1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam

65 531 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đầu tư phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 324 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh.Trước hết là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội,bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường(không bị khuyến khuyết hay di tật bẩm sinh ).

Trang 1

Đầu tư phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ PHÁT

TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

I_Một số khái niệm nguồn nhân lực

1_Một số khái niệm nguồn nhân lực

nhiều khía cạnh.Trước hết là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội,bao gồmtoàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường(không bị khuyến khuyết hay ditật bẩm sinh )

là khả năng lao động của xã hội hiểu theo nghĩa hẹp hơn,bao gồm nhóm dân cưtrong độ tuôỉ lao động có khả năng lao động.Với cách hiểu nay nguồn nhân lựcđược hiểu là nguồn lao động

thể tham gia vào quá trình lao động,là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinhthần được huy động vào quá trình lao động.Với cách hiểu này nguồn nhân lựcbao gồm những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên(ở nước ta là 15tuổi)

,song đều nhất trí với nhau đó là nguồn nhân lực nói lên khả năng lao động của

xã hội

nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chấtcho xã hội

2_Vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội

Trang 2

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người ,và là một trong nhưng nguồn lựcquan trọng nhất của sự phát triển kinh tế xã hội.Vai trò đó bắt nguồn từ vai tròyếu tố con người.

2.1 _ Con người là động lực của sự phát triển

Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy.Pháttriển kinh tế xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực:nhân lực(nguồn lực conngười),vật lực(nguồn lực vật chất:công cụ lao động, đối tượng lao động…),tàilực(nguồn lực về tà chính tiền tệ)…Xong chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra

sự phát triển,những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thểthông qua nguồn lực con người.Từ thời kì xa xưa con người bằng lao động thủcông và nguồn lực do chinh bản thân mình tao ra đã sản xuấ ra san phẩm thoảmãn nhu cầu của bản thân.Sản xuất ngày càng phát triển,phân công lao độngngày càng chi tiết,hợp tác ngày càng được chặt chẽ tạo cơ hội để chuyển dânhoạt động của con người cho máy móc thiết bị thực hiện(các động cơ phát lực)làm thay đổi tính chất của lao động từ lao động thủ công chuyển thành lao động

cơ khí và lao động trí tuệ.Nhưng ngay cả trong điều kiện đạt được tiến độ khaohọc kĩ thuật hiện đại như hiện nay thì cũng không thể tách rời nguồn lực conngười bởi lẽ chính con người đã tạo ra máy móc thiết bị hiện đại,nếu thiếu sựđiều khiển kiểm tra của con người(tức là tác động của con người) thì chúng chỉ

là vật chất.Chỉ có tác động của con người mới phát động chúng và đưa chúngvào hoạt động

Vì vậy,nếu xem xét nguồn lực là tổng thể năng lực(cơ năng và trí năng)của con người được huy động vào quá trình sản xuất, thì nguồn lực đó là nội lựccủa con người.Trong phạm vi xã hội, đó là một trong những nguồn nội lực quantrọng cho sự phát triển Đặc biệt đối với những nước có nền kinh tế đang pháttriển,như nước ta có dân số đông,nguồn nhân lực dồi dào đã trở thành mộtnguồn nội lực quan trọng nhất.Nếu biết khai thac nó sẽ tao nên một động lực tolớn cho sự phát triển

Trang 3

2.2_ Con người là mục tiêu của sự phát triển

Phát triển kinh tế xã hội suy cho cùng là nhằm mục tiêu phục vụ conngười,làm cho cuộc sống con người ngay càng tốt hơn,xã hội ngày càng vănminh.Nói khác đi,con người là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thầncủa xã hội và như vậy nó thể hiện rõ nét nhất mối quan hệ giữa sản xuất và tiêudùng.Mặc dù mức độ phát triển của sản xuất quyết định mức độ tiêu dùng,songnhu cầu tiêu dùng của con người lại tác động mạnh mẽ tới sản xuất, định hướngphát triển sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị truờng.Nếutrên thị trường nhu cầu tiêu dùng của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, lập tứcthu hút lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó và ngược lại

Nhu cầu con người vô cùng phong phú, đa dang và thường xuyên tăng lên,

nó bao gồm nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, về số lượng và chủng loại hànghoá ngày càng phong phú va đa dạng, điều đó tác động tới quá trình phát triểnkinh tế và xã hội

2.3 Yếu tố con người trong phát triển kinh tế xã hội

Con người không chỉ là mục tiêu động lực của sự phát triển,thể hiện mức

độ chế ngự thiên nhiên,bắt thiên nhiên phục vụ cho nhu cầu của con người macòn tạo ra những điều kiện để hoàn thiện cính bản thân con người

Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh rằng trải qua quá trinh laođộng hàng triệu năm mới trở thành con người ngay nay và trong quá trìnhđó,mỗi giai đoạn phát triến của con người lại làm tăng thêm sức chế ngự tựnhiên,tăng thê động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội

Như vậy động lực ,mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triểnbản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người Điều đó lí giải tạisao con người được coi là nhân tố năng động nhất,quyết định nhất của sự pháttriển

Trang 4

3 _ Các chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua một hệ thống các chỉ tiêu,trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:

3.1_Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khoẻ cuả dân cư

Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần chứ không phải đơnthuần là không có bệnh tật Sức khỏe là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bêntrong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần Có nhiều chỉ tiêu biểu hiện trạngthái về sức khỏe, bộ y tế nước ta quy định có 3 loại:

3.2_ Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hóa của người lao động

Trình độ văn hóa của dân số hay của nguồn nhân lực là một chỉ tiêu hết sứcquan trọng phản ánh chất lượng của nguồn nhân lực và có tác động mạnh mẽ tớiquá trình phát triển kinh tế xã hội Trình độ văn hóa cao tạo khả năng tiếp thu vàvận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn

3.3 _ Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kĩ thuật

Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên mônnào đó, nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyênnghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lý một côngviệc thuộc một chuyên môn nhất định Do đó, trình độ chuyên môn của nguồnnhân lực được đo bằng:

Trang 5

• Tỉ lệ cán bộ trên đại học

Trong mỗi chuyên môn có thể phân chia thành những chuyên môn nhỏ lạinhư Đại học bao gồm: kỹ thuật, kinh tế, ngoại ngữ, thậm chí trong từng chuyênmôn lại chia thành những chuyên môn nhỏ nữa

` Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng đó chỉ trình độ củangười được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định,những kỹ năng thực hành về công việc nhất định Trình độ kỹ thuật thường đượcbiểu hiện qua các chỉ tiêu:

Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ với nhau,thông qua chỉ tiêu số lao động được đào tạo và không được đào tạo trong từngtập thể nguồn nhân lực

3.4_ Chỉ số phát triển con người HDI

Chất lượng nguồn nhân lực còn được thể hiện thông qua chỉ số phát triểncon người (HDI)

Chỉ số này được tính bởi 3 chỉ tiêu chủ yếu:

cư)

Trang 6

Như vậy chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặtkinh tế mà còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng tiến bộ xãhội

Nhìn chung chỉ tiêu này nhấn mạnh đến ý chí, năng lực tinh thần của ngườilao động

II_ Vấn đề đầu tư phát triển nguồn nhân lực

1 Quan điểm về đầu tư phát triển nguồn nhân lực

Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư,là việc chi dùng vốn tronghiện tại để tiến hành các hoạt động nhăm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tàisản vật chất(nhà xưởng,thiết bị…)và tài sản trí tuệ(tri thức,trí năng…),gia tăngnăng lực sản xuất,tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển

Đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư những tài sản vật chất(tài sản thực) vàđầu tư phát triển nhũng tài sản vô hình.Và đầu tư phát triển nguồn nhân lực làmột trong nhưng nội dung của đầu tư phát triển những tài sản vô hình Đầu tưphát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung cơ bản sau: đầu tư cho hoạtđộng đào tạo(chính quy,không chính quy,dài hạn ,ngắn hạn,bồi dưỡng nghiệpvụ…)đội ngũ lao động; đầu tư cho công tác chăm sóc sức lẽ đó trong suốt mấy

Trang 7

chục năm qua Đảng và nhà nước ta luôn coi sự khoẻ,y tế; đầu tư cải thiện môitrường, điều kiện làm việc của người lao động;trả lương đúng và đủ cho ngườilao động

2_ Nội dung đầu tư phát triển nguồn nhân lực

Bước sang thế kỷ 21, giáo dục VN đứng trước những thử thách và nhiệm vụ: Sự thay đổi công nghệ diễn ra nhanh chóng; toàn cầu hóa và yêu cầu phát triểnkinh tế - xă hội, đất nước đ ̣i hỏi giáo dục phải cung cấp cho xă hội một đội ngũlao động có chất lượng cao, thái độ làm việc tốt, có sức khỏe, đủ khả năng đápứng yêu cầu của kinh tế cũng như quá tŕnh tự do hóa, di chuyển lao động Làmột nước mới chuyển đổi đang phát triển ở tŕnh độ thấp nên có nhiều hạn chế vềnguồn lực tài chính

Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của bất kìmột quốc gia nào trên thế giới.Riêng với Việt Nam với những lợi thế của mình

về nguồn nhân lực,hiện nay vấn đề đầu tư phát triển nguồn nhân lực đang là mộttrong những mục tiêu hàng đầu của Việt Nam Đầu tư phát triển nguồn nhân lựcbao gồm nhưng nội dung chủ yếu sau:

2.1_ Đầu tư giáo dục đào tạo nguồn nhân lực

Từ những năm còn trong chiến tranh,Bác và Đảng ta đã luôn xác định rằngchúng ta phải chiến đấu với ba loại giặc: giặc đói ,giặc dốt và giặc ngoại xâm.Từ

đó có thể thấy rằng Người đã coi trọng sự nghiệp giáo dục đến mức nào,Ngườicòn giao nhiệm vụ cho các thế hệ trẻ nước nhà mai sau:”Non sông Việt Nam cóbước tới đài vinh quang để sánh vai cùng với các cường quốc năm châu đượchay không.Chính là nhờ một phần ở công học tập ở các cháu”

Vì nghiệp giáo dục là quốc sách hàng đầu.Hiểu rõ vai trò quan trọng củagiáo dục con người nên ngân sách đầu tư cho giáo dục không nhỏ.Hàng năm con

số đầu tư đó lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng,trường lơp có mặt ở khắp xã

Trang 8

thôn,cơ sơ hạ tầng hàng năm đều được quan tâm.Vì lẽ đó hiện nay tỉ lệ ngườibíêt chữ đã lớn hơn 95%.Đây cũng chính là con số mà những năm trước đây là tỉ

lệ dân mù chữ của nước ta.Những năm gần đây tỉ lệ học sinh các cấp đều tăng,cả

về số lượng và chất lượng giáo dục đều được nâng cao qua các năm.Nền kinh tếtri thức đã được nhân dân ta quan tâm đúng mức Đào tạo nguồn nhân lực là quátrình trang thiết bị nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động,để họ

có thể đảm nhận được một công việc nhất định.Phát triển nguồn nhân lực baogồm các hoạt động học tập trang thiết bị kiến thức kĩ năng để cho người laođộng làm công việc khó khăn phức tạp hơn và để phát triển sự nghiệp củamình.Để hoàn thành tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực cần phải có sự đầu tư

kĩ lưỡng về mọi mặt.Việc đầu tư cho giáo dục được thể hiện qua các mặt chínhsau:

Chương trình giảng dạy thể hiện những nội dung sẽ được đưa vào nhàtrường nhằm nâng cao tri thức của mỗi người tham gia khóa học.Vì vậy chươngtrình giảng dạy cần được coi trọng.Hiện nay ở Việt Nam thì chương trình họcđược thể hiện rõ nét trong sách giáo khoa

Sách giáo khoa là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mụcđích dạy và học.Thuật ngữ sách giáo khoa còn được hiểu là một loại sách chuẩncho ngành học.Sách giáo khoa được phân loại theo đối tượng sử dụng hoặc chủ

đề của sách.Việc xuất bản sách giáo khoa thường dành cho các nhà xuất bảnchuyên ngành.Biên soạn một sách giáo khoa có giá trị cả một kì công.Ngày naybên cạnh dạng sách in ,nhiều sách giáo khoa có thể được tham khảo trực tuyến

Ở cấp phổ thông,sách giáo khoa là sự thể hiện những nội dung cụ thể củachương trình phổ thông.Trên thé giới có nhiều bộ sách giáo khoa khác nhaucùng biên soạn cho cùng một môn học.Tại Việt Nam,hiện tại chỉ tồn tại một bộsách duy nhất cho một môn học

Trang 9

Kiến thức trong sách giáo khoa là một hệ thống kiến thức khoa học, chínhxác,theo một trình tự logic chặt chẽ, được gia công về mătj sư phạm cho phùhợp với trình độ học sinh và thời gian học tập.Ngoài phần kiến thức,sách giáokhoa còn có một phần về rèn luyện các kĩ năng và các phương pháp giảng dạymôn học.

Hầu như có sự đồng tình rộng rãi phải cải tiến mạnh mẽ chương trình giảngdạy của các loại trường ở tất cả các cấp, nhưng cải tiến như thế nào để không đivào vết xe của những đợt cải cách, cải tiến đã thực hiện trong 20 năm qua, thìchưa được bàn tới một cách triệt để, thực tế là đang còn có nhiều ý kiến khácnhau Trên báo chí, nhiều học giả Việt Nam sống trong nước và ở ngoài nước đãgiới thiệu nhiều mô hình khác nhau của các nước có nền giáo dục tiên tiến (PhầnLan, Anh, Đan Mạch, Bỉ, New Zealand, Úc…)

Như vậy cải cách giáo dục đang trở thành vấn đề thời sự ở nhiều nước, chứkhông riêng gì nước ta, đương nhiên mỗi nước có những vấn đề riêng của mình.Điểm giống nhau là không nước nào dám khoanh tay ngồi yên.Vì lí do đó và sựcần thiết của giáo dục đào tạo nên nhà nước ta đang có những chính sách đầu tưphát triển nguồn nhân lực

2.1.2 _ Về đội ngũ giáo viên và phương pháp dạy,học

Đào tạo giáo dục đang trở thành vấn đề hết sức quan trọng và được đặt lênhàng đầu ở hầu hết các nước và Việt Nam cũng không ngoại lệ.Vậy để làm thếnào để có hiệu quả,chất lượng tốt đảm bảo đáp ứng yêu cầu đặt ra.Trước hết cần

có đôị ngũ gião viên nhiệt tình, giàu kinh nghiêm và có trình độ chuyên môncao

Phương pháp giáo dục (hay còn gọi là phương pháp dạy học, phương phápgiảng dạy, giáo dục học, sư phạm) là cách thức sử dụng các nguồn lực tronggiáo dục như giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương tiện vật chất đểgiáo dục người học

