Với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 9,7%/ năm trong những năm gần đây, Hải Dương đang là tỉnh có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư và là một trong 10 tỉnh có nguồn vốn nước ngoài đổ vào nhiều nhất trên cả nước.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 9,7%/ năm trong những năm gần đây, Hải Dương đang là tỉnh có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư và là một trong 10 tỉnh có nguồn vốn nước ngoài đổ vào nhiều nhất trên cả nước Để đạt được thành tựu này, bằng quyết tâm của mình, nhân dân và các cấp lãnh đạo tỉnh đã vượt qua được những chặng đường khó khăn, thách thức đã tạo được những chuyển biến vượt bậc đưa nền kinh tế - xã hội phát triển giữ vững ổn định an ninh chính trị; từng bước chuyển dịch nền kinh tế theo hướng ưu tiên phát triển lĩnh vực thương mại dịch vụ, chú trọng đầu tư phát triển các ngành công nghiệp.
Hoạt động đầu tư phát triển kinh tế của Hải Dương từ trước đến nay chưa bao giờ sôi động như giai đoạn 2005 – 2009 và đã góp phần tạo đà tăng trưởng cho tỉnh Nhằm xem xét và đánh giá các hoạt động đầu tư đó, em đã nghiên cứu và viết
đề tài “ Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009: Thực trạng và giải pháp Kết cấu đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm hai chương
sau:
Chương I: Thực trạng đầu tư phát triển kinh tỉnh Hải Dương giai đoạn
2005 - 2009 Chương này chủ yếu nêu lên tình hình đầu tư của tỉnh trong các năm từ
năm 2005 đến 2009, kèm theo các phân tích, nhận xét và đánh giá.
Chương II: Định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Hải Dương Trong chương này, em xin đề xuất
một số giải pháp nhằm tăng cường các hoạt động đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2010 - 2014.
Trang 4Chương I THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
183 và hệ thống đường tỉnh, huyện đã được nâng cấp cải tạo thuận lợi cho việc giaolưu, trao đổi với bên ngoài
Thành phố Hải Dương là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹthuật của tỉnh nằm trên trục đường quốc lộ 5 cách Hải Phòng 45 km về phía đông,cách Hà Nội 57 km về phía tây và cách thành phố Hạ Long 80 km Phía bắc tỉnh cóhơn 20 km quốc lộ 18 chạy qua nối sân bay quốc tế Nội Bài ra cảng Cái Lân tỉnhQuảng Ninh Đường sắt Hà Nội – Hải Phòng qua Hải Dương là cầu nối giữa thủ đô
và các tỉnh phía bắc ra các cảng biển Là tỉnh nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ, Hải Dương có cơ hội tham gia phân công lao động trên phạm vi toàn vùng vàxuất khẩu
Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ rệt( xuân, hạ, thu, đông ) Lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 – 1.700 mm Nhiệt độtrung bình 23,3ºC; số giờ nắng trong năm 1.524 giờ; độ ẩm tương đối trung bình 85 –87% Khí hậu thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp bao gồm cây lương thực,thực phẩm và cây ăn quả đặc biệt là sản xuất cây rau màu vụ đông
Hải Dương có diện tích tự nhiên 1.662 km², được chia làm 2 vùng: vùng đồinúi và vùng đồng bằng Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tựnhiên gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là vùng đồi
Trang 5núi thấp phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày.Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồiđắp, đất màu mỡ thích hợp nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm Với vị trí đại lý như trên, Hải Dương đã xây dựng được môi trường thuận lợicho giao lưu phát triển kinh tế, thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp trong và nướcngoài, thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư, xuất nhập khẩu hàng hóa, pháttriển du lịch, dịch vụ trên địa bàn.
Nằm giữa Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh là những tỉnh thành phố có nhịp độphát triển kinh tế nhanh, Hải Dương cũng là điểm đến của các nhà đầu tư vì tại đâyhàng hóa có thể đi lại với các tỉnh, thành phố trên và có thể xuất, nhập khẩu với cácnước khác thông qua cảng Hải Phòng, Cái Lân ( Quảng Ninh) một cách thuận lợi Khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm cùng với đồng bằng màu mỡ chiếm phần lớn diệntích tự nhiên phù hợp với việc phát triển nông nghiệp, Hải Dương là tỉnh có tiềmnăng đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp
1.1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên đất
Tỉnh Hải Dương có 84.900 ha diện tích đất tự nhiên Trong đó, diện tích đấtnông nghiệp là 54.421 ha, chiếm 64,1%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 9.147 ha,chiếm 6,7%; diện tích đất chuyên dùng là 13.669ha, chiếm 16,1%; diện tích đất ở là5.688,3 ha, chiếm 6,7% và diện tích đất chưa sử dụng, sông, suối, đá là 6.368 ha,chiếm 7,5%
Với diện tích đất nông nghiệp chiếm phần lớn diện tích đất cùng với khí hậu,thời tiết phù hợp với phát triển các loại cây trồng như lúa, ngô, khoai lang, đậu tương,lạc và các cây ăn quả có giá trị kinh tế cao Vì vậy, Hải Dương đã hướng tới khai thácthế mạnh, tiềm năng trong nông nghiệp để phát triển kinh tế của tỉnh
Trang 6sản xuất với các loại vải thiều, na dai, nhãn xoài, hồng không hạt…có giá trị kinh tế,đem lại thu nhập cho người lao động.
Với tài nguyên rừng phong phú, trong những năm qua tỉnh đã hướng vào khaithác thế mạnh, tiềm năng về kinh tế của rừng để phát triển các vùng sản xuất hànghóa tập trung về cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày, cây công nghiệp ngắn ngày cóthế mạnh
- Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản của Hải Dương không đa dạng về chủng loại, nhưng
có một số loại trữ lượng lớn, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp;đặc biệt công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
Đá vôi xi măng ở huyện Kinh Môn, trữ lượng 20 triệu tấn, chất lượng tốt, đủsản xuất 5 đến triệu tấn xi măng
Cao lanh ở huyện Kinh Môn, Chí Linh trữ lượng 40 vạn tấn cung ccấp đủnguyên liệu cho sản xuất sành sứ
Sét chịu lửa ở huyện Chí Linh, trữ lượng 8 triệu tấn, chất lượng tốt, cung cấpnguyên liệu sản xuât gạch chịu lửa
Bô xít ở huyện Kinh Môn, trữ lượng 200.000 tấn; than đá ở huyện Chí Linhtrữ lượng 75, 14 triệu tấn; mỏ thủy ngân ở huyện Chí Linh trữ lượng 1.100 tấn
Với tiềm năng hiện có, sản xuất vật liệu xây dựng đang là hướng ưu tiên pháttriển của ngành công nghiệp của tỉnh Bên cạnh đó, ngành công nghiệp khai khoángcũng đang được quan tâm, chú trọng
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Kinh tế
Hải Dương nằm trong địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, với điều kiện địa lý,
tự nhiên và giao thông khá thuận lợi, Hải Dương đã, đang và sẽ trở thành nơi giao lưukinh tế quan trọng ở Bắc Bộ
Nhờ phát huy hiệu quả các tiềm năng sẵn có, kinh tế của tỉnh duy trì được mứctăng trưởng khá Tổng sản phẩm giai đoạn 2005 – 2009 trong tỉnh tăng bình quân9,7%/năm Quy mô kinh tế của tỉnh được nâng lên đáng kể, đến năm 2009 quy môkinh tế tỉnh ( GDP theo giá thực tế ) đạt 26725 tỷ đồng, gấp 2 lần so với năm 2005
Trang 7Cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục có bước chuyển dịch tích cực theo hướng giảm
tỷ trọng nông – lâm – ngư nghiệp, tăng tỷ trọng dịch vụ Tuy nhiên cơ cấu kinh tếchuyển dịch còn chậm, chưa rõ nét, cơ cấu nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp –xây dựng, dịch vụ từ: 27,1%, 43,6%, 29,3% ( năm 2005 ) sang 24,0%, 44,5%, 31,5%( năm 2009)
Cơ cấu nguồn vốn chuyển dịch tích cực theo hướng nâng dần tỷ trọng vốn củacác thành phần kinh tế ngoài Nhà nước, phản ánh khả năng huy động vốn đa dạngcác nguồn cho đầu tư phát triển Vốn đầu tư Nhà nước giữ vai trò quan trọng trongviêc đầu tư các cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, anninh – quốc phòng, đặc biệt là hạ tầng phúc lợi công cộng Vốn đầu tư khu vực ngoàiNhà nước ngày càng phát huy vai trò tích cực, đóng góp vốn trực tiếp cho phát triểnsản xuất kinh doanh và bước đầu đã tham gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế,
1.1.2.2 Văn hóa – xã hội
Hải Dương hiện có hơn 1000 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có khoảng 140
