1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Số từ trong ca dao việt nam

65 639 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 166 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói nh vậy để chúng ta thấy đợc, đối với ngời Việt Nam, ca dao là một loại hình nghệ thuật có vị trí đặc biệt quan trọng, nó đợc sáng tạo nên do nhu cầu bộc lộ tình cảm, giãi bày tấm lòn

Trang 1

Lời nói đầu

Số từ trong ca dao Việt Nam tạo thành một đặc điểm tiêu biểu Tìm hiểu số từ trong ca dao Việt Nam, chúng ta không chỉ hiểu sâu hơn về ca dao và về số từ mà chúng ta còn thấy đợc cái độc đáo của sự có mặt số từ trong ca dao Việt Nam

Là một sinh viên khoa Ngữ Văn, yêu thích tìm hiểu ca dao Việt Nam, chúng tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu vấn đề này Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận đợc sự hớng dẫn tận tình của PGS.TS Phan Mậu Cảnh, sự góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo khoa Ngữ Văn trờng đại học Vinh, cùng với sự động viên, cổ vũ của các bạn Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới tất cả !

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, song bản thân khoá luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót do điều kiện khách quan và hạn chế về trình

độ của ngời thực hiện Tôi rất mong đợc sự góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo cũng nh tất cả các bạn đã và đang quan tâm đến vấn đề này Xin cảm ơn !

Vinh, tháng 5 năm 2004

Dơng Thị Thao

Trang 2

mở đầu

1 Lí do chọn đề tài:

Ngay từ khi lọt lòng mẹ, chúng ta đã đợc nghe những câu ca dao ngọt ngào, đằm thắm Đó là lời ru ầu ơ của mẹ đa ta vào giấc ngủ nồng say Nói nh vậy để chúng ta thấy đợc, đối với ngời Việt Nam, ca dao là một loại hình nghệ thuật có vị trí đặc biệt quan trọng, nó đợc sáng tạo nên do nhu cầu bộc lộ tình cảm, giãi bày tấm lòng, nói lên bao niềm khát khao trăn trở về hiện thực đời sống xã hội, của các thành phần c dân trên lãnh thổ Việt Nam qua các thời đại

Đối với các nhà nghiên cứu, ca dao là một mảnh đất ẩn chứa ở đó biết bao nhiêu giá trị để họ khai thác, tìm hiểu

Trong giới nghiên cứu từ trớc đến nay, mặc dù đã có hàng loạt các công trình tìm hiểu về ca dao, nhng nhìn chung số từ cha đợc đề cập đến nhiều

Việc tìm hiểu số từ trong ca dao Việt Nam cũng góp một phần vào việc sử dụng ngôn ngữ, phân tích cái hay cái đẹp của nó trong đời sống, trong tác phẩm nghệ thuật

Chính vì những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài "Số từ trong ca dao Việt Nam" cho khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Đối tợng và mục đích nghiên cứu:

Khoá luận tìm hiểu về ca dao và về số từ dùng trong ca dao Tiến hành khảo sát, thống kê phân loại các số từ trong ca dao, nêu tần số xuất hiện của số từ

và tiểu loại của số từ, từ đó rút ra nhận xét các đặc điểm sử dụng của nó trong ca dao Việt Nam

Đối tợng khảo sát của khoá luận là cách dùng số từ trong ca dao Việt Nam,

đợc khảo sát trong cuốn “Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam” (tập 4 quyển 1-

về tục ngữ và ca dao), NXB Giáo dục, 1999

Trang 3

3 Lịch sử vấn đề :

Ca dao là một đối tợng thu hút rất nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu Khi tìm hiểu ca dao nhìn một cách tổng quát, các nhà nghiên cứu thờng đi vào khai thác những vấn đề nh tên gọi, phân loại ca dao, nội dung và nghệ thuật của

ca dao …

Hàng loạt các bài viết bình giảng, phân tích về ca dao đã đợc in trong các cuốn sách, các tạp chí Tuy nhiên vấn đề số từ trong ca dao Việt Nam lại ít đ… ợc giới nghiên cứu đề cập đến một cách cụ thể cũng nh cha đợc nghiên cứu trên bình diện rộng

Khi đề cập đến số từ trong ca dao Việt Nam, các bài viết chỉ dừng lại ở một số bài ca dao, câu ca dao và phân tích ý ghĩa của việc sử dụng các số từ đối với bài ca dao đó, với câu ca dao đó

Tạ Đức Hiền trong cuốn "Bình luận, bình giảng tục ngữ ca dao Việt Nam", NXB HN, 2002, khi đi vào tìm hiểu các bài ca dao, tác giả đã nói đến tác dụng, ý nghĩa của các số từ trong ca dao Ví dụ ở câu ca dao :

Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

tác giả đã viết : "Nhà thơ dân gian không sử dụng một bổ ngữ, một trạng ngữ mà lại dùng số từ "chín chiều" để bộc lộ tâm trạng thật là độc đáo" [4;45]

Hay Nguyễn Thị Thơng trong bài viết "Bảy tám chín mong m… ời tìm"

đăng trong đặc san "Văn học và tuổi trẻ" số tháng 2-2001, đã nhấn mạnh đến việc hàng loạt các số từ xuất hiện trong một bài ca dao: "Một loạt số từ sắp xếp theo thứ tự tăng dần từ thấp đến cao, kết nối thật tự nhiên và hài hoà với các tính

từ diễn tả các cung bậc tình cảm tăng tiến dần từ mức độ nhẹ đến mức độ sâu

đậm hơn" [13;56] Tác giả Triều Nguyên trong cuốn " Tiếp cận ca dao bằng

ph-ơng pháp xâu chuỗi" ,NXB Thuận Hoá, Huế, 2003, khi khảo sát một số bài ca

dao có cấu trúc một, hai, , m… ời thơng đã viết : "Các số từ "một", "hai", ,"m… ời"

ở vi trí đầu của mời dòng thơ, thể hiện sự chặt chẽ, khuôn thớc, tơng đơng với

Trang 4

cách nói : một là , hai là ; điều thứ nhất là, điều thứ hai là chúng nhằm báo… …trớc, nhấn mạnh điều sắp nói ra là dứt khoát, quan trọng và cũng chủ đích với

