Bên cạnh đó, ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp của huyện đã khắcphục để vợt qua khó khăn và bớc đầu phát triển, nhất là các ngành nghề tiểu thủcông nghiệp trong nông nghiệp.Nhng nhìn c
Trang 1Trờng đại học Vinh
Khoa lịch sử
-@ -Nguyễn thị tuyếtKhoá luận tốt nghiệp đại học
Kinh tế tĩnh gia trong thời kì đổi mới
(1986 - 2005)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Vinh, 2005
Trang 2Tran g
b Nội dung
Chơng 1 Khái quát kinh tế Tĩnh Gia trớc thời kì đổi mới (1975-1985)
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên-xã hội
777
Chơng 2 Kinh tế Tĩnh Gia trong 10 năm đầu đổi mới (1986-1995)
2.1 Chủ trơng, đờng lối phát triển kinh tế của Đảng bộ, chính quyền
huyện Tĩnh Gia
2727
2.2 Kinh tế Tĩnh Gia trong 10 năm đầu đổi mới (1986-1995)
2.2.1 Nông nghiệp
2929
2.2.3 Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ-thơng mại 37
Chơng 3 kinh tế Tĩnh Gia trong thời kì công nghiệp hóa- hiện đại hóa
(1996-2005)
3.1 Chủ trơng phát triển kinh tế của Đảng bộ, chính quyền Tĩnh Gia
43
433.2 kinh tế Tĩnh gia trong thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa (1996-
2005)
3.2.1 Nông nghiệp
46
46
3.2.3 Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, thơng mại-dịch vụ 53
Trang 3viện huyện Tĩnh Gia, Th viện Trờng Đại học Vinh,… đã giúp tôi tiếp cận và su tầm, xác minh t liệu, phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học.
Đặc biệt, xin đợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến ThS Trần Vũ Tài đã nhiệt tình hớng dẫn đề tài khoa học, giúp đỡ, động viện bản thân tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này Tuy nhiên, chắc rằng khoá luận
sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đợc sự hậu thuẫn từ HĐKH, tập thể CBGD Khoa Lịch sử Đại học Vinh
Nhân dịp này, tôi cũng xin trân trọng cảm ơn BCN, CBGD Khoa Lịch sử
Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, tu dỡng tại Khoa và Nhà trờng
Tác giả
A Mở đầu
1 lý do chọn đề tài.
Trong 10 năm 1976 - 1985, nớc ta bớc đầu đi lên chủ nghĩa xã hội và đạt
đợc những thành tựu cơ bản Tuy nhiên, giữa những năm 80, đất nớc lâm vàotình trạng khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực về kinh tế
Trang 4Thanh Hoá nói chung, huyện Tĩnh Gia nói riêng cũng không nằm ngoài phạm
vi đó
Để tìm giải pháp thoát khỏi khủng hoảng, Việt Nam đã tiến hành Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI (12-1986) Đại hội là mốc quan trọng đánh dấu thờikì đổi mới toàn diện, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm Từ việc tổngkết, đánh giá, rút bài học kinh nghiệm trong 10 năm 1976 - 1985, Đảng ta đề ranhững giải pháp nhằm đa nền kinh tế đất nớc tiến lên
Dới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Tĩnh Gia đã tiếp thu đờng lối đổimới của Trung ơng Đảng, Tỉnh uỷ Thanh Hoá, bắt tay thực hiện sự nghiệp đổimới quê hơng Trong quá trình thực hiện, Tĩnh Gia đã và đang thu đợc nhữngthành tựu đáng khích lệ Đặc biệt năm 2001, huyện đợc công nhận là “đô thịloại mới” với hệ thống khu công nghiệp có quy mô Các nhà máy xi măng NghiSơn, cảng nớc sâu Hải Hà, cảng cá Lạch Bạng, khu du lịch biển Hải Hoà đợc
đầu t vốn và khoa học công nghệ Hiện nay, huyện đang từng bớc xây dựng khucông nghiệp Nam Thanh-Bắc Nghệ…
Nghiên cứu sự nghiệp đổi mới về kinh tế ở Tĩnh Gia không chỉ có ý nghĩa
về mặt khoa học, góp phần làm sáng rõ lý luận về đờng lối đổi mới kinh tế ở
n-ớc ta, mà còn có giá trị về thực tiễn ở chỗ: tổng kết, đánh giá những thành tựu,hạn chế, bài học kinh nghiệm trong tiến trình đổi mới ở một huyện cụ thể
Tiến hành su tầm t liệu, tổng kết nền kinh tế Tĩnh Gia trong thời kì đổimới là điều cần thiết, có ý nghĩa bổ sung nguồn tài liệu về lịch sử địa phơng
Từ những lý do trên, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần của mìnhvào sự nghiệp đổi mới của quê hơng thông qua đề tài khoá luận: “Kinh tế TĩnhGia trong thời kì đổi mới (1986-2005)”
2 Lịch sử vấn đề.
Trong 20 năm đổi mới (1986-2005) của nớc ta, những thành tựu về kinh
tế đã tác động đến tình hình văn hoá - xã hội, quốc phòng - an ninh, Vì vậy,
Trang 5nghiên cứu quá trình đổi mới ở Việt Nam đã và đang thu hút nhiều nhà khoahọc trong và ngoài nớc quan tâm.
ở phạm vi địa phơng, đây là một vấn đề còn mới mẻ, bớc đầu đợc đề cập
đến trong một số tài liệu nh:
- Các cuốn “Lịch sử Đảng bộ Thanh Hoá - 70 năm chặng đờng lịch sử vẻvang (1930-2000)”, “Lịch sử Đảng bộ Thanh Hoá”,… có trình bày khái quát vềcông cuộc đổi mới ở Thanh Hoá ở góc độ chung
- Đặc biệt là vào tháng 11/2004, cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Tĩnh Gia(1930-2000)” do Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tĩnh Gia biên soạn đợc công
bố và lu hành Cuốn sách này đã ít nhiều đề cập đến thời kỳ thực hiện đổi mớinền kinh tế Tĩnh Gia, cha thực sự đi sâu về nội dung cơ bản của thời kỳ đổi mới
- Các báo cáo, Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ Tĩnh Gia từ khoáXVIII đến khoá XXII, các báo cáo của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
đã tổng kết sơ lợc những thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới qua từngnăm, từng nhiệm kỳ
Nhìn chung, các tác phẩm nghiên cứu về thời kỳ đổi mới ở Tĩnh Gia dớinhiều khía cạnh, góc độ khác nhau nhng còn mang tính chất khái quát Trên cơ
sở kế thừa những nội dung các công trình nghiên cứu, đồng thời dựa vào cácnguồn tài liệu su tầm, chúng tôi tiến hành tìm hiểu một cách khách quan, cụ thể
về những thành tựu và hạn chế của thời kì đổi mới kinh tế ở Tĩnh Gia từ năm
1986 - 2005
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tợng nghiên cứu.
Từ việc xác định những thuận lợi, khó khăn về tự nhiên-xã hội, đối tợngnghiên cứu chủ yếu của đề tài là tập trung chỉ rõ những thành tựu, hạn chế, bàihọc kinh nghiệm,… về kinh tế của Tĩnh Gia trên các mặt nh: nông-lâm-ngnghiệp, công nghiệp-xây dựng, thơng mại-dịch vụ trong thời kì đổi mới
Trang 63.2 Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu về kinh tế Tĩnh Gia trong khoảng thời gian từ 1986 đến
2005 Tuy nhiên, để thấy đợc sự phát triển kinh tế, đề tài còn tìm hiểu thựctrạng kinh tế Tĩnh Gia từ 1975 đến 1985
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
4.1 Nguồn tài liệu.
Với đề tài “Kinh tế Tĩnh Gia trong thời kì đổi mới 1986 - 2005”, chúngtôi tập hợp các nguồn t liệu sau:
- T liệu thành văn gồm có t liệu gốc: đó là các báo cáo của Đảng bộhuyện, các Nghị quyết… đợc lu ở Kho lu trữ, Ban Tuyên giáo, Uỷ ban nhân dân,Phòng Thống kê huyện Tĩnh Gia
- T liệu điền dã gồm: những hồi kí của các đồng chí lãnh đạo qua các thờikì, phỏng vấn cán bộ, ghi chép cụ thể phơng hớng chỉ đạo, quan điểm đổi mớikinh tế của lãnh đạo huyện
Ngoài ra còn có các tài liệu tham khảo khác nh sách, báo, tạp chí viết về
đổi mới nói chung, Tĩnh Gia nói riêng
5 Đóng góp của khoá luận
Nghiên cứu thời kì đổi mới về kinh tế ở huyện Tĩnh Gia, khoá luận tập hệthống t liệu, khôi phục bức tranh toàn cảnh về kinh tế Tĩnh Gia từ 1986 đến
2005 Từ đó so sánh nền kinh tế trớc năm 1986 để thấy đợc thành tựu vợt bậc,hạn chế nhất định mà kinh tế Tĩnh Gia đạt đợc trên các mặt: nông-lâm-ng, công
Trang 7nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, thơng mại-dịch vụ; Từ việc rút ra bài học kinhnghiệm, đề tài khoa học đề ra giải pháp phát triển kinh tế trong thời gian tới.
6 Bố cục của khoá luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của
đề tài gồm 3 chơng:
Chơng 1 Vài nét về kinh tế Tĩnh Gia trớc thời kỳ đổi mới (1975-1985) Chơng 2 Kinh tế Tĩnh Gia trong 10 năm đầu đổi mới (1986-1995) Chơng 3 Kinh tế Tĩnh Gia trong thời kỳ công nghiệp hoá-hiện đại hoá (1996-2005).
B Nội dung Chơng 1
Vài nét về kinh tế Tĩnh Gia trớc thời kì đổi mới
(1975-1985) 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên-xã hội.
1.1.1 Điều kiện tự nhiên.