di tích được xếp hạng quốc gia, tiêu biểu là Côn Sơn, Kiếp Bạc, Phượng Hoàng ( ChíLinh), An Phụ, Kính Chủ ( Kinh Môn) Văn hóa Lý – Trần, Lê, Nguyễn là một dòngchảy đậm đặc và liên tực trên đất này, để lại dấu ấn đậm nét trong hàng loạt di tích,gắn liền với sự kiện lịch sử trọng đại, những danh nhân nổi tiếng như Trần HưngĐạo – danh nhân quân sự ( Kiếp Bạc), Nguyễn Trãi – danh nhan văn hóa ( Côn Sơn),Chu Văn An – danh nhân giáo dục ( Phượng Hoàng)
Hải Dương còn là quê hương của nhiều làng nghề truyền thống danh tiếng nhưtrạm khắc đá, chạm khắc gỗ, kim hoàn, gốm, thêu, dệt chiếu… Sản phẩm của cáclàng nghề truyền thống thể hiện sự sáng tạo, khéo léo, tài hoa của người xứ Đông,được khách hàng trong nước và quốc tế ưa chuộng
Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa- danh thắng, đặc biệt là các di tích quan
Trang 8trọng quốc gia trên địa bàn, cùng hệ thống các làng nghề nổi tiếng, góp phần quantrọng làm cho Hải Dương trở trành một vùng văn hóa đặc biệt hấp đã, đáp ứng nhucầu của khách thập phương về các phương diện: tìm hiểu lịch sử - văn hóa, sinh hoạttâm linh, thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, chiêm ngưỡng bàn tay tàihoa, khéo léo và các sản phẩm nghệ thuật tinh xảo của các nghệ nhân làng nghề Người Hải Dương không chỉ giỏi làm ra nhiều nông sản, đặc sản quý như gạonếp hoa vàng, vải thiều, dưa hấu, na dai, chuối mật…mà còn giỏi chế biến nhiều món
ăn đặc sản nổi tiếng khắp trong và ngoài nước như bánh đậu xanh, bánh khảo, bánhgai, rượu, giò chả, mắm rươi, máy cáy…Văn hóa ẩm thực của Hải Dương phong phú,
đa dạng, dân giã, ấp dẫn khiến cho du khách bốn phương một lần thưởng thức, thì xalâu còn nhớ
Giá trị đặc trưng của văn hóa phi vật thể xứ Đông được thể hiện ở các lễ hộitruyến thống, ở phong tục, tập quán, lối sống của cộng đồng người Hải Dương xưa vànay; ở các hoạt động văn nghệ dân gian; ở một khối lượng không nhỏ những trướctác về chính trị, quân sự, văn hóa – xã hội, về sử học, y học Các lễ hội mang đậmyếu tố lịch sử, phong tục, tín ngưỡng, tôn giá, tưởng niệm và ngợi cao công đức củacác bậc hiền tài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thể hiện đạo lý nhớnguồn, giáo dục các thế hệ hướng tới sự tiến bộ, sự cao đẹp; cầu mong quốc thái dân
an, mưa thuận gió hòa, màu màng tốt tươi, đời sống ấm no hạnh phúc
Lễ hội và di tích ở Hải Dương là một tiềm năng, thế mạnh lớn cho ngành dulịch của tỉnh và của cả vùng Đông bắc đất nước
Văn hóa sứ Đông phong phú, đa dạng, có giá trị nhiều mặt bởi được hìnhthành, tạo dựng không chỉ từ truyền thống cầc cù và thông minh sáng tạo mà còn tứtruyền thống yêu nước anh hùng của người Hải Dương Người Hải Dương xưa nayrất nổi tiếng bởi truyền thống hiếu học và khoa bảng; là tỉnh đứng đầu cả nước về sốngười đỗ đại khoa
Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần Tỉnhkhông còn hộ đói, hộ nghèo chỉ còn 9, 9% Tại các huyện – thành phố, các xã, thôn –khu dân cư, đề được tỉnh hỗ trợ và nhân dân đóng góp xây dựng nhà văn hóa, thưviện, tủ sách và duy trì các hoạt động thường xuyên, có chất lượng, lôi cuốn đượcđông đảo nhân dân, góp phần nâng cao đời sống văn hóa cộng đồng Công tác giáodục và đào tạo đạt một số kết quả quan trọng về nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện và thực hiện mục tiêu quốc gia, đã hoàn thành phổ cập THCS trong năm 2006
Trang 9Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được chú trọng An ninh, quốcphòng được giữ vững, trật tự an toàn xã hội đảm bảo.
Sự nghiệp xây dựng văn hóa mới của tỉnh Hải Dương ngày càng khởi sắc, pháttriển đồng bộ và chất lượng, khẳng định vị thế, tầm vóc của văn hiến xứ Đông tronglịch sử cũng nh trong cuộc sống hiện tại, góp phần xứng đáng vào việc làm cho tỉnhHải Dương trở thành điểm đến lý tưởng của du khách tha hồ khám phá, thưởng thức
và du lịch
1.1.2.3 Dân số - Lao động
Hải Dương có khoảng 1,71 triệu người bao gồm 10 dân tộc, trong đó đôngnhất là dân tộc Kinh chiếm 99,74 %, còn lại là các dân tộc thiểu số như dân tộc Sándìu, Tày, Nùng, Thái, Mông, Dao, Thổ và các dân tộc khác
Cơ cấu dân số tỉnh Hải Dương trẻ Nguồn lao động dồi dào, với số người trong
độ tuổi lao động chiếm 62,2% tổng dân số Đây thực sự là nguồn lực lớn trong tiếntrình phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng Nhưng lực lượng laođộng của Hải Dương chủ yếu là lao động nông nghiệp, chiếm hơn 55% trong tổng sốlao động, mặt khác số lao động qua đào tạo lại chiếm tỉ trọng nhỏ, khoảng 37% trongtổng số lao động, số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao rất ít… đó là cảntrở lớn trong việc tiếp nhận các tiến bộ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy công nghiệp hoá,hiện đại hoá
Quốc lộ 18 từ Nội Bài qua Bắc Ninh đến tỉnh Quảng Ninh Đoạn chạy quahuyện Chí Linh tỉnh Hải Dương dài 20 km
Quốc lộ 183, nối quốc lộ 5 với quốc lộ 18, qui mô cấp I đồng bằng
Trang 10Quốc lộ 37 dài 12,4 km, đây là đường vành đai chiến lược quốc gia, phục vụtrực tiếp cho khu du lịch Côn Sơn - Kiếp Bạc.
Quốc lộ 38 dài 14 km là đường cấp III đồng bằng
Đường tỉnh: có 13 tuyến dài 258 là đường nhựa tiêu chuẩn cấp III đồng bằng Đường huyện có 352,4 km và 1448 km đường xã đảm bảo cho xe ô tô đến tất
cả các vùng trong mọi mùa
- Đường sắt: Tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với quốc lộ 5, đáp ứngvận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh
Tuyến Kép - Bãi Cháy chạy qua huyện Chí Linh, là tuyến đường vận chuyểnhàng lâm nông thổ sản ở các tỉnh miền núi phía Bắc ra nước ngoài qua cảng Cái Lân,cũng như hàng nhập khẩu và than cho các tỉnh
- Đường thuỷ: với 400 km đường sông cho tầu, thuyền 500 tấn qua lại dễ dàng.Cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn /năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tảihàng hoá bằng đường thuỷ một cách thuận lợi
Hệ thống giao thông trên bảo đảm cho việc giao lưu kinh tế từ Hải Dương đi cảnước và nước ngoài rất thuận lợi
Trong thời gian tới, ngành Giao thông – Vận tải tỉnh Hải Dương tiếp tục tậptrung phát triển đồng bộ và bền vững mạng lưới giao thông của tỉnh, đổi mới phươngthức quản lý đầu tư xây dựng, tăng nhanh khả năng đầu tư của các nguồn lực vàophát triển giao thông Những kế hoạch đó là tiền đề cho sự phát triển kinh tế – xã hộitỉnh Hải Dương Đồng thời, đây cũng là cơ hội lớn để Hải Dương hình thành mộitrường hấp dẫn đầu tư trong và ngoài nước
b Hệ thống điện
Trên địa bàn tỉnh có Nhà máy nhiệt điện Phả Lại công suất 1040 MW; hệthống lưới điện khá hoàn chỉnh, đảm bảo cung cấp điện an toàn và chất lượng ổnđịnh; trên địa bàn tỉnh có 5 trạm biến áp 110/35 KV tổng dung lượng 197 MVA và 11trạm 35/10 KV, các trạm phân bố đều trên địa bàn tỉnh Lưới điện 110, 35 KV đảmbảo tiêu chuẩn kỹ thuật, phục vụ tốt nhu cầu điện cho sản xuất và sinh hoạt
Giai đoạn 2004-2005, xây dựng 1 trạm 220 KV tại huyện Cẩm Giảng, đườngdây 220 KV mạch kép kéo từ tuyến Phả Lại - Hà Đồng có 3 lộ xuất tuyến 110 KV;xây dựng mới các trạm 110 KV Đại An, Tiền Trung, Nhị Chiểu và mở rộng, nâng
Trang 11công suất các trạm 110 KV Lai Khê, Chí Linh nhằm cấp điện ổn định cho các khucông nghiệp dọc quốc lộ 5, khu công nghiệp Nam Sách, khu vực trung tâm tỉnh Từnăm 2006 đến năm 2010, trên địa bàn tỉnh xây dựng thêm 4 trạm biến áp 110 KV tạiPhúc Điền (Cẩm Giàng), Phú Thái (Kim Thành), Hải Tân (TP Hải Dương) và ĐoànTùng (Thanh Miện), đồng thời, hoàn thiện các tuyến đường dây mạch vòng với cáccấp điện áp 110 KV, 35 KV và 22 KV, hoàn thiện quy hoạch lưới điện 110KV; sửdụng hiệu quả lưới điện trung thế hiện có kết hợp với lưới trung thế được cải tạo vàxây mới để từng bước tách lưới điện phân phối cho các cụm, các khu công nghiệp,vùng đô thị tập trung ra khỏi lưới điện phục vụ nông nghiệp và ánh sáng sinh hoạtnông thôn; xây dựng các mạch vòng liên lạc giữa nguồn 110 KV, 35 KV, 22 KV; đặcbiệt các lưới điện 220 KV, 110 KV, 35/22 KV sẽ được xây dựng đồng bộ với lướiđiện hạ thế của các xã bằng nhiều nguồn vốn Tiếp tục hoàn thiện tổ chức quản lýđiện nông thôn.
