1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam

228 572 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 3,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một thuật ngữ có thể dùng trong nhiều bộ môn nghệ thuật nhưng có lẽ quen thuộc hơn cả là người ta thường nói đến THTM như sự thể hiện của những tín hiệu TH ngôn ngữ được đặt tron

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐÀO THỊ DƯƠNG

MỘT SỐ TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐÀO THỊ DƯƠNG

MỘT SỐ TÍN HIỆU THẨM MĨ

TRONG CA DAO VIỆT NAM

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 01

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Mai Ngọc Chừ

Hà Nội- 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao

Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dựa trên sự góp ý của

giáo viên hướng dẫn Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là xác thực, chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác.

Hà Nội, ngày 06 tháng 08 năm 2015

Tác giả luận văn

Đào Thị Dương

Trang 4

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong Khoa Ngôn ngữ học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện học tập cho em trong suốt thời gian em học ở trường

Nhân đây em cũng xin phép gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện tốt để em hoàn thành luận văn

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng luận văn này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn

Hà Nội, ngày 06/08/2015

Học viên

Đào Thị Dương

Trang 5

BẢNG VIẾT TẮT

TH : Tín hiệu

THTM : Tín hiệu thẩm mĩ CBH : Cái biểu hiện

CĐBH : Cái đƣợc biểu hiện

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa khoa học của đề tài 8

7 Cấu trúc của luận văn 9

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10

1.1 Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ 10

1.1.1 Tín hiệu 10

1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ 12

1.1.3 Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ 13

1.2 Một số đặc tính cơ bản của THTM 15

1.2.1 Tính nguồn gốc 15

1.2.2 Tính cấp độ 16

1.2.3 Tính hệ thống 17

1.2.4 Tính biểu hiện 19

1.2.5 Tính biểu trưng 20

1.2.6 Tính trừu tượng và cụ thể 22

1.3 Quá trình để hiểu Tín hiệu thẩm mĩ 24

1.3.1 Tín hiệu thẩm mĩ với các yếu tố giao tiếp 24

1.3.2 Lý thuyết chiếu vật 27

1.4 Vài nét về ca dao và ngôn ngữ ca dao 28

Tiểu kết: 30

Chương 2: KHẢO SÁT MỘT SỐ TÍN HIỆU THẨM MĨ 31

TRONG CA DAO VIỆT NAM 31

2.1 Một số tín hiệu thuộc tự nhiên 31

Trang 7

2.1.1 Tín hiệu mưa 33

2.1.1.1 Các biến thể từ vựng của tín hiệu mưa trong ca dao 33

2.1.1.2 Các biến thể kết hợp của tín hiệu mưa trong ca dao 35

2.1.1.3 Các biến thể quan hệ của tín hiệu mưa trong ca dao 38

2.1.2 Tín hiệu nắng 40

2.1.2.1 Các biến thể từ vựng của tín hiệu nắng trong ca dao 40

2.1.2.2 Các biến thể kết hợp của tín hiệu nắng trong ca dao 42

2.1.2.3 Các biến thể quan hệ của tín hiệu nắng trong ca dao 44

2.1.3 Tín hiệu gió 45

2.1.3.1 Các biến thể từ vựng của tín hiệu gió trong ca dao 45

2.1.3.2 Các biến thể kết hợp của tín hiệu gió trong ca dao 47

2.1.3.3 Các biến thể quan hệ của tín hiệu gió trong ca dao 50

2.2 Một số tín hiệu là vật thể nhân tạo 52

2.2.1 Tín hiệu áo 54

2.2.1.1 Các biến thể từ vựng của tín hiệu áo trong ca dao 54

2.2.1.2 Các biến thể kết hợp của tín hiệu áo trong ca dao 56

2.2.1.3 Các biến thể quan hệ của tín hiệu áo trong ca dao 58

2.2.2 Tín hiệu yếm 60

2.2.1.1 Các biến thể từ vựng của tín hiệu yếm trong ca dao 60

2.2.1.2 Các biến thể kết hợp của tín hiệu yếm trong ca dao 62

2.2.1.2 Các biến thể quan hệ của tín hiệu yếm trong ca dao 64

Tiểu kết 65

Chương3: GIÁ TRỊ BIỂU TRƯNG CỦA MỘT SỐ TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO VIỆT NAM 66

3.1 Tín hiệu thuộc tự nhiên 66

3.1.1 Tín hiệu mưa 66

3.1.1.1 Mưa – hiện thân của sự sống 66

3.1.1.2 Mưa mang dáng hình lam lũ, chịu thương chịu khó của người lao động 69

3.1.1.3 Mưa trong lòng người 71

Trang 8

3.1.1.4 Mưa biểu trưng cho hình ảnh người phụ nữ 73

3.1.1.5 Mưa và mô thức tình cảm ái ân 74

3.1.2 Tín hiệu nắng 77

3.1.2.1 Nắng mở ra một không gian tràn ngập ánh sáng trong ca dao 77

3.1.2.2 Nắng biểu trưng cho nét tính cách của người lao động 79

3.1.2.3 Nắng biểu trưng cho thời cuộc và các mối quan hệ xã hội 80

3.1.3 Tín hiệu gió 82

3.1.3.1 Gió – không gian nên thơ, êm đềm và thanh thản 82

3.1.3.2 Gió – không gian tình yêu lãng mạn 84

3.1.3 Gió – không gian li biệt 87

3.1.3.4 Gió – sự thay lòng đổi dạ 90

3.2 Tín hiệu là vật thể nhân tạo 93

3.2.1 Tín hiệu áo 93

3.2.1.1 Áo và sự đồng nhất với chủ thể 93

3.2.1.2 Áo biểu trưng cho tình cảm gia đình 97

3.2.1.3 Áo biểu trưng cho tình yêu lứa đôi 98

3.2.1.4 Áo biểu trưng cho quan niệm về cái đẹp 100

3.2.1.5 Áo thể hiện nhân sinh quan của người xưa 102

3.2.2 Tín hiệu yếm 103

3.2.2.1 Yếm biểu trưng cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam 104

3.2.2.2 Yếm trở thành ngôn ngữ trao gửi tình yêu lứa đôi 107

3.2.2.3 Yếm biểu trưng cho tính dục 110

Tiểu kết 114

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

NGUỒN TƢ LIỆU 123

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 Ca dao ra đời từ rất sớm và lưu truyền cho đến ngày nay Ca dao thấm vào tâm hồn mỗi chúng ta từ lúc lọt lòng qua lời ru của bà, câu hát của mẹ Nhà thơ Nguyễn Duy đã giãi bày niềm xúc cảm chân thành của mình:

“Ta đi trọn kiếp con người Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”

Vòng tròn đời người khởi phát từ lời ca dao được mẹ ru bên cánh võng từ thuở ấu thơ, để rồi qua từng trường đoạn bể dâu, ca dao lại là lời gợi nhắc con người trở về với cội nguồn, với những giá trị văn hóa – nhân bản của dân tộc mình Bao đời nay, từ những câu ca dao đẹp như lòng mẹ, mỗi lớp hậu sinh vẫn tìm thấy mình trong tinh hoa ngàn đời của dân tộc tích tụ lại thành một dấu ấn riêng Trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam, ca dao chính là một viên ngọc vô giá và đến nay vẫn là một mảnh đất màu mỡ cho những tìm tòi, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học trên cả lĩnh vực văn hóa, văn học và ngôn ngữ học

2 Nói đến tín hiệu thẩm mĩ (THTM) là nói đến một vấn đề lí luận mang tính liên ngành Đây là một thuật ngữ có thể dùng trong nhiều bộ môn nghệ thuật nhưng

có lẽ quen thuộc hơn cả là người ta thường nói đến THTM như sự thể hiện của những tín hiệu (TH) ngôn ngữ được đặt trong mối quan hệ với tác phẩm văn chương Bản thân TH ngôn ngữ đã mang nghĩa biểu trưng Không dừng lại ở đó, một TH ngôn ngữ thông thường khi đi vào thế giới thi ca thì đã được chuyển hóa thành TH nghệ thuật, THTM – ngôn ngữ hay TH văn chương THTM có nhiều đặc tính trong đó đáng chú ý nhất là tính biểu trưng Tính biểu trưng được xét trong mối quan hệ hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Đó là mối quan hệ “có lí do” liên quan đến năng lực biểu trưng hóa, đến khả năng của THTM vừa có tính chất biểu thị - nói lên một cái gì, vừa có tính chất hàm nghĩa - sự thêm nghĩa trên một nghĩa

có sẵn Ví dụ: Cây thuỳ dương trong thơ dân gian Nga biểu trưng cho tư tưởng, tình cảm nam nữ; con cò biểu trưng cho điều lành, đức thiếu thảo; hoa sen biểu trưng cho lòng trong trắng… Biểu trưng, một mặt có tính hình tượng cụ thể, cái biểu hiện

nó là đối tượng nào đó được quy chiếu từ hiện thực Mặt khác, là ý nghĩa xã hội nào đó được cả cộng đồng chấp nhận

Trang 10

3 Vấn đề tiếp cận văn học dưới ánh sáng của ngôn ngữ học đang trở thành mối quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Từ góc độ ngôn ngữ, người nghiên cứu sẽ có những phương pháp hữu hiệu để biến những cảm nhận trực quan của người tiếp nhận văn học thành những phân tích khoa học khách quan và xác đáng

Ở Việt Nam những năm qua, nghiên cứu ngôn ngữ ca dao đã có nhiều thành tựu,đặc biệt là những công trình của các tác giả Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Xuân Kính, Mai Ngọc Chừ, Phạm Thị Thu Yến…

Trong tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học hiện nay, cách tiếp cận nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ được coi như một trong những con đường đến với những cái hay,

cái đẹp cũng như những giá trị đích thực, muôn đời của ca dao Việt Nam Con cò,

con bống, hạt mưa, làn gió, hoa sen, hoa nhài, ngọn đèn không tắt, chiếc áo rách, dải yếm đào, trầu cau, tấm gương mờ… là những THTM quen thuộc trong ca dao

Đó là những hình ảnh có khả năng biểu trưng những ý nghĩa sâu xa, được dân gian chọn lọc trong sử dụng và thử thách qua nhiều năm tháng, thể hiện đậm nét những đặc trưng truyền thống của folklore

Với những lý do như trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số tín

hiệu thẩm mĩ trong ca dao Việt Nam” Lựa chọn đề tài này, chúng tôi hy vọng góp

phần xử lý một vấn đề thu hút được quan tâm từ cả hai phía nghiên cứu ngôn ngữ

và văn học Mặt khác, thông qua việc chọn lọc và phân tích một số THTM tiêu biểu, chúng tôi hy vọng sẽ tìm ra đúng những từ chìa khóa để đi vào giải mã thế giới nghệ thuật ca dao đồng thời góp phần làm sáng tỏ những giá trị đặc sắc của ngôn ngữ ca dao Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề

Khái niệm THTM ra đời gắn với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu

mỹ học và nghệ thuật những năm giữa thế kỷ XX, được đưa vào nước ta từ những năm 70 qua các bản dịch công trình của Iu A Philipiep, M B Khrapchenco, các nghiên cứu của Hoàng Trinh, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Lai, Trần Đình Sử… Cho đến nay, vấn đề về THTM đang được quan tâm và việc tiếp cận tác phẩm văn học bằng cách nghiên cứu THTM trở nên phổ biến hơn

