mặt hàng mới, phục vụ tốt hơn cho nông nghiệp, cho xuất khẩu và cho tiêudùng nội địa.Giá trị tổng sản lượng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp năm 1984tăng 35% do tác động của hoạt động
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN ĐĂNG TÚY
SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ – XÃ HỘI QUẬN GÒ VẤP (TP HỒ CHÍ MINH) TRONG
THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 - 2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
TP.HCM – 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN ĐĂNG TÚY
SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ – XÃ HỘI QUẬN GÒ VẤP (TP HỒ CHÍ MINH) TRONG THỜI
KỲ ĐỔI MỚI (1986 - 2010)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.54
Người hướng dẫn: PGS TS NGUYỄN TRỌNG VĂN
TPHCM - 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1 : Cơ sở dẫn đến sự chuyển biến kinh tế – xã hội ở
1.1.Khái quát về điều kiện tự nhiên – xã hội của Quận Gò Vấp 7
1.2.Tình hình kinh tế - xã hội Quận Gò Vấp trước năm 1986. 12
1.3.Đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam 22 1.3.1.Bối cảnh lịch sử mới 22 1.3.2.Đường lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chủ
1.3.3 Sự vận dụng của Đảng bộ Quận Gò Vấp 25
Chương 2 : Sự chuyển biến về kinh tế của Quận Gò Vấp trong
2.1.Những chuyển biến bước đầu về kinh tế Quận Gò Vấp từ
2.1.1 Nông nghiệp 27 2.1.2 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 29
Trang 41996 – 2010 45
2.2.2 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 47
2.3 Sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế từ 1986 đến 2010. 62
Chương 3 : Tác động của chuyển biến kinh tế đối với tình hình
xã hội Quận Gò Vấp trong thời kì đổi mới (1986 - 2010). 68
3.2 Đời sống người lao động 73
Trang 7Trước hết là các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của ĐảngCộng Sản Việt Nam (từ Đại hội VI - XI), giáo trình lịch sử Việt Nam hiệnđại, các tài liệu viết về lịch sử, xã hội, con người Gò Vấp… Trong đóchúng tôi đặc biệt tập trung khai thác các báo cáo chính trị của BCH QuậnỦy, UBND qua các nhiệm kì từ năm 1986 đến 2010
Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác như cácluận văn thạc sĩ và tiến sĩ, kỉ yếu các hội thảo, sách có liên quan đến đềtài
Tài liệu điền dã: Chúng tôi thực hiện những cuộc trao đổi với cán bộlãnh đạo Quận, Ban Tuyên giáo Quận ủy và quan sát thực tế sự chuyểnbiến kinh tế Quận Gò Vấp trong thời kì đổi mới
4.2 Trên cơ sở tài liệu thu thập được, bằng phương pháp nghiên cứulịch sử và phương pháp logíc chúng tôi cố gắng tái hiện khách quan, chânthực về những chuyển biến kinh tế xã hội của Quận Gò Vấp trong thời kìđổi mới, nhằm giải quyết triệt để những vấn đề mà kháo luận đặt ra
5 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
5.1 Đóng góp của luận văn
Luận văn hệ thống những tư liệu liên quan đến đề tài để cho những
ai quan tâm đến sự chuyển biến về kinh tế xã hội của Quận Gò Vấp tham khảo
Dựa vào nguồn tài liệu phong phú, luận văn đã dựng lại bức tranhtoàn cảnh về kinh tế xã hội của Quận Gò Vấp, làm sáng tỏ sự chuyển biếnkinh tế- xã hội của Quận Gò Vấp trong thời kì 1986 – 2010
Luận văn cung cấp tài liệu để giảng dạy lịch sử địa phương, bồidưỡng chính trị cho cán bộ phường nhất là trong thời kì đổi mới
Trang 85.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở dẫn đến sự chuyển biến kinh tế – xã hội ở Quận Gò Vấp Chương 2: Sự chuyển biến về kinh tế của Quận Gò Vấp trong thời kì đổimới (1986 - 2010)
Chương 3: Tác động của chuyển biến kinh tế đối với tình hình xã hội QuậnGò Vấp trong thời kì đổi mới (1986 - 2010)
Trang 9NỘI DUNG
Chương 1 : CƠ SỞ DẪN ĐẾN SỰ CHUYỂN BIẾN KINH TẾ – XÃ
HỘI Ở QUẬN GÒ VẤP, TP.HCM 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên - xã hội của quận Gò Vấp
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Gò Vấp là một Quận nội thành của Thành Phố Hồ Chí Minh, ở
1406048”15” kinh độ Đông và 105029” vĩ độ Bắc, cách trung tâm Thành PhốHồ Chí Minh 7km đường chim bay Nằm ở phía Bắc thành phố, Bắc giápquận 12, Nam Giáp Tân Bình và Phú Nhuận, phía Đông giáp Quận ThủĐức và Quận Bình Thạnh
Diện tích đất tự nhiên của Quận là 19,74km2 trải dài theo hướngĐông – Tây dài nhất là 7,5km và theo hướng Bắc- Nam rộng nhất là5,9km, Quận Gò Vấp có sông Bến Cát chảy ra sông Sài Gòn với chiều dàilà 12km đây là điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển giao thôngđường thủy, xây dựng công viên cây xanh và khai thác cảnh quan ven sôngphục vụ nghỉ ngơi, giải trí theo tiêu chuẩn môi trường xanh sạch
Địa hình của Gò Vấp tương đối bằng phẳng với độ dốc dưới 1% Nơicao nhất là khu vực ven sân bay Tân Sơn Nhất và thấp nhất là khu vực vensông Bến Cát
Đặc trưng thổ nhưỡng của Quận chủ yếu là đất xám trên nền phù xacổ được chia thành 2 vùng là: Vùng cao và vùng trũng , vùng cao chiếmphần lớn diện tích của Quận, phù hợp với việc xây dựng nhà máy sản xuấtcông nghiệp, vùng trũng đất phèn nằm dọc theo sông Bến Cát thường bịngập bởi triều cường, đây là vùng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Trang 10Gò Vấp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nhiệt độtrung bình trong năm là 280c lượng mưa trung bình là 1779,4mm và tậptrung từ tháng 4 đến tháng 12 Độ ẩm trung bình là 74%, số giờ nắng trongnăm là 2245,9 giờ Hướng gió chủ yếu là hướng Tây Nam và Đông Nam,trong đó hướng Tây Nam chiếm tần suất 68% và hướng Đông Nam với tầnsuất 22%
Về giao thông, Quận có hai tuyến đường chính là Nguyễn kiệm Nguyễn Oanh và Quang Trung với tổng chiều dài 32km và khoảng trên 20con đường nhỏ với tổng chiều dài 100km Trên địa bàn có đường sắt Bắc-Nam chạy qua Hệ thống đường bộ cùng với 4 cây cầu bắc qua sông BếnCát và 2 cây cầu bắc qua đường Sắt Bắc- Nam đã tạo điều kiện thuận lợicho việc đi lại của nhân dân trong Quận Ngoài ra, Gò Vấp còn tiếp giápđường bay phía đông của Sân Bay quốc tế Tân Sơn Nhất
-Tóm lại, vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên nêu trên, Gò Vấp là mộtQuận vùng ven có vị trí chiếm lược của thành phố, có tiềm lực về đất đai,thuận lợi về giao thông Đây là những nhân tố quan trọng về tự nhiên đểQuận khai thác phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội
1.1.2 Điều kiện lịch sử - xã hội
Địa danh Gò Vấp gắn liền với địa bàn và địa danh của vùng đất SàiGòn – Gia Định trước đây cũng như Thành Phố Hồ Chí Minh ngày nay Ngược dòng lịch sử, cách đây 300 năm, vào năm 1689 khi Lễ Thành Hầu,Nguyễn Hữu Cảnh thừa lệch chúa Nguyễn Phúc Chu, kinh lí để xác lậpchủ quyền lãnh thổ nước ta ở vùng đất phía Nam thì vùng đất Gò Vấpngày nay khi đó đã có tên trong sổ bộ thôn, xã thuộc huyện Tân Bình, PhủGia Định
Trang 11Theo “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức thì vào TriềuGia Long năm 1818, vùng đất mang tên Gò Vấp rộng lớn nằm trong địaphận các tổng Bình Trị và tổng Dương Hòa thuộc huyện Bình Dương, năm
1836 khi nhà Nguyễn đo đạc điền thổ và lập địa bạ cho toàn bộ lục tỉnhNam Kì thì Gò Vấp thuộc tổng Bình Trị Hạ, huyện Bình Dương, tỉnh GiaĐịnh
Tỉnh Gia Định vào đầu thế kỷ XX có 4 Quận là Hóc Môn, Thủ Đức,Gò Vấp và Nhà Bè Vào năm 1917 Gò Vấp được chia thành 3 tổng là:Dương Hòa Thượng, Bình Thạnh Hà và Bình Trị Thượng với 37 xã
Từ năm 1940 đến năm 1953 nhiều xã của Gò Vấp được sáp nhập từ