Nhìn chung lại, việc đề cập đến số từ trong ca dao Việt Nam đã có rất nhiều các tác giả nói đến Nhng các bài viết mới chỉ dừng lại ở một số khía cạnh nào đó, hay chỉ mới lớt qua, mới chỉ nói ở những mặt khác nhau mà cha đi vào tìm hiểu một cách khái quát, cha có bề rộng Vì vậy với khoá luận này chúng tôi muốn đi vào tìm hiểu một cách rõ ràng và bao quát về "số từ trong ca dao Việt Nam "

4 Nhiệm vụ của khoá luận :

Để đạt đợc mục đích trên, nội dung nghiên cứu của đề tài này tập trung giải quyết các vấn đề sau :

- Khảo sát số từ trong ca dao nói chung và khảo sát phân loại các tiểu loại của số từ trong ca dao Việt Nam nói riêng

- Phân tích miêu tả khả năng kết hợp, số lợng của số từ trong ca dao nói chung và tiểu loại số từ trong ca dao nói riêng

- Nhận xét và rút ra ý nghĩa của số từ trong ca dao Việt Nam

Trang 5

5 Phơng pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đợc nhiệm vụ mà khoá luận đã nêu, chúng tôi phải dùng nhiều phơng pháp khác nhau mang tính kết hợp hoặc độc lập theo nội dung hoặc công đoạn nghiên cứu

- Phơng pháp thống kê phân loại các tiểu loại của số từ

- Phơng pháp phân tích: Trong quá trình khám phá, tìm hiểu số từ trong ca dao Việt Nam, chúng tôi dùng phơng pháp phân tích các ý kiến, cá dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề và các luận điểm đã nêu

- Phơng pháp miêu tả, so sánh và đối chiếu: Trong quá trình tìm hiểu số từ trong ca dao Việt Nam, chúng tôi so sánh, đối chiếu giữa các tiểu loại số từ có trong ca dao Việt Nam

- Phơng pháp quy nạp và diễn dịch: Trong quá trình triển khai khoá luận phải đi từ những chi tiết cụ thể đến tổng hợp và khái quát, nêu lên những kết luận nhất định

6 Cấu trúc của khoá luận:

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của khoá luận gồm:

Chơng1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

1.1 Một vài nét về số từ

1.2 Một số nét về ca dao

Chơng 2 Số từ trong ca dao Việt Nam

2.1 Số từ trong ca dao nói chung

2.2 Những tiểu loại số từ trong ca dao

2.3 ý nghĩa của số từ trong ca dao

Trang 6

- Nguyễn Anh Quế: "Ngữ pháp tiếng Việt"- NXB Giáo dục, 1996.

- Lê Biên: “Từ loại tiếng Việt hiện đại" - NXB Giáo dục , 1998

- Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung: "Ngữ pháp tiếng Việt" ( Tập1 ), NXB Giáo dục,1999

- Đỗ Thị Kim Liên: "Ngữ pháp tiếng Việt", NXB Giáo dục, 1999

- Nguyễn Hữu Quỳnh: "Ngữ pháp tiếng Việt", NXB Từ điển bách khoa

Về ý nghĩa của số từ đã đợc nhiều tác giả nói đến :

- Nguyễn Tài Cẩn đã viết : " Số từ có ý nghĩa số lợng, chúng có ý nghĩa chân thực " [3;336]

- Nguyễn Anh Quế: "Số từ là từ loại chỉ số lợng hoặc thứ tự của sự vật" [10;106]

Trang 7

- Lê Biên: "Số từ biểu thị ý nghĩa số lợng, đó là số đếm nh: một, hai, bảy, chín hoặc có thể là số chỉ thứ tự nh… : nhất, nhì, " [1;138] …

- Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung : " Số từ gồm những từ biểu thị ý nghĩa số" [2;107]

- Đỗ Thị Kim Liên: số từ có ý nghĩa "thờng chỉ số lợng: “hai, ba, bốn, sáu, bảy, "[6;56] ; "đối với số từ, ý nghĩa thực, ý nghĩa phạm trù của chúng là ý nghĩa số lợng Loại ý nghĩa này đợc t duy nhận thức nh những giá trị thực" [7;119]

- Nguyễn Hữu Quỳnh cho rằng "Số từ là những từ chỉ số lợng và chỉ thứ tự của sự vật" [11;147]

Nh vậy qua các ý kiến trên, ta thấy dù có bổ sung thêm một số nét về ý nghĩa của số từ thì các tác giả đều gặp nhau ở chỗ là khẳng định: ý nghĩa của số

từ là chỉ số lợng Hay nói một cách cụ thể hơn ý nghĩa thực, ý nghĩa phạm trù của

số từ là ý nghĩa số lợng

Ví dụ 1: Dù ai nói ngả nói nghiêng

Lòng ta vẫn vững nh kiềng ba chân (Ca dao)

Ví dụ 2: Hội làng còn một đêm nay

Gặp em còn một lần này nữa thôi

Ví dụ 1 : Hai với hai là bốn.

Ví dụ 2: Đám ruộng ấy rộng chừng ba mẫu

ở ví dụ 2 "rộng chừng ba mẫu" là một cụm tính từ trong đó "chừng ba" là cụm số từ với "ba" là trung tâm.

Trang 8

Số từ có khả năng làm thành tố phụ trong cụm danh từ để hạn định cho danh từ ý nghĩa số lợng

Trang 9

Số từ không xác định: Số từ không xác định biểu thị số không chính xác, với ý nghĩa phỏng định hay phiếm định Ví dụ: vài, dăm, mơi, , mấy, vài ba,…dăm ba, đôi ba, một vài, , một hai, ba bảy, năm sáu, năm bảy,… …

Tác giả Lê Biên [1] chia số từ làm hai tiểu loại:

không xác định nh: vài, dăm, mơi, dăm ba, năm ba, ba bốn, mấy,…

Ví dụ: - Chợ mới có dăm ngời.

