp tác xã cha đáp ứng đợcvới cơ chế mới, hầu hết còn gặp khó khăn về vốn, công nghệ, kỷ thuật Trình độcán bộ, công nhân mặc dù đã có những tiến bộ so với thời kỳ trớc, nhng nhìnchung vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu thay đổi nhanh chóng của kỷ thuật khoa họccông nghệ hiện đại Các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệpthành phố chủ yếu là quy mô nhỏ, thiết bị lạc hậu, sản xuất manh mún nên chất l-ợng sản phẩm kém, giá cả cha mang tính cạnh tranh nên cha cạnh tranh đợc với
Trang 34các loại hàng hoá khác trên thị trờng ngay trên địa bàn thành phố Các công ty xínghiệp cha tận dụng đợc nguồn nguyên, nhiên liệu và nguồn nhân lực dồi dàocủa địa phơng Hiệu quả kinh tế của các cơ sở tạo ra còn thấp cha tơng xứng vớitiềm năng của thành phố và so với các đô thị khác cùng loại thì tốc độ phát triểncòn chậm.
* Giai đoạn II: từ 1996 - 2005, đây là giai đoạn nền công nghiệp thành phố
có những thay đổi hết sức rõ nét, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Năm 1996, Đảng ta tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII, Đại hội đã đề ra "mục tiêu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá là xây dựng
đất nớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất - kỷ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh" [13, 466,] Với mục tiêu
mà Đại hội VIII đã đề ra, đại hội Đảng bộ Tỉnh Nghệ An lần thứ XIV và Đại hội
Đảng bộ Thành phố Vinh lần XIX đã xác định phơng hớng của Đảng bộ thànhphố trong những năm tới là: phấn đấu đến năm 2020, Thành phố Vinh có quy mô
từ 40 - 50 vạn dân, không những là trung tâm văn hoá, chính trị mà còn là trungtâm công nghiệp, khoa học và công nghệ lớn của vùng Bắc Trung Bộ
Để thực hiện phơng hớng trên, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệpcủa thành phố không ngừng phát triển vơn lên Công tác chuyển đổi các hợp tácxã theo tinh thần Nghị định 16/ CP của chính phủ và theo luật hợp tác xã đợcthành phố triển khai tích cực Đến năm 1998, đã có 18/22 hợp tác xã đã đợcchuyển đổi Bên cạnh đó thành phố cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị
có nhu cầu ổn định địa điểm để sản xuất kinh doanh hoặc có nhu cầu về vốn để
mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao chất lợng sản phẩm Do vậy, tình hình pháttriển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của thành phố ngày càng khởi sắc, một
số doanh nghiệp nhà nớc bớc đầu làm ăn có hiệu quả và đứng vững trong nềnkinh tế thị trờng Các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanhnghiệp t nhân đợc rà soát, đánh giá, phân loại và sắp xếp lại Đã xuất hiện một sốdoanh nghiệp điển hình làm ăn có hiệu quả nh: công ty Phú An (sản xuất tấm lợpBroximăng), công ty trách nhiệm hữu hạn An Châu (sản xuất bìa và bao bì), công
ty Tâm Long (sản xuất vật liệu xây dựng), công ty may Phú Vinh, công ty trách
Trang 35nhiệm hữu hạn Việt Vinh, doanh nghiệp Đức Phong, dệt may Mỹ Hảo, tổ hợp cơkhí Việt Cờng, doanh nghiệp t nhân Vinh Hng, trang trí nội thất Song Thắng sựphát triển đó đã tạo điều kiện cho nguồn lao động và số cơ sở sản xuất trên địabàn thành phố tăng lên nhanh chóng đặc biệt là khu vực ngoài quốc doanh.
Bảng 7: Cơ sở, lao động công nghiệp ngoài quốc doanh của Thành phố
ty xí nghiệp, phần khác là do sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo thànhphố
Để khuyến khích hơn nữa sự phát triển của công nghiệp và tiểu thủ côngnghiệp, ngày 27/5/2002, ban chấp hành Đảng bộ thành phố đã thông qua đề ánphát triển công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và làng nghề Thành phố Vinh 2000 -
2010 Đề án đợc xây dựng trên cơ sở tiếp thu các quan điểm của Nghị quyết 13, 14của hội nghị Trung ơng 5 (khoá IX) về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách và tạo
điều kiện để phát triển kinh tế tập thể và t nhân, đồng thời đây là chơng trình hành
động của Đảng bộ thành phố thực hiện Nghị quyết 06 của ban chấp hành Đảng bộTỉnh về phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và làng nghề Mục tiêu của
đề án là "tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phấn đấu tốc độ tăng trởng kinh tế cao hơn bình quân chung của tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ Phát huy lợi thế, khai thác có hiệu quả nguồn lực tại chỗ, tranh thủ sự hỗ trợ của trung ơng, tỉnh và thu hút đầu t nớc ngoài để đẩy mạnh tốc độ tăng trởng kinh tế Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Đa công nghiệp, dịch vụ trở thành ngành chủ yếu, quyết định sự tăng trởng của thành phố Tạo
điều kiện thuận lợi và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu t vào sản xuất
Trang 36kinh doanh, phát triển mạnh các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vừa và nhỏ, kinh
tế hộ và tiểu chủ Từng bớc hình thành và đa vào hoạt động các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thơng mại " [64, 2].