37 xã còn 24 xã (bao gồm vùng đất của Quận Bình Thạnh, Quận PhúNhuận, Quận Tân Bình, Quận 12 và một phần của huyện Hóc Môn, huyệnCủ Chi ngày nay) Cũng vào thời gian này thực dân Pháp lấy xã Tân SơnNhất để xây dựng sân bay Tân Sơn Nhất
Ngày 29/04/1957 Chính quyền Sài Gòn ban hành nghị định 138 –
NV ấn định địa giới hành chính tỉnh Gia Định gồm 6 Quận và 10 tổng, 61xã, tăng thêm 2 Quận là Bình Chánh và Tân Bình, Quận Tân Bình đượclập từ một số xã của Gò Vấp tách ra Thời gian này Quận Gò Vấp có 10xã Sau ngày 30/04/1975 Gò Vấp là một Quận của thành phố Sài Gòn –Gia Định
Tháng 7/ 1976 khi Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa raNghị định đổi tên thành phố Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh, Quận GòVấp trở thành Quận của thành phố Hồ Chí Minh Địa bàn của Quận GòVấp lúc này chỉ còn lại phần đất của 3 xã Hạnh Thông, An Nhơn và ThôngTây Hội được chia thành 17 Phường mang số từ 1 đến 17 Như vậy đến
Trang 12tháng 7/1976, Quận Gò Vấp trở thành một trong những Quận ven củathành phố Hồ Chí Minh với 17 phường
Ngày 26/08/1982 Hội Đồng Bộ Trưởng ra quyết định số 147/ HĐBTđiều chỉnh địa giới hành chính, sáp nhập một số phường thuộc Quận GòVấp từ 17 phường còn 12 phường
Đến 01/2007 thực hiện nghị định số 143/2006 của chính phủ về việcđiều chỉnh địa giới hành chính tách một số phường của Quận có đông dânsố, theo đó thêm 4 phường mới, hiện nay Quận Gò Vấp có 16 phường,mang số 1,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,14,15,16 và 17 [ 21, tr.10]
Những cư dân Việt đầu tiên đến lập nghiệp trên vùng đất Gò Vấptrước đây cũng như ngày nay đều là những người mang dòng máu “con lạccháu hồng” có tinh thần yêu nước, không chịu khuất phục trước cườngquyền, bạo lực, cần cù, chịu khó trong lao động sản xuất trải qua nhiềubiến cố của lịch sử thì dân số của Gò Vấp cũng có những biến động theo
xu hướng tăng lên, đặc biệt trong những năm 1954- 1975
Theo số liệu điều tra dân số, năm 1976 Quận có 156.100 người,năm 1985 có 137.000 người, năm 1995 có 229.300 người, năm 2000 có231.000 người, năm 2005 có 465.000 người, đến năm 2010 tăng lên544.000 người Như vậy từ năm 1976 đến năm 2010 dân số Gò Vấp tăng 4lần, bình quân mỗi năm tăng 10% [ 21, tr 10]
Về trình độ và đời sống văn hóa, trong những năm chiến tranh đờisống tinh thần và trình độ văn hóa của người dân Gò Vấp rất thấp Saungày thống nhất đất nước được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, đờisống tinh thần và trình độ văn hóa của người dân Gò Vấp không ngừng
Trang 13được nâng lên Trong những năm gần đây, Gò Vấp luôn là lá cờ đầu vềcông tác giáo dục của thành phố
Cư dân Gò Vấp trước đây chủ yếu sinh sống bằng các ngành nghềnhư trồng lúa nước, trồng cây thực phẩm, chế biến nông sản và một sốnghề truyền thống Trong những năm chiến tranh, ngoài hoạt động sảnxuất nông nghiệp và nghề truyền thống, cư dân Gò Vấp đã phát triển thêmmột số ngành nghề khác như đi làm công nhân trong những nhà máy, sảnxuất tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, buôn bán nhỏ
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam sống ở Gò Vấp thì ngườikinh chiếm tỉ lệ 98% , người Hoa chiếm hơn 1,8%, còn lại các dân tộc khácchiếm 0,2%
Đời sống tín ngưỡng của người dân Gò Vấp rất phong phú Ngay từbuổi đầu đến dựng làng, lập xóm người dân đã xây dựng miếu để thờ cácbậc tiên hiền có công dẫn dắt và hướng dẫn nhân dân phát triển ngànhnghề Đình Thông Tây Hội là một trong bốn đình làng thuộc loại cổ nhất ởNam Bộ Hiện nay đình còn có 156 cột lớn và đã được nhà nước công nhậnlà di tích lịch sử văn hóa Ngoài ra Gò Vấp còn có 49 chùa, miếu và 4 đìnhphục vụ cho sinh hoạt tâm linh và thờ cúng, tưởng nhớ các vị thần mà nhândân cho là linh hiển, có thể ảnh hưởng đến họa, phước của nhiều người Cónhững miếu nổi tiếng như Miếu Nổi (còn gọi là Phù Châu Miếu) tọa lạctrên cù lao nhỏ của sông Bến Cát (phường 5) do những người thợ nhuộnlập năm 1805, thờ bà Cửu Thiên Huyền Nữ, được coi là bà tổ của nghềnhuộm vãi
Cùng với đình, chùa, ở Gò Vấp còn có 28 nhà thờ để các giáo dâncông giáo và tin lành đến cầu nguyện
Trang 14Có thể khẳng định cộng đồng cư dân sinh sống trên mãnh đất GòVấp trước đây cũng như hiện nay, dù có khác nhau về tín ngưởng haythành phần dân tộc nhưng đều có lòng yêu nước, trọng nhân nghĩa vàthương yêu giúp đỡ lẫn nhau Ngày nay, người dân Gò Vấp đang cùngnhau thực hiện cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa ở khu dân cư”.
1.2 Tình hình kinh tế – xã hội quận Gò Vấp trước năm 1986
Tháng 9 năm 1975 Hội nghị Trung ương lần thứ 24 đã quyết định
“Trong một thời gian nhất định ở Miền Nam còn nhiều thành phần kinh tếlà kinh tếá Quốc doanh xã hội chủ nghĩa, kinh tế tập thể xã hội chủ nghĩa,kinh tế công tư hợp doanh nữa xã hội chủ nghĩa, kinh tế cá thể, kinh tế tưbản tư doanh, cần ra sức sử dụng mọi khả năng lao động, kĩ thuật, tiền vốn,kinh nghiệm quản lí để thúc đẩy mạnh sản xuất”
Nghị Quyết Hội nghị Thành Ủy thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IIIcũng đã xác định “Tình hình thành phố đòi hỏi phải nhanh chóng thực hiệncông tác cải tạo xã hội chủ nghĩa, không cải tạo xã hội chủ nghĩa thì khôngxây dựng được chủ nghĩa xã hội trong thành phố, cải tạo và xây dựngkhắng khít với nhau, không tách rời nhau, kết hợp chặt chẽ với nhau” Căncứ vào Nghị quyết của Thành Ủy và đặc điểm tình hình của Quận, Báocáo chính trị của Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ Quận đã đề ra mục tiêuchung của Đảng bộ là “Xây dựng một Quận công nông nghiệp mà côngnghiệp là chính” để đạt được nhiệm vụ trên, Đảng bộ sẽ tập trung vào bacông tác trọng tâm
- Tập trung lực lượng tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xâydựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa
Trang 15- Bố trí lại lực lượng lao động, tiếp tục giải quyết nạn thất nghiệp,vận động đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới, ổn định và từng bước cảithiện đời sống nhân dân lao động
- Đẩy mạnh công tác tư tưởng văn hóa, khoa học kĩ thuật [ 21, tr 28]
Trên lĩnh vực kinh tế
Về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, tư sản xuất nhỏ phổ biến là
tư nhân , cá thể,bắt đầu công cuộc cải tạo và xây dựng đến cuối năm 1979Quận đã cơ bản hoàn thành bước đầu cải tạo và tổ chức lại sản xuất tậpthể với 11 hợp tác xã sản xuất, 128 tổ hợp sản xuất, 4 cơ sở sản xuất quốcdoanh
Giá trị tổng sản lượng toàn ngành không ngừng được nâng lên năm
1976 đạt 4.220.824 đồng, năm 1977 đạt 21.642.060 đồng (tăng 512% sovới năm 1976)
Bước sang thập niên 80 của thế kỷ XX , trong hoàn cảnh có nhiềukhó khăn về tiền mặt, vốn đầu tư, năng lượng, vật tư, nguyên liệu, songtình hình sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong ba năm (1983
- 1986) có hướng phát triển đi lên, thuận lợi nhất từ tháng 8/1985 trở vềøtrước và ngăn chặn được mức giảm sút của năm 1983 Bước đầu đã cóchuyển biến theo tinh thần đổi mới cơ chế quản lí, phát huy tính chủ độngsáng tạo từ cơ sở ngay từ khâu xây dựng kế hoạch và cân đối 4 nguồn khảnăng từ dưới lên Giữ vững các cơ sở sản xuất cũ, phát triển thêm nhiều cơsở sản xuất mới, tăng cường thêm nhiều trang thiết bị vật chất kĩ thuật , cảitiến quản lí sản xuất nên đã nâng cao năng xuất, chất lượng sản phẩm vàhiệu quả, phát triển và cải tiến quy trình công nghệ, sản xuất thêm nhiều
Trang 16mặt hàng mới, phục vụ tốt hơn cho nông nghiệp, cho xuất khẩu và cho tiêudùng nội địa.