Huyện Tĩnh Gia nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Thanh Hoá, phía Bắcgiáp huyện Quảng Xơng (ranh giới là sông Ghép) phía Tây giáp huyện NhXuân, Nông Cống (ranh giới là sông Thị Long) phía Nam giáp huyện Quỳnh L-u-Nghệ An (ranh giới là khe Nớc Lạnh) phía Đông là biển Đông
Trang 8Diện tích đất tự nhiên của huyện là 43.8172 ha trong đó đất nông nghiệp10.796,4 ha, đất lâm nghiệp là 10.111 ha, chuyên dùng 3.315 ha, đất ở là939,17 ha, đất cha sử dụng là 18.476,8 ha [22, 402] Núi đồi Tĩnh Gia phần lớn
là đồi núi trọc và một phần rừng tái sinh Núi cao nhất là Các Sơn có độ cao 580m
Tĩnh Gia là một huyện có tổng diện tích đồi núi lớn nhất so với cáchuyện đồng bằng của tỉnh Thanh Hóa Núi đồi tập trung về phía Tây và phíaNam huyện Đó là điều kiện tốt để Tĩnh Gia phát triển trồng rừng và sản xuấtlâm sản Đồng ruộng tập trung ở vùng ven sông, ven biển và một phần ở vùnggiữa Tầng đất chủ yếu là đất sám sáng, thoát nớc tốt, hấp thụ nhiệt nhanh dễtiêu nớc nên thờng xuyên xẩy ra tình trạng thiếu nớc Một phần diện tích đấtchua mặn, bạc mầu hoặc một số nơi còn bị ngập úng
Nằm ở cực Nam của tỉnh Thanh Hóa, khí hậu của Tĩnh Gia một mặtmang nét đặc trng của tỉnh là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với mùa đông lạnh,
ít ma, có sơng giá, sơng muối mùa hè nóng, ma nhiều và có gió tây khô nóng
Đồng thời có những nét riêng đó là: Mùa hè nóng do ảnh hởng của gió tây khônóng, mỗi năm có từ 13 – 14 đợt, tập trung vào tháng 7, tháng 8 hằng năm và
có gió vào tháng 10, tháng 11 đạt 2,2 m/s cho nên ở vùng này cũng bị ảnh hởngrất lớn của bảo, bình quân mỗi năm có một trận bão lớn Tĩnh Gia là một địaphơng ven biển nên có thêm gió biển và gió đất Bờ biển tính từ cửa biển LạchGhép (thuộc xã Hải Châu) đến mũi Đông Hồi (thuộc xã Hải hà) có chiều dàihơn 40 Km Vùng biển Tĩnh Gia có hai đảo lớn là Nghi Sơn và Hòn Mê và mộtchuỗi đảo kéo dài về phía Nam
Bờ biển Tĩnh Gia bằng phẳng, có ba cửa lạch lớn: Lạch Ghép, Lạch Bạng,Lạch Hà Nẫm Biển ở đây thuộc vùng biển nông của vịnh Bắc Bộ, nớc có độmặn vừa phải, theo mùa nớc có nhiều loại tôm cá ra vào cửa sông sinh sản và ănphù du sinh vật Đây là ng trờng khai thác hải sản nhiều tiềm năng
Trang 9ở Tĩnh Gia là một trong những vùng “biển bạc” của khu vực Bắc Trung
Bộ trong đó có nhiều loại hải sản quý hiếm: Cá Thu, Cá Chim, Cá Ng, Tôm He,Tôm Hùm, Mực,… Hàng năm, c dân đánh bắt bằng phơng tiện thủ công đã thu
đợc một khối lợng lớn nguồn hải sản Nổi bật nhất là bãi tôm vùng Lạch Bạnggồm các loại: Tôm Hùm, Tôm He, Tôm Sắt Đặc biệt, khu Đảo Mê - Biện Sơn,
có Tôm Hùm giá trị cao, trữ lợng lớn Đó là một trong những nguồn lợi vùngbiển của huyện Tĩnh Gia có ba hệ thống sông ngòi chính: sông Yên, sông LạchBạng, sông Hà Nẫm
Bên cạnh đó Tĩnh Gia có một hệ thống sông đào đợc khởi công từ thờiTiền Lê Hệ thống này có chiều dài gần 40 Km, bắt nguồn từ hai xã ThanhThủy và Hải Châu Đoạn sông đào từ phía Nam sông Ghép đến cửa Lạch Bạnggọi là Kênh Than (Kênh Trầm, Kênh Hào) Đoạn từ cửa Nam Lạch Bạng ở địaphận xã Hải Bình, Trúc Lâm đến xã Trờng Lâm giáp Nghệ An gọi là Kênh BàHòa Đó là một tuyến giao thông thủy nội địa quan trọng, đồng thời là một hệthống tới tiêu chủ yếu của huyện Tĩnh Gia
Tĩnh Gia là một huyện ven biển nhng núi rừng chiếm gần 1/4 diện tích tựnhiên Núi rừng Tĩnh Gia chủ yếu là núi đá vôi và đá sa thạch Từ Bắc tới NamTĩnh Gia có các núi: núi Nga, núi Bợm, núi Chùa Hang, núi Văn Trai, dẵy núiCác Sơn, núi Thổi, núi Do Xuyên, dẵy núi đá Tây Nam Tĩnh Gia
Tĩnh Gia ngoài mỏ kẽm ở Quan Sơn (xã Tân Trờng) còn có các nguyênliệu để sản xuất xây dựng nh: Sét trắng cát kết chịu lửa ở vùng Núi Bợm, đất sétlàm gạch ngói ở Trờng Lâm, Tân Trờng, dọc bờ biển Tĩnh Gia có cát thủy tinh
có trữ lợng lớn hàng chục triệu tấn Đặc biệt đá vôi làm xi măng ở phía NamTĩnh Gia có trữ lợng trên 100 triệu tấn (phía địa phận Hoàng Mai – Nghệ An
có trữ lợng 350 triệu tấn) Trên đất Tĩnh Gia có hai tuyến đờng giao thông quantrọng đó là quốc lộ 1A và đờng sắt Bắc Nam
Trang 10Quốc lộ 1A là con đờng huyết mạch nối liền các miền trong nớc đi quahết chiều dài của huyện từ xã Hải Châu đến xã Trờng Lâm dài 32 km Đờng sắtBắc Nam bắt đầu từ xã Cát Sơn và Anh Sơn đến xã Trờng Lâm dài 20 km.Ngoài ra, ở Tĩnh Gia còn có đờng chiến lợc 2B từ xã Tân Dân nối liền với đờng15A dài 29 km và tỉnh lộ 4 từ cầu Hổ đến Nghi Sơn, đờng 7 liên huyện từ chợKho (Hải Ninh) đến chợ Chào (Thanh Sơn) Đó là những tuyến đờng giao thôngchủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hộicủa huyện Tĩnh Gia.
Với điều kiện tự nhiên nh vậy, Tĩnh Gia có điều kiện phát huy thế mạnhcủa huyện, thúc đẩy phát triển một cách đa dạng các ngành kinh tế nh nôngnghiệp, lâm nghiệp, ng nghiệp, thơng nghiệp – mậu dịch Hiện nay với chủ tr-
ơng chính sách phù hợp với từng địa phơng của Đảng và Nhà nớc, Tĩnh Gia
đang ngày càng khởi sắc, thay da đổi thịt, góp phần quan trọng thực hiện sựcông nghiệp hóa – hiện đại hóa của quê hơng, đất nớc
1.1.2 Điều kiện xã hội.
Cũng nh bao miền quê khác của quê hơng Thanh Hóa Tĩnh Gia trải quahàng ngàn năm lịch sử nên cũng có nhiều thay đổi về tên gọi và địa giới thờithuộc Hán, Tĩnh Gia thuộc phần đất phía Đông Nam huyện Củ Phong của quậnCửu Chân Đây là vùng đất ở vào vùng “phá sông Voi” nơi diễn ra những trận
đấu anh dũng cuối cùng của những nghĩa quân ngời Thanh Hóa hởng ứng cuộckhởi nghĩa Hai Bà Trng vào năm 40 - 43 chống lại quân Nam Hán do Mã Việnchỉ huy Đến thời Tam Quốc, Tĩnh Gia là vùng đất thuộc huyện Thờng Lạc, đếnthời Tùy Đờng là huyện An Thuận
Sau khi nớc ta dành đợc độc lập tự chủ từ thế kỉ X trải qua các thời Ngô,
Đinh, Tiền Lê, Lý, địa danh này không thay đổi Đến thời Trần, Hồ (thế kỉ XIII,
Trang 11XIV đầu XV) Tĩnh Gia là huyện Cổ Chiếu “thời thuộc Minh đổi tên là Cổ Bình,lại gọi là huyện Kết Thuế, thuộc châu Cửu Chân lệ vào phủ Thanh Hóa NămQuang Thuận thứ 10 (1469) đời vua Lê Thánh Tông mới đặt tên là huyện NgọcSơn do Phủ Tỉnh Ninh kiêm lí” [14, 5].
