Tiếng Nùng có rất nhiều phương ngữ tồn tại với những tên gọi khác nhau và chắc chắn chứa ựựng những ựặc ựiểm riêng, nhưng cho ựến nay hầu như chưa có một công trình nào phân tắch ựược mộ
Trang 1ðẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
-**** -
HỨA NGỌC TÂN
SO SÁNH NGỮ ÂM CỦA MỘT SỐ PHƯƠNG NGỮ NÙNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
Hà Nội – 2008 ðẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
-**** -
HỨA NGỌC TÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS VƯƠNG TOÀN
Hà Nội - 2008
Trang 3Môc lôc Môc lôc
LỜI CAM ðOAN
MỤC LỤC
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
Chương 1: Sơ lược về dân tộc Nùng ở Việt Nam và lịch sử nghiên
cứu ngữ âm tiếng Nùng
10
Trang 5MỞ đẦU
1 Mục ựắch nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của ựề tài
Cho ựến nay, ựã có nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Nùng dưới các góc
ựộ khác nhau như: dân tộc học, văn hoá, văn học dân gian, lịch sử tộc người, ngôn ngữ Tiếng Nùng có rất nhiều phương ngữ tồn tại với những tên gọi khác nhau và chắc chắn chứa ựựng những ựặc ựiểm riêng, nhưng cho ựến nay hầu như chưa có một công trình nào phân tắch ựược một cách thấu ựáo những sự khác biệt của các phương ngữ Nùng một cách toàn diện, nhất là về mặt ngôn ngữ học Hơn nữa, những công trình nghiên cứu thường gắn việc nghiên cứu tiếng Nùng và các phương ngữ Nùng trong mối quan
hệ với tiếng Tày Do quan niệm giữa hai dân tộc có những tương ựồng về ngôn ngữ và văn hoá nên ựã không làm nổi bật ựược những ựặc trưng riêng vốn có của tiếng Nùng
Hai dân tộc Tày, Nùng có nhiều ựiểm chung về lịch sử tộc người, ựặc trưng văn hoá và ựặc biệt là hai dân tộc này, xét về mặt ngôn ngữ, cơ bản là có thể hiểu và giao tiếp với nhau ựược Tuy nhiên tương ựồng và ựồng nhất về ngôn ngữ và văn hoá là hai chuyện hoàn toàn khác nhau Việc tìm ra những dị biệt về ngôn ngữ và văn hoá là rất quan trọng, nhất là ựối với việc xác ựịnh thành phần các dân tộc thiểu số hiện nay ở Việt Nam Những sự khác biệt của các phương ngữ Nùng là do ựâu, sự khác biệt ựó ựến mức ựộ nào và liệu những khác biệt ựó có nằm trong giới hạn phương ngữ của một ngôn ngữ như các phương ngữ trong tiếng Việt hay ựã mang tắnh ngôn ngữ đó là vấn
ựề cần những nghiên cứu toàn diện ựể ựưa ra kết luận chắnh xác, khách quan, khoa học
Ở Việt Nam, tuy ựược coi là một dân tộc thiểu số thống nhất nhưng người Nùng
có sự khác biệt ựịa phương khá rõ nét Sự khác biệt ựó thể hiện ở chỗ ở mỗi vùng khác nhau họ có những tên gọi ựịa phương khác nhau Những tên gọi ựịa phương ấy ắt nhiều phản ánh những nét dị biệt về ngôn ngữ, ựến mức giữa các nhóm Nùng có sự khác nhau về mặt ngôn ngữ Tắnh không ựồng nhất trong ngôn ngữ là một thực tế rất dễ nhận thấy ở hầu hết các phương ngữ Nùng Trong ựó, một vài nhóm có những ựặc
Trang 6trưng riêng về mặt ngôn ngữ làm cho chúng có những khác biệt với các nhóm khác, như Nùng An, Nùng Dín, Nùng Giang Nhưng mức ñộ khác biệt ấy ñược thể hiện như thế nào thì cho ñến nay vẫn chưa có một nghiên cứu tỉ mỉ
Các công trình ñề cập ñến tiếng Nùng và các phương ngữ Nùng dưới góc ñộ ngôn ngữ cho ñến nay chưa nhiều Trong bài Some cultural Distinctions between the Tay and the Nung in Lang Son of Vietnam, Vương Toàn cũng chỉ dừng ở miêu tả một
số sự khác biệt giữa hai dân tộc này mà chưa phân tích sâu [47; tr.77-86] Trong một công trình phục vụ cho việc xây dựng phương án chữ viết Tày – Nùng, GS ðoàn Thiện Thuật có ñưa ra nhận xét là một số nhóm Nùng như Nùng An, Nùng Dín có những ñặc ñiểm về mặt ngôn ngữ khiến các nhóm Nùng khác không thể hiểu ñược [46;19] Cũng
ñi theo hướng nhận ñịnh trên trong luận án của mình Lê Văn Trường [34] ñã lấy phương ngữ Nùng Dín làm ñối tượng nghiên cứu trên cơ sở ñó xác ñịnh mối quan hệ với các phương ngữ Nùng và Tày ở Việt Nam Nhìn chung các công trình nghiên cứu
ñã tiếp cận dưới các góc ñộ nhằm giải quyết những vấn ñề khác nhau của tiếng Nùng Song các công trình nghiên cứu chưa nhiều và cũng chưa ñi sâu vào làm rõ những khác biệt của các phương ngữ Nùng một cách tỉ mỉ, trong mối tương quan với các ngành Nùng
Trong tình hình tồn tại nhiều phương ngữ cho thấy sự khác nhau về không gian (nơi) và thời ñiểm di cư ñến thì việc muốn hiểu rõ và sâu sắc hơn về tiếng Nùng thì sự khảo sát càng nhiều về các phương ngữ Nùng là ñiều rất cần thiết Nghiên cứu kĩ lưỡng từng phương ngữ Nùng dưới góc ñộ ngôn ngữ sẽ góp phần làm sáng tỏ những ñặc ñiểm riêng của tiếng Nùng (trong sự so sánh với tiếng Tày) Hiểu rõ về tiếng Nùng cũng sẽ
là cơ sở ñể hiểu rõ hơn khối Choang ở Nam Trung Quốc, mặt khác sẽ cho ta hiểu ñúng bản thân tiếng Tày, ñược coi là ngôn ngữ bản ñịa của khu vực nhưng ñã biến ñổi khá nhiều [6;197]
Xuất phát từ tình hình như vậy, chúng tôi ñã lựa chọn hướng ñề tài nhằm góp phần làm rõ những vấn ñề còn bỏ ngỏ ðồng thời, những kết quả nghiên cứu của luận
Trang 7văn có thể góp phần thiết thực vào việc giảng dạy song ngữ Việt – Nùng ở ñịa bàn cư trú của người Nùng
2 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
Dân tộc Nùng có nhiều nhóm ñịa phương khác nhau tuỳ theo ñặc ñiểm về trang phục hay ñịa danh cư trú của tổ tiên họ trước khi di cư ñến Việt Nam mà có các phụ danh khác nhau như Nùng An, Nùng Dín, Nùng Phàn Slình, Nùng Inh, Nùng Cháo, Do di cư từ nhiều vùng khác nhau của Trung Quốc, những nhóm Nùng này mang theo những ñặc ñiểm của các phương ngữ nơi họ sinh sống Sự khác biệt của các PN Nùng nằm ở các khía cạnh và mức ñộ cũng khác nhau Khi di cư ñến Việt Nam họ bị những ñặc ñiểm về di cư chi phối như: số lượng di cư ồ ạt hoặc lẻ tẻ, thời ñiểm khác nhau Hơn nữa, khi sinh sống ở Việt Nam họ lại sống ở những vùng khá xa nhau, ít tiếp xúc với nhau, do vậy, tiếng của các ngành Nùng ở Việt Nam ñã vượt ra khỏi phạm vi biến thể ñịa lí Có ý kiến cho rằng vì những khác biệt này mà nên coi mỗi biến thể như vậy ñược coi như là tiếng của một ngành như: tiếng ngành Nùng Cháo, tiếng ngành Nùng Fàn Slình,
Cho ñến nay chưa có một nghiên cứu nào thoã mãn ñược về cả mặt ngữ âm lẫn
từ vựng Tên gọi hiện nay của các phương/ thổ ngữ Nùng thường là do dân ñịa phương (tự gọi và ñược gọi) sử dụng Có thể thấy rằng việc tìm ra ñược sự tương ứng ñầy ñủ và hoàn hảo trong so sánh giữa các phương ngữ Nùng trên phương diện ngôn ngữ là rất khó Do vậy, khi nhận ñề tài liên quan ñến so sánh ngữ âm các PN Nùng chúng tôi ñã suy nghĩ rất nhiều về hướng và khả năng thực hiện ñề tài
Chúng tôi lựa chọn tiếng (phương ngữ) Nùng An làm ñối tượng nghiên cứu chính vì theo các kết quả nghiên cứu bước ñầu thì tiếng Nùng An có tính ñặc thù phương ngữ rất cao so với các phương ngữ Nùng khác [34;43], [46;19], [47;80] Hơn nữa, chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về ngữ âm tiếng Nùng An Do vậy, cùng với việc lựa chọn theo hướng so sánh các phương ngữ Nùng, chúng tôi xác ñịnh ñối tượng cụ thể là mô tả một hệ thống ngữ âm của một phương ngữ Nùng cụ thể, rồi
Trang 8trên cơ sở ñó so sánh ngữ âm của Nùng An với các PN Nùng khác trên bình diện ñồng ñại
Chúng tôi ñịnh hướng tiếp cận ñề tài như vậy là vì bản thân không phải là người bản ngữ nên gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận, do vậy, chỉ có nắm bắt và hiểu một cách sâu sắc một phương ngữ làm nền tảng thì mới có thể hiểu và nghiên cứu ñược các phương ngữ Nùng khác một cách toàn diện
Chính vì những ñặc ñiểm rất riêng về sự tồn tại nhiều phương ngữ khác nhau trong một dân tộc thống nhất như tiếng Nùng, cho nên lựa chọn nghiên cứu tiếng Nùng
từ cách tiếp cận ngữ âm học, theo chúng tôi, có vai trò quan trọng, là việc làm có tính
cơ bản cho phép hiểu sâu về tiếng Nùng hơn là cách tiếp như cận từ vựng học hay ngữ pháp học Chúng tôi hi vọng, những khảo sát bước ñầu này của ñề tài sẽ góp thêm tư liệu vào việc xác ñịnh ñược một số vấn ñề còn bỏ ngỏ trong nghiên cứu tiếng Nùng
Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn tiếp cận và mô tả hệ thống ngữ âm trên bình diện ñồng ñại của một phương ngữ Nùng là Nùng An Như vậy, tiếng Nùng An trong luận văn ñược hiểu là phương ngữ Nùng An (cư trú chủ yếu ở huyện Quảng Uyên và Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng) Do hạn chế về mặt thời gian, những phương ngữ Nùng ñược lựa chọn so sánh với Nùng An chỉ mới dừng lại ở các phương ngữ: Nùng Inh (ở huyện Hữu Lũng và huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn), Nùng Cháo (ở Hữu Lũng
và Tràng ðịnh, tỉnh Lạng Sơn và kết quả nghiên cứu của Mông Ký Slay), Nùng Fàn Slình (ở Hữu Lũng, Chi Lăng và kết quả nghiên cứu của ðoàn Thiện Thuật)
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Giải thích phương pháp
3.1.1 Phương pháp chung
ðề tài lựa chọn mô tả hệ thống ngữ âm PN Nùng An và so sánh với một số phương ngữ Nùng khác trên bình diện ñồng ñại ðề tài ñược thực hiện chủ yếu theo phương pháp quy nạp, trên cơ sở thu thập, phân tích, xử lí, so sánh ñối chiếu tư liệu ñể tìm ra sự tương ñồng và khác biệt của ngữ âm các phương ngữ Nùng Từ ñó mô tả và
Trang 9ñưa ra những kết luận, ñánh giá chung, dự báo khuynh hướng biến ñổi về vấn ñề nghiên cứu
3.1.2 Phương pháp, thao tác cụ thể
ðề tài ñược thực hiện trên cơ sở một số phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp ñiều tra ñiền dã
ðối tượng khảo cứu là tiếng nói của một dân tộc thiểu số nên ñiều tra ñiền dã là công việc ñầu tiên phải làm Nguồn tư liệu ñược chúng tôi tiến hành thu thập thông qua các chuyến ñiền dã tại ñịa bàn từ tháng 12 năm 2006 ñến tháng 3 năm 2008 Chúng tôi lựa chọn một số ñịa bàn tiêu biểu tập trung cao các nhóm Nùng cư trú, như Nùng An là
ở xã Phúc Sen, Quảng Uyên (Cao Bằng); Nùng Inh, Nùng Cháo ở 2 huyện Hữu Lũng
và Bình Gia (Lạng Sơn); Nùng Fàn Slình ở ðồng ðăng (Cao Lộc) và Chi Lăng (Lạng Sơn)
Bảng từ dùng ñể nghiên cứu với khoảng gần 2000 mục từ cơ bản ñể mô tả hệ thống ngữ âm ngôn ngữ dân tộc thiểu số (do GS Trần Trí Dõi và GS M.Ferlus biên soạn), và một bảng từ gần 1000 mục từ về các hiện tượng tự nhiên, từ chỉ tính chất trạng thái, ñộng từ, từ thân tộc, từ xưng hô dùng trong sinh hoạt hàng ngày Chúng tôi ñến những ñịa bàn này và sử dụng phương pháp phỏng vấn, quan sát trực tiếp bằng thính giác, ghi âm dưới dạng băng từ ñể có thể kiểm tra cho kết quả có ñộ tin cậy cao
và ghi chép lại dưới dạng phiên âm quốc tế (IPA) các từ tương ñương trong tiếng Nùng
Sau khi ghi lại các từ dưới dạng phiên âm, chúng tôi tiến hành thao tác kiểm tra bằng cách nhìn vào bảng phiên âm, ñọc lại cho chính người bản ngữ nghe, sửa lại những từ ghi âm sai
- Phương pháp miêu tả ngữ âm ñồng ñại
ðể thấy ñược bức tranh ñồng ñại của các phương ngữ Nùng chúng tôi vận dụng phương pháp miêu tả ngữ âm ñồng ñại ñể miêu tả và xác lập hệ thống ngữ âm và danh sách âm vị học của phương ngữ Nùng An
Trang 10Chúng tôi sử dụng thao tác phân tích âm vị học theo lối truyền thống ñể phân tách các ñơn vị ngữ âm tiếng Nùng An Việc sử dụng phương pháp phân xuất âm vị bằng bối cảnh ñồng nhất là cách làm giúp chúng tôi ñạt ñược kết quả
- Phương pháp so sánh ñồng ñại
Phương pháp này ñược sử dụng ñể so sánh hệ thống phụ âm ñầu, nguyên âm,
âm cuối tiếng Nùng An và các phương ngữ Nùng
Sau khi thu thập tư liệu dưới dạng ngữ ñoạn, chúng tôi sử dụng thao tác phân tích, so sánh, ñối chiếu, tổng hợp nhằm tìm ra hệ thống âm vị của phương ngữ ñó và trên cơ sở ñó có những nhận xét, so sánh các phương ngữ là ñối tượng ñã ñược lựa chọn
4 Một vài ñặc ñiểm về ñịa bàn khảo sát chính
4.1 Xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
Xã Phúc Sen nằm ở phía Tây của huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, bao bọc xung quanh là những dãy núi ñá Vị trí của xã nằm dọc theo quốc lộ số 3, cách thị xã Cao Bằng 37 km, ngược lên phía Bắc cách thị trấn Quảng Uyên 4 km Từ ñây có thể ñi ñến các nơi trong huyện và trong tỉnh Từ xã Phúc Sen có thể ñến khu du lịch thác Bản Giốc - ñộng Ngườm Ngao (huyện Trùng Khánh), ñi cửa khẩu Tà Lùng Tổng diện tích ñất tự nhiên của xã là 1280 ha, trong ñó diện tích ñất canh tác là 217ha (chiếm 16,9%) Như vậy, diện tích tự nhiên dành cho hoạt ñộng sản xuất nông nghiệp là rất thấp
Tính ñến ngày 31/12/2007, dân số toàn xã là 2062 người, với 413 hộ gia ñình,
số người trong ñộ tuổi lao ñộng chiếm 37% Phúc Sen là xã có duy nhất một dân tộc Nùng (Nùng An) cư trú phân tán trong mười bản Do tính cục bộ về cư trú nên tình trạng tiếng Nùng ñược sử dụng tương ñối phổ biến ở nhiều môi trường khác nhau (gia ñình, làng bản, chợ, trường học, cơ quan hành chính xã - huyện); trong khi ñó tiếng Việt chỉ ñược sử dụng một cách hạn chế ở một số môi trường như trong trường học, cơ quan hành chính nhưng song song với tiếng Nùng
Trang 11Về tình hình kinh tế, hoạt ựộng sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, sản xuất nhỏ
lẻ, không tập trung do ựịa bàn bị bao bọc bởi núi ựá không thuận tiện cho việc canh tác tập trung Bình quân lương thực tắnh theo ựầu người là 500 kg/năm Ngoài hoạt ựộng sản xuất nông nghiệp một năm chỉ có một vụ lúa người dân còn trồng hoa màu như ngô, khoai, sắn và một số loại rau như: rau cải, củ cải, bắp cải, rau cần và phát triển chăn nuôi như: lợn, gà, ngựa, trâu , bòẦ Xã còn là ựơn vị trồng giống ngô lai có hiệu quả và cho năng suất cao, trình ựộ thâm canh của dân trong xã có nhiều tiến bộ Nhưng nhìn chung tình hình sản xuất nông nghiệp vẫn là tự cung tự cấp nên ựời sống người dân còn nhiều khó khăn, xã vẫn còn tới 120 hộ nghèo (29%) trên 413 hộ
Bên cạnh hoạt ựộng sản xuất nông nghiệp, xã còn phát triển nghề phụ ựể tăng thêm thu nhập như ựan lát, dệt, trồng thảo quả, trong ựó phát triển nhất là nghề rèn Hầu hết các gia ựình ựều làm nghề rèn và do nam giới ựảm nhận, còn các công việc gia ựình, ựồng áng do nữ giới ựảm nhiệm đồng bào Nùng An nổi tiếng trong và ngoài nước với nghề rèn; nhờ hệ thống giao thông thuận tiện, những sản phẩm của ựồng bào ngoài phục vụ nhu cầu của người dân còn xuất ựi khắp các ựịa phương trong huyện, tỉnh và khắp các tỉnh miền đông Bắc, một số tỉnh miền nam Trung Quốc
Về xã hội, hệ thống trường học của xã có 01 trường Mẫu giáo, 01 trường cấp I,
01 trường cấp II Công tác văn hoá, y tế, dân số ựã ựược quan tâm ựầu tư với 01 trạm y
tế, 01 nhà sinh hoạt cộng ựồng, 01 bưu ựiện văn hoá xã, 01 sân vận ựộng phục vụ các hoạt ựộng của người dân Hệ thống ựiện lưới quốc gia ựã phủ khắp 10/10 xã, toàn xã có
193 hộ ựạt gia ựình văn hoá, 03 làng văn hoá Năm 2001 xã vinh dự ựược Nhà nước phong tặng Danh hiệu Anh hùng lao ựộng đây là vinh dự nhưng cũng là trách nhiệm ựối với ựịa bàn miền núi còn nhiều khó khăn như Phúc Sen
4.2 Xã Quyết Thắng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn
Là một trong những xã khó khăn nhất của huyện Hữu Lũng Cho ựến nay xã vẫn chưa có ựiện lưới, hệ thống giao thông còn kém phát triển, ựường nối từ thị trấn Hữu
Trang 12Lũng ñến xã hiện vẫn là con ñường ñất ñỏ bụi mù, khó ñi lại, mùa mưa xã như là một
ốc ñảo cách biệt với bên ngoài Bản Sa nơi chúng tôi khảo sát nằm hoàn toàn ngăn cách với bên ngoài bằng con suối tự nhiên, có một cầu treo bắc qua Cách duy nhất vào bản
là ñi bộ, xe máy chỉ ñi ñược vào mùa khô vì ñường vào bản nhỏ, gồ ghề men theo chân ruộng Nhà ñược xây dựng dựa theo triền núi ñá, phía trước nhà là ñồng ruộng, bao bọc xung quanh là dãy núi ñá Diện tích ñất canh tác tự nhiên thấp, ñặc biệt là tuy là một xã miền núi, vùng sâu nhưng chỉ cao 25m so với mực nước biển
Hệ thống giao thông thuỷ lợi còn kém, hệ thống mương nước tuy ñã ñược xây dựng nhưng một số ñiểm vẫn dùng hệ thống mương dẫn nước cổ truyền Một năm chỉ làm một vụ lúa, một vụ khoai, ngô Không canh tác thêm ñược vì thời tiết rất khắc nghiệt Toàn xã có một trường cấp I, 01 trường cấp II nhưng hiện tượng học sinh bỏ học là phổ biến
Có thể nói, ñây là xã khó khăn rất khó khăn trong việc phát triển kinh tế Sinh hoạt văn hoá còn rất nghèo nàn, thấp kém, nhiều hủ tục lạc hậu vẫn còn ñeo ñẳng Nhưng vì vậy mà vẫn giữ ñược những ñặc ñiểm về mặt ngôn ngữ và văn hoá