Trang 10

Số từ ớc lợng: Là loại số từ chỉ một số lợng sự vật ớc chừng chứ không

chính xác Những số từ ớc lợng thờng thấy là: vài, vài ba, dăm, dăm ba dăm bảy,

đôi ba, mơi lăm, mơi mời lăm, vài bốn, mơi hai,…

Tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh [11] cũng chia số từ làm ba tiểu loại

Số từ chỉ số lợng chính xác: một, hai, ba, bốn, mời chín, hai mơi, hai mơi

mốt, một trăm, hai nghìn, ba vạn, bốn triệu, …

Ví dụ: Dù ai nói ngả nói nghiêng

Lòng ta vẫn vững nh kiềng ba chân

Số từ chỉ số lợng phỏng chừng: vài, dăm, mơi, một vài, vài ba, dăm ba, đôi

ba, mơi lăm, mơi mời lăm, dăm trăm, vài nghìn, vài vạn, …

Ví dụ : Chúng tôi dạo vài vòng quanh bãi cát

Số từ chỉ thứ tự : nhất, nhì, ba, bốn, thứ ba, thứ t, thứ năm, …

Ví dụ : Ai nhất thì tôi thứ nhì

Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

Trên đây là một số tác giả chia số từ làm hai hay ba tiểu loại

Khi đi vào tìm hiểu số từ trong ca dao, chúng ta có thể đi theo nhiều cách chia mà các tác giả đã đa ra về tiểu loại của số từ Nhng chúng tôi thấy cách chia tiểu loại số từ của tác giả Đỗ Thị Kim Liên là hợp lý và dễ phân biệt, cho nên chúng tôi chọn cách chia này, chia tiểu loại của số từ thành bốn tiểu loại Cũng từ bốn tiểu loại này, chúng tôi soi vào ca dao để tìm hiểu các tiểu loại số từ cụ thể trong ca dao

1.1.2.1 Số từ chính xác :

Thờng làm định ngữ cho danh từ, nh : ba, bốn, năm, sáu, …

Ví dụ: Tôi có năm mẫu ruộng.

Số từ chính xác làm yếu tố phụ đứng trớc trong danh ngữ

Ví dụ: Hai anh sinh viên ; Ba con gà ;…

Đối với số từ chính xác thì nhóm danh từ chất liệu không kết hợp đợc, muốn kết hợp phải thông qua danh từ chỉ đơn vị

Trang 11

Ví dụ : Ba cốc nớc ; Bốn kilôgam gạo; …

Nói chung số từ chính xác không trực tiếp làm vị ngữ mà muốn đảm nhận

chức năng này chúng phải có quan hệ từ "là" đứng ở trớc

Ví dụ : Bắc Nam là một;

VN

Hai với hai là bốn; …

VN

1.1.2.2 Số từ ớc lợng : vài, dăm, dăm bảy, dăm ba, đôi mơi, đôi ba, mơi lăm,

m-ơi hai, vài ba,…

Ví dụ: - Trên bến vắng đắm mình trong lạnh lẽo

Vài quán hàng không khách đứng xo ro

( Anh Thơ )

- Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngợc rồi vụt biến đi, bị chìm đi, bị dìm và đi dới lòng sông đến mơi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷu sông dới ( Nguyễn Tuân )

Số từ ớc lợng thờng đứng trớc danh từ nhng không thể làm vị ngữ, nếu làm

vị ngữ thì phía trớc phải có từ "là", giống nh số từ chính xác Số từ ớc lợng không thể làm định tố sau của danh từ nh số từ chính xác và số từ thứ tự

Ví dụ : - Tháng hai; phòng năm;…( Đợc chấp nhận)

- Tháng vài ; phòng dăm;…( Không đợc chấp nhận )

Do ý nghĩa không chính xác mà số từ ớc lợng không thể độc lập trả lời câu

hỏi Mấy ? ; Bao nhiêu ?nh số từ chính xác hay số từ thứ tự.

Ví dụ : - Anh mua mấy quyển sách ?Hai ! ( Đợc chấp nhận )

- Anh mua mấy quyển sách ? Vài ! ( Không đợc chấp nhận )

Trờng hợp này muốn dùng số từ ớc lợng thì phải có danh từ ở sau, chẳng

hạn: - Hôm qua anh mua mấy quyển sách ?Vài quyển

Trang 12

1.1.2.3 Số từ thứ tự :

Số từ thứ tự dùng để chỉ một đại lợng đợc xếp theo một trình tự của t duy Chúng gồm các số từ tự nhiên: một, hai, ba, hoặc các danh từ gốc Hán, nh… : nhất, nhị, tam, tứ, th… ờng đứng sau danh từ " thứ ", " hàng", hoặcdanh từ chỉ thời gian: canh, hồi, lúc, năm,…

thì thực chất đây là hiện tợng tỉnh lợc danh từ

Số từ thứ tự có thể dùng yếu tố Hán Việt, trong khi đó số từ chính xác không có khả năng này

Ví dụ:

Số từ chính xác : Một ngời , hai ngời

Số từ thứ tự : Ngời thứ nhất , ngời thứ nhì

Số từ thứ tự có thể trực tiếp làm vị ngữ Chẳng hạn : Tôi thứ nhất nó thứ nhì ; Tôi nhất nó nhì ;…

1.1.2.4 Số từ dùng với ý nghĩa biểu trng :

Loại số từ này thờng gặp nh : ngàn, vạn, trăm, một, ba, năm, bảy, chín, ời; ba chốn bốn nơi, năm cha ba mẹ, ba cọc ba đồng, bảy nổi ba chìm, ba hồn…chín vía, ba máu sáu cơn, năm thê bảy thiếp;…

Loại số từ này mang ý nghĩa không hoàn toàn tơng ứng với vỏ vật chất của chúng :

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mời ma dám quản công

Trang 13

( Tú Xơng )

Trong câu thơ trên, "năm", "mời " không còn là nghĩa thực, nghĩa chính

xác là năm hay mời nữa mà nó mang nghĩa biểu trng, nó gợi lên sự vất vả của

ng-ời vợ

Hay ở câu :

Tay nâng đĩa muối, sàng rau

Đặt lên quảy mẹ ruột đau chín chiều thì con số "chín" biểu thị sự tột đỉnh của nỗi đau.