Tên Ngọc Sơn có từ đây và tồn tại đến thế kỉ XIX Thời gian này huyệnNgọc Sơn có 54 xã, một trang, một trại và 5 phờng Từ đó đến đầu thời Nguyễnvẫn giữ tên là huyện Ngọc Sơn Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) cùng với việc
đặt đổi tên một số huyện nh Thụy Nguyên thành Thiệu Hóa, Lôi Dơngthành Thọ Xuân thì Ngọc Sơn gọi là phủ Tĩnh Gia Sau Cách mạng Tháng Tám(1945) phủ Tĩnh Gia trở thành huyện Tĩnh Gia
Từ đó đến trớc năm 1964 diện tích và cơng vực của Tĩnh Gia không thay
đổi Tháng 12/1964 thực hiện Nghị quyết số 117/CP của Hội đồng Chính Phủ, 7xã là: Trờng Minh, Trờng Trung, Trờng Giang, Trờng Sơn, Tợng Văn, TợngLĩnh, Tợng Sơn của huyện Tĩnh Gia sát nhập vào huyện Nông Cống
Ngày 15/03/1965, thực hiện Quyết định số 99/NV của Bộ Nội Vụ, huyệnTĩnh Gia thành lập một xã mới là xã Tân Trờng Ngày 15/03/1973, Thủ tớng kýQuyết định số 20/TTg cho phép Tĩnh Gia thành lập một xã mới là xã Phú Lâm.Ngày 29/08/1980, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 278/CP chia xã Thanh
Kỳ thuộc huyện Nh Xuân thành hai xã là Thanh Kỳ và Phú Sơn, Phú Sơn sátnhập vào huyện Tĩnh Gia Ngày 14/02/1984, Hội đồng Bộ trởng có Quyết định163/HĐBT chia xã Hải Thợng thành 3 xã là Hải Thợng, Nghi Sơn, Hải Hà vàthành lập thị trấn huyện Tĩnh Gia
Đến nay huyện Tĩnh Gia bao gồm 33 xã, 1 thị trấn Thị trấn Tĩnh Gia(phố Còng) có các xã vùng biển là: Hải Châu, Hải Ninh, Hải An, Tân Dân, HảiLĩnh, Ninh Hải, Hải Hòa, Bình Minh, Hải Thanh, Hải Bình, Tỉnh Hải, Hải Yến,Hải Thợng, Hải Hà, Nghi Sơn Các xã không thuộc vùng biển là: Thanh Sơn,Thanh Thủy, Anh Sơn, Hùng Sơn, Các Sơn, Định Hải, Hải Nhân, Nguyên Bình,Xuân Lâm, Tùng Lâm, Trúc Lâm, Mai Lâm, các xã đợc xác nhận là xã miền
Trang 12núi nh: Phú Sơn, Phú Lâm, Tân Trờng, Trờng Lâm Cùng với sự phát triển củalịch sử dân tộc, lịch sử huyện Tĩnh Gia đã có nhiều tên gọi khác nhau theo từngthời kỳ Cho đến hiện nay Tĩnh Gia nhìn chung đã đợc hoàn thiện thống nhất vềcơ cấu xã, thôn, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân Tĩnh Gia đẩy mạnh hơn nữa
sự nghiệp đổi mới, thực hiện công nghiệp – hiện đại hóa nông thôn, xây dựngquê hơng Tĩnh Gia giầu mạnh
Với vị trí thuận lợi trên quốc lộ 1A, đờng sắt, đờng biển, Tĩnh Gia là mộthuyện giao nhau giữa tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An nên trang lịch sử đấu tranhchống giặc ngoại xâm từ thời Bắc thuộc, mà đặc biệt là trong hai cuộc khángchiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nớc, nhân dân Tĩnh Gia đã sớm hun đúc mộttruyền thống cách mạng yêu nớc Ngời dân Tĩnh Gia luôn thể hiện sự cần cùsáng tạo trong lao động trong sản xuất để xây dựng quê hơng trở thành mộtvùng tiêu biểu của “xứ Thanh”
Vùng Phá Voi (Bắc và Nam sông Yên, nay thuộc hai huyện Quảng Xơng,Tĩnh Gia) vào những năm 40 của thế kỉ I, dới thời hai Bà Trng nơi đây đã diễn
ra những trận chiến đấu cuối cùng của nghĩa quân Đô Dơng – Chu Bá chốnglại cuộc đàn áp của Mã Viện Trong gần 10 thế kỉ trớc khi đất nớc ta dànhquyền độc lập tự chủ, trên vùng đất phía Nam của Cửu Chân hay Châu ái, ngờidân vùng đất này đã đóng góp công sức cùng cả quận, châu, chống lại ách đô
hộ đồng hóa của phơng Bắc, cùng dân tộc đấu tranh để bão lu nền văn hóa dântộc, giành độc lập vào thế kỉ X (938) Ngô Chân Lu đợc tôn làm “Khuông Việt
Đại S” thời vua Đinh và vua Lê Đại Hành, là nhân vật tiêu biểu của Tĩnh Gia vàThanh Hóa trong thời kỳ lịch sử này
Thế kỉ XVI, XVII đất và ngời Ngọc Sơn - Tĩnh Gia đã sản sinh ra mộtnhân vật kiệt xuất đó là Đào Duy Từ (1572 - 1634) quê ở làng Hoa Trai (nay làxã Nguyên Bình) Với trí lớn tài cao, Đào Duy Từ đã đợc Chúa Nguyễn PhúcNguyên trọng dụng Trong 8 năm (1627 - 1634) phò giúp Chúa Nguyễn, Đào
Trang 13Duy Từ đã cống hiến nhiều công lao trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, vănhóa Những dấu tích của lũy Trờng Dục (Lũy Thầy) ở tỉnh Quảng Bình, cùngcác tác phẩm “Hổ Trớng Khu Cơ”, “Ngọa Long Cơng Vản”, “T Dung Văn”…
và các điệu múa lời ca còn lu truyền lại đã khẳng định và đa Đào Duy Từ trởthành một danh nhân nổi tiếng của Thanh Hóa và cả nớc Trong thời kỳ này còn
có Nguyễn Hữu Tiến quê ở Tĩnh Gia là con rể của Đào Duy Từ và là một vịtứng tài ba của Chúa Nguyễn
Cuối năm 1788 đầu năm 1789 cả vùng Tĩnh Gia lại sôi động nhộn nhịp
đón đoàn quân Tây Sơn do Quang Trung – Nguyễn Huệ chỉ huy rầm rộ tiến raBắc tiêu diệt Quân Thanh xâm lợc Vùng Biện Sơn – Do Xuyên trở thành nơitập kết của đại quân thủy Tây Sơn nhân dân Tĩnh Gia tự hào về những đónggóp nhân tài vật lực vào chiến thắng Kỷ Dậu (1789) của Quang Trung –Nguyễn Huệ đập tan 20 vạn Quân Thanh xâm lợc Trên vùng đất Tĩnh Giangoài Ngô Chân Lu, Đào Duy Từ còn xuất hiện nhiều ngời học rộng tài cao làmrạng danh cho quê hơng Tinh hoa văn hóa – truyền thống yêu quê hơng củangời Tĩnh Gia lại bùng sáng vào thế kỉ XIX khi đất nớc ta bị thực dân Pháp xâmlợc Hởng ứng chiếu Cần vơng của vua Hàm Nghi, vào những năm 1885 –
1886 nhân dân Tĩnh Gia đã tích cực tham ra vào phong trào chống Pháp do TúPhơng (Nguyễn Phơng) lãnh đạo Nhng rồi phong trào bị thất bại, đất nớc rơivào ách nô lệ thực dân, cũng nh nhân dân cả nớc, trong tỉnh, nhân dân Tĩnh Giaphải sống trong cảnh “nớc mất nhà tan”
Sau khi ổn định bộ máy cai trị, thực dân Pháp tiến hành khai thác bóc lộtnhân dân ta Ngời dân Tĩnh Gia – Thanh Hóa nói riêng cũng nh nhân dân cả n-
ớc nói chung ngoài vòng áp bức phong kiến vốn đã đè nặng lại bị tầng lớp ápbức của t bản thực dân Pháp Từ khi đợc giác ngộ t tởng cách mạng, qua nhậnthức về chủ nghĩa Mác – Lênin và ngời tìm ra con đờng cứu nớc đúng đắn làNguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh, qua những nhà hoạt đông cách mạng nh
Trang 14Đinh Chơng Dơng, Lê Hữu Lập, Lê Tất Đắc, Ngô Đức Mậu thì phong trào đấutranh chống thực dân Pháp của nhân dân Thanh Hóa nói chung và nhân dânTĩnh Gia nói riêng ngày càng phát triển về số lợng và chất lợng Từ thực tiễncủa phong trào cách mạng đó những cán bộ lãnh đạo của Đảng Cộng Sản ViệtNam quyết định xây dựng một số cơ sở Đảng ở Tĩnh Gia, Quảng Xơng, ĐôngSơn, Vĩnh Lộc… “Ngày 06/12/1930, Hội nghị thành lập Chi bộ Đảng Cộng sảnViệt Nam huyện Tĩnh Gia (lúc này là phủ Tĩnh Gia) đợc tiến hành tại nhà đồngchí Nguyễn Văn Giảng thuộc làng Hồ Thợng (nay thuộc xã Tân Dân huyệnTĩnh Gia )” [14, 47].
Từ khi có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phong trào đấu tranh của nhândân Tĩnh Gia trong các phong trào cách mạng 1930 – 1931, 1936 – 1939,
1939 – 1945 ngày càng sôi nỗi, mạnh mẽ quyết liệt hơn Đặc biệt trong Cáchmạng Tháng Tám, khi nhận đợc lệnh tổng khởi nghĩa toàn quốc đêm17/08/1945 của Tỉnh ủy Thanh Hóa, mặt trận Việt minh phủ Tĩnh Gia đã triểnkhai kế hoạch tổ chức lực lợng quần chúng Uỷ ban khởi nghĩa của phủ đã chỉhuy hàng vạn quần chúng có vũ trang dành chính quyền vào sáng 19/08/1945buộc tri phủ Tĩnh Gia – Nguyễn Thế Hùng phải đầu hàng Chỉ trong vòng 60giờ kể từ khi nhận đợc lệnh khởi nghĩa, nhân dân Tĩnh Gia dới sự lãnh đạo của
ủy ban khởi nghĩa của phủ đã làm chủ đợc toàn bộ lãnh thổ của mình “cái lớnnhất mà nhân dân Tĩnh Gia đã làm đợc dới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là
tổ chức Đảng tại địa phơng đã lật đổ chính quyền cũ lập nên chính quyền cáchmạng, ngay trong cùng một ngày với tổng khởi nghĩa toàn quốc 19/08/1945”.Sau Cách mạng Tháng Tám, đất nớc trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”,Nhà nớc ta, đứng đầu là Hồ Chủ Tịch đã khắc phục khó khăn bằng cách phát
động phong trào nhân dân chống giặc đói, giăc dốt Hởng ứng phong trào đónhân dân Tĩnh Gia đã thực hiện “hũ gạo đồng tâm”, toàn huyện thu đợc 71.000
kg gạo, ủng hộ các gia đình đói khổ và thi đua phong trào khai hoang phục hóa
Trang 15Bên cạnh đó nhân dân Tĩnh Gia còn hởng ứng tích cực “tuần lễ vàng” của Chínhphủ, huyện đã tổ chức môt cuộc mít tinh lớn ở sân vận động Còng Trong “tuần
lễ vàng” Tĩnh Gia đã góp đợc 81 chỉ vàng mời, 65 chỉ vàng tây, 4656 đồng Còn
để giải quyết nạn giặc dốt thì từ tháng 09/1945, huyện đã cho khai trơng lại vàmột phong trào bình dân học vụ đợc phát triển rầm rộ kéo dài suốt năm 1946