Các luận án, luận văn triển khai theo hướng ngôn ngữ học khi đi vào phân tích THTM trong tác phẩm văn học đã xuất hiện nhưng không nhiều Với luận án

“Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ – không gian trong ca

Trang 11

dao”(1995), tác giả Trương Thị Nhàn đã vận dụng những phương pháp và kiến

thức ngôn ngữ học hiện đại vào nghiên cứu một phương diện của văn học – phương diện THTM, góp phần đưa ngôn ngữ học vào nghiên cứu văn học và xử lý THTM trong văn học; đồng thời, luận án cũng tiến hành nghiên cứu thi pháp ca dao cũng

như đưa ra cách tiếp cận mới đối với ca dao Trong luận văn “Một số tín hiệu thẩm

mĩ trong thơ tình Xuân Quỳnh” (1990), tác giả Lê Thị Tuyết Hạnh đã ứng dụng

phương pháp nghiên cứu ngữ nghĩa học vào việc phát hiện và khẳng định giá trị của một số THTM có tần số xuất hiện cao trong thơ tình Xuân Quỳnh, từ đó góp cơ sở cho việc tìm hiểu những đặc sắc và sáng tạo về nội dung cũng như nghệ thuật của

phong cách thơ Xuân Quỳnh Gần đây nhất là các luận văn sau đại học “Khảo sát

một số tín hiệu thẩm mĩ tiêu biểu thuộc trường nghĩa tự nhiên trong thơ Xuân Diệu

và Hàn Mặc Tử trước Cách mạng tháng Tám” (2008) của Phùng Thị Cảnh Trang,

luận văn “Tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ hoa trong Truyện Kiều của Nguyễn Du trên ba

bình diện: kết học, nghĩa học, dụng học” (2008) của Nguyễn Ngọc Bích… Các tác

giả luận văn đã sử dụng phương pháp phân tích ngữ cảnh tu từ để làm sáng rõ giá trị của các THTM được khảo sát

Nhiều công trình đã vận dụng khái niệm “biểu trưng”, “biểu tượng” để nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm văn học, song thực chất đó cũng là nghiên cứu về

THTM Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong luận án “Biểu tượng nghệ thuật trong

ca dao truyền thống người Việt” (2002) đã tiến hành phân loại, miêu tả và tìm hiểu

hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong ca dao từ nhiều phương diện như: nguồn gốc

và con đường hình thành biểu tượng, sự vận động của biểu tượng trong từng chỉnh thể đơn vị hoặc nhóm đơn vị ca dao Tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa trong luận án

“Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam” (2005) đã phân loại và phân tích sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng

trang phục trong các giai đoạn thơ ca khác nhau dưới ánh sáng của lý thuyết về biểu tượng Đó là những công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc và đạt được nhiều thành tựu

Nhiều công trình nghiên cứu thơ ca dân gian cũng đã sử dụng các khái niệm THTM, biểu trưng, biểu tượng Vấn đề nghiên cứu biểu tượng trong ca dao và một

số biểu tượng con cò, con bống… đã được nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan chú ý ngay từ khi ông công bố lần đầu tuyển tập “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” của

Trang 12

mình Sau đó, Cao Huy Đỉnh, Phan Đăng Nhật, Hà Công Tài, Trương Thị Nhàn, Nguyễn Xuân Kính, Mai Ngọc Chừ, Phạm Thị Thu Yến… cũng đã có các bài nghiên cứu về biểu tượng, biểu trưng, THTM trong thơ ca dân gian ở những góc độ

khác nhau Hà Công Tài đi sâu khảo sát biểu tượng “trăng” trong ca dao Nguyễn

Xuân Kính chỉ ra đặc sắc riêng của một số biểu tượng ca dao trong tương quan với

văn học viết.Với “Lối đối đáp trong ca dao trữ tình”, tác giả Cao Huy Đỉnh đã đề cập đến các cặp tín hiệu như: “trúc – mai”, “mận – đào”, “thuyền – bến”… Từ đó,

tác giả chỉ ra nét độc đáo, thú vị trong ca dao chính là ở lối đối đáp, trò chuyện giữa hai người…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã tiếp cận tác phẩm văn học nói chung và thơ ca dân gian nói riêng dưới ánh sáng lý thuyết của ngôn ngữ học như:

lý thuyết về tín hiệu, lý thuyết về hệ thống, lý thuyết về biểu tượng, trường nghĩa…

và đã có những đóng góp nhất định Trong bối cảnh của sự gặp gỡ, giao thoa giữa hai ngành nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, chúng tôi lựa chọn một đề tài nghiên

cứu ngôn ngữ học liên quan đến văn học “Một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao

Việt Nam” Tiếp thu thành tựu của những công trình đã công bố, đồng thời để tránh

trùng lặp với người đi trước, luận văn tập trung vào một số THTM chưa được khai

thác hoặc mới chỉ được nói đến một cách sơ lược Đó là các tín hiệu: mưa, nắng,

gió, áo, yếm

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, người viết đã đặt ra và thực hiện những nhiệmvụ chính dưới đây:

- Khảo sát một cách hệ thống về tần số xuất hiện của các TH thuộc tự

nhiên(mưa, nắng, gió)và các TH là vật thể nhân tạo(áo, yếm) Các TH này liên kết

Trang 13

tạo thành bức tranh tự nhiên và con người hài hòa, phong phú, sinh động trong ca dao Việt Nam

- Khảo sát, phân tích về khả năng phân bố của các THTM dựa trên hai trục song hành: trục tuyến tính và trục liên tưởng

- Phân tích, miêu tả giá trị biểu trưng của một số THTM tiêu biểu đó trong ca dao Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một sốTHTM tiêu biểu trong ca dao

Việt Nam: mưa, nắng, gió, áo yếm

- Phạm vi nghiên cứu: Nguồn tư liệu mà chúng tôi chọn để khảo sát là tất cả

các lời ca dao trong cuốn “Ca dao Việt Nam” – Vũ Dung, Vũ Thúy Anh sưu tầm và

biên soạn, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003 Sở dĩ chúng tôi chọn nguồn tư liệu này bởi vì đây là một công trình tiêu biểu và được đánh giá cao Đồng thời chúng tôi cũng thu thập thêm tư liệu từ một số tuyển tập ca dao khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ học là chủ yếu Trên cơ sở những tư liệu được thu thập và xử lý, trên nền tảng những con số được thống kê và phân tích, chúng tôi đưa ra những nhận xét mang tính khái quát về vấn đề cần nghiên cứu

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng thao tác thống kê, phân loại để được tần số xuất hiện của các TH, sắp xếp chúng vào các nhóm TH có chung đặc điểm

Từ đó chúng tôi xác định cấp độ của đối tượng đang xem xét rồi đặt vào trong quan hệ dọc, quan hệ ngang để so sánh nhằm tìm ra những yếu tố đồng nhất

và đối lập trong hệ thống

Đồng thời, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp phân tích ngữ cảnh kết hợp với các yếu tố giao tiếp để khai thác các tầng nghĩa biểu trưng của TH

6 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lí luận liên quan đến THTM Đề tài cũng góp phần làm rõ những đặc trưng nghệ thuật của ca dao Việt Nam

Về ý nghĩa thực tiễn, bằng việc làm sáng tỏ các THTM trong ca dao, luận văn sẽ góp phần vào việc giúp bạn đọc hiểu thêm cái hay, cái đẹp của ca dao Việt

Trang 14

Nam, giúp các thầy cô giáo trong việc phân tích sâu hơn những tác phẩm ca dao được giảng dạy trong nhà trường

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Khảo sát một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Việt Nam

Chương 3: Giá trị biểu trưng của một số tín hiệu thẩm mĩ tiêu biểu trong ca dao Việt Nam

Trang 15

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Cho đến nay các định nghĩa về THTMđã được tìm thấy rải rác trong những công trình của các tác giả như In A Philipiep, M B Khrapchenko, Hoàng Trinh, Trần Đình Sử, Đỗ Hữu Châu… Trong chương này, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày một cách vắn tắt những điểm chủ yếu trong quan niệm của các tác giả kể trên, để từ

đó tự định cho mình một cách hiểu cụ thể, làm cơ sở cho việc tiến hành nghiên cứu THTM trong đề tài Vì THTM, về bản chất cũng là một loại TH cho nên nghiên cứu một THTM phải đặt nó trong phạm trù chung của TH Mặt khác, yêu cầu của việc nghiên cứu THTM trong tương quan với hệ thống ngôn ngữ biểu hiện trong tác phẩm văn học đòi hỏi phải nhìn nhận THTM trong mối quan hệ với TH ngôn ngữ Những vấn đề về THTM mà chúng tôi quan tâm liên quan đến cả những quan niệm

về TH nói chung và TH ngôn ngữ nói riêng

1.1 Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ

1.1.1 Tín hiệu

Có nhiều định nghĩa khác nhau về TH, liên quan đến những cách hiểu rộng

hẹp khác nhau của các tác giả Trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng”, Đỗ Hữu Châu đã nêu ra định nghĩa TH của P Guiraud: “Một tín hiệu… là một kích

thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh ký ức của một kích thích khác”

[6, 51] Còn A Schaff lại định nghĩa THTM theo nghĩa hẹp:“Một sự vật vật chất

hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở thành TH nếu như trong quá trình giao tiếp nó được các nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm” [6, 51]

Định nghĩa của A Schaff hẹp ở chỗ chỉ thừa nhận những sự vật hiện tượng là

TH khi nó được sử dụng có ý thức trong phạm vi một hệ thống có tư cách như một ngôn ngữ để trao đổi tư tưởng, tình cảm giữa người với người, còn những TH giao tiếp không ý thức của động vật không được thừa nhận là TH

Quan niệm của P Guiraud về TH rộng hơn vì nó bao hàm cả những TH hẹp, những TH nhận biết đối với thế giới sinh vật, cả những TH giao tiếp có tính chất bản năng của loài vật Theo cách hiểu này, tất cả những hình thức vật chất có khả năng gợi ra những hình ảnh đều được coi là TH, không phân biệt nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo, có chức năng giao tiếp hay phi giao tiếp… Một đám mây với

Trang 16

khả năng gợi ra hình ảnh về cơn mưa trong nhận thức của con người Một giọng nói “tự nói lên” những đặc điểm về quê quán, về tuổi tác, nghề nghiệp, trạng thái tâm sinh lý… của người nói trong sự nhận thức của người nghe Một câu hỏi nhưng

chính là một lời tỏ tình của ca dao: “Tre non đủ lá đan sàng được chăng?” Một

con thuyền trong ý nghĩa của “người đi” mà ca dao vẫn thường nhắc đến… Các nhà nghiên cứu lý thuyết về thông tin gọi đó là những yếu tố mang tin Các nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học gọi đó là những yếu tố mang nghĩa

Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng đãchỉ ra những điều kiện cần cho một sự vật, hiện tượng, hay thuộc tính vật chất trở thành TH: 1 Phải có một hình thức cảm tính (cái biểu hiện); 2 Phải có một nội dung ý nghĩa (cái được biểu hiện); 3 Phải được nhận thức bởi một chủ thể nào đó (đối tượng của thông tin); 4 Phải nằm trong một

hệ thống nhất định Chúng tôi coi những điều kiện này là cơ sở cho sự nhận diện

TH trong đề tài Một TH là một yếu tố bao hàm hai mặt: “Cái biểu hiện” (CBH) và

“cái được biểu hiện” (CĐBH), đồng thời cũng là một yếu tố chỉ có thể xác định được trong mối tương quan với chủ thể nhận thức và với hệ thống mà nó tham gia