Là địa phương đầu tiên trong 61 tỉnh, thành phố cả nước xây dựng Đề ánchuyển đổi mô hình tổ chức quản lý điện nông thôn, Hải Dương đã sớm triển khai tạinhiều huyện để tìm ra một mô hình có tính khả thi nhất Kết quả: có 16 hợp tác xãđiện độc lập thí điểm được coi là mô hình hoạt động hiệu quả Trật tự trong cung ứng
và sử dụng điện tại các địa phương đã từng bước được lập lại, chất lượng điện đượccải thiện và thường xuyên ổn định, sổ sách ghi chép sản lượng điện tiêu thụ, thu chiquyết toán tài chính được cập nhật đầy đủ, rõ ràng, tình trạng câu móc, lấy cắp điệnhoặc dùng điện không mất tiền đã chấm dứt, giảm được tỷ lệ tổn thất điện năng, bướcđầu tích lũy được kinh phí phục vụ cải tạo, nâng cấp hoàn thiện hệ thống lưới điện,các hợp tác xã đã kéo được giá điện từ hơn 700 đ/kWh về giá trần một cách ổn địnhtheo quy định của Chính phủ
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có trên 2.000 km đường dây từ 0,4 đến 110 KV,1.912 trạm biến áp các loại
Việc hoàn thiện hệ thống điện sẽ tạo nên bước đột phá trong công cuộc côngnghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn
c Hệ thống cấp thoát nước
Trong nhiều năm qua, ngành cấp thoát nước Hải Dương liên tục đầu tư, cảitạo, nâng cấp các đường ống dẫn nước Công tác cấp thoát nước đô thị được đầu tưmột cách hệ thống với việc bàn giao đưa vào sử dụng Nhà máy cấp nước ODA; đangtiến hành xây dựng các trạm cấp nước các huyện Chí Linh, Nam Sách, Gia Lộc, Tứ
Trang 12Kỳ; triển khai đầu tư hệ thống cấp nước sinh hoạt nông thôn tại các xã khó khăn,vùng sâu, vùng xa; hoàn thành đầu tư xây dựng mở rộng nhà máy nước Cẩm Thượngcông suất 50.000m³/ngày đêm, đảm bảo cấp nước theo tiêu chuẩn cấp đô thị
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì hệ thống cấp thoát nước củaHải Dương vẫn còn nhiều khó khăn Hệ thống thoát nước và xử lý rác thải chưa hoànchỉnh Phần lớn lượng nước thải xả trực tiếp vào các kênh mương, ao hồ gây nguy cơ
ô nhiễm cao
Nói chung ở Hải Dương cơ sở hạ tầng cung cấp nước và hệ thống cấp thoátnước so với các cơ sở hạ tầng khác còn kém phát triển Trước mắt và cả tương lai cầnphải có những nguồn vốn đầu tư, ưu tiên tập trung giải quyết và cải thiện về vấn đềnày
d Bưu chính – Viễn thông
Gắn liền với các hệ thống giao thông vận tải, điện, nước, bưu chính viễn thông
là những lĩnh vực cơ sở hạ tầng thiết yếu đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung
và việc thu hút vốn đầu tư nói riêng
Trong những năm qua, các doanh nghiệp bưu chính và chuyển phát đã phát
triển được 14 điểm phục vụ bưu điện, nâng tổng số điểm phục vụ bưu điện đến hết31/12/2009 là 311 điểm Các doanh nghiệp viễn thông phát triển được 35 điểmchuyển mạch đưa tổng số điểm chuyển mạch hiện có trên địa bàn tỉnh là 76 điểm,tăng 85,36% so với năm 2005, với tổng dung lượng lắp đặt của các tổng đài là182.282 đôi cáp
Truyền dẫn tại các điểm chuyển mạch chủ yếu sử dụng phương thức truyềndẫn cáp quang với tổng độ dài 949 km, đến 100% huyện, truyền dẫn vi ba sử dụng dựphòng Đặc biệt là các doanh nghiệp viễn thông sử dụng công nghệ WLL (Wirelesslocal loop) mạch vòng vô tuyến nội hạt để cung cấp loại hình dịch vụ cố định vôtuyến, việc triển khai dịch vụ này tại các vung sâu xa mang tính hiệu quả kinh tế cao,giúp cho người dân tại các vùng sâu, xa có thể sử dụng được các dịch vụ viễn thôngvới chi phí đầu tư thấp
Tổng số trạm BTS trên địa bàn tỉnh là 295 trạm; tăng thêm 60 trạm DSLAM,nâng tổng số trạm DSLAM hiện nay là 73, bình quân mỗi huyện có từ 4 trạmDSLAM, đáp ứng được yêu cầu truy cập Internet ADSL
Quy mô và chất lượng của các dịch vụ bưu chính - viễn thông trên địa bàn tỉnh
Trang 13Hải Dương ngày càng được mở rộng và hoàn thiện Đây là một nhân tố rất quantrọng góp phần nâng cao chất lượng môi trường đầu tư của tỉnh, qua đó tăng cường
và thu hút đầu tư vào các ngành, lĩnh vực khác.
1.2 Thực trạng đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009
1.2.1 Tình hình thực hiện quy mô vốn đầu tư phát triển
Quy mô vốn đầu tư được đánh giá thông qua chỉ tiêu tổng vốn đầu tư toàn xãhội Vốn đầu tư toàn xã hội bao gồm: vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nướcngoài Ở phần này chúng ta sẽ đi sâu vào đánh giá tình hình đầu tư chung của toàntỉnh
Tại Hải Dương vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2005-2009 được thể hiện tạibảng 1.1 như sau:
Bảng 1.1: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009
Tổng vốn đầu tư Tỷ đồng 6251 8397 12764 15526 15155Tốc độ tăng vốn đầu tư
Nguồn:Tính toán từ nguồn của Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương
Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn tỉnh có sự biến động qua các năm nhưngnhìn chung là năm sau cao hơn năm trước Tổng vốn đầu tư phát triển của Hải Dươnggiai đoạn 2005-2009 đạt 58.093 tỷ đổng Vốn đầu tư qua các năm có sự gia tăngkhông đồng đều Nếu năm 2005 vốn đầu tư đạt 6251 tỷ đổng thì năm 2006 tăng gấp1,34 lần, năm 2007 tăng gấp 1,52 lần năm 2006, năm 2008 tiếp tục tăng và gấp 1,22lần năm 2007, như vậy từ năm 2005 đến năm 2008 vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh liêntục gia tăng về giá trị tuyệt đối nhưng tỉ lệ gia tăng có xu hướng giảm dần Đến năm
2009, vốn đầu tư có sụt giảm, chỉ bằng 97,61% so với năm 2008 Nguyên nhân là dotrong năm này tỉnh cũng như cả nước chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tếthế giới nên vốn đầu tư vào tỉnh đã bị sụt giảm
Qua bảng 1.1 ta thấy, tốc độ tăng vốn đầu tư liên hoàn - tốc độ gia tăng vốn
Trang 14đầu tư của năm sau so với năm trước của Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009 khôngđều, có năm là âm ( năm 2009 với -2,39%) và có năm khá cao ( năm 2007 với52,00% ) Điều này đã được lý giải ở phần trên.