Đặc biệt chi bộ Đảng của huyện đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn biểu
d-ơng lực lợng phản đối hành động xâm lợc của thực dân Pháp,ủng hộ đồng bàoNam Bộ khởi nghĩa Nhiều cán bộ, thanh niên đã xung phong Nam tiến và trong
đợt này có 40 thanh niên đủ điều kiện vào bộ đội tình nguyện
Khi cả nớc bớc vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc, TĩnhGia trở thành hậu phơng cho cuộc kháng chiến Chi bộ Đảng Cộng sản huyệnTĩnh Gia quyết tâm xây dựng Tĩnh Gia thành hậu phơng và căn cứ địa cáchmạng vững chắc Để thực hiện đợc nhiệm vụ đó, Đảng bộ huyện đã vận độngnhân dân đóng góp vào “hũ gạo kháng chiến”, “mua gạo khao quân”, “cấp dỡng
bộ đội địa phơng”, thành lập và phát triển vũ trang, thành lập đơn vị bộ đội địaphơng lấy phơng hiệu là C112.Với tinh thần chiến đấu anh dũng quân dân TĩnhGia cùng quân dân các huyện phía bắc và vùng duyên hải đã đập tan nhiều cuộccàn quét, tấn công tiêu diệt địch, thu nhiều loại vũ khí Trong Đông Xuân(1953-1954) với tinh thần “tất cả có tiền tuyến, tất cả cho thắng lợi”, Tĩnh Gia
đã huy động 3.000 dân công phục vụ chiến dịch Thợng Lào, 300 dân công phục
vụ chiến dịch Tây Nam – Ninh Bình Đặc biệt trong cuộc chiến dịch Điện BiênPhủ, Tĩnh Gia dã huy động 17 đợt dân công với gần 10.000 lợt ngời tham giavào thanh niên xung phong đi phục vụ chiến trờng [14, 66]
Cùng với việc trực tiếp tham gia kháng chiến trên chiến trờng thì vớiquyết tâm “vì tiền tuyến hậu phơng càng tích cực”, nhân dân Tĩnh Gia khôngngừng tăng gia sản xuất để đảm bảo tốt sức ngời, sức của chi viện cho tiềntuyến Trong 9 năm kháng chiến, Tĩnh Gia đã góp vào công quỹ: mua công tráiquốc gia, công trái kháng chiến, hũ gạo đồng tâm, hũ gạo kháng chiến 54 triệu
Trang 16đồng, 146 chỉ vàng, gần năm tấn đồng, 551 tấn gạo, 88 tấn thóc thuế nôngnghiệp, có 2.500 thanh niên tòng quân vào các chiến trờng, cung cấp 738 cán
bộ thoát ly trên các lĩnh vực Họ dã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình đểkhông phụ lòng mong đợi của địa phơng Trong chiến đấu và công tác có không
ít cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp tái thiết và bảo vệ Tổquốc, trong đó có liệt sĩ Trần Đức, đợc đợc truy tặng Anh hùng lực lợng vũtrang trong đợt đầu sau ngày hòa bình lập lại Hàng trăm thơng binh đã phảimang trên mình vết thơng trở về quê hơng, hơn nửa triệu ngời đi dân công vàvận chuyển 12.904 tấn vũ khí, lơng thực phẩm Do những công lao đóng góp tolớn đó, Tĩnh Gia đã đợc vinh dự dợc nhà nớc trao tặng nhiều phần thởng caoquý cho những Đảng viên, những chiến sĩ và những ngời con u tú trong đó có
684 huân chơng các loại, 2.185 huy chơng và 2.381 bằng khen [14, 131]
Khi đế quốc Mỹ xâm lợc nớc ta, đặc biệt khi chúng mở rộng chiến tranhxâm lợc ra miền Bắc Tĩnh Gia là nơi chịu tàn phá hết sức ác liệt của bom đạn
kẻ thù, nhất là các tuyến đờng bộ, đờng biển hòng cắt đứt mạch máu giaothông, không cho miền Bắc chi viện vào chiến trờng miền Nam ruột thịt Khắpthôn ngõ xóm Tĩnh Gia, một không khí phong trào đánh giặc diễn ra sôi nổi,mạnh mẽ, với các trận tiêu biểu nh: mời cô gái dân quân Thanh Thủy bắn rơi 1máy bay của giặc Mỹ Chiến công này đã đợc Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thkhen ngợi
Trong 3 năm (1965 - 1968), chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của
Mỹ, quân dân Tĩnh Gia bắn rơi 37 máy bay, bắn bị thơng 3 chiếc và bắt sống 2giặc lái Bên cạch những chiến công trên mặt trận chiến đấu thì trong công táclàm giao thông cho xe vào chiến trờng đợc nhân dân Tĩnh Gia làm tốt, đợc Nhànớc tặng 4 Huân chơng Lao động hạng Ba và đợc Thanh Hoá biểu dơng làhuyện làm khá công tác giao thông vận tải Trong sản xuất, phong trào “ba sẵnsàng, ba đảm đang”, “năm tốt” đi sâu, đi sát vào từng gia đình trên toàn huyện.Phong trào đẩy mạnh sản xuất không chỉ đảm bảo cho đời sống của nhân dân
Trang 17mà còn đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ xây dựng hậu phơng xã hội chủ nghĩacũng nh việc thực hiện nghĩa vụ tiền tuyến của miền Bắc đối với miền Nam.
Nhằm thực hiện âm mu “đa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá”, đế quốc Mỹ
đã tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai nhng lần này với cờng độ ácliệt hơn, thủ đoạn thâm độc hơn Thanh Hóa là một trong những “trọng điểm”bắn phá Tĩnh Gia cũng nh các huyện trong Tỉnh đã phải hứng chịu “làn mabom, bão đạn” khốc liệt của kẻ thù Nhng một lần nữa, truyền thống yêu nớc,tinh thần cách mạng kiên cờng của nhân dân Tĩnh Gia lại đợc phát huy Dới sựlãnh đạo của Đảng bộ huyện, Tĩnh Gia đã phát động phong trào toàn dân đánhthắng giặc Mỹ xâm lợc, huy động tối đa sức ngời, sức của phục vụ cho chiến
đấu Công tác tu bổ các cụm đờng trọng yếu với khẩu hiệu “xe không qua, nhàkhông tiếc” đợc tiến hành có kết quả Trong công tác phá lấp đờng, xuất hiệnnhiều tấm gơng tiêu biểu nh Lê Thị Mịch đợc tuyên dơng Anh hùng lực lợng vũtrang nhân dân, Lê Hữu Lắm, Nguyễn Văn Luật Tính cả hai cuộc chiến tranhphá hoại tính từ 1965 đến 1975 của đế quốc Mỹ, Đảng bộ và nhân dân Tĩnh Gia
đã 36 lần tiễn đa 12.875 con em mình lên đờng nhập ngũ trên các chiến trờng.Trong đó 4.035 ngời con đã hy sinh, 1.276 ngời con đã bị thơng tật Đó lànhững mất mát lớn lao không có gì bù đắp đợc nhng đó là sự mất mát trongniềm tự hào
Còn trong chiến đấu nhân dân Tĩnh Gia và lực lợng vũ trang Tĩnh Gia đãphối hợp tổ chức 4143 trận lớn nhỏ, bắn rơi 86 máy bay, bắn chìm 36 tàu chiến.Riêng dân quân tự vệ bắn rơi 10 máy bay, bắt sống 3 giặc lái, bắn chết bảy tên,bắt sống một toán biệt kích Còn trong cả thời kỳ chống Mỹ cứu nớc Tĩnh Gia
có 15 tập thể, đơn vị, 99 bà mẹ và nhiều cá nhân đợc nhà nớc phong tặng anhhùng Còn biết bao cá nhân, đơn vị đợc nhận những phần thởng cao quý khác
Đảng bộ và nhân dân Tĩnh Gia hoàn toàn có quyền tự hào về lịch sử vẻ vang củahuyện nhà Đó chính là động lực cần thiết để nhân dân huyện nhà phát huy nội
Trang 18lực bớc vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quê hơng ngày càng đànghoàng hơn to đẹp hơn nh mong ớc của Bác Hồ.
1.2 Thực trạnh kinh tế Tĩnh Gia trớc 1986.
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975 đất nớc ta bớc vào kỷ nguyên mới, kỷnguyên hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nớc đi lên chủ nghĩa xã hội Tháng9/1975, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ơng Đảng lần thứ 24 (khóa III) quyết
định: “hoàn thành thống nhất nớc nhà, đa cả nớc tiến nhanh, tiến mạnh, tiếnvững chắc lên chủ nghĩa xã hội” Việc thống nhất về mặt Nhà nớc có ý nghĩaquan trọng vì nó tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Từ thực tiễn của đất nớc sau ngày giải phóng, Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ IV đã đề ra đờng lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta
Tiếp nhận và quán triệt chủ chơng đờng lối của Đảng trong Đại hội IV, V
và các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Tĩnh Gia đã tiến hành các kỳ Đạihội đại biểu Đảng bộ lần thứ XIV, XV, XVI trên cơ sở thực tiễn về điều kiện tựnhiên, điều kiện xã hội của huyện, đề ra những biện pháp phù hợp để phát triển
Trong mời năm (1975 – 1985), cùng cả nớc bớc vào giai đoạn mới: xâydựng chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ Tĩnh Gia đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu nỗ lựctrên con đờng xây dựng và bảo vệ quê hơng đất nớc Sự cố gắng nỗ lực đó đợcphản ánh bằng những thành tựu bớc đầu và nhân dân Tĩnh Gia đạt đợc, đặc biệt
là về kinh tế Những năm đầu sau khi đất nớc đợc thống nhất, Đảng bộ và nhândân Tĩnh Gia đã xác định rõ nhiệm vụ: tập trung giải quyết tốt về vấn đề lơngthực, thực phẩm, nâng cao đời sống của nhân dân, làm tốt nhiệm vụ đối với Nhànớc
Dới sự lãnh đạo của Đảng bộ, trên toàn huyện dấy lên phong trào thi đuasản xuất, xây dựng hệ thống thủy nông, phong trào làm phân bón, chăn nuôi…Ngời nông dân hắng hái thi đua sản xuất, tập trung cải tạo lại đồng ruộng, làm
bờ vùng, bờ thửa, tiến hành các công tác thủy lợi nội đồng nhằm đảm bảo tới
Trang 19tiêu Hàng năm toàn huyện đã đào đắp kênh mơng chống hạn, làm hồ chứa nớc,
