39 2.3.2 Nguyên nhân của sự khác biệt……… 42 Chơng 3 Những điểm tơng đồng và khác biệt về nhân vật trong Truyền kì mạn lục Nguyễn Dữ và Truyện cổ tích Ngời Việt 44 3.1 Khái niệm nhân vật,
Trang 1Trờng đại học vinh
Vinh, 5/ 2007
Trờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
***********************
Trang 2Tóm tắt khoá luận tốt nghiệp
đề tài
so sánh cốt truyện , nhân vật trong truyền kỳ mạn lục ( nguyễn dữ ) và truyện
cổ tích ( ngời việt )
Giáo viên hớng dẫn : ThS Hoàng Minh Đạo
Sinh viên thực hiện : Hoàng Thị Thu Hiền
Lớp : 44B3 - Ngữ văn
Vinh,2007
Mục lục Trang Phần mở đầu 1 1 Lý do chọn đề tài……… 2
2 Mục đích yêu cầu……… 3
3 Lịch sử vấn đề……… 4
4 Phạm vi và phơng pháp nghiên cứu……… 5
4.1 Phạm vi nghiên cứu……… 5
4.2 Phơng pháp nghiên cứu……… 5
PHần nội dung chính Chơng 1: Những vấn đề chung 6 1.1 Thể loại truyện truyền kỳ và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ……… 6
1.1.1 Thể loại truyện truyền kỳ……… 6
1.1.2 Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ……… 8
1.1.2.1 Một vài nét về tác giả Nguyễn Dữ……… 8
1.1.2.2 Tác phẩm Truyền kì mạn lục ……… 8
1.1.2.3 Những “nguồn” ảnh hởng của Truyền kì mạn lục ……… 10
1.2 Về khái niệm truyện cổ tích và vấn đề phân loại truyện cổ tích ngời Việt……… 14
1.2.1 Về khái niệm truyện cổ tích……… 14
1.2.2 Vấn đề phân loại truyện cổ tích ngời Việt……… 16
1.2.2.1 Một số cách phân loại truyện cổ tích ở Việt Nam……… 16
1.2.2.2 Truyện cổ tích thần kì và truyện cổ tích sinh hoạt……… 18
1.2.2.2.1 Truyện cổ tích thần kì……… 18
1.2.2.2 Truyện cổ tích sinh hoạt……… 20
Chơng 2: Những điểm tơng đồng và khác biệt về 22
Trang 3cốt truyện trong Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) và
Truyện cổ tích (ngời Việt).
2.1 Khái niệm cốt truyện, các kiểu cốt truyện và chức năng của cốt
truyện……… 22
2.1.1 Khái niệm cốt truyện……… 22
2.1.2 Các kiểu cốt truyện……… 23
2.1.3 Chức năng của cốt truyện……… 24
2.2 Những điểm tơng đồng về cốt truyện trong Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) và Truyện cổ tích (Ngời Việt) Nguyên nhân của sự t-ơng đồng đó……… 25
2.2.1 Những điểm tơng đồng……… 25
2.2.1.1 Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) “vay mợn” cốt truyện của Truyện cổ tích (Ngời Việt)……… 26
2.2.1.2 Lối kết cấu truyện theo tuyến tính……… 28
2.2.1.3 Sử dụng yếu tố “kì” để xây dựng và phát triển cốt truyện………… 30
2.2.1.4 Truyền kì mạn lục xây dựng một số tình huống, chi tiết truyện giống với truyện cổ tích……… 33
2.2.2 Nguyên nhân của sự tơng đồng……… 34
2.3 Những điểm khác biệt về cốt truyện trong Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) và Truyện cổ tích (ngời Việt) Nguyên nhân của sự khác biệt……… 35
2.3.1 Những điểm khác biệt……… 35
2.3.1.1 Cốt truyện trong các truyện của Truyền kì mạn lục đợc xây dựng phức tạp hơn cốt truyện của truyện cổ tích……… 36
2.3.1.2 Sự khác biệt trong việc sử dụng yếu tố “kì” để phát triển cốt truyện 38 2.3.1.3 Trong Truyền kì mạn lục sử dụng những yếu tố ngoài cốt truyện mà truyện cổ tích không có……… 39
2.3.2 Nguyên nhân của sự khác biệt……… 42
Chơng 3 Những điểm tơng đồng và khác biệt về nhân vật trong Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) và Truyện cổ tích (Ngời Việt) 44 3.1 Khái niệm nhân vật, các kiểu nhân vật và chức năng của nhân vật 44
3.1.1 Khái niệm nhân vật……… 44
3.1.2 Các kiểu nhân vật……… 44
3.1.3 Chức năng của nhân vật……… 45
3.2 Những điểm tơng đồng về nhân vật giữa Truyền kì mạn lục cua Nguyễn Dữ với truyện cổ tích (ngời Việt) Nguyên nhân của sự t-ơng đồng đó……… 46
3.2.1 Những điểm tơng đồng……… 46
3.2.1.1 Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) và Truyện cổ tích (ngời Việt) đều có số lợng nhân vật đông đảo, đa dạng và phân tuyến rõ ràng 46 3.2.1.2 Truyền kì mạn lục mợn “mô-tip” nhân vật trong truyện cổ tích (ngời Việt)……… 51
3.2.1.3 Một số điểm tơng đồng khác……… 54
3.2.2 Nguyên nhân của sự tơng đồng……… 56
3.3 Những điểm khác biệt giữa nhân vật trong Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) với Truyện cổ tích (ngời Việt) Nguyên nhân của sự khác biệt……… 57
3.3.1 Những điểm khác biệt……… 57
3.3.1.1 Nếu nh nhân vật trong Truyện cổ tích chỉ mang tính chất phiếm chỉ (chỉ chung) thì nhân vật trong Truyền kì mạn lục lại đợc miêu tả cụ thể qua ngoại hình và hành động……… 57 3.3.1.2 Nhân vật trong Truyện cổ tích cha có đời sống nội tâm trong khi 59
Trang 4nhân vật ở các truyện trong Truyền kì mạn lục có đời sống nội
tâm hết sức sâu sắc………
3.3.1.3 Một số điểm dị biệt khác……… 613.3.2 Nguyên nhân của sự khác biệt trên……… 63
Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
1.1 Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là một tác phẩm có vị trí quan trọng trong
tiến trình văn học Việt Nam, đặc biệt là ở dòng văn học viết bằng chữ Hán Nó
đ-ợc đánh giá là “Thiên cổ kỳ bút” (tác phẩm tuyệt bút ngàn năm – Vũ Khâm
Vinh, tháng 5 – 2007
Hoàng Thị Thu Hiền
Trang 5Lân) Một trong những yếu tố làm nên sự thành công ấy của Truyền kì mạn lục là
do Nguyễn Dữ đã rất khéo léo khi sử dụng chất liệu dân gian – truyện cổ tích(ngời Việt) vào trong sáng tác của mình
1.2 Mặt khác, Truyền kì mạn lục thuộc loại hình văn xuôi tự sự trung đại Mà đối
với một tác phẩm tự sự thì cốt truyện và nhân vật là hai yếu tố quan trọng biểuhiện nét đặc sắc của tác phẩm và tài năng sáng tạo của tác giả Cho nên, việc
nghiên cứu, so sánh hai yếu tố cốt truyện và nhân vật giữa Truyền kì mạn lục và
truyện cổ tích (ngời Việt) là nhằm nhận thức sâu sắc hơn nữa mối liên hệ giữavăn học dân gian và văn học viết nói chung cũng nh sự ảnh hởng của truyện cổ
tích đối với sự hình thành của Truyền kì mạn lục nói riêng Qua đó cũng thấy đợc
sự sáng tạo của Nguyễn Dữ khi tiếp thu nguồn văn học dân gian nớc nhà
1.3 Hơn nữa, Truyền kì mạn lục đợc đa vào giảng dạy trong chơng trình phổ thông mà cụ thể ở đây là truyện Chuyện ngời con gái Nam Xơng đợc dạy ở lớp 9
(Sách chỉnh lý hợp nhất, NXBGD, 2000) Tác phẩm này đợc xem là Nguyễn Dữ
đã lấy nguyên mẫu cốt truyện và nhân vật trong cổ tích Vợ chàng Trơng để viết
nên truyện cuả mình Hay trong sách ngữ văn 10 (phân ban) NXBGD, 2006,
truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên đợc tuyển chọn để dạy và học đợc
xem là có ảnh hởng của truyện dân gian… Do đó, khi so sánh yếu tố nhân vật và
cốt truyện giữa Truyền kì mạn lục và Truyện cổ tích còn góp phần vào việc học
tập và giảng dạy tác phẩm của Nguyễn Dữ trong nhà trờng có hiệu quả hơn
Nh vậy, vấn đề so sánh hai yếu tố cốt truyện và nhân vật giữa Truyền kì mạn lục
và truyện cổ tích (Ngời Việt) là điều bổ ích và thiết thực.
2 Mục đích yêu cầu
Trong khuôn khổ của một khoá luận, chúng tôi sẽ tập trung làm sáng tỏ haivấn đề chính đó là:
- Tìm ra sự tơng đồng và dị biệt về cốt truyện trong Truyền kì mạn lục
(Nguyễn Dữ) và truyện cổ tích (Ngời Việt) Lý giải nguyên nhân của sự tơng
đồng và dị biệt đó
- So sánh tìm ra sự tơng đồng và dị biệt về nhân vật trong hai loại truyện trên,
đồng thời cũng lý giải nguyên nhân của sự tơng đồng và dị biệt đó
Khi giải quyết đợc mục đích yêu cầu này, cũng đồng nghĩa với việc chúng tôi
sẽ góp một phần vào việc làm sáng tỏ mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn
học viết nói chung và mối liên hệ giữa Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) với truyện
cổ tích (Ngời Việt) nói riêng đồng thời thấy đợc tài năng sáng tạo thực sự củaNguyễn Dữ