Giá trị tổng sản lượng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp năm 1984tăng 35% (do tác động của hoạt động cung ứng nguyên liệu sợi cho kếhoạch B ngành dệt nên sản lượng vải năm 1976 là 2.4 triệu mét đến năm
1985 đã tăng lên 11,1 triệu mét) Ngành dệt chiếm trên 50% giá trị tổngsản lượng toàn ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, năm 1985 tăng13,6% (đạt 599 triệu đồng) [ 21, tr 57]
Chất lượng sản phẩm làm ra có tiến bộ hơn trước, có 7 mặt hàngđược tặng thưởng huy chương tại các cuộc triển lãm toàn quốc, chính vìvậy mà giá trị sản xuất công nghiệp năm 1976 là 11,66 tỉ đồng đến năm
1985 là 146,97 tỉ đồng Tuy nhiên công xuất máy móc, thiết bị chưa đượcsử dụng hết, nguyên nhân do đại bộ phận là sản xuất gia công cho thànhphố và trung ương nên luôn bị động về giá cả, vật tư, nguyên nhiên liệu
Trong khu vực quốc doanh, hợp doanh và xí nghiệp đời sống : Tuygiá trị sản lượng có tăng lên đáng kể (năm 1985 tăng gấp 4 lần so với năm1983), nâng tỉ trọng từ 5,9% (1983) lên tới 12,7% (1985) trong giá trị tổngsản lượng toàn ngành, nhưng chủ yếu là do mở thêm cơ sở mới (trong 3năm đã phát triển thêm 9 xí nghiệp, nâng tổng số lên 15 xí nghiệp), cònthực tế tốc độ phát triển vẫn còn chậm, một mặt do sự quan tâm đầu tưchưa đúng mức của Quận, mặt khác bản thân từng xí nghiệp chậm xácđịnh phương án sản phẩm, trang thiết bị máy móc và mặt bằng sản xuất cóđược tăng cường, mở rộng nhưng chưa đáng kể (vốn cố định năm 1983 là2.7 triệu đồng, năm 1985 đã tăng lên 4 triệu đồng) Do đó kinh tế quốc
Trang 17doanh chưa thể hiện được vai trò chủ đạo trong sản xuất công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp
Khu vực sản xuất tập thể đã được tổ chức sắp xếp theo 7 ngành kinhtế – kĩ thuật và có nhiều chuyển biến tốt, nhất là khu vực hợp tác xã (trong
3 năm từ 1983 đến 1986 đã đưa 11 tổ sản xuất lên 11 hợp tác xã) nângtổng số hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp lên 25 Các hợp tác xã ngành cơkhí và dệt phát triển mạnh và tương đối ổn định, công tác quản lí định mứctiêu hao năng lượng, vật tư, nguyên liệu có tốt hơn
Trong sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn 1976 – 1979, đã cơ bản đưanông dân từ sản xuất cá thể vào làm ăn tập thể, đã xây dựng được 1 hợptác xã và 16 tập đoàn sản xuất với 4.649 lao động chính và 2.200 lao độngphụ Nổi lên những điển hình tập thể tiên tiến như hợp tác xã phường 6,tập đoàn 1 phường 12, tập đoàn thống nhất phường 15 Có thể nói công táccải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp của Quận đã hoàn thành theođúng kế hoạch
Bước sang giai đoạn 1980 – 1985 trong điều kiện có nhiều khó khănkhách quan như giá vật tư, lương thực tăng, chính sách giá cả thu mua vàđịnh mức lương thực chưa hợp lí, chưa có chính sách phát triển nôngnghiệp ở Quận ven, cộng với thời tiết biến động ảnh hưởng đến sự pháttriển của cây trồng, vật nuôi Nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn được giữvững và phát triển, đã mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi cóhiệu quả kinh tế cao theo quy hoạch xây dựng vành đai thực phẩm củathành phố
Ngành trồng trọt đã từng bước ổn định cơ cấu cây trồng, chuyển dầncác cây có giá trị kinh tế thấp sang thâm canh cây có giá trị kinh tế cao và
Trang 18xuât khẩu (rau cao cấp, hoa kiểng), diện tích gieo trồng không ngừng tănglên Từ 1.966 ha năm 1976 lên 2.726 ha (1985), sản lượng rau đạt 39,57tấn (năm 1985)
Ngành chăn nuôi, tổng đàn heo năm 1985 có 24.405 con, tăng 82%
so với năm 1983 Tổng đàn bò năm 1985 có 2.317 con, không tăng hơnnăm 1983, nhưng đàn bò sửa (gồm bò Nền và bò giống Hà Lan) tăng lênđáng kể trong khu vực gia đình và có chiều hướng phát triển tốt [ 21, tr.59]
Công tác cải tạo đầu tư xây dựng cơ sở vật chất – ứng dụng khoa học
kĩ thuật, cơ bản hoàn thành đăng kí thống kê ruộng đất, thực hiện xóa bóclột, điều chỉnh ruộng (xóa bóc lột 65 hộ, thu hồi 31,3 ha, vận động nhườngcơm xẻ áo, tiếp nhận được 105 ha và đã chia cấp được 89 ha cho hộ thiếuđất và không có đất) Đến cuối năm 1984 cơ bản đã hoàn thành việc đưanông dân vào làm ăn tập thể với hai hình thức, hợp tác xã và tập đoàn sảnxuất Vận động đưa các tập đoàn sản xuất lên 4 hợp tác xã nông nghiệp,nâng tổng số hợp tác xã hiện có là 5
Năm 1985 bước đầu xây dựng được mô hình sản xuất kinh doanhtoàn diện công – nông – thương tín - xuất khẩu ở hợp tác xã An Hội I(Phường 12), từ đó đã tháo gỡ được nhiều khó khăn trong sản xuất, đờisống bà con nông dân được nâng lên
Xây dựng và tu sửa mới 2.200m đường giao thông nội đồng, tu sửahệ thống đê bao với 20.000m3 đất đào đắp, xây lắp đường cống qua đê vàthoát nước nội đồng với 239 ống cống, xây dựng văn phong làm việc, nhàkho , sân phơi, chuồng trại chăn nuôi, trang thiết bị máy móc trong các hợptác xã nông nghiệp với tổng kinh phí trị giá trên 12 triệu đồng Nhờ mạnh
Trang 19dạn ứng dụng khoa học – kĩ thuật mà giá trị sản xuất nông nghiệp tăng lênnhảy vọt từ 25,45 tỉ đồng (1976) lên tới 79,2 tỉ đồng năm (1985)