đắp bờ trục, cũng nh củng cố và làm mới hệ thống mơng tiêu úng… Đáng kểnhất trong công tác thuỷ lợi là việc xây dựng công trình ngăn mặn sông Bạng -công trình mang tên “công trình 3 tháng 2” (1977)
Vấn đề khai hoang mở rộng diện tích canh tác đợc huyện ủy và các cấpchính quyền chú trọng đáng kể Dới sự lãnh đạo của Đảng bộ và Uỷ ban nhândân, toàn huyện Tĩnh Gia đã thực hiện sự bắt tay vào “chiến dịch đồng khởikhai hoang” Trong những năm 1976 - 1977, toàn huyện huy động đợc 20000ngời làm công tác khai hoang phục hóa Huyện cũng đã tiến hành di chuyển
450 hộ gia đình ở Hải Hòa, Hải Lĩnh đi xây dựng vùng kinh tế mới ở các xã ờng Lâm, Tân Tròng, Tùng Lâm, Phú Lâm, Phú Sơn
Tr-Bên cạnh nông nghiệp, diêm nghiệp cũng là một ngành quan trọng củanền kinh tế Tĩnh Gia, vì vậy luôn đợc Đảng bộ và ủy ban nhân dân quan tâmchú ý Công tác mở rộng khai hoang diện tích sản xuất đợc đẩy mạnh Đến cuốinăm1977, huyện đã khai hoang mở rộng đợc 50 ha diện tích sản xuất muối, đa
41 ha vào sản xuất, nâng tổng diện tích đồng muối của toàn huyện tăng lên 200
ha, sản lợng muối đạt 23457 tấn, đạt 124% kế hoạch Đây cũng là năm sản lợngmuối đạt lớn nhất trong giai đoại này
Song song với công tác sản xuất, từ năm 1976, huyện thực hiện chủ trơng
tổ chức lại các hợp tác xã có quy mô lớn hơn Từ 82 hợp tác xã nông nghiệp cóquy mô nhỏ (1975) đến năm 1976 đã hợp nhất thành 42 hợp tác xã, trong đó có
22 hợp tác xã toàn xã và 6 hợp tác xã có quy mô vừa, đến năm 1977 huyện ủychỉ đạo xúc tiến việc quy hoạch lại thành 36 hợp tác xã trong toàn huyện, trong
đó có 24 hợp tác xã quy mô toàn xã Quá trình tổ chức lại sản xuất cũng đợcchú trọng, thu hồi 51 ha ruộng đất bị lấn chiếm, chấn chỉnh lại công tác ăn chiaphân phối, quản lí sản phẩm một cách hợp lí hơn
Thực hiện Nghị quyết 05 của Tỉnh ủy Thanh Hóa, ngành tiểu thủ côngnghiệp Tĩnh Gia đã tăng cờng đẩy mạnh sản xuất ở cả hai khu vực, lập thêm 14
Trang 20hợp tác xã mới, giá trị sản lợng tăng nhanh qua các năm, một số mặt hàng mới
nh chiếu cói, thảm cói, mành trúc… đợc đa vào sản xuất Huyện cũng đã tiếp tụctăng cờng và củng cố một số xí nghiệp, trạm trại sản xuất liên quan đến tàuthuyền, vận tải, xây dựng, gạch ngói… nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và đờisống nhân dân
Nghề cá cũng là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Tĩnh Gia.Với chiều dài hơn 40 km, 3 vùng cửa lạch, có đảo và bán đảo và một số lợng
ng dân làm nghề cá từ lâu đời Tĩnh Gia có u thế để đa nghề khai thác hải sảnthành một nghề trọng yếu trong nền kinh tế địa phơng Trớc năm 1975, nhândân chỉ có phơng tiện thô sơ, ng cụ thủ công sản xuất lại theo kiểu tự cung tựcấp,quản lí sản xuất có nhiều sơ hở nên sản lợng đạt thấp, năm cao nhất cũngkhông quá 4.000 tấn
Triển khai nghị quyết 08 của Thờng vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa về tổ chức lạisản xuất miền biển, huyện ủy Tĩnh Gia đã tập trung chỉ đạo theo hai hớngchính: thứ nhất, tăng cờng đầu t sản xuất từ nguồn vốn Nhà nớc cộng với sự huy
động tối đa sức của dân để mua sắm phơng tiện cơ giới và ng lới cụ mới; thứ haichia tách hợp tác xã có quy mô lớn thành các đội thuyền cho phù hợp với quản
lí và điều hành sản xuất Nhờ vậy ngành kinh tế có những chuyển biến rõ rệt.Năm 1977, Tĩnh Gia có số vốn đầu t cho khai thác hải sản đạt 1.262.767 đồng(tăng gấp đôi so với năm 1976) với 6.452 lao động, trong đó có gần 4000 lao
động có tay nghề Các đội thuyền, tổ thuyền của huyện đã mua sắm đợc thêm
10 thuyền máy 32 CV, 28 thuyền máy 12 CV, 6 thuyền máy 23 CV, 12 máyphát sáng; đóng mới 100 thuyền… Tổng sản lợng khai thác đợc trong năm 1977
đạt 3138 tấn, đến năm 1978, sản lợng tăng lên 5.930 tấn, cũng là năm có số ợng cao nhất Chính vì vậy đời sống của ng dân phần nào đợc cải thiện và đi vào
l-ổn định, hoàn thành việc bán nghĩa vụ cho Nhà nớc với 2.400 tấn
Nhờ biết sắp xếp lại cơ cấu sản xuất nên huyện đã có bớc tăng trởng vềkinh tế Vì vậy mà công tác giáo dục, văn hóa, y tế, quốc phòng cũng đợc phát
Trang 21triển Để tiếp tục phát triển sản xuất, đẩy mạnh sự nghiệp văn hóa, xã hội, Đạihội đại biểu Đảng bộ Tĩnh Gia lần thứ XV đợc tiến hành từ ngày 10 đến ngày14/4/1978 Đại hội lần này đã diễn ra trong bối cảnh cả nớc thực hiện Nghịquyết 02 và 03 của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khóa IV nhằm “xây dựngmột chế độ mới, một nền kinh tế mới, một nền văn hóa mới và con ngời mới xãhội chủ nghĩa” Tầm quan trọng của việc triệu tập Đại hội XV là mở đầu chomột thời kỳ phát triển tiếp tục trong giai đoạn mới Đại hội cũng thông qua ph-
ơng hớng, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong hai nămtới (1978 - 1979) Chính nhờ những cố gắng mà nhân dân Tĩnh Gia đã đạt đợcnhững thành quả nhất định, nhất là trên mặt trận sản xuất nông nghiệp Ngoàiviệc đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, huyện đã tích cực chủ động thi đua thực hiệnphong trào “khai hoang phục hóa” Tính từ 1976 đến 1979, toàn huyện khaihoang đợc 4.227 ha, trong đó 7 xã vùng lúa là 431 ha, 6 xã vùng kinh tế sôngBạng là 2.230 ha và các xã thuộc vùng màu là 1.556 ha Riêng diện tích trồngmàu kể cả khai hoang phục hóa hoàn chỉnh, trong năm 1979, toàn huyện có 930
ha, đa vào sản xuất vụ chiêm 480 ha, vụ mùa 764 ha đạt năng suất bình quân là
15 tạ/ha với sản lợng 2.000 tấn lơng thực quy thóc
Về năng suất, trong năm 1979 cũng có bớc tiến bộ nhất định Dới sựlãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy,việc tăng cờng áp dụng các biệnpháp kỹ thuật vào sản xuất đợc quan tâm chặt chẽ Biện pháp thâm canh, ứngdụng cơ cấu giống cho phù hợp với từng địa phơng đợc chỉ đạo cụ thể nên năngsuất cây trồng đợc tăng lên Từng hợp tác xã đều thành lập đợc đội chuyên sảnxuất giống, bảo quản giống Nhiều giống cây trồng cho năng suất khá nh giốnglúa 424 có năng suất bình quân là 18 - 20 tạ/ha, giống khoai lang của một sốhợp tác xã có năng suất 80-90 tạ/ha Năng suất lúa cả năm trên toàn huyện tăng0,6% so với năm 1978
Chính nhờ có năng suất đợc nâng lên nên tổng sản lợng lơng thực quythóc toàn huyện năm 1979 đạt 26.821 tấn, trong đó riêng thóc là 20.144 tấn,
Trang 22đóng góp cho Nhà nớc 2.300 tấn, bình quân mỗi nhân khẩu trên toàn huyện đạt
10 kg/tháng tăng hơn so với các năm 1977 - 1978
Công tác chăn nuôi gia súc, gia cầm mặc dù cũng có khó khăn về nguồnthức ăn, cơ sở vật chất nhng nhờ có chính sách khuyến khích đúng đắn và kịpthời nên có bớc phát triển nhất định Năm 1979, tổng đàn lợn trên toàn huyện là32.382 con Bên cạnh đó trâu bò cũng có sự tăng trởng, đảm bảo sức kéo đối vớinông nghiệp kịp thời vụ, đàn gia cầm cũng tăng so với năm 1978
Gắn liền với sản xuất nông nghiệp, về công tác trồng rừng, năm 1979huyện đã cố gắng trồng cây thông tập trung trên những vùng đợc quy hoạch,tăng cờng chăm sóc bảo vệ rừng mới trồng, áp dụng một số biện pháp kỹ thuậtmới, từ khâu ơm giống, đến các biện pháp trồng và chăm sóc Huyện còn phát
động phong trào trồng cây Kết quả, nhân dân trồng đợc 72.000 gốc tre venbiển, 500.000 cây phi lao và hơn 400.000 cây ăn quả các loại Tuy nhiên việcchăm bón, bão quản và quản lí, sử dụng còn lơi lỏng, cha có quy hoạch bảo vệnên hiệu quả mang lại thấp
Nghề cá, tuy gặp nhiều khó khăn, nhng Tĩnh Gia đã cố gắng tập trungvốn, vật t, cơ giới và các phơng tiện đánh bắt, nhất là chú trọng chỉ đạo tổ chức
ng trờng tôm cá Tổng vốn đầu t cho nghề cá là 2,5 triệu đồng Vì thế mà kếtquả đánh bắt đạt 4.100 tấn, đạt 62% kế hoạch, làm nghĩa vụ cho Nhà nớc 1.870tấn Tôm tơi, mực khô xuất khẩu 21 tấn, gấp hai lần so với năm 1978 Trong đó
đặc biệt có những hợp tác xã đã phấn đấu hoàn thành kế hoạch đề ra nh Thanh
Đông, Hải An, Hải Châu, Tân Dân… Ngòai ra các hợp tác xã làm muối cũng cónhiều cố gắng để đạt sản lợng tốt
Bên cạnh đó, ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp của huyện đã khắcphục để vợt qua khó khăn và bớc đầu phát triển, nhất là các ngành nghề tiểu thủcông nghiệp trong nông nghiệp.Nhng nhìn chung ngành nghề này phát triển chatơng xứng với tiềm năng hiện có của Tĩnh Gia
Trang 23Trong 5 năm qua (1975 - 1980), kinh tế Tĩnh Gia đã đạt đợc những kếtquả bớc đầu và đó cũng là tiền đề quan trọng để huyện bớc vào giai đoạn tiếptheo.