Trang 10

Hiện nay đã hình thành và phát triển nhiều phương pháp giảng dạy khácnhau như:

truyền đạt kỹ năng còn người học tiếp thu một cách thụ động Giáo viên làmmẫu còn học viên làm theo

còn bản thân học viên tự tìm kiếm tri thức, tự hoạt động theo cách riêng độc lập

và sáng tạo

thoại, phát vấn hay đặt câu hỏi, giáo viên áp đặt kiến thức có sẵn, còn học viênthì học thuộc lòng và nhớ máy móc Giáo viên độc quyền đánh giá cho điểm

hành động thao tác giáo viên đối thoại với học viên, giáo viên hợp tác và traođổi với học viên và giáo viên khảng định kiến thức do hoc viên tìm ra Học sinhhọc cách học, cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, cách sống và trưởng thành.Học sinh tự đánh giá và điều chỉnh làm cơ sở cho giáo viên cho điểm cơ động.Đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong những điều kiện quyết địnhđối với việc nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nướchiện nay Ý thức được tầm quan trọng của vấn đề này, Nhà nước ta rất quan tâmtới việc bồi dưỡng, cập nhật, vận dụng các phương pháp giảng dạy mới trongnhà trường

2.1.3_ Chất lượng nhà trường nước ta:

Việt Nam đang trên con đường phát triển với nhiều biến đổi cả về chất vàlượng.Một trong những những nguyên nhân đó là do đặc điểm nguồn nhân lựcViệt Nam.Nhà nước ta đã đầu tư rất nhiều ngân sách cho công tác giáo dục.Mộttrong những nội dung đầu tư đó là đầu tư cho cơ sở hạ tầng giáo dục.Mà ở đây

Trang 11

chúng ta sẽ xét đến cơ sở nhà trường_nơi diễn ra quá trình đào tạo nguồn nhânlực.

Trong hệ thống quốc dân thì nhà trường được thành lập theo quy hoạch, kếhoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và được tổ chức theocác loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục.Hiện nay thì nước ta đã có cáccấp bậc như:mầm non,tiểu học,trung học cơ sở.trung học phổ thômg,phổ thong

cơ sở,cao đẳng, đại học,trên đại học Ngoài ra còn có cả viện và viện nghiên cứucũng đã được triển khai rộng rãi Các hình thức triển khai cũng rất phongphú.Việt Nam có các loai nhà trường thuộc loại hình công lập, bán công, dânlập, tư thục đều chịu sự quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý giáo dục theo

sự phân công, phân cấp của Chính phủ

Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệthống giáo dục quốc dân; có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân mởtrường dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội

Ngoài ra còn có nhà trường của cơ quan hành chính nhà nước, của tổ chứcchính trị, tổ chức chính trị - xã hội có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức Nhà trường của lực lượng vũ trang nhân dân có nhiệm vụ đào tạo, bồidưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng;bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý nhà nước về nhiệm vụ và kiến thứcquốc phòng, an ninh

Nhà nước ta còn xây dựng cả các loại trường chuyên biệt như trường phổthông dân tộc nội trú; trường phổ thông dân tộc bán trú; trường dự bị đạihọc;trường chuyên, trường năng khiếu;trường, lớp dành cho người tàn tật;trườnggiáo dưỡng

 Nhà trường có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Tổ chức giảng dạy ,học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mụctiêu,chương trình giáo dục;

- Quản lý nhà giáo , cán bộ ,nhân viên;

Trang 12

- Tuyển sinh và quản lý người học;

- Quản lý ,sử dụng đất đai ,trường sở ,trang thiet bị và tài chính theo quyđịnh của pháp luật;

- Phối hợp với gia đình người học , tổ chức , cá nhân trong hoạt động giáodục;

- Tổ chức cho nhà giáo ,cán bộ ,nhân viên và người học tham gia các hoạtđộng xã hội;

- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật;

Đặc điểm chung nhất cho các loại trường từ tiểu học cho đến đại học , cáchọc , viện nghiên cứu ở nước ta là: nhiều trường , nhiều trường lớn và đông, chấtlượng nhìn chung thấp

Có thể thấy nhà nước ta rất quan tâm đến việc đầu tư naxây dựng cơ sởgiảng dạy

2.2 _ Đầu tư y tế chăm sóc sức khỏe

Chăm sóc sức khỏe là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng vàngười sử dụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ Tuy nhiên, không giống

Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở cácmức độ khác nhau Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nênthường người ta gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trướcđược

Dịch vụ y tế là loại hàng hoá mà người sử dụng (người bệnh) thường không

tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y tế) quyết định Nóimột cách khác, ngược lại với thông lệ “Cầu quyết định cung” trong dịch vụ y tế

“Cung quyết định cầu” Cụ thể, người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh nhưngđiều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu lại do bác sĩ quyết định Như

Trang 13

vậy, người bệnh, chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó, bác

sĩ điều trị chứ không được chủ động lựa phương pháp điều trị

Dịch vụ y tế là loại hàng hoá gắn liền với sức khoẻ, tính mạng con ngườinên không giống các nhu cầu khác, khi bị ốm, mặc dù không có tiền nhưngngười ta vẫn phải mua (khám chữa bệnh) đây là đặc điểm đặc biệt không giốngcác loại hàng hóa khác

Có ba loại dịch vụ y tế: dịch vụ y tế công cộng (public good), dịch vụ y tếcho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên (merit good) và dịch vụ y tế cá nhân(private good):

không chỉ giới hạn ở việc cung ứng trực tiếp (dịch vụ khám chữa bệnh) chongười sử dụng mà còn cung ứng gián tiếp cho cộng đồng như các dịch vụ phòngbệnh, giáo dục y tế

một số đối tượng đặc biệt như người nghèo, bà mẹ - trẻ em, người có công vớicách mạng

sử dụng dịch vụ

Trong lĩnh vực y tế, có năm loại thị trường bao gồm: thị trường bảo hiểm y

tế tư nhân, thị trường dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, thị trường dịch vụbệnh viện, thị trường thuốc-vật tư y tế và thị trường nhân lực y tế

Trong cơ chế thị trường, nhà đầu tư để có lợi nhuận tối đa, sẽ căn cứ vàonhu cầu và giá cả trê thi trường để quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thếnào và sản xuất cho ai Thông qua cơ chế thị trường, các nguồn lực của nềnkinh tế tự phân bổ một cách tối ưu Tuy nhiên, để cơ chế thị trường thực hiện tốtđược chức năng của mình, thì thị trường phải có môi trường cạnh tranh hoànhảo, thông tin đẩy đủ và không bị ảnh hưởng bởi các thông tin ngoại lai….Trong lĩnh vực y tế, cơ chế thị trường Thị trường y tế không phải là thị trường

Trang 14

tự do Trong thị trường tự do, giá của một mặt hàng được xác định dựa trên sựthỏa thuận tự nguyện giữa người mua và người bán Trong thịtrường dịch vụ y tế không có sự thỏa thuận này, giá dịch vụ do người bán quyếtđịnh Không thể vận dụng một cách hiệu quả

Các nhà phân tích y tế đã thừa nhận trong thị trường y tế luôn tồn tại cácyếu tố: “thất bại thị trường” cụ thể là:

định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế Cụ thể,muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được cấp giấy phép hành nghề và cần đảm bảonhững điều kiện nhất định về cơ sở vật chất Nói một cách khác, trong thị trường

y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo

Như trên đã trình bày, trên thực tế, bệnh nhân hiểu biết rất ít về bệnh tật và cácchỉ định điều trị, do vậy hầu như người bệnh hoàn toàn phải dựa vào các quyếtđịnh của thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế (cầu do cung quyếtđịnh) Nếu vấn đề này không được kiểm soát tốt sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụngdịch vụ từ phía cung ứng, đẩy cao chi phí y tế

tính chất “ngoại lai” Đặc điểm “ngoại lai” của các dịch vụ này là lợi ích khôngchỉ giới hạn ở những người trả tiền để hưởng dịch vụ mà kể cả những ngườikhông trả tiền (Ví dụ: các dịch vụ y tế dự phòng, giáo dục sức khỏe) Chính điềunày không tạo ra được động cơ lợi nhuận cho nhà sản xuất, làm việc cung ứngcác dịch vụ đó thấp Lúc này, để đảm bảo đủ cung đáp ứng cho cầu cần có sựcan thiệp hỗ trợ của Nhà nước trong cung ứng các dịch vụ y tế mang tính côngcộng

“lựa chọn ngược” có nghĩa là chỉ những người có bệnh mới tham gia mua bảohiểm y tế và tâm lí “phó mặc”- tức là một khi đã có bảo hiểm y tế, người dân sẽkhông có ý thức tự bảo vệ sức khỏe hoặc công ty bảo hiểm tư nhân chỉ lựa chọn

Trang 15

những người khỏe mạnh ít nguy cơ để bán bảo hiểm y tế ( hành vi “hớt váng”).