4.3 Xã ðồng Tân, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn
Xã ðồng Tân có vị trí nằm trên giao lộ của trục ñường quốc lộ 1A, cách thị trấn Hữu Lũng 5 km về hướng ñông nam, dân cư trên ñịa bàn ña số là người dân tộc, trong
ñó dân tộc Nùng chiếm ña số (65%), với các nhóm Nùng Inh, Nùng Cháo, Nùng Fàn Slình Hiện nay, ñồng bào Nùng ở ñây không còn giữ ñược nét văn hóa truyền thống xưa nữa Nhà cửa, trang phục, sinh hoạt hàng ngày ñều theo người Kinh, các hoạt ñộng văn hóa như hát sli, lễ hội như lồng tồng ở ñây cũng không còn nữa Tiếng mẹ ñẻ không còn ñược sử dụng phổ biến trong môi trường giao tiếp truyền thống như gia ñình, làng bản nữa (chỉ ñược các các cụ già và lớp người trung niên sử dụng)
Hệ thống giáo dục ñã ñược hoàn thiện với hệ thống trường học khang trang, ñược ñầu tư từ bậc mẫu giáo cho ñến trung học cơ sở Tuy có nhiều dân tộc cùng sinh
Trang 13sống nhưng trong các môi trường giao tiếp tiếng Việt ñã ñảm nhiệm tốt chức năng của mình
Do có ñược những thuận lợi về mạng lưới giao thông, hệ thống kênh mương thuỷ lợi ñược Nhà nước quan tâm ñầu tư, người dân trong xã lại có một số nghề phụ như làm ngói, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nên ñời sống của người dân trong xã ñã tương ñối ổn ñịnh
Chương 2: Bước ñầu mô tả hệ thống ngữ âm tiếng Nùng An
Chương 3: So sánh ngữ âm Nùng An với một số phương ngữ Nùng
Trang 14Chương 1:
SƠ LƯỢC VỀ DÂN TỘC NÙNG Ở VIỆT NAM VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGỮ ÂM TIẾNG NÙNG
1.1 Sơ lược về dân tộc Nùng ở Việt Nam
1.1.1 Dân số và ựịa bàn cư trú
Theo ỘTổng ựiều tra dân số năm 1989Ợ, dân tộc Nùng có 705.709 người 10 năm sau, theo ỘTổng ựiều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999Ợ thì dân tộc Nùng có 856.412 người, và ựến năm 2000 thì dân số tăng lên 900.000 người1, là dân tộc có dân
số ựông hàng thứ 6 trên 53 dân tộc thiểu số sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam
Ở Việt Nam, dân tộc Nùng cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi nằm giữa vùng đông Bắc và Tây Bắc Có thể nói người Nùng cư trú trên một vùng rộng lớn phắa Bắc, kéo dài từ Lào Cai ựến Quảng Ninh, xen kẽ với dân tộc Tày và các dân tộc khác Hai tỉnh có số người Nùng cư trú ựông nhất là Lạng Sơn (302.415 người) và Cao Bằng (161.134 người) Ngoài ra người Nùng còn cư trú ở Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lào Cai, Bắc Giang, Yên Bái Vài chục năm trở lại ựây, một
bộ phận người Nùng di cư ựến vùng kinh tế mới, nên ở một số tỉnh miền Nam, Tây Nguyên ựã có người Nùng cư trú như ở đắc Lắc, Lâm đồng, đồng Nai [6;57], [26;11] Ngoài lãnh thổ Việt Nam, dân tộc Nùng còn cư trú ở các tỉnh Quảng đông, Quảng Tây (Trung Quốc)
1.1.2 Nguồn gốc lịch sử tộc người
Cho ựến nay, vẫn chưa có một nhận ựịnh thống nhất về lịch sử tộc người và những ựặc trưng văn hoá của người Nùng ở Việt Nam Các nhà nghiên cứu mới chỉ thống nhất ở nhận ựịnh: Nùng là tộc danh của dân tộc Nùng, một trong những dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, ngữ hệ Thái - Kadai
1 Theo Sổ tay công tác dân tộc và miền núi NXB Hà Nội, năm 2000, 238 trang
Trang 15Tư liệu Hán văn của Việt Nam ghi chép về người Nùng sớm nhất có lẽ là trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý đôn (thế kỷ XVIII) Qua những ghi chép trong tác phẩm này chúng ta biết ựược người Nùng thuộc 12 thổ châu thuộc Trung Quốc di cư ựến Việt Nam [9; tr.334]
Năm 1950, các tác giả Bùi đình [8; tr.43-46], Nguyễn Trắc Dĩ [5] ựưa ra nhận ựịnh: người Nùng vốn thuộc dòng Thái giống Bách Việt, có gốc từ vùng Quảng Tây (Trung Quốc) vào khoảng thế kỉ XVI di cư sang một số vùng của Việt Nam như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Hải Ninh - Móng Cái Những nghiên cứu về sau hầu hết ựều thống nhất với nhận ựịnh là người Nùng từ Trung Quốc di cư ựến Việt Nam, chỉ khác nhau ở thời gian di cư Có tác giả cho rằng người Nùng di cư vào Việt Nam khoảng giữa thế kỉ XIX, gắn với phong trào Thái bình thiên quốc [21;21]; hoặc cho rằng họ ựến Việt Nam ựược khoảng 200 - 300 năm [35;115]
Kết quả nghiên cứu của các nhà sử học, khảo cổ học, dân tộc học ựã chỉ ra rằng khoảng từ thế kỷ VII ựến thế kỷ XI Ờ XII, vào thời đường - Tống, khu vực cư trú của
bộ phận người Man Ờ Lão sinh sống ở vùng biên giới đông Bắc nước ta và vùng Lưỡng Quảng (Trung Quốc) ựã xuất hiện một loạt bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc có thế lực lớn mạnh, họ liên kết lại lại với nhau một mặt là bảo vệ nhau khi có tranh chấp, va chạm với các bộ lạc, liên minh khác, mặt khác là ựể chống lại sự áp bức của các vương triều đường - Tống Mỗi bộ lạc như vậy do một dòng họ có uy thế lớn cầm ựầu Dòng
họ Nùng chiếm cứ các châu An Bình, Vũ Lặc, Tư Lãng, Quảng Uyên tức là một dải ựất rộng lớn biên giới phắa ựông Cao Bằng và Quảng Tây; cùng với họ Hoàng, Chu ở phắa Tây Hữu Giang, chủ yếu ở các châu An đức, Quy Lạc, Lê Thành, điền Châu (tức Tây
và Tây Nam Quảng Tây, đông Nam tỉnh Vân Nam) Ba họ Nùng, Chu, Hoàng cũng sống xen kẽ với dòng họ Ninh chiếm cứ ở mé cực đông vùng Lưỡng Quảng và Lạng Sơn [27;39] Các nhà nghiên cứu Trung Quốc khi ựề cập ựến nguồn gốc dân tộc Nùng cho rằng: Liêu tộc ựời đường ựã chia ra nhiều nhóm nhỏ vào ựời Tống thành các tên: đồng, Nùng, Ngật Lão đến ựời Minh Ờ Nguyên Ờ Thanh thì toàn bộ cư dân ở Quảng Tây gọi là đồng; người ở vùng Quý Châu phần nhiều là Ngật Lão; Ầ.[36]
Trang 16Như vậy, tộc danh Nùng lúc ñầu bắt nguồn từ tên dòng họ ñông người, có thế
lực với ñịa vực cư trú chủ yếu ở nam Trung Quốc, sau ñó họ thiên di dần về phía ñông,
phía nam và phía Tây Lịch sử còn ghi nhận nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại sự áp bức
của các triều ñại phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, tiêu biểu nhất là hai cuộc khởi
nghĩa của Nùng Dân Phú và Nùng Trí Cao Sau thất bại của cuộc nổi dậy do Nùng Trí
Cao ñứng ñầu, từ thế kỷ XIII họ mất quyền tự trị về chính trị và phụ thuộc vào phong
kiến Trung Quốc [16;33], [38; tr.117-121]
1.1.3 ðặc ñiểm hoạt ñộng kinh tế
ðặc ñiểm cư trú của người Nùng thường là ở những thung lũng, khe suối, chân
núi, những cánh ñồng giữa núi và trên những suờn ñồi thấp nên trong quá trình ñịnh
cư, từ lâu người Nùng ñã có trình ñộ canh tác nông nghiệp cổ truyền khá phát triển
ðồng bào Nùng ñã lựa chọn cho mình những hình thức lao ñộng, sản xuất phù hợp với
ñiều kiện ñịa lí tự nhiên Nền kinh tế của ñồng bào Nùng căn bản là dựa trên nền kinh
tế nông nghiệp trồng trọt, cây lương thực chính là cây lúa, sau là cây ngô Ngoài ra
ñồng bào còn trồng các loài cây hoa màu khác như khoai lang, khoai sọ, củ từ, rau,
ñậu, …
mà còn phụ thuộc vào kinh nghiệm sản xuất của ñồng bào Cơ cấu mùa vụ khá ña
dạng, trên những chân ruộng nước (nà nặm), ñồng bào thường trồng hai vụ lúa mùa và
ñông xuân, có những nơi do ñiều kiện thời tiết, không nước nên chỉ trồng ñược một vụ
lúa, ở chân ruộng cạn (nà lẹng) ñồng bào trồng ngô, khoai lang, rau ñậu…
Người Nùng là cư dân nắm vững và sử dụng thành thạo các bản tính nông lịch,
ñồng thời họ cũng biết tuỳ vào tình hình thời tiết thông qua những biến ñổi của tự
nhiên ñể có những ñiều chỉnh gieo cấy cho phù hợp ðể có năng suất cao, ñồng bào
Nùng ñặc biệt quan tâm ñến việc bón lót, bón thúc và làm công tác thủy lợi Bên cạnh
việc làm ruộng nước, ñồng bào còn làm nương bãi Nương ở chân ñồi hay ven rừng
thường trồng ngô, sắn, ñậu, lạc, chè, vừng… ðồng bào còn có nhiều kinh nghiệm trong
Trang 17việc xen canh, gối vụ trên các loại ñất Ở một số vùng, hoàn cảnh cư trú khiến người Nùng gặp khó khăn trong việc canh tác ruộng nước, do ñó nương và rẫy ñối với họ rất quan trọng Hiện nay, do hệ thống thủy lợi ngày càng hoàn chỉnh nên ruộng hai vụ tăng lên Việc áp dụng phương pháp khoa học kỹ thuật ñang ñược ñẩy mạnh, nhiều trạm máy kéo xuất hiện, máy móc, công cụ sản xuất, vật tư nông nghiệp ñược ñồng bào sử dụng một cách phổ biến