Bớc vào giai đoạn thực hiện kế họach 5 năm 1981 – 1985, toàn thể
Đảng bộ và nhân dân Tĩnh Gia đã phần nào đợc tiếp thêm sức mạnh mới, khíthế mới Những kết quả mà Tĩnh Gia đạt đợc trong những năm đầu sau khi đấtnớc đợc thống nhất, mặc dù còn khiêm tốn nhng nó cũng chứng tỏ khả năng v-
ơn lên của địa phơng
Phát huy những kết quả đạt đợc, đặc biệt dới ánh sáng của Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứXVII, bắt đầu có chuyển biến trong khuyến khích sản xuất, tạo ra khí thế chonhân dân yên tâm sản xuất
Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp với việc xây dựng một số trạm bơm
và hồ chứa nớc, mạng lới điện đến các xã nên đã trực tiếp tác động đến nôngnghiệp Trong vòng 5 năm (1981 - 1985), tổng diện tích canh tác của Tĩnh Gia
đạt 19.700 ha, trong đó có 12.200 ha lúa, khoai lang 3.100ha, sắn 503,4 ha, câycông nghiệp 2.310 ha (trong đó cây lạc là 2.090 ha) Tổng sản lợng lơng thựcquy thóc vào năm 1985 đạt 30.072 tấn Diện tích trồng lúa vẫn chiếm u thế nổitrội trong tổng diện tích gieo trồng 12.288 ha Năng suất lúa cả năm đạt 18,77tạ/ha, sản lợng đạt 20.715 tấn [14, 45-50] Những kết quả này chứng tỏ cả năngsuất và sản lợng lúa đều tăng trởng Một tiến bộ khác tróngản xuất nông nghiệpTĩnh Gia là vào thời điểm này nhiều hợp tác xã đã bình tuyển một số giống mớicho năng suất cao nh: Xuân 2, V4, 13/2, CR203… Cùng với việc ứng dụng khoahọc kỹ thuật vào sản xuất nên đã đa lại năng suất cao và tơng đối ổn định chomột số vùng trong huyện Đặc biệt, với công tác thực hiện luân canh hợp lí,huyện đã thực hiện chuyển đổi thêm 200 ha đất canh tác một vụ lúa, một vụmàu sang ba vụ mùa, mở rộng diện tích trồng khoai lang vụ hè thu Do vậy, bêncạnh cây lúa một số cây màu lơng thực khác cũng có chiều hớng gia tăng nh
Trang 24khoai lang 3.900 ha, với sản lợng 3.599 tấn Điều đáng ghi nhận là tổng sản ợng màu lơng thực cả năm của Tĩnh Gia đạt 6.998 tấn, chiếm tỷ trọng 23,2%trong tổng số sản lợng quy thóc của toàn huyện, chứng tỏ cây màu đã đợc coitrọng và có vai trò đắc lực trong việc bảo đảm ổn định lơng thực trong toànhuyện.
l-Các loại cây công nghiệp xuất khẩu cũng có chỗ đứng nhất định Diệntích gieo trồng cây lạc năm 1985 đạt 2.094 ha với sản lợng 1928 tấn Các loạirau màu cũng cho thu hoạch cao hơn so với năm 1984 Diện tích trồng rau màucủa cả huyện là 305 ha, sản lợng đạt 2.064 tấn
Ngành chăn nuôi mặc dù còn phát triển chậm, nhng chăn nuôi trâu bò
đ-ợc chú ý hơn trớc nhằm cung cấp sức kéo cho sản xuất Đặc biệt số trâu bò củanhân dân nuôi riêng có sự tăng trởng đáng kể cả về số lợng cũng nh chất lợng.Năm 1985, tổng đàn trâu có 6.229 con, đàn bò có10.866 con Huyện cũng đãquan tâm đến việc lai tạo đàn gia súc, cho nhập về một số giống bò, giống lợnlai có năng suất cao; tổng đàn lợn của huyện là 43.055 con tăng hơn so với năm
1984 là 2.852 con Chăn nuôi gia cầm cũng mang lại một số hiệu quả, đàn vịtthời vụ trong năm lên tới 15.000 con Tuy vậy việc phát triển chăn nuôi nóichung còn cha đợc tổ chức chặt chẽ và cha đạt hiệu quả kinh tế cao
Nghề biển, do có sự điều chỉnh về giá cả và chính sách đổi lơng thựctrong hải sản nên có những chuyển biến tích cực Sản lợng đánh bắt trong năm
1985 đạt 4.000 tấn, trong đó có 1.198,8 tấn cá, 45 tấn tôm, 6,2 tấn mực khôxuất khẩu Từ thời điểm này, với những triển vọng khả quan, nghề biển dân dầntrở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Tĩnh Gia
Trong năm 1985 thì ngành muối đã sản xuất và giao nộp đợc 17.074 tấn.Nhiều hợp tác xã đã phấn đấu hoàn thành tốt và kịp thời kế hoạch Nhà nớc giaocho nh: Yên Châu, Quyết Tâm, Đoan Hùng…
Với sự tham gia tích cực công tác trồng cây gây rừng nhân dân Tĩnh Gia
đã trồng đợc 1.200 ha, trong đó có 400 ha trồng cây tập trung Đồng thời huyện
Trang 25cũng đã triển khai xong công tác giao đất giao rừng, diện tích đất lâm nghiệp
đ-ợc rà soát lại là 18.682 ha có đến 3820 hộ gia đình đđ-ợc giao đất giao rừng, bắt
đầu thực hiện kinh doanh phát triển nghề rừng theo xu hớng nông lâm kếp hợp
Bên cạnh đó, huyện còn đầu t chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho đời sống nhân dân và phục vụ sản xuất Vìthế mà một số mặt hàng chủ yếu là chiếu, thảm, cói, gạch, vôi… có sự tăng tr-ởng Tổng giá trị sản lợng năm 1985 đạt 74.551.000 đồng Tuy nhiên, tốc độphát triển còn chậm, cha đa dạng hóa các mặt hàng, một số ngành mà địa phơng
có thế mạnh cha đợc chú trọng đàu t nh nung vôi, làm gạch, dệt chiếu…
Có thể nói, kể từ sau ngày đất nớc đợc giải phóng, nhân dân Tĩnh Gia đãbắt tay khẩn trơng cùng với cả nớc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, ổn
định đời sống, khắc phục hàn gắn vết thơng chiến tranh vợt qua mọi trở ngạitrên bớc đờng phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, Tĩnh Gia vẫn còn là mộthuyện nghèo nằm trong tình trạng khủng hoảng, nền kinh tế còn phát triểnchậm cha tơng xứng với tiềm năng sẵn có, cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng cònnhiều bất cập
Bên cạnh những thành tích đã đạt đợc, nền kinh tế Tĩnh Gia trong thời kỳnày còn bộc lộ nhiều sai lầm và hạn chế nhất định Điều này đã đợc chứng minhqua cuộc khủng hoảng toàn diện ở Tĩnh Gia trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế- xãhội, văn hóa, quốc phòng – an ninh đặc biệt là về kinh tế
Trong nông nghiệp, tình trạng phát triển không đồng đều về thâm canhtăng năng suất trên địa bàn toàn huyện, công tác xúc tiến mở rộng diện tíchcanh tác bằng phơng pháp xen canh gối vụ, phát triển cây màu… còn cha đợc
đẩy mạnh đúng lúc, việc hoàn chỉnh hệ thống thủy nông cha đợc đảm bảo Đặcbiệt khâu tuyển chọn giống là một khâu rất quan trọng nhng trong việc xác định
và bố trí cơ cấu cây giống cho từng vùng sản xuất còn nhiều bất cập, thậm chí
có hợp tác xã còn để xảy ra tình trạng thiếu giống mà hậu quả là bị động trongsản xuất dẫn đến tùy tiện gieo cấy những loai giống không phù hợp với cơ cấu.Ngành chăn nuôi phát triển còn rất chậm, các chính sách khuyến khích phát
Trang 26triển còn cha đợc tốt Trong ng nghiệp và lâm nghiệp cũng còn nhiều thiếu sót.Việc tổ chức đánh bắt hải sản cha phát huy đợc tác dụng nên sản lợng sản phẩmcha cao, trang thiết bị tàu thuyền, ng cụ, mặc dù có đầu t, song cha đáp ứng đợcnhu cầu đánh bắt xa bờ, việc chuyển sang khai thác các loại thủy hải sản xuấtkhẩu chủ yếu còn tự phát, cha có kế hoạch đồng bộ, khâu quẩn lí và phân phốicòn quá lỏng lẻo… sản xuất muối lại còn quá phụ thuộc vào thời tiết.
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp còn nghèo nàn, mặc dù giá trị tổng sản ợng đều tăng nhng cha tơng xứng với tiềm năng thế mạnh của huyện Do vậycác mặt hàng còn ít cha thể hiện sự sáng tạo, thiếu sự chủ động Công tác luthông phân phối hàng hóa còn cha đuổi kịp nhu cầu và cha đợc tiến hành đồng
l-bộ Các ngành nghề dịch vụ vẫn còn yếu kém làm cho đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân gặp nhiều khó khăn
Nguyên nhân của những tình trạng trên là do việc thực hiện chỉ thị 100của Ban Bí th về khoán sản phẩm đến nhóm, đội sản xuất trên địa bàn huyệncòn nhiều bất cập, cha đồng bộ, trong quá trình sản xuất cha gắn với công tácquản lí chặt chẽ các hợp tác xã Vì vậy không đem lại kết quả tốt điều này đợcthể hiện trong quan hệ sản xuất chậm củng cố, sức sản xuất chậm phát triển
Đặc biệt là ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống vật nuôi câytrồng có năng suất cao cha đợc chú ý quan tâm đúng mức trong sản xuất Bêncạnh đó, tính bảo thủ trì trệ còn tồn tại ở các ngành, các cấp Do đó chuyển biếnmới cha toàn diện, cha sâu sắc và cha có chiều sâu
Nhìn thẳng vào sự thật, khách quan và trung thực của nền kinh tế huyệnnhà Đảng bộ và nhân dân Tĩnh Gia đã từng bớc vợt qua khó khăn thử thách đặtbiệt trong tình hình thế giới có nhiều biến động về các mặt để tìm ra cho mìnhmột hớng đi đúng đắn và phù hợp Những thành quả đạt đợc trong mời năm đó
sẽ tạo nên những cơ sở cần thiết quan trọng để Tĩnh Gia bớc vào một giai đoạnmới Đây là một thử thách lớn lao để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng vànhân dân Tĩnh Gia trong việc thực hiện đờng lối đổi mới toàn diện trong đó lấykinh tế làm trọng tâm, then chốt
Trang 27
Chơng 2
Kinh tế Tĩnh Gia trong 10 năm đầu đổi mới
(1986-1995) 2.1 Chủ trơng, đờng lối phát triển kinh tế của Đảng bộ, chính quyền huyện Tĩnh Gia.