3 Lịch sử vấn đề.
Trang 6Qua các tài liệu đã có dịp tiếp xúc và tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng: khi
bàn về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, cũng nh ảnh hởng của
truyện dân gian đối với truyện trung đại Việt Nam, các tác giả đã chỉ ra một vài
nét về sự ảnh hởng của truyện dân gian đối với Truyền kỳ mạn lục – tác phẩm
văn xuôi tự sự trung đại tiêu biểu của Nguyễn Dữ Cụ thể là: trong cuốn: Văn học dân gian Việt Nam (tập 2), Hoàng Tiến Tựu khái quát “ Chính truyện kể dân gian
mà chủ yếu là truyện cổ tích đã góp phần quan trọng vào sự hình thành loạitruyện thơ và loại truyện vừa viết bằng tảo văn trong nền văn học viết nớc ta thờiphong kiến Những truyện cổ tích đợc viết dới lại dới hình thức tản văn trung
Lĩnh Nam chích quái , Việt điện u linh, Thánh Tông di thảo, ( của vua Lê Thánh Tông), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ)…đã góp phần quan trọng vào việc hìnhthành loại truyện vừa trong văn học Việt Nam thời trung đại [ 22, 18]
Còn trong bài viết Bàn về yếu tố văn học dân gian trong Truyền kì mạn
lục , Bùi Văn Nguyên đã chỉ ra một số đặc điểm của Truyền kì mạn lục đợc coi là
ảnh hởng của truyện dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích,) Sau khi so
sánh một số yếu tố trong Truyền kì mạn lục với truyện dân gian, Bùi Văn Nguyên
rút ra kết luận: “Đề tài và nội dung các truyện nh vậy chúng ta thờng gặp trongkho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam.” [ 14, 12]
Đặc biệt, tác giả Trần ích Nguyên, trong Nghiên cứu so sánh tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục đã có những nhận xét khá xác đáng về mối liên hệ giữa Truyền kỳ mạn lục với truyện dân gian Việt Nam: “ Trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, ngoài truyện mở đầu là Hạng Vơng từ ký khá đặc biệt ra, các
truyện còn lại đều là ngời Việt Nam, nơi xảy ra cũng trên lãnh thổ Việt Namphong vị nớc Nam rất nồng đậm; trong số đó nhiều truyện nhắc đến truyện thầnthoại và chí quái đời xa [15, 202]
Cũng cần phải nói thêm rằng, ngay từ thời trung đại (thời mà Nguyễn Dữsống), các nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc quan tâm nhiều đến mối quan hệ
giữa Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ ) và Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu – Trung
Hoa) Ví dụ nh Hà Thiện Hán học giả Việt Nam thời trung đại nhận xét: “ Xem
văn từ của sách thấy không ra ngoài phên giậu của Tông Cát” (trong lời Tựa truyền kỳ mạn lục viết năm 1547) Tuy nhiên, mặc dù đã chỉ ra Nguyễn Dữ
“phỏng theo”,vay mợn Tiễn đăng tân thoại nhng Hà Thiện Hán không có ý coi Truyền kỳ mạn lục chỉ là một cuốn cải biên , sao chép, là “cái bóng” của nguyên
mẫu, mà ông vẫn đánh giá cao sức sáng tạo của nguyễn Dữ, coi tác phẩm là mộtthành phẩm nghệ thuật thể hiện ý đồ nghệ thuật riêng, mang dấu ấn, tài hoariêng của tác giả Nên, Hà Thiện Hán đã viết: “ Xem vốn từ thì không vợt ra phên
Trang 7giậu của Tông Cát nhng có ý khuyên răn, có ý nêu quy củ phép tắc, đối với việcgiáo hoá ở đời, há có phải bổ khyết nhỏ đâu” [8,8].
Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm hiểu mốiquan hệ này Cũng đã có một số khoá luận tốt nghiệp của sinh viên khoa Ngữ văn(đại học Vinh) tìm hiểu mối quan hệ ấy Nh khoá luận tốt nghiệp của sinh viên
Nguyễn Thị Vân Oanh đã So sánh hình tợng phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ và Tiễn đăng tân thoại) (Cù Hựu) hay khóa luận của sinh viên Nguyễn Hoài Thanh tiến hành So sánh yếu tố kỳ trong“ ” Truyền kỳ mạn lục
(Nguyễn Dữ) và Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu) ở những khóa luận này không những chỉ ra những điểm tơng đồng và dị biệt giữa Truyền kỳ mạn lục và Tiễn
đăng tân thoại trong việc sử dụng yếu tố “kỳ” và xây dựng hình tợng phụ nữ mà
còn tìm ra đợc những điểm giống và khác nhau ở hai phơng diện trên giữa
Truyền kỳ mạn lục và truyện dân gian Việt Nam Qua đó khẳng định tinh thần
dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Dữ Mặc dù vay mợn thể loại và nguyễn mẫutruyện Trung Quốc nhng dới ngòi bút tài hoa của mình, Nguyễn Dữ đã tạo ranhững truyện tởng nh bắt chớc, sao chép ấy mang đậm màu sắc dân tộc Tuynhiên, sự so sánh này chỉ mang tính chất gợi mở, cha đi vào cụ thể
Nh vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu Truyền kỳ mạn lục trong mối quan hệ với
văn học dân gian của dân tộc đã đợc đề cập đến Song, đó chỉ là một vài gợi ý,nhận định mà cha đi sâu vào phân tích tỉ mỉ, kĩ lỡng Vấn đề so sánh giữa cốt
truyện và nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục và truyện cổ tích (ngời Việt) đến nay
vẫn cha có tác giả nào nghiên cứu chuyên sâu Cho nên, thực hiện đề tài này,chúng tôi muốn góp một phần nhỏ nhằm làm sáng rõ hơn sự tiếp thu, ảnh hởngtruyện dân gian mà cụ thể ở đây là truyện cổ tích (ngời Việt) về phơng diện cốttruyện và nhân vật cũng nh sự sáng tạo trên hai phơng diện này của Nguyễn Dữ
khi sáng tác Truyền kỳ mạn lục của mình.
4 Phạm vi và phơng pháp nghiên cứu.
4.1 Phạm vi nghiên cứu.
Đối với tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thì chúng tôi tiên hành
khảo sát tất cả 20 truyện trong đó văn bản và chúng tôi sử dụng là cuốn “Cù Hựu,
Tiễn đăng tân thoại, Nguyễn Dữ Truyền kỳ mạn lục” do Phạm Tú Châu dịch,
Trần Thị Băng Thanh (su tầm) [8] Đối với truyện cổ tích (ngời Việt), do phạm vi
và điều kiện nghiên cứu của đề tài nên chúng tôi chủ yếu khảo sát truyện cổ tích
trong cuốn Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam (phần truyện cổ tích ngời Việt) do
Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế biên soạn [4] Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo
thêm một số truyện cổ tích có liên quan ở trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập), Nguyễn Đổng Chi biên soạn [2].
Trang 85 Bố cục khoá luận.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính chúng tôi trình bày
ba vấn đề lớn là:
Chơng 1: Những vấn đề chung
Chơng 2: Những điểm tơng đồng và khác biệt về cốt truyện trong Truyền
kì mạn lục ( Nguyễn Dữ) và truyện cổ tích ( ngời Việt).
Chơng 3: Nnhững điểm tơng đồng và khác biệt về nhân vật trong Truyền kì mạn lục ( Nguyễn Dữ) và truyện cổ tích (ngời Việt).
1.1.1 Thể loại truyện truyền kỳ.
“Truyện truyền kỳ là một thể loại tự sự cổ điển của văn học Trung Quốcthịnh hành ở thời Đờng, tên gọi này cuối đời Đờng mới có “Kì” nghĩa là không
có thực, nhấn mạnh tính chất h cấu Thoạt đầu tiểu thuyết truyền kỳ (truyệntruyền kỳ) mô phỏng truyện chí quái thời lục triều, sau phát triển độc lập” [10,T286] Là “hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, vốn bắt nguồn từ truyện
kể dân gian, sau đó đợc các nhà văn nâng lên thành văn chơng bác học, sử dụngnhững môtip kỳ quái hoang đờng, lồng trong một cốt truyện có ý nghĩa trần thế,phần lớn là chuyện tình để gợi hứng thú cho ngời đọc” [6, T183]
Trang 9Còn theo cuốn Ngữ văn 10 (tập hai), Phan Trọng Luận, (tổng chủ biên),
các soạn giả định nghĩa: “Truyền kỳ là một thể văn xuôi tự sự thời trung đại phản
ánh hiện thực qua những yếu tố kỳ lạ hoang đờng Trong truyện truyền kỳ, thếgiới con ngời và thế giới cõi âm với những thánh thần , ma quỷ có sự tơng giao
Đó chính là yếu tố tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt của thể loại Tuy nhiên đằng saunhững tình tiết phi hiện thực ngời đọc có thể tìm thấy những vấn đề cốt lõi củahiện thực cũng nh những quan niệm và thái độ của tác giả” [11, T55]
Từ những định nghĩa về truyện truyền kì trên ta thấy, ở thể loại truyện nàynổi lên hai đặc điểm chính: Thứ nhất đây là thể loaị văn xuôi tự sự; thứ hai, trongtruyện có những yếu tố hoang đờng , kì ảo góp phần xây dựng cốt truyện và cóvai trò quan trọng trong việc làm nổi bật ý nghĩa của câu chuyện đặc biệt làtrong việc phát triển cốt truyện
Mặt khác, trong định nghĩa của nhóm biên soạn sách giáo khoa do PhanTrọng Luận (chủ biên) còn cho ta thấy đợc thế giới nhân vật của truyện cổ tíchthần kì hết sức dặc biệt “Nó không chỉ là nhân vật con ngời bình thờng mà cónhững lực lợng thần linh, ma quỷ, chúng “tơng giao” với nhau tạo nên sự hấp dẫn
đặc biệt của thể loại” [11,55]
Trong nền văn học Trung Hoa, thể loại truyện truyền kì có một giai đoạnhết sức phát triển đặc biệt là giai đoạn cuối đời Nguyên đầu nhà Thanh với sự ra
đời Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu.