Sản xuất nông nghiệp ñòi hỏi và cũng tạo ñiều kiện cho chăn nuôi phát triển Trong chăn nuôi, cư dân Nùng ñều nuôi gia súc (trâu, bò, lợn, ngựa…), gia cầm (gà, vịt, chim); nuôi ong cũng khá phát triển, ở những nơi gần rừng nhiều nơi ñã thu ñược lượng mật tốt Các nghề thủ công tuy là nghề phụ nhưng cũng khá phát triển trong ñời sống cư dân Nùng Phụ nữ Nùng rất khéo trong việc dệt vải phục vụ nhu cầu may mặc trong gia ñình, ngoài ra còn dệt thổ cẩm làm của hồi môn hay bán cho khách du lịch, xuất khẩu Bên cạnh ñó, người Nùng còn có các nghề khác mang tính thời vụ như ñan lát, nghề mộc, rèn, làm gạch ngói, nung vôi, như nghề rèn của người Nùng An ở Phúc Sen rất nổi tiếng (Quảng Uyên, Cao Bằng) Nghề làm ngói phát triển rộng rãi trong nhóm Nùng An, Nùng Cháo ở Lạng Sơn, Cao Bằng, sản phẩm làm ra ñược tiêu thụ rộng trên thị trường
Hiện nay, một số nghề ñã mai một dần (nghề rèn, ñúc, dệt), ñồng bào chủ yếu sử dụng các vật dụng mua sẵn chứ không tự sản xuất như trước ñây, ñặc biệt nghề dệt vải, nhuộm chàm vốn là nghề truyền thống của người Nùng nhưng nay không còn phổ biến nữa Ngoài hoạt ñộng kinh tế truyền thống thì săn bắt, hái lượm cũng tồn tại ít nhiều ở các vùng và các nhóm ñịa phương Sản phẩm hái lượm là rau (rau bồ khai, rau ngót rừng, lá mác mật…), củ, quả, nấm và mộc nhĩ Sản phẩm săn bắn là thú rừng: sóc, dũi, chim… Hiện nay, diện tích rừng tự nhiên không còn nhiều, hoạt ñộng săn bắt cũng hạn chế
So với các dân tộc thiểu số ở miền Bắc nước ta, có thể thấy rằng dân tộc Nùng
là một trong những dân tộc có chất lượng sống cao hơn cả Bên cạnh những kinh
Trang 18nghiệm, kiến thức sản xuất truyền thống, họ ñã và ñang từng bước tiếp cận với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và cơ chế thị trường ðiều này có ý nghĩa hết sức quan trọng ñối với công cuộc phát triển bền vững kinh tế - xã hội của khu vực miền núi
1.1.4 ðặc ñiểm gia ñình – xã hội
Quan hệ của các thành viên trong cộng ñồng làng bản của người Nùng ñược dựa trên sự tương thân tương ái, mọi người có thái ñộ tôn trọng, giúp ñỡ nhau trong mọi công việc Ở mỗi bản có một trưởng thôn lo các công việc hành chính Ngoài ra, người dân tín nhiệm, kính trọng mời một người làm trưởng bản, là người có tầm ảnh hưởng rất lớn trong các công việc chung của bản
Do ñặc ñiểm cư trú khá tập trung, ở mỗi bản thường có vài ba họ trong cùng một dân tộc Nùng cư trú Tinh thần gia tộc ñược thể hiện rất mạnh mẽ trong ñồng bào Nùng Người trưởng tộc ñược mọi người kính trọng và có ảnh hưởng rất lớn trong dòng họ Gia ñình người Nùng là gia ñình nhỏ phụ hệ, người cha quyết ñịnh mọi việc, con trai ñược thừa hưởng gia tài Trrong quan hệ dòng họ (cùng thế hệ như con cô, cậu, chú, bác… ), người Nùng không phân biệt ngôi thứ mà tuân theo lứa tuổi, ai lớn tuổi hơn thì làm anh, chị, ai ít tuổi hơn thì làm em Trong phân công công việc, nam nữ ñều tham gia công việc ñồng áng thường thì nam cày bừa, nữ cấy gặt Phụ nữ Nùng thường làm việc rất nhiều, ngoài công việc ñồng áng họ còn phải chăm sóc gia ñình, may mặc
Họ là người ñóng vai trò quan trọng trong sản xuất và quản lí kinh tế Còn nam giới, ngoài thời gian cày bừa họ dùng thời gian rỗi vào công việc săn bắn, ñánh cá, một số nơi nam giới chỉ tập trung vào làm nghề như rèn, gạch ngói…
Người Nùng theo thị tộc ngoại hôn, những người cùng họ không ñược lấy nhau trừ trường hợp họ xa, khác chi Quan hệ hôn nhân của người Nùng cũng khá lành mạnh
và tiến bộ, nam nữ ñược tự do tìm hiểu và yêu ñương Trai gái thường thông qua các phiên chợ, lễ hội, bằng những làn ñiệu sli mượt mà, trữ tình ñể làm quen, tìm hiểu và chọn người yêu, người bạn ñời Chế ñộ hôn nhân của người Nùng thiên nhiều về vật chất ðể cưới một cô gái cho con trai mình, nhà trai và nhà gái tiến hành một cuộc “gả
Trang 19bán” (khai lù), nhà trai sẽ phải trả cho nhà gái một số tiền và hiện vật sau khi gia ñình nhà trai xem xét những yếu tố xem ñôi trai gái có “hợp mệnh số” hay không?
Sau ngày cưới, người vợ chưa phải về cư trú bên nhà chồng ngay mà vẫn ở bên nhà bố mẹ ñẻ cho ñến khi sinh ñứa con ñầu lòng, thời gian về nhà chồng hoàn toàn phụ thuộc vào việc sinh con ñầu lòng Trong thời gian này, người vợ chỉ về khi nhà chồng
có việc và người nhà chồng phải sang ñón, xong việc lại về
Theo tập tục thì vợ phải về cư trú bên nhà chồng nhưng cũng có trường hợp ngược lại ðiều này xảy ra khi bố mẹ nhà gái già yếu, em út chưa trưởng thành, người chồng phải gánh vác công việc nhà vợ một thời gian (gọi là ở rể tạm thời) sau ñó mới chuyển về nhà chồng (cũng có trường hợp là do bố mẹ vợ chia tài sản, ruộng ñất lập nghiệp ở quê vợ) Trường hợp nữa là nhà gái không có con trai, cưới rể về ñể nối dõi (người con trai và gia ñình ñồng ý), người chồng không phải ñổi họ nhưng con của anh
ta mang họ vợ (ở rể ñời)
Cưới xin là chuyện quan trọng của cả ñời người cho nên các nghi lễ cưới xin trước ñây của người Nùng rất phức tạp và chi tiết Ở mỗi nhóm có thể có ít nhiều khác nhau nhưng ñại ñể là thống nhất Ngày nay, việc cưới xin của ñồng bào Nùng ñã có những tiến bộ, những nghi thức phức tạp, tốn kém, những tập tục có tính mê tín dị ñoan
ñã ñược giản lược rất nhiều
1.1.5 ðặc ñiểm tín ngưỡng – tôn giáo
Người Nùng tin rằng có linh hồn và người chết sẽ hồi sinh ở thế giới bên kia, ở
ñó người chết vẫn sinh hoạt như khi còn ở trần gian Nếu không lo chu ñáo việc ma chay thì linh hồn của người chết sẽ không ñược siêu thoát, lẩn quất chung quanh người sống, quấy rối cuộc sống hoặc sẽ bị thiếu thốn ở cuộc sống bên kia Người Nùng cho rằng mỗi khi linh hồn người chết ñến hỏi thăm là gây ñau ốm cho con cháu Cho nên phải làm mọi cách ñể cho linh hồn người chết về thế giới bên kia một cách an bình Hơn nữa, do ảnh hưởng của Nho giáo về ñạo hiếu nên bổn phận làm con phải chăm sóc cha mẹ khi già yếu, lo ma chay, thờ cúng khi cha mẹ mất và cho ñó là cách báo hiếu
Trang 20quan trọng nhất Do vậy, ñám ma của người Nùng bao gồm nhiều nghi lễ rất phức tạp
và tốn kém có khi ñến mười mấy nghi lễ trong một ñám ma
Người Nùng chịu ảnh hưởng rất lớn từ ðạo giáo, Phật giáo và Khổng giáo Tuy nhiên người Nùng tiếp thu chủ yếu những yếu tố liên quan ñến mê tín dị ñoan, mang tính tiêu cực của tam giáo Nó có ảnh hưởng tới mọi mặt của ñời sống ñồng bào Nùng
Tín ngưỡng chủ yếu của người Nùng là thờ cúng tổ tiên Trong mỗi gia ñình ñều
có bàn thờ tổ tiên, ñược ñặt ở nơi trang trọng nhất, thường ở gian chính giữa, hoặc trong buồng kín sát vách nhà thuộc gian thứ hai Khách lạ và phụ nữ ít khi ra vào nơi này Người Nùng theo tộc hệ 7 ñời nhưng chỉ thờ từ ñời ông bà trở lại còn các ñời từ cụ
kị thì biến thành ma nhà (phi slườn) Thần bảo vệ nhà cửa ñược thờ cúng ở bên ngoài cửa
Người Nùng có tục thờ phật bà Quan Âm trong nhà Bàn thờ là một khám kín ñặt trên bàn thờ tổ tiên Các gia ñình người Nùng có tín ngưỡng thờ bà Mụ (mẻ Bjóc)
ñể bảo vệ trẻ em Bàn thờ ñược lập khi ñôi vợ chồng có ñứa con ñầu lòng, bàn thờ ñược lập ở vách cạnh buồng ngủ hay trong buồng ngủ của ñôi vợ chồng Ngoài ra, người Nùng còn thờ cúng nhiều vị thần khác khác như: ma bếp lửa (phi hủn fày) không lập bàn thờ mà chỉ có bát hương gần bếp lửa; ñể bảo vệ người và gia súc trong nhà, người Nùng thờ ma ngoài sàn (phi hang chàn) bằng một ống tre găm cạnh sàn phơi Người Nùng kiêng mang những thứ uế tạp như thịt trâu, thịt chó vào nhà
Trong mỗi bản của người Nùng có thờ một số vị thần chung của cả bản là thần thổ ñịa và thành hoàng Thần thổ ñịa là vị thần cai quản ñất ñai, núi rừng, gia súc và con người trong phạm vi của một bản, là vị thần có uy thế rất lớn phù hộ ñộ trì an khang, thịnh vượng cho từng gia ñình và toàn thể cộng ñồng Miếu thờ thổ ñịa thường ñược dựng ở dưới gốc cây cổ thụ hay khu ñất cây cối sum suê nơi ñầu bản hoặc trong khu rừng cấm của làng Thành hoàng ñược một số làng bản trong vùng thờ chung Thành hoàng thường là người có công giúp dân bản khai hoang lập bản, có công với nước với dân ñánh dẹp giặc giã