Để thực hiện tốt bản đề án đó, thành phố đã thực hiện các chính sách nh:cho công nhân, cán bộ cốt cán đi tham quan, tìm hiểu công nghệ, thị trờng (tổchức cho 50 cán bộ cốt cán của xã Hng Hoà làm nghề dệt chiếu đi tham quan cáclàng nghề ở Kim Sơn - Ninh Bình chuyên sản xuất các sản phẩm từ cây cói đểxuất khẩu; tổ chức cho 50 cán bộ cốt cán và bà con xã viên xã Hng Lộc làm nghềMây tre đan đi tham quan tại các làng nghề mây tre đan xuất khẩu tại tỉnh HàTây ); tổ chức các lớp học nghề, đào tạo nghề tại trờng, đào tạo nghề tại cácdoanh nghiệp; sử dụng quỹ khuyến công một cách có hiệu quả: chi cho việc dạynghề, chi cho việc chuyển giao công nghệ, chi hỗ trợ cho các doanh nghiệp (công
ty trách nhiêm hữu hạn Phú Vinh 30 triệu đồng, doanh nghiệp t nhân Mỹ Hảo 20triệu đồng, doanh nghiệp Song Thắng 20 triệu đồng, công ty trách nhiệm hữu hạn
đến năm 2004 đã có 2.710 cơ sở, tức đã xuất hiện thêm 286 cơ sở Riêng trongnăm 2005 đã thành lập mới thêm 12 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Số cơ sởmới xuất hiện này làm ăn khá hiệu quả nh doanh nghiệp Định Nhàn, doanhnghiệp Long Thành, công ty trách nhiệm hữu hạn Đức Phong, công ty tráchnhiệm hữu hạn Quang Triều, công ty trách nhiệm hữu hạn Mạnh Phú, công tytrách nhiệm hữu hạn Thanh Thành Đạt,
* Về việc triển khai đề án xây dựng làng nghề trên địa bàn thành phố Vớimục tiêu xây dựng làng nghề giải quyết việc làm ổn định và tận dụng lao động
Trang 37nông nhàn cho các xã ngoại thành và các khu đông dân c nội thành nhng thiếuviệc làm nhằm tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nhân dân, tạo ra nhiều sảnphẩm hàng hoá cho xuất khẩu thành phố đã xây dựng các làng nghề sau:
- Phát triển nghề chế biến các sản phẩm từ cây cói Hng Hoà, phục vụ choxuất khẩu và tiêu dùng nội địa
- Đề án phát triển nghề mây tre đan ở xã Hng Lộc và Hng Đông
- Nghề thêu ren ở phờng Hồng Sơn
- Đề án tổ chức chỉ đạo hình thành và phát triển phố nghề gia công, sửachữa thiết bị máy vi tính, viễn thông ở đờng Minh Khai, sửa chữa xe máy ở đờng
Lê Lợi, điện tử ở đờng Phan Đình Phùng
Qua quá trình hoạt động của các làng nghề, cho đến năm 2005 thành phố
đã tổng kết và đi đến kết luận: hai làng nghề sản xuất các sản phẩm từ cói của xãHng Hoà và nghề thêu ren, tranh thêu nghệ thuật hoạt động có hiệu quả mang lạigiá trị kinh tế ngày càng cao cho ngành tiểu thủ công nghiệp và góp phần cảithiện đời sống cho ngời dân lao động Đề án phát triển nghề mây tre đan hiện
đang gặp khó khăn ở khâu thị trờng bởi các cơ sở sản xuất phải phụ thuộc vàocác công ty ngoại tỉnh, mẫu mã thay đổi thờng xuyên trong khi ngời lao động địaphơng cha đáp ứng kịp Còn các phố nghề khác phát triển một cách tự phát chatheo điều hành chỉ đạo của thành phố
Bên cạnh việc xây dựng các đề án công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, làngnghề thành phố còn chú trọng đến việc xây dựng các khu công nghiệp nhằm thuhút các doanh nghiệp đầu t có chiều sâu, đồng bộ và tạo ra môi trờng làm việc theophong cách công nghiệp của một thành phố công nghiệp trong tơng lai Thành phố
đã xây dựng các đề án: Khu công nghiệp Bắc Vinh với diện tích 143 ha; 3 khucông nghiệp nhỏ: Đông Vĩnh, Hng lộc, Nghi Phú Năm 2003, các khu công nghiệptrên đợc quy hoạch và triển khai thực hiện Khu công nghiệp Bắc Vinh đợc khẩntrơng xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, khu công nghiệp nhỏ Nghi Phú, Hng Lộctiến hành thủ tục đền bù Đến năm 2004, khu công nghiệp Bắc Vinh về cơ bản đãhoàn thành giai đoạn 1 với 60 ha, khu công nghiệp nhỏ Đông Vĩnh đợc lấp đầy với