Về phân phối lưu thông, hệ thống thương nghiệp xã hội chủ nghĩatừng bước được củng cố, tổ chức hoạt động kinh doanh, phục vụ có tiến bộhơn trước Công tác cung ứng hàng xuất khẩu đã góp phần tích cực vàoviệc cung ứng vật tư, nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp trên địa bànQuận… Mặt bằng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa tăng gấp 6 lần so vớinăm 1983 Mạng lưới công ty, cửa hàng, điểm bán phát triển tốt, nổi bậtnhất là khu thương nghiệp Ngã Năm và các cửa hàng thực phẩm tươi sống
Doanh số bán ra năm 1985 là 5 tỉ đồng, tăng gấp 5 lần so với năm
1983, tỉ trọng bán lẻ của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa đã tăng lên 70%năm 1985 Công tác cải tạo thương nghiệp tư doanh có chuyển biến tốt, đãtổ chức sắp xếp lại 5 mặt hàng thiết yếu như gạo, thịt, rau, cá và chất đốt,đưa 91% tiểu thương ở các chợ vào 154 tổ ngành hàng mua chung bánriêng, đã tiến hành hợp tác liên doanh với 67 hộ tiểu thương có tay nghề,vốn liếng
Trong xây dựng cơ bản, tình hình xây dựng cơ bản phát triển khá ởcả 3 khu vực, nhà nước, tập thể và nhân dân Đã mạnh dạn sử dụng vốn tựcó của Quận để đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng và cho kinhdoanh sản xuất Quận đã đầu tư trên 158 triệu đồng cho các công trìnhphúc lợi công cộng, giải tỏa nhà chật hẹp, sửa chữa nơi làm việc (câu lạcbộ hưu trí, nhà truyền thống, đài liệt sĩ, ủy ban nhân dân phường 1, 3; 148căn hộ giải tỏa nhà chật hẹp, xây dựng khoa nhi ở bệnh viện Quận, sữachữa 33.700m2 nhà cơ quan, trung tâm hướng nghiệp Ngã Năm, xây dựng
42 phòng học phổ thông và 1.400m2 nhà trẻ, mẫu giáo….) Các đơn vị
Trang 20thương nghiệp đã đầu tư 108 triệu đồng để mở rộng mặt bằng sản xuấtkinh doanh (cửa hàng trung tâm chợ Xóm Mới, chợ Gò Vấp, cửa hàng vậtliệu xây dựng công ty thương nghiệp hợp tác xã ),cửa hàng kí gửi liên hiệpxã tiểu thủ công nghiệp, mở rộng nhà xưởng sản xuất ở các hợp tác xãThống Nhất, Tấn Phát, Đồng Tâm… Các hộ nhân dân theo hướng dẫn đãxây dựng được 716 căn hộ mới [ 21, tr 60]
Về giao thông vận tải, hệ thống đường giao thông trong Quận từngbước được tu bổ và nâng cấp Các đầu phương tiện như xe vận tải nhẹ, xe
ba gác, xích lô đạp đã được tổ chức thành 6 hợp tác xã và 1 tổ hợp vận tảinhưng việc quản lí giá cả, phương tiện thiếu chặt chẽ, thái độ phục vụ chưatốt
Công tác duy trì bảo dưỡng đường xá có được quan tâm (mở thêmcác tuyến nội đồng trong khu vực nông nghiệp dài 4200m, ban sửa48.000m2 mặt đường),nhưng chưa ngăn chặn được tình trạng xuống cấp ởcác trục lộ chính, công tác nạo vét khai thông hệ thống nước còn chậm,một số khu vực còn ngập nước trong mùa mưa
Tuy nhiên bên cạnh những chuyển biến đó, nền kinh tế Quận GòVấp cũng còn bộc lộ nhiều yếu kém
Tình hình sản xuất còn bộc lộ nhiều yếu kém, phát triển chiều sâucòn chậm, cơ chế và chính sách đòn bẩy kinh tế chưa phù hợp
Nông nghiệp về cơ bản đã hoàn thành việc đưa nông dân vào làmăn tập thể, nhưng tỉ lệ sử dụng đất đai và năng xuất còn thấp, hiệu quảkinh tế đem lại chưa cân xứng với đồng vốn đầu tư
Quy hoạch tổng thể lâu dài chưa ổn định Vốn đầu tư còn nhiều khókhăn chưa tập trung vào một đầu mối
Trang 21Trên lĩnh vực xã hội
Sau ngày đất nước được giải phóng, một trong những nhiệm vụ củaĐảng, nhà nước cũng như các địa phương trong đó có Gò Vấp quan tâmthực hiện đó là công tác văn hóa xã hội
Phong trào văn hóa văn nghệ và thông tin tuyên truyền có bước pháttriển khá Phòng trào vận động xây dựng nếp sống mới, con người mới xãhội chủ nghĩa, con người lao động có lối sống văn minh, giàu tình thươngvà biết tôn trọng lẻ phải tiếp tục chuyển biến trong từng ngành, từng giới,từng cơ quan, xí nghiệp đến từng tổ dân phố và hộ gia đình Trong sản xuấtđề cao ý thức lao động phấn đấu nâng cao năng suất và chất lượng Trongthương nghiệp thái độ phục vụ của mậu dịch viên ngày càng thể hiện “vănminh thương nghiệp” mối quan hệ giữa người với người tại nơi cư trú cóđoàn kết gắn bó hơn
Phong trào văn nghệ quần chúng được duy trì và phát triển với nhiềuthể loại mới sinh động hơn như “sân khấu hóa” các tiết mục tự biên tựdiễn với nội dung phản ánh sinh động các phong trào hành động cáchmạng ở cơ sở Đã thành lập đài truyền thanh Quận, các trạm truyền thanhphường đến các cụm loa phóng thanh khu phố, là phương tiện nhạy béntrong công tác thông tin tuyên truyền Nhiều phường đã xây dựng được câulạc bộ văn hóa góp phần khắc phục dần sự chêch lệch về hướng thụ vănhóa trong các khu dân cư Các hoạt động thư viện, chiếu phim, phát hànhsách có bước phát triển
Công tác giáo dục đã phát triển đúng hướng, các ngành học có bướcphát triển tốt Tỉ lệ thu nhận các cháu trong độ tuổi vào nhà trẻ chiếm
Trang 2235% và mẫu giáo chiếm 70%, chất lượng dạy và học có chuyển biến tốt, tỉlệ học sinh tốt nghiệp phổ thông mỗi năm có tăng lên (năm học 1982-1983là 74%, năm học 1985-1986 là 85%) Phong trào bổ túc văn hóa được duytrì, nổi bật là công tác giáo dục hướng nghiệp ở các trường phổ thông cóđược quan tâm mở rộng và ngày càng có chất lượng Đội ngũ thầy cô giáo,bước đầu đã khắc phục một số khó khăn về đời sống, thể hiện tốt, nhiệttình trong giảng dạy.