Cừ Hựu (1311 – 1427), tự Tông Cát đợc xem ngời có công hoàn thiện thểtruyền kì nh một thể loại đặc sắc ở Trung Quốc cũng nh các nớc khác chịu ảnh h-
ởng của nền văn hoá Hán ( Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam ) Với Tiễn đăng
Trung Hoa
Tại Hàn Quốc, dới sự ảnh hởng của Tiễn đăng tân thoại, Kim Thời Tập (1435 – 1493) đã biên soạn nên cuốn Kim ngao tân thoại – tác phẩm đợc đánh
giá là cuốn tiểu thuyết đầu tiên, giữ vai trò tiên phong trong hành trình phát triển
của tiểu thuyết Hàn Quốc Trong “ hành trình” của mình, Tiễn đăng tân thoại
còn “du nhập” vào Nhật Bản và ở đất nớc xứ sở hoa anh đào này, nó đã đợc Asai
Rychi (1916 – 1691) phỏng theo để viết nên cuốn truyền kỳ Otogi Bohko Đặc
biệt, khi đến Việt Nam Tiễn đăng tân thoại đợc tác giả Nguyễn Dữ sử dụng nh một trong những “nguồn” để tạo nên Truyện kỳ mạn lục của mình Và Truyền
kỳ mạn lục của Việt Nam đợc các nhà nghiên cứu so sánh Trung Quốc xác nhận
“ là tác phẩm sáng tạo đột xuất”, là tác phẩm thành công nhất trong các tác phẩm
Truyền kỳ đợc phóng tác từ Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu bởi nó mang màu
sắc dân tộc đậm đà và tinh thần thời đại rõ rệt…” [18, 355]
Trang 101.1.2 Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
1.1.2.1 Một vài nét về tác giả Nguyễn Dữ.
Nguyễn Dữ (có ngời đọc là Nguyễn Tự), sống vào khoảng thế kỷ XVI, cha
rõ năm sinh, năm mất, (có tài liệu nói ông là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm
(1491 – 1585) và Truyền kì mạn lục đợc Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính Có tài
liệu lại nói, ông là bạn của Nguyễn Bỉnh Khiêm thậm chí hơn tuổi Nguyễn BỉnhKhiêm) ông là ngời xã Đỗ Tùng, huyện Trờng Tân, nay thuộc huyện ThanhMiện, tỉnh Hải Dơng
Nguyễn Dữ xuất thân trong một gia đình khoa bảng Cha là Nguyễn TrờngPhiếu, tiến sĩ khoa Bính Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496) đời Lê Thánh
Tông Theo Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển và một số bài tựu ở các
cuốn Truyền kì mạn lục thì về sau thì Nguyễn Dữ có đi thi hơng, đâụ hơng tiến
(tức cử nhân), sau thi hội, trúng tuyển tam trờng và có ra làm tri huyện Làmquan đợc một năm ông lấy lí do phải phụng dỡng mẹ già để cáo quan về ở ẩn, từ
đó “trải mấy mơi sơng, chân không bớc đến thị thành” Thực ra, Nguyễn Dữ lui
về ẩn dật có lẽ vì “đại thể bất an”, vì bất mãn với kẻ đơng quyền hơn là vì phải
“nuôi mẹ già cho trọn đạo hiếu” Cho nên, viết Truyền kì mạn lục chính là để kí
thác tâm sự, thể hiện hoài bão của mình
1.1.2.2 Tác phẩm Truyền kì mạn lục.
Truyền kì mạn lục nghĩa là ghi chép tản mạn những truyện lạ Đây là tập
văn xuôi chữ Hán, gồm 20 truyện Các truyện đợc viết bằng lối tản văn xen lẫn
với văn biền ngẫu và những bài thơ Trừ truyện Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa
ra, còn các truyện khác, phần cuối mỗi câu chuyện đều có lời bình Tuy nhiên,
“khác với lời bàn của Sơn Nam Thúc trong Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông),
lời bình ở các truyện trong Truyền kì mạn lục không bàn về nghệ thuật văn
ch-ơng, chủ yếu bàn về nội dung ý nghĩa” [9,505] mà cụ thể ở đây là bày tỏ ý răn
đời, khuyến thiện, trừ ác, nhân danh đạo lý Nho giáo để “giáo huấn” về các mốiquan hệ luân thờng trong xã hội
Có thể nói rằng, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là tác phẩm mở đầu và
cũng là tác phẩm đỉnh cao của loại truyện truyền kì trong văn học Việt Nam thời
trung đại Bởi, so với các tác phẩm trớc và sau nó ( nh Thánh Tông di thảo – Lê
Thánh Tông hay Truyền kì tân phá - Đoàn Thị Điểm,…) thì Truyền kì mạn lục
không chỉ đơn thuần là những ghi chép tản mạn những truyện lạ nữa mà nó thực
sự là một sáng tác văn học với sự gia công, trau chuốt, gọt giũa hết sức cẩn thận.Nên, truyện của Nguyễn Dữ có “linh hồn” riêng chứa đựng dụng ý nghệ thuậtcủa tác giả
Trang 11Qua khảo sát 20 truyện trong Truyền kì mạn lục chúng tôi thấy
rằng: thời điểm mà các câu chuyện xảy ra hầu hết ở thời Lý – Trần , Hồ, Lê sơ (
ví dụ: Chuyện gã Trà Đồng giáng sinh xảy ra ở thời kỳ nhà Lý, hay Chuyện kỳ
truyện này đều có sự tham gia của các yếu tố hoang đờng, kỳ ảo Yếu tố kỳ ảo ấygóp phần đem lại cho cốt truyện màu sắc huyền bí, thần kỳ, thu hút, lôi cuốn ng-
ời đọc khám phá tác phẩm Nhng điều quan trọng hơn là đằng sau những yếu tố
kỳ lạ đó, hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam đơng thời với đầy rẫy những tệtrạng đợc phơi bày rõ nét
ở Truyền kì mạn lục có một bớc tiến đáng kể trong nghệ thuật xây dựng
nhân vật Qua việc đối sánh Truyền kì mạn lục với những sáng tác trớc nó và sau
nó ta thấy: Nếu nh văn học trớc và sau nó, không ít tác phẩm, nhân vạt chỉ lànhân vật loại hình, nghĩa là chỉ mang những đặc tính chung của nghề nghiệp, của
giai cấp, còn phơng diện cá thể, cá tính rất mờ nhạt thì trong Truyền kì mạn lục,
nhân vật thực sự có diện mạo, tính cách riêng Điều này sẽ đợc chúng tôi làm rõhơn trong việc so sánh giữa nhân vật của truyện cổ tích ngời Việt với nhân vật
trong Truyền kì mạn lục ở chơng sau của khoá luận này.
Nói tóm lại, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ tuy ảnh hởng từ nhiều
“nguồn” khác nhau (Tiểu thuyết truyền kì đời Đờng, Tiễn đăng tân thoại (Cù
Hựu) và thần thoại, chí quái, truyện dân gian Việt Nam) nhng nó không phải lànhững ghi chép lại của Nguyễn Dữ mà từ những “nguồn” đó, Nguyễn Dữ đã sáng
tạo nên một tác phẩm riêng của mình Với, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ không
chỉ phê phán những tệ lậu của xã hội lúc bấy giờ mà ông còn ngợi ca phẩm giá
của ngời phụ nữ, ngợi ca phẩm giá của ngời tri thức chân chính Cho nên, Truyền kì mạn lục vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc Tác phẩm đã
đợc Vũ Khâm Lâm (thế kỷ XVII) đánh giá là “Thiên cổ kì bút” (tác phẩm tuyệtbút ngàn năm) và đợc dịch ra
nhiều thứ tiếng nớc ngoài
1.1.2.3 Những nguồn ảnh h“ ” ởng của Truyền kì mạn lục.
Khái niệm “nguồn” ở đây đợc chúng tôi sử dụng để chỉ những sáng tác mà
Nguyễn Dữ đã phóng tác, vay mợn, hay ảnh hởng để tạo nên Truyền kì mạn lục.
ở mục này, do giới hạn của đề tài nên chúng tôi chỉ nêu ra một vài điểm t ơng
đồng cũng nh dị biệt tiêu biểu giữa Truyền kì mạn lục với các “nguồn” mà cụ thể
là có 3 nguồn ảnh hởng chính: Tiểu thuyết truyền kì đời Đờng, Tiễn đăng tân
thoại (Cù Hựu) và truyện dân gian Việt Nam để làm nổi bật sự sáng tạo của
Nguyễn Dữ trong quá trình tiếp thu, ảnh hởng này
Trang 12ở “nguồn” tiểu thuyêt truyền kỳ đời Đờng, đây là những truyện “Một là có
ý chuộng lạ, nh Hồ ứng Lân đời Minh nói: “ Kể những việc khác thờng, kế thừatruyền thống chí quái từ đời Ngụy Tấn Hai là, nh tác giả đời Tống là Triệu Ngạn
Vệ nói, đặc điểm của truyền kỳ là chứa đựng nhiều thể” [18, 349] Bố cục truyệntruyền kỳ đời Đờng thờng là: mở đầu giới thiệu về nhân vật, tên họ, quê quán,
tính tình, phẩm hạnh, kế đó là kể các chuyện kì ngộ lạ lùng, ví dụ trong Tạ Tiểu
Nga truyện (thấy trong Quảng kí 491) nói Tiểu Nga họ Tạ, ngời Dự Chơng, 8
tuổi thì mồ côi mẹ, sau gả cho Đoàn C Trinh, hiệp sĩ ở Lịch Dơng Cả vợ chồngcả bố đều quen nghề buôn bán, đi lại trong vùng sông hồ, bị giặc cớp giết chết,Tiểu Nga cũng gãy chân rơi xuống nớc, thuyền chúng vớt lên, lang bạt đến huyệnThợng Nguyên, vào nơng nhờ các vãi chùa Diệu Quả Tiểu Nga nhiều lần mộngthấy bố mách rằng kẻ thù là “ tên phu chạy giữa lúc ban ngày”…” [20, 92] và
Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ đã ảnh hởng truyện truyền kì đời Đờng ở
ph-ơng diện bố cục này Ta thấy cả 20 truyện trong Truyền kì mạn lục đều có lối mở
đầu giới thiệu lai lịch nhân vật
Nhng điểm khác biệt giữa Truyền kì mạn lục và truyện truyền kì đời Đờng
ở chỗ: phần kết ở truyện truyền kì thờng nêu lí do kể chuyện, ví nh Truyện Lý Oa
ghi “ Công Tá chắp bàn tay vào tai lắng nghe, sai ta làm truyện, bèn cầm bút viết,
ghi lại để biết” [18, 42], còn ở Truyền kì mạn lục thì kết thúc mỗi chuyện là lời
bình của tác giả bàn về nội dung, ý nghĩa truyện Có thể dẫn ra đây một vài dẫn
chứng nh ở Chuyện cây gạo có lời bình : “Than ôi! Cái giống ma quỷ, tuy từ xa
không phải cái nạn đáng lo cho ngời thiên hạ, nhng kẻ thất phu đa dục thì thờngkhi mắc phải Trung Ngộ là một gã lái buôn không có tri thức, không đủ tráchvậy Vị đạo nhân kia vì ngời trừ hại, công đức lớn lao; nhà bình luận công bằngsau này, phải nên biết đến Không nên lấy cớ huyễn thuật mà cho là chuyệnnhảm, bảo rằng dị đoan mà dìm mất cái hay, ngõ hầu mới hợp cái ý nghĩa ngời
quân tử trung hậu đối với ngời khác [8, 237] Hay ở Chuyện tớng Dạ Xoa kết thúc
bằng lời bình “Than ôi! Bè bạn là một ở trong 5 đạo thờng, có thể coi khinh ?Câu chuyện quỷ Dạ Xoa này thật có hay không, không cần phải biện luận cholắm Chỉ có một điều đáng nói là sự giao du của Dĩ Thành, khi đã coi ai làm ng ờibạn chân chính thì sống chết không đổi thay, hoạn nạn cùng cứu gỡ Đời những
kẻ kết bạn ở chung quanh mâm rợu, gan dạ đảo điên, hễ lâm đến sự lợi hại thì lờ
đi nh không biết nhau, nghe chuyện này há chẳng chạnh lòng hổ thẹn sao?” [8,
315].Chính những lời bình này tạo nên nét riêng biệt và độc đáo cho Truyền kì mạn lục so với những sáng tác mà nó ảnh hởng.