Vì thế, ngay tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, nguồn tàichính từ các công ty bảo hiểm y tế tư nhân vẫn không phải là nguồn tài chínhchủ yếu trong tổng nguồn tài chính của xã hội dành cho y tế (nguồn chi cho y tế

từ các quỹ BHYT tư nhân bằng 6% tổng chi phí y tế của các nước OECD)

Chính vì những đặc điểm trên của ngành y tế mà việc đầu tư phát triển y

tế, chăm sóc sức khỏe phải được quan tâm một cách đặc biệt để phát triển nguồnnhân lực hoạt động một cách có hiệu quả

gồm những lĩnh vực sau:

2.2.1 _ Đầu tư vào cơ sở vật chất (bệnh viện):

Thực hiện quy hoạch nhằm xây dựng hệ thống bệnh viện một cách hợp lý,phù hợp với sự phát triển kinh tế văn hóa xã hội của từng địa phương, từng vùnglãnh thổ và cả nước, thực hiện mục tiêu công bằng, chất lượng, hiệu quả trongcông tác khám chữa bệnh theo định hướng chiến lược chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe nhân dân Với những mục tiêu chung như:

chăm sóc chất lượng tại các bệnh viện; đến năm 2010 đạt tỷ lệ 18-20 giườngbệnh trên 10.000 dân

thang điều trị và sự phát triển cân đối, hợp lý giữa các bệnh viện đa khoa vàchuyên khoa theo chuyên ngành sâu

thống bệnh viện tính toán khả năng cung cấp ngân sách, quản lý và đào tạo cán

bộ, nhằm từng bước nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống bệnh viện, cả

về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và phát triển chuyên môn kỹ thuật ngang tầm vớicác nước trong khu vực

độ chuyên môn như sau:

Trang 16

• Tuyến 1( tuyến chăm sóc sức khỏe cơ bản ban đầu hay tuyếnhuyện): thực hiện các kỹ thuật chăm sóc sức khỏe cơ bản, mang tính đa khoa;

hơn, mang tính chuyên khoa chuyên ngành; là tuyến kỹ thuật cao hơn Tuyền 1

và tiếp nhận người bệnh do Tuyến 1 chuyên đến

trị, thực hiện các kỹ thuật chuyên khoa sâu và tiếp nhận người bệnh từ tuyếndưới chuyển đến

BVĐK và chuyên khoa thuộc Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng và một số BV của HàNội; một số BV của Hải Phòng (Việt - Tiệp, Phụ Sản, Nhi);

Thái Nguyên, BVĐK Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí và BVĐK tỉnh QuảngNinh;

Trang;

Rẫy, Răng Hàm Mặt, Thống nhất) và một số BVĐK và chuyên khoa của thànhphố Hồ Chí Minh: Phụ Sản Từ Dũ, Nhi đồng, Ung bướu, Chấn thương - Chỉnhhình, Viện Tim, Mắt ;

chuyên khoa của khu vực sẽ hình thành (Phụ Sản, Nhi, Ung bướu, Tim mạch ).Ngoài các bệnh viện công lập như trên còn phải khuyến khích việc hìnhthành và phát triển các bệnh viện theo hướng đa dạng hóa các loại hình khám

Trang 17

chữa bệnh, khuyến khích thành lập các bệnh viện bán công, dân lập, tư nhân cóvốn đầu tư nước ngoài nhưng bệnh viện công vân giữ vai trò chủ đạo Nhất là

BV chuyên khoa nhằm thực hiện chính sách xã hội hoá và đa dạng hoá các loạihình dịch vụ y tế Tuy nhiên, hệ thống BV công vẫn đóng vai trò chủ đạo, đặcbiệt là phát triến các kỹ thuật cao, đảm bảo cung cấp các dịch vụ chăm sóc sứckhoẻ cho nhân dân

2.2.2_ Trang thiết bị y tế, chăm sóc sức khỏe :

Trang thiết bị y tế bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiệnvận chuyển chuyên dụng phục vụ cho hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhândân Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đặc biệt trong giai đoạncông nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhândân đòi hỏi chất lượng ngày càng cao Trang thiết bị y tế là một trong những yếu

tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y tế, hỗ trợ tích cựccho người thầy thuốc trong công tác phòng bệnh và chữa bệnh Do vậy, lĩnh vựctrang thiết bị y tế cần được tăng cường đầu tư cả về số lượng và chất lượng, đảmbảo tính khoa học và hiệu quả Việc đầu tư trang thiết bị y tế cần phải chú ynhững nội dung sau:

Trang thiết bị y tế là lĩnh vực chuyên dụng và rất đắt tiền đòi hỏi nhiều yêucầu khắt khe về kỹ thuật cao, chính xác, an toàn và ổn định Nhu cầu kinh phí đểtrang bị mới cũng như duy trì hoạt động liên tục của trang thiết bị đã có là rấtlớn

Đầu tư trang thiết bị y tế phải có trọng tâm, trọng điểm nhằm đạt được tínhhiệu quả, khoa học và kinh tế

Xây dựng kế hoạch đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ sản xuất trang thiết

bị y tế mà trong nước có ưu thế Trước hết tập trung sản xuất các thiết bị y tếthông dụng phục vụ y tế cơ sở, chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình,

chăm sóc sức khỏe ban đầu, dụng cụ sử dụng một lần và các trang thiết bị phục

vụ y tế học đường và gia đình, người lao động

Trang 18

Xây dựng quy chế nhằm tạo môi trường hấp dẫn cho các doanh nghiệp, các

cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ thuộc các ngành, các địa phương thamgia sản xuất trang thiết bị y tế Khuyến khích dùng trang thiết bị y tế sản xuấttrọng nước, giảm dần nhập khẩu, đến năm 2010 chỉ nhập khẩu những thiết bị y

tế chưa sản xuất được trong nước

Từng bước xây dựng và đệ trình Nhà nước xem xét ban hành các chính sáchkhuyến khích, ưu đãi đối với các cơ sở sản xuất trang thiết bị y tế trong nước

Có chính sách ưu tiên thích đáng trong việc cử cán bộ đi đào tạo về nghiêncứu sản xuất trang thiết bị trong nước

Thống nhất quản lý Nhà nước về kinh doanh , xuất nhập khẩu trang thiết bị

y tế từ trung ương đến địa phương Thiết lập hệ thống thanh tra, kiểm tra vàgiám sát chất lượng trang thiết bị y tế đang lưu hành trên thị trường

Có chính sách hỗ trợ về vốn và kỹ thuật cho các cơ sở thuộc thành phầnkinh tế nhà nước nhằm phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực kinh doanh trangthiết bị y tế

Tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế có thể tham gia hoạt độngkinh doanh trang thiết bị y tế theo quy định của Nhà nước và hướng dẫn của Bộ

y tế

Bộ Y tế thành lập cơ sở nghiên cứu với sự tham gia của các cơ quan trựcthuộc Bộ Y tế, các cơ sở khoa học công nghệ, các nhà khoa học để nghiên cứukhả năng ứng dụng những trang thiết' bị y tế, các phương pháp điều trị và chẩnđoán mới xuất hiện trên thế giới để áp dụng có chọn lọc vào Việt Nam

Có chính sách khuyến khích các nhà khoa học, các cơ sở khoa học và côngnghệ trong và ngoài ngành tham gia nghiên cứu chế tạo, khai thác sử dụng vàthực hiện dịch vụ kỹ thuật về trang thiết bị y tế

2.2.3_ Cán bộ y tế:

Trang 19

Cán bộ y tế là lực lượng chủ chốt trọng nghành y Dù máy móc, thiết bị cóhiện đại đến đâu đi chăng nữa thì vẫn cần phải có những bác sĩ có trình độchuyên môn để khám và chuẩn đoán bệnh Chính vì vậy mà việc đầu tư cho cán

bộ y tế là rất cần thiết

Đầu tư cho hệ thống giáo dục đào tạo các y bác sĩ ngay từ trong nhà trường.Việc đào tạo phải được kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, đầu tư trang bị cácdụng cụ học tập phục vụ giảng dạy, sinh viên phải được tiếp xúc với các loạibệnh tật ngay khi còn ở trên ghế nhà trường

Muốn trò giỏi thì đội ngũ giáo viên phải là những người có chuyên môn vàkinh nghiểm giảng dạy cũng như thực hành trong thực tế

Tổ chức các chương trình du học, cấp học bổng cho các sinh viên y khoa cótrình độ giỏi đi du học nước ngoài để nâng cao tầm hiểu biết và kinh nghiệm.Tuy nhiên đi kèm với nó phải có sự thỏa thuận về công ăn việc lam sau khi họcxong tránh tình trang chảy máu chất xám cũng như thất nghiệp sau khi về nước

Đội ngũ y, bác sĩ phải được quan tâm, phụ cấp phải phù hợp với trình độ vàhơn thế nữa là tránh hiện tượng lương được chi trả không đáp ứng được nhữngchi tiêu thiết yếu của cuộc sống

2.2.4_ Mô hình bệnh tật:

Cần phải có một mô hình bệnh tất nhất định để có thể tìm ra một số yếu tốảnh hưởng tới sức khỏe và bệnh tật cho nhân dân nói chung và người lao độngnói riêng, trên cơ sở đó đưa ra luận cứ khoa học cho công tác phòng và chốngbệnh hữu hiệu bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, người lao động Trong mô hìnhbệnh tật thì có:

Trang 20

• Các bệnh có tỷ lệ chết cao nhất

……

Các mô hình bệnh tật la thay đổi theo từng vùng và địa phương chính vì vậy

mà việc đầu tư nghiên cứu mô hình bệnh tật là rất tốn kém và cần phải được chútrọng đầu tư

Vấn đề về bảo hiểm y tê và bảo hiểm xã hội:

Bảo hiểm y tê: Chủ lao động đóng 2% còn người lao động dóng 1% trêntổng số lương Trong bảo hiểm y tế thì có bảo hiểm y tế tự nguyện và bảo hiểm

y tế bắt buộc

Theo nghị định 63/2005 của Chính Phủ ban hành ngày (1/7):

Nội dung nghị định nêu rõ, bệnh nhân được hỗ trợ một phần chi phí đểthanh toán các dịch vụ kỹ thuật cao như chẩn đoán hình ảnh, can thiệp tim mạch,được thanh toán các chi phí điều trị do tai nạn giao thông xét theo nguyên nhân

bị tai nạn và được chi phí về phục hồi chức năng trong thời gian điều trị, khámchữa bệnh

Những người nghèo (theo tiêu chí người nghèo do nhà nước ban hành),người có công với cách mạng, người đang sinh sống hoặc công tác ở vùng sâu,vùng xa được thanh toán chi phí vận chuyển khi chuyển tuyến điều trị

Ngoài ra, người tham gia bảo hiểm y tế sẽ được thanh toán 100% chi phíkhám chữa bệnh (trừ các dịch vụ kỹ thuật cao) thay vì chỉ được thanh toán 80%tổng chi phí điều trị như hiện nay Đồng thời, sẽ có nhiều phương thức thanhtoán bảo hiểm y tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia bảo hiểm và chủđộng cho các cơ sở khám chứa bệnh, trong đó có phương thức thanh toán theophí dịch vụ, theo định suất, thanh toán từng nhóm bệnh

Trang 21

Bảo hiểm xã hội: Chủ lao động đóng 15% và người lao động đóng 5% trêntổng số lương.

Bảo hiểm xã hội bắt buộc: chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp kí hợp đồnglao động với nhân viên với thời hạn hợp đổng từ ba tháng trở lên hoặc vô thờihạn không kể quy mô doanh nghiệp

Tóm lại, nhà nước và doanh nghiệp khi đầu tư vào y tế cần tập trung vaocác vấn để kể trên, cần phải vận dụng và kết hợp sao cho phù hợp với điều kiệncủa các doanh nghiệp và cuộc sống của người lao động

2.3 _ Đầu tư cải thiện môi trường làm việc của người lao động

Trong thời đại CNH-HĐH đất nước, muốn đạt được mục tiêu phát triển bềnvững phải xây dựng được chuẩn mực về bền vững môi trường trong mối quan hệcon người-thiên nhiên-môi trường Điều kiện sống và các hoạt động SXKD thânthiện với môi trường sẽ tạo nên cuộc sống hài hoà giữa con người và thiênnhiên, giúp phát triển kinh tế bền vững Muốn thực hiện được kỳ vọng đó, mọingười dân - trong đó có nguồn lao động - cần phải nhận thức đầy đủ trách nhiệmcủa mình về bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyênthiên nhiên Chúng ta sẽ nghiên cứu các vấn đề chính là:

an toàn sức khoẻ cho người lao động

Trang 22

Nội dung chủ yếu của Bảo hộ lao động là an toàn lao động, vệ sinh laođộng Bởi vậy, trong nhiều trường hợp người ta dùng cụm từ "an toàn và vệ sinhlao động" để chỉ công tác Bảo hộ lao động Trong trường hợp nói đến Bảo hộlao động, chúng ta hiểu đó là bao gồm cả an toàn lao động, vệ sinh lao động và

cả những vấn đề về chính sách đối với người lao động như: vấn đề lao động vànghỉ ngơi, vấn đề lao động nữ, vấn đề bồi dưỡng độc hại

2.3.2 _ Điều kiện lao động

Trong hoạt động sản xuất, người lao động phải làm việc trong một điệukiện nhất định, gọi chung là điều kiện lao động

Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế đượcbiểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động,quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trongkhông gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ vớingười lao động tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con ngườitrong quá trình lao động Tình trạng tâm sinh lý của người lao động trong khi laođộng tại chỗ làm việc cũng được coi như một yếu tố gắn liền mới điều kiện laođộng

Việc đánh giá, phân tích điều kiện lao động cần phải tiến hành đồng thờitrong mối quan hệ tác động qua lại của các yếu tố nói trên và sự ảnh hưởng, tácđộng của chúng đến người lao động như thế nào? Từ đó mới có thể có đượcnhững kết luận chính về điều kiện lao động ở cơ sở đó và có các biện pháp phùhợp nhằm cải thiện điều kiện lao động, bảo vệ sức khoẻ người lao động

2.3.3 _ Tai nạn lao động

Là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động do kết quả của sự tác động độtngột từ bên ngoài của các yếu tố nguy hiểm có thể gây chết người hoặc làm tổnthương hoặc làm phá huỷ chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận

Trang 23

nào đó trên cơ thể Khi người lao động bị nhiễm độc đột ngột một lượng lớnchất độc gây chết người hoặc huỷ hoại chức năng hoạt động của một bộ phận cơthể ( nhiễm độc cấp tính) cũng được coi là tai nạn lao động Tai nạn lao độngđược chia làm 3 loại : Tai nạn lao động chết người, Tai nạn lao động nặng,Tainạn lao động nhẹ.Tai nạn lao động không chỉ ảnh hưởng đến tài sản vật chất màcòn ảnh hưởng đến tinh thần của người lao động, gián tiếp ảnh hưởng đến năngsuất của doanh nghiệp.Từ đó nhà nước và các doanh nghiệp cần có những biệnpháp thích hợp để hạn chế tối đa việc xảy ra tai nạn lao động.