Trang 21Trong mỗi làng bản thường có tầng lớp làm nghề cúng bái: tào, mo, then, pụt
Họ ñược coi là người có thể thông ñược với thần, ma quỷ Công việc chủ yếu của họ là cầu cúng chữa bệnh cho dân, chủ trì các lễ cưới xin, ma chay
Như vậy, về cơ bản ñồng bào Nùng là một dân tộc ña thần Họ thờ khá nhiều thần, ngoài thờ cúng tổ tiên (thần gia ñình, dòng họ), còn thờ nhiều vị thần, cúng nhiều
ma quỷ khi cần thiết
1.1.6 ðặc ñiểm tổ chức làng bản, nhà cửa
Bản của người Nùng là ñơn vị xã hội cơ bản nhất, các mối quan hệ xã hội của một cồng ñồng ñược thể hiện rõ nét qua ñơn vị này Khu vực ñịnh cư của người Nùng phổ biến là vùng thung lũng hẹp, thường là những dải ñất chạy quanh chân ñồi, chân núi, gần nguồn nước như ven sông, suối, hay trên những gò ñất thấp … dựa lưng vào ñồi núi, phía trước là bồn ñịa ñã ñược khai phá thành ñồng ruộng
Số hộ và nhân khẩu trong mỗi bản phụ thuộc vào ñịa hình cư trú Bản của người Nùng thường có từ 15 - 30 hộ, có những bản lớn quần cư tới 50 - 60 hộ Dân cư trong cùng một bản thường có quan hệ giúp ñỡ nhau trong các hoạt ñộng kinh tế và cùng chịu sự chi phối của những quan hệ xã hội Trong mỗi bản thường có một ñình làng với mục ñích cầu cúng cho mùa màng bội thu, chăn nuôi phát triển Công việc cúng bái thường gắn liền với lễ hội “lùng tồng” (lễ xuống ñồng) vào dịp tết năm mới, mọi gia ñình ñều phải làm cỗ và ñem gia ñình làm lễ Ở mỗi bản ñều có hội hiếu “phe” với mục ñích là giúp ñỡ nhau khi có việc tang ma
Nhà ở là công trình văn hoá, ñồng thời là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hoá của gia ñình ñồng thời cũng là một hình ảnh thu nhỏ của văn hoá dân tộc Nhà của người Nùng về cơ bản giống với nhà ở của người Tày Người Nùng thường ở trong những ngôi nhà sàn kiểu cổ Nhà ở của người Nùng thường có hai loại: nhà sàn (nhà sàn gỗ và nhà sàn tường ñất) và nhà ñất (nhà trệt)
Nhà sàn gỗ là nhà truyền thống của người Nùng, thường gọi là Ma Lan Nhà sàn
gỗ có loại làm sơ sài bằng tre, gỗ lợp tranh vách nứa, cột chôn thẳng xuống ñất Có loại làm kĩ lưỡng hơn, sàn, vách làm toàn bằng gỗ, cột kê trên ñá tảng Một loại khác là nhà
Trang 22sàn tường ñất, thường phổ biến ở một số huyện miền ñông tỉnh Lạng Sơn, chỉ có hai mái, chỉ khác với nhà sàn gỗ là vách xung quanh ñược trát bằng hỗn hợp ñất và rơm trộn nhuyễn Loại nhà này không thoáng bằng nhà sàn gỗ nhưng có khả năng chống trộm cướp nhất là ở vùng sát biên giới
Không gian của một ngôi nhà sàn ñược chia thành ba phần sử dụng: Tầng 1 là mặt ñất là nơi dành cho gia cầm (gà, vịt), gia súc (trâu, bò) và ñể nông cụ sản xuất Ở một số vùng có làm chuồng nuôi trâu, bò lợn ở ngoài gầm sàn gần nhà ở Tầng 2 là sàn, nơi ở và ñể ñồ dùng sinh hoạt Sàn có thể ñược lát bằng ván gỗ tốt hoặc bằng tre Tầng
3 là gác, làm kho chứa lương thực và những thứ cần bảo quản khô ráo
Tất cả các sinh hoạt ñều tập trung trong một ngôi nhà lớn Nhà thường có 4 gian hai cửa ra vào, cửa chính (cửa trước) ở phía trước ngay chính giữa nhà, cửa phụ (cửa sau) ở phía sau nơi góc nhà thông ra sàn phơi Cầu thang lên xuống thường dựng ở ñầu hồi bên phải hoặc ngay cửa trước ngôi nhà Số bậc cầu thang thường là số lẻ vì người Nùng quan niệm ñây là số của người sống, mang lại hạnh phúc, phát triển Nhà sàn chính là nơi sinh hoạt của cả gia ñình thường ñược chia thành hai gian lớn, giữa có vách ngăn bằng ván hoặc liếp nứa và có cửa thông giữa hai gian Gian dành cho nam giới rộng và sáng sủa hơn, ở phía cửa chính Trong gian này có bàn thờ tổ tiên ở giữa nhà ñối diện cửa ra vào Giường ngủ của người chủ gia ñình ở phía sau bàn thờ, tiếp ñó
có bộ bàn ghế và giường dành cho khách là nam giới Chính giữa nhà là bếp lửa, tập trung mọi sinh hoạt của cả gia ñình Bếp là nơi nấu nướng, sưởi ấm trong những ngày ñông và còn ñể tiếp khách nữa Gian dành cho nữ giới gồm có buồng kín ñể ngủ, nơi làm việc của nữ giới (quay tơ, dệt vải, kéo sợi ….), ñồng thời cũng là nơi tiếp khách phụ nữ, chỗ ngủ của con gái chưa chồng
Nhà sàn ñất (nhà trệt) khá phổ biến ở những nơi người Nùng cư trú giữa cánh ñồng, xa rừng nguyên vật liệu làm nhà khan hiếm ðặc ñiểm của loại nhà này là ở chỗ tầng dưới trước kia là gầm sàn thì nay dùng ñể ở, mở thêm nhiều cửa sổ, ngăn thành phòng riêng cho nam nữ, sàn gác ñược thu hẹp lại thành gác tối ñể ñựng thóc lúa và
Trang 23những ựồ lặt vặt Bếp ựược ựể ra ựằng sau hoặc gian bên cạnh Loại nhà này cơ bản là giống với nhà sàn tường ựất
Nhìn chung nhà của người Nùng trước ựây thường thiên về phòng thủ, cửa và cửa sổ ắt nên bắ và tối tăm Việc sinh hoạt các tầng dành cho cả người và gia súc nên không ựựơc vệ sinh lắm Nhà ở của người Nùng khá bền tùy theo vùng và loại nhà mà
ựộ bền của nhà có thể từ vài chục tới hàng trăm năm
1.1.7 đặc ựiểm trang phục
Người Nùng thường tự làm lấy quần áo phục vụ cho mình, công việc này do phụ nữ ựảm trách Việc dệt vải ựược thực hiện quanh năm ngoài phục vụ cho nhu cầu bản thân và gia ựình, họ còn ựem bán Quần áo của người Nùng có màu chàm, màu sắc này vừa ựảm bảo sạch sẽ mà lại cân ựối hài hoà của con người với thiên nhiên cây cỏ Việc nhuộm màu chàm rất vất vả và ựược thực hiện trong thời gian dài Quần của nam
và nữ các nhóm Nùng thường là cùng kiểu chỉ khác nhau ở phần cạp quần Cạp quần của nam giới thường là vải trắng khâu ựáp vào thân quần, còn cạp của nữ giới bằng vải màu xanh đó là kiểu quần què, với phần trên trông không rộng nhưng ựũng và ống quần rộng, dài ựến mắt cá chân thuận tiện cho việc lao ựộng, ựi lại, leo trèoẦ Dây thắt lưng là ựoạn dây gai cùng màu với quần áo, buộc chặt ngang hông ựể giữ quần
Áo của nam giới thường may xẻ giữa ngực có hàng cúc vải, cổ tròn, cao; áo có bốn túi, hai túi ngực nhỏ, hai túi dưới (ngang bụng) to Nam giới cũng ựội khăn băng vải tự dệt màu chàm ựen Khi ựi ra ngoài thường có thêm túi khoác Áo của phụ nữ Nùng rộng phần thân áo và tay áo, ựủ ựể cử ựộng thoải mái trong lao ựộng sản xuất Áo của phụ nữ Nùng thường là loại áo năm thân bao gồm bốn thân dài và một thân hụt ở phắa ngực bên phải, cúc cài bên nách phải, tà áo xẻ cao, cổ ựứng Có thể phân biệt các nhóm Nùng thông qua ựộ dài ngắn của áo: áo của phụ nữ Nùng Fàn Slình dài qua ựầu gối, Nùng Giang chỉ dài qua thắt lưng, Nùng Cháo buôn dài chấm ựầu gối, Nùng An dài che kắn mông và ở vai có lớp vải ựệm và ngực ựeo tạp dề trên có thêu hoa văn Áo của phụ nữ Nùng Xuồng buông dài kắn mông trong khi áo của phụ nữ Nùng Quy Rịn chỉ chớm mông; hoặc khác biệt phần cổ, ngực áo và hoa văn trang trắ trên ống tay, nẹp
Trang 24ngực và màu sắc Gấu áo và tà áo của phụ nữ Nùng Fàn Slình có viền xanh Cửa tay áo của phụ nữ Nùng Giang có ñáp thêm miếng vải khác màu rất rộng, của phụ nữ Nùng Lòi có ñáp thêm những miếng vải nhỏ khác màu Nẹp ngực áo của phụ nữ Nùng Cháo rất rộng, của phụ nữ Nùng Xuồng nẹp ngực thường ñáp thêm miếng vải khác màu nền của áo, thường là vải màu ñen hoặc màu xanh sĩ lâm (lam sắc ñậm) Cũng có thể phân biệt các nhóm theo màu sắc quần áo như nền áo của phụ nữ Nùng Fàn Slình và Nùng Quy Rịn có màu ñen nhánh, áo của Nùng Cháo và Nùng Giang có màu ñen nhạt ……
Trong các nhóm Nùng thì quần áo của Nùng Dín có trang phục ñặc biệt nhất, có
sự phân biệt với các nhóm còn lại Áo của phụ nữ Nùng Dín là loại áo tứ thân dài chấm thắt lưng, cổ cao và gấu áo rộng, xẻ ngực cài bằng hàng cúc bạc 9 chiếc Phụ nữ Nùng Dín không mặc quần như các nhóm Nùng khác mà mặc váy xếp rộng dài ñến mắt cá chân, khi ñi làm thì quấn lại thành một núm ra ñằng sau
Phụ nữ Nùng ñể tóc dài và dùng khăn ñội ñầu Có ba loại khăn với ba kiểu ñội ñầu: khăn vuông chít mỏ quạ ở sau gáy (Nùng Inh, Nùng Cháo, Nùng Lòi), khăn chàm
có ñốm trắng ñuôi khăn buông tự do xuống bả vai (Nùng Fàn Slình - Hua Lài), khăn chàm có sọc trắng, chỉ màu hoặc có tua buông xoã xuống ñầu (Nùng Fàn Slình – Cúm Cọt, Nùng An)
Trang sức ñược người Nùng ưa chuộng là những ñồ trang sức ñược chế tác từ bạc: vòng cổ, vòng chân, vòng tay, nhẫn, khuyên tai, xà tích ðồ trang sức ñược chị em phụ nữ ñeo vào những dịp ñặc biệt lễ hội, chợ phiên, ngày Tết chứ ngày thường ít dùng