Bên cạnh tiểu thuyết truyền ki đời Đờng, Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) còn ảnh hởng khá đậm nét Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu.
Trang 13Tiễn đăng tân thoại (Câu chuyện mới dới ánh đèn cắt bấc nhiều lần) gồm 4
quyển, 20 truyện Đây là tập truyện mà hầu hết các truyện trong đó là: “ Chuyệntình đậm hơng son phấn và chuyện quái dị của quỷ thần, qua đó phản ánh ở mức
độ nhất định chế độ hôn nhân bất hợp lí thời phong kiến và hiện thực xã hội đentối cuối đời Nguyên” [8, 17]
ở đây, Nguyễn Dữ đã vay mợn trong sáng tác của Cù Hựu nhiều tình tiết,
điển tích, đặc biệt là việc Nguyễn Dữ đã dùng một số truyện trong Tiễn đăng tân thoại nh một điển cố Đó là trờng hợp truyện Long đình đối tụng lục (chuyện đối
tụng ở Long cung) kể về việc quan thái thú họ Trịnh bị thần Thuồng luồng bắtmất vợ, sau đó đợc Bạch Long Hầu giúp đỡ đa xuống Long cung để tha kiện (…).Trong cuộc nói chuyện giữa thái thú họ Trịnh và Bạch Long Hầu, Nguyễn Dữ đã
để cho nhân vật Trịnh Thái Thú nhắc đến tên D Thiện Văn – tên một nhân vật
chính trong Thủy cung khánh hội lục (Tiệc mừng dới thuỷ cung – Tiễn đăng tân
thoại – Cù Hựu) Câu chuyện về D Thiện Văn đợc kể rằng: Khoảng niên hiệu
Chí Chính nhà Nguyên, có ngời học trò là D Thiện Văn, giữa ban ngày thấy haingời lực sĩ đến nói là vâng mệnh của Quảng Lợi Vơng (Vua thuỷ) sai đón, ThiệnVăn theo đi Đến bến sông xuống một chiếc thuyền, thấy hai con rồng vàng cắp
mà đem đi, rồi xuống đến Thuỷ phủ, Quảng Lợi Vơng tiếp đón long trọng rồinhờ soạn hộ một bài văn để đọc lúc làm lễ cất câu đầu của toà đền Linh Đức sắpdựng Thiện Văn liền làm hộ một bài rất hay Khi khánh thành, Thiện Văn đợc dựmột bữa yến lớn Và Trịnh Thái Thú đã dùng câu chuyện này nh một điển tíchkhi trả lời câu hỏi của Bạch Long Hầu, Trịnh nói: “ Ngày xa Liễu Nghị có cuộcxuống chơi dới Động Đình Thiện Văn có cuộc ăn yến ở Long cung, chẳng hay
kẻ phàm tục này có đợc theo dấu của ngời xa không?”
Không chỉ có thế trong Mộc miên thụ truyện (chuyện cây gạo), Nguyễn Dữ còn vay mợn cốt truyện của Mẫu đơn đăng kí (Cây đèn mẫu đơn) ở Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu).
Cây đèn mẫu đơn kể về mối tình kì lạ giữa Kiều Sinh và Lệ Khanh Vào
đêm nguyên tiêu, Kiều Sinh nhìn thấy một ngời con gái tuyệt đẹp đi sau một ahoàn cầm cây đèn mẫu đơn, Kiều Sinh đã tìm cách làm quen và từ đó hai ngờiquan hệ ái ân rất mặn nồng Sau khi Kiều Sinh phát hiện ra Lệ Khanh là một hồn
ma khi tình cờ thấy trong ngôi chùa (mà chàng đi qua) có quàn thi hài Lệ Khanh,trớc linh cữu có một chiếc đèn mẫu đơn, đứng dới đèn là một ngời hầu gái bằnghàng mã Kiều Sinh hoảng sợ bỏ chạy Chàng tìm đến pháp s cầu cứu Nhng rồimột hôm, chàng quên mất lời dặn của pháp s (đã đi qua ngôi chùa giữa hồ) nên bịhồn ma Lệ Khanh bắt đi Chàng bị hồn ma kéo vào quan tài Sau đó, ngời hàngxóm phát hiện ra, mở nắp quan tài để cứu Kiều Sinh nhng thấy Kiều Sinh đã chết
Trang 14Cũng từ đó Kiều Sinh và Lệ Khanh biến thành hồn ma thòng hiện lên quấy nhiễukhắp nơi khiến cho dân làng phải nhờ Thiết Quân đạo nhân diệt trừ Khi hồn ma
bị diệt trừ xong, dân làng đến cảm ơn Thiết Quân thì không biết tung tích đạonhân ở đâu nữa
Tơng tự nh truyện Cây đèn mẫu đơn của Cù Hựu , Chuyện cây gạo của
Nguyễn Dữ miêu tả mối tình đắm say, lạ kì giữa Trình Trung Ngộ và nàng NhịKhanh Cả hai cùng gặp gỡ tình cờ và đi đến quan hệ gối chăn với nhau Rồi mộtlần, Trung Ngộ đến nhà tình nhân của mình, chàng bất ngờ trông thấy một chiếcquan tài đỏ trên đề “Linh cữu Nhị Khanh”, cạnh cữu có một cô gái ôm cây hồcầm bằng đất nặn Trung Ngộ rụng rời chân tay và bỏ chạy, hồn ma đuổi theokéo lại nhng Trung Ngộ may mắn thoát đợc Song Trung Ngộ luôn bị hồn ma mêhoặc và cuối cùng chàng ôm quan tài mà chết Linh hồn của hai ngời nơng tựavào cây gạo cổ thụ bên sông tác oai tác quái Sau bị một đạo nhân thu phục và haiyêu ma bị thần binh trói giải đi
Có thể thấy, tuy nhìn bề ngoài Chuyện cây gạo có vẻ hoàn toàn dựa vào
Cây đèn mẫu đơn về cốt truyện , song ở đây nếu phân tích kỹ sẽ thấy Nguyễn Dữ
có những sửa chữa hết sức tinh tế khiến cho Mộc miên thụ truyện mang phong vị
của Việt Nam, phù hợp với văn hoá Việt Nam Trong Chuyện cây gạo, trừ chi tiết
ngòi chết quàn lâu không chôn có vẻ không hợp với phong tục đồng bằng Bắc
Bộ, còn mọi tình tiết khác đều rất quen thuộc, gần gũi với truyện kể dân gian vềcác hồn ma sống lang thang ở miếu hoang, gò đất vắng hay ở những cây cổ thụ
mà dân gian ta thờng có câu truyền tụng “Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây
đề”
Nh vậy, Nguyễn Dữ đã ảnh hởng và học tập Cù Hựu ở cách dùng điển cố,cũng nh việc sử dụng truyện của Cù Hựu nh một điển cố và học tập ở cách tổ
chức truyện trong Tiễn đăng tân thoại để tạo nên Truyền kì mạn lục của mình.
Nh một quá trình “ Ăn lá nhả tơ”, Nguyễn Dữ đã sử dụng thành thạo tài hoa bútpháp thể loại để chuyển tải t tởng cá nhân, ông viết về những vấn đề của xã hộiViệt Nam, những chuyện đời thờng của ngời dân Việt Nam Ông hấp thụ nhữngtinh hoa của văn hoá Trung Hoa, văn hoá khu vực mà không quên bắt rễ ở mảnh
đất quê hơng mình [4, T10] Sự “bắt rễ” ấy chính là việc ngoài hai “nguồn”truyện du nhập trên, Nguyễn Dữ còn tiếp thu, ảnh hởng và học tập truyện dângian Việt Nam ( Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích) mà đặc biệt là ảnh hởngtruyện cổ tích ngời Việt cả về phơng diện nhân vật lẫn yếu tố cốt truyện Điềunày sẽ đợc chúng tôi trình bày kỹ ở phần sau của khoá luận này