2.3.4 _ Bệnh nghề nghiệp

Là bệnh phát sinh do ảnh hưởng và tác động thường xuyên, kéo dài của cácyếu tố có hại phát sinh trong sản xuất lên cơ thể người lao động Đây là hiệntrạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghềnghiệp Những người làm việc trong môi trường độc hại, ô nhiễm thường mắcphải “bệnh nghề nghiệp” Để hạn chế vấn đề này nhà nước và các doanh nghiệpcần tổ chức tốt công tác bảo hộ cho người lao động và có những chính sách ưuđãi phù hợp đối với những đối tượng này

Như vậy, TL là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết màdoanh nghiệp phải trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng công việc

mà người lao động cống hiến cho doanh nghiệp Hay nói một cách đơn giản, TL

Trang 24

là số tiền mà người sử dụng lao động ( người mua sức lao động ) trả cho ngườilao động ( người bán sức lao động )

Mặt khác do tính chất đặc biệt của loại hàng hoá sức lao động mà TL khôngchỉ thuần tuý là vấn đề kinh tế mà còn là một vấn đề xã hội rất quan trọng liênquan đến đời sống và trật tự xã hội ( VD: như trả lương không đúng và đủ chongười lao động có thể gây ra đình công…)

Mức lương tối thiểu hiện nay ở nước ta như thế nào? Nó đã đáp ứng đựơcnhu cầu thiết yếu của người lao động? Thực trạng của việc thực hiện các côngviệc liên quan tới tiền lương trong các doanh nghịêp cũng như trong toàn bộ nềnkinh tế đang được triển khai như thế nào? Những thụân lợi, cũng như hạn chế

mà ta đẫ nhận được là gì? Bên cạnh đó là những giải pháp để hoàn chỉnh vấn đềtiền lương …Tất cả được trình bày lần lượt ở các mục sau:

Đối với người lao động, tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ,phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa số lao động trong xã hội Phấn đấu nângcao TL là mục đích của hết thảy mọi người lao động Mục đich này tạo ra độnglực để người lao động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình

Còn đối với doanh nghiệp, TL là một phần chi phí cấu thành chi phí sảnxuất của doanh nghiệp Tiền lương phải trả cho người lao động là một yếu tố cấuthành nên giá trị sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp toạ ra Các doanh nghiệp sửdụng tiền lương để làm đòn bẩy kinh tế khuyến khích tinh thần tích cực laođộng, là nhân tố thúc đẩy để phát triển năng suất lao động

Để có được cơ chế trả lương xứng đáng cho người lao động cũng như phùhợp với từng doanh nghiệp thì cần co nhiều sự điều chỉnh xuyên suốt từ các cấpcao đến từng cấp ngành cơ sở, địa phương

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGUỒN

NHÂN LỰC VIÊT NAM

Trang 25

1_ Đầu tư giáo dục – Đào tạo nguồn nhân lực

Lâu nay những người am hiểu về giáo dục nước nhà vẫn thường nhắc đếnmột khái niệm không hề có trong từ điển là "giáo dục ảo" để nói về thực trạnggiáo dục nước ta hiện nay Vậy phải chăng "giáo dục ảo" chính là yếu tố tạo nêncái "thực" của chất lượng giáo dục hiện nay?

Giáo sư Phạm Minh Hạc khi bàn về vấn đề chất lượng giáo dục đã nhấnmạnh: "Chất lượng giáo dục là vấn đề số một của sự nghiệp giáo dục Hiện ởViệt Nam nhiều người quan tâm đến chất lượng giáo dục và cũng có nhiều quanniệm khác nhau, trong đó có không ít quan niệm ảnh hưởng không tốt tới việcdạy và học của nhà trường, tác dụng xấu đến toàn bộ công việc quản lý sựnghiệp giáo dục - đào tạo"

Đầu tư giáo dục chất lượng còn chưa cao, coi trọng bằng cấp, chưa coitrọng nhân công kỹ thuật trong khi nhu cầu ngày càng tăng Theo thống kê của

Bộ GDĐT, có 63% tổng số sinh viên tốt nghiệp ra trường không có việc làm.Trong số 37% sinh viên có việc làm, thì cũng không đáp ứng được công việc,không ít công ty phải mất 1-2 năm đào tạo lại Bằng cấp đào tạo chưa được thịtrường lao động quốc tế thừa nhận, tốt nghiệp đại học ở Việt Nam chưa hẳn ởnước ngoài đã được trả lương theo văn bằng

Chất lượng đào tạo nghề hiện nay: chúng ta đang vướng phải một số tồn tại

về nội dung, chương trình đào tạo chưa theo kịp sự phát triển của sản xuất kinhdoanh, chưa đổi mới bắt nhịp được với chuẩn mực đào tạo nghề của các nướcphát triển, trang bị kiến thức mới và đào tạo kỹ năng thực hành còn hạn chế…

Thực trạng sách giáo khoa : vừa lãng phí, vừa di hại Đó là đầu đề một bàiviết trên Tuổi Trẻ ngày 19.10 Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó

là sự độc quyền của nhà xuất bản Giáo dục Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừaquyết định thanh tra tình tình này

Một trong những tệ nạn lớn nhất của ngành giáo dục VN, như nhiều nhàgiáo, phụ huynh học sinh đã phản ánh khá thường xuyên trên báo chí trong

Trang 26

nước, là tình hình sách giáo khoa vô cùng tệ hại, nội dung liên tục bị thay đổikhông dựa trên một cơ sở kiến thức bền vững nào, sai xót đầy dẫy trong soạnthảo và in ấn, nhưng mỗi năm phụ huynh học sinh vẫn phải è cổ ra mua sáchmới cho con em, không được dùng lại sách của năm trước đã phải mua cho đứacon lớn hơn v.v Việc nhà xuất bản Giáo dục được giao độc quyền xuất bản sáchgiáo khoa đã bị tố cáo hàng chục năm trời như một nguyên nhân chủ yếu củatình trạng đó, nhưng vẫn không hề được thay đổi Giáo sư Nguyễn Xuân Hãn,trường đại học quốc gia Hà Nội từng làm con tính cho thấy chỉ riêng việc thaymột cuốn sách cho một môn học, ở một lớp, đã mang lại cho NXB Giáo dụcmón lãi hàng triệu đô la Với hơn 150 triệu bản mỗi năm, sách giáo khoa đangchiếm 80 % thị phần xuất bản sách Theo ông Hãn, doanh số của NXB Giáo dụcmỗi năm thu 100 triệu đôla chỉ từ việc bán sách giáo khoa.