1.1.8 ðặc ñiểm ẩm thực
ðồng bào Nùng là cư dân nông nghiệp sống dựa vào trồng trọt và chăn nuôi là chính nên cơm tẻ là thức ăn chính trong các bữa ăn, ở một số vùng sâu, vùng cao thì ngô lại là lương thực chính Người Nùng cũng là cư dân thích ăn cơm nếp Thực phẩm trong các bữa ăn của ñồng bào là rau xanh trồng trong vườn, trên nương, hái trong rừng
và các loại thịt, cá, trứng………
Trang 25Bữa ăn hàng ngày của ñồng bào Nùng thường khá ñơn giản chủ yếu là các loại rau củ thường ñược xào mỡ, ít ăn luộc, có thịt cá nhưng chiếm tỉ lệ nhỏ và không thường xuyên Người Nùng thích ăn thịt lợn, gà, vịt Họ không ăn thịt trâu, thịt bò, thịt chó (ở một số vùng ñồng bào có ăn nhưng thường không ăn ở nhà và cũng không phổ biến) ðồng bào Nùng thường ăn ngày ba bữa: hai bữa chính và một bữa phụ Hai bữa chính là ăn trưa “kin ngài” khoảng 10-11 giờ trưa và bữa ăn chiều “kin pjầu” vào khoảng 5-6 giờ chiều sau khi ñi làm về Bữa phụ vào khoảng 13h giờ gọi là “kin lèng” Ngoài ra những hôm gia ñình có việc thì còn có thêm bữa ăn ñêm gọi là “slíu dề”
Trong bữa ăn bà mẹ hoặc con dâu ngồi ñầu nồi ñể xới cơm cho cả nhà Người Nùng có tục lệ nghiêm ngặt là con dâu, em dâu không ñược ngồi ăn chung với bố chồng, anh chồng Người Nùng rất quan tâm ñến người già và trẻ con nên thường dành những phần thức ăn ngon cho ông bà già và trẻ em
Trong một năm thường có nhiều lễ hội, các dịp khác nhau, trong mỗi dịp như vậy người Nùng có truyền thống làm các loại xôi, bánh và nấu các món ăn truyền thống, mang hương vị riêng Có hai lễ - tết quan trọng nhất trong năm là Tết tháng Giêng và Tết rằm tháng Bảy Tết tháng Giêng là tết to nhất trong năm, người Nùng ăn thịt gà trống thiến, thịt lợn, làm bánh chưng, bánh khảo, chè lam Tết rằm tháng Bảy là tết to thứ hai trong năm, người Nùng ăn thịt lợn quay, thịt vịt, bánh gai, bánh dợm, bánh mật Xôi màu ñược nhuộm từ các loại lá cây khác nhau và xôi trứng kiến trong dịp Tết Thanh minh mùng 3 tháng 3, ……
Thức uống thường dùng của ñồng bào Nùng là nước ñun sôi ñể nguội (trước ñây
là nước lã), nước lá Khu vực cư trú của người Nùng rất thích hợp cho một số loại cây chè nên họ cũng thường dùng chè ngạnh, chè ñắng (Cao Bằng), chè dây Chè búp cũng
có nhưng thường là ñể tiếp khách, họ không có thói quen uống chè xanh Vào những ngày hè nóng nực, người Nùng thường húp cháo loãng như là thức uống giải khát
Khách lạ ñến chơi nhà người Nùng thường ñược mời rượu trước tiên như là lời chúc may mắn, làm quen và thể hiện sự hiếu khách của chủ nhà, có khi cả buổi chỉ uống rượu suông (nhất là khi có khách quý) Trong những dịp ñặc biệt như lễ hội, tết,
Trang 26cưới xin, ma chay thì không thể thiếu rượu Người Nùng thường tự nấu lấy rượu ựể uống hàng ngày, nguyên liệu ựể chế biến rượu thường là gạo tẻ, gạo nếp, ngô Men rượu ựược làm từ một số loại lá rừng (men lá) Người Nùng có hai loại rượu: rượu cất (lảu sliêu) - cách nấu không có gì khác với cách nấu của các dân tộc khác và rượu ủ (lảu mộng) - ựược làm từ gạo nếp và loại men riêng, có vị ngọt dễ uống nhưng cũng dễ say đồng bào Nùng cũng có thói quen ngâm rượu thuốc vừa uống phòng chữa một số bệnh vừa dùng ựể xoa bóp phòng cảm mạo, bầm dập Ầ.đồng bào Nùng nói riêng và ựồng bào ở Lạng Sơn nói chung thường có thói quen mời nhau uống rượu chéo chén vừa thể hiện tình cảm thân thiết, sự tin tưởng, lòng hiếu khách Nam giới Nùng cũng có thói quen hút thuốc lá sợi vàng tự sản xuất, tự chế biến Vùng Lạng Sơn rất nổi tiếng với loại thuốc lá sợi vàng này
1.2 Mối quan hệ Tày - Nùng
Trong ựại gia ựình 54 dân tộc ở Việt Nam, Tày, Nùng là hai dân tộc có rất nhiều ựiểm chung về phương diện cư trú, kinh tế, những ựặc ựiểm văn hoá truyền thống, ngôn ngữẦ Người Tày và người Nùng sống bên cạnh nhau, xen kẽ với nhau và có mối quan hệ hoà hợp, gắn bó với nhau cả về ựời sống vật chất và tinh thần Những tìm hiểu
về mối quan hệ giữa hai dân tộc này xét ở các góc ựộ sẽ là bước dẫn có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu tiếng Nùng
Cho tới nay chưa có một nguồn sử liệu nào nói rõ ựược lịch sử cư trú của dân tộc Tày ở ựông bắc Việt Nam nhưng chắc chắn là người Tày có mặt ở Việt Nam trước người Nùng, có thể là cùng thời kì với người Việt điều này có thể thấy qua tên gọi khác của dân tộc Tày mà các dân tộc thiểu số khác gọi họ ựó là Thổ (dân bản ựịa) Tên gọi này xuất hiện từ khoảng thế kỷ XV ựã cho thấy sau một quá trình phát triển và ựịnh hình sắc thái văn hoá dân tộc, tên gọi vừa mang ý nghĩa là một tộc người vừa mang ý nghĩa thổ dân của vùng đông bắc xa xưa là Thổ [27;39] Sau thất bại của cuộc nổi dậy
do Nùng Trắ Cao cầm ựầu, lãnh thổ tộc người bị biên giới chắnh trị, quốc gia chia cắt dần chấm dứt giai ựoạn phát triển lịch sử chung của người Tày, Nùng ở hai bên biên
Trang 27giới Bộ phận dân tộc này ở Trung Quốc về sau phân hoá thành các nhóm dân tộc Nùng, Sa, Thổ, LãoẦ thuộc tộc Choang ngày nay Còn ở Việt Nam, do chịu sự tác ựộng về nhiều mối quan hệ lâu dài về kinh tế, chắnh trị, văn hoá xã hội của các tộc người ở ựây ựã hình thành dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam [15;tr.97-98]
Như vậy, về mặt cội nguồn lịch sử hai dân tộc Tày và Nùng ựều thuộc bộ phận người nói ngôn ngữ Tày Thái cổ, một bộ phận cư trú khi ựó chủ yếu là vùng trung du
và ựồng bằng Bắc Bộ, về sau ựã có sự giao lưu, tiếp xúc dung hợp về nhân chủng, văn hoá ựã hình thành khối cư dân ựồng bằng là người Kinh Bộ phận còn lại ở lại vùng thượng du Bắc Bộ vẫn bám trụ lâu dài, và trải qua những thời kì lịch sử của biến thiên tộc người, cùng với sự việc xác ựịnh rõ, chặt chẽ biên giới Việt ỜTrung ựã tách khỏi khối tộc người Ờ ngôn ngữ Choang ở vùng Lưỡng Quảng hình thành các tộc Tày Ờ Thái
ở Việt Nam Sự kịên này có thể thấy qua hàng loạt tên gọi mới, mang tắnh tộc người riêng biệt Quá trình này diễn biến từ khoảng thế kỷ VII ựến khoảng XI
1.2.2 Từ phương diện ngôn ngữ
Vốn là hai thứ tiếng thuộc cùng một họ ngôn ngữ nên giữa tiếng Tày và tiếng Nùng có rất nhiều nét căn bản thống nhất với nhau Hơn nữa, do hoàn cảnh cư trú, lịch
sử, văn hoá, trong giao tiếp, tiếng Tày và tiếng Nùng ựã xắch lại gần nhau, bổ sung những nét khác biệt cho nhau Thậm chắ, hiện nay, có ý kiến cho rằng sự khác biệt giữa tiếng Tày và tiếng Nùng chỉ có tắnh chất ựịa phương và nên coi tiếng Tày, tiếng Nùng
là một ngôn ngữ thống nhất [39; 7], [24; 21]
Hiện nay, các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái có khoảng 90 triệu người, phân bố trên một ựịa bàn rộng lớn thuộc khu vực đông Nam lục ựịa châu Á [24;22] Sơ ựồ phân loại các ngôn ngữ nhóm Tai - Kadai dưới ựây ựã ựược ựa số các nhà nghiên cứu chấp nhận Theo ựó vị trắ của tiếng Tày, Nùng, Choang trong các ngôn ngữ Tai-Kadai ựược xác ựịnh như sau1:
1 Dẫn theo Lê Văn Trường [34; 3]
Trang 28Tai-Kadai
Kam-Tai Hlai(li) Geyang
Lakkja Kam-Sui Be Tai
Tây Nam Trung Bắc (Thái, Lào Shan, (Nùng, (Choang Bắc,
Thái ñen, Choang Nam, Sack,
Thái trắng) Tày) E Bố Y,Yay, Tay Mèn)
Sơ ñồ 1: Các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tai - Kadai
Như vậy, Tày và Nùng nằm ở nhóm Trung tâm, nhánh Tai, tiểu họ Kam-Tai,
ngữ hệ Tai-Kadai
Ở Việt Nam, tiếng Tày và tiếng Nùng có rất nhiều ñiểm chung gần gũi nhau,
bằng chứng là ở những nơi mà người Tày và người Nùng cùng chung sống thì họ có
thể giao tiếp trực tiếp với nhau và có thể hiểu ñược nhau một cách dễ dàng Trong khi
ñó những người Nùng nếu ở cách xa nhau có khi còn có những ñiểm không hiểu nhau
Tuy nhiên, giữa chúng cũng không phải là không có sự khác biệt và chúng tồn tại như
là những phương ngữ của một ngôn ngữ và nó tồn tại cả ở mặt từ ngữ và ngữ âm,
nhưng chủ yếu là khác biệt ở mặt ngữ âm [24; 39]
Xét về mặt ngữ âm: Cách phát âm của người Nùng thường trầm nặng hơn cách
phát âm của người Tày
Xét về mặt từ vựng: Vốn từ chung cơ bản là thống nhất, tuy nhiên, cũng có một
số khác biệt Ví dụ:
Trang 29hé lộ những ñiều vô cùng có ý nghĩa cho một kết luận cuối cùng