Nhắc đến quy mô vốn đầu tư ta còn xét đến chỉ tiêu vốn đầu tư/GDP Để duytrì tốc độ tăng trưởng cao thì phải có sự gia tăng hợp lý quy mô vốn đầu tư, biểu hiệncủa điều này là sự gia tăng lên của tỷ trọng vốn đầu tư so với GDP Sau đây, ta xemxét chỉ tiêu này của Hải Dương trong giai đoạn 2005 – 2009
Bảng 1.2: Tổng đầu tư toàn xã hội của Hải Dương so với GDP giai đoạn
2005 - 2009
Tổng vốn đầu tư Tỷ đồng 6251 8397 12764 15526 15155GDP Tỷ đồng 13334 15521 18347 23499 26725Tổng vốn đầu tư/GDP % 46,88 54.10 69,57 66,07 56,7
Nguồn: Niên giám thống kê Hải Dương và Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương Qua bảng 1.2 ta có thể thấy được tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP của Hải Dương
là tương đối cao, có năm đạt tới 69,57% ( năm 2007) Thế nhưng cũng do sự gia tăng không đều của vốn đầu tư trong tỉnh qua các năm trong giai đoạn này nên tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP của tỉnh cũng biến động qua các năm, có xu hướng giảm Trong năm 2009 khủng hoảng kinh tế thế giới vẫn ảnh hưởng tới nền kinh tế của cả nước nên đã ảnh tới luồng đầu tư vào Hải Dương khiến vốn đầu tư của tỉnh sụt giảm mạnh nên chỉ tiêu này cũng giảm mạnh
Trong những năm tới, bên cạnh việc ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực thế mạnh củatỉnh là thương mại - dịch vụ - du lịch, tỉnh còn tập trung đầu tư xây dựng một số khucông nghiệp tập trung như: khu công nghiệp Nam Sách, Đại An, Tân Trường… Nhưvậy nguồn vốn cần thiết là khá lớn, nhiệm vụ huy động vốn trong những năm tiếptheo trở nên hết sức nặng nề Đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu
và nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài vào Việt Nam có xu hướng giảm trong những nămtiếp theo thì vấn đề trên lại càng nan giải
1.2.2 Vốn đầu tư phát triển của Hải Dương phân theo nguồn
Vốn đầu tư xã hội trên địa bàn tỉnh có được từ nhiều nguồn khác nhau, baogồm 3 nguồn chủ yếu là: nguồn trong tỉnh, nguồn ngoài tỉnh và nguồn nước ngoài.Trong giai đoạn 2005 – 2009, tổng vốn đầu tư huy động được trên địa bàn tỉnh Hải
Trang 15Dương là 58.093 tỷ đồng ( bình quân mỗi năm thu hút được khoảng 11618,6 tỷđồng ) Để xét cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn trong giai đoạn này ta chia vốn đầu tưthành các nguồn cơ bản sau:
- Vốn ngân sách Nhà nước
-Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển củadoanh nghiệp Nhà nước ( VTD ĐTPT của NN và VĐTPT của DNNN)
-Vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước
-Vốn đầu tư nước ngoài
Bảng 1.3: Vốn đầu tư phát triển của Hải Dương phân theo nguồn giai
Nguồn: Sở kế hoạch và Đầu tư Hải Dương
Qua bảng 1.3, ta thấy, vốn ngân sách, vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước
và vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh trong giai đoạn này qua các năm đều tăng , còn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh
nghiệp Nhà nước lại có xu hướng giảm Trong đó, vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhànước ở mức cao nhất, sau đó đến vốn đầu tư nước ngoài Ta sẽ xét cơ cấu vốn đầu tư phân theo nguồn sẽ thấy điều này rõ hơn
Bảng 1.4: Cơ cấu vốn đầu tư của tỉnh Hải Dương phân theo nguồn giai
Trang 16-VTD ĐTPT của NN và VĐTPT của DNNN 16,16 6,42 25,49 18,81 6,59-Vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước 42,83 62,21 37,32 41.01 46,22-Vốn đầu tư nước ngoài 23,21 14,08 28,17 31,06 35,67
Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hải Dương Qua bảng 1.4 ta thấy, tỷ trọng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước đạt mức cao
nhất vào năm 2005 (17,83%) và thay đổi không ổn định: từ năm 2005 – 2007 có xuhướng giảm sau đó lại có xu hướng tăng trong những năm tiếp theo Năm 2007 lànăm mà nguồn vốn Ngân sách ở mức thấp nhất trong tổng đầu tư toàn xã hội Vốn tíndụng đầu tư phát triển Nhà nước cũng có sự thay đổi không ổn định, có năm ở mứcthấp như năm 2006 là 6,42%, có năm lại lên khá cao như năm 2007 chiếm 25,49%tổng đầu tư toàn xã hội Bên cạnh đó, vốn đầu tư của các doanh nghiệp và trong dân
cư lại có xu hướng tăng dần qua các năm về tỷ trọng và có xu hướng ngày càngchiếm đa số trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh, nếu năm 2005 chiếm 42,83%thì đến năm 2009 đã chiếm 46,22%
Vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh cũng tăng nhanh qua các năm, nếu
năm 2005 số vốn là 1451 tỷ đồng chỉ chiếm 23.21% thì đến năm 2009 đã tăng lênđến 5406 tỷ đồng và chiếm 35,67 % cơ cấu vốn đầu tư Điều này nếu xem xét trênphạm vi cả nước cũng dễ hiểu, bởi sau thời gian suy thoái kéo dài từ năm 1999-2004làn sóng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu tăng cao và đột biến trong năm
2008 Tuy nhiên hiện nay khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vẫn còn rất đáng longại thì trong những năm tới vốn đầu tư vào Việt Nam có thể sẽ giảm đáng kể, vàHải Dương cũng không đứng ngoài ảnh hưởng đó
Trên cơ sở những nhận định tổng quát trên, chúng ta sẽ phân tích sâu hơn vềmỗi nguồn vốn
1.2.2.1 Vốn ngân sách Nhà nước
Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước có một vai trò rất lớn trong việc phát triểnđất nước Đặc biệt, đầu tư công có ý nghĩa xã hội rất lớn trong định hướng phát triểnchung Nguồn vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước ảnh hưởng lớn tới chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu, các chương trình xoá đói giảm nghèo,phát triển xã hội, an sinh giáo dục, an ninh quốc phòng… Các khoản phí, thuế thunhập doanh nghiệp, thuế đất,… đóng góp vào ngân sách Nhà nước và từ đó Nhà nướctiến hành chi ngân sách cho các địa phương
Bảng 1.15 sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quát về vốn ngân sách Nhà Nước của
Trang 17Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009
Bảng 1.5: Vốn ngân sách Nhà nước của Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009
Vốn ngân sách Nhà nước Tỷ đồng 1115 1032 1152 1414 1747
Tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư % 17,83 12,29 9,02 9,11 11,53Tốc độ gia tăng liên hoàn % -7,44 11,63 22,74 23,55
Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hải Dương
Trong những năm qua, vốn đầu tư tư ngân sách Nhà nước chiếm một tỷ lệ
không cao trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh Hải Dương, trung bình khoảng 11,96% mỗi năm Tuy nhiên nguồn vốn này lại có xu hướng tăng qua các năm về giá trị tuyệt đối.Nếu năm 2005 nguồn vốn này là 1115 tỷ đồng thì đến năm 2009 đã huy động được 1747 tỷ đồng gấp 1,6 lần năm 2005 Tỷ trọng nguồn vốn này trong tổng vốn đầu tư cũng có xu hướng tăng Tốc độ gia tăng cũng tăng nhưng có xu hướng chậm lại
Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được tỉnh tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, các chương trình dự án trọng điểm, các khu vực kinh
tế, các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế động lực để hỗ trợ các khu vực kinh
tế khác cùng phát triển, đã góp phần phục vụ phát triển kinh tế- xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
1.2.2.2 Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước
Tín dụng Nhà nước là một bộ phận quan trọng trong đầu tư Nhà nước, nguồn
vốn cơ bản tạo ra sự phát triển dài hạn của nền kinh tế Mục đích của tín dụng đầu tưphát triển của Nhà nước là hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển của các thành phần kinh
tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có tác động trựctiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Bên cạnh
đó, nguồn vốn này còn có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốntrực tiếp từ Nhà nước Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữutoàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thứccông ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Doanh nghiệp Nhànước được xác định là thành phần kinh tế quan trọng, giữ vai trò chủ đạo trong nềnkinh tế
Trang 18Số liệu dưới đây sẽ cho ta biết tình hình vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhànước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước của tỉnh
Bảng 1.6: Vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009
Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hải Dương
Trong những năm qua, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển và vốn đầu tư pháttriển của doanh nghiệp Nhà nước có những tác động nhất định đến sự phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên trong số những nguồn vốn mà tỉnh huy động hàng nămthì nguồn vốn này vẫn chưa thực sự chiếm tỷ trọng lớn ( Năm huy động nhiều nhất là