Về phân loại TH, các tác giả cũng đưa ra nhiều cách phân loại khác nhau dựa vào những tiêu chí khác nhau Phân loại của C Peirce phân biệt ba phạm trù chính của TH: hình hiệu, dấu hiệu, biểu trưng C Morris đưa thêm vào hệ thống phân loại những phạm trù: chỉ hiệu, định hiệu Bảng phân loại của P Guiraud có sự phân biệt

TH tự nhiên với TH nhân tạo, TH biểu hiện và TH giao tiếp Lấy bảng phân loại TH của P Guiraud làm trục chính, trên cơ sở bổ sung thêm kết quả phân loại của các tác giả khác, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra nguyên tắc phân loại theo những tiêu chí khác nhau Căn cứ vào chức năng xã hội có thể phân loại các TH thành TH giao tiếp và

TH phi giao tiếp Căn cứ vào đặc tính thể chất của cái biểu đạt có thể phân loại thành: TH thị giác, TH tính giác, TH xúc giác… Căn cứ vào nguồn gốc để chia thành TH tự nhiên và TH nhân tạo Căn cứ vào quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt có thể quy TH thành ba loại: dấu hiệu, hình hiệu và ước hiệu

Các phạm trù TH được kể ở đây tuy không đồng nhất trong quan niệm của mỗi tác giả và cũng không tương đồng với nhau trên cùng một tiêu chí phân loại nhất định nhưng có tác dụng cung cấp những khái niệm TH quan trọng trong việc nghiên cứu những đặc tính tín hiệu học khác nhau của các TH, làm cơ sở cho sự phân biệt TH được nghiên cứu trong đề tài

Trang 17

Trong tất cả những phân loại kể trên, chúng tôi sử dụng bảng phân loại của

Đỗ Hữu Châu mà ưu điểm là bao quát được tất cả những phạm trù – loại khác nhau của TH, đồng thời chỉ ra được mối quan hệ loại hình giữa các TH trên các tiêu chí khác nhau như: chức năng xã hội của TH, đặc tính thể chất của CBH, nguồn gốc

TH, tính chất mối quan hệ giữa hai mặt CBH và CĐBH, sự chuyển mã, đặc tính tổ chức của TH…

1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ

Ngôn ngữ thường được nói đến như một hệ thống TH đặc biệt Cuốn giáo

trình “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” đã nhấn mạnh đến vấn đề chức năng và đặc

tính đa chức năng của các TH ngôn ngữ so với các hệ thống TH nói chung và TH mang chức năng giao tiếp nói riêng Ngôn ngữ không chỉ thuần túy mang chức năng giao tiếp mà đồng thời còn là công cụ để tư duy, để tổ chức xã hội, để duy trì sự sống con người, ngôn ngữ còn mang chức năng thi pháp… Riêng đối với chức năng giao tiếp, cũng có sự phân biệt giữa những chức năng khác nhau liên quan đến những nhân tố khác nhau của hoạt động giao tiếp: chức năng miêu tả, chức năng dụng học, chức năng phát ngôn, chức năng cú học

Từ những khía cạnh chức năng khác nhau của ngôn ngữ có thể xác định ý nghĩa “tín hiệu” của chúng trên tất cả những đơn vị mang nghĩa (đơn vị hai mặt), từ

từ đến cụm từ, đến câu, đoạn, văn bản Một từ, ngữ, câu nói nào đó có thể vừa mang thông tin về sự vật, hiện tượng được nói tới, vừa bộc lộ những đặc điểm về

địa phương, về nghề nghiệp, về trạng thái tâm lý của người nói… Từ “nỏ” trong câu ca dao “Đã thương thì thương cho chắc, Nỏ bằng trục trặc thì trục trặc cho

luôn…” cho biết người nói là người xứ Nghệ Câu hỏi “Mấy giờ rồi?” trong những

hoàn cảnh nhất định, có thể cho biết thái độ khó chịu (mong khách ngồi lâu đứng dậy ra về) của người nói… Ở bất kỳ cấp độ nào, một TH ngôn ngữ cũng phải bao hàm một hình thức ngữ âm (CBH) tương ứng với một nội dung ngữ nghĩa (CĐBH)

và ở bất kỳ cấp độ nào, giá trị của TH ngôn ngữ cũng phải do những mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định

Về các quan hệ hệ thống của TH ngôn ngữ,“Giáo trình ngôn ngữ học đại

cương” của F de Saussure đề cập đến hai loại quan hệ chung nhất: 1 Quan hệ đồng

nhất – đối lập và quan hệ khác biệt; 2 Quan hệ hình tuyến và quan hệ trực tuyến Ngôn ngữ học hiện đại lưu ý thêm các loại quan hệ: 3 Quan hệ tôn ti (giữa các cấp

Trang 18

độ của ngôn ngữ) và 4 Quan hệ hiện thực hóa (giữa bình diện trừu tượng và bình diện cụ thể, giữa điển dạng và hiện dạng của TH)…

Những nguyên tắc của đồng nhất và đối lập, của kết hợp và liên tưởng, của trừu tượng và cụ thể… trong hệ thống TH ngôn ngữ cũng chính là những vấn đề cốt yếu giúp cho việc lý giải về TH ngôn ngữ trong quá trình hoạt động thực hiện các chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp, kể cả giao tiếp nghệ thuật (giao tiếp của văn học)

1.1.3 Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ

Bước vào thế giới nghệ thuật, những TH thông thường sẽ chuyển hóa thành THTM, mang những đặc thù nghệ thuật Hiểu một cách chung nhất, THTM là yếu

tố thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Nói đến phương tiện biểu hiện nghệ thuật là nói đến hai mặt: thể chất và tinh thần Mặt thể chất là những chất liệu (hình thức vật chất) được sử dụng trong mỗi ngành nghệ thuật, mỗi loại chất liệu sẽ có chỗ mạnh, chỗ yếu riêng làm nên đặc thù của ngành nghệ thuật đó: đường nét, màu sắc trong hội họa, âm thanh có nhịp điệu trong âm nhạc, ngôn ngữ trong văn học Còn mặt tinh thần thì trừu tượng và phức tạp, bao hàm nhiều loại nội dung, nhiều lớp ý nghĩa, nhiều tầng khái quát hóa, trừu tượng hóa mang tính thẩm

Đối với tác phẩm văn học, hình thức vật chất của THTM chính là ngôn ngữ Cấu trúc đặc biệt của TH ngôn ngữ cho phép chứa đựng trong mỗi ngôn từ của tác phẩm văn học một phạm vi nào đó của đời sống hiện thực cùng những nét thuộc tính khách quan của đời sống hiện thực được phản ánh, làm thành ý nghĩa biểu vật, biểu niệm của từ Vì vậy, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện mà còn là chất liệu của văn học Tuy nhiên, không thể đồng nhất ngôn ngữ với văn học, và không thể đồng nhất TH ngôn ngữ với THTM

THTM trong tác phẩm văn học bao giờ cũng có hình thức vật chất của nó, đó

là hình thức ngôn ngữ Các yếu tố của hiện thực được đưa vào tác phẩm với vai trò THTM, bao giờ cũng phải được diễn đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên Nhưng ngược lại những tín hiệu của ngôn ngữ tự nhiên, ngay cả khi đã được sử dụng vào tác phẩm văn học cũng chưa hẳn đã là THTM THTM phân biệt với các TH ngôn ngữ tự nhiên ở chỗ ý nghĩa của nó không chỉ dừng lại ở phạm vi tái tạo hiện thực mà phải

Trang 19

là một khái quát nghệ thuật về tư tưởng, một ý nghĩa nào đó của tác giả văn học

Có thể hình dung THTM trong quan hệ với TH ngôn ngữ theo sơ đồ sau:

TH ngôn ngữ Cbh Âm thanh THTM

tính chất vượt cấp này là do vai trò quyết định của chủ thể sáng tạo khiến cho “giữa

cách dùng ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ của nhà văn có một vực thẳm không qua được” [45; 9]

Trong TH ngôn ngữ tự nhiên, quan hệ giữa CBH và CĐBH có thể là võ đoán Nhưng trong THTM, nó luôn có lý do và là lý do liên hội Tính chất liên hội của THTM trong văn học giúp cho hình tượng nghệ thuật luôn thoát khỏi những giới hạn ngữ nghĩa thuần ngôn ngữ, trở thành những yếu tố có sức khái quát lớn về mặt nội dung và tư tưởng nghệ thuật Thông thường, cái được biểu hiện của một THTM càng có tính khái quát hơn so với nội dung khái niệm của ngôn ngữ, càng có giá trị hơn trong việc giúp người đọc tư duy rộng hơn, cao hơn những gì thuộc về thực tại

Có thể nói, hiện thực, để trở thành chất liệu hiện hình trong tác phẩm văn học, đã đi theo con đường “ngôn ngữ hóa”, sử dụng những hình thức ngữ âm mang

ý nghĩa biểu vật, biểu niệm, sử dụng những kết cấu ngữ pháp chứa đựng những yếu

tố, sự kiện của cuộc sống… Nhưng các yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật, muốn trở thành chất liệu thực thụ của văn học phải chịu một quá trình khái quát hóa nghệ thuật, biểu trưng hóa nghệ thuật để đạt tới những ý nghĩa thẩm mĩ (hay còn gọi

là ý nghĩa biểu trưng hóa nghệ thuật)

Từ sự phân tích ý nghĩa thực sự của phương tiện nghệ thuật, tác giả Đỗ Hữu Châu đã có những kiến giải cụ thể hơn về THTM: THTM là phương tiện sơ cấp của văn học Ngôn ngữ (chất liệu) trong văn học chỉ là hình thức – cái biểu hiện của

Trang 20

THTM, là phương tiện thứ cấp so với THTM Đi tìm THTM vì vậy không thể chỉ căn cứ trên các hình thức ngôn ngữ thuần túy Để trả lời câu hỏi đặt ra: thế nào là một THTM, tác giả chủ trương căn cứ vào sự tương ứng của THTM với các vật quy

chiếu thuộc thế giới hiện thực: “THTM phải tương ứng với một vật quy chiếu nào

đấy trong thế giới hiện thực: một con thuyền, một dòng sông, một nỗi buồn… nào

đó chẳng hạn THTM là cái được tác giả lựa chọn từ thế giới hiện thực mà xây dựng nên, sáng tạo ra”

Trên cơ sở những điều trình bày trên, chúng ta có thể hiểu THTM là TH thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của các ngành nghệ thuật, bao gồm toàn

bộ những yếu tố của hiện thực, những chi tiết, những sự vật, hiện tượng của đời sống được đưa vào tác phẩm vì mục đích thẩm mĩ

Như vậy, điều kiện để các yếu tố hiện thực trở thành THTM bao gồm: Thứ nhất, phải có cái biểu hiện là các hình thức vật chất (chất liệu) nghệ thuật Thứ hai, THTM phải đảm bảo cái được biểu hiện mang một nội dung tinh thần (ý nghĩa thẩm mĩ) rộng hơn, cao hơn bản thân hiện thực được nói đến Thứ ba, một yếu tố hiện thực trở nên mang tính thẩm mĩ là do vai trò của sự liên tưởng trong tư duy của chủ thể tiếp nhận; những nội dung ý nghĩa thẩm mĩ có được tiếp nhận, được mở rộng hay không qua các thời đại, các cộng đồng, các cá nhân… phụ thuộc ở những điều kiện về lịch sử, xã hội, về tâm lý liên quan đến sự liên tưởng của chủ thể tiếp nhận Cuối cùng, một yếu tố hiện thực được coi là THTM chỉ khi nó thuộc về một hệ thống THTM nhất định, mỗi hệ thống có những đặc điểm cụ thể với những kiểu quan hệ đem lại giá trị riêng cho THTM trong mỗi lần xuất hiện