1.2 Về khái niệm truyện cổ tích và vấn đề phân loại truyện cổ tích ngời Việt 1.2.1 Về khái niệm truyện cổ tích.
Trang 15Cho đến nay, ở nớc ta việc xác định khái niệm truyện cổ tích có rất nhiều ýkiến khác nhau Trớc cách mạng tháng Tám – 1945, danh từ truyện cổ tích th-ờng đợc dùng để chỉ chung hầu nh toàn bộ lĩnh vực truyện dân gian truyền miệng
kể xuôi Về sau, cùng với quá trình nhận thức và chia tách các loại truyện dângian khác ra khỏi cổ tích thành các thể loại truyện nh: truyền thuyết, truyện cời,truyện ngụ ngôn,…thì phạm vi của truyện cổ tích đợc thu hẹp lại và khái niệmtruyện cổ tích đợc hình thành một cách hoàn chỉnh và chính xác hơn
Trong cuốn Văn học dân gian (tập 2), Hoàng Tiến Tựu định nghĩa: “
Truyện cổ tích là một loại truyện kể dân gian ra đời từ thời kì cổ đại, gắn liền vớiquá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ, hình thành của gia đình phụquyền và phân hóa giai cấp trong xã hội Nó hớng vào những vấn đề cơ bản,những hiện tợng có tính phổ biến trong đời sống nhân dân, đặc biệt là nhữngxung đột có tính chất riêng t giữa ngời với ngời trong phạm vi gia đình và xã hội
Nó dùng một thứ tởng tợng và h cấu riêng (có thể gọi là tởng tợng và h cấu cổtích) kết hợp với các thủ pháp khác để phản ánh đời sống và mơ ớc của nhân dânlao động đáp ứng nhu cầu nhận thức, thẩm mỹ, giáo dục và giải trí của nhân dântrong những thời kì, những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp.”[22,42]
Định nghĩa trên về cơ bản đã khái quát đợc những nét đặc trng của
chuyện cổ tích, song nó còn tơng đối dài dòng, khó nhớ Và điều này đã đợcnhóm biên soạn Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi khắc phục Trong
Từ điển thuật ngữ văn học nhóm biên soạn này định nghĩa: “Truyện cổ tích là
một thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thuỷ nhng chủ yếu pháttriển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải nhữngvấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con ngời trong cuộc sống muôn màumuôn vẻ khi đã có chế độ t hữu tài sản, có gia đình riêng (chủ yếu là gia đình phụquyền), có mẫu thuẫn giai cấp và đấu tranh xã hội quyết liệt.”[6, 311]
Từ các định nghĩa vừa nêu, có thể thấy rằng, khái niệm truyện cổ tích cónội dung rất rộng, phản ánh nhiều vấn đề cũng nh nhiều mối quan hệ trong xãhội Hoàng Tiến Tựu đã khái quát: “Xét chung toàn bộ truyện cổ tích cũng nh xét
riêng những tác phẩm tiêu biểu của thể loại này (nh truyện Thạch Sanh, truyện
hai tính chất cơ bản khác nhau và đối lập nhau là tính chất bi kịch của nội dunghiện thực xã hội đợc phản ánh trong truyện và tinh thần lạc quan của tác giả tức
là của nhân dân”[22,60] Nhận xét này đã cho ta thấy đợc tác dụng của truyện cổtích, nó không chỉ có tác dụng phản ánh hiện thực mà nó còn cho ta thấy đợc tinhthần lạc quan trớc mọi khó khăn của nhân dân ta
Trang 16Không chỉ có vậy, nói đến cổ tích bao giờ cũng phải nói đến sự h cấu Tấtcả nội dung cổ tích đều đợc tạo ra bằng những cái không có thật “Thế giới cổtích” là “Thế giới của những khả nhiên (possible) chứ không phải là thế giới cuảcái mặc nhiên, cái phổ biến Nói “thế giới cổ tích” là nói tới một thế giới khác th-ờng trong sự phân biệt với thế giới đời thờng Những gì có, những gì xảy ra trong
cổ tích đều thuộc “thế giới cổ tích”, nghĩa là không thể có hoặc không thể xảy ratrong thế giới đời thờng” [5,65] Cho nên khi nghe, tiếp nhận truyện cổ tích conngời sẽ đợc đặt vào cái gọi là “trờng cổ tích” “Trờng cổ tích” là một khái niệmtrừu tợng, một thế giới phi vật chất, một sản phẩm tinh thần có lực hấp dẫn tinhthần Thế giới ấy tuy không xác định trên bản đồ mà chỉ đợc cảm nhận bởi conngời Thế giới ấy không đồng nhất với thế giới con ngời nhng vừa có hệ quychiếu với thế giới con ngời lại vừa có điểm đồng quy với thế giới con ngời, nhờvậy con ngời có thể “ sống trong đó trong những thời khắc nhất định để nghiệmtrải lại thế giới của chính mình” [5,64]
Nói tóm lại, truyện cổ tích là “ một loại h cấu nghệ thuật có chủtâm”[5,65], h cấu để phản ánh hiện thực, nó lấy h cấu, đặc biệt là tính chất kìdiệu, làm cứu cánh để phát triển cốt truyện Và “trờng cổ tích” chính là môi trờng
để sự h cấu đợc mở rộng đến mức tối đa nh là cái khả nhiên dù không phải là hẳnnhiên “Ngời nghe truyện cổ tích, khi bị tác động của “trờng cổ tích” đã khôngquan tâm đến điều đợc kể ra có thực hay không mà họ chỉ quan tâm tới diễn biếncâu chuyện để hồi hộp, lo âu, vui buồn, hờn giận…đối với nhân vật trung tâm.Ngời nghe truyện cổ tích đã trải qua những rung cảm nghệ thuật trong suốt tiếntrình câu chuyện và khi trở lại đời thờng trong tâm hồn họ dấy lên một khát vọng
đấu tranh cho chính nghĩa, cho lẽ công bằng” [5,77]
1.2.2 Vấn đề phân loại truyện cổ tích ngời Việt.
1.2.2.1 Một số cách phân loại truyện cổ tích ở Việt Nam.
Vấn đề phân loại truyện cổ tích là một trong những vấn đề tồn tại đáng kểcủa khoa học về truyện cổ tích trên thế giới ở nớc ta, cũng có rất nhiều ý kiến
khác nhau về việc phân loại này.
Theo Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (tập 1)
chia truyện cổ tích thành 3 tiểu loại Với tiêu chí xét trên phơng diện đề tài và nộidung phản ánh, truyện cổ tích bao gồm:
- Truyện cổ tích hoang đờng (Truyện cổ tích kì quái), Ví dụ: Quỷ Dạ Xoa,
- Truyện cổ tích sinh hoạt ( Truyện cổ tích thế sự), Ví dụ: Tấm Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa,…
- Truyện cổ tích lịch sử, ví dụ: Sự tích Hồ Gơm,…
Trang 17Cũng dựa trên tiêu chí đề tài kết hợp với nội dung phản ánh, Đinh Gia
Khánh trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam chia truyện cổ tích ngời Việt
thành 2 tiểu loại:
- Truyện cổ tích sinh hoạt (Thế sự): Tấm Cám, Cây tre trăm đốt,…
- Truyện cổ tích lịch sử: Quận He, Nang Quát phu nhân,…[9, 245]
ở cách phân loại này đã bỏ qua cái gọi là truyện cổ tích hoang đờng, gạt
truyện cổ tích hoang đờng ra khỏi thể loại truyện cổ tích (Ví dụ: Quỷ Dạ Xoa, Từ
Hiện nay, đa số các nhà nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam đều tán thànhvới cách phân chia truyện cổ tích thành 3 loại:
- Truyện cổ tích loài vật (Ví dụ: Quạ và Công, Trâu và Ngựa,…)
- Truyện cổ tích thần kì ( Ví dụ: Thạch Sanh, Tấm Cám, … )
- Truyện cổ tích sinh họat ( Ví dụ: Đá Vọng Phu, Gái ngoan dạy chồng,
)
…
Cách phân loại này đã kết hợp vận dụng nhiều tiêu chí và căn cứ khác nhautrong đó nổi lên 2 tiêu chí quan trọng là đề tài và phơng pháp sáng tác Cách chianày về cơ bản phù hợp với tiến trình lịch sử của truyện cổ tích các dân tộc và khákhái quát, khoa học
Tuy nhiên, ranh giới thực tế giữa các tiểu loại truyện cổ tích nói trên khôngphải hoàn toàn rạch ròi, dứt khoát Bởi, trong các truyện cổ tích sinh hoạt nhữngyếu tố thần kì vẫn xuất hiện, ngợc lại đời sống xã hội với những mức độ, khíacạnh khác nhau vẫn đợc phản ánh trong truyện cổ tích thần kì Và tơng tự nh thếtrong những truyện cổ tích sinh hoạt và thế sự vẫn có mặt nhiều loài vật Cho nên,cách phân loại trên cũng chỉ mang tính chất tơng đối
1.2.2.2 Truyện cổ tích thần kì và truyện cổ tích sinh hoạt.
Sở dĩ chúng tôi chọn hai tiểu loại này để đi vào tìm hiểu vì đây là 2 bộphận của truyện cổ tích có ảnh hởng tơng đối rõ nét đối với nền văn học viết nóichung và văn xuôi trung đại nói riêng Mà cụ thể ở đây, nó là một trong các
“nguồn” ảnh hởng của Truyền kỳ mạn lục
1.2.2.2.1 Truyện cổ tích thần kì.
Theo tác giả Hoàng Tiến Tựu thì “ truyện cổ tích thần kì là bộ phận cơ bản,
cổ điển và tiêu biểu nhất của thể loại truyện cổ tích, đồng thời là một trong những
bộ phận quan trọng và tiêu biểu của nền văn học dân gian mỗi dân tộc” [22, 47]
“Nó là sản phẩm của giai đoạn phát triển cao nhất của thể loại truyện cổ tích, khi
mà thể loại này đã xây dựng và hoàn thiện đợc hệ thống phơng pháp và phơngtiện nghệ thuật riêng của nó” [22,48]
Trang 18Tơng đồng với ý kiến của Hoàng Tiến Tựu, trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học các soạn giả cũng khẳng định truyện cổ tích thần kì là “bộ phận quan
trọng và tiêu biểu nhất của thể loại truyện cổ tích” [6, 310] Mặt khác các tác giảnày còn chỉ ra một số đặc điểm của thể loại này: “ở loại truyện này nhân vậtchính vẫn là con ngời thực tại, nhng những lực lợng thần kì siêu nhiên có một vaitrò rất quan trọng Hầu nh mọi xung đột trung thực tại giữa ngời với ngời đều bếtắc, không thể giải quyết nổi nếu thiếu yếu tố thần kì” [6,311]
Nh vậy, xét về đối tợng miêu tả, phản ánh thì truyện cổ tích, thần kì hớng
về những nhân vật con ngời và những xung đột xã hội của con ngời, coi con ngời
là trung tâm, là đối tợng chủ yếu Điều này cũng có nghĩa là các lực lợng thần kì(nhân vật thần kì) dù có xuất hiện với tần số cao trong truyện đi chăng nữa thì nócũng không thể giữ vai trò là nhân vật trung tâm, là đối tợng chính của truyện cổtích thần kì đợc Bởi, nếu nhân vật thần kì lấn át vai trò của con ngời và trở thành
đối tợng chính của truyện thì khi ấy truyện cổ tích sẽ không còn là truyện cổ tíchnữa mà sẽ biến thành thần thoại
Tuy nhiên, yếu tố thần kì có vai trò rất quan trọng trong truyện mà trớc hết
là đối với nhân vật Trong truyện cổ tích nói chung và truyện cổ tích thần kì nóiriêng, mâu thuẫn xung đột chính xảy ra giữa hai tuyến nhân vật: thiện (chínhdiện) và ác (phản diện) Thông thờng các nhân vật chính diện trong cổ tích thầnkì rất thụ động và bất lực trớc mọi tình huống khó khăn, nguy nan trong cuộc
sống (ví dụ nh: nhân vật Tấm trong Tấm Cám bị mẹ con Cám tìm mọi cách hãm
hại thì Tấm không biết làm gì khác ngoài việc ôm mặt khóc chờ Bụt hiện lên…
Hay trong truyện Cây khế, nhân vật ngời em không hề phản đối hay có hành
động đòi quyền lợi cho mình khi ngời anh chia tài sản một cách bất công màhoàn toàn thụ động cam chịu,…) Cho nên, nếu không có sự tham gia phù trợ củacác lực lợng thần kì (Bụt, Chim phợng hoàng,…) thì các nhân vật chính diện sẽrơi vào tình thế hoàn toàn bế tắc, các xung đột trong truyện sẽ không thể nào giảiquyết đợc Do đó, lực lợng thần kì có vai trò giải quyết phần bế tắc của nhân vật
Mặt khác, đối với cốt truyện, sự xuất hiện của lực lợng thần kì cũng làmcho cốt truyện phát triển, làm thay đổi cốt truyện Tất cả các truyện cổ tích thầnkì đều kết thúc theo xu hớng có hậu (thiện chiến thắng, ác bị trừng phạt) Ngời talái câu chuyện theo ý đồ chủ quan, để đến cuối cùng thiện bao giờ cũng thắng ác.Muốn thực hiện đợc điều đó phải có sự hỗ trợ của yếu tố thần kì, thậm chí có sự
can thiệp hết sức lộ liễu của yếu tố thần kì (ví dụ truyện Tấm Cám, … ).