Trên đây là những tiểu loại của số từ theo cách chia có PGS - TS Đỗ Thị Kim Liên [5] Chúng tôi sẽ theo cách chia này, cách phân loại này để khảo sát và phân loại số từ trong ca dao Việt Nam

1.2 Một số nét về ca dao :

Ca dao là một loại hình nghệ thuật đã đợc nhiều tác giả nghiên cứu, tìm hiểu trên nhiều bình diện Trong giới hạn, phạm vi của khoá luận chúng tôi chỉ đi vào trình bày trên một số vấn đề cơ bản của ca dao

1.2.1 Định nghĩa về ca dao :

Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt Thời trớc ngời ta còn gọi ca dao là

"phong dao" vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phơng, mỗi thời đại.Đến đầu thế kỷ XX danh từ ca dao song song tồn tại với danh từ "phong dao" Nhng sau Cách mạng tháng Tám (1945) danh từ ca dao đợc dùng rộng rãi

và trở thành thuật ngữ chính thức trong hoạt động nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam

Danh từ ca dao chủ yếu đợc dùng để chỉ phần lời thơ ( mặt văn học ) của các bài hát dân gian, do dó từ hơn 30 năm nay giới nghiên cứu văn học, nghệ thuật nớc ta đã dùng thêm danh từ dân ca làm thuật ngữ chỉ chung toàn bộ lĩnh vực ca hát dân gian

Xét theo nghĩa gốc của từ ( từ nguyên ) thì "ca" là bài hát có chơng khúc, giai điệu đợc quy định rõ rệt( ngời hát không thể tự do thay đổi ) còn "dao" là bài

Trang 14

hát ngắn, không có giai điệu, chơng khúc Nếu chỉ dựa vào ý nghĩa ấy thì về cơ bản ca dao và dân ca trùng nghĩa với nhau, không cần và không thể phân biệt đ-ợc.Nhng trong thực tế danh từ ca dao đã ngày càng rời xa nghĩa gốc và chủ yếu sống với nghĩa thứ hai (nghĩa phái sinh) nhằm chỉ phần lời của sáng tác dân ca.Tính xác định của nó ngày càng cao gắn liền với sự thu hẹp nghĩa của nó Không phải toàn bộ lời trong dân ca đều là ca dao mà là chỉ phần lời cốt lõi có kết cấu bền vững, ổn định và có tính trữ tình (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đa hơi) Hơn nữa, ca dao cũng không bao giờ là phần lời của: vè trữ tình, vè tự sự, vè kể vật, kể việc, những bài hát dặm mang tính chất vè Do đó…không thể nói chung: ca dao là phần lời thơ của dân ca, cũng không thể nói ca dao là thơ dân gian Bởi vì khái niệm "thơ dân gian" rất rộng, bao gồm phần lời thơ của tất cả các loại dân ca và lời thơ trong các hình thức sáng tác dân gian khác (nh những bài thơ trong câu đố, trong một số truyện kể dân gian ).…

Vậy chỉ có thể nói : ca dao là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của thơ dân gian, là loại thơ dân gian truyền thống có phong cách riêng đợc hình thành và phát triển trên cơ sở nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân ca trữ tình ngắn và t-

ơng đối ngắn (đoản ca) của ngời Việt

Trang 15

Yêu nhau mấy núi cũng trèo Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.

Còn có thể là:

Yêu nhau tứ núi cũng trèo Lục sông cũng lội thập đèo cũng qua 1.2.2.Nội dung của ca dao :

Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của nhân dân Việt Nam xem dồi dào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào, rung động nhiều hơn cả về những khía cạnh nào của cuộc đời thì không thể nào không nghiên cứu ca dao Việt nam mà hiểu biết đợc Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thớc cho lối thơ trữ tình của ta Tình yêu của ngời lao động Việt nam biểu hiện trong ca dao về nhiều mặt: tình yêu giữa đôi bên trai gái, yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu thiên nhiên, yêu hoà bình, Không những thế, ca dao còn biểu hiện t… tởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong cuộc sống xã hội, trong những khi tiếp xúc với thiên nhiên

và ca dao còn biểu hiện sự trởng thành của t tởng ấy qua các thời kỳ lịch sử

Nh vậy, ngoài sự biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của con ngời, ca dao còn phản ánh ý thức lao động sản xuất của nhân dân Việt Nam và

Trang 16

tình hình xã hội thời xa về các mặt kinh tế và chính trị Bởi thế, ngời ta mới nói: nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình.

Do ở cảm xúc mà cấu tạo nên lời ca, nên tính t tởng của nhân dân Việt nam biểu lộ ở ca dao không những làm cho ngời ta thông cảm tình yêu thắm thiết mặn nồng của họ, mà còn cho ngời ta thấy phẩm chất của họ trong các cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội Họ đã vất vả nh thế nào trong công cuộc cải tạo thiên nhiên, hào hứng nh thế nào trong khi thu đợc thắng lợi, họ đã căm hờn những kẻ áp bức bóc lột mình và đã bền bỉ đấu tranh chống những kẻ ấy nh thế nào, họ đã chống những sự ngang trái ở đời nh thế nào, đã vơn lên không ngừng

nh thế nào để dành lấy hạnh phúc Nội dung của ca dao rất phong phú và đa dạng Tìm hiểu đợc những điều đó, chúng ta thấy đợc tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa của ca dao

1.2.2.1 Ca dao viết cho trẻ em:

Trong văn học dân gian của các dân tộc trên thế giới, ít nhiều đều có trong những sáng tác dành cho trẻ em hoặc chủ yếu hớng về tuổi nhỏ Đó là lí do và cơ

sở khiến cho khái niệm văn học dân gian thiếu nhi đã và đang hình thành trong hoạt động nghiên cứu văn học dân gian của nhiều nớc trên thế giới Văn học dân gian thiếu nhi của ngời Việt phát triển khá sớm và chủ yếu tập trung ở hai lĩnh vực : Truyện kể (đồng thoại) và thơ ca (đồng dao) Nhìn chung phạm vi và ranh giới của đồng thoại (truyện dân gian trẻ em) của ngời Việt không rõ rệt và khó xác định hơn so với phạm vi và ranh giới của đồng dao

Có thể định nghĩa vắn tắt đồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em