Trong 10 năm xây dựng (1975-1985) mặc dù đã đạt đợc một số thành tựunhng thực trạng kinh tế của đất nớc hết sức khủng hoảng đặc biệt vào giữa năm
1986 thì cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội hết sức phức tạp Trong điều kiện đóthì Tĩnh Gia cùng chung với nhân dân cả nớc từng bớc khắc phục khó khăn đểvợt qua mọi thử thách Từ thực tế đó thì đất nớc chúng ta cần phải đổi mới Đổimới để tồn tại và phát triển Do vậy Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI(12/1986) đánh dấu mốc thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng và nhà nớc ta
Đại hội đề ra đờng lối đổi mới trên tất cả mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, vănhóa, t tởng… mà trong đó trọng tâm là đổi mới về kinh tế nhằm đa đất nớc thoát
ra khỏi cuộc khủng hoảng
Với tinh thần đó, Đại hội VI xác định nhiệm vụ bao trùm mục tiêu tổngquát của chặng đờng đầu tiên quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đại hội đề ra nhữngquan điểm và chính sách đổi mới trớc hết là về kinh tế; thực hiện ba chơng trìnhkinh tế lớn, nhấn mạnh vai trò hàng đầu của nông nghiệp, trong đó việc đáp ứngnhu cầu cấp thiết về lơng thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng hàng xuất khẩu Phấn
đấu đa nông nghiệp trở thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa xã hội chủnghĩa, thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, xác định đẩy mạnh cải tạo xãhội chủ nghĩa là nhiệm vụ đầu tiên trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng chế độ mới phù hợp vớiquy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế
Từ thực tế nền kinh tế-xã hội của huyện và nhằm triển khai tốt Nghịquyết của ban chấp hành Trung ơng Đảng về đờng lối đổi mới, Nghị quyết Đại
Trang 28hội tỉnh Thanh Hóa lần thứ XII, Đảng bộ Tĩnh Gia đã thẳng thắn chỉ ra nhữnnghạn chế sai lầm khuyết điểm: “là một huyện có nền kinh tế đa dạng, phong phúnhng cha đợc tổ chức khai thác tốt và hiệu quả cao Sản xuất phát triển chậm,
đời sống nhân dân nhìn chung cha ổn định nhiều mục tiêu kinh tế quan trọngcha hoàn thành và đạt thấp”
Dới ánh sáng của đờng lối Đại hội VI, Đảng bộ Tĩnh Gia đã đề ra nhữngphơng hớng, nhiệm vụ, mục tiêu trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới:
“trên cơ sở cơ cấu kinh tế nông-lâm-ng-công nghiệp đã đợc xác định, từ sảnxuất lơng thực, kinh tế biển và xuất khẩu mà đi lên Coi sản xuất lơng thực làtrọng tâm, xuất khẩu là mũi nhọn, đẩy mạnh sản xuất nghề cá, muối, tiểu thủcông nghiệp, tăng cờng xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật phục vụ sản xuất và
đời sống”
Đại hội Đảng bộ huyện đã đề ra các mục tiêu cơ bản nh sau:
- Về lơng thực, thực phẩm cố gắng phấn đấu đến năm 1990 đạt 45.000tấn lơng thực, đây là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng bộ
- Phát triển nhanh các loại cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, đặcbiệt các loại cây lạc, vừng, cói, đay, thực sự coi cây lạc là mũi nhọn, tập trungthâm canh 800-1.000 ha và năng suất đạt 15-20 tạ/ha
- Phát triển chăn nuôi toàn diện mạnh mẽ, chú trọng trâu bò cày kéo.Tăng nhanh đàn lợn lai kinh tế, phát triển đàn vịt thời vụ và có chính sách thumua hợp lí Phấn đấu các mục tiêu về chăn nuôi: 1990 tổng đàn lợn là 60.000con, trong đó lợn lai kinh tế 65-70%, tổng đàn trâu là 7.000 con, đàn bò là13.000 con
- Bên cạnh đó phải thực hiện trồng cây sú vẹt ven biển, thực hiện tốt nông-lâm kết hợp nhằm nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi núi trọc
- Nghề biển phải phát triển toàn diện phấn đấu đạt tổng sản lợng khaithác đến năm 1990 đạt: 7.000 tấn cá Trong đó: tôm nguyên liệu xuất khẩu: 250tấn, mực tơi xuất khẩu: 60 tấn
Trang 29Đồng thời đẩy mạnh sản xuất muối phấn đấu đạt sản lợng 21.000 tấn vàonăm 1990 [1, 17].
- Sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp phấn đấu năm 1990 đạt giátrị sản lợng 290 triệu đồng
2.2 Kinh tế Tĩnh Gia trong 10 năm đầu đổi mới (1986-1995). 2.2.1 Nông nghiệp.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI về xóa bỏ tập trung quanliêu bao cấp, thực hiện chính sách khoán trong nông nghiệp, Ban Chấp hànhhuyện Tĩnh Gia đã tổ chức hội nghị để bàn bạc về vấn đề triển khai thực hiện
đổi mới hợp tác xã nông nghiệp, chú trọng tập trung vào thâm canh lúa và màu
vụ đông, phát triển mạnh cây màu phấn đấu đảm bảo lơng thực mà huyện đề ra
Năm 1987, năm đầu tiên thực Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, Nghịquyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XII (1986) Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ lần thứ XVIII, Tĩnh Gia bắt tay vào công cuộc đổi mới toàn diện
Mặc dù trong thời kỳ này thời tiết không thuận lợi, sâu bệnh phá hoạinhiều và nhất là cơ chế quản lí mới cha hình thành nên cha phát huy tác dụng cụthể, nhng Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo điều hành kịp thời nên sảnxuất nông nghiệp mà chủ yếu là sản xuất lơng thực của Tĩnh Gia đạt kết quảkhả quan hơn
Căn cứ vào tình hình thực tế của huyện trong giai đoạn đầu (1986 1990), toàn thể Đảng bộ và nhân dân Tĩnh Gia đã tích cực thi đua nhằm thựchiện mục tiêu đề ra: phát huy mọi năng lực sản xuất hiện có, mở rộng và đẩymạnh sản xuất với tốc độ nhanh và hiệu quả cao tập trung cao độ cho sản xuất l-
-ơng thực tiểu thủ công nghiệp, khai thác chế biến và nuôi trồng thủy sản, chănnuôi gia súc gia cầm; chuyển nhanh từ thế độc canh sang thâm canh, đa canh, từsản tự túc tự cấp sang sản xuất hàng hóa, từ sản xuất thuần nông sang sản xuấtnhiều ngành nghề, gắn sản xuất với chế biến và mở rộng quan hệ nhằm tăng
Trang 30nhanh tốc độ phát triển nền sản xuất hàng hóa, tạo tích lũy và xây dựng ngânsách làm cơ sở cho các hoạt động xã hội phát triển Mặt khác cần phải tậptrung đầu t thủy lợi, phân bón thuốc trừ sâu, đa các giống mới, áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Năm 1987, Tĩnh Gia đã mở rộng diện tíchgieo trồng lên 20.000 ha Tuy cơn bão số 3 làm thiệt hại mất 2.000 ha song18.000 ha còn lại đã cho thu hoạch với sản lợng lơng thực quy thóc là 30.000tấn Đây là năm có tổng diện tích gieo trồng khá và một số giống mới đợc đavào sản xuất bớc đầu cho năng suất cao
Trong năm 1988, diện tích cấy lúa không ngừng đợc mở rộng, năng suấtlúa bình quân của toàn huyện cũng đợc nâng lên đáng kể Từ tháng 9/1987,Huyện ủy chủ trơng triển khai hoàn thiện mở rộng khoán sản phẩm cuối cùng
đến ngời lao động trong hợp tác xã nông nghiệp bằng hình thức thù lao sảnphẩm ở các điểm làm thử Từ những điểm làm thử và giao khoán ruộng đất, trâu
bò, dụng cụ sản xuất, Tĩnh Gia đã tiến tới hoàn thành việc phân loại hộ và phânchia quỹ đất, hầu hết các xã mở đấu thầu nhận ruộng, khoán ao, hồ vờn cây…nên đã tạo đợc không khí phân khởi trong nông dân, tạo ra động lực thúc đẩytrong nông nghiệp Bên cạnh đó, các ngành phục vụ nông nghiệp từng bớc đợccủng cố và đổi mới phơng thức hoạt động, gắn kinh doanh với phục vụ, chuyểndần qua phục vụ nông nghiệp xuống tận hợp tác xã, các hộ gia đình, đáp ứngnhu cầu về nớc tới phân bón, giống, thuốc trừ sâu… hỗ trợ khâu làm đất
Nhờ những cố gắng đó, cho nên diện tích gieo trồng cây lơng thực năm
Trang 31hóa ở vùng thâm canh cây lúa, màu, phấn đấu đạt sản lợng quy thóc là 36.000– 37.000 tấn vào năm 1990 để bảo đảm bình quân 300kg/ngời/năm [14, 365].