1.3 Lịch sử nghiên cứu ngữ âm tiếng Nùng ở Việt Nam
Tiếng Nùng từ lâu ñã ñược các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Các lĩnh vực nghiên cứu cũng ña dạng từ nghiên cứu về quan hệ cội nguồn, hệ thống
âm vị,…… ở cả phương diện ñồng ñại và lịch ñại Các nhà khoa học nước ngoài ñã có nhiều ñóng góp cho các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung, ngôn ngữ Tày- Thái nói riêng có thể kể ñến như H Maspéro, F Savina, G Haudricourt, R.Shafer, P Benedict, S.E Jakhontov, Li Fang Quei
Có một thực tế là trong tiếng Nùng hiện nay tồn tại các phương ngữ khác nhau (các nhà dân tộc học gọi là các nhóm ñịa phương) mà mỗi nhóm lại có những ñặc ñiểm làm cho chúng khác với các thành viên trong nhóm Cho ñến nay cũng ñã có một vài công trình ñề cập ñến vấn ñề ngữ âm tiếng Nùng nhưng chưa có một công trình nào ñề cập một cách chi tiết ñến sự khác biệt giữa các phương ngữ Nùng Việc nghiên cứu ngữ âm tiếng Nùng từ trước ñến nay thường ñược tiếp cận theo ba hướng:
1.3.1 Hướng nghiên cứu thứ nhất, Tiếng Nùng ñược nghiên cứu chung trong các ngôn ngữ thuộc nhóm Tày – Thái chứ không ñược nghiên cứu như là một ngôn ngữ ñộc lập Có lẽ lần ñầu tiên tiếng Nùng ñược ghi chép bằng chữ quốc ngữ là trong Từ ñiển từ nguyên Pháp - Nùng - Trung Quốc [Dictionaire étymologique FranCais-Nung-Chinois] của F.M Savina1 Nhưng nó chưa ñáp ứng ñược nhu cầu nghiên cứu cũng
1 Dẫn theo Lê Văn Trường, tlñd
Trang 30như mục ñích của việc biên soạn cuốn từ ñiển này là nhằm mục ñích sử dụng Công trình nghiên cứu tiếng Nùng trong nhóm Thái như của Haudricourt: “Mấy ñiều nhận xét về lí luận và thực tiễn nhân một chuyến ñi thăm các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc và Việt Bắc Việt Nam” [11; tr1-9] Ông cũng có lẽ là người ñưa ra nhận xét rằng Nùng An
có những khác biệt với các nhóm Nùng khác
1.3.2 Hướng nghiên cứu thứ hai, Xuất phát từ những kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tiếng Tày có mối quan hệ ñặc biệt về lịch sử tộc người cũng như ngôn ngữ với tiếng Nùng nên ñã nghiên cứu tiếng Nùng trong mối quan hệ với tiếng Tày Do vậy, ñi theo hướng tiếp cận này các nhà nghiên cứu coi Tày Nùng là một thực thể thống nhất
Từ những năm 60 của thế kỷ trước, những cố gắng nhằm xây dựng bộ chữ viết chung cho hai dân tộc Tày và Nùng chung và xác ñịnh vùng chuẩn tiếng Tày – Nùng, một số ñặc ñiểm của tiếng Nùng ñã ñược phản ánh trong các công trình nghiên cứu chung về tiếng Tày - Nùng, như: “Phương án chữ Tày – Nùng”(năm 1961), sau ñó là các bài viết, công trình của các tác giả Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hoàng Chí [39]: “Ngữ pháp tiếng Tày – Nùng (1971)”, “Từ ñiển Tày - Nùng - Việt”(1973)[18], “Từ ñiển Việt
- Tày - Nùng”(1974)[19]; ðoàn Thiện Thuật “Hệ thống ngữ âm tiếng Tày - Nùng”(1973) [40] và “Tay Nung language in the North of Vietnam”(1996) [46], … Mặc dù ñã có những cố gắng khảo cứu một cách nghiêm túc nhưng việc tập trung quá nhiều vào nghiên cứu những ñiểm chung giữa hai ngôn ngữ mà ñã bỏ qua những khác biệt giữa chúng Thực tế cho thấy giữa tiếng Tày và tiếng Nùng tuy có nhiều ñiểm tương ñồng nhưng ñó là hai ngôn ngữ chứ không phải là một, do vậy những cố gắng cho việc xây dựng bộ chữ chung cho hai dân tộc ñã không ñạt kết quả như mong muốn Quả thật nếu chúng ta có ñầy ñủ ngữ liệu thì thật không ñơn giản ñể khái quát thành một ngôn ngữ giao tiếp chung cho cả hai dân tộc vì giữa chúng còn một khoảng cách khá xa
1.3.3 Hướng tiếp cận thứ ba xuất phát từ việc nghiên cứu tiếng Nùng từ những phương ngữ của chính ngôn ngữ này Thực tế là tuy tên gọi Nùng ñể chỉ dân tộc Nùng
là thống nhất nhưng trong bản thân tiếng Nùng lại tồn tại rất nhiều phương ngữ khác
Trang 31nhau Những khác biệt giữa các phương ngữ Nùng ñôi khi vượt ra ngoài tính chất của phương ngữ Hướng tiếp cận thứ ba cũng ñược làm theo hai cách Thứ nhất là cách làm thường thấy của các nhà nghiên cứu nước ngoài chọn những cộng tác viên là người của các phương ngữ Nùng từ các nơi di cư ñến, ñiều này ñược phản ánh trong một số công trình như: “Nùng grammar” của Janice E Saul và Nancy Freiberger Wilson [43];
“Nung Fan slinh – English Dictionary” của Vy Thị Bé, Janice… Cách làm này không cho chúng ta một nhìn nhận toàn diện và sâu sắc về tiếng Nùng Cách làm thứ hai là nghiên cứu các phương ngữ Nùng trên cơ sở khảo sát cụ thể từng phương ngữ, cách làm này tuy không thể bao quát ñược toàn thể hệ thống Nùng nhưng những khám phá ban ñầu về ñặc ñiểm của một ngôn ngữ với nhiều phương ngữ khác nhau như tiếng Nùng, thì càng khảo sát cụ thể, tỉ mỉ bao nhiêu thì càng có giá trị Gần ñây có một số công trình trong nước rất ñáng chú ý, như luận án của Mông Ký Slay “Khảo sát các ñặc ñiểm ngữ âm Nùng - trên tư liệu Nùng Cháo”; luận án của Lê Văn Trường “Vị trí của tiếng Nùng Dín trong mối quan hệ với các phương ngữ Nùng và Tày ở Việt Nam”; luận án của Phạm Ngọc Thưởng “Các cách xưng hô trong tiếng Nùng” ðây là những công trình ñã tập trung khảo sát ñặc ñiểm của riêng tiếng Nùng, với những ñặc ñiểm chỉ của tiếng Nùng thôi Tiếp tục theo hướng tiếp cận này, chúng tôi lựa chọn một phương ngữ ñể mô tả những ñặc ñiểm ngữ âm của nó, và trên cơ sở ñó so sánh với một
số phương ngữ khác trên bình diện ngữ âm
1.3 Tiểu kết chương 1
Hiện nay, Tày, Nùng là hai dân tộc có dân số lớn thứ nhất và thứ sáu trong 54 dân tộc ở Việt Nam ðây là hai dân tộc có mối quan hệ vô cùng mật thiết trên nhiều phương diện ñiển hình là ngôn ngữ Các dân tộc có tỷ lệ dân số ñông trong các dân tộc
cư trú ở Việt Nam như sau: Kinh (Việt) 86,2%, Tày 1,9%, Thái 1,7%, Mường 1,5%, Khơme 1,4%, Nùng 1,1%, H’mông 1%, các dân tộc còn lại 4,1%1
1 Nguồn dẫn: http://www.cia.gov/library/publication/the-world-factbook/geos/vm.html (ñiều tra dân số 1999)
Trang 32Có thể thấy, vùng biên giới phía Bắc Việt Nam là một trong những ñịa bàn giao lưu hội tụ của nhiều tộc người, cả tộc người bản ñịa lâu ñời và tộc người từ những nơi khác ñến Do sự phân bố dân cư xen kẽ trên một ñịa bàn rộng lớn như vậy ñã dẫn ñến hiện tượng tiếp xúc và xâm nhập về ngôn ngữ và văn hoá giữa các dân tộc Trước khi
di cư vào Việt Nam, người Nùng cư trú ở nhiều ñịa phương khác nhau ở bên kia biên giới khi sang Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi những ñặc ñiểm ñiều kiện di cư, cư trú nên
ñã hình thành nhiều nhóm ñịa phương khác nhau Việc tìm hiểu những ñặc ñiểm liên quan ñến văn hoá của dân tộc Nùng cũng như mối quan hệ với dân tộc Tày ở Việt Nam xét từ mặt ñịa lí cư trú, lịch sử tộc người, quan hệ họ hàng sẽ là chìa khoá giúp chúng
ta có một cái nhìn rộng và khách quan hơn khi tiến hành nghiên cứu ngữ âm và so sánh các phương ngữ Nùng trên bình diện ngữ âm
Trang 33Chương 2:
BƯỚC ðẦU MÔ TẢ HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG NÙNG AN
2.1 Một số khái niệm cơ bản
Những khái niệm ngữ âm học làm cơ sở tromg việc trình bày hệ thống ngữ âm tiếng Nùng An chúng tôi dựa trên những ñịnh nghĩa và quan ñiểm của Nguyễn Thiện Giáp (cb) [10], Mai Ngọc Chừ (cb) [4]; Những kiến thức liên quan ñến việc mô tả hệ thống ngữ âm và những ñặc trưng khu biệt các ñơn vị ngữ âm trong tiếng Nùng An dùng trong luận văn này, chúng tôi dựa trên những quan ñiểm và ñịnh nghĩa về ngữ âm của ðoàn Thiện Thuật [32]
2.1.1 Âm tiết và tiêu chí nhận diện âm tiết
Về mặt chức năng âm tiết ñược xác ñịnh: “Âm tiết là một khúc ñoạn âm thanh ñược cấu tạo bằng một hạt nhân, ñó là nguyên âm cùng với những âm khác bao quanh,
Trang 34khép chia thành hai loại: nửa khép là âm tiết kết thúc bằng phụ âm vang; khép hoàn toàn là âm tiết kết thúc bằng các phụ âm tắc
2.1.2 Âm tố
Âm tố là ñơn vị ngữ âm nhỏ nhất, không thể phân chia ñược nữa Khi nghe hay phát âm một âm tiết, bằng thính giác ta có thể thấy mỗi ñơn vị ấy có thể bao gồm những ñơn vị nhỏ hơn, ñó là âm tố
Mặc dù số lượng âm tố là vô hạn, nhưng nhờ những ñặc trưng âm học và cấu