Đồng dao có thể bắt nguồn từ các hình thức thơ ca dân gian của ngời lớn và đợc ngời lớn tham gia sáng tác sử dụng, nhng chủ yếu phải phù hợp với thế giới quan, tâm sinh lí của trẻ em, trẻ em trực tiếp lu truyền, diễn xớng Nhạc điệu và ngôn

từ trong trẻo hồn nhiên đơn giản và thờng gắn với những trò chơi, những hoạt

động cụ thể của trẻ em thuộc các lứa tuổi khác nhau

Ví dụ: Nu na nu nống

Trang 17

Ông cống về quê

Đá hề đá hối Cá đối cá mè

Tè he chân rụt

1.2.2.2 Ca dao viết về lao động :

Ca dao lao động bắt nguồn từ dân ca lao động nhng về sau phát triển độc lập với dân ca lao động Sở dĩ nh vậy là vì trong quá trình phát triển các loại dân

ca lao động đều có sự thay đổi, mở rộng chức năng và phạm vi phản ánh, ngoài chức năng nguyên thuỷ là phục vụ, hỗ trợ công việc lao động còn có thêm các chức năng khác nh : sinh hoạt vui chơi, t tởng, giáo dục, thẩm mỹ Vì thế, trong…phần lời của nhiều loại dân ca lao động chỉ có một bộ phận nhỏ nói về đề tài lao

động, còn phần lớn nói về đề tài khác, nhất là đề tài tình yêu nam nữ Đồng thời ở nhiều loại dân ca khác nh dân ca ru con, dân ca sinh hoạt cũng có một bộ…phận lời ca nói về đề tài sản xuất

Sự vận động phát triển ấy đã khiến cho ca dao lao động trở thành một lĩnh vực riêng vừa có tính độc lập tơng đối vừa có quan hệ xa hoặc gần, về phơng diện này hoặc phơng diện khác với hầu hết các thể loại dân ca truyền thống Và do đó,

có thể định nghĩa : Ca dao lao động là toàn bộ những lời ca về đề tài lao động bắt nguồn từ dân ca lao động và các loại dân ca khác

Với quan điểm phục vụ lao động vì lao động sản xuất nên ca dao rất cảm thông với ngời lao động Những bài ca dao hay nhất ý tứ sâu sắc nhất cũng là những hình tợng biểu hiện công sức lao động của ngời nông dân xa kia :

Cày đồng đang buổi ban tra

Mồ hôi thánh thót nh ma ruộng cày

Ai ơi bng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

Trang 18

1.2.2.3 Ca dao viết về nghi lễ phong tục :

Đây là loại ca dao ra đời sớm nhất trong loại hình trữ tình dân gian, lúc con ngời còn gửi gắm niềm tin lớn nhất vào các lực lợng siêu nhiên, vào các lời khẩn nguyền, cầu phúc, cầu yên

Những bài ca dao viết về nghi lễ phong tục thể hiện lòng tin của con ngời vào lực lợng siêu nhiên và cầu mong đợc những lực lợng siêu nhiên đó phù trợ trong lao động và trong cuộc sống

Lạy trời ma xuống Lấy nớc tôi uống Lấy ruộng tôi cày Lấy đầy bát cơm.

1.2.2.4 Ca dao ru con:

Ca dao ru con là bộ phận của ca dao sinh hoạt, là phần lời cốt lõi của dân

ca ru con của ngời Việt cũng nh của các dân tộc khác trên thế giới, xuất hiện sớm

và tồn tại lâu dài trong đời sống của nhân dân nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt gia đình

Đây là loại hát trong nhà, loại dân ca chủ yếu của sinh hoạt gia đình, có rất nhiều đặc diểm riêng so với các loại dân ca khác: chậm rãi, nhịp nhàng, êm ái và lắng đọng :

- Con ơi con ngủ cho muồi

Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

- Con ơi con ngủ cho muồi

Nớc non cha gánh mẹ ngồi mẹ ru.

1.2.2.5 Ca dao đấu tranh giai cấp :

Chúng ta đều biết rằng, suốt hơn nghìn năm lịch sử trớc Cách mạng tháng Tám, xã hội ta là xã hội phong kiến trong đó mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn

Trang 19

giữa giai cấp phong kiến và nông dân Đối kháng về quyền lợi, hai giai cấp ấy luôn luôn đấu tranh với nhau trên ba mặt trận: kinh tế, chính trị và t tởng Ca dao, tấm gơng phản ánh trung thành nhất cuộc đấu tranh giai cấp ấy, cho chúng ta nhiều tài liệu khá sinh động và đầy đủ.

Trong xã hội cũ, ngời nông dân quanh năm “đầu tắt mặt tối” , “dãi nắng dầm sơng” để làm ra của cải vật chất nhng vẫn phải sống cơ cực và thiếu thốn Nông thôn Việt Nam trớc Cách mạng tháng Tám đã chứng kiến bao nhiêu cảnh

“ăn xó mó niêu”, “nhà rách vách nát” Đó là kết quả áp bức bóc lột của giai cấp thống trị, đó là kết quả của tô tức, su cao thuế nặng, “những dây thòng lọng”, của

địa chủ tròng vào đầu nông dân từ khi có chính quyền phong kiến Không thể chịu đợc cảnh “nghèo xác nghèo xơ” bên cảnh “giàu nứt đố đổ vách”, nông dân

đã vùng lên đấu tranh chống bọn địa chủ

Nông dân vạch mặt tâm địa tham lam “bòn tro đãi trấu” của bọn địa chủ, nông dân còn thấy tính chất lừa gạt, phỉnh phờ, dụ dỗ, những thái độ hèn mạt, xỏ lá của chúng

Chúa ăn rồi chúa lại ngồi, Bắt thằng con ở dọn nồi dọn niêu.

Ngày trớc còn khí yêu yêu,

Về sau chửi mắng ra chiều tốn cơm.

Trớc kia còn để cho đơm, Sau thì giật lấy : Tao đơm cho mày.