Tình trạng đó có thể được thay đổi trong một tương lai không xa ? Ít ra đó

là điều người ta có thể hi vọng khi đọc trên các báo trong nước những ngày

16-17.10 : Ngày 13/10, Văn phòng chính phủ có công văn 5877/VPCP-V.I truyền

đạt ý kiến của thủ tướng về những vấn đề bất cập trong in ấn và xuất bản sáchgiáo khoa tại nhà xuất bản Giáo dục (thuộc bộ GD-ĐT) Và tiếp theo công văn,phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã yêu cầu Thanh tra chính phủ chủ trì, phốihợp với bộ GD-ĐT, bộ Tài chính và các cơ quan liên quan « tiến hành thanh tratài chính và công tác xuất bản sách giáo khoa phục vụ đổi mới Chương trìnhgiáo dục phổ thông tại Nhà xuất bản Giáo dục »

Chủ trương giảm tải đã được ngành giáo dục đề ra từ nhiều năm qua, nhiều

bộ SGK đã được biên soạn với yêu cầu giảm tải nhưng hiệu quả vẫn chưa đượcnhư mong muốn Có lẽ trong lúc xây dựng chương trình mới, chúng ta vẫn cònchịu ảnh hưởng của chương trình cũ Việc xác định mức độ yêu cầu kiến thứcvẫn cùng lúc tuân thủ nhiều nguyên tắc mà trong đó giảm tải chỉ là một nguyêntắc, khiến những người biên soạn chương trình chưa thật sự mạnh dạn thể hiệnđược triệt để yêu cầu cải tiến, giảm tải Những người tham gia xây dựng chương

Trang 27

trình cũng chưa hoàn toàn tiếp cận với phương pháp, phương thức xây dựngchương trình mới để có thể tạo ra thay đổi đáng kể trong chương trình, SGKmới.

Mặt khác,vai trò của người giáo viên (GV) trực tiếp giảng dạy trên lớp,chuyển tải chương trình, kiến thức đến người học rất quan trọng trong việc thựchiện giảm tải, nhưng hiện nay đóng góp của đội ngũ GV vào mục tiêu này chưađược rõ nét Đổi mới nội dung chương trình phải gắn liền với đổi mới phươngpháp giảng dạy mới thật sự đem lại hiệu quả Phải thay đổi cơ bản phương phápgiáo dục nhằm khắc phục kiểu truyền thụ một chiều, nặng lý thuyết, ít khuyếnkhích tư duy sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự giải quyếtvấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho người học

Ngoài ra thực trạng in lậu trở thành vấn nạn,trong đó SGK chiếm 80% Tìnhtrạng phát hành 1 số xuất bản phẩm không rõ nguồn gốc,tăng chi phí,giảm giásách một cách bất hợp lý,phá giá thị trường

1.2 _ Đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy

Chúng ta phải thừa nhân một điều : đội ngũ GV là yếu tố quan trọng nhất đểđảm bảo chất lượng giáo dục Muốn nâng cao chất lượng giáo dục, muốn đổimới giáo dục cần nhiều yếu tố, nhưng người GV, với ba yêu cầu trình độ chuyênmôn, phương pháp giảng dạy và đạo đức, vẫn là yếu tố đầu tiên đảm bảo cho sựthành công

Chúng ta cũng phải thừa nhận một thực tế là chất lượng chuyên môn,nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáodục và phát triển kinh tế - xã hội, đa số vẫn chạy theo lối dạy cũ, nặng về truyềnđạt lý thuyết, ít chú ý đến phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, kỹ năng thựchành của người học

Trang 28

Tất nhiên còn vai trò của các cấp quản lý giáo dục ở đâu? Đổi mới phươngpháp giảng dạy đã được ngành xác định là một yêu cầu bức thiết để đổi mới giáodục nhưng tại sao nó vẫn chưa “thấm” đến từng giáo viên, để người giáo viêncoi đổi mới phương pháp như một yêu cầu cấp thiết cần phải thực hiện? Đó làtrách nhiệm của các cấp quản lý giáo dục, do còn thiếu sự quyết liệt trong chỉđạo như phải đưa vào chỉ tiêu thi đua, có chính sách động viên, khuyến khíchkịp thời Song song với điều đó, chúng tôi cũng cho rằng chương trình giáo dụcphổ thông cần tiếp tục điều chỉnh và giảm hợp lý nội dung, chương trình chophù hợp với tâm lý, sinh lý của học sinh, nhất là cấp tiểu học và THCS.

Hiệu quả đổi mới phương pháp giảng dạy chưa cao vì nhiều yếu tố, trong đóthiếu thiết bị dạy học cũng là một yếu tố Thiết bị dạy học thường đi sau trongkhi đây là một yếu tố hỗ trợ giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy Gần đây,cùng với việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, thiết bị dạy học được ưutiên đầu tư nhưng lại đầu tư không đồng bộ, nhiều nơi có thiết bị nhưng thiếuphòng thí nghiệm khiến hiệu quả sử dụng chưa cao

Nhưng yếu tố quan trọng nhất trong đổi mới phương pháp giảng dạy là vaitrò của người giáo viên Trong khi đó, dường như ý thức và sự nhiệt tình đổimới phương pháp giảng dạy chưa đến được từng giáo viên, chưa được giáo viênthực hiện thường xuyên, liên tục Dường như giáo viên mới chỉ chú ý đến nhữnggiờ có dự giờ, kiểm tra, dạy mẫu

Tính bình quân chung mỗi trường dạy nghề công lập và ngoài công lập có

từ 30-34 giáo viên Từ năm 1992 trở lại đây, do yêu cầu của thị trường lao động;tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập lao quốc tế,đội ngũ giáo viên của các trường đã được bổ sung, đào tạo lại, bồi dưỡng kiênthức, kỹ năng, phương pháp đào tạo mới Do đó chất lượng của đội ngũ giáoviên dạy nghề được nâng cao hơn, đặc biệt là trong các trường có sự hợp tác đầu

tư của quốc tế đã tạo ra bước chuyển mới về nâng cao chất lượng của công tácđào tạo nghề Kết quả có hơn 63% giáo viên đạt tiêu chuẩn

Trang 29

Gần đây có nhiều tiếng nói trên báo chí thẳng thắn phê phán tình trạng chấtlượng thầy dạy nhìn chung trong cả nước là thấp; không hiếm trường hợp thầy,

cô giáo đứng nhầm bục dạy; dạy theo giáo án tủ, giáo án mượn; dạy theo theolối mài chữ, chép chữ; tình trạng các trường thiếu thầy…

1.3 _Chất lượng nhà trường

Trước hết ta phải kể đến đó là vấn đề ngân sách, điều kiện không thể thiếu

để nâng cao chất lượng giáo dục , cụ thể là nâng cao chất lượng cơ sở vật chất,nhà trường ,điều kiện trực tiếp để nâng cao chất lượng giáo duc đào tạo Mấynăm trở lại đây đầu tư cho giáo dục - đào tạo đã đạt tới tỷ lệ 15% tổng ngân sáchnhà nước Riêng năm 2003 là 16,5% và dự kiến năm 2004 sẽ nâng lên 17,5% vàđến năm 2010 là 20% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm Nhưng thực tế,theo ông Trần Đình Nuôi (chuyên viên cao cấp Bộ Kế hoạch - Đầu tư) thì 90%ngân sách này đã chi trả cho lương giáo viên, còn lại mới chi cho các hoạt độnggiáo dục khác

Trước thực trạng giáo dục hiện nay về cơ bản còn thiếu rất nhiều trườnglớp ở mọi bậc học do ngân sách đầu tư của nhà nước có hạn mặc dù chính phủ

đã dành nhiều ưu tiên cho lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là xây dựng cơ sở vật chất,trang thiết bị cho các trường học nhưng trước tình hình dân số gia tăng cùng vớichất lượng cuộc sống được nâng cao thì số lượng trường lớp hiện có là chưa đủ

để đáp ứng nhu cầu Hơn thế nữa với truyền thống hiếu học và tâm lý của tất cácbậc phụ huynh đều mong muốn đầu tư cho con cái mình được tiếp thu nhữngkiến thức hiện đại để đảm bảo cuộc sống sau này Theo cuộc khảo sát gần đâychỉ tính riêng một quận của thành phố Hà Nội có 31 nhà trẻ - mẫu giáo, 31trường tiểu học và trung học cơ sở và 8 trường phổ thông trung học Nhìn chungmạng lưới hạ tầng xã hội còn chưa đủ so với nhu cầu chỉ tiêu theo quy chuẩncòn quá thấp còn nhiều trường chưa đảm bảo điều kiện học tập cho học sinh Vìvậy cần có sự đầu tư cơ sở vật chất theo chiều sâu

Trang 30

Thực tế ở các trường , kể cả trường chuyên , cơ sở vật chất cực kỳ thiếuthốn : thiếu sân chơi bãi tập , nhà đa năng, phòng học bộ môn, thư viện, phòngđọc, phòng thí nghiệm ,thực hành và thiết bị giáo dục.