Cơ chế khoán 10 đă thực sự tạo ra động cơ thúc đẩy trong sản xuất nôngnghiệp Tuy nhiên năm 1989, cơn bão số 6 đã gây ra hậu quả nặng nề đối với
địa phơng Tĩnh Gia, làm ảnh hởng đến sản xuất, h hại một số lớn công trìnhthủy lợi, phá hoại mùa màng… Điều này tác động không nhỏ dến đời sống nhândân Nhng với tinh thần quyết tâm cao, không ngại gian khổ, nhân dân Tĩnh Gia
đã vợt qua mọi khó khăn, nỗ lực thi đua sản xuất Kết quả trong năm 1990 TĩnhGia đã có sự chuyển biến rất lạc quan trong sản xuất nông nghiệp nh có sựchuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu, nhất là cơ cấu mùa vụ, cây trồng; vụ hè thu và
vụ mùa sớm thực hiện trên diện rộng đã cho năng suất và sản lợng khá ; một sốgiống cây trồng có năng xuất ổn định, sức đề kháng cao đã đợc nhân dân trồng
đại trà nh giống lúa CR203… Tổng diện tích gieo trồng cây lơng thực cả năm
đạt 15.197 ha, trong đó diện tích trồng lúa là 11.059 ha sản lợng lơng thực quythóc là 36.919 tấn, trong đó riêng thóc đạt 21.751 tấn
Tuy nhiên, năm 1990 với cuộc khủng hoảng kinh tế – chính trị – xãhội ở các nớc Liên Xô và Đông âu đã tác động lớn đến nền kinh tế của đất nớc
ta nên các hoạt động kinh tế của huyện cũng gặp nhiều khó khăn, trong khi đóthời tiết, sâu bệnh… diễn ra rất phức tạp, hệ thống thủy lợi phục vụ cho nôngnghiệp cha đợc đảm bảo
Đứng trớc khó khăn đó thì Đại hội Đảng Bộ huyện Tĩnh Gia lần thứ XX
đã tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIX đồng thời triển khai nNghịquyết Đại hội lần thứ VII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứXIII nhằm tiếp tục “đổi mới ổn định và tiến lên” Đảng bộ Tĩnh Gia đã đề ranhững mục tiêu kinh tế – xã hội 1991 – 1995 nh sau:
Tổng sản lợng lơng thực là : 35.000 – 40.000 tấn
Tổng đàn lợn là : 50.000 con
Trang 32Tổng đàn trâu bò là : 28.000 con
Sản lợng khai thác hải sản : 6.500 – 7.000 tấn
Sản lợng muối ráo là :18.000 tấn
1993 đạt 33.749 tấn, năng suất lúa cả năm đạt 25,1 tạ/ha
Vào những năm 1994 – 1995, nhờ tiếp tục chuyển dịch cơ cấu theo ớng mùa vụ và áp dụng ngày càng rộng rãi những tiến bộ khoa học kỹ thuật,nhất là về giống nên diện tích cây lơng thực tơng đối ổn định so với các năm tr-
h-ớc, sản lợng lơng thực cả năm đạt 39.000 tấn (1995) Đây là năm sản lợng lơngthực đạt cao nhất từ trớc tới nay, tăng thêm 3.000 tấn so với năm 1994, đạt kếhoạch 112 % [3, 1]
Bên cạnh đó, chính quyền huyện chủ trơng phát triển nhanh các loại câycông nghiệp ngắn ngày và dài ngày, đặc biệt chú trọng tăng nhanh diện tích,sản lợng các loại cây lạc, vừng, cói, đay; coi cây lạc là cây mũi nhọn, tập trungthâm canh và không ngừng mở rộng diện tích Năm 1986, toàn huyện trồng ổn
định 200 ha lạc, phấn đấu đến năm 1990 sẽ mở rộng diện tích, đặc biệt nhữngtiến bộ về giống lạc đợc ứng dụng rộng rãi đã tạo ra năng suất cao, đến năm
1995 đạt 3.500 tấn Đối với các cây đay, cói, vừng, khoai lang, ngô… cũng đợcchú ý phát triển nhằm góp phần vào giải quyết vấn đề lơng thực, thực phẩm chotoàn huyện Đồng thời toàn huyện còn thực hiện các khâu dịch vụ về giống, nớctới, phân bón, thuốc trừ sâu tốt hơn trớc, cơ bản đáp ứng đợc yêu cầu sản xuất
Trang 33Với thế mạnh của một huyện có sự kết hợp cả 3 vùng: đồng bằng, biển,rừng núi, chính quyền huyện tạo điều kiện cho hộ gia đình thực sự là đơn vị sảnxuất tự chủ, phát triển chăn nuôi truyền thống sang phơng pháp chăn nuôi côngnghiệp Chính vì vậy, tổng đàn trâu, bò liên tục tăng, năm 1986: đàn trâu 5.817con, đàn bò 11.401 con, trâu bò cày kéo là 12.807 con đến năm 1990 thì tổng
đàn trâu có 7.486 con, đàn bò có 17.099 con, đến năm 1995 thì tổng đàn trâu bò
đạt 28.000 con Đàn lợn từ 44.939 con năm 1986 tăng lên 50.000 con năm1995
Các tiến bộ khoa học kĩ thuật bớc đầu đợc áp dụng vào chăn nuôi nh: sinhóa đàn bò, nuôi gà công nghiệp, vịt siêu trứng và cho hiệu quả khá Năm 1995,lai tạo đợc 780 bò lai Sin và sinh sản đợc 200 con bê Bên cạnh đó chất lợng
đàn lợn có chiều thay đổi theo hớng lợn lai, lợn hớng nạc Đàn gia cầm tăngnhanh và phát triển theo hớng ổn định, tăng dần về chất lợng
Trong sản xuất lâm nghiệp, là một huyện có diện tích đồi núi khá lớnchiếm hơn 30% diện tích đất tự nhiên của huyện mà chủ yếu là đồi trọc và mộtphần rừng tái sinh cho nên để phát huy đợc thế mạnh của lâm nghiệp thì Đảng
bộ tiến hành tốt thực hiện việc giao đất giao rừng cho tập thể gia đình xã viêntheo quy hoạch, nhanh chóng che phủ vùng đất trống đồi trọc bằng phi lao,bạch đàn, xà cừ, mây, tre… bảo vệ rừng vốn có, tổ chức tốt phong trào trồng câygây rừng theo phơng thức nông- lâm kết hợp, xác định cơ cấu cây trồng thíchhợp với từng loại đất ở từng cơ sở Nhờ chính sách hợp lí của chính quyền và sự
cố gắng của nhân dân mà trong công tác trồng rừng, khoanh nuôi, phong trào
đổi mới cây trồng, cải tạo vờn tạp phát triển Nghề trồng cây ăn quả đợc triểnkhai sâu rộng trong nhân dân đem lại hiệu quả tốt Năm 1995, cả huyện đãtrồng đợc 150 ha cây ăn quả có giá trị Trồng theo chơng trình PAM là 4034 hatrong đó có 1040 ha hoàn thành kế hoạch, chơng trình 327 trồng đợc 328ha/350 ha đạt 95% kế hoạch Phong trào trồng cây nhận đất đạt 1,5 triậu cây,gấp 3 lần so với năm 1994 Nạn đốt phá rừng đợc ngăn chặn hiệu quả, nguồn
Trang 34thu nhập của nhân dân không ngừng đợc cải thiện, đồng thời góp phần cải tạomôi trờng trong lành cho sản xuất và đời sống.
2.2.2 Ng nghiệp.
Tĩnh Gia là một huyện ven biển có đờng biển dài hơn 40 km và có ba cửalạch lớn: Lạch Ghép, Lạch Bạng, Lạch Hà Nẫm, chính vì vậy trong chiến lợcphát triển kinh tế của huyện thì đây đợc xem là nguồn lợi và tiềm lực cần khaithác
Ngay sau khi Đại hội Đảng bộ lần thứ XVIII, Huyện ủy đã chú trọng đẩymạnh đánh bắt cá biển, phát triển nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi tôm xuấtkhẩu, tận dụng và thâm canh nuôi cá nớc ngọt, tổ chức tốt công tác dịch vụ đểphục vụ đánh bắt và thu mua sản phẩm, đẩy mạnh chế biến thủy sản phục vụtiêu dùng và xuất khẩu Phấn đấu đạt sản lợng 5.000 tấn đánh bắt và giao nộp2.500 tấn thủy sản cho Nhà nớc Ngoài ra, huyện còn tiếp tục đẩy mạnh đầu tphơng tiện đánh bắt hiện đại gắn với việc tổ chức khai thác bằng phơng pháptruyền thống nhằm tăng nhanh sản lợng Bên cạnh đó, nghề cá còn phải mởrộng các ngành nghề, kết hợp giữa thủ công và cơ giới, giữa nghề khơi và nghềlộng phát triển nghề đánh bắt quanh năm, kết hợp đồng bộ giữa khai thác chếbiến và lu thông hàng hóa, đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản xuất khẩu, thực hiệntốt Nghị quyết của Ban Thờng vụ Tỉnh ủy về đổi mới cơ chế quản lí nghề biển.Vùng bãi ngang chủ yếu là khoán sản phẩm đến hộ, nhóm hộ, vùng cửa lạchchủ yếu là các tổ sản xuất áp dụng nhiều hình thức khoán, kể cả khoán thuê,
đấu thầu và nhợng bán một số máy móc thiết bị, thực hiện hợp đồng thanh toángọn, mở rộng phát triển các thành phần kinh tế ở vùng biển, tạo cơ sở cho các
hộ gia đình, các tổ thuyền sử dụng t liệu, sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩmhàng hóa Nhờ đó mà năm 1987, nghề cá có tiến bộ rõ rệt, cả về phơng diện thumua, phát triển nghề mới, củng cố phơng tiện đáng bắt cũng nh xuất khẩu hải
Trang 35sản Tổng lợng đánh bắt đợc 5.600 tấn cá quý tơi thu mua đợc 1.400 tấn cá quýtơi, trong đó mực khô xuất khẩu 32 tấn, moi khô xuất khẩu 57 tấn
Đến năm 1988, Huyện uỷ đã ra Nghị quyết 04-NQ/HU về vấn đề đi đôi
đánh bắt hải sản kết hợp nuôi trồng thủy sản và coi đây là một hớng đi mới
Đây là một quyết định xuất phát từ chỗ nhìn rõ u thế điều kiện tự nhiên của địaphơng Tĩnh Gia có tới 300 ha diện tích vùng triều tập trung ở các cửa sông, có
điều kiện thủy lý, thủy hóa và thủy sinh thích hợp cho việc nuôi trồng tôm, raucâu có giá trị xuất khẩu Tĩnh Gia còn có hàng trăm ha diện tích hồ, đầm sôngcụt, hàng ngàn ao hồ của các gia đình xã viên có khả năng nuôi cá nớc ngọt Đểkhai thác hết tiềm năng vốn có, huyện đã chủ trơng phát triển nuôi trồng thủysản bằng mọi khả năng nguồn vốn, lao động và vật t của mọi thành phần kinh tế
có thể huy động đợc Đồng thời huyện cũng chủ động đầu t một số vốn, ngàycông, hỗ trợ kỹ thuật, giống để thực hiện sản xuất; chỉ đạo các ban ngành, cáccơ sở để có thể huy động tối đa các thành phần kinh tế, mọi tổ chức kinh tế xãhội và nhân dân, liên doanh liên kết cho việc thực hiện mục tiêu này Do vậy màsản lợng đánh bắt hải sản trong năm 1988 là 5.500 tấn, sản lợng muối đạt 20.00tấn Đến năm 1990 sản lợng thủy sản khai thác đạt 7.000 tấn cao hơn kế hoạch
đề ra [1, 17] Nhằm phát huy thế mạnh của vùng biển mà Đại hội lần thứ XX(từ 11-10 đến 13-10-1991) đã đề cập đến vấn đề: chủ động xóa bỏ hẳn cơ chếquản lí hành chính bao cấp sang cơ chế tự khoán, bán thẳng phơng tiện, ng cụcho các đội thuyền; mỗi thuyền nghề là một đơn vị sản xuất hoạch toán kinhdoanh độc lập Ng dân thực sự chủ động lo vốn, vật t, mua sắm thuyền lới vàchủ động tổ chức sản xuất Đảng bộ Tĩnh Gia xác định kinh tế biển là ngànhkinh tế mũi nhọn nên đã quan tâm phát triển đồng bộ các khâu sản xuất, chếbiến, tiêu thụ sản phẩm; mở rộng diện tích nuôi tôm, cua, nâng cao năng suất…Nhờ vậy sức sản xuất đã thực sự đợc giải phóng, thu hút và giải quyết hàngngàn lao động có việc làm, huy động đợc hàng tỷ đồng vốn trong nhân dân vàsản xuất kinh doanh Năng suất lao động và giá trị tổng sản phẩm xã hội có sự