1.2.2.6 Ca dao trữ tình:

Ca dao trữ tình là bộ phận lớn nhất, phát triển mạnh nhất, phong phú và đa dạng nhất của ca dao Nó chẳng những là phần lời thơ của các loại dân ca trữ tình nh: hát cò lả, trống quân, quan họ, các điệu lý, mà còn bao gồm cả những lời trữ tình trong các loại dân ca mà chức năng nguyên thuỷ (chức năng gốc) không

Trang 20

phải là trữ tình (nh các điệu hò lao động), các loại dân ca gắn với nghi lễ phong tục

Dù sinh ra từ loại dân ca nào, địa phơng và thời kì lịch sử cụ thể nào, thì ca dao trữ tình cũng là tiếng nói nội tâm của nhân dân, nhằm trực tiếp bộc lộ thái độ

và cảm xúc thẫm mĩ của con ngời trớc những đối tợng cụ thể khác nhau của tự nhiên và xã hội Nhìn tổng quát có thể phân ca dao trữ tình của ngời Việt thành năm mảng đề tài lớn: Thiên nhiên, lịch sử, gia đình, xã hội và tình yêu đôi lứa Trong các mảng đề tài đó, có thể nói ca dao trữ tình viết về tình yêu đôi lứa

là mảng đề tài quan trọng và chiếm số lợng lớn :

Bây giờ mận mới hỏi đào Vờn hồng đã có ai vào hay cha?

Mận hỏi thì đào xin tha Vờn hồng có lối nhng cha ai vào.

1.2.3 Nghệ thuật của ca dao:

Nói đến nghệ thuật của ca dao chúng ta thấy có rất nhiều vấn đề cần phải nói tới Nhng do phạm vi và giới hạn của khoá luận chúng tôi chỉ nói đến những

đặc điểm chính về nghệ thuật của ca dao

Ca dao là một trong những lĩnh vực văn hoá thể hiện rõ nhất, đậm đà, sâu sắc và bền vững nhất tính dân tộc Tính dân tộc của ca dao đợc thể hiện trong nhiều phơng diện, yếu tố khác nhau (đề tài, chủ đề, thể thơ ) nhng trớc hết và cơ

Trang 21

bản nhất là ở ngôn ngữ Không có ngôn ngữ dân tộc thì cũng không có cơ sở và

điều kiện để sáng tạo xây dựng nên các thể thơ dân tộc và các phơng tiện, các hình thức nghệ thuật khác mang tính dân tộc của ca dao Nhờ biiết dựa vào ngôn ngữ dân tộc, khai thác và sử dụng ngôn ngữ dân tộc đúng với đặc điểm và quy luật phát triển của nó mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã tạo nên đợc một nền thơ

ca dân gian phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc Và chính nền thơ ca dân gian phong phú ấy lại góp phần quan trọng làm cho ngôn ngữ dân tộc đợc củng cố và phát triển mạnh hơn Đó cũng là quy luật phổ biến của mối quan hệ và sự tác

động qua lại giữa văn học và ngôn ngữ các dân tộc Ta có thể tìm thấy bao tiếng nói thông thờng trong ca dao: vá, may, thêu, ta, cô, mình,

Cô kia cắt cỏ một mình Cho anh cắt với chung tình làm đôi

Cô còn cắt nữa hay thôi Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng

Ngôn ngữ trong ca dao vừa có tính dân tộc vừa có tính địa phơng, vì vậy nó vừa đa dạng vừa thống nhất :

Rồi mùa toóc rả (rạ), rơm khô

Bậu về xứ bậu biết nơi mô mà tìm

Khi sáng tác ca dao, nhân dân chọn lựa và sử dụng ngôn ngữ theo yêu cầu của nghệ thuật thơ ca để bộc lộ tình cảm và những cảm xúc thẩm mĩ mà ngôn ngữ thông thờng trong giao tiếp hàng ngày không thể nói thật rõ, thật chân xác đ-

ợc Vì thế, ngôn ngữ trong ca dao vừa giống lại vừa khác với ngôn ngữ giao tiếp thông thờng trong đời sống hàng ngày, ngôn ngữ trong ca dao rất giàu sắc thái biểu cảm, tính chất biểu tợng, ớc lệ, tợng trng, ẩn dụ, Đó là những điểm chung của ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ ca trữ tình

Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

Trang 22

Những từ nh: rồng, mây, trúc, mai, mận, đào, thuyền, bến, cũng nhnhững cụm từ nh: hạt ma sa, hạt ma rào, ở trong ca dao đều mang nghĩa khác với nghĩa gốc của chúng

1.2.3.2 Thể thơ trong ca dao :

Ca dao là phần lời của dân ca, do đó các thể thơ trong ca dao cũng sinh ra

từ dân ca Các thể thơ trong ca dao cũng đợc dùng trong các loại văn vần dân gian khác nhau (tục ngữ, câu đố, vè, ) Có thể chia các thể thơ trong ca dao làm…bốn loại chính

Có bị Cơm xôi

Có nồi Cơm nếp

- Vãn ba:

Lng đằng trớc Bụng đằng sau

Trang 23

Là hoa chim chim

- Vãn năm:

Kẻ trong nhà đói khổ Trời giá rét căm căm Nơi ớt để mẹ nằm Nơi khô xê con lại Chỗ khô bồng con lại.

- Thuyền ơi / có nhớ / bến chăng ? Bến thì / một dạ / khăng khăng / đợi thuyền.

- Trên đồng cạn / dới đồng sâu Chồng cày vợ cấy / con trâu đi bừa

ở lục bát biến thể, số tiếng trong mỗi vế có thể tăng giảm

Ví dụ:

Tởng giếng sâu em nối sợi gầu dài

Ai ngờ giếng cạn em tiếc hoài sợi dây.

1.2.3.2.3 Thể song thất và song thất lục bát:

Tuy không đợc dùng nhiều trong ca dao bằng thể lục bát, nhng cũng là một thể thơ dân gian bắt nguồn từ dân ca, mang cốt cách dân tộc độc đáo, khác với thơ thất ngôn Trung Quốc Thể thơ song thất mỗi câu gồm hai vế (hai dòng) mỗi vế gồm bảy âm tiết (bảy tiếng), ngắt nhịp ở tiếng thứ ba (3/4), gieo vần ở

Trang 24

tiếng thứ bảy của vế trên và tiếng thứ năm của vế dới (vần trắc) Ca dao làm theo thể song thất hiện cha tìm đợc nhiều.