Bởi vậy, muốn hiểu đợc truyện cổ tích thần kì, ta phải thấy đợc mối quan
hệ biện chứng giữa nhân vật ngời với lực lợng thần kì trong truyện, cũng nh thấy
đợc vai trò của lực lợng thần kì đối với việc phát triển cốt truyện Không nên xem
Trang 19xét các lực lợng thần kì trong truyện cổ tích thần kì một cách cô lập vì nếu làm
nh vậy thì sự có mặt của các lực lợng thần kì trong truyện cổ tích thần kì sẽ là vô
lí, vô nghĩa Lí do xuất hiện và tồn tại của các nhân vật thần kì trong truyện cổtích thần kì không thể tìm thấy đợc ở bản thân chúng mà phải tìm ở các nhân vậtngời Và, yếu tố thần kì chỉ có ý nghĩa khi nó xuất hiện đúng lúc mâu thuẫn,xung đột của con ngời lên đến đỉnh điểm và nó sẽ là “phơng thuốc” duy nhất để
“chữa lành” những mâu thuẫn đó
1.2.2.2.2 Truyện cổ tích sinh hoạt.
Khác với truyện cổ tích thần kì, “truyện cổ tích sinh hoạt (hay cổ tích thếsự) là những truyện cổ tích không có hoặc rất ít yếu tố thần kì ở đây, các mâuthuẫn xung đột, xã hội giữa ngời với ngời đợc giải quyết một cách hiện thực,không cần đến những yếu tố siêu nhiên Những yếu tố thần kì nếu có cũng khônggiữ vai trò quan trọng và nhiều khi chỉ là đờng viền cho câu chuyện thêm vẻ li kì,
hấp dẫn mà thôi (ví dụ: Truyện Vợ chàng Trơng, Sự tích chim Hít cô…)”[6,312].
Từ định nghĩa trên, so sánh giữa cổ tích thần kì và cổ tích sinh hoạt ta thấy:nếu nh truyện cổ tích thần kì giải quyết xung đột trong cõi thần kì và bằng cáithần kì (không ra ngoài “địa hạt” của cái thần kì) thì truyện cổ tích sinh hoạt lạigiải quyết lại giải quyết xung đột trong cõi đời thực và bằng cái logic của đờisống xã hội Cái thần kì ở đây, nếu có, cũng chỉ giống nh “đờng viền” của truyện
mà thôi
Cho nên, nếu nh đa số các nhân vật chính diện trong truyện cổ tích thần kìthờng thụ động, bất lực trớc mọi khó khăn, bế tắc thì ngợc lại hầu hết các nhânvật trong truyện cổ tích sinh đều chủ động hơn, có ý thức tháo gỡ những mâuthuẫn khó khăn mặc dù cuối cùng họ vẫn có thể rơi vào tình thế nguy nan, khônglối thoát “Về căn bản khác với sự “không bế tắc” ảo tởng (do lí tởng hoá) củanhững nhân vật chính diện trong cổ tích thần kì Truyện cổ tích thần kì lí tởnghoá các nhân vật chính diện bằng cách “làm lại” cuộc đời của họ một cách khôngtởng và khẳng định những phẩm chất của họ một cách tuyệt đối Truyện cổ tíchsinh hoạt cũng lí tởng hoá nhân vật của mình nhng theo một kiếu khác: để cho họ
tự lo liệu lấy số phận, khẳng định phẩm chất của họ thông qua sự ứng xử cụ thể
của bản thân họ”[22,63] Ta có thể dẫn ra một ví dụ, trong truyện Vợ chàng
Tr-ơng kết thúc rất bi thảm và đau xót (từ chỗ hiểu lầm đến chỗ ngời vợ tự vẫn) Cái
chết của ngời vợ tuy hết sức bi thảm, đau xót nhng hành động của ngời vợ hoàntoàn mang tính chủ động và đó là ứng xử dũng cảm, đã tự chứng minh, tự khẳng
định và bảo vệ phẩm tiết, đức hạnh của mình Cái chết này không mang tính chấtthần kì ảo tởng và lí tởng hoá nh những cái chết của các nhân vật trong cổ tích
thần kì (Cô Tấm trong Tấm Cám hay ba vợ chồng trong Ba ông đầu rau,…)
Trang 20Về phơng diện cốt truyện, do yếu tố thần kì xuất hiện ít (hoặc không
xuất hiện) trong cổ tích sinh hoạt cho nên sự xuất hiện của yếu tố này không cóvai trò làm phát triển hoặc làm thay đổi cốt truyện nh trong cổ tích thần kì Yếu
tố thần kì đó ở cổ tích sinh hoạt thờng nằm ở phần kết thúc truyện, và sự kì diệu ở
đây thờng là sự hoá thân của các nhân vật (ví dụ: ngời vợ trong Sự tích đá Vọng
Phu thì biến thành đá Vọng Phu, hay ngời cháu ở Sự tích chim Hít cô thì biến
thành chim Hít cô,…) Xu hớng kết thúc truyện cổ tích sinh hoạt thờng là xu ớng bi kịch, sự biến hoá đó mang tính tất yếu Những xung đột, mâu thuẫn trongtruyện không đợc giải quyết trong địa hạt của cái thần kì, không có sự can thiệpcủa lực lợng thần kì mà hoàn toàn xuất phát từ con ngời, do con ngời giải quyết
h-Nói tóm lại, “Tiêu chí quan trọng và chủ yếu nhất để phân biệt truyện cổtích thần kì với truyện cổ tích sinh hoạt là phơng pháp sáng tác, tức là phơngpháp chiếm lĩnh và phản ánh hiện thực Cả hai đều dùng h cấu, tởng tợng để kháiquát hoá và cụ thể hoá hiện thực xã hội và lí tởng của nhân dân nhng cơ sở vàtính chất của sự h cấu và tởng tợng ấy khác nhau rất xa ở cổ tích sinh hoạt, đó là
sự h cấu và tởng tợng trên cơ sở thực tại của đời sống xã hội, còn ở truyện cổ tíchthần kì, sự h cấu và tởng tợng lại dựa trên hai cơ sở thực tại và phi thực tại (tức làcái có thực hoặc có thể có thực với cái ảo tởng, không có thực và không thể cóthực)”[6,55]
Chơng 2 Những điểm tơng đồng và khác biệt về cốt truyện trong “Truyền kì mạn lục” (Nguyễn Dữ) và Truyện cổ
tích (ngời Việt).
2.1 Khái niệm cốt truyện, các kiểu cốt truyện và chức năng của cốt truyện 2.1.1 Khái niệm cốt truyện.
Trang 21Nh chúng ta đã biết, cốt truyện là một hiện tợng phức tạp Trong thực tếvăn học, cốt truyện ở các tác phẩm hết sức đa dạng, ở đó, có sự kết tinh truyềnthống dân tộc, phản ánh những thành tựu văn học của mỗi thời kì lịch sử và thểhiện phong cách tài năng của nhà văn.
Theo tác giả Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn học thì thuật
ngữ “cốt truyện” đợc sử dụng lần đầu tiên vào thế kỉ XVII bởi các nhà cổ điểnchủ nghĩa (P.Corneille và N.Bisleau) Theo đó, cốt truyện đợc hiểu là “Sự pháttriển hành động, tiến trình các sự việc, các biến cố trong tác phẩm tự sự và kịch,
đôi khi cả trong tác phẩm trữ tình” [1,122] Cách hiểu này tuy “đã tổng kết môhình cốt lõi của truyện và đến nay vẫn còn ý nghĩa” [19.33] Tuy nhiên, hạn chếcủa khái niệm này là còn khá sơ lợc, cha tính đến sự sáng tạo nghệ thuật của tácgiả
Hiện nay, khái niệm cốt truyện đợc nhiều ngời chấp nhận và sử dụng phổ
biến là khái niệm mà nhóm biên soạn cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đa ra “Cốt
truyện là hệ thống sự kiện cụ thể, đợc tổ chức theo yêu cầu t tởng và nghệ thuậtnhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản quan trọng nhất trong hình thức độngcủa tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” [6, 33] Nh vậy, “có thể tìmthấy qua một cốt truyện hai phơng diện gắn bó hữu cơ: một mặt cốt truyện là mộtphơng diện bộc lộ tính cách; mặt khác, cốt truyện còn là phơng tiện để nhà văntái hiện các xung đột xã hội Cốt truyện vừa góp phần bộc lộ có hiệu quả đặc
điểm mỗi tính cách, lại vừa trình bày một hệ thống sự kiện phản ánh chân thựcxung đột xã hội, có sức mạnh lôi cuốn, hấp dẫn ngời đọc” [6,88] Chính vì thế, cóthể khẳng định: cốt truyện vừa có tính chất hình thức lại vừa mang ý nghĩa nộidung của tác phẩm văn học
Mặt khác, cốt truyện “là sản phẩm sáng tạo độc đáo chủ quan của nhà văn”[6.89], cho nên cốt truyện hết sức đa dạng Song mặc dù đa dạng, nhng mọi cốttruyện đều trải qua một tiến trình vận động có hình thành, phát triển và có kếtthúc
Tuy nhiên, không phải bất cứ cốt truyện nào cũng bao hàm đầy đủ cácthành phần (trình bày, khai đoạn, phát triển, đỉnh điểm, kết thúc) Vì vậy chúng
ta không nên máy móc khi phân tích các thành phần cốt truyện “ Vấn đề khôngphải là xác định một cách hình thức mỗi thành phần mà là thâm nhập vào sâu nộidung cụ thể của tác phẩm…Có nh thế việc phân tích các thành phần của cốttruyện mới đạt hiệu quả thiết thực cho nghiên cứu khoa học và cảm thụ nghệthuật” [6, 89]