2007 với 3252 tỷ đồng, chiếm 25,49% còn năm thấp nhất là 2006 với 539 tỷ đồng vàchiếm 6,42% tổng vốn đầu tư ) Và xu hướng tăng giảm là không đều nhau và thậmchí còn có sự chênh lệch rất lớn, có những năm vốn tăng đột biến so với năm trước( như năm 2007 tăng 50,33% ) và có những năm giảm sút rất nhiều ( như năm 2009giảm 65,83% ) Có thể giải thích cho thực trạng này là do: khi tỉnh có khả năng cânđối vốn thì tỉnh tăng huy động vốn từ tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước, nhưngnguồn vốn này là vốn tín dụng nên khi vay thì phải trả cả lãi lẫn gốc ( tỷ lệ lãi rấtthấp, ở mức ưu đãi ) do đó trong những năm tiếp theo ( như năm 2005 ) số vốn đầu tưhuy động từ nguồn này lại giảm sút
1.2.2.3 Vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước
Vốn đầu tư của khu vực dân cư và các thành phần kinh tế khác bao gồm phần tiếtkiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã…
Thực tế thời gian qua cho thấy đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và hộ giađình có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc phát triển nông nghiệp và kinh tế nôngthôn, mở mang ngành nghề, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thươngmại, dịch vụ và vận tải của tỉnh
Vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước trên địa bàn tỉnh được thể hiện trongbảng sau:
Trang 19Bảng 1.7: Vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải
Dương giai đoạn 2005 - 2009
Vốn đầu tư của khu vực ngoài NN Tỷ đồng 2677 5644 4764 6367 7004
Tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư % 42,83 62,21 37,32 41.01 46,22Tốc độ gia tăng liên hoàn % 110.83 -15,59 33,64 10,00
Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hải Dương
Nhìn vào bảng trên có thể thấy đây là một nguồn vốn hết sức quan trọng,chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn đầu tư của tỉnh Nguồn vốn này có xu hướngtăng dần qua các năm và đặc biệt tăng mạnh vào năm 2006 ( tốc độ gia tăng liên hoàncủa lượng vốn trong năm này là 110.83% ) Như ở trên ta đã phân tích thì các nguồnvốn như: vốn Ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước, vốn đầu
tư của doanh nghiệp Nhà nước đều có sự biến động qua các năm thì nguồn vốn từdân cư và các thành phần kinh tế khác lại khá ổn định và tăng lên mỗi năm về giá trịtuyệt đối lẫn tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư
1.2.2.4 Vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy cá nhân, cácdoanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quátrình đầu tư của tỉnh
Bảng 1.8: Vốn đầu tư nước ngoài của Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009
Vốn đầu tư nước ngoài Tỷ đồng 1451 1182 3596 4823 5406
Tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư % 23,21 14,08 28,17 31,06 35,67Tốc độ gia tăng liên hoàn % -18.54 204,23 34,12 12,09
Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hải Dương
Trong những năm qua, vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng vốn đầu tư Điều này cho thấy, Hải Dương là nơi tiềm năng để thu hút đầu tư cũng như các chính sách thu hút đầu tư của các nhà quản lý đang có hiệu quả
Vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng qua các năm cả về giá trị tuyệt đối lẫn tỷ trọng Tuy nhiên, nguồn vốn này tăng chậm, tốc độ gia tăng lại có xu hướng
giảm, có năm giảm mạnh, đột ngột như giai đoạn 2008 - 2007 giảm còn 34,12% từ 204,23% của giai đoạn 2006 – 2009
Trang 20a Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Là một trong 10 địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nướcngoài, giai đoạn 2005 - 2009, Hải Dương đã có 162 dự án có vốn FDI, đến từ 21 quốcgia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký 1,891 tỷ USD và tổng vốn thực hiện đạt
802 triệu USD, bằng 42% tổng vốn đăng ký
Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp ô tô, điện tử,dây cáp điện, hàng may mặc, hàng nông sản thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc…
Số lượng các doanh nghiệp lớn có tiềm lực tài chính cũng như có điều kiện đầu tưcông nghệ, dây chuyền sản xuất hiện đại có xu hướng tập trung đầu tư vào HảiDương ngày càng nhiều, điển hình như các tập đoàn Sumidenso của Nhật Bản, tậpđoàn Brother, Qualcomm của Hoa Kỳ… Các doanh nghiệp FDI hoạt động có hiệuquả đã góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt kinh tế-xã hội của tỉnh Hải Dương Qua tổng kết các nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dươngphân theo quốc gia và vùng lãnh thổ, các quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư lớnvào Hải Dương là: Nhật Bản, Đài Loan, Samoa, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Trung Quốc…Các quốc gia và vùng lãnh thổ có tiền lực kinh tế, có trình độ khoa học kỹ thuật caonhư: Hoa Kỳ và EC… vốn đầu tư vào tỉnh Hải Dương cho đến nay còn hạn chế, chưatương xứng với tiềm năng sẵn có
b Vốn ODA và vốn nước ngoài khác
Vốn ODA trong giai đoạn 2005 – 2009 của tỉnh đạt 821 tỷ đồng, Nguồn vốnnày tập trung chủ yếu vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, xoá đói giảmnghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Vốn ODA huy động được chủ yếu
từ các nguồn như: JBIC, WB, ADB, UNIFEM,…
Lượng vốn còn lại đến từ những hoạt động viện trợ phi chính phủ ( NGO) đạt
32 tỷ đồng Những dự án này cũng tập trung vào các lĩnh vực hệ thống thuỷ lợi, thựchiện các chương trình y tế như cung cấp một số trang thiết bị cho tuyến y tế cấp thôn,
xã, phường, cho vay tín dụng thông qua Hội phụ nữ quản lý, bảo vệ môi trường,phòng chống tệ nạn xã hội, kế hoạch hoá gia đình, hướng nghiệp
1.2.3 Vốn đầu tư phát triển của Hải Dương phân theo huyện, thành phố
Lãnh thổ Hải Dương bao gồm 12 huyện, thành phố: thành phố Hải Dương và
11 huyện là Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Ninh Giang, GiaLộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Cẩm Giàng, Bình Giang Điều này cùng với điều kiện kinh
tế - xã hội và tài nguyên khoáng sản sẽ quyết định cơ cấu đầu tư theo lãnh thổ củatỉnh
Bảng 1.9: Vốn đầu tư xã hội của Hải Dương phân theo huyện, thành phố giai
đoạn 2005 – 2009
Trang 21STT Vùng, lãnh thổ Vốn đầu tư ( tỷ đồng) Cơ cấu vốn (%)
Vốn đầu tư tập trung nhiều nhất cho thành phố bởi vì:
- Cơ sở hạ tầng của thành phố tốt hơn rất nhiều so với các huyện trong tỉnh.Bên cạnh đó, thành phố lại tập trung phần lớn các cơ quan, tổ chức đầu ngành củatỉnh và là khu vực tập trung dân cư sinh sống nhất trong tỉnh
- Thành phố là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp, là trung tâm thương mạilớn của tỉnh
- Điều kiện giao thông thuận tiện và lực lượng lao động dồi dào tạo điều kiệnthuận lợi cho việc thành lập các nhà máy ở đây Đặc biệt các nhà máy thuộc lĩnh vựccông nghiệp nhẹ như: nhà máy bánh kẹo, thuốc lá… các khách sạn, các công ty xuấtnhập khẩu,…
Huyện Chí Linh sở dĩ có vị trí thứ hai là vì huyện này có nhiều danh thắng cả
Trang 22thiên nhiên lẫn lịch sử như quần thể di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc Huyện cũng tậptrung trữ lượng lớn tài nguyên như sét chịu lửa, mỏ thủy ngân, cao lanh và hơn 700
ha rừng Giao thông của huyện thuận tiện cho việc lưu thông với thủ đô Hà Nội,thành phố Hải Dương, Quảng Ninh Vì vậy mà khối lượng buôn bán trao đổi trên địabàn huyện rất lớn và để tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu buôn bán, hệ thống giaothông trên địa bàn huyện cũng được đầu tư xây dựng khá nhiều
Huyện Nam Sách đứng thứ ba về lượng vốn đầu tư trong giai đoạn này Đây làhuyện tập trung nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp của tỉnh Nam Sách nằm ởtrung tâm của tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có hệ thống giaothông tổng thể không phải là không thuận lợi, mặc dù có sông bao bọc gần như bốnphía: đường 183 nối Hà Nội, Hải Phòng với Quảng Ninh (qua cầu Bình), có đườngsông dài gần 50 km Đây là một huyện có đầy đủ các điều kiện về địa lý, giao thông,
cơ sở hạ tầng để phục vụ cho việc phát triển các khu công nghiệp, kinh tế trangtrại, Đây chính là tiền đề để biến Nam Sách thành một trung tâm khu vực, điểm liênkết với các Tỉnh như Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh Nhờ điều kiện thuận lợi về
cơ sở hạ tầng, giao thông mà Nam Sách đang trở thành một huyện có lợi thế thu hútvốn đầu tư lớn trong Tỉnh
Huyện Kinh Môn và Kim Thành là nơi có khu công nghiệp, cụm công nghiệp.Kim Thành nơi có quốc lộ 5, tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng đi qua, tiếp giápvới Hải Phòng nên thuận tiện giao lưu, buôn bán Nơi đây có hai con sông lớn chảyqua địa bàn huyện là sông Kinh Môn và sông Rạng Đây là nguồn cung cấp nướcngọt cho sinh hoạt và sản xuất Đồng thời cũng là nguồn mang lại phù sa cho đất.Huyện Kim Thành có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt
là cây trồng vụ đông, tạo cho huyện có cây trồng phong phú đa dạng:cây lương thực(lúa,ngô), cây thực phẩm (rau, hành tỏi, dưa hấu, củ đậu).