Ma lâm thâm / ớt đầm lá hẹ

Ta thơng mình / có mẹ không cha.

Thể song thất lục bát gồm bốn vế (bốn dòng), hai vế trên là song thất, hai

vế dới là lục bát, giữa vế thứ hai (vế thất) và vế thứ ba (vế lục) vần với nhau ở hai tiếng cuối ( vần bằng)

Nớc giếng Vàng / vừa trong vừa mát Nâu chợ Chùa / nhuộm lạt lâu phai

Cá cửa Nhợng / khoai Mục Bài Khuyên ai về huyện Cẩm / kẻo một mai tiếc thầm.

Thể song thất lục bát cũng có biến thể :

Nớc chảy xuôi / con cá bơi lội ngợc Nớc chảy ngợc / con cá vợc lội ngang Thuyền em xuống bến Thuận An Thuyền anh lại trẩy lên ngàn, anh ơi ! 1.2.3.2.4 Thể thơ hỗn hợp (hợp thể):

Trong ca dao thể thơ này không đợc dùng nhiều bằng thể lục bát, nhng nhiều hơn thể song thất và song thất lục bát Thể này là sự kết hợp tự do các thể thơ vốn có của ca dao

Chiều chiều trớc bến Văn Lâu

Ai ngồi ai câu

Ai sầu ai thảm

Ai thơng ai cảm

Ai nhớ ai trông Thuyền ai thấp thoáng bên sông Nghe câu mái đẩy, trạnh lòng nớc non.

Trang 25

1.2.3.3 Kết cấu của ca dao :

Phạm vi kết cấu (hay cấu trúc) của ca dao rất rộng, bao gồm sự tổ chức thanh điệu, vần, nhịp, tổ chức nội dung, cấu tạo, ý, tứ, đoạn mạch, độ ngắn dài, Vì thế, việc nghiên cứu, lí giải một cách toàn diện các phơng tiện khác nhau của kết cấu ca dao là rất khóvà đến nay mới chỉ có một số nhân xet sbớc đầu về một số phơng diện nhất định

Kết cấu của ca dao không thể nhất thành bất biến mà chắc chắn đã hình thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của bản thân ca dao Do đó có thể giả thiết rằngkc của ca dao đã hình thành và phát triểntheo h-ớng từ ngắn đến dài, từ từ đơn giản đến phức tạp, lỏng bỏ đến chặt chẽ, thô phác

đến hoàn thiện Cố nhiên giới hạn của s hoàn thiện cũng nh của độ dài, độ phức tạp và chặt chẽ luôn luôn nằm trong phạm vi và giới hạn của ca dao nói chung cũng nh từng loại, từng bộ phận ca dao nói riêng Đồng thời cũng không loại trừ chiều hớng ngợc lại, tuy chỉ là thứ yếu và chỉ có thể diễn ra đối với một bộ phận nhỏ không tiêu biểu cho tiến trình phát triển cơ bản của ca dao

Xét theo quy mô (độ dài ngắn), có thể phân ca dao (chủ yếu là ca dao lục bát, bộ phận lớn nhất của ca dao) thành ba loại chính: loại ca dao ngắn, từ một

đến hai câu

Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

Loại ca dao trung bình, từ ba đến năm câu (sáu đến mời dòng):

Từ ngày em ở với anh,

Mẹ anh đánh mắng, anh tình phụ tôi.

Có thịt anh tình phụ xôi,

Có cam phụ quýt, có ngời phụ ta.

Có quán, tình phụ cây đa,

Ba năm quán đổ cây đa vẫn còn

Loại ca dao dài, từ sáu câu trở lên (một dòng trở lên):

Trang 26

Nhìn chung, loại ca dao ngắn đợc nhân dân sử dụng nhiều hơn và phát triển mạnh hơn vì phù hợp với chức năng và đặc điểm cơ bản của ca dao hơn.

Xét theo phơng thức thể hiện, diễn đạt từ ca dao có ba phơng thức thể hiện

đơn và ba phơng thức thể hiện kép (hay ghép – kết hợp) Ba phơng thức thể hiện

đơn là:

Phơng thức đối đáp (đối thoại): chủ yếu là bộ phận lời ca đợc sáng tác và

sử dụng trong hát đối đáp nam nữ, bao gồm cả đối thoại hai vế và đối thoại một vế

Đối thoại hai vế:

Bây giờ mận mới hỏi đào:

Vờn hồng đã có ai vào hay cha?”

Mận hỏi thì đào xin tha:

Vờn hồng có lối nhng cha ai vào!”

Đối thoại một vế :

Ra về anh dặn lời rằng:

Đâu hơn thì kết, đâu bằng đợi anh ”Phơng thức trần thuật (hay kể truyện – trữ tình, khác với trần thuật trong các loại t sự):

Hôm qua anh đến chơi nhà Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giờng

Thấy em nằm đất anh thơng Anh đi mua gỗ đóng giờng tám thang.

Phơng thức miêu tả (miêu tả theo cảm hứng trữ tình, khác với miêu tả khách quan trong các thể loại tự sự)

Đờng vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ.

Ba phơng thức kép (kết hợp) là:

Trần thuật kết hợp với đối thoại (chủ yếu là đối thoại một vế):

Trang 27

Hôm qua tát nớc đầu đình

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen

Em đợc thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà

áo anh sứt chỉ đờng tà

Vợ anh cha có, mẹ già cha khâu

áo anh sứt chỉ đã lâu Mai mợn cô ấy về khâu cho cùng Khâu rồi anh sẽ trả công

Đến khi lấy chồng anh lại giúp cho

Trần thuật kết hợp với miêu tả:

Lửng lơ vầng quế soi thềm Hơng đa bát ngát, càng thêm bận lòng Dao vàng vàng bỏ đẫy kim nhng Biết chăng quân tử có dùng ta chăng ?

Đèn tà thấp thoáng bóng chăng

Ai đem ngời ngọc thung thăng chốn này ?