2.1.2 Các kiểu cốt truyện.
Trang 22Nh trên đã nói, cốt truyện là sản phẩm sáng tạo chủ quan của nhà văn, chonên cốt truyện hết sức phong phú, đa dạng, đợc tạo ra theo nhiều cách khác nhau:
“Có loại cốt truyện trong đó các sự kiện là kết quả h cấu thuần tuý của nhà văn
Có loại cốt truyện sử dụng nhiều nguyên mẫu của đời sống thực, đó là cốt truyệndựa trên các sự kiện lịch sử có thực; hoặc loại cốt truyện dựa trên tiểu sử của bảnthân nhà văn” [1.117] Do đó cũng có nhiều tiêu chí để phân loại cốt truyện Hiệnnay, đa số các nhà nghiên cứu dựa trên phơng diện kết cấu và quy mô nội dung
để phân chia cốt truyện Theo đó ta có hai cách phân loại sau:
2.1.2.1 Dựa vào tuyến hệ thống sự kiện trong tác phẩm, ta chia cốt truyện thành hai loại: cốt truyện đơn tuyến và cốt truyện đa tuyến.
Trong cốt truyện đơn tuyến, hệ thống sự kiện đợc tác giả kể lại gọn gàng
và thờng là đơn giản về số lợng, tập trung thể hiện quá trình phát triển tính cáchcủa một vài nhân vật chính, có khi chỉ là một giai đoạn trong cuộc đời nhân vậtchính Vì vậy, cốt truyện đơn tuyến thờng có dung lợng
nhỏ và vừa
Cốt truyện đa tuyến là cốt truyện trình bày một hệ thống sự kiện phức tạp,nhằm tái hiện nhiều bình diện của đời sống ở một thời kì lịch sử, tái hiện nhữngcon đờng diễn biến phức tạp của nhiều nhân vật, do đó có một dung lợng lớn Hệthống sự kiện trong cốt truyện đa tuyến đợc chia thành nhiều dòng, nhiều tuyếngắn liền với số phận các nhân vật chính trong tác phẩm
2.1.2.2 Căn cứ vào mối quan hệ giữa các sự kiện trong tác phẩm, ta chia cốt truyện thành hai loại: cốt truyện biên niên và cốt truyện đồng tâm.
Cốt truyện biên niên (hay cốt truyện “li tâm”) là cốt truyện mà “trong đócác mối liên hệ thời gian giữa các sự kiện là nét trội” “Tính biên niên của cốttruyện khiến các sự kiện và hành động có thể không thật gắn bó với nhau, và đây
là điều mở ra khả năng cho sự miêu tả thực tại nhiều bình diện, thích hợp choviệc xây dựng các tác phẩm tự sự cỡ lớn” [1.115]
Cốt truyện đồng tâm (hay cốt truyện hớng tâm) là “cốt truyện mà trong đógiữa các sự kiện, các mối liên hệ nhân quả chiếm u thế” “Tính đồng tâm của cốttruyện, sự thống nhất của hành động tạo khả năng kiến trúc trọn vẹn, nhất quáncho hình thức tác phẩm” [1,117]
Trang 23Cốt truyện là bộ phận có tính chất đặc trng và là bộ phận quan trọng hàng
đầu của tác phẩm tự sự, nhất là đối với truyện cổ tích – một loại truyện kểtruyền miệng dân gian “Sự hấp dẫn của cốt truyện đảm bảo cho sự tồn tại củabản thân tác phẩm trong không gian và trong thời gian” [13,58]
Nh vậy, cốt truyện có một chức năng hết sức quan trọng Một mặt cốttruyện là phơng diện bộc lộ nhân vật, mặt khác qua cốt truyện, tác giả tái hiện
các xung đột trong xã hội Cho nên, với việc so sánh cốt truyện trong Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) với truyện cổ tích (ngời Vịêt) ta sẽ thấy rõ hơn đặc điểm
cốt truyện của chúng Và đặc biệt ta sẽ thấy rõ đợc sự ảnh hởng cũng nh nhữngsáng tạo độc đáo của Nguyễn Dữ khi sử dụng “Chất liệu dân gian” – truyện cổ
tích để viết nên Truyền kì mạn lục của mình.
2.2 Những điểm tơng đồng về cốt truyện trong Truyền kì mạn lục (Nguyễn
Dữ) và truyện cổ tích (ngời Việt) Nguyên nhân của sự tơng đồng
2.2.1 Những điểm tơng đồng.
Nh phần giới thiệu chung đã nói, Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) ảnh
h-ởng từ nhiều “nguồn” khác nhau Cho nên, về phơng diện cốt truyện, trừ hai
truyện Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên và Chuyện ngời con gái Nam Xơng đợc coi là phóng tác nguyên bản từ các truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức và Vợ chàng Trơng, những truyện khác nếu có sự tơng đồng về mặt cốt truyện với cổ tích thì
cũng chỉ là sự vay mợn, ảnh hởng một số yếu tố của cốt truyện – truyện cổ tích(nh: trật tự, tình tiết, sự kiện,…) Do đó, ở đề tài này chúng tôi chỉ chọn ra một sốtruyện cổ tích tiêu biểu trong kho tàng truyện cổ tích ngời Việt đợc xem là có ảnh
hởng đến Truyền kì mạn lục để khảo sát, so sánh, tìm ra sự tơng đồng cũng nh
khác biệt về cốt truyện giữa hai loại truyện này
Qua tìm hiểu 20 truyện trong Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) và các truyện cổ tích liên quan tới nó, ta thấy giữa Truyền kì mạn lục và truyện cổ tích
có những điểm tơng đồng sau về mặt cốt truyện:
Truyền kì mạn lục đã “vay mợn” cốt truyện của truyện cổ tích.
Lối kết cấu truyện theo tuyến tính
Sử dụng yếu tố “kì” để phát triển cốt truyện
Xây dựng một số tình huống, chi tiết truyện giống với Truyện cổ tíchthần kì (ngời Việt)
2.2.1.1 Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) vay m“ ợn cốt truyện của Truyện cổ”
tích (ngời Việt).
Đó là trờng hợp Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên (Từ Thức hôn tiên lục) và Chuyện ngời con gái Nam Xơng Đây là hai truyện trong Truyền kì mạn lục đợc
Trang 24coi là phóng tác nguyên bản từ truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức và Vợ chàng
Trơng Sở dĩ nh vậy là vì:
Sự tích động Từ Thức kể rằng: Vào đời nhà Trần ở Châu ái có chàng Từ
Thức, con nhà quan, học giỏi, đỗ cao, đợc vua bổ làm tri huyện ở Tiên Du Vốnngời hào hoa phóng khoáng, chàng thờng sao nhãng việc quan, dành nhiều thờigian để ngao du ngắm cảnh Một lần đi chơi hội mẫu đơn ở chùa, chàng thấy mộtngời con gái vì mê hoa, ngắt lấy một bông mà bị nhà chùa bắt phạt Chàng bèncởi áo của mình gán vào để xin tha cho cô gái Cô gái cảm tạ lòng tốt của chàng
và cho biết cô là ngời ở huyện Tống Sơn
Lại nói trong việc quan, vì bị quan trên quở mắng nên Từ Thức trả áo mũquan về quê và đi tìm cô gái ở hội hoa dạo nọ Một lần, chàng ra chơi cửa biểnThần Phù và lạc đến một hòn đảo, trên đảo có một cái hang lạ Chàng đi vàotrong hang gặp một bà tiên chào đón ân cần, gặp lại cô gái ngày xa Và biết đó làtiên nữ Giáng Hơng Họ kết duyên với nhau
Thời gian trôi đi, Từ Thức tuy sống rất sung sớng, hạnh phúc nhng tronglòng vẫn không nguôi nỗi nhớ quê hơng Chàng nói với vợ điều đó và đợc chấpnhận Trớc khi đi Giáng Hơng đa cho chàng một phong th dặn về rồi hãy mở TừThức về nhà thì mọi vật đã đổi khác Trong làng không ai biết chàng Chàng ngạcnhiên trớc sự thay đổi đó mà không biết rằng một ngày sống trên trời bằng mấymơi năm dới cõi trần Chàng trở lại chỗ cỗ xe đa mình về thì đã mất, giở th vợ
đọc thì th cũng hoá thành chim bay đi Chàng tìm đến động Thần Phù thì cây lá
đã che kín lối vào Chàng đành áo gai, nón lá tháng ngày lang thang, phiêu bạt,không ai biết là đi đâu
Tơng tự nh vậy, Từ Thức lấy vợ tiên cũng có diễn biến câu chuyện hoàn toàn giống với Sự tích động Từ Thức Mở đầu truyện cũng kể về lai lịch của
chàng Từ Thức và cuộc gặp gỡ giữa chàng với ngời đẹp và kết thúc câu chuện ấycũng là “Chàng bèn mặc áo nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi
Hoành Sơn rồi sau không biết đi đâu mất”
ở trờng hợp truyện Vợ chàng Trơng và Chuyện ngời con gái Nam Xơng
cũng có sự tơng đồng về mặt cốt truyện Vợ chàng Trơng kể về việc: “ở huyện
Nam Xơng, tỉnh Hà Nam có ngời con gái đẹp, nết na, lấy chồng họ Trơng, ngờicùng làng Hai vợ chồng rất yêu thơng nhau, nhng phải cái ngời chồng có tínhhay ghen bóng ghen gió
Năm ấy có giặc, triều đình mộ lính Trơng xin đi Khi đó vợ chàng đã cómang Nàng ở nhà tần tảo nuôi con, thay chồng hầu hạ mẹ già Nhng vì tuổi caonên bà mẹ đã qua đời Từ đó nàng một mình nuôi dạy con
Trang 25Ba năm sau, chàng Trơng trở về Vợ chồng gặp nhau mừng mừng tủi tủi,nhng vì lời nói của trẻ thơ mà chàng nghi cho vợ thất tiết, máu ghen nổi lên,chàng nặng lời nhiếc móc vợ Ngời vợ tủi thân, ngồi ôm con khóc và sẩm tốinàng bỏ nhà ra đi rồi gieo mình xuống sông tự tử Đêm hôm ấy, thằng bé conquấy khóc vì nhớ mẹ, trong lúc dỗ dành con chàng đã phát hiện ra mình đã nghioan cho vợ: Thì ra trong những ngày vắng chồng chị vợ thờng chỉ bóng mình trênvách, nói đùa với con là cha nó cho đỡ nhớ Khi biết mình nghi oan cho vợ,chàng Trơng đau khổ chạy đi tìm nhng không tìm đợc nữa…
Nh vậy về cơ bản Chuyện ngời con gái Nam Xơng phóng tác hoàn toàn truyện cổ tích Vợ chàng Trơng Chỉ có điều ở Chuyện ngời con gái Nam Xơng,
Nguyễn Dữ không dừng câu chuyện lại ở chi tiết ngời vợ chết và ngời chồng vôcùng hối hận, đau khổ vì hiểu lầm vợ nhng đã muộn, ,mà ở đó Nguyễn Dữ đã đểcho vợ chồng họ gặp lại nhau khi ngời vợ đã chết… Đây là một sáng tạo độc đáocủa Nguyễn Dữ, nó làm nên sự khác biệt giữa hai truyện này về mặt cốt truyện
Bởi Nguyễn Dữ ( trong Chuyện ngời con gái Nam Xơng) đã sử dụng yếu tố “kì”
để làm trung hoà sắc thái bi kịch Chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề này ở mục sau củachơng này