âm, người ta có thể phân loại và miêu tả chúng Âm tố có thể là nguyên âm, phụ âm, hoặc bán nguyên âm - bán phụ âm
a) Nguyên âm
Nguyên âm là những âm ñược tạo nên khi dây thanh rung ñộng, luồng khí thoát
ra ngoài tự do, không bị cản trở, có âm hưởng êm ái, dễ nghe Về mặt âm học, nguyên
âm là tiếng thanh bởi sự chuyển ñộng của luồng không khí khi phát âm có chu kì ñều ñặn, nhịp nhàng Về mặt cấu âm, nguyên âm ñược phát âm bằng một ñợt căng thẳng toàn bộ, không cục bộ hay ngắt quãng (nghẽn)
Việc phân loại nguyên âm thường ñược dựa trên nhiều tiêu chí Thông thường, người ta dựa vào ba tiêu chí chủ yếu là theo: vị trí của lưỡi, ñộ mở của miệng (hay ñộ nâng của lưỡi) và hình dáng của môi Theo mỗi tiêu chí chúng lại ñược phân thành các nhóm nhỏ như sau:
- Theo vị trí của lưỡi:
+ Nguyên âm dòng trước, + Nguyên âm dòng giữa, + Nguyên âm dòng sau
- Theo ñộ mở của miệng (hay ñộ nâng của lưỡi):
+ Nguyên âm có ñộ mở hẹp (ñộ nâng cao) + Nguyên âm có ñộ mở trung bình (ñộ nâng trung bình: cao vừa, thấp vừa)
+ Nguyên âm có ñộ mở rộng (ñộ nâng thấp)
Trang 35- Theo hình dáng của môi
+ Nguyên âm tròn môi + Nguyên âm không tròn môi Ngoài ba tiêu chí chủ yếu trên ñây, người ta còn phân loại nguyên âm theo các tiêu chí khác như: theo trường ñộ ta có các nguyên âm ngắn/ dài; theo tính cố ñịnh/ không cố ñịnh ta có các nguyên âm ñơn/ ñôi
b) Phụ âm
Những ñặc trưng ngữ âm của phụ âm trái ngược hẳn với nguyên âm Khi phát
âm một phụ âm không khí từ phổi ñi ra luôn bị cản trở ở một chỗ nào ñó Do vậy, sự cản trở này luôn tạo thành những tiếng nổ, tiếng xát, tiếng rung không êm ái, dễ nghe như nguyên âm Về mặt âm học, các phụ âm thường có tần số chấn ñộng không ổn ñịnh, do ñó âm phát ra là tiếng ñộng chứ không phải là tiếng thanh như nguyên âm Về cấu âm, phụ âm thường ñược phát ra do sự cản trở, có nhiều cách cản trở khác nhau gọi
là phương thức cấu âm, mỗi phương thức cấu âm nhưng ñược thực hiện ở những vị trí cấu âm khác nhau lại cho ta những phụ âm khác nhau Do ñó, các phụ âm thường ñược nhận diện và phân loại dựa chủ yếu vào hai tiêu chí: phương thức cấu âm và vị trí cấu
âm
- Phân loại theo phương thức cấu âm:
+ Phương thức tắc: phương thức này cho ta các phụ âm tắc - nổ, phụ âm mũi, phụ âm bật hơi
+ Phương thức xát: phương thức này cho ta các âm xát và âm bên
+ Phương thức rung: phương thức này cho ta các âm rung và âm vỗ
- Phân loại theo vị trí cấu âm
Dựa vào vị trí cấu âm người ta thường phân phụ âm thành những nhóm sau:
+ Các âm môi: có hai tiểu loại: môi-môi và môi răng + Các âm ñầu lưỡi: dựa vào vị trí tiếp xúc của lưỡi khi phát âm ta có: âm ñầu lưỡi- răng, ñầu lưỡi-lợi, ñầu lưỡi-ngạc,
+ Các âm mặt lưỡi
Trang 36+ Các âm gốc lưỡi + Các âm thanh hầu Ngoài ra theo ñặc trưng âm học, phụ âm ñược chia thành hai loại: các âm vang
và các âm ồn (hữu thanh – vô thanh) Ở cùng một phương thức cấu âm nhưng vị trí cấu
âm khác nhau ta có những âm khác nhau và ngược lại
2.1.3 Âm vị
Âm vị là ñơn vị tối thiểu của hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ dùng ñể cấu tạo và khu biệt vỏ âm thanh của các ñơn vị có nghĩa của ngôn ngữ [4; 149] Các âm vị ñược khu biệt với nhau bởi các nét khu biệt và nhờ ñó khu biệt các ñơn vị có nghĩa của ngôn ngữ
Âm vị và âm tố ñều là những ñơn vị nhỏ nhất của hệ thống ngôn ngữ Âm vị là ñơn vị trừu tượng, nói ñến âm vị là nói ñến một ngôn ngữ cụ thể, âm vị là ñơn vị ngữ
âm nhỏ nhất có chức năng cấu tạo và phân biệt vỏ âm thanh của các ñơn vị có nghĩa lớn hơn; còn âm tố là ñơn vị cụ thể, có thực, nói ñến âm tố là nói ñến cái chung cho mọi ngôn ngữ Âm vị ñược thể hiện bằng các âm tố và âm tố là sự thể hiện của âm vị Khi tìm hiểu một ngôn ngữ xa lạ, việc phải làm là tìm hiểu hệ thống âm vị của ngôn ngữ ñó
2.2 Âm tiết tiếng Nùng An
2.2.1 Nhận diện và phân xuất
ðể mô tả hệ thống ngữ âm tiếng Nùng An, việc ñầu tiên phải làm là nhận diện
và phân xuất ñược ñơn vị phát âm nhỏ nhất Ranh giới của âm tiết trong dòng ngữ lưu ñược xác ñịnh là biên giới giữa hai ñợt căng, nó là ñiểm mà ñộ căng ñạt mức thấp nhất
và sau ñó căng lên ñể tạo âm tiết tiếp theo Có thể hiểu ñơn giản mỗi âm tiết khi ñược phát âm ta nghe ñược một tiếng
Ví dụ 1:
Trang 37/ kF&n4 am3 năm6/ (uống ngụm nước) 3 âm tiết
/kFj4 kF&&n4 hF&µ3 mçn2 lăN1/ (gửi ai vật gì) 5 âm tiết
Ví dụ 2: Xét câu sau ñây trong tiếng Nùng An
- / /boN4 raw2 to2 păn1 căN3 zu3 ke2 / (chúng ta phải chia nhau mới sống lâu ñược)
- /nµN1 baw2 păj4 ¬çn1 ¬µ6 za3/ (Em trai ñi học rồi)
Khi nghe người Nùng nói, bằng thính giác có thể nhận thấy những sự thay ñổi cao ñộ của người bản ngữ khi phát âm các câu trên Cụ thể ở ñây là 7 lần thay ñổi cao
ñộ ở câu ñầu và 6 lần ở câu thứ hai
Ví dụ 3: Xét ví dụ
Trang 382.2.2 Các kiểu âm tiết trong tiếng Nùng An
Thành phần bắt buộc phải có trong tất cả các âm tiết tiếng Nùng An là nguyên
âm và thanh ñiệu Dựa vào cách kết thúc âm tiết ta có thể mô hình các kiểu âm tiết trong tiếng Nùng An có thể là:
/p‘F&n4 săw6/ (lông mày), /?un2/ (trẻ con), /hăm1/ (tối), /¬Em4 tF&w6/ (tim),
/law1 /bF&µ1/ (thuốc lá), /haw4/ (sủa), /p‘Ew4/ (phát rẫy), /haj6/ (giầy),
Bảng 2.2.1: Các kiểu âm tiết trong tiếng Nùng An Trên cơ sở phân loại 4 kiểu âm tiết như trên, một mô hình âm tiết ñầy ñủ trong tiếng Nùng An có thể có, theo chúng tôi là:
Thanh ñiệu
Vần
Cấu trúc này là cấu trúc hai bậc và nó cũng là ñặc trưng của âm tiết các tiếng Tày, Nùng Thành phần cấu tạo của âm tiết là: thanh ñiệu, âm ñầu (ñơn và kép), âm chính và âm cuối
2.3 Hệ thống âm ñầu tiếng Nùng An
Việc nhận diện và phân xuất hệ thống ngữ âm bất kì bằng phương pháp ngữ âm học truyền thống tức là bằng những quan sát, miêu tả thì phương pháp phân xuất âm vị bằng bối cảnh ñồng nhất giúp ta tìm ra ñược những ñối lập âm vị trên cơ sở ñó xác lập danh sách âm vị của một ngôn ngữ Bối cảnh ñồng nhất ñược hiểu là bối cảnh mà ở ñó
Trang 39hai âm ñang xét ñứng trước và ñứng sau những âm như nhau, nghĩa là chúng cùng xuất hiện trong một chu cảnh Bên cạnh ñó, chúng ta có thể gặp những âm tương tự (cận âm) Khi gặp hai âm gần gũi nhau mà không biết chắc rằng ñó là biến thể của một hay hai âm vị khác nhau thì phải tìm những cận âm trong ñó cả hai âm khả nghi cùng xuất hiện, ñặt chúng vào bối cảnh ñể xét Nếu hai từ cận âm ñược kiểm tra lại nhiều lần mà hai âm ñó vẫn khác nhau thì dù nằm trong bối cảnh ñồng nhất chúng vẫn là hai âm vị riêng biệt vì có chức năng khu biệt Như vậy, ñịnh nghĩa sau có thể ñược ñưa ra ñể tiện làm việc “Hai âm gần gũi nhau xuất hiện trong những bối cảnh ñồng nhất hoặc tương
tự phải ñược coi là những âm vị riêng biệt” [10;122]
sẽ mô tả những ñặc ñiểm của phụ âm kép ở một phần riêng
Sử dụng phương pháp nhận diện âm vị bằng bối cảnh ñồng nhất, chúng tôi xác lập ñược danh sách hệ thống phụ âm ñầu ñơn tiếng Nùng An như sau:
ÂM VỊ ðƯỢC PHÂN XUẤT
GHI CHÚ / pçççç&&&&NN6 /
(bùn)
/ tçççç&&&&NN4 vai2/ (cột, buộc trâu) / ho4 pu6 /
(cổ áo)
/ tu6 / (ñậu nành ) / pFFF&&&&µµ1/
(con cua)
/ tFFF&&&&µµ6 / (gối)
1
/ pççççk3/ (bóc)
/ tççççk5 / (ñọc)
/ p / - / t /
/ p‘a3 k‘a4 / (bàn chân)
/ za6 taj6 / (bà ngoại) / p‘ja4/
(núi)
/ za1 / (ñàn)
2
/ p‘ / - / z /
Trang 40(tóc) (trấu)/ p‘FFF&&&&µµ3 /
(cái búa)
/ zFFF&&&&w6 /(dầu)/ t‘aj4 /
(chết)
/ NNNaj1 No1 / (dễ dàng) / ma4 t‘ăw6/
(chó săn)
/ NNNaw2 / (vía) /t‘in1/
(tảng ñá)
/ NNNin1 / (mồi)
3
/ mak6 t‘ăw1 / (con chấy)
/ NNNăw5 hµn5 zuN1/ (bẩy lên)
/ t‘ / - / N /
/naw6/ (cồng)
/ ////daw1 / (sao) / hăn6 na6 /
(bờ ruộng)
/ ////da4 / (ñịu) / năm6 /
(nước)
/ ////dăm1 / (tối)
4
/ nçççç1 măj6 / (mầm cây)
/ p‘ak1 ////dçççç2 / (hói ñầu)
/ n / - / d /
/ k‘a4 / (chân)
/ va4 / (hoa) / k‘aj4 lµk6 ¬aw4 /
(gả chồng cho con)
/ vaj2 / (con trâu) / Ni&N1 k‘a4 /
(ngón chân)
/ va6 / (quần)
5
/ raw6 k‘çççç4 / (kho)
/ tan3 vçççç6 t‘in1 / (vách ñá)
/ k‘ / - / v /
/ muj4 liw1 / (cháo)
/ ¬¬¬¬uj2 / (cái ñục) / mFFF&&&&w4 sç6/
(lợn cái)
/ ¬¬¬¬FFF&&&&w4/ (gặt lúa) / măt5 /
(con kiến)
/ ¬¬¬¬ăt3 / (chạy)
6
/ ma2 / (trở lại)
/ ¬¬¬¬a6 / (nướng)
/ m / - / … /
7 / hew1 fFFF&&&&µµ1 /
( gọi ai)
/ ////bFFF&&&&µµ4 / (lá)