Đa số các trường đào tạo nghề còn thiếu về số lượng, chất lượng trang thiết

bị lạc hậu Qua khảo sát của Bộ lao động – Thương binh xã hội, 50% số trangthiết bị của các cơ sở đào tạo nghề được sản xuất trước năm 1995 và 6% sảnxuất trước năm 1975; số trang thiết bịi hiện đại, đáp ứng tốt cho công tác dạynghề chỉ đạt 20% Đặc biệt là trang thiết bị đào tạo các nghề trong các nghành:hoá chất, luyện kim, sửa chữa thiết bị chính xác, in ấn…quá lạc hậu so với côngnghệ đang đựơc áp dụng trên thế giới

1.4_ Chính sách của nhà nước:

Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp của các trường năm 2007, kinh phí năm

2008 sẽ bố trí trên cơ sở mức độ đảm bảo chi thường xuyên từ nguồn tự chủ củacác trường Đối với các trường, đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, không ổnđịnh, Bộ GDĐT sẽ phân bổ kinh phí đảm bảo chi tiền lương, các khoản có tínhchất lượng và chi giảng dạy học tập của nhà trường

-Đối với các trường có nguồn thu sự nghiệp cao, ổn định, bộ hỗ trợ mộtphần chi thường xuyên Cụ thể, các trường có nguồn thu sự nghiệp từ 65% trởlên trong tổng kinh phí hoạt động năm 2007 sẽ được Bộ GDĐT định hướng tiếntới tự chủ 100% sau năm 2010 Với các trường này, ngân sách hỗ trợ 50%-70%tiền lương và các khoản có tính chất lương

Trên thực tế, theo phản ánh của nhiều trường ĐH, kinh phí chi thườngxuyên chỉ dành khoảng 20- 30% cho hoạt động hỗ trợ đào tạo Ông Bùi Văn Ga

- Hiệu trưởng Trường ĐH Đà Nẵng - cho biết: Trường phải chi 40- 45% tổngngân sách chi thường xuyên để bù lương, khoảng 30% hỗ trợ việc miễn giảmhọc phí cho đối tượng chính sách, chỉ còn 30% hỗ trợ đào tạo

Trang 31

- Với cơ cấu phân bổ này, khó có thể nâng chất lượng đào tạo Chỉ tínhriêng tiền bù giờ cho GV, với mức 23.000đồng/giờ/GV, trường đã phải "gánh"19.000đ, ngân sách chỉ đủ chi 4.000đ/giờ/GV.

Đại diện một số trường cho rằng: Bộ kêu gọi "tự chủ" thì cần có cơ chếthông thoáng hơn để các trường thực hiện các giải pháp tăng nguồn thu Với cơchế tài chính hiện nay, các trường "khó cựa" để có thể "tự chủ"

Theo Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Bộ GDĐT đã ký phân cấp vừaqua cho 10/14 trường ĐH trọng điểm Cơ chế tài chính với ĐH sẽ cởi mở hơn.Sắp tới sẽ thí điểm thực hiện việc cho phép hiệu trưởng quyết định mức lươngtrả cho GV Trường có khả năng tài chính, có thể trả lương cao để thu hút GVgiỏi

2_ Thực trạng đầu tư phát triển của ngành y tế

Trong thời gian hơn 10 năm trở lại đây, tốc độ phát triển kinh tế của nước tatăng cao, những theo điều tra khảo sát thì bên cạnh những con số tăng trưởngkinh tế đáng vui mừng đó thì cũng có những con số tăng trưởng đáng lo ngại

Đó là tỷ lệ tăng số người tử vong cũng như các loại bệnh tật do ô nhiễm gây ranhư: Viêm mũi, viêm xoang, viêm phế quản, phổi và viêm họng ( 40.26%) Đểđảm bảo sức khỏe cho người lao động và giảm thiểu khả năng mắc bệnh nghềnghiệp của người lao động chúng ta cần có một hệ thống chăm sóc y tế, sứckhỏe cho người lao động Vậy thực tế ở nước ta việc đầu tư cho bộ máy y tế sứckhỏe hiện nay như thế nào chúng ta sẽ cùng xem xét theo các tiêu chí sau:

Trang 32

sung ngày càng hoàn chỉnh đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng Theo sốliệu của tổng cục thống kê thì ta có:

Thống kê của bộ y tế cũng cho biết, có 100% số bệnh viện trung ương và90% bệnh viện tuyến tỉnh đã chuyển sang tự chủ về tài chính ở những mức độkhác nhau; đồng thời chủ động vay vốn từ các tổ chức tín dụng, các nhà đàu tư,cán bộ, nhân viên bệnh viện để phát triển các loại hình dịch vụ y tế hiện đại, đápứng nhu cầu điều trị của người bệnh

Nhiều bệnh viện công đã vay vốn từ vài chục đến hơn 100 tỷ đồng để đầu tư

mở rộng, nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ công tác khám chữa bệnh cho nhândân Bên cạnh đó, hoạt động liên doanh, liên kết đầu tư lắp đặt thiết bị y tế tạicác bệnh viện công được thực hiện rộng rãi và phổ biến Tiêu biểu như bệnhviện Bạch Mai, K, Trung Ương huế, chợ Rẫy, phụ sản từ Dũ thành phố Hồ ChíMinh Hiện nay bệnh viện sản Từ Dũ triển khai hai dự án xây dựng khu nội trú,khu khám bệnh trị giá gần 200 tỷ đồng với nguồn vốn vay ưu đãi từ các dự ánkích cầu đầu tư xây dựng cơ bản địa phương

Bên cạnh hệ thống bệnh viện công lập, hệ thống y tế tư nhân cũng chuyểnbiến tích cực với hơn 30 nghìn cơ sở trong đó có 66 bệnh viện tư, 300 phòngkhám đa khoa, 87 nhà hộ sinh …đã góp phần giảm tải cho y tế công lập chủ yếutại các thành phố lớn Ngoài ra ngay trong các doanh nghiệp kinh doanh nhưđóng tầu, hóa chất, xây dựng… hay ngay trong các trường học cũng có các cơ sởkhám chữa bệnh cho ngườio động và học sinh

Ngoài những thuận lợi trên thì việc đầu tư vào xây dựng bệnh viện cũng gặpphải không ít khó khăn như:

Các bệnh viện được đầu tư chậm, thiếu đồng bộ đặc biệt là sau khi kiện toànlại tổ chức y tế của tỉnh theo nghị định 171 và 172 của Chính Phủ Các đơn vị y

tế tuyến tỉnh, huyện mới thành lập đều gặp khó khăn như thiếu cán bộ, thiếu cơ

Ngày đăng: 25/04/2013, 14:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w