Kinh Môn lại có những danh thắng nổi tiếng như Đền Cao – nơi thờ HưngĐạo Vương Trần Quốc Tuấn, động Kính Chủ - nơi có nhiều hang động đá vôi tuyệtđẹp Đây cũng là nơi có khu vực công nghiệp xi măng lớn nhất nước, đô thị hóa rấtnhanh, ra đời đồng thời hai thị trấn lớn Kinh Môn là ngã ba tiếp giáp biên giới củaKinh Môn (Hải Dương)- Đông Triều (Quảng Ninh) và Thủy Nguyên (Hải Phòng).Với giao thông thuân lợi, tiếp giáp với các tỉnh có nền kinh tế phát triển, có nhiềudanh thắng, nguồn tài nguyên, nên trong những năm qua hai huyện đã thu hút đượcnhiều nguồn đầu tư lớn
Trang 23Các huyện còn lại, mặc dù cũng tham gia vào lĩnh vực công nghiêp, thươngmại, du lịch nhưng không đáng kể, mà chủ yếu là nông – lâm nghiệp, khai thác thuỷsản, vì vậy vốn đầu tư vào đây không cao Chủ yếu là vốn đầu tư của các chươngtrình quôc gia như: chương trình trung tâm cụm xã, các chương trình về sức khoẻ và
vệ sinh nước sạch nông thôn, các chương trình đầu tư cho cơ sở hạ tầng, … Nguồnvốn đầu tư ở đây chủ yếu lấy từ Ngân sách Nhà nước và một số dự án ODA, NGOs
1.2.4 Vốn đầu tư phát triển của Hải Dương phân theo ngành, lĩnh vực
Cách phân ngành phổ biến nhất hiện nay được áp dụng theo hệ thống tài sảnquốc gia SNA, theo đó nền kinh tế được chia làm ba khu vực:
Khu vực I: gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
Khu vực II: gồm các ngành công nghiệp và xây dựng
Khu vực III: gồm các ngành dịch vụ trong đó có du lịch
Trong 5 năm qua lượng vốn đầu tư của Hải Dương vào ba khu vực này nhưsau:
Bảng 1.10 : Tổng vốn đầu tư của Hải Dương phân theo ngành, lĩnh vực
Nguồn : Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương
Nhìn vào bảng trên, ta có thể đánh giá sơ bộ rằng vốn đầu tư của Hải Dươngtrong thời gian qua tập trung nhiều vào khu vực công nghiệp và xây dựng, còn khuvực nông - lâm - ngư nghiệp nhận được ít vốn đầu tư nhất Khu vực dịch vụ ngàycàng thu hút được nhiều vốn đầu tư Vốn đầu tư giành cho khu vực này ngày càngtăng trong tổng vốn đầu tư Khu vực nông – lâm – ngư nghiệp và khu vực côngnghiệp – xây dựng tăng giảm không ổn định Nông – lâm – ngư nghiệp đạt được vốnđầu tư cao nhất vào năm 2007 ( 1517 tỷ đồng ) và thấp nhất vào năm 2005 ( 452 tỷ
Trang 24đồng ) Năm 2009, ảnh hưởng của cuô ̣c khủng hoảnh kinh tế thế giới, nguồn vốn đầu
tư toàn tỉnh giảm là do viê ̣c su ̣t giảm nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực công nghiê ̣p vìđây là lĩnh vực có vốn đầu tư cao nhất so với các lĩnh vực còn la ̣i Công nghiệp – xâydựng đạt được vốn cao nhất (8752 tỷ đồng ) năm 2008, đến năm 2009 giảm xuốngcòn 8108 tỷ đồng Điều này được lý giải ở phần trên
Sau đây, ta sẽ xét cơ cấu vốn của các ngành để thấy rõ sự thay đổi vốn phântheo các ngành trong tổng vốn đầu tư của tỉnh
Bảng 1.11: Cơ cấu vốn đầu tư của Hải Dương phân theo ngành, lĩnh vực
Nguồn : Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương
Qua bảng 1.11, ta nhận thấy tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng trong tổngvốn đầu tư chiếm tỷ lệ cao nhất năm 2009 (53,50%) và thấp nhất năm 2006(39,57%) Nhưng ngành này lại có xu hướng giảm về tỷ trọng, nếu năm 2008 chiếm56,37 % thì đến năm 2009 giảm xuống còn 53,50% Ngành dịch vụ đạt được tỷ trọngtrong tổng vốn đầu tư cao nhất vào năm 2006 (43,28%), năm 2007 (27,72%) có tỷtrọng thấp nhất; nhưng lại có xu hướng tăng Ngành nông – lâm – ngư nghiệp tỷtrọng có xu hướng giảm Để phân tích kỹ hơn, chúng ta xem xét đến tốc độ tăng vốnđầu tư liên hoàn của từng khu vực
Bảng 1.12: Tốc độ tăng vốn đầu tư liên hoàn từng ngành, lĩnh vực của Hải
Dương giai đoạn 2005 – 2009
Trang 25Nguồn: Tính toán từ nguồn của Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương
Nhìn vào bảng trên, ta có thể nhận thấy tốc độ tăng liên hoàn vốn đầu tư củatừng ngành, lĩnh vực không ổn định, không đều
Tốc độ tăng cao nhất thuộc về khu vực nông nghiệp, trung bình tăng36,25%/năm Điều này có thể giải thích được là do với điều kiện về tự nhiên cũngnhư xã hội của Hải Dương phù hợp với phát triển nông nghiệp Mặt khác trong thời
kỳ 2006 – 2007, Hải Dương đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trongsản xuất nông nghiệp, nên vốn đầu tư đổ vào nông nghiệp trong thời kỳ tăng cao.Vìthế, tốc độ tăng của khu vực nông - lâm – ngư nghiệp tăng đột biến trong thời kỳ này,dẫn đến khu vực này có tốc độ tăng trung bình cao nhất
Đứng thứ hai là khu vực công nghiệp – xây dựng với tốc độ tăng trung bình là28.44%/ năm Giai đoạn 2005 – 2009, Hải Dương đầu tư xây dựng một số khu côngnghiệp mới Đây cũng là khu vực chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư vì những
dự án đầu tư vào công nghiệp đều là những dự án lớn, cần nhiều vốn
Cuối cùng là khu vực dịch vụ với tốc độ tăng trung bình là 21,93%/năm Bây giờ chúng ta xem xét từng khu vực để hiểu rõ hơn về cơ cấu trên:
1.2.4.1 Ngành nông – lâm – ngư nghiệp
Đối với kinh tế Hải Dương, nông nghiệp vẫn là một trong những ngành chiếm
vị trí quan trọng hàng đầu Với trên 80,9% dân số sống ở nông thôn và chiếm hơn55% trong tổng số lao động làm việc trong ngành nông nghiệp, nông nghiệp quyếtđịnh đời sống dân cư, giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho họ Nông nghiệp lànguồn cung cấp lương thực, thực phẩm chủ yếu, đồng thời là nguồn cung cấp nguyênliệu cho công nghiệp, cung cấp sản phẩm hàng hoá cho xã hội, góp phần tạo nguồnthu ngoại tệ đáng kể cho Hải Dương
Ngành này nếu xét về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư thì có tỷ lệ thấp nhấttrong cả thời kỳ so với hai ngành còn lại Năm 2005 tỷ trọng của ngành trong tổngvốn đầu tư là 7,23% thì đến năm 2006 tăng cao nhất cũng chỉ chiếm 17,15% sau đóđến năm 2007 lại tụt xuống chỉ còn 11,89%, và giảm dần trong những năm tiếp theo.Nhưng, mặt khác, tốc độ tăng trưởng vốn liên hoàn của khu vực này lại cao nhấttrong ba khu vực nghĩa là trong một số năm tỉnh tập trung vốn đầu tư cho lĩnh vựcnày khiến cho dòng vốn tăng đột biến, nếu năm 2005 số vốn là 452 tỷ đồng thì sangnăm 2006 số vốn tăng lên gấp 3 lần là 1440 tỷ đồng Nguồn vốn đầu tư cho khu vực
Trang 26này chủ yếu là: vốn Nhà nước đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn, vốnngân sách địa phương.