Trang 21

THTM còn có nguồn gốc từ những liên tưởng logic hoặc phi logic của chủ thể sáng tác Đó có thể là sản phẩm của trực giác mà chỉ với những hiểu biết về thế giới thực tại thông thường sẽ khó lý giải được những THTM loại này Bởi vậy, trước tiên ta phải xác định được là THTM được quy chiếu từ nguồn gốc – hiện thực nào

THTM còn có nguồn gốc từ các sự kiện ngôn ngữ như từ địa phương, một đoạn đối thoại; các yếu tố ngôn ngữ như tiếng, âm, vần, thanh…; cấu trúc ngữ pháp câu như đảo trật tự từ, tỉnh lược, lặp từ…; cách trình bày văn bản… Những yếu tố này đều có thể trở thành THTM trong tác phẩm với điều kiện chúng đều nhằm phục

vụ cho một tư tưởng thẩm mĩ nhất định, được nhận thức bởi một chủ thể thẩm mĩ nhất định

1.2.2 Tính cấp độ

THTM trong tác phẩm gắn với các cấp độ trong TH ngôn ngữ Nếu quan niệm THTM nhữ một loại đơn vị hai mặt, có ý nghĩa thẩm mĩ, sẽ có các đơn vị THTM tương ứng với các TH đơn “có ý nghĩa trực tiếp” và những TH mới được kết hợp từ nhiều TH đơn Theo sự phân loại của Đỗ Hữu Châu, THTM được chia thành hai cấp độ:

Cấp độ thứ nhất là cấp độ cơ sở (các tín hiệu đơn): Là những THTM tương

đương với một chi tiết, một sự vật, hiện tượng thuộc thế giới khách quan như: mây,

mưa, gió, bão, mặt trời, con thuyền, bến nước…Nó mang ý nghĩa biểu trưng nghệ

thuật tương đối hoàn chỉnh trong tương quan với những yếu tố khác cùng tham gia vào quá trình biểu trưng nghệ thuật.Các tín hiệu cơ sở này có chức năng cấu tạo nên THTM ở cấp độ cao hơn Thuộc phạm vi này, THTM có thể tương đương với đơn

vị từ trong TH ngôn ngữ

Cấp độ thứ hai là cấp độ xây dựng (các tín hiệu phức): Là những THTM tương đương với nhiều sự vật, hiện tượng… được xây dựng từ những TH đơn nhưng ý nghĩa không phải là kết quả của phép cộng đơn giản các tín hiệu đơn Nó mang ý nghĩa thẩm mĩ mới có tính chất tổng hòa và tương đối độc lập so với ý nghĩa của từng tín hiệu riêng lẻ tham gia trong nó Ở cấp độ này, THTM có thể tương đương với các đơn vị câu, đoạn, văn bản trong hệ thống các TH ngôn ngữ Mỗi THTM lúc này không còn là một yếu tố nào đó của hiện thực, mà là những sự kiện, những quá trình của đời sống hiện thực trong sự ghi nhận của tác giả

Trang 22

Trong luận văn này, THTM được xét đến là những TH đơn Mỗi TH ứng với một yếu tố hiện thực (yếu tố tự nhiên, yếu tố con người) và được cụ thể, đa dạng hóa bằng các hình thức ngôn ngữ nhất định Nghiên cứu các hình thức biểu đạt này

sẽ là cách thức để phát hiện ra các ý nghĩa của các THTM

1.2.3 Tính hệ thống

Tính hệ thống là đặc tính quan trọng của THTM nói chung và THTM trong ngôn ngữ văn chương nói riêng Là THTM nghĩa là nó phải thuộc về một hệ thống, chịu sự chi phối của những yếu tố khác trong hệ thống Chỉ có thể hiểu được một THTM khi đặt nó vào trong hệ thống – môi sinh của nó Hệ thống quy định chiều hướng tạo nghĩa cũng như chiều hướng luận nghĩa của THTM Theo đó, mọi cấp độ chuyển hóa tinh tế, phức tạp nhất giữa nội dung và hình thức trong THTM mới được làm sáng tỏ Nguyễn Lai đã nói tầm quan trọng của hệ thống: “Tính hệ thống không phải là bản thân TH, nhưng nó khống chế và điều chỉnh làm cho phẩm chất vốn có của TH (đặc biệt là TH ngôn ngữ) trở nên năng động hơn; đồng thời qua đó tạo ra được những trường hợp mới vô cùng đa dạng phản ánh nhận thức mới theo những phẩm chất khác nhau” [34; 32]

Hệ thống của THTM trước hết là tác phẩm được nó góp phần cấu thành Các mối quan hệ hệ thống tạo ra giá trị của nó bao gồm: các mối quan hệ trong văn bản tác phẩm văn học và các mối quan hệ bên ngoài văn bản tác phẩm văn học Giá trị của THTM là tổng hòa ý nghĩa của các mối quan hệ nội – ngoại tại đó

(1) Những mối quan hệ trong văn bản tác phẩm văn học:

Mỗi tác phẩm văn học là một tổ hợp những THTM Cấu trúc một văn bản tác phẩm văn học hình thành trên mối quan hệ điều chỉnh lẫn nhau của THTM được sử dụng trong tác phẩm Những tín hiệu này, sau một quá trình lựa chọn, trở thành những yếu tố hiện diện trong tác phẩm và bắt đầu cuộc sống của nó trong văn bản, chịu sự quy định của kết cấu văn bản: những quy tắc cú pháp, quy tắc về sự cộng hưởng ngữ nghĩa của các yếu tố ngôn từ…

Tuy nhiên, nếu chỉ xét THTM trong mối quan hệ với các yếu tố ngôn ngữ khác trong văn bản tác phẩm văn học thì chưa đủ để giải thích quá trình đưa một yếu tố hiện thực vào THTM trong tác phẩm văn học và giá trị chân thực của nó trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật nói chung, cũng chưa đủ điều kiện để lĩnh hội hết tư tưởng nghệ thuật mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm văn chương

Trang 23

(2) Những mối quan hệ bên ngoài văn bản tác phẩm văn học:

Mỗi hệ thống, trong sự hành chức của nó đều có những hệ thống khác làm môi trường hoạt động cho nó Nói đến tác phẩm văn học, không thể tách nó ra khỏi một hệ thống chỉnh thể lớn hơn nó, quy định giá trị của nó, là cả một quy trình sáng tạo nghệ thuật bao hàm các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau: quy trình cuộc sống – chủ thể sáng tạo – tác phẩm văn học – chủ thể tiếp nhận Bởi vậy, tác phẩm văn học không phải là sản phẩm tùy ý của người viết mà là kết quả tổng hòa của các nhân tố giao tiếp, trong đó bao hàm cả người sáng tác, người tiếp nhận, cả cuộc sống với tư cách là nội dung được nói tới Những nhân tố đó chính là điều kiện chi phối quá trình lựa chọn một yếu tố hiện thực nào đó để đưa vào tác phẩm thành THTM

Như vậy, hệ thống của THTM trong tác phẩm văn học phải được hiểu là hệ thống bao gồm những nhân tố của quy trình sáng tạo Từ đó hình thành những liên

hệ giữa một THTM với các nhân tố của quá trình sáng tạo này Đó là: THTM với toàn bộ những yếu tố còn lại trong văn bản tác phẩm văn học; THTM với phạm vi cuộc sống mà tác giả lựa chọn vào mục đích thẩm mĩ; THTM với hệ thống cảm xúc của chủ thể sáng tác; THTM với những tín hiệu lĩnh hội của chủ thể tiếp nhận Tính

hệ thống của THTM nằm ở mối quan hệ điều chỉnh lẫn nhau giữa các nhân tố để tạo nên giá trị thẩm mĩ của tín hiệu

Ví dụ:

“Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai…

Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi chưa yên một bề”

(Ca dao)

Để hiểu được giá trị chuẩn xác và sâu sắc của tín hiệu khăn, chúng ta cần đặt

nó trong ngữ cảnh của toàn bài ca dao Các tín hiệu đi cùng báo hiệu tâm trạng rối

bời thương nhớ của kẻ tương tư “khăn – thương nhớ, em – lo phiền” Có thể nói

đây là cái khăn đã để lại dấu ấn rõ rệt nhất trong văn hóa và thơ ca Việt Nam với những khả năng đặc biệt có thể biến hóa như niềm vui, nỗi buồn của con người

Trang 24

Khăn trong ngữ cảnh này vốn cũng là cái khăn có sở chỉ, nhưng không còn là một

yếu tố của hiện thực “là thứ hàng dệt, thường có hình dài hoặc hình vuông, dùng để

lau chùi, chít đầu, quàng cổ, trải bàn…”[44; 636], khăn ở đây đã được nhân hóa, có

hồn, có tâm thức và biết “thương nhớ” Nỗi nhớ thương bồi hồi, da diết, đằm sâu đến mức đứng ngồi không yên, “vắt lên vai” lại “rơi xuống đất” và rồi phải “chùi nước mắt” Đây là một nỗi nhớ “có không gian” [37; 182], khiến người con gái ôm nỗi nhớ âm thầm trong câu ca dao phải trăn trở nhiều chiều Không gian thì trải ra nhiều chiều, nhiều hướng còn nỗi nhớ thì lại quanh quất ở một hướng khiến cho con

người cứ rối bời trong những nỗi niềm không yên Hình ảnh khăn có giá trị như một

biểu tượng cảm tính trĩu nặng tâm tình của người con gái đang yêu

Tóm lại, THTM cần được đặt trong một hệ thống nhất định chịu sự chi phối của những yếu tố khác trong hệ thống đó Xem xét THTM trong hệ thống một câu

ca dao hay một bài ca dao cũng chính là xem xét nó trong ngữ cảnh tu từ Khi giải

mã một THTM nhất thiết cần phải tìm ra ngữ cảnh tu từ của THTM đó Chỉ trong ngữ cảnh tu từ, giá trị của THTM mới được khám phá một cách đầy đủ, sâu sắc

1.2.4 Tính biểu hiện

Một trong những chức năng quan trọng của nghệ thuật là phản ánh hiện thực gắnvới thuộc tính biểu hiện Sự biểu hiện trong ngôn ngữ văn chương cũng có nhiều cấp độ Cái cốt yếu mà ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện không chỉ là đặc điểm, thuộc tính, trạng thái của hiện thực đời sống mà còn là toàn bộ thế giới cảm xúc và sự tri nhận về đặc điểm, thuộc tính, trạng thái ấy của một chủ thể nhất định Tuy nhiên, ngôn ngữ thông thường nhiều khi không thể chuyển tải hết được những điều đó, vì vậy đòi hỏi phải có một phương tiện nghệ thuật đặc biệt, chính là THTM