2.2.1.2 Lối kết cấu truyện theo tuyến tính.
Kết cấu truyện theo tuyến tính là cách tổ chức, sắp xếp các chi tiết sự kiệntheo trục thời gian xuôi chiều, cái gì diễn ra trớc thì kể trớc, cái gì diễn ra sau thì
kể sau Không bao giờ có sự thay đổi trật tự của các sự kiện hành động, chi tiết ởtrong truyện
ở các truyện trong Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) Lối kết cấu chủ yếucủa các truyện là theo trình tự liên tiếp trớc sau của các sự kiện, cốt truyện đợcphát triển theo mạch tình tiết, nhân vật chính dẫn ta đi từ giai đoạn này sang giai
đoạn khác của câu chuyện Điều này rất giống với cốt truyện của truyện cổ tích(ngời Việt)
Ta có thể dẫn ra một ví dụ, ở trong truyện cổ tích Thạch Sanh trình tự của
truyện đợc kể nh sau:
Thạch Sanh mồ côi kết nghĩa anh em với Lí Thông chém trăn tinh
bị đuổi ra gốc đa Lí Thông cớp công Thạch Sanh và đợc vua trọng thởng công chúa (con vua) bị đại bàng bắt và Thạch Sanh bắn đại bàng Thạch Sanhvào hang cứu công chúa cứu con vua Thuỷ Tề chàng xuống thuỷ phủ bị
vu khống và bị giam vào ngục đợc giải oan mẹ con Lí Thông bị trừng phạtthích đáng Thạch Sanh đánh lui quân ch hầu 18 nớc Thạch Sanh cới côngchúa và lên làm vua đời đời hạnh phúc
Trang 26Cũng theo lối kết cấu ấy, Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên diễn biến
nh sau:
Ngô Tử Văn là ngời chính trực, khẳng khái đốt đền (có tên tớng giặcbại trận tác yêu tác quái) bị ốm thấy ngời xng là c sĩ đến đòi trả đền và doạdẫm chàng không sợ chiều có một ngừơi khác lại đến hai ngời nóichuyện Tử Văn biết đó là Thổ Thần bị yêu quái cớp đền Tử Văn đi kiện vớiDiêm Vơng Tử Văn thắng kiện tớng giặc bị trừng phạt Thổ Thần lấy lại
đền và trả ơn Tử Văn bằng việc tiến cử chàng giữ chức Phán sự đền Tản Viên
Mặt khác đi sâu vào tìm hiểu cấu trúc theo đờng thẳng (tuyến tính) trongcách xây dựng cốt truyện ta còn thấy cả ở các truyện cổ tích với các truyện trong
Truyền kì mạn lục còn có nét tơng đồng khi đa ra các sự kiện ở đây các sự kiện
đợc tổ chức thành một dây chuyền, mà ở đó sự kiện trớc là bớc chuẩn bị, tạo tiền
đề cho sự kiện sau xuất hiện Thí dụ: Thạch Sanh (trong truyện cổ tích Thạch Sanh) sau khi giết chết trăn tinh thì bèn đem đốt xác nó, từ trong đống tro của
xác trăn tinh hiện ra một bộ cung tên vàng Sự xuất hiện của bộ cung tên này cótác dụng chuẩn bị cho Thạch Sanh vũ khí cần thiết bởi vì tiếp theo đó ThạchSanh sẽ bắn đại bàng, mà muốn làm đợc điều này cần phải có cung tên Tơng tự
nh ở Thạch Sanh, trong Chuyện cây gạo có chi tiết Trình Trung Ngộ nhìn thấy
“ngời con gái cùng ả thị nữ mang theo một cây hồ cầm” là dấu hiệu để khi saunày Trung Ngộ tìm đến chỗ ở của Nhị Khanh và thấy “cạnh cửa có ngời con gáinặn bằng đất tay ôm cây hồ cầm đứng hầu” thì chàng mới nhận ra họ (Nhị Khanh
và ngời hầu gái) đều là ma chứ không phải là ngời
Một nét tơng đồng giữa hai loại truyện này trong khi phát triển cốt truyện
theo trật tự tuyến tính đó là: các truyện trong Truyền kì mạn lục cũng nh trong
truyện cổ tích (ngời Việt) đều có bố cục ba phần, có mở đầu, có diễn biến và kếtthúc rõ ràng Phần mở đầu bao giờ cũng giới thiệu về nhân vật, thời gian, khônggian; phần diễn biến (thân truyện) là nơi các sự kiện, biến cố đợc triển khai vàphần kết thúc bao giờ cũng theo hai xu hớng: Có hậu và không có hậu
Nói tóm lại: Qua việc phân tích ở trên ta thấy, sự phát triển cốt truyện của
các truyện trong Truyền kì mạn lục khá giống với truyện cổ tích Nó đi theo một
đờng thẳng theo trình tự thời gian Cho nên, có thể nói rằng, Nguyễn Dữ đã ảnhhởng lối kết cấu truyện theo tuyến tính này từ truyện cổ tích Song bên cạnh sự
ảnh hởng ấy, Nguyễn Dữ vẫn có những sáng tạo riêng của mình…
2.2.1.3 Sử dụng yếu tố kì để xây dựng và phát triển cốt truyện.“ ”
Trang 27Yếu tố “kì” theo cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) đợc
hiểu là: “Lạ đến mức làm cho ngời ta phải ngạc nhiên” [17.518] Cũng trongcuốn từ điển này, các soạn giả đã đa ra hàng loạt những khái niệm để làm rõ hơnyếu tố “kì” nh: “kì ảo” (kì lạ, tựa nh không có thật mà chỉ có trong tởng tợng),
“kì diệu” (có cái gì vừa rất lạ lùng nh không cắt nghĩa nổi, vừa làm cho ngời taphải ca ngợi), “kì quái” (đặc biệt lạ lùng cha bao giờ thấy)” [17.519]
Qua đó có thể khái quát rằng, yếu tố “kì” là những cái khác với bình ờng, không hoàn toàn có thật và ít có khả năng tồn tại trong thực tế khách quan
th-Nó đợc sử dụng trong văn chơng nh một phơng tiện nghệ thuật để đa độc giả đếnvới những thế giới thần tiên, huyền ảo, đầy lãng mạn,… Yếu tố “kì” ấy có vai trò
đặc biệt quan trọng trong việc phát triển cốt truyện của truyện cổ tích nói chung
và truyện cổ tích thần kì nói riêng cũng nh văn xuôi tự sự trung đại nói chung và
Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) nói riêng Mặt khác giữa Truyền kì mạn lục
(Nguyễn Dữ) và Truyện cổ tích (ngời Việt) có sự tơng đồng khá rõ nét trong việc
sử dụng yếu tố “kì” ở đây yếu tố “kì” vừa góp phần giải quyết mâu thuẫn, xung
đột trong truyện tạo nên cốt truyện kết thúc có hậu lại vừa có tác dụng trung hoàsắc thái bi kịch ở loại cốt truyện kết thúc không có hậu
2.2.1.3.1 Sử dụng yếu tố kì để giải quyết mâu thuẫn và góp phần tạo nên“ ”
cốt truyện kết thúc có hậu.
Thông thờng, ở những loại truyện này, yếu tố “kì” xuất hiện dới dạngnhững lực lợng thần kì Những lực lợng ấy xuất hiện làm cho mọi mâu thuẫn, bếtắc đợc giải quyết triệt để và chuyển tình thế của nhân vật chính diện từ bại thànhthắng, nó quyết định sự phát triển của cốt truyện, tạo nên cốt truyện kết thúc cóhậu hay cốt truyện “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo”
Tiêu biểu cho loại cốt truyện này trong Truyền kì mạn lục là: Chuyện đối
tụng ở Long cung hay Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên và ở Truyện cổ tích
(ngời Vịêt) là :Tấm Cám, Thạch Sanh,…
ở Chuyện đối tụng ở Long cung kể về việc Trịnh thái thú có vợ là DơngThị bị thần Thuồng Luồng (thuỷ quái ở ngôi đền bên sông) bắt về làm vợ Đanglúc không biết làm thế nào để cứu đợc vợ mình thì họ Trịnh đợc Bạch Long Hầu(là vị thần làm ma trên thiên đình) đa Trịnh thái thú xuống Long Cung tha kiện
Đợc sự giúp đỡ của cô gái áo xanh dới Long Cung, Trịnh tiến hành kiện thầnThuồng Luồng Tên thuỷ quái này lúc đầu một mực chối tội, nhng sau hắn phảitrực tiếp đối chứng với Dơng Thị và bị vạch mặt Khi rõ sự thực trắng đen, thầnThuồng Luồng bị Long Vơng bắt giam vào ngục tối Vợ chồng họ Trịnh đợc
đoàn tụ và trở về nhà