Công tác chăm lo sức khỏe cho nhân dân được đẩy mạnh, công tácvệ sinh phòng dịch đã đạt được chỉ tiêu tiêm phòng hàng năm, ngăn chặnvà xử lý kịp thời dịch bệnh, không để lây lan Chất lượng khám và điều trịbệnh ở cả 3 tuyến: trạm xá phường, khu vực và bệnh viện có được nânglên, công tác quản lý các bệnh xã hội như lao, cùi, tâm thần được tậptrung Phong trào 5 dứt điểm có chuyển biến đáng kể, năm 1985 có 7/12phường đạt 5 dứt điểm, tỉ lệ phát triển dân số đã giảm xuống còn 1.45%.Hiệu thuốc quốc doanh đảm bảo được sản xuất, mạng lưới phân phối thuốccó được củng cố và mở rộng, đội ngũ y, bác sĩ, công nhân viên ngành y tếđã khắc phục nhiều khó khăn trong cuộc sống, thể hiện được tinh thần
“thầy thuốc như mẹ hiền”
Hoạt động thể dục thể thao có phát triển khá hơn Bộ môn bóng đá,bóng chuyền, thể dục nhịp điệu, võ thuật… hoạt động khá tốt, đạt đượcmột số thành tích trong thi đấu ở cấp thành phố
Công tác thương binh xã hội, số đối tượng chính sách là 3000 người,phong trào “Toàn Đảng, toàn dân thực hiện chính sách thương binh xã hội”bước đầu đạt được kết quả tốt, các phong trào nhận đỡ đầu thân nhân liệt
sĩ, xây dựng nhà tình nghĩa, giúp đỡ sửa chữa nhà và dụng cụ sinh hoạt gia
Trang 23đình … đã có nhiều tác động tốt, phong trào thi đua phấn đấu trở thànhngười công dân kiểu mẫu và gia đình cách mạng gương mẫu tiếp tục đượcphát huy Thành lập câu lạc bộ hưu trí, nhà truyền thống, xây mới đài liệt
sĩ, đã quy tập 272 mộ liệt sĩ về nghĩa trang liệt sĩ thành phố
Tuy đạt được chuyển biến như vậy, nhưng trong xã hội vẫn tồn tạinhiều hạn chế
Đời sống vật chất còn thấp, số hộ nghèo chiếm tỉ lệ cao
Văn hóa – giáo dục – y tế còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất, trangthiết bị cũ kỉ, lạc hậu nên chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao củađời sống nhân dân Số lao động chưa có việc làm còn nhiều, tỉ lệ tăng dânsố khá cao, cách mạng tư tưởng còn buông lỏng, chưa chăm lo việc xâydựng nếp sống văn hóa mới, con người mới… Cho nên để ổn định tìnhhình, nâng cao đời sống nhân dân, yêu cầu phải có một cơ chế chính sáchmới
Nhìn lại mười năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 1985) trong bối cảnh tình hình kinh tế, xã hội của cả nước gặp nhiều khókhăn do hậu quả của chiến tranh để lại, do duy trì quá lâu cơ chế tập trungquan lưu bao cấp và sự chống phá của các thế lực phản động Nhưng dướisự lãnh đạo của Thành Ủy, Đảng bộ và nhân dân Gò Vấp đã từng bướckhắc phục khó khăn, kiên trì phấn đấu và đạt được những thành tựu hếtsức quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế – xã hội Tuynhiên, những thành tựu này chưa tạo ra sự thay đổi lớn trong đời sống kinhtế, xã hội của Quận, đời sống nhân dân vẫn gặp nhiều khó khăn
Trang 24(1975-Thực tiễn tình hình kinh tế – xã hội của Gò Vấp vào những nămgiữa thập niên tám mươi của thế kỉ XX đòi hỏi phải có sự đổi mới về tưduy kinh tế và cơ chế quản lí mới phát triển được.
1.3 Đường lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam
1.3.1 Bối cảnh lịch sử mới
Qua 10 năm từ 1975 -1985 tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa,nước ta đã đạt được những thành tựu và tiến bộ đáng kể trên các lĩnh vựccủa đời sống xã hội, chúng ta đã hoàn thành việc thống nhất đất nước vềmặt nhà nước, hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương đượcthiết lập, xóa bỏ cơ bản chế độ người bốc lột người và đang cải tạo quanhệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa Song cũng gặp không ít khókhăn, yếu kém đặc biệt là vào đầu những năm 80 đất nước rơi vào tìnhtrạng khủng hoảng trầm trọng toàn diện và sâu sắc đặc biệt trên lĩnh vựckinh tế Sản xuất trì truệ, nạn thiếu lương thực diễn ra triền miên, sản xuấtcông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp mang nặng tính bao cấp của nhànước, tình trạng lạm phát phi mã, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó và đã được Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ VI (12-1986) đánh giá “Trước tiên là những sai lầmtrong chính sách kinh tế, bệnh chủ quan duy ý chí, là lối suy nghĩ và hànhđộng giãn đơn, nóng vội, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lí kinh tế– xã hội đó là những biểu hiện của tư tưởng vừa tả khuynh vừa hữukhuynh Những sai lầm đã gây nên và làm trầm trọng thêm tình trạngkhủng hoảng kinh tế - xã hội, không phát huy đầy đủ tính sáng tạo củaquần chúng, không tạo động lực mạnh mẻ thúc đẩy sự phát triển năngđộng kinh tế – xã hội, những sai lầm đó cùng với sự trì truệ trong công tác
Trang 25tổ chức cán bộ đã kìm hãm lực lượng sản xuất và triệt tiêu động lực pháttriển”
Trong bối cảnh đó thế giới đã có những biến đổi không ngừng, cuộccách mạng khoa học và kĩ thuật đang diễn ra như vũ bảo, tạo thành bướcnhảy vọt của lực lượng sản xuất, trên thế giới nhiều trung tâm kinh tế mớiđược hình thành và không ngừng lớn mạnh Ở khu vực châu Á – Thái BìnhDương cũng đang diễn ra những biến đổi quan trọng, các lực lượng cáchmạng và hòa bình tiếp tục lớn mạnh và nhìn chung xu thế các nước trênthế giới đang mở cửa giao lưu
Để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua khủnghoảng, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên, Đảng và Nhà nước
ta phải tiến hành đổi mới Đổi mới lúc bấy giờ trở thành sống còn với đấtnước ta, đồng thời là vấn đề phù hợp với xu thế chung của thời đại Đại hộiĐảng lần thứ VI (12 - 1986) đi vào lịch sử là Đại hội mở đầu của côngcuộc đổi mới đất nước ở Việt Nam
1.3.2 Đường lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chủ trương Đảng bộ thành phố
Sau ngày đất nước độc lập, thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảngnhân dân cả nước đã phấn khởi bắt tay vào công cuộc kiến thiết và xâydựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh những thànhtựu nhất định, nhìn chung đất nước ta rơi vào “khủng hoảng trầm trọng”vấn đề đặt ra lúc này là muốn đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và đẩymạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải đổi mới
Đổi mới theo quan điểm của Đảng là quá trình giải phóng sức sảnxuất, khởi dậy mọi tiềm năng, động viên và tạo điều kiện cho mọi người
Trang 26Việt Nam phát huy được ý chí tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng và bảovệ tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Quan điểm về sựcần thiết và cấp bách phải đổi mới đã trở thành một xu thế phổ biến trênthế giới lúc bấy giờ và nó đã được khẳng định bằng một thực tế sinh động
ở một đất nước gần chúng ta nhất đó là Trung Quốc Từ nhận thức đó,trước năm 1986 nhiều chỉ thị, Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ươngĐảng đã nêu ra về đổi mới tư duy kinh tế, trong đó có Nghị quyết TW 8(khóa V) khẳng định “Phải dứt khoát xóa bỏ chế độ tập trung quan lưubao cấp, thực hiện đúng chế độ tập trung dân chủ, hoạch toán kinh tế vàkinh doanh xã hội chủ nghĩa thì mới đẩy mạnh được sản xuất kinh doanhcó hiệu quả”
Tháng 12/1986 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề
ra đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế quốc dân nhằm đưa đất nướcthoát khỏi khủng hoảng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đại hội nêu rõ đểthực hiện được “nhiệm vụ bao trùm và mục tiêu tổng quát” của chặngđường đầu tiên, thì trước hết trong kếâ hoạch 5 năm 1986 - 1990 cần thiếtphải tập trung sức người, sức của thực hiện bằng được nhiệm vụ, mục tiêucủa ba chương trình lớn về kinh tế đó là lương thực, thực phẩm, hàng tiêudùng và hàng xuất khẩu [ 23, tr 106]
Những chủ trương đường lối này tiếp tục được hoàn thiện và pháttriển qua các kì Đại hội đại biểu toàn quốc VII, VIII, IX của Đảng CộngSản Việt Nam Chủ trương, đường lối, quan điểm đổi mới của Đảng khôngchỉ dừng lại ở mặt nhận thức mà đã thực sự đi vào cuộc sống, được nhândân cả nước hưởng ứng, đón nhận, đem lại những kết quả to lớn, làm thayđổi bộ mặt kinh tế – xã hội và đời sống nhân dân trên khắp cả nước
Trang 271.3.3 Sự vận dụng của Đảng bộ quận Gò Vấp
Trên tinh thần đó, vào tháng 10/1986 Đại hội đại biểu Đảng bộQuận được triệu tập Căn cứ vào tình hình thực tiển của Quận và nhiệm vụchung của thành phố, Báo cáo chính trị đã đề ra mục tiêu chung của Đảngbộ trong những năm 1986 – 1988 và mức phấn đấu đến năm 1990 là “Phấnđấu ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân lao động, ra sứcđẩy mạnh sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệptrong cơ cấu công – nông nghiệp, tăng cường hoạt động thương nghiệp xãhội chủ nghĩa, dịch vụ và xuất khẩu phục vụ cho sản xuất, tích cực đổi mới
cơ chế quản lí , tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm củng cố mối quanhệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, phấn đấu giải quyết tốt các vấn đề văn hóa– xã hội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội” [ 21, tr 73]
Trên cơ sở mục tiêu chung, Đảng bộ Quận đã cụ thể hóa thànhnhững nhiệm vụ trọng tâm sau
- Tiếp tục ổn định và phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp và nông nghiệp
- Đẩy mạnh hoạt động thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, tập trung sứcổn định thị trường
- Tích cực đổi mới cơ chế quản lí kinh tế
- Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa – xã hội
Trong quá trình thực hiện và triển khai chủ trương, đường lối đổi mới,Quận ủy Gò Vấp luôn bám sát và nhanh chóng nắm bắt những chỉ thị,Nghị quyết TW Đảng, Thành Ủy, kịp thời khắc phục những khó khăn tồntại, nhằm phát huy có hiệu quả nhất quá trình đổi mới của Quận nhà, gópphần cùng nhân dân cả nước đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi khủng hoảng
Trang 28Kết luận chương 1 : Với vị trí chiến lược của thành phố, tiềm năng
về đất đai, giao thông thuận lợi, cùng với những thành tựu đã đạt đượctrong công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, phục hồi sản xuất, xâydựng và phát triển kinh tế Những kết quả đạt được bước đầu sẽ trở thànhmột nhân tố quan trọng giúp Quận Gò Vấp phát triển ở những giai đoạntiếp theo
Trang 29CHƯƠNG 2
SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ CỦA QUẬN GÒ VẤP
TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986 – 2010)2.1 Những chuyển biến bước đầu về kinh tế Quận Gò Vấp từ năm 1986 đến năm 1995.