10 đơn vị sản xuất, Khu công nghiệp nhỏ Nghi Phú với 24 đơn vị sản xuất, khucông nghiệp nhỏ Hng Lộc với 8 đơn vị sản xuất Đến đầu năm 2005, khu côngnghiệp nhỏ Đông Vĩnh đã có 50% doanh nghiệp có sản phẩm ra thị trờng Bên
Trang 38cạnh đó, thành phố cũng đã hoàn thành việc quy hoạch khu công nghiệp nhỏ Hng
Đông để trình lên tỉnh duyệt Việc các khu công nghiệp ra đời chứng tỏ sự pháttriển ngày càng nhanh của ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của thànhphố theo hớng công nghiệp hoá hiện đại hoá, chứng tỏ sự bắt kịp của nền kinh tếthành phố với nền kinh tế thị trờng đầy biến động
Song song với việc xây dựng các khu công nghiệp, thành phố cũng hết sứcquan tâm đến việc phát triển nội ngành công nghiệp qua việc tạo điều kiện chocác công ty có điều kiện thuận lợi về vốn, địa điểm sản xuất, mở rộng nhà xởng,nhập các trang thiết bị, lắp đặt dây chuyền sản xuất góp phần đẩy nhanh tốc độphát triển của ngành công nghiệp, thể hiện:
- Trong công nghiệp chế biến: đã ổn định đợc dây chuyền ép dầu thực vật10.000 tấn/năm, sẽ mở rộng gấp đôi khi có điều kiện ổn định công suất nhà máybia 15 - 20 triệu lít/năm, tìm hớng liên doanh sản xuất nớc hoa quả, nớc giải khát
có ga quy mô lớn, chất lợng cao Xây dựng dây chuyền sản xuất bánh kẹo chất ợng cao, công suất 5.000 - 10.000 tấn/năm Liên doanh đầu t xây dựng cơ sở sảnxuất bột dinh dỡng trẻ em công suất 3.000 - 5.000 tấn/năm
l Trong công nghiệp cơ khí và điện tử: đã đầu t sản xuất máy công tác nhỏ đanăng phục vụ nông lâm nghiệp 1000 máy/năm Lắp đặt dây chuyền ống thép mạkẽm 9000 tấn/năm Nâng cao năng lực trùng đại tu ôtô, bảo trì xe hơi Khuyến khíchtrực tiếp đầu t nớc ngoài lắp ráp thiết bị điện, điện tử trong khu công nghiệp
- Công nghiệp dệt, may, da là lĩnh vực lợi thế của thành phố, từng bớc đầu tchiều sâu dây chuyền dệt kim công suất 750 tấn/năm, đảm bảo cho xuất khẩu Đổimới công nghệ, nâng cao chất lợng sợi, ổn định công suất 3000 tấn/ năm Lắp đặtdây chuyền may hiện đại cho công ty may ở khu công nghiệp Bắc Vinh
- Công nghiệp vật liệu xây dựng: khai thác tối đa công suất 7,2 vạn tấn/ nămcủa nhà máy xi măng Cầu Đớc, lọc bụi hạn chế ô nhiễm môi trờng, sau năm 2005ngừng sản xuất xi măng Đầu t xây dựng xí nghiệp gạch không nung mác cao quymô 20 - 30 triệu viên/ năm Liên doanh sản xuất đá ốp lát, đá mỹ nghệ, khai tháccông suất 80.000 m2/ năm Hình thành xí nghiệp bê tông đúc sẵn, xí nghiệp kết cấuthép đáp ứng xây dựng các công trình cao tầng và phát triển đô thị hiện đại
Trang 39- Công nghiệp chế biến lâm sản, giấy: đầu t dây chuyền sản xuất gỗ ván
ép, sợi gỗ ép, phủ phooc mê ca công suất 5.000 - 10.000 m2/năm Lắp đặt dâychuyền sản xuất đồ dùng nội thất cao cấp thay thế hàng nhập khẩu
- Công nghiệp hoá chất nhựa, cao su, dợc phẩm: đổi mới công nghệ sản xuấtxăm lốp xe đạp, xe máy, phụ tùng lẻ từ cao su tự nhiên tại nhà máy cao su Vinh Mởrộng công suất xí nghiệp dợc phẩm lên 500 triệu viên thuốc/năm, đáp ứng đợc 40%nhu cầu thuốc thiết yếu trên địa bàn Liên doanh xây dựng cơ sở nhựa dân dụng quymô 5.000 - 10.000 tấn/năm Thu hút đầu t các loại hoá chất mỹ phẩm
- Công nghiệp khác: nâng công suất 2 cơ sở in lên 3 tỷ trang/năm Xâydựng xí nghiệp sản xuất bao bì 20 triệu bao/ năm Hoàn chỉnh xí nghiệp chế biếnthức ăn gia súc Vinh 10.000 tấn/năm