- Đối với trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt thuỷ sản, vốn đầu tư tập trung vào
những lĩnh vực sau:
- Xây dựng và tăng cường cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác hỗ trợ và pháttriển sản xuất như: xây dựng các trạm thú y, trạm khuyến nông, trạm bảo vệ thựcvật…
- Tăng cường cơ khí hoá, điện khí hoá trong sản xuất với việc đầu tư mua sắmcác máy động cơ, phương tiện vận tải cơ giới Đến nay, tỷ lệ cơ giới hoá khâu làmđất đạt trên 50%, đập tuốt lúa trên 97%, xay xát gạo trên 97%, nghiền trên 96%
- Xây dựng các công trình thuỷ lợi và kiên cố hoá kênh mương (có thể nói,lượng vốn đầu tư cho nông nghiệp hàng năm chủ yếu tập trung vào lĩnh vực này).Trong giai đoạn 2005-2009, một loạt các công trình thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu đãđược xây dựng như: khu tưới tiêu, hồ chứa nước, hệ thống bơm điện, hệ thống đê, kèven sông…Hải Dương tiếp tu ̣c đầu tư tu bổ các tuyến đê, kè; xxaay dựng mới 15cống qua đê, 4 nhà quản lý đê, cải ta ̣o và xây dựng mới 60 điểm canh đe; cải ta ̣o vàcứng hóa 95 km mă ̣t đê Xây dựng và nâng cấp 10 tra ̣m bơm, mỗi năm na ̣o vétkhoảng 1 triê ̣u m³các tuyến kênh mương nô ̣i đồng, tăng thêm năng lực tưới tiêu chủ
đô ̣ng cho 26000ha
- Ngoài ra tỉnh còn thực hiện nhiều chương trình hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ vốnvay trồng cây ăn quả, phát triển kinh tế trang trại, thay thế và cải tạo một số giốngcây trồng, vật nuôi mới
- Lâm nghiệp
Những năm qua, Hải Dương không ngừng huy động các nguồn lực nâng cấp,
tu bổ rừng, khai thác, tỉa hợp lý rừng trồng, đưa thêm cây bản địa vào trồng, làmvườn thực vật lưu giữ, bảo tồn và nhân rộng các nguồn gen thực vật, từng bước vươntới đa dạng gen động vật rừng
Tỉnh đã đẩy ma ̣nh thực hiê ̣n chuyển đổi mu ̣c đích sử du ̣ng đối với mô ̣t số diê ̣ntích rừng phòng hô ̣, rừng đă ̣c du ̣ng sang rừng sản xuất để nâng cao hiê ̣u quả khai tháctài nguyên rừng Triển khai dự án trồng rừng thâm canh với diê ̣n tích trông rừng tâ ̣ptrung 2248ha
Hai năm 2006-2007, với nguồn vốn hơn 10 tỷ đồng, tỉnh đã hoàn thành nâng
Trang 27cấp rừng sinh thái hồ Côn Sơn (huyện Chí Linh)
Phần lớn lượng vốn đến từ Ngân sách Nhà nước với chương trình trồng 5 triệu
ha rừng mỗi năm, một phần nhỏ còn lại là vốn trồng cây nhân dân của Ngân sách địaphương.Kết quả của chương trình 5 triê ̣u ha rừng là đến nay tỉnh cơ bản là đã phủxong đất trống, đồi núi tro ̣c
1.2.4.2 Ngành công nghiệp – xây dựng
Trong cơ cấu vốn đầu tư của tỉnh, ngành này chiếm khoảng 50-60%, tốc độtăng vốn liên hoàn đứng thứ hai trong ba nhóm ngành vào khoảng 28.44%/năm Nếunăm 2005 số vốn đầu tư vào công nghiệp và xây dựng của Hải Dương là 3193 tỷ thìđến năm 2009 con số này đã lên đên 8108 tỷ đồng Trong giai đoạn 2005-2009, cónhững năm tốc độ gia tăng vốn rất cao (131,96% vào năm 2007) nhưng có nhữngnăm lượng vốn này lại sụt giảm mạnh ( giảm 7,36% năm 2009 ) Điều này có thểđược lý giải là do vốn thực hiện một dự án công nghiệp ( và đi liền với nó là xâydựng ) là rất lớn nên những năm nào mà số dự án về công nghiệp tăng lên thì cũng sẽkéo theo sự gia tăng rất lớn của vốn đầu tư và ngược lại
Với phương châm cải thiện cơ sở hạ tầng để thu hút và thúc đẩy vốn đầu tưtrong và ngoài nước, Hải Dương đã dành phần lớn nguồn Ngân sách và vốn tín dụngNhà nước để đầu tư cho lĩnh vực này Trong năm năm qua, một loạt các công trình đãđược xây mới như : xây dựng các khu công nghiệp Tân Trường, Tàu thủy Lai Vu, Dự
án Dây chuyền 3 của Công ty Xi măng Hoàng Thạch… Các công trình này đã đẩy tỷtrọng vốn đầu tư của khu vực công nghiệp – xây dựng lên một cách đáng kể
Do có nhiều lợi thế về tài nguyên khoáng sản, một lượng lớn vốn đầu tư đã tậptrung vào ngành khai thác và chế biến Giai đoạn 2005-2009 tỉnh tiếp tục tập trungđầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, bổ sung thêm nhiều năng lực sản xuất mới như:Dây chuyền 3 của Công ty Xi măng Hoàng Thạch đi vào hoạt động vào cuối quýIII/2009, nâng tổng công suất của Công ty từ 2,3 triệu tấn lên 3,5 triệu tấn/năm, Khuliên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát của Công ty Cổ phần thép Hòa Phát có quy mô320.000 tấn/năm, Nhà máy sản xuất phôi thép vuông 295.000 tấn/năm của Công ty cổphần B.C.H … Bên cạnh đó, đa dạng hoá quy mô và cơ cấu ngành nghề, đưa thêmvào một số ngành nghề mới như: lắp ráp điện tử, điện lạnh, sản xuất động cơ điện,linh kiện xe máy, đồ nhựa…
Như vậy cơ cấu đầu tư trong nội tại ngành Công nghiệp có những điều chỉnh
Trang 28theo hướng tập trung đầu tư vào lĩnh vực có hiệu quả cao như sản xuất vật liệu xâydựng, chế biến, lắp ráp hàng cơ khí điện tử và hàng tiêu dùng
1.2.4.3 Ngành Dịch vụ - du lịch
Dịch vụ là khu vực nhận được vốn đầu tư ngày càng tăng Qua bảng 1.10 và1.11, ta nhận thấy trung bình mỗi năm, khu vực này nhận được hơn 4394 tỷ đồng,một con số không hề nhỏ so với tổng vốn đầu tư của cả tỉnh ( tỷ trọng bình quân mỗinăm là 38,44% ) Nhìn chung, lượng vốn này khá ổn định và duy trì ở mức 30-40%
Đối với ngành Thương mại, tỉnh đã huy động từ nhiều nguồn vốn đầu tư nâng
cấp, xây dựng kiên cố với quy mô khá lớn các chợ, trung tâm thương mại ở trung tâmthành phố, củng cố và xây dựng mới kiên cố và bán kiên cố các chợ ở thị trấn, trungtâm cụm xã và xã Triển khai dự án xây dựng chợ đầu mối nông lâm sản trong đó, có
01 chợ đầu mối rau quả cấp vùng (Nam Đồng Thành phố Hải Dương), còn lại 04 dự
án chợ đầu mối nông sản thực phẩm cấp tỉnh (chợ Đọ ứng Hoè Ninh Giang, chợĐồng Gia Kim Thành, chợ nông sản Gia Tân Gia Lộc, Chợ Nại Thanh Xá Thanh
Hà ) Tập trung đầu tư phát triển mạnh một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực dựa trênlợi thế sẵn có của tỉnh, hàng thủ công mỹ nghệ và một số nông sản chế biến khác Duy trì và giữa vững các thi ̣ trường xuất khẩu truyền thống Tích cực thâmnhâ ̣p vào các thi ̣ trường lớn như: EU, Mỹ, Nhâ ̣t Bản và các thi ̣ trường mới có tiềmnăng như Châu Phi và Trung Đông Triển khai chương trình nâng cao chất lượng rauquả, thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế được phổ câ ̣p, tiến tới xây dựng mă ̣t hàngxuất khẩu chủ lực, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng và vê ̣ sinh thực phẩm
Tăng cường hỗ trợ thông tin, tư vấn, hướng dẫn các doanh nghiê ̣p trong hoa ̣t
đô ̣ng xuất khẩu như: thông tin thi ̣ yếu người tiêu dùng, chính sách và quy đi ̣nh củanước nhâ ̣p khẩu, chủng loa ̣i, chất lượng, giá cả và điều kiê ̣n mua bán
Đối với ngành du lịch, nguồn vốn từ khu vực tư nhân đã tích cực đầu tư phát
triển hệ thống khách sạn, nhà hàng, các dịch vụ vui chơi giải trí như khu sân golf vàvui chơi giải trí, công viên,…tạo ra diện mạo mới trong phát triển du lịch của tỉnh.Bên cạnh đó là việc đầu tư hình thành một số khu du lịch như Khu du lịch và bảo tồnsinh thái Đảo Cò ( Thanh Miện), khu du lịch An Phụ ( Kinh Môn)
Phát triển các sản phẩm du li ̣ch gắn với các làng nghề truyền thống như thêuHưng Đa ̣o, giầy dép da Tam Lâm, gốm Chu Đâ ̣u, gỗ mỹ nghê ̣ Đông Giao
Tỉnh đã đẩy ma ̣nh công tác tuyên truyền, xúc tiến du li ̣ch và mở rô ̣ng thi ̣ trườngtrong và ngoài nước, gắn hoa ̣t đô ̣ng du li ̣ch của tỉnh với các tour du lichjcuar vùng vàcả nước nhằm khai thác tối đa tiềm năng du li ̣ch của tỉnh
Trang 29Đối với ngành tài chính, ngân hàng, trong những năm vừa qua, lĩnh vực tài
chính ngân hàng của tỉnh phát triển nhanh về quy mô và chất lượng Tỉnh đã mở rộng
và hiện đại hoá hệ thống tài chính, ngân hàng trên địa bàn tỉnh; khuyến khích, tạođiều kiện thuận lợi để các tổ chức tín dụng mở rộng mạng lưới các chi nhánh hoạtđộng đến các huyện, các khu kinh tế cửa khẩu và các điểm dân cư tập trung Bêncạnh đó, tỉnh cũng tập trung kiện toàn, củng cố, sắp xếp và đào tạo, bồi dưỡng vềtrình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ làm công tácthu, chi Ngân sách Cách ngân hàng trên địa bàn tỉnh cũng chú trọng đầu tư cho côngtác tuyên truyền, tiếp thị, khuyến mại, chăm sóc khách hàng
Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ truyền thống như:thanh toán điện tử, thanh toán quốc tế, chi trả tiền kiều hối,… đồng thời phát triển cácdịch vụ mới như phát triển và mở rộng mạng lưới ATM, các loại thẻ thanh toán quốctế
Các ngành di ̣ch vụ khác: Bên ca ̣nh sự phát triển của các ngàng di ̣ch vu ̣ nêu
trên, nhiều loa ̣i hình di ̣ch vu ̣ khác trong tỉnh cũng có bước phát triển đáng kể như di ̣ch
vu ̣ y tế, giáo du ̣c
Di ̣ch vu ̣ giáo du ̣c và đào ta ̣o ngày càng được quan tâm với tính xã hô ̣i hóa cao.Trong những năm qua nhiều trường dân lâ ̣p và tư thu ̣c được đầu tư xây dựng Chấtlươ ̣ng giáo du ̣c ta ̣i các trường dân lâ ̣p ngày càng được cái thiê ̣n đã đáp ứng nhu cầuvà nguyê ̣n vo ̣ng của đông đảo phu ̣ huynh và ho ̣c sinh trong tỉnh
Di ̣ch vu ̣ y tế có bước phát triển đáng khích lê ̣ Tỉnh đã đầu tư nâng cấp đồng bô ̣
hê ̣ thống khám chữa bê ̣nh, phù hợp với chức năng nhiê ̣m vu ̣ của từng tuyến Nhiềuphòng khám và bê ̣nh viê ̣n tư nhân được xây dựng và đầu tư trang thiết bi ̣ hiê ̣n đa ̣i đểphu ̣c vu ̣ viê ̣c khám chữa bê ̣nh cho nhân dân trong tỉnh Chất lượng di ̣ch vu ̣ y tế ngàycàng được nâng cấp và hoàn thiê ̣n, góp phần giảm tải cho mô ̣t số bê ̣nh viê ̣n côngtrong viê ̣c chăm sóc sức khỏe nhân dân
* Ngoài ra, ta có thể phân vốn đầu tư theo ngành, lĩnh vực căn cứ
vào lĩnh vực phát huy tác dụng Theo cách phân chia này vốn đầu tư phân theongành, lĩnh vực bao gồm:
- Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
- Đầu tư phát triển khoa học công nghệ
- Đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật
- Đầu tư phát triển hạ tầng xã hội
Trang 30Bảng 1.13: Vốn đầu tư phát triển phân theo lĩnh vực phát huy tác dụng
trên địa bàn Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009
Đơn vị: Tỷ đồng
Sản xuất kinh doanh 2812,9 3708,7 5488,5 6986,7 6740,7Khoa học công nghệ 312,6 457,8 727,5 954,8 939,6Kết cấu hạ tầng
Hạ tầng kỹ thuật 1250,2 1579,4 2552,3 4075,7 4031,2
Hạ tầng xã hội 1875,3 2651,1 3995,7 3508,8 3446,5
Nguồn: Niên giám thống kê Hải Dương
Qua bảng trên, ta thấy, vốn giành cho sản xuất kinh doanh luôn đạt ở mức caonhất và đây là lĩnh vực ta ̣o ra nguồn thu cho tỉnh cũng như của các nhà đầu tư nên nhâ ̣n được nhiều sự quan tâm Đứng thứ hai là hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật vì đâylà những lĩnh vực ta ̣o ra mô ̣t môi trường hấp dẫn để thu hút đầu tư Cuối cùng là vốn đầu tư vào khoa học công nghệ Như đã giải thích ở trên, năm 2009 khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng đến nền kinh tế của tỉnh, vốn đầu tư của tỉnh giảm nên trong năm
2009 vốn giành cho các lĩnh vực đều giảm Còn thời gian những năm trước đó thì vốn đầu tư trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, khoa học công nghệ, hạ tầng kỹ thuật đều tăng Riêng lĩnh vực hạ tầng xã hội lại có xu hướng giảm
Bảng 1.14: Cơ cấu vốn đầu tư Vốn đầu tư phát triển phân theo lĩnh vực phát
huy tác dụng trên địa bàn Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009
Nguồn: Niên giám thống kê Hải Dương
Trên cơ sở những số liệu ở trên, ta sẽ đi vào xem xét thực trạng đầu tư phát
Trang 31triển của từng nội dung cụ thể như sau
a Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
Qua hai bảng số liệu trên, ta nhận thấy nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh
ở Hải Dương luôn chiếm tỷ trọng cao nhất ( trung bình là 46,04%/năm ), bên cạnh đónguồn vốn này cũng có sự gia tăng liên tục về con số tuyệt đối: năm 2005 là 2812,9
tỷ đồng thì đến năm 2009 đã tăng lên đến 6819,5 tỷ đồng Đây cũng chính là khu vựcđóng góp một tỷ lệ rất lớn trong cơ cấu GDP của tỉnh Đầu tư cho sản xuất kinhdoanh gắn liền với đầu tư cho 3 ngành là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Trongphần cơ cấu vốn đầu tư phân theo ngành, ta đã phân tích khá chi tiết về đầu tư pháttriển của các ngành trên, do đó ta sẽ chủ yếu tập trung phân tích hai nội dung còn lạilà: đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
b Đầu tư phát triển khoa học công nghệ
Vốn đầu tư cho khoa học công nghệ của tỉnh giai đoạn 2005-2009 chiếm một
tỷ lệ nhỏ bé trong cơ cấu vốn đầu tư của tỉnh ( chưa đến 10% ) Năm 2008, lượngvốn đầu tư đạt cao nhất với 954,8 tỷ đồng, còn lại các năm khác trung bình khoảng588.9 tỷ đồng/năm Tuy nhiên vốn đầu tư cho ngành nay có xu hướng ngày càngtăng Điều này chứng tỏ hoạt động khoa học công nghệ đã và đang được quan tâmnhiều hơn, tiềm lực khoa ho ̣c công nghê ̣ được tăng cường từng bước Các công trìnhkhoa ho ̣c công nghê ̣, phần lớn là các nhiê ̣m vu ̣ khoa ho ̣c công nghê ̣ được lựa cho ̣n cóý nghĩa thiết thực, đã hướng vào giải quyết các vấn đề do sản xuất và đời sống đă ̣t ra Với sự đầu tư kinh phí thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồnvốn hỗ trợ của tỉnh, sở Khoa học công nghệ đã phối hợp với các sở, ban, ngành khácnghiên cứu, triển khai nhiều đề tài nghiên cứu khoa học Nhiều biê ̣n pháp canh táctiến bô ̣ đã được nghiên cứu áp du ̣ng thành công ở mô ̣t số đa ̣i phương, Nhiều giốnglúa lai, thuần, cây rau màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây hoa, cây dược liệu… vànhiều giống gia súc, gia cầm, thủy sản có năng suất, chất lượng tốt đã đực nghiêncứu, khảo nghiệm, sản xuất thử, lựa chọn để bổ sung vào cơ cấu cây trồng, vật nuôi,
cơ cấu mùa vụ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập chonhiều hộ dân ở các địa phương trong tỉnh
Nhiều đề tài dự án than gia vào việc giải quyết các vấn đè bức xúc về môitrường như xử ký nước thải bệnh viện, chôn lấp rác thải sinh hoạt…Áp dụng lò gạchliên tục kiểu đứng thay thế lò gạch thủ công, phát triển phong trào năng suất xanh ở
Trang 32các làng nghề, địa phương trong tỉnh, được nhân dân đồng tình đã mang la ̣i kết quảthiết thực.
Trong ngành công nghiệp và xây dựng giai đoạn này cũng được tỉnh đầu tưnghiên cứu và đưa vào ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật mới trong công nghệ đúcgang, thép chịu mài mòn,xây dựng lò gạch liên tục kiểu đứng cho bà con trong tỉnh;cải tiến máy cày, áp dụng cơ giới hoá sản xuất trên đồng ruộng…
Với nhận thức ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin là nhiệm vụ ưu tiêntrong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh đã tổ chức triển khai nhiều dự án như
dự án đào tạo và bồi dưỡng, nâng cao kiến thức về công nghệ thông tin cho các cán
bộ trong tỉnh; dự án tin học hoá quản lý Nhà nước; dự án nối mạng giữ Tỉnh uỷ vớiTrung ương Đảng và các huyện, giữa Uỷ bản nhân dân tỉnh và Văn phòng ChínhPhủ… Bên cạnh đó, tỉnh còn xây dựng và duy trì Website nhằm giới thiệu, quảng bá
và kêu gọi đầu tư cho tỉnh, xây dựng cơ sở dữ liệu công nghệ nhằm tuyên truyền, giớithiệu các tiến bộ khoa học – công nghệ, các quy trình kỹ thuật tiên tiến cho các cơquan, tổ chức và nhân dân có nhu cầu
Tuy nhiên, xét một cách toàn diện thì vốn đầu tư như vậy vẫn còn quá nhỏ bé,bởi khoa học công nghệ đóng vai trò hết sức quan trọng, tạo động lực cho tăngtrưởng và phát triển kinh tế của tỉnh Vì vây, muốn cho khoa học kỹ thuật xâm nhậpsâu hơn nữa vào các lĩnh vực đời sống xã hội cần phải đầu tư hơn nữa cho các côngtác nghiên cứu, ứng dụng đồng thời có những chính sách phù hợp thu hút nhân tài vềlàm việc và phục vụ cho tỉnh
c Đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật
Trong những năm 2005-2009, vốn đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật của tỉnhtăng qua các năm, và chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong cơ cấu vốn đầu tư Đây lànguồn vốn rất quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng của tỉnh,nâng cao đời sống nhân dân, góp phần tăng cường và thu hút các nguồn vốn đầu tưkhác cho tỉnh
- Giao thông vận tải
Giao thông vận tải là một lĩnh vực hết sức quan trọng trong hệ thống cơ sở hạtầng kinh tế xã hội, cần phải đi trước một bước Giao thông vâ ̣n tải phát triển giúpviê ̣c lưu thông hàng hóa và viê ̣c đi la ̣i thuâ ̣n tiê ̣n hơn Lĩnh vực này phát triển sẽ gópphần kích thích sự phát triển của các lĩnh vực khác