Sự biểu hiện hiện thực của THTM nói chung đều dựa trên khả năng miêu tả, thay thế, dẫn nhập các sự vật, hiện tượng, các phạm vi khác nhau của đời sống vào tác phẩm Trong văn học, đó là những từ ngữ, kết cấu mang nội dung biểu vật, biểu niệm gắn với hiện thực, phản ánh trình độ nhận thức, năng lực cảm xúc của con người Mặt khác, nhận thức, cảm xúc của con người lại là thứ luôn vận động và biến đổi không ngừng, bởi vậy lượng thông tin biểu hiện trong THTM cũng không phải nhất thành bất biến

Trang 25

Ví dụ: Trong thơ Hàn Mặc Tử, tín hiệu áo được đồng nhất với chủ thể, nhưng trong những ngữ cảnh gắn liền với vẻ đẹp của thiên tính nữ, áo trở thành

một chất liệu phong phú để nhà thơ thể hiện khát vọng hướng tới cái đẹp:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra”

(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử)

Áo trắng là biểu hiện cho giấc mơ hóa vô vọng của thi nhân Câu thơ nhẹ

như cánh hạc về trời nhưng nỗi đau làm tê dại cả tâm trí Cái thanh nhẹ xa vời ấy

tìm về một đường nét nhòe mờ của chi tiết trang phục “áo em trắng quá” Ánh sáng

buông tỏa như một dải lụa bạch quấn riết lấy nỗi cô đơn Trong văn hóa phương Đông, màu trắng là màu của hư vô, nhưng trong thơ Hàn nó cũng là màu áo em của anh, màu của giấc mơ, màu bạc mệnh Như vậy, trong giấc mơ mang màu sắc trang phục của thi nhân, ánh sáng thăng hoa nhưng hóa sương khói Khát khao đã hóa vô vọng Chính vì thế, nó đã tiềm ẩn một dự cảm thắc thỏm về đau thương

Cũng là áo trắng trong thơ Hàn nhưng ở hai câu thơ sau áo trắng tinh lại là

một vẻ đẹp lý tưởng:

“Thinh sắc cơ hồ lưu luyến mãi

Chết rồi – xiêm áo trắng như tinh”

(Cô gái đồng trinh – Hàn Mặc Tử)

Màu xiêm áo trắng tinh chính là biểu tượng của khát khao được đến với nước Chúa của nhà thơ Áo ở đây là vẻ đẹp của một bản thể tính nữ đậm ý vị tôn

giáo của cá nhân Hàn Mặc Tử Nhà thơ hướng về Thánh nữ đồng trinh để ngưỡng vọng như là một biểu tượng sáng láng và mong cầu được gội rửa vết thương tâm trong nguồn ánh sáng kỳ diệu đó

Qua đó có thể thấy, trong mỗi ngữ cảnh cụ thể, tính biểu hiện của THTM cũng không đồng nhất Ngữ cảnh chính là yếu tố khơi gợi liên tưởng của người đọc

về ý nghĩa của THTM, giúp người đọc đi đến tận cùng của sự giải mã THTM trong văn chương

1.2.5 Tính biểu trưng

Tính biểu trưng là đặc tính đáng chú ý nhất của THTM xét trong mối quan

hệ hai mặt: cái biểu hiện và cái được biểu hiện Đó là mối quan hệ “có lý do”, liên quan đến năng lực biểu trưng hóa, đến khả năng của THTM vừa có tính chất biểu

Trang 26

thị, chỉ ra, nói lên một điều gì đó, vừa có tính chất hàm nghĩa – sự thêm nghĩa trên một nghĩa có sẵn Cái được biểu hiện của nó có ít nhất hai thành phần nghĩa liên thông với nhau: nghĩa bề nổi được bộc lộ, nghĩa bề chìm luôn tiềm ẩn gắn với những dự cảm cá nhân hay quan niệm của cộng đồng xã hội

Pierce cho rằng:“Biểu trưng có quan hệ với đối tượng của nó chỉ qua một

nghĩa có tính chất ước lệ mà người ta gán cho nó trong một hoàn cảnh nào đó Nghĩa đó do con người trong cộng đồng đặt ra mà thôi” [54; 186] Tính chất ước lệ

này chỉ ra những lý do về mặt lịch sử xã hội trong việc sử dụng các biểu trưng Một mặt, biểu trưng có tính hình tượng cụ thể, cái biểu hiện nó là một đối tượng nào đó được quy chiếu từ hiện thực Mặt khác, là ý nghĩa xã hội nào đó được cả cộng đồng

chấp nhận Ví dụ: trên hầu khắp thế giới, hình ảnh con cò biểu trưng cho điềm lành, cho đức hiếu thảo Ở Nhật Bản, cò là biểu trưng của sự bất tử Với người Việt chúng ta, hình ảnh con cò gắn với những phẩm chất trong sạch, hiền lành của người

lao động hay thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ

Cũng do tính biểu trưng, giá trị của THTM còn phụ thuộc vào cách tri nhận của mỗi cộng đồng khác nhau Ví dụ:

Tồn tại từ ngàn năm cùng với cây cỏ thiên nhiên đất nước, hoa sen không chỉ

là người bạn thân thiết mà còn được xem như là biểu trưng văn hóa bén rễ sâu trong

tâm thức người dân Việt Senbiểu trưng cho những giá trị đạo đức, phẩm cách thanh

cao, thuần khiết, tinh thần vươn lên trong mọi nghịch cảnh của người Việt Đó thực

sự là biểu trưng tiêu biểu nhất cho văn hóa và cốt cách nhân văn của người Việt

Nam Tương đồng với nước ta, hoa sen trong văn hóa Nhật Bản cũng được hiểu

theo ý nghĩa đạo đức, là một hình ảnh đức hạnh, thanh khiết và nguyên vẹn Tuy

nhiên, với cộng đồng người Ai Cập hay người Trung Hoa, hoa sen trước hết là bộ

phận sinh dục, là âm hộ mẫu gốc, đảm bảo cho các cuộc sinh thành và tái sinh

truyền lưu mãi mãi… Văn chương diễm tình Trung Hoa còn dùng sen để chỉ đích

danh âm hộ và gọi các cô gái lầu xanh là “sen vàng” [61; 810]

Hình ảnh con rồng trong hội họa Phục Hưng tượng trưng cho cái ác và sự hận thù, tuy nhiên với người Trung Hoa, rồng lại là hình tượng của Hoàng đế với quyền uy tối cao Còn với người Việt, rồng là biểu trưng cho sự linh thiêng, tôn

quý

Trang 27

1.2.6 Tính trừu tượng và cụ thể

Tính trừu tượng và cụ thểlà một trong những đặc tính quan trọng của THTM.Trongtác phẩm văn học, ngoài việc xétgiá trị biểu hiện và ý nghĩa biểu trưng của các hằng thể, còn phải chú ý đến các biến thể của THTM, bao gồm biến thể từ vựng và biến thể kết hợp

Biến thể từ vựng: là tập hợp những từ gần nghĩa hoặc cùng trường nghĩa có khả năng thay thế cho nhau Xét các biến thể từ vựng ngữ nghĩa của các THTM tức

là tìm hiểu thao tác lựa chọn của người viết dựa trên mối quan hệ hệ hình để từ đó đánh giá về tính hệ thống của THTM trong tác phẩm văn học

Ví dụ: Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã dùng rất nhiều từ khác nhau để

miêu tả “giọt nước mắt”:giọt ngọc, giọt châu, châu sa, giọt tương, giọt hồng, giọt

tủi, giọt riêng, dòng thu… và đều mang một nghĩa biểu vật chung Tuy nhiên, trong

những kết cấu khác nhau chúng vẫn có sự khác biệt về ý nghĩa

Giọt nước mắt xót xa thương cảm cho người xưa khi Thúy Kiều đứng trước nấm mồ của nàng Đạm Tiên:

“Lòng đâu sẵn mối thương tâm

Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa”

Giọt nước mắt tủi nhục cho số phận bán mình chuộc cha:

“Nỗi mình thêm tức nỗi nhà

Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng”

Giọt nước mắt trong cuộc chia ly giữa Kiều và Thúc Sinh:

“Giọt châu lã chã khôn cầm Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương”

Khi Thúy Kiều khóc thương Từ Hải, giọt nước mắt lúc này lại trở thành

“dòng thu”:

“Dòng thu như xối cơn sầu

Dứt lời, nàng cũng gieo đầu một bên”

Như vậy, cùng miêu tả giọt nước mắt mà Nguyễn Du đã dùng rất nhiều từ khác nhau để diễn đạt và mang những ý nghĩa sâu sắc Về thủ pháp dùng từ độc đáo này, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều trong “Truyện Kiều” Cùng chỉ một khái

niệm“mặt trăng”,Truyện Kiều có: mặt trăng, vành trăng, cung trăng, cung Quảng,

gương nga, bóng nga, chị Hằng… Cùng một khái niệm “giấc ngủ”,Truyện Kiều có:

Trang 28

giấc xuân, giấc mộng, giấc mê, giấc vàng, giấc chiêm bao, giấc hương quan… Cách

lựa chọn sử dụng ngôn từ độc đáo đã thể hiện khả năng bậc thầy về ngôn ngữ nghệ thuật của thi hào dân tộc Nguyễn Du

Biến thể kết hợp: Là biến thể của các TH cùng hiện diện trong câu, trong ngữ cảnh Trong những tổ hợp khác nhau, THTM ít nhiều biến đổi mang những ý nghĩa khác nhau Các biến thể kết hợp đánh dấu thao tác phối hợp trên trục tuyến tính của tác giả trong sự biểu hiện hình tượng nghệ thuật

Trong “TruyệnKiều”,từ “hoa” khi đi với các kết hợp khác nhau đã tạo nên những sắc thái ý nghĩa riêng

Hoa là biểu tượng của sự sống, là hiện thân của mùa xuân, của sức xuân

trong trẻo:

“Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh rợn chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Hoa xuất hiện trong nhịp thời gian gấp gáp, hối hả, báo hiệu sự tan vỡ đột

ngột, sự ngắn ngủi đầy xót xa:

“Thề hoa chưa ráo chén vàng

Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa”

Hoa rợn ngợp trong cảm thức lưu lạc:

“Hoa trôi nước chảy xuôi dòng

Xót thân chìm nổi đau lòng hợp tan”

Từ “trăng”trong những kết hợp khác nhau cũng tạo nên những giá trị riêng

trong “Truyện Kiều” Trăng là chứng nhân cho lời thề nguyền:

“Vầng trăng vằng vặc giữa trời

Đinh ninh hai miệng một lời song song”

Trăng chứng kiến nỗi đau chia ly:

“Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”

Trăng được dùng để chỉ thời gian lại đi với kết hợp:

“Nhẫn từ quán khách lân la

Tuần trăng thấm thoát nay đà thêm hai”

Trang 29

Tóm lại, những yếu tố kết hợp trước và sau có khả năng làm thay đổi ý nghĩa của THTM cũng chính là ngữ cảnh tu từ của THTM, là cơ sở để giải mã ý nghĩa biểu trưng của THTM

1.3 Quá trình để hiểu Tín hiệu thẩm mĩ

1.3.1 Tín hiệu thẩm mĩ với các yếu tố giao tiếp

Ca dao là hình thức đối thoại trữ tình trực tiếp của tác giả dân gian đối với người đọc mọi thế hệ Điều này lý giải tại sao trên bình diện giao tiếp xã hội – nghệ thuật, nó là tiếng nói gặp gỡ đồng cảm với nhiều công chúng nhất