Những kết quả đó một mặt thể hiện những chủ trơng đờng lối của Đảng là
đúng đắn mặt khác nó còn thể hiện sự nỗ lực của Thành uỷ, Uỷ ban nhân dânthành phố, các ban ngành có liên quan cũng nh các công ty, nhà máy, xínghiệp trên địa bàn thành phố và nó cũng làm cho giá trị sản xuất của ngànhcông nghiệp tăng lên nhanh chóng đặc biệt là khu vực ngoài quốc doanh
Bảng 8: Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh phân theo thành phần kinh tế thành phố Vinh từ năm 2000 - 2005.
(theo giá cố định 94) Đơn vị tính: triệu đồng
đồng năm 2005 Sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp ngoài quốc doanh làkết quả của sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là hình thức công tytrách nhiệm hữu hạn Giá trị sản xuất của thành phần kinh tế này đã tăng thêm gần
6 lần trong vòng 5 năm (từ 9.383 triệu đồng năm 2000 lên 51.472 triệu đồng năm2004) Sự tăng trởng của ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp góp một phần
Trang 40không nhỏ trong việc nâng cao cuộc sống cho ngời lao động thành phố, đồng thờitạo điều kiện cho nền kinh tế của thành phố có bớc tiến vững chắc.
Nhìn lại quá trình phát triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp củaThành phố Vinh trong 20 năm đổi mới ta thấy có những bớc phát triển và nhữngbớc tiến dài theo hớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá và có sự chuyển dịch đúnghớng: tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 32,9% năm 1995 lên 34,9% năm
2000 và 36,52% năm 2005
Trong cơ chế mới - cơ chế thị trờng, nền công nghiệp ngoài quốc doanhthực sự đợc "cởi trói" ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong lĩnh vực công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp Nhiều dây chuyền thiết bị máy móc hiện đại đợc nhập về,các khu công nghiệp đợc gấp rút xây dựng và đi vào hoạt động.Tiểu thủ côngnghiệp cũng có bớc phát triển mạnh mẽ, bên cạnh việc khôi phục và phát triểncác ngành nghề cũ thành phố cũng đã du nhập các ngành nghề mới với những sảnphẩm mẫu mã đẹp, phong phú, đa dạng, chất lợng cao, giá trị xuất khẩu lớn
Bên cạnh những thành tựu đó, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệpthành phố vẫn còn tồn tại một số hạn chế:
- Tiến độ xây dựng các khu công nghiệp nhỏ nhìn chung còn diễn ra chậm,công tác đền bù giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn
- Số doanh nghiệp trực tiếp sản xuất còn thấp chỉ chiếm 11,2% Nguyên nhâncủa tình trạng trên là do các doanh nghiệp cha mạnh dạn đầu t vào lĩnh vực sản xuất
do tính mạo hiểm và tỷ lệ rủi ro cao, địa điểm sản xuất khó khăn, vốn đầu t lớn, thịtrờng tiêu thụ khó, không ổn định, trình độ lao động cha đủ đáp ứng
- Việc phát triển các làng nghề còn gặp nhiều khó khăn Các ngành nghềtuy đa dạng nhng chủ yếu là nghề phục vụ tại chỗ, cha mở rộng ở tất cả các ph-ờng xã mà chỉ tập trung ở một số xã có ngành nghề lâu đời Các làng nghề cònyếu, cha đáp ứng đợc sự thay đổi nhanh chóng của thị trờng đặc biệt là về mẫumã hàng hoá
- Các ngành nghề cha có định hớng phát triển theo quy mô, cha ổn định
đ-ợc phơng hớng sản xuất do đầu ra sản phẩm cha ổn định Sản xuất còn mang tínhchất thủ công hoặc bán cơ giới Giá trị sản xuất mà ngời lao động nhận đợc cònthấp do vậy không khuyến khích đợc ngời dân tham gia sản xuất nhiệt tình
2.2.2 Nông nghiệp.