Kết hợp cả ba phơng thức: Trần thuật, miêu tả, đối thoại với mức độ khác

nhau: Trèo lên cây bởi hái hoa

Bớc xuống vờn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay

Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh không hỏi những ngày còn không,

Bây giờ em đã có chồng

Nh chim vào lồng nh cá cắn câu Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thuở nào ra.

Trang 28

Chơng 2: số từ trong ca dao Việt Nam

2.1 Nói chung về số từ trong ca dao Việt Nam:

Có thể nói rằng, số từ trong ca dao Việt Nam trở thành một đặc điểm tiêu biểu, độc đáo để cho chúng ta tìm hiểu

Do giới hạn của đề tài cũng nh dung lợng của khoá luận, chúng tôi chỉ có thể đi vào tìm hiểu, khảo sát, thống kê, phân loại số từ trong ca dao Việt Nam ở cuốn “Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam” (tập 4 quyển 1, về tục ngữ - ca dao), NXB Giáo dục 1999

Khi đi vào khảo sát chúng tôi thấy rằng số từ xuất hiện trong ca dao đã

đem lại những điều độc đáo và ý nghĩa Góp phần thể hiện sự đặc sắc trong nghệ thuật biểu hiện của ca dao, cũng nh tâm t, tình cảm của con ngời Việt Nam từ bao

đời nay

Qua khảo sát và thống kê, chúng tôi thấy tần số xuất hiện của số từ trong

ca dao Việt Nam là khá lớn – cụ thể nh sau:

Chúng tôi thống kê đợc trong cuốn sách này có tổng số 9471 cặp ca dao, trong 9471 cặp đó thì có 2744 lần số từ xuất hiện Có những cặp ca dao số từ xuất hiện đến 3 - 4 lần, cũng có những cặp ca dao số từ chỉ xuất hiện một lần, có những cặp ca dao số từ không xuất hiện lần nào

Việc số từ xuất hiện trong ca dao, nhiều khi đọc lên chúng ta thấy nó hình

nh đợc sử dụng một cách bâng quơ, không ăn nhập, nhng phần lớn khi số từ xuất hiện trong ca dao nó thể hiện dụng ý rất lớn và cách sử dụng số từ trong ca dao cũng rất độc đáo và khéo léo

Số từ trong ca dao Việt Nam – qua khảo sát chúng ta thấy, các tác giả dân gian đã sử dụng số từ vào ca dao một cách phong phú và đa dạng

Đến với ca dao, ta bắt gặp nhiều con số đợc thể hiện trong các dòng ca dao, các bài ca dao

Trớc hết, đó là con số một:

Trang 29

Ai ơi thơng lấy cho ta Một niềm đợi bạn nay đà mấy đông (trg 177)

Đó là con số chín:

Chiều chiều chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau (trg 262)

Ta cũng bắt gặp nhiều trong ca dao những con số trăm, nghìn, vạn,

- Lời nguyền biển thẳm sông sâu Dầu trăm năm đi nữa, không bỏ nghĩa em đâu mà phiền

(trg 193)

- Quý hồ em có lòng thơng Một trăm, một vạn chặng đờng cũng đi (trg 194)

Trong ca dao, những số từ nh vài, dăm, dăm ba, ba bảy, đôi ba, cũng

đ-ợc sử dụng nhiều:

- Ai về đờng ấy hôm mai

Trang 30

Gửi dăm điều nhớ gửi vài điều thơng (trg 190)

- Anh cha có vợ nh chợ cha có đình, Trời ma giông đôi ba hột, anh biết ẩn mình vô mô

(trg 178)

Số từ trong ca dao thờng đứng trớc các danh từ:

Anh đi đâu ba bốn năm tròn

Để em giã gạo chày con một mình (trg 179)

Số từ trong ca dao cũng đợc sử dụng kèm với các động từ : Động từ + số từ

Ai về đờng ấy mấy hôm Gửi dăm điều nhớ gửi vài điều thơng (trg190)

ở cặp ca dao này, gửi“ ” là động từ và đi liền sau nó là các số từ dăm“ ”,

Trang 31

Giống em bảy rỡi, giống qua mời phần.

(Trg 329)

Số từ trong ca dao còn có thể đi kèm với các tính từ :

Có nàng vui một vui hai Vắng nàng tôi biết lấy ai bạn cùng (trg 323)

ở cặp ca dao này, số từ một“ ” và hai“ ” đứng sau tính từ vui “ ”

Số từ trong ca dao, có thể làm thành phần chính của một câu Nó có thể làm chủ ngữ:

Một là vui thú chẳng về Hai là đã trót lời thề cùng ai (trg 393)

Nó có thể làm vị ngữ nhng phía trớc phải có quan hệ từ “là”:

- Quý em biết thơng ta Một đêm gặp mặt cũng là một trăm.

(trg 623)

- Câu thơ ba chữ rành rành Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba.

Trang 32

- Trăm năm em không bỏ nghĩa anh mô

Anh đừng sầu não mà héo khô con ngời (trg 194)

- Ba bốn bữa rày anh có bụng trông,

Kẻ lên ngời xuống cũng không thấy nàng (trg 216)

- Ba chốn bốn nơi chàng rằng, Không nơi mô ắt hẳn, sau lỡ làng tính răng (trg 215)

Khi nhằm nhấn mạnh đến số lợng, thời gian hay nhằm giảm nhẹ thì các tác giả dân gian thờng đặt số từ lên đầu câu

Số từ đứng ở cuối câu:

- Chàng bao nhiêu tuổi năm nay Chàng hai mơi mốt, thiếp rày hai ba (trg 204)

- Bắc thang lên hỏi ngọn trầu vàng Cả cheo lẫn cới xin chàng một trăm (trg 218)

- Bắc thang hái ngọn trầu hơng

Đó thơng ta một, ta thơng đó mời (trg 218)

Cũng tơng tự nh số từ đứng ở đầu câu, số từ đứng ở cuối câu cũng nhằm nhấn mạnh về số lợng, hay thời gian tạo d âm, âm hởng nhiều hay ít trong lòng ngời

Số từ đứng ở giữa câu:

- Anh về không lấy vợ đi Sau rồi cha già con muộn, trăm công chi cũng đến phần (trg 185)

- Mùa đông trời rét căm căm

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w