2.1.1 Nông Nghiệp
Cùng với sản xuất công nghiệp thì sản xuất nông nghiệp cũng đượcQuận chú trọng đầu tư, chuyên canh những cây, con, đưa lại năng xuấtchất lượng cao
Về trồng trọt, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp được giữ vững vàtừng bước được củng cố nâng lên theo mô hình Nông – Công – Thương –Dịch vụ Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp được phát triển trong cáchợp tác xã, góp phần tăng thu nhập cho tập thể Trong 5 hợp tác xã và mộttập đoàn sản xuất, đã thu hút 42,3% số hộ, 26,6% nhân khẩu, 20,4% laođộng trong nông nghiệp và 29% đất canh tác Tiếp tục đầu tư 14,6 triệuđồng cho điện nước trên cánh đồng rau chuyên canh Thu nhập của xãviên, tập đoàn viên được nâng lên (có nơi tương đương 100kggạo/người/tháng)
Về chăn nuôi, tuy Quận ủy có nghị quyết về công tác chăn nuôi,thành lập xí nghiệp chăn nuôi với các trạm, trại heo, gà, xưởng chế biếnthức ăn gia súc, song do giá thịt heo chưa thỏa đáng, người chăn nuôikhông có lãi nên phong trào chăn nuôi giảm, nhất là đàn heo gia đình Đànbò tuy đạt 91% chỉ tiêu nhưng đàn bò cho sửa vượt 20% chỉ tiêu Đàn giacầm phát triển khá Hoạt động nông trường Duyên Hải được quan tâm đầu
tư
Trang 30Bước sang những năm 1989 đến 1991 trong bối cảnh đất nước gặpnhiều khó khăn, đầy biến động nhưng nghị quyết của Đảng bộ Quận đãxác định nhiệm vụ trọng tâm trong sản xuất nông nghiệp là “Tiếp tụcnâng cao chủng loại cây trồng (rau, bông kiểng) và vật nuôi (heo, bò, gà),nhất là phát triển đàn heo và cây bông kiểng vốn là ngành thế mạnh củaQuận, chú trọng khâu sản xuất chế biến để nâng hiệu quả sử dụng nôngsản và phục vụ cho xuất khẩu”
Từ khi thực hiện “khoản 10” chú trọng phát triển kinh tế hộ nôngdân, sản xuất nông nghiệp của Quận có chuyển biết tốt hơn Cây rau vàcây bông kiểng là 2 sản phẩm truyền thống được thâm canh, tăng năngxuất và có thị trường tiêu thụ vững chắc Sản lượng rau các loại và câybông kiểng đều tăng và đang xúc tiến phương án điều kiện xây dựng lànghoa cây kiểng phục vụ cho xuất khẩu và du lịch
Đàn heo và bò sửa, tuy chỉ đạt 51,7% chỉ tiêu Đại hội nhưng đếntháng 11/1991 đàn heo đã dần dần phục hồi Ngành chăn nuôi bò sửa pháttriển mạnh, đứng đầu thành phố về số lượng đàn bò và cung cấp trên 50%sản lượng sửa cho toàn thành phố Với mạng lưới sơ chế sửa cô đặc, gópphần giải quyết đầu ra cho ngành chăn nuôi bò sửa Phần lớn các hợp tácxã và các tập đoàn sản xuất hoạt động cầm chừng, chủ yếu là quản lí đấtđai, đê điều… Các tranh chấp ruộng đất được giải quyết cơ bản
Bước sang giai đoạn 1991 – 1995 diện tích đất nông nghiệp có giảm
do tác động của chương trình phát triển đô thị hóa (từ 697 ha còn 523 ha),nhưng Quận vẫn giữ được vị trí là một vùng cung cấp rau xanh của thànhphố(năm 1991 sản lượng là 25.705 tấn đến năm 1995 đạt 28.500 tấn) [ 14,
tr 2] Quận đã từng bước chuyển mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ,
Trang 31sớm phát triển hộ kinh tế vườn, phát huy vai trò chủ động của hộ nôngdân, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa từ cây rau, cây bông kiểng
Về chăn nuôi , đàn heo đang từng bước trở thành nghề chính củamột bộ phận dân cư Tổng đàn heo tăng bình quân 16,1%/năm Việc chănnuôi bò sửa cũng đã trở thành ngành sản xuất quan trọng trong nôngnghiệp, sản lượng sửa từ 2,9 triệu lít năm 1991 đã tăng lên 4,6 triệu lít năm
1995, các hộ chăn nuôi gà cút, cá kiểng cũng từng bước phát triển
Mặc dù diện tích đất trồng thường xuyên bị thu hẹp Nhưng sản xuấtnông nghiệp của Quận Gò Vấp trong 10 năm qua 1986 -1995, đã phát triểnvới tốc độ cao do thâm canh tăng vụ, ứng dụng khoa học kĩ thuật, giốngcây và nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng của nội thành, nên nếu so với năm
1976 thì đến năm 1994 sản lượng nông nghiệp đã tăng gấp đôi
- Sản lượng rau tăng 4 lần năm 1976
- Sản lượng cải tăng gấp 1,5 lần năm 1976
- Trong đó bò sửa tăng gấp 4 lần so với năm 1985
- Đàn heo tăng gấp 1,83 lần năm 1976 [ 13, tr 78]
Tuy có những bước phát triển nhất định, nhưng kinh tế hợp tác xã củaQuận vẫn chưa chuyển biến kịp theo yêu cầu của cơ chế thị trường Chỉ có
20 – 31% hợp tác xã đã chuyển được nội dung và phương thức quản lí, làmdịch vụ Số còn lại chỉ tồn tại hình thức, kinh tế hộ gia đình chưa đủ điềukiện để đảm bảo sản xuất kinh doanh tự chủ
2.1.2 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới giai đoạn 1986 – 1995,trong bối cảnh có nhiều khó khăn gay gắt đó là cuộc đấu tranh chuyển từ
cơ chế hành chính quan lưu bao cấp sang hoạch toán kinh doanh xã hội chủ
Trang 32nghĩa diễn ra giằng co phức tạp, hoạt động trên lĩnh vực kinh tế luôn nằmtrong tình trạng căng thẳng, cơ chế quản lí còn nhiều gò bó, giá cả khôngngừng tăng lên, điện, vật tư, nguyên liệu đã thiếu lại không ổn định.Nhưng với nổ lực của mình Quận đã từng bước vượt qua khó khăn để đạtđược những kết quả đáng kể, tạo được tiền đề cho bước phát triển trongnhững năm sau
Từ năm 1986 đến 1989 sản xuất công nghiệp quốc doanh khôngngừng tăng lên về quy mô và tỷ trọng.Tài sản cố định tăng từ 22,4 triệuđồng lên 605 triệu đồng Thu hút lao động từ 926 người trên 1.237 người.Các xí nghiệp đã mạnh dạn ứng dụng khoa học kĩ thuật cải tiến quy trìnhcông nghệ, tổ chức quản lí sản xuất tốt hơn, từng bước mở rộng cơ sở vậtchất kĩ thuật và có quan tâm tăng thu nhập cho công nhân Công tác hoạchtoán đúng và đầy đủ, đảm bảo giá thành sản phẩm được thị trường chấpnhận và có lãi, được một số xí nghiệp chú trọng Tỉ lệ tích lũy có tăng hơn(từ 9% đến 9,4%)
Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, khu vực quốc doanh có tốc độphát triển nhanh nhất (58%) Tỉ trọng giá trị sản lượng của khu vực quốcdoanh trong tổng sản lượng toàn ngành tăng 15% lên 21%
Tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh, kinh tế tập thể, được củngcố mở rộng và tăng nhanh chiếm khoảng 75% giá trị tổng sản lượng toànngành Kinh tế cá thể, tư nhân, kinh tế gia đình phát triển chậm (111 cơ sởvới 400 lao động) chủ yếu là dịch vụ và sửa chữa