Sự tương tác các vai giao tiếp trong thơ, ca dao là thuộc tính không dễ thấy, không tường minh trên ngôn bản, chủ yếu chỉ có sự hiện diện trực tiếp của chủ thể trữ tình phát ngôn Là một loại hình giao tiếp bằng ngôn ngữ, giao tiếp trong ca dao cũng có sự tham gia chi phối của các yếu tố:

Nhân vật giao tiếp

Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào quá trình giao tiếp, với những đặc điểm về lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ, địa lý, thái độ, tâm lý… Đây là một yếu tố quan trọng chi phối giao tiếp Trong giao tiếp nghệ thuật, nhân vật giao tiếp bao gồm tác giả, bạn đọc Tùy từng đối tượng bạn đọc mà thông điệp nhà văn gửi đến người đọc có một sự khác nhau tương đối

Lược đồ giao tiếp nhấn mạnh vai trò của người nghe, người tiếp nhận đối với thông điệp mà người nói phát ra Trong đó, tác phẩm chính là sản phẩm của cuộc giao tiếp giữa tác giả và độc giả Độc giả không chỉ xuất hiện ngay khi tác phẩm ra đời mà đã có mặt ngay trong quá trình sáng tác Dưới ánh sáng của lý thuyết giao tiếp, câu nói của I Lalich trở nên dễ hiểu: “Cái bóng của độc giả đang cúi xuống sau lưng nhà văn khi nhà văn ngồi trước tờ giấy trắng Nó có mặt ngay cả khi nhà văn không muốn thừa nhận sự có mặt đó Chính độc giả đã ghi lên tờ giấy trắng dấu hiệu không thể tẩy xóa được của mình” [59; 10] Công chúng văn học vô hình nhưng thường trực, lại vô cùng đông đảo, biến đổi không ngừng Khi tiếp nhận tác phẩm, công chúng không ngừng cung cấp cho nó những ý nghĩa do mình suy ngẫm Bởi vậy, sự tồn tại, phát triển ý nghĩa thẩm mĩ của tín hiệu nghệ thuật luôn luôn dang dở, không kết thúc, luôn tiềm ẩn trước tác động của tư tưởng thẩm mĩ các thời đại, phản ảnh sự trưởng thành, trường tồn của ý thức dân tộc

Trang 30

Hoàn cảnh giao tiếp

Hoàn cảnh giao tiếp bao gồm hoàn cảnh rộng và hoàn cảnh hẹp Hoàn cảnh rộng là bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội chung của cả cộng đồng Hoàn cảnh hẹp là không gian, thời gian cụ thể thông điệp xuất hiện Hoàn cảnh có sự chi phối nhất định đến cuộc giao tiếp

THTM trong một tác phẩm văn học không thể đứng riêng lẻ một mình mà phải gắn với một ngữ cảnh cụ thể để tạo ra những màu sắc tu từ, có tính thẩm mĩ, người ta gọi đó là ngữ cảnh tu từ Có thể hiểu ngữ cảnh tu từ là mối quan hệ tuyến tính của một yếu tố ngôn ngữ trong ngữ đoạn và toàn bộ những mối quan hệ ngoài ngôn ngữ chi phối sự lựa chọn và kết hợp Ngữ cảnh tu từ cũng được chia thành ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp:

Ngữ cảnh hẹp là những yếu tố đứng trước hoặc đứng sau một tiêu điểm tu từ đang được xét (từ với từ, câu với câu), đấy là cấu trúc hình tuyến, nằm trong một văn bản Ví dụ:

“Khi anh vắng bàn tay em biết nhớ

Lấy thời gian đan thành áo mong chờ”

(Bàn tay em – Xuân Quỳnh)

Trong 2 câu thơ trên, những cụm từ “anh vắng”, “biết nhớ”, “mong chờ”

trở thành ngữ cảnh hẹp góp phần thuyết minh cho ý nghĩa biểu trưng của THTM

“bàn tay” Trong cấu trúc hình tuyến này, “bàn tay” đã có sự chuyển nghĩa, mang

ý nghĩa biểu trưng cho tình yêu, nỗi nhớ của người phụ nữ

Ngữ cảnh rộng có thể bao gồm những yếu tố về môi trường, xã hội, phong tục tập quán, không gian, thời gian, chủ thế đối thoại, tình huống đối thoại, mục đích đối thoại, về cuộc đời, phong cách tác giả, tri thức bách khoa về xã hội… Ngoài ra cần chú ý đến một yếu tố quan trọng là người tiếp nhận Chính người tiếp nhận là nhân tố đem tác phẩm văn học, THTM đi vào hoạt động, tạo cho nó đời sống phong phú, linh hoạt Một tác phẩm văn chương đặc sắc đến mấy cũng sẽ trở thành vô nghĩa khi người đọc không thể tiếp nhận, không thể giải mã

Những THTM trong tác phẩm nghệ thuật đều có thể được coi là những điểm nhấn tu từ (điểm nhấn thẩm mĩ) của tác phẩm đó THTM chính là yếu tố làm nên giá trị của một tác phẩm văn học Tuy nhiên nó chỉ được khám phá đích thực khi

nằm trong một ngữ cảnh nhất định “trong ngữ cảnh và chỉ trong ngữ cảnh, hiệu

Trang 31

quả của một yếu tố ngôn ngữ mới được bộc lộ trọn vẹn” [29; 41] Tác giả Nguyễn

Thị Ngân Hoa cho rằng “Giải thích THTM ngoài mối quan hệ ngữ đoạn là một điều

hết sức nguy hiểm, bởi lẽ cũng rất nhiều khả năng ý nghĩa của một THTM trên bình diện văn hóa, chúng ta có thể chỉ ra những yếu tố sai lệch hoàn toàn so với ý nghĩa xác định trong ngữ đoạn” [29; 92] Như vậy, muốn xác định đúng và sâu ý nghĩa

của một THTM cần đặt nó trong một ngữ cảnh tu từ

Tóm lại, ngữ cảnh tu từ là những yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ làm nền cho tiêu điểm tu từ, có khả năng khơi gợi ở người đọc hình tượng, cảm xúc nhằm bổ sung lượng thông tin cơ bản Đây là yếu tố quan trọng không thể thiếu khi tìm hiểu giá trị của các THTM trong ca dao Việt Nam

Nội dung giao tiếp

Nội dung giao tiếp bao gồm tất cả các sự vật, hiện tượng, sự việc trong thực

tế khách quan, kể cả những tư tưởng, tình cảm của con người được nói đến trong câu Trong văn bản nghệ thuật, nội dung giao tiếp được mã hóa trong tác phẩm dưới các hình thức nghệ thuật Là tiếng hát trữ tình của người dân lao động, ca dao là kho tàng văn hóa, tri thức dân gian, nội dung phản ánh những phong tục, tập quán, tâm

tư, nguyện vọng của con người Việt Nam, tạo thành một hệ thống hình ảnh thiên nhiên và con người cùng hòa quyện, tạo nên cách cảm, cách nghĩ về cuộc sống, thiên nhiên và con người rất Việt Nam

Mục đích giao tiếp

Trong văn học nghệ thuật, mục đích giao tiếp chính là tư tưởng mà tác giả muốn gửi đến bạn đọc thông qua tác phẩm Mục đích sáng tác ca dao của tác giả dân gian không chỉ thể hiện những tình cảm với thiên nhiên và con người quê hương mà còn góp phần gìn giữ và phát triển những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc ta Ca dao dân ca, xét về góc độ tư duy của dân tộc, là tấm gương bức

xạ hiện thực khách quan của mỗi dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phong tục tập quán riêng Hình ảnh về thiên nhiên, cuộc sống, con người được phạm trù hóa theo những cách khác nhau, bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau Nghiên cứu ca dao không chỉ cho thấy những nét đẹp văn hóa của con người Việt Nam mà còn làm nổi bật lên tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người thiết tha

Ca dao dân ca là kết tinh thuần tuý của tinh thần dân tộc, là nét đẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam

Trang 32

Phương tiện và cách thức giao tiếp

Trong văn học, ngoài nghĩa tường minh được nói ra trực tiếp trên câu chữ còn có nghĩa hàm ẩn chỉ được suy ra từ nghĩa trực tiếp Nghĩa hàm ẩn chứa đựng các thông tin liên cá nhân, thông tin ngữ dụng – những thông tin trọng yếu nhất đối với tác phẩm văn học.Do đó, để có thể biểu đạt được những ý nghĩa đa dạng, phong phú, văn học đương nhiên phải sử dụng đến những lối nói gián tiếp, hàm ý, khiến cho những ẩn dụ, hoán dụ, biểu trưng, biểu tượng… xuất hiện nhiều

Giao tiếp văn học cũng là một kiểu giao tiếp xã hội nên cũng phải tuân thủ những quy tắc thông thường trong quan hệ liên nhân Nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng đều tránh áp đặt, gượng ép Tác giả chỉ là người tri âm tri kỷ đồng hành với bạn đọc trên con đường sáng tạo nghệ thuật Quy tắc này là tiền đề cho hiện tượng mọi sản phẩm ngôn từ luôn mờ ảo, đa nghĩa, tạo điều kiện cho bạn đọc được

tự do luận nghĩa, tự do lựa chọn những tình cảm, ý tưởng phù hợp nhất với mình, được mở rộng tối đa khả năng tưởng tượng, suy đoán

Ngữ nghĩa thơ ca vốn nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều sắc thái khác nhau, rất sinh động và biến hóa khôn lường Các đối tượng được phản ánh trong thơ nhìn chung có thể chia thành hai loại: loại có tính chất hữu hình có thể cảm quan trực tiếp, loại có tính chất vô hình chỉ có thể cảm nhận được gián tiếp Theo đó, ngôn từ thơ có hai loại phụ thuộc vào đặc trưng đối tượng: loại ngôn từ thiên về chức năng miêu tả trực tiếp đối tượng, giàu chất tạo hình; loại ngôn từ chú trọng chức năng biểu hiện gián tiếp đối tượng, giàu chất biểu hiện Dù là ngôn ngữ tạo hình hay ngôn ngữ biểu hiện cũng chịu sự điều khiển của bản chất thể loại là ngắn gọn, hàm súc, giàu nhạc tính, nhằm phản ánh cuộc sống tập trung, khái quát nhất và tác động trực tiếp nhất vào tình cảm, cảm xúc của con người

1.3.2 Lý thuyết chiếu vật

Thuật ngữ chiếu vật (reference) được dùng để chỉ phương tiện nhờ đó người nói phát ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này, người nói nghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể, đặc tính, quan hệ, sự kiện được nói đến

Khi thực hiện hành vi chiếu vật, người nói có ý định chiếu vật khi dùng từ ngữ và có niềm tin chiếu vật, tức tin rằng người nghe có khả năng suy ý từ từ ngữ

Trang 33

của mình mà xác định được nghĩa chiếu vật thông qua việc vận dụng các quy tắc chiếu vật

Nghĩa chiếu vật và nghĩa biểu vật giống nhau ở chỗ chúng đều thể hiện mối quan hệ giữa sự vật khách quan và ngôn ngữ Tuy nhiên, nghĩa chiếu vật được tạo nên từ nghĩa của biểu thức chiếu vật trong hoạt động giao tiếp Còn nghĩa biểu vật

là nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ Theo cách đơn giản, có thể hiểu chiếu vật

là thuật ngữ chỉ phương tiện mà nhờ đó giúp người nghe hiểu được sự vật, hiện tượng mà người nói đang nói đến Đó là sự tương ứng giữa yếu tố ngôn ngữ trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng, hoạt động, trạng thái… trong hiện thực