Ngành cơ khí phát triển khá ổn định (chủ yếu là cơ khí phục vụ nôngnghiệp và chế biến) Tỉ trọng giá trị tổng sản lượng tăng từ 16,8% lên20,5% … Các ngành có tốc độ phát triển bình quân nhanh là cơ khí, điện
Trang 33tử, may, vật liệu xây dựng… Nhờ linh hoạt và chủ động giải quyết vốn,tiền mặt, vật tư, tiêu thụ sản phẩm nên các hợp tác xã của Quận vẫn đứngvững
Từ năm 1989 đến năm 1991 là thời kì đất nước đang gặp rất nhiềukhó khăn nhưng Đảng bộ và nhân dân Quận Gò Vấp vẫn xác định cơ cấukinh tế là “Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp – nông nghiệp – thươngnghiệp và dịch vụ” Trong phát triển sản xuất công nghiệp – tiểu thủ côngnghiệp, Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ Quận khóa V(1989), xác địnhnhiệm vụ trọng tâm trong 2 năm là “Vừa tăng cường và mở rộng xí nghiệpquốc doanh, đồng thời với việc phát triển các thành phần kinh tế ngoàiquốc doanh, quan tâm đầu tư cho các ngành thế mạnh của Quận là : cơ khí,dệt và chế biến thực phẩm, tiếp tục phát triển các ngành tiểu thủ công, mỹnghệ, da giày và may mặc đang có xu hướng phát triển tốt” [ 8, tr 2]
Tuy nhiên sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, không giữđược nhịp độ phát triển của những năm trước, cơ cấu thành phần kinh tếthay đổi lớn, tỉ trọng quốc doanh, hợp doanh và tập thể giảm, trước hết donhiều đơn vị vốn ít, trang bị lạc hậu, trình độ quản lí yếu kém Khu vựcquốc doanh từ 1989 đã phát sinh thua lỗ, ở nhiều đơn vị phải đình chỉ vàthanh lí như xi nghiệp cơ khí, xí nghiệp nước đá, xí nghiệp khai thác chếbiến lâm sản, công ty dịch vụ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, xí nghiệpthuốc lá Nhiều đơn vị hoạt động cầm chừng, hiệu quả thấp Từ năm 1990đến 1991 có thể nói là thời kì tập trung ngăn chặn lỗ, khôi phục sản xuấtkinh doanh Đến tháng 11 năm 1991 một vài đơn vị đã khôi phục được mứccủa những năm trước Một số đơn vị doanh nghiệp (80 và 54) và tập thể đãđược giải thể nhằm trở lại những hình thức tổ chức sản xuất thích hợp, để
Trang 34có điều kiện phát triển tốt hơn Khu vực kinh tế tư nhân có bước phát triểnkhá về quy mô giá trị tổng sản lượng, lao động và vốn liếng.
Ngành dệt may, chế biến nông sản, hóa thực phẩm, sơn mài… cóphát triển Một số ngành khác như cơ khí, hóa nhựa cao su, chế biến thựcphẩm tổng hợp… đang chững lại hoặc giảm sút Trong nhiều chỉ tiêu chủyếu đạt thấp nhưng sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của Quậnđang có những chuyển động tích cực về chất, phù hợp với xu thế phát triểnnền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần
Trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp dần dần xuất hiện các đơn
vị sản xuất mới, với quy mô lớn, tổ chức sản xuất tập trung, trình độ quảnlý cao hơn, trang bị kỹ thuật tiếp cận được trình độ của các nước trong khuvực
Khu vực quốc doanh chưa có khả năng đầu tư đúng mức, nhưng khuvực ngoài quốc doanh lại được đầu tư, đổi mới trang thiết bị công nghệdiễn ra ngày càng nhiều Chất lượng, mẫu mã hàng hóa của các công ty, xínghiệp tư doanh, ngày càng được nâng cao và đa dạng hơn Đã bắt đầuxuất hiện các mặt hàng có sức cạnh tranh trên thị trường, đó chính là nhântố cơ bản góp phần tích cực phục hồi và phát triển sản xuất trong điều kiệnkhó khăn, cạnh tranh gay gắt, tạo tiền đề cho giai đoạn tiếp theo
Bước sang giai đoạn 1991 - 1995, Quận Gò Vấp thực sự đi vào đổimới trên tất cả các lĩnh vưc Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,đạt được mức tăng giá trị tổng sản lượng hàng hóa là 21,01% (tăng gấp2,14 lần so với năm 1991, riêng năm 1995 giá trị tổng sản lượng đạt185,654 tỉ đồng) [ 14, tr 2]
Trang 35Khu vực quốc doanh đã được củng cố, sắp xếp lại, khắc phục đượchậu quả lỗ lãi kéo dài Đến 1- 6- 1993 doanh nghiệp nhà nước chỉ cịn 11đơn vị, giảm hơn 47,8% doanh nghiệp so với năm 1992 Đĩ là các đơn vị đầu
tư đúng hướng, nâng cao chất lượng sản phẩm, bám sát thị trường và thị hiếungười tiêu dùng, cho nên hoạt động cĩ hiệu quả như dệt, da may, nước chấm,nơng thủy sản
Khu vực ngoài quốc doanh đã phát triển nhanh với gần 1500 cơ sở,trong đó có 130 cơ sở hoạt động theo luật công ty doanh nghiệp tư nhân.Các doanh nghiệp đã đầu tư trên 600 tỉ đồng để đổi mới trang thiết bị, cảitiến mẫu mã nhiều sản phẩm đã cạnh tranh được với thị trường trong vàngoài nước như, may mặc, dệt, nước uống tinh khiết, lương thực, thựcphẩm, sản phẩm gỗ mỹ nghệ, điện, điện tử, com posite… Cụ thể là:
Giá trị sản phẩm công nghiêp chủ lực
Đơn vị: Triệu đồng
Máy móc, thiết bị 6.022 5.395 8.305 7.071 7.500
Trang 36- Những hoạt động chủ yếu của tiểu thủ công nghiệp như các ngành:Thêu may, chế biến lương thực, thực phẩm có xu hướng gia tăng và chiếm
tỉ lệ ngày càng cao trong toàn bộ sản xuất công nghiêp, tiểu thủ côngnghiệp Chính điều này đã tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Quận saunăm 1990-1991
- Tốc độ phát triển công nghiêp, tiểu thủ công nghiệp của Quận quacác năm khá đều nhau Riêng thời kì 1991- 1995 ,vượt chỉ tiêu theo kếhoạch trung bình tăng trưởng từ 22,8%- 23,1% Nhiều ngành như may mặc,
cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng, lương thực, thực phẩm, chế biến gỗ,chất lượng sản phẩm đã đáp ứng thị trường trong nước và không thua kémhàng nhập ngoại Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển nhanh chóng nhất làdoanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn và cổ phần
Mặc dù thu được những kết quả khả quan như vậy, nhưng trong giaiđoạn 10 năm 1986 – 1996, sản xuất công nghiệp - tiểu công nghiệp pháttriển chưa thật sự vững chắc, chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh củaQuận, nhìn chung còn mang dáng dấp nền sản xuất nhỏ, việc đổi mới trangthiết bị, công nghệ trong một số khu vực sản xuất còn chậm, sản phẩmtrong các ngành kinh tế kĩ thuật của Quận chưa đạt tỉ trọng cao trong phụcvụ cho xuất khẩu Kinh tế quốc doanh có vốn ít, chưa tạo được sự liên kếthợp tác, hiệu quả kinh doanh còn thấp, đội ngủ cán bộ quản lí chưa theokịp yêu cầu đòi hỏi của cơ chế mới Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển
đa dạng nhưng còn mang tính tự phát, chưa được quản lí tốt Tuy nhiênnhững thiếu sót tồn tại này sẽ được Quận bổ sung khắc phục ở thời kì tiếptheo , thời kì cùng cả nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước
Trang 372.1.3 Thương Mại – Dịch Vụ
Trong thời kì đổi mới , hoạt động thương mại dịch vụ của Quận cónhiều cố gắng và từng bước có sự thay đổi hết sức rõ nét Từng công ty cónăng động xoai xở giải quyết khó khăn về vốn, tiền mặt và nguồn hàngbằng nhiều cách, tăng cường liên doanh liên kết với các địa phương bạnđể khơi nguồn hàng về cho Quận, có chú trọng việc tạo thêm hàng tại địaphương và cung ứng vật tư cho sản xuất, từng bước củng cố, tổ chức mởrộng mạng lưới cửa hàng phục vụ Điều đó tạo điều kiện thuận lợi chongành thương mại dịch vụ của Quận Gò Vấp phát triển
Trung tâm thương mại – dịch vụ Ngã Năm đã làm thay đổi bộ mặtcủa thương nghiệp xã hội chủ nghĩa tại khu đấu mối giao lưu trung tâmQuận Các ngành tài chính, thuế, ngân hàng đều có cải thiện, có nhiều tiếnbộ trong quá trình phục vụ sản xuất kinh doanh góp phần tăng thu ngânsách Trung tâm tín dụng và cửa hàng kinh doanh vàng bạc đã phát huy tácdụng và hỗ trợ vốn, tiền mặt cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, công tác cảitạo quản lí thị trường đã góp phần sắp xếp lại trật tự phân phối lưu thông,đấu tranh ngăn chặn hàng gian, hàng giả
Trong những năm 1989 đến năm 1991 mạng lưới thương mại, dịchvụ có chuyển biến phù hợp với định hướng phát triển Khu vực quốc doanhvà hợp tác xã đã tổ chức lại các công ty cung ứng hàng xuất khẩu thànhliên hiệp sản xuất kinh doanh xuất khẩu có chức năng xuất khẩu trực tiếpvà đã hình thành được một số đơn vị sản xuất, chế biến, từng bước tạochân hàng xuất khẩu tại chỗ và nâng cao kim ngạch xuất nhập khẩu
Quy mô của một số đơn vị tăng nhanh (công ty thương nghiệp tổnghợp, công ty dịch vụ tổng hợp, liên hiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập
Trang 38khẩu) , mạng lưới của nhiều đơn vị có chuyển biến tốt cùng với thươngnghiệp tư nhân đã hình thành được các cụm thương mại dịch vụ lớn, thaydần mạng lưới các quầy hàng, điểm bán rải rác kém hiệu quả trước đây.Hoạt động thương mại – dịch vụ tư nhân phát triển rộng, đa dạng hơn, thuhút nhiều lao động, hình thành một số tụ điểm kinh doanh buôn bán nhộnnhịp nhất là tại các chợ và các trục lộ chính, đồng thời giải quyết tốt yêucầu bán lẻ phục vụ nhân dân
Bước sang giai đoạn 1991 -1995, Ban chấp hành Đảng bộ đề ra chủtrương “Tập trung phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lícủa nhà nước, đẩy mạnh tốc độ đô thị hóa, tăng cường hoạt động xuấtnhập khẩu để phát triển sản xuất hàng hóa, kinh doanh và dịch vụ”
Khối lượng hàng hóa lưu chuyển qua hoạt động kinh doanh hàngnăm đều tăng về giá trị, phong phú về chủng loại, các đơn vị kinh doanhtrên địa bàn đã cung cấp lượng hàng hóa dồi dào, đẩy lùi tình trạng khanhiếm tăng giá giả mạo, hoạt động thương mại – dịch vụ, xuất nhập khẩutrong các doanh nghiệp nhà nước đã được củng cố, bổ sung vốn lưu động.Nguồn hàng và thị trường tiêu thụ đi dần vào ổn định (nếu như năm 1985tổng mức hàng hóa bán ra là 1,60 tỉ đồng thì đến năm 1995 tăng lên 2.900
tỉ đồng, doanh số bán ra tăng bình quân 26,2% năm, kim ngạnh xuất khẩuđạt 76,6% chỉ tiêu Nghị quyết , kim ngạch nhập khẩu đạt 125,3% chỉ tiêuNghị quyết Cơ sở kinh doanh thương mại – dịch vụ đã tăng lên nhanhchóng, nếu như năm 1985 có 1.149 đơn vị, thì đến 1995 đã tăng lên 4.661đơn vị Khu vực thương mại dịch vụ tư nhân tăng nhanh, đến năm 1995 là7.614 người [ 44, tr 30]
Trang 39Thương nghiệp- xuất nhập khẩu
Tổng hàng hóa bàn
1990 đến 1995 ( do vị trí của Quận là cửa ngõ nối liền với thành phố)
- Từ năm 1990 trở đi, tình hình thị trường có bước ổn định, giá cả vật
tư nguyên liệu có chỉ số tăng thấp tạo thuận lợi cho hoạt động thương mạidịch vụ trong và ngoài quốc doanh đều có bước phát triển sôi động vàphong phú, từng bước hội nhập vào thị trường trung tâm thành phố và thịtrường khu vực
- Nhiều khu phố thương mại và chợ đã được đầu tư phát triển: khuphố chợ Tân Sơn Nhất, Khu Thương Mại ngã Sáu Gò Vấp, các khu thươngmại du lịch An Lộc, Hạnh Thông Tây, các chợ trung tâm và chợ khu vực:Gò Vấp, Thông Tây, An Nhơn, Xóm mới, An Hội đã góp phần thúc đẩyhoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn Quận
Mặc dù đã đạt được những chuyển biến bước đầu, đặc biệt là giaiđoạn 1991 - 1995, nhưng hoạt động thương mại – dịch vụ vẫn còn nhữngkhuyết điểm, tồn tại
Trang 40-Thành phần tư nhân, cá thể đi vào kinh doanh thương nghiệp nhiềuhơn sản xuất, các đơn vị thương nghiệp, dịch vụ quốc doanh hiệu quả sửdụng đồng vốn thấp, quay vòng vốn chậm, lãng phí trong việc sử dụng cơsở vật chất, thái độ phục vụ chưa tốt Nhìn chung, thương nghiệp xã hộichủ nghĩa và dịch vụ quốc doanh thua kém các kinh tế cùng ngành nghềnhiều mặt
- Công tác xuất nhập khẩu chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnhcủa Quận, hoạt động xuất khẩu vốn chiếm ưu thế song chưa có nguồnhàng, mặt hàng xuất khẩu ổn định, chưa huy động được nhiều kiều hối,chưa gắn với sản xuất và ngược lại giá trị kim ngạch xuất khẩu thấp
2.1.4 Xây dựng cơ bản.
Tốc độ phát triển đô thị hóa của Quận phát triển khá nhanh chóng.Nếu như trong thời gian từ 1975 đến 1988 Quận tập trung vào việc khắcphục hậu quả chiến tranh, khôi phục và tổ chức cuộc sống mới Đến 1995các cơ sở hạ tầng tăng dần hàng năm theo khả năng của kế hoạch ngânsách nhà nước mà ưu tiên là các công trình phục vụ sản xuất công nghiệp,nông nghiệp và văn hóa xã hội
Từ 1986 – 1989 các công trình xây dựng cơ bản như nhà ở và cáccông trình công cộng đều có tính đến yêu cầu và hiệu quả chặt chẻ hơn.Vốn đầu tư xây dựng có tập trung, có trọng điểm, đúng hướng Bằng vốntự có, các đơn vị đã tiến hành mở rộng và xây dựng mới nhiều công trìnhphúc lợi và cơ sở sản xuất, phục vụ sản xuất kinh doanh Các cơ sở tập thểđã đầu tư vốn để xây dựng mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh (Sài gòn ôtô, Sài gòn điện tử,May phương đông, nhà xưởng hợp tác xã cơ khí ĐồngTâm, may mặc Tân Lập Thành và nhiều cơ sở khác)