Để tạo ra nghĩa chiếu vật, người nói phải có hành vi chiếu vật Hành vi chiếu vật là hành vi của người nói sử dụng biểu thức ngôn ngữ để chỉ ra sự vật mình định nói đến, đưa vào diễn ngôn Tự bản thân mình, ngôn ngữ không chiếu vật mà chỉ có con người mới có khả năng thực hiện hành vi chiếu vật

Đồng thời, người nghe cũng phải có hành vi chiếu vật mới hiểu được nghĩa chiếu vật Muốn hiểu được nghĩa chiếu vật, người nghe phải thực hiện hành vi chiếu vật, là hành vi đối chiếu biểu thức chiếu vật trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng tương ứng trong thế giới khách quan Biểu thức chiếu vật là kết cấu ngôn ngữ được dùng để chiếu vật Hiện thực mà nghĩa chiếu vật biểu thị có thể là thế giới có thật,

có thể là thế giới ảo, không có thực Do đó, muốn xác định đúng nghĩa chiếu vật phải quy chiếu đúng với thế giới khả hữu vật tồn tại

Sử dụng lý thuyết chiếu vật khi nghiên cứu THTM trong ca dao Việt Nam trong nhiều trường hợp là rất cần thiết để đi đến xác định giá trị thể hiện của các tín hiệu nghệ thuật Sự mơ hồ về nghĩa không ít khi làm xuất hiện những kiến giải không giống nhau về cùng một đối tượng là điều thường xảy ra trong văn chương

1.4 Vài nét về ca dao và ngôn ngữ ca dao

Ca dao là loại hình văn nghệ truyền miệng, một hình thức văn hóa dân gian

đã có từ rất lâu Theo thời gian, vượt qua mọi biến thiên lịch sử, ca dao Việt Nam vẫn mãi trường tồn cùng với dân tộc và thời đại Nói đến ca dao là nói đến niềm tự hào về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam chúng ta Đó là lời mẹ ru, là câu đồng dao thơ ấu, là những giọng hò, điệu lý thắm đượm tình đời đã nuôi dưỡng biết bao thế

hệ người Việt Nam, làm nên dáng hình đất nước hùng mạnh và kiên trung Tác giả

ca dao chính là những người dân lao động, chính vì vậy mỗi câu ca dao đều gắn với

Trang 34

đời sống hàng ngày, chứa đựng sâu sắc tâm tư, tình cảm của người dân quê Tất cả lời ăn tiếng nói mộc mạc, cái hay, cái đẹp, cái tinh túy đều bắt nguồn từ nhân dân lao động nơi ruộng đồng, sông nước hay biển cả Câu ca đã được giữ gìn, sàng lọc, bảo tồn, lưu giữ qua bao thế kỷ cho đến bây giờ, đồng thời để lại cho con cháu mai sau Mỗi câu ca dao lại mang một màu sắc địa phương đặc biệt, tùy theo phong tục, ngôn ngữ của từng vùng miền khác nhau, nhưng nhìn chung vẫn là những câu ca thoát thai từ lòng dân như chính tính cách mộc mạc, giản dị của người dân quê bao đời Có thể nói, ca dao đã trở thành máu thịt của nhân dân, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, ca dao vẫn mãi trường tồn, phát triển và khẳng định những giá trị độc đáo riêng

“Ngôn ngữ ca dao Việt Nam đã được gọt dũa bởi hàng vạn nhà thơ dân gian

vô danh, được thử thách qua không gian, thời gian và lòng người, trở thành những viên ngọc quý óng ánh trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc Có thể nói, ngôn ngữ ca dao đã kết tụ những đặc điểm tuyệt vời nhất của tiếng Việt: Nó có cả những đặc điểm tinh túy của ngôn ngữ văn học mà cụ thể là ngôn ngữ thơ, đồng thời còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình, có hiệu quả cao của ngôn ngữ chung vào một loạt ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ” [12] Bởi vậy, ở

ca dao, chúng ta không chỉ bắt gặp những cách nói trau chuốt, mượt mà, ý nhị, đầy chất thơ:

“Đến đây mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”

mà còn bắt gặp cả những lời đầy tính chất khẩu ngữ:

“Chuột chù chê cú rằng hôi

Cú lại trả lời: cả họ mày thơm”

“Chính sự kết hợp giữa ngôn ngữ nói, ngôn ngữ hội thoại với ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ gọt dũa đã tạo nên những đặc điêm riêng biệt, độc đáo của ngôn ngữ

ca dao” [12]

Trang 35

Tiểu kết:

Từ lâu, ngôn ngữ ca dao đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau và góc độ nào cũng đem đến những kết luận thú vị Thế nhưng việc tìm hiểu về THTM trong ca dao vẫn còn rất khiêm tốn, đòi hỏi những nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn của những người học tập và nghiên cứu ngữ văn Qua những cơ sở lý thuyết như trên, có thể hiểu THTM trong ca dao là toàn bộ những yếu tố hiện thực, những chi tiết của sự vật, hiện tượng trong đời sống được đưa vào ca dao nhằm mục đích thẩm mĩ nhất định

Trang 36

Chương 2: KHẢO SÁT MỘT SỐ TÍN HIỆU THẨM MĨ

TRONG CA DAO VIỆT NAM

Trong chương này, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê các THTM theo hai nhóm: các THthuộc tự nhiên và các THlà vật thể nhân tạo Kết quả thống kê dựa

trên công trình “Ca dao Việt Nam” do tác giả Vũ Dung và Vũ Thúy Anh sưu tầm,

biên soạn Chúng tôi chọn tài liệu này để khảo sát vì cuốn sách đã phản ánh được diện mạo chung của ca dao Việt Nam một cách tương đối đầy đủ và toàn diện trên

cơ sở kế thừa, tổng hợp, bổ sung thành tựu từ những công trình nghiên cứu và sưu tầm ca dao đi trước Mục đích của chương 2 chủ yếu là khảo sát tần số và phân loại các biến thể để xem qua một công trình sưu tập cụ thể, tín hiệu, biến thể nào có tỷ lệ xuất hiện cao và điều đó nói lên điều gì Hơn nữa, độ bao quát và tần số sử dụng của các tín hiệu có thể sẽ dao động khi so sánh kết quả thống kê giữa công trình này với công trình khác nhưng chắc chắn chúng sẽ có điểm tương đồng: những hình ảnh gần gũi, quen thuộc có ảnh hưởng đến đời sống vật chất, tinh thần của người Việt thường có tần số xuất hiện cao và được sử dụng làm tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Việt Nam

2.1 Một số tín hiệu thuộc tự nhiên

Là tiếng hát trữ tình của người dân lao động, ra đời trong những hoàn cảnh

cụ thể, cao dao, dân ca Việt Nam không chỉ chứa đựng những nét tiêu biểu của tâm hồn và tính cách của dân tộc ta, nó còn phản ánh các quá trình diễn biến của lịch sử,

xã hội và là kho tài liệu phong phú về phong tục tập quán, các nét đặc biệt về tự nhiên trong từng vùng, miền, địa phương, ở những giai đoạn khác nhau

Từ thuở xa xưa, con người đã sống trong mối quan hệ chặt chẽ với tự nhiên

Họ phải đối phó và tận dụng thế giới tự nhiên để tồn sinh Sự tác động qua lại đó đã tạo nên nền văn hóa riêng ở từng vùng miền Quá trình này để lại nhiều dấu ấn trong nếp nghĩ, lối sống Cách nhìn nhân hóa trong thần thoại, truyền thuyết cho thấy điều đó Hình ảnh tự nhiên đã đi vào tâm thức ngôn ngữ người Việt với những nội dung biểu hiện phong phú Tìm hiểu các tín hiệu thẩm mĩ thuộc tự nhiên trong

ca dao, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó.Từ khảo sát, chúng tôi thu được một số lượng lớn các tín hiệu thuộc tự nhiên

Trang 37

Các tín hiệu thuộc trường nghĩa hiện tượng thiên nhiên bao gồm: nước, mưa,

nắng, gió, trời, biển, núi, sông, suối, đất, rừng, trăng, sao, mây, bão, đá, lửa, sương, cát, sóng

Các tín hiệu thuộc trường nghĩa thực vật bao gồm: cây, hoa, lá, cành, lúa,

rau, cỏ, tre, trúc, măng, cau, trầu, rơm, bèo, chanh, dừa, cam, ổi, bầu, bí, sen, tùng, mai

Các tín hiệu thuộc trường nghĩa động vật bao gồm: chim, cò, cá, tôm, én,

rồng, phượng, trâu, gà, tằm, mèo, chuột, sáo, vẹt, nhện, ong

Trong nhóm này, một số tín hiệu tự nhiên có tần số xuất hiện cao và được

dùng với nghĩa biểu trưng rất phong phú, đó là các tín hiệu: mưa, nắng, gió, núi,

sông, nước, lúa, hoa, chim, cò Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi lựa chọn khảo

sát ba tín hiệu: mưa, nắng, gió Đây là những tín hiệu tự nhiên có tần số xuất hiện

cao trong ca dao Việt Nam, có sức ảnh hưởng, tác động lớn đến đời sống con người, đồng thời cũng là những hình ảnh chưa được đề cập đến nhiều trong những công trình nghiên cứu trước đó về ca dao

Bằng phương pháp định lượng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê tần

số xuất hiện, tỷ lệ phân bố của các tín hiệu tự nhiên mưa, nắng, gió trong ca dao

theo công thức:

Fx = Nx/N

Trong đó, Fx là tỷ lệ phân bố của tín hiệu được xét trên độ dài văn bản

Nx là tần số xuất hiện của tín hiệu

N là tổng số lượt từ của toàn văn bản chứa tín hiệu đó

Kết quả khảo sát như sau:

Bảng 1: Tần số xuất hiện của các tín hiệu mưa, nắng, gió trong ca dao

Bảng khảo sát cho thấy, số lần từ mưa xuất hiện trong ca dao là lớn nhất (636 lần) so với các tín hiệu nắng (243 lần) và gió (563 lần) Còn nếu xét tỷ lệ phân bố trên độ dài của toàn văn bản chứa tín hiệu thì tín hiệu gió lại chiếm tỷ lệ cao hơn (4.26%), các tín hiệu mưa và nắng chiếm tỷ lệ lần lượt là 4.19% và 4.05% Nhìn

Trang 38

chung, các tín hiệu có sự chênh lệch nhất định về tần số xuất hiện, nhưng khoảng

cách đó không lớn khi xét tỷ lệ phân bố trên độ dài văn bản

2.1.1 Tín hiệu mưa

Khi tiến hành khảo sát tín hiệu mưa trong ca dao, chúng tôi tìm hiểu trên cả

hai trục: trục dọc và trục ngang Trục dọc là những biến thể từ vựng của từ “mưa”

Còn trục ngang là các từ ngữ đứng trước và đứng sau mưa trên cùng một dòng thơ

hoặc một câu thơ

Trong thực tế sử dụng, tín hiệu mưa tồn tại dưới nhiều biến thể khác nhau,

chúng tôi tạm chia những biến thể này thành ba dạng sau:

Biến thể từ vựng: là những biến thể tên gọi khác nhau nảy sinh trong quá

trình sử dụng của tín hiệu mưa Ví dụ: mưa trong thực tế sử dụng có thể được tác giả dân gian thay thế bằng hạt mưa, mưa bụi, mưa xuân, nắng mưa, mưa gió… Đây chính là sự thể hiện sự phân bố trên trục dọc của tín hiệu mưa

Biến thể kết hợp: là những biến thể được tạo thành do sự kết hợp giữa tín

hiệu mưa và các yếu tố phụ trợ khác trên trục tuyến tính Cụ thể, trong luận văn chúng tôi sẽ tìm hiểu các vị từ đi kèm với từ mưa và làm rõ nghĩa cho tín hiệu

Biến thể quan hệ: là những biến thể trong đó từ mưa xuất hiện một cách đẳng

cấu với những thực thể khác để tạo nên một kết cấu đối xứng khá bền vững Biến thể kết hợp cùng với biến thể quan hệ chính là biểu hiện của sự phân bố trên trục

ngang của tín hiệu mưa

Sau đây là những kết quả khảo sát, thống kê, phân loại về ba loại biến thể nói trên:

2.1.1.1 Các biến thể từ vựng của tín hiệu mưa trong ca dao

Trong ca dao Việt Nam, tín hiệu mưa được cụ thể hóa bằng các tên gọi –

biến thể từ vựng sau:

- Mưa đứng một mình: 297 trường hợp

- Mưa được thay thế bằng các loại mưa cụ thể: 56 trường hợp (mưa ngâu,

mưa rào, mưa xuân, mưa bụi, mưa mòi, mưa rươi, mưa dầm, mưa mau, mưa phùn, mưa mai, mưa bấc)

- Mưa kết hợp với danh từ chỉ các thực thể khác: 74 trường hợp (mưa nắng,

mưa gió, nắng mưa, gió mưa, mây mưa, mưa giông, mưa bão, bão mưa, mưa ngàn)

- Mưa nằm trong tổ hợp danh từ chung: 18 trường hợp (hạt mưa, giọt mưa,

cơn mưa)

Trang 39

- Mưa đi kèm với danh từ chỉ không gian quần thể của mưa: 135 trường hợp

(trời mưa, tiết mưa)

- Mưa nằm trong kết hợp với động từ: 23 trường hợp (mưa sa)

- Mưa xuất hiện trong các thành ngữ: 32 trường hợp (mưa thuận gió hòa,

mưa hòa gió thuận, mưa thuận gió đều, mưa gió thuận hòa, dầm mưa dãi nắng, dãi nắng dầm mưa, mưa nắng dãi dầu, nắng dãi mưa dầu, nắng dầu mưa dãi, dãi gió dầu mưa, gió dập mưa vùi, chớp bể mưa nguồn, mưa nguồn chớp biển)

- Mưa xuất hiện trong điển tích: 1 trường hợp (mưa Sở gió Tần)

Ta có bảng thống kê các biến thể từ vựng của tín hiệu mưa trong ca dao như

sau:

Mưa đi kèm với danh từ chỉ không gian quần

Bảng 2: Các biến thể từ vựng của tín hiệu “mưa” trong ca dao

Trong ca dao, tín hiệu mưa không chỉ đứng một mình mà còn xuất hiện dưới nhiều dạng biến thể khác nhau Theo thống kê, mưa được cụ thể hóa bằng 339 biến thể từ vựng Trong đó,mưa trong kết hợp với các danh từ chỉ không gian quần thể của mưa xuất hiện 135 lần, chiếm tỷ lệ cao nhất 21.3%; trường hợp mưa trong điển tích “mưa Sở gió Tần” chiếm tỷ lệ thấp nhất 0.1% Ta có thể thấy được ngôn ngữ

ca dao ít sử dụng điển tích điển cố, mà thường sử dụng nhiều hơn những thành ngữ được cấu tạo từ chất liệu Việt ngữ, có nguồn gốc dân dã, bình dị, gần gũi với đời

sống của người dân lao động: mưa thuận gió hòa, nắng dầu mưa dãi, chớp bể mưa

nguồn…

Trang 40

Khi mưa được thay thế bằng các loại mưa cụ thể, ta có mưa xuân, mưa

ngâu…

“Sáng trăng sáng tỏ vào thềm

Mưa xuân lác đác lại thêm nhớ người”

“Ai kia, nào thấy ai kia

Nước mắt đầm đìa như giọt mưa ngâu”

Khi mưa kết hợp với các danh từ chỉ thực thể khác, ta có: nắng mưa, gió

mưa…

“Cây đa cũ, bến đò xưa Người thương có nghĩa, nắng mưa cũng chờ”

“Trăm năm kẻ mất, người còn

Gió mưa giữ trọn lòng son ở đời”

Ta thấy cùng một nội hàm, nhưng ngoại diên của tín hiệu được co giãn rất linh hoạt Điều này biểu hiện sự đa dạng, phong phú của ngôn ngữ thơ ca dân gian Việt Nam

2.1.1.2 Các biến thể kết hợp của tín hiệu mưa trong ca dao

Trong ca dao, tác giả dân gian đã sử dụng tổng cộng 410 lần vị từ để chỉ

mưa Đứng trước một số lượng đa dạng của vị từ kết hợp với từ mưa, chúng tôi lựa

chọn cách phân chia vị từ của Cao Xuân Hạo, một cách phân loại khá chi tiết và đầy

đủ, có sức bao quát rộng, để có thể đáp ứng nhu cầu định vị hóa các nhóm đối tượng

Thực chất, mô hình Cao Xuân Hạo đưa ra là mô hình phân loại sự tình [25; 429], nhưng vì lõi của sự tình là khung vị từ, chính tính chất của vị từ quyết định tính chất của sự tình, nên ta có thể áp dụng cho sự phân loại vị từ Căn cứ vào tiêu chí [+/-Động], [+/-Chủ ý] và [+/-Tồn tại], tác giả đã chia thành ba loại nghĩa biểu hiện: câu tồn tại; câu chỉ sự tình động hay sự việc, biến cố và câu chỉ sự tình tĩnh hay tình hình Từ các kiểu nghĩa biểu hiện này có thể suy ra cách phân chia vị từ trong tiếng Việt của tác giả Theo đó, vị từ trong tiếng Việt sẽ được chia thành 3 loại: vị từ tồn tại, vị từ chỉ biến cố và vị từ chỉ tình hình

Trong đó, vị từ tồn tại được chia thành hai loại nhỏ hơn: vị từ tồn tại [+định vị] và vị từ tồn tại [-định vị]

Vị từ chỉ biến cố có thể phân chia thành các bậc khác nhau với những tiêu chí khác nhau Dựa vào tiêu chí [+-chủ ý], ta có sự phân loại thành vị từ hành động

và vị từ quá trình Dựa vào tiêu chí [+-chuyển tác], ta lại có những tiểu loại vị từ

Ngày đăng: 29/11/2015, 10:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Từ điển Truyện Kiều, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Truyện Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
2. Nguyễn Ngọc Bích (2008), Tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ hoa trong truyện Kiều của Nguyễn Du trên ba bình diện:kết học, nghĩa học, dụng học, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ hoa trong truyện Kiều của Nguyễn Du trên ba bình diện:kết học, nghĩa học, dụng học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Năm: 2008
3. Nguyễn Phan Cảnh (2006), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
4. Nguyễn Hồng Cổn (2003), Về vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ (số 2), tr. 50-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2003
5. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, tập I, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2003
6. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
7. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
8. Đỗ Hữu Châu (1974),Khái niệm “Trường” và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng, Tạp chí Ngôn ngữ (số 3), tr.45-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ),Khái niệm “Trường” và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1974
9. Đỗ Hữu Châu (1974), Trường từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật, Tạp chí Ngôn ngữ (số 3), tr. 44-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1974
10. Nguyễn Văn Chiến (2002), Nước – một biểu tượng văn hóa đặc thù trong tâm thức người Việt và “nước” trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ (số 15), tr. 42-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước – một biểu tượng văn hóa đặc thù trong tâm thức người Việt và “nước” trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 2002
11. Mai Ngọc Chừ, VũĐức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2006), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, VũĐức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
12. Mai Ngọc Chừ (1991), Ngôn ngữ ca dao Việt Nam, Tạp chí Văn học(số 2), tr. 24-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 1991
13. Trần Trí Dõi (2001), Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
14. Phan Huy Dũng (1991), Hình thức lấp lửng của lời tỏ tình trong bài ca xin áo, Tạp chí Văn hóa dân gian (số 3), tr. 53-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thức lấp lửng của lời tỏ tình trong bài ca xin áo
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1991
15. Hữu Đạt (1996), Đặc điểm phong cách ngôn ngữ của thơ và ca dao (Nhìn từ góc độ giao tiếp ngôn ngữ), Tạp chí Ngôn ngữ (số 4), tr. 58-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm phong cách ngôn ngữ của thơ và ca dao (Nhìn từ góc độ giao tiếp ngôn ngữ)
Tác giả: Hữu Đạt
Năm: 1996
16. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2002), Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Năm: 2002
17. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2003), Ca dao dân ca đẹp và hay, Nxb Trẻ, Hội Nghiên cứu & giảng dạy văn học Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao dân ca đẹp và hay
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2003
18. Cao Huy Đỉnh (1966), Lối đối đáp trong ca dao trữ tình, Tạp chí Văn học (số 9), tr. 10-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối đối đáp trong ca dao trữ tình
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Năm: 1966
19. Nguyễn Thiện Giáp (2007), Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
20. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Các biến thể từ vựng của tín hiệu “mưa” trong ca dao - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam
Bảng 2 Các biến thể từ vựng của tín hiệu “mưa” trong ca dao (Trang 39)
Bảng 3: Các vị từ kết hợp với từ “mưa” trong ca dao - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam
Bảng 3 Các vị từ kết hợp với từ “mưa” trong ca dao (Trang 41)
Bảng 4: Các biến thể quan hệ của tín hiệu mưa trong ca dao - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam
Bảng 4 Các biến thể quan hệ của tín hiệu mưa trong ca dao (Trang 44)
Bảng 5: Các biến thể từ vựng của tín hiệu nắng trong ca dao - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam
Bảng 5 Các biến thể từ vựng của tín hiệu nắng trong ca dao (Trang 46)
Bảng 6: Các vị từ kết hợp với “nắng” trong ca dao - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam
Bảng 6 Các vị từ kết hợp với “nắng” trong ca dao (Trang 47)
Bảng 7: Các biến thể quan hệ của tín hiệu nắng trong ca dao - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam
Bảng 7 Các biến thể quan hệ của tín hiệu nắng trong ca dao (Trang 49)
Bảng 8: Các biến thể từ vựng của tín hiệu gió trong ca dao - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam
Bảng 8 Các biến thể từ vựng của tín hiệu gió trong ca dao (Trang 51)
Bảng 12: Các biến thể từ vựng của tín hiệu áo trong ca dao - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam
Bảng 12 Các biến thể từ vựng của tín hiệu áo trong ca dao (Trang 60)
Bảng 13: Các vị từ kết hợp với tín hiệu áo trong ca dao - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam
Bảng 13 Các vị từ kết hợp với tín hiệu áo trong ca dao (Trang 61)
Bảng 15: Các biến thể từ vựng của tín hiệu yếm trong ca dao - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam
Bảng 15 Các biến thể từ vựng của tín hiệu yếm trong ca dao (Trang 65)
Bảng 17: Các biến thể quan hệ của tín hiệu yếm trong ca dao - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam
Bảng 17 Các biến thể quan hệ của tín hiệu yếm trong ca dao (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm