1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguồn vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp. Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước

70 725 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguồn Vốn Đầu Tư Phát Triển Trong Doanh Nghiệp. Thực Trạng Huy Động Và Sử Dụng Vốn Đầu Tư Phát Triển Trong Doanh Nghiệp Nhà Nước
Tác giả Nhóm 11
Người hướng dẫn TS. Từ Quang Phương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 501,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau hơn 20 năm kể từ bước ngoặt năm 1986, cùng với công cuộc đổi mới đất nước là quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế có nhiều bên tham gia một cách hiệu quả.

Trang 1

Nguồn vốn đầu tư phát triển trong doanh

nghiệp Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước.

1.1.1 Khái niệm đầu tư

1.1.2.1 Đầu tư tài chính

1.1.2.2 Đầu tư thương mại

1.1.2.3 Đầu tư phát triển

1.1.3.Vai trò của đầu tư phát triển đối với doanh nghiệp

1.1.3.1.Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng và phát triển kinh tế.1.1.3.2 Đầu tư phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.1.3.3.Tác động của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ

II NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.2.1.Khái niệm nguồn vốn đầu tư

1.2.2.Bản chất của nguồn vốn đầu tư

1.2.3.Vai trò của nguồn vốn đầu tư trong các doanh nghiệp

1.2.3.1 Điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp

1.2.3.2 Cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.3.3.Cơ sở cho việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh

Trang 2

1.2.4.Cơ sở huy động nguồn vốn đầu tư phát triển trong các DNNN

1.2.5 Nội dung nguồn vốn đầu tư phát triển trong các doanh nghiệp

1.2.5.1.Nguồn vốn bên trong (hay các nguồn ngân quỹ do doanh nghiệp tự tài trợ )

1.2.5.2.Nguồn vốn bên ngoài ( các nguồn tài trợ từ ngoài doanh nghiệp )

1.2.6 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế quốc dân

1.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc huy động và sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước

1.2.7.1 Các nhân tố vĩ mô

1.2.7.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp nhà nước

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

I.THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

2.1.1 Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước

2.1.2.Quĩ khấu hao

2.1.3 Lợi nhận giữ lại

2.1.4 Nguồn vốn từ ngân hàng thương mại

2.1.5.Tín dụng thuê mua

2.1.6.Phát hành cổ phiếu trái phiếu

2.1.7.Bất động sản

II.THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

2.2.1 Thực trạng sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh

2.2.2 Nghiên cứu và đổi mới khoa học công nghệ

2.2.3 Đầu tư phát triển nguồn vốn nhân lực

2.2.4.Tài sản vô hình

2.2.5 Đầu tư xây dựng cơ bản và mua tài sản cố định

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO VIỆC HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUÂ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.

I Giải pháp cho việc huy động vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước.

3.1.1 Đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá , đa dạng hoá sở hữư doanh nghiệp nhà nước3.1.2 Thực hiện sát nhập các doanh nghiệp: tích tụ và tập trung vốn

3.1.2 Thực hiện sát nhập các doanh nghiệp: tích tụ và tập trung vốn

Trang 3

3.1.4 Đổi mới, phát triển,nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN

II Giải pháp cho việc sử dụng vốn đầu tư phát triển DNNN

3.2.1 Tăng cường giám sát , quản lý phần vốn được dầu tư

3.2.2 Khai thác triệt để nguồn vốn bên trong doanh nghiệp

3.2.3 Tìm nguồn huy động vốn bên ngoài hợp lý, hiệu quả

3.2 4 Xây dựng chiến lược đầu tư đúng hướng, sử dụng vốn tiết kiệm có hiệu quả.3.2.5 Xây dựng một cơ cấu nguồn vốn hợp lý, tối đa hóa giá trị DN

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Tài chính Việt Nam 2001-2010, nhà xuất bản tài chính

2 Để sử dụng vốn nhà nước có hiệu quả nhất, diễn đàn doanh nghiệp,16/12/2006

3 DNNN không thể chủ đạo bằng cách giữ nhiều vốn, dân trí, 22/9/2006

4 DNNN sử dụng vốn vay kém hiệu quả, thời báo kinh tế Việt Nam, 27/01/2008

5 Đổi mới phương thức quản lý phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp, hộinghị quốc tế quản trị doanh nghiệp, 6/12/2004

6 Giáo trình Kinh tế đầu tư-PGS,TS Nguyễn Bạch Nguyệt;PGS,TS Từ Quang Phương

7 Giáo trình Quản trị doanh nghiệp-Nguyễn Hải Sơn

8 Thị trường BĐS,những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam-PGS.TS Thái Bá Cần; TS-Trần Nguyên Nam

9 Tạp chí cộng sản số 6(150) năm 2008

10 Báo thương mại 27/1/2008

11 Tạp chí Tài chính Doanh Nghiệp,số 4/2006, số 12/2007

17 Nghiên cứu: Đổi mới cơ cấu vốn của các DNNN Việt Nam hiện nay

18 Niên giám thống kê 2006

19 Kết quả nghiên cứu các đề án của Việt Nam - Hà Lan VNPR 2001

20 Bảo toàn và phát triển vốn NXB Thống Kê

21 Hướng đến tầm cao mới – Báo cáo phát triển Việt Nam 2007

22 Tổng kết kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001-2005 - lý luận và thực tiễn

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Sau hơn 20 năm kể từ bước ngoặt năm 1986, cùng với công cuộc đổi mới đất nước là quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế có nhiều bên tham gia một cách hiệu quả Từ chỗ hoàn toàn do doanh nghiệp nhà nước chi phối đến lúc bắt đầu tiến hành đổi mới, sản xuất hàng hoá và dịch vụ ngày càng chuyển dần sang tay các doanh nghiệp với các cơ cấu sở hữu và quản trị

đa dạng Hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước đã được chuyển đổi hình thức sở hữu, nhờ đó phần nào khẳng định được vị trí quan trọng trong việc tạo thu nhập và điều tiết nền kinh tế vĩ mô

Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước còn thấp là mộtthực tế không thể phủ nhận Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên là tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp còn nhiều bất cập, đặc biệt là tình hình sử dụng vốn sau khi huy động

Nguồn vốn đầu tư phát triển chiếm vị trí quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp, chính vì vậy việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này là yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp tồn tại và phát triển, đặc biệttrong thời kỳ hội nhập đầy cạnh tranh hiện nay Nghiên cứu đề tài “ Nguồn vốn đầu

tư phát triển của doanh nghiệp Phân tích thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước” để thấy rõ vai trò của nguồn vốn đầu tư phát triển và cụ thể hơn là xem xét và đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn đó hiện nay của các doanh nghiệp nhà nước, đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước

Nhóm 11 xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo hướng dẫn Từ Quang Phương đã giúp chúng em thực hiện đề tài này Trong quá trình hoàn thành đề tài sẽ không tránhkhỏi những thiếu sót mong thầy giáo và các bạn đóng góp ý kiến

Trang 6

1.1.1 Khái niệm đầu tư

Đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt độngnào đó nhằm đạt được các kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất địnhtrong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó

Nguồn lực hi sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động

và trí tuệ

Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiềnvốn ), tài sản vật chất( nhà máy, đường xá, bệnh viện, trường học…), tài sản trítuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lý, khoa học kĩ thuật…) và nguồnnhân lựccó đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sảnxuất xã hội

1.1.2.Các loại hình đầu tư

1.1.2.1 Đầu tư tài chính

Đầu tư tài chính là loại hình đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vayhoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước hoặc lãi suất tuỳ thuộcvào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty phát hành Đầu tư tài chính là loại hìnhđầu tư không trực tiếp làm gia tăng tài sản cho nền kinh.Với hoạt động đầu tư này,vốn đầu tư bỏ ra được lưu chuyển dễ dàng khi cần có thể rút ra một cách nhanhchóng, do đó khuyến khích người có tiền bỏ tiền ra đầu Để giảm rủi ro họ có thể đầu

tư vào nhiều nơi để chia nguồn vốn vào nhiều mảng Đầu tư tài chính là một nguồncung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển

1.1.2.2 Đầu tư thương mại

Đầu tư thương mại là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua hàng hoásau đó bán với giá cao hơn nhằm thu được lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua vàkhi giá bán Đầu tư thương mại không trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế màlàm tăng tài sản tài chính cho người đầu tư tỏng quá trình mua đi bán lại chuyển giaoquyền sở hữu hàng hoá giữa người bán và nhà đầu tư và người đầu tư với khách hàngcủa họ.Hoạt động đầu tư này góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất

do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu ngân sách tăng

Trang 7

tích luỹ vốn cho cho phát triển sản xuất,kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất

xã hội nói chung.

1.1.2.3 Đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư,là việc chi dùng vốn tronghiện tại để tiến hành hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sảnvật chất và tài sản trí tuệ,gia tăng năng lực sản xuất,tạo thêm việc làm và vìmục tiêu phát triển

Đầu tư thương mại, đầu tư tài chính và đầu tư phát triển là 3 loại đầu tưluôn luôn tồn tại và có quan hệ tương hỗ với nhau Đầu tư phát triển tạo tiền đề

để tăng tích luỹ,phát triển hoạt động đầu tư tài chính và đầu tư thươngmại.Ngược lại đầu tư tài chính và đầu tư thương mại hỗ trợ và tạo điều kiện đểtăng cường đầu tư phát triển

1.1.3.Vai trò của đầu tư phát triển đối với doanh nghiệp

Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nềnkinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ Hình thức đầu tư này đóng vai tròrất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia

1.1.3.1.Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Đầu tư phát triển vừa tác động đến tốc độ phát triển vừa tác động đếnchất lượng tăng trưởng Tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý

là những nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năngsuất tổng hợp, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế do đó nângcao chất lượng tăng trưởng kinh tế Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữađầu tư phát triển với tăng Hệ số ICOR ( Incremental - tỷ số gia tăng của vốn sovới sản lượng ) là tỷ số giữa quy mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng sảnlượng hay là phần đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lưọng GDP tăngthêm:

Vốn đầu tư tăng thêm Đầu tư trong kỳ

GDP tăng thêm GDP tăng thêmChia cả tử cả mẫu của công thức trên cho GDP, ta có:

Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP ICOR=

Trang 8

Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Từ công thúc trên cho thấy: Nếu COR không đổi thì mức tăng trưởng kinh tếhoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư

Hệ số ICOR của nền kinh tế cao hay thấp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tốnhư:

* Do thay đổi của cơ cấu đầu tư ngành.Cơ cấu đầu tư ngành thay đổi ảnhhưởng đến hệ số ICOR từng ngành, từ đó tác động đến ICOR chung

* Sự phát triển của khoa học công nghệ có ảnh hưởng đến ICOR.Gia tăng khoahọc công nghệ làm cho đầu tư trong kỳ (tử số của công thức) tăng thêm, mặt khác sẽlàm cho máy móc hoạt động có hiệu quả hơn, năng suất cao hơn kết quả làm cho đấu

tư tăng lên, GDP tăng lên (mẫu số của công thức)

*Do thay đổi cơ chế chính sách và phương pháp tổ chức quản lý, nếu cơ chếchính sách phù hợp thì đầu tư có hiệu quả hơn làm cho ICOR giảm và ngược lại

1.1.3.2 Đầu tư phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế là cơ cấu tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế ,cóquan hệ chặt chẽ với nhau, được thể hiện cả về mặt chất và mặt lượng, tuỳthuộc thay đổi tỷ trọng của bộ phận cấu thành nền kinh tế.Sự chuyển dịch cơcấu kinh tế xảy ra có sự phát triển không đồng đều về quy mô, tốc độ giữa cácnghành , vùng.Những cơ cấu kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân bao gồm

cơ cấu kinh tế ngành, lãnh thổ, theo thành phần kinh tế

Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế.nó góp phần làmchuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luật và chiến lược phát triển kinh

tế kinh tế xã hội của một quốc gia trong từng thời kỳ, tạo cân đối mới trênphạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực củanền kinh tế,trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực Đối với cơ cấu ngành, đầu

tư vốn vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốnhiệu quả cao hay thấp đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăngcường cơ sở vật chất của từng ngành ,tạo tiền đề vật chất để phát triển cácngành mới, do đó, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu

tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnhthổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huytối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị của những

Trang 9

vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùngkhác cùng phát triển.

Có thể đánh giá vai trò của đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế quacác chỉ tiêu dưới đây:

% thay đổi tỷ trọng đầu tư của

Hệ số co dãn giữa việc ngành/tổng vốn đầu tư xã hội giữakỳ

thay đổi cơ cấu đầu tư nghiên cứu so với kỳ trước

với thay đổi cơ cấu =

kinh tế ngành %thay đổi tỷ trọng GDPcủa ngành

trong tổng GDP giữa kỳ nghiên cứuvới

kỳ trước

Chỉ tiêu này cho biết, để tăng 1% tỷ trọng GDP của ngành trong tổng GDP(thayđổi cơ cấu kinh tế ) thì phải đầu tư cho ngành tăng thêm bao nhiêu

% thay đổi tỷ trọng vốn đầu tư của ngành

Hệ số co dãn giữa việc nào đó /tổng vốn đầu tư xã hội knghiên

thay đổi cơ cấu cứu so với kỳ trước

đầu tư ngành với thay =

đổi GDP % thay đổi tốc độ tăng trưởng GDP giữa

kỳ nghiên cứu so với kỳ trước

Chỉ tiêu này cho biết : để góp phần dưa tăng trưởng kinh tế ( GDP ) lên 1% thì

tỷ trọng đầu tư vào một ngành nào đó tăng lên bao nhiêu

1.1.3.3.Tác động của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ

Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và pháttriển khoa học công nghệcủa một doanh nghiệp và quốc gia

Công nghệ bao gồm các yếu tố cơ bản: phần cứng ( máy móc,thiết bị ),phầnmềm( các văn bản,các tài liệu,các bí quyết …),yếu tố con người ( các kỹ năngquản lý,kinh nghiệm ),yếu tố tổ chức(các thể chế,phương pháp tổchức…) Muốn có công nghệ ,cần phải đầu tư vào các yếu tố cấu thành

Đối với các nước đang phát triển ,do có nhiều lao động và nguyên liệuthường đầu tư các loại công nghệ sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu,sau

đó, ảm dần hàm lượng lao động và nguyên liệu trong sản xuất sản phẩm và tăngdần hàm lượng vốn thiết bị và tri thức thông qua việc đầu tư công nghệ hiện đại

Trang 10

hơn và đầu tư đúng mức để phát triển nguồn nhân lực Đến giai đoạn pháttriển,xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức chiếm

ưu thế tuyệt đối

Công nghệ mà doanh nghiệp có được là do nhập khẩu từ bên ngoài hoặc

tự nghiên cứu và ứng dụng.Dù nhập hay là nghiên cứu thì đề đòi hỏi vốn đầu tưlớn.Mỗi doanh nghiệp mỗi nước mỗi nước khác nhau cần có bước đi phù hợp

để lựa chọn công nghệ thích hợp Trên cơ sở đó, đầu tư có hiệu quả để phát huylợi thế so sánh của từng đơn vị cũng như toàn nền kinh tế quốc dân

Để phản ánh sự tác động của đầu tư đến trình độ phát triển khoa học và côngnghệ ,có thể sử dụng các chỉ tiêu sau :

Tỷ trọng vốn đầu tư đổi mới công nghệ /tổng vốn đầu tư Chỉ tiêu nàycho thấy mức độ đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hay ít trong mỗi thời kỳ

Tỷ trọng chi phí mua sắm máy móc thiết bị /tổng vốn đầu tư thựchiện.Chỉ tiêu này cho thấy tỷ lệ vốn là do máy máoc thiết bị chiếm bao nhiêu.Đối với doanh nghiệp sản xuất công nghệ khai khoáng, chế tạo, lắp ráp, tỷ lệnày phải lớn

Tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu /tổng vốn đầu tư thực hiện Đầu tưchiều sâu thường gắn liền với đổi mới công nghệ Do đó, chỉ tiêu này càng lớnphản ánh mức độ đầu tư đổi mới khoa học công nghệ cao

Tỷ trọng vốn đầu tư cho các công trình mũi nhọn ,trọng điểm Các côngtrình trọng điểm mũi nhọn thường là các công trình đầu tư lớn,công nghệ hiệnđại,mang tính chất đầu tư mồi,tạo tiền đề để đầu tư phát triển các công trìnhkhác Chỉ tiêu này cho thấy mức độ tập trung của công nghệ và gián tiếp phảnánh mức độ hiện đại của công nghệ

II NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.2.1.Khái niệm nguồn vốn đầu tư

Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích luỹ được thể hiện dướidạng giá trị được chuyển hoá thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của

xã hội

1.2.2.Bản chất của nguồn vốn đầu tư

Về bản chất nguồn vốn đầu tư là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nềnkinhn tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội

Theo lý thuyết tư bản của Adamsmith, một đại diện của trường phái kinh

tế học cổ điển coi tư bản là điều kiện vật chất cần thiết cho sản xuất của mọi xãhội Điều quý giá trong lý thuyết tư bản của ông là quan điểm về tiết kiệm.Ông cho rằng muốn có tư bản thì phải có tiết kiệm,nhà tư bản phải dành một

Trang 11

phần thu nhập của mình để mở rộng sản sản xuất , tạo thêm công việc cho côngnhân Điều này xét đến cùng sẽ làm tăng xủa cải của quố dân Ông ca ngợi tiếtkiệm và lên án sự lãng phí, ông nói : “Mỗi kẻ hoang phí là kẻ thù của sự giàu

có của xã hội, còn mỗi người tiết kiệm là người làm giàu cho xã hội “ Trongtác phẩm “Của cải của các dân tộc” (1776),Adasmith nói rằng: “Tiết kiệm lànguyên nhân trực tiếp làm gia tăng vốn Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹcho quá trình tiết kiệm Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa,nhưng không

có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”

Sang thế kỷ XIX,khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ giữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề có liên quan đến tích luỹ, C.Mac đã chứng minh rằng :Trong một nền kinh tế với hai khu vực ,khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng Cơ cấu tổng giá trị của từng khu vựcđều bao gồm (c+v+m), trong đó c là tiêu hao vật chất,(v+m) là giá trị mới sáng tạo ra Khi đó điều kiện đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo (v+m)của khu vực I lớn hơn tiêu hao vật chất ở khu vực II :

( v+m )I >cII

Hay: (c+v+m )I > cII+cI

Vậy tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bù đắp tiêu hao vất chất của toàn bộ nền kinh tếmà còn phải dư thừa để đầu tư làm tăng quy mô tư liệu

ản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo

Đối với khu vực II ,yêu cầu phải đảm bảo :

(c+v+m )II > (v+m)I +(v+m)II

Tức là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm sảnxuất ra của khu vực II Chỉ khi điều kiện này được thoả mãn , nền kinh tế mới dành một phần thu nhập để tái sản xuất mở rộng Từ đó quy mô đầu tư cũng sẽ tăng

Như vậy , để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất ,gia tăng quy mô đầu

tư ,một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I, đồng thời phải sử dụng tư liệu sản xuất tiết kiệm ở cả hai khu vực Mặt khác, phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II,thực hiện tiết kiệm tiêu dùng ở cả hai khu vực

Vậy theo quan điểm của Mac để tái sản xuất mở rộng lâu dài thì phải pháttriển sản xuất và tiến hành tiết kiệmở cả trong sản xuất và tiêu dùng

Trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm lãi suất và tiềntệ” của Jonh Maynard Keynes, một nhà kinh tế học hiện đại đã chứng minh

Trang 12

rằng: Đầu tư chính là phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng Đồng thờiông cũng chỉ ra rằng tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng :

Ta có

Thu nhập = Tiêu dùng +Đầu tư

Tiết kiệm = Thu nhập –Tiêu dùng

Tuy nhiên điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng Đầu tư

và tiết kiệm là hai đại lượng quan trọng Việc điều tiết vĩ mô nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập đòi hỏi phải khuyến khích tăng đầu tư và tiết kiệm, từ

đó giải quyết khủng hoảng và thất nghiệp

1.2.3.Vai trò của nguồn vốn đầu tư trong các doanh nghiệp

Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp Vốn là điều

kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp & tiến hành các

hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn

phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh Trong

quản lý tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý quản lý việc huy động & sự

luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản

& hiệu quả tài chính

1.2.3.1 Điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp.

Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp Về

mặt pháp lý, mỗi doanh nghiệp khi thành lập đều phải có một lượng vốn

nhất định và phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định do Nhà nước quy

Trang 13

định đối với lĩnh vực kinh doanh đó Như vậy vốn lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành và tồn tại của doanh nghiệp trước pháp luật.

Giá trị vốn ban đầu có thể ít hoặc nhiều tuỳ theo quy mô, ngành nghề, loại hình doanh nghiệp Vốn pháp định ở Việt Nam chỉ quy định cho một số ngành nghề có liên quan đến tài chính như Chứng khoán, Bảo hiểm,Kinh doanh vàng và Kinh doanh tiền tệ

Đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác mà Nhà nước không quy định giá trị vốn ban đầu tối thiểu thì giá trị vốn khi thành lập có thể dao động từ hàng triệu đến hàng tỷ đồng tuỳ khả năng của người thành lập doanh nghiệp

* Tư vấn đầu tư chứng khoán: 3 tỷ đồng

Kinh doanh vàng (Theo Nghị định số 174/NĐ-CP):

* Sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ: Đối với các doanh nghiệp hoạt

động tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, có vốn pháp định

tối thiểu là 5 tỷ đồng Việt Nam Đối với các doanh nghiệp hoạtđộng tại

các tỉnh và thành phố khác, có vốn pháp định tối thiểu là 1 tỷ đồng Việt

Nam

* Sản xuất vàng miếng: 50 tỷ đồng

Kinh doanh bảo hiểm (Theo Nghị định số 42-43/NĐ-CP):

* Bảo hiểm phi nhân thọ: 70 tỷ đồng

* Bảo hiểm nhân thọ: 140 tỷ đồng

* Môi giới : 4 tỷ đồng

1.2.3.2 Cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Vốn là điều kiện cơ bản và thiết yếu để tiến hành bất kỳ quá trình và loại hình sản xuất kinh doanh nào Điều này thể hiện rõ trong hàm sản xuất

Trang 14

cơ bản P= F(K, L, T), vốn (K) chính là 1 trong 3 yếu tố cơ bản của hàm sản

xuất, bên cạnh các yếu tố lao động (L) và công nghệ (T) Hơn nữa, trong

hàm sản xuất này thì vốn có thể coi là yếu tố quan trọng nhất bởi vì lao động và công nghệ có thể mua được khi có vốn

Sau khi thành lập, doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất kinh doanh

Hoạt động thực tế hàng ngày đòi hỏi phải có tiền để chi tiêu, mua sắm

nguyên vật liệu, máy móc; trả lương Số tiền này không thể lấy ở đâu khác ngoài nguồn vốn của doanh nghiệp Khi nguồn vốn tạm thời không đáp ứng đủ nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng khó khăn

về ngân quỹ Các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp tạm thời bị đình trệ, suy giảm Nếu tình hình này không được khắc phục kịp thời, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng khó khăn tài chính triền miên; hoạt động sản xuất kinh doanh bị gián đoạn; tâm lý cán bộ công nhân viên hoang mang; mất uy tín với bạn hàng, chủ nợ

và Ngân hàng Những khó khăn này có thể nhanh chóng đưa công ty đến kết cục cuối cũng là phá sản, giải thể hoặc bị sát nhập với công ty khác

1.2.3.3.Cơ sở cho việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh.

Vốn không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh

doanh mà còn giúp doanh nghiệp mở rộng và phát triển Trong quá trình

phát triển của mình, doanh nghiệp luôn mong muốn mở rộng sản xuất kinh

doanh, giữ vững và vươn lên trong thị trường Để làm được điều đó, đòihỏi

doanh nghiệp phải liên tục đổi mới, đầu tư, tái đầu tư, cải tến máy móc,

thiết bị, công nghệ, hệ thống phân phối sản phẩm Kỷ nguyên của công

nghệ và sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ càng tạo sức ép cho doanh nghiệp;

buộc phải liên tục làm mới mình, đổi mới không ngừng nếu không muốn

giẫm chân tại chỗ hay bị tụt hậu Để làm được tất cả những công việc đó

doanh nghiệp không thể không cần đến nguồn vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh

Thực tế cho thấy nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trong

các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay là rất lớn Nhiều doanh nghiệp do

không có nguồn vốn bổ sung kịp thời, đủ lớn nên đã bị mất đi vị trí của mình trên thị trường

Trang 15

Vốn còn là nhân tố cực kỳ quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao

khả năng cạnh tranh trên thị trường Vốn không những là cơ sở để doanh

nghiệp có thể nâng cao khả năng sản xuất, tăng cường mạng lưới phân phối

mà còn có thể giúp doanh nghiệp vượt qua các đối thủ cạnh tranh hay hơn

nữa là loại bỏ họ bằng các chính sách marketing hiệu quả (tăng cường quảng cáo, giảm giá, khuyến mại )

Như vậy, vốn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải nhận thức vấn đề này một

cách rõ ràng, từ đó phải có một chính sách huy động vốn nhanh chóng,hiệu

quả để có thể tồn tại và không ngừng phát triển trên thương trường

1.2.4.Cơ sở huy động nguồn vốn đầu tư phát triển trong các DNNN

Có nhiều quan điểm về huy động vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhưng tựu chung lại các quan điểm này đều có những đặc điểm chung:

Huy động vốn đầu tư phát triển phải phù hợp với cơ chế chung về huy động vốn từ nguồn trong nước Quan điểm này thể hiện ở các tiêu chí:

-Lãi suất huy động phải lớn hơn tỷ lệ lạm phát

-Lãi suất huy động vốn dài hạn lớn hơn lãi suất huy động vốn ngắn hạn và lớn hơn tỷ lệ lạm phát

-Không nên huy động vốn ngắn hạn để thực hiện hoạt động đầu tư phát triển vì thời gian hoàn vốn cố định phải kéo dài, không đảm bảo hoàn vốn theo thời gian vay ngắn hạn

Huy động phải kết hợp và phát huy được sức mạnh của hệ thống công cụ tài chính tiền tệ và các công cụ khác Đó là các công cụ: chính sách thuế, chính sách chi tiêu của nhà nước, chính sách tích luỹ, tiết kiệm và đầu tư, chính sách tiền tệ, lạm phát, tỷ giá,tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Huy động vốn phải gắn với việc tổ chức hoàn thiện thị trường tài chính, đặc biệt phải gắn với việc xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán, gồm:

đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, phát hành các loại cổ phiếu, trái

phiếu, các giấy tờ có giá khác

1.2.5 Nội dung nguồn vốn đầu tư phát triển trong các doanh nghiệp

1.2.5.1.Nguồn vốn bên trong (hay các nguồn ngân quỹ do doanh nghiệp tự tài trợ )

Trang 16

Các nguồn ngân quỹ do doanh nghiệp tự tài trợ là những nguồn vốn do doanh nghiệp tự tích luỹ hay điều chỉnh cơ cấu tài sản để hình thành nguồn vốnbằng tiền tài trợ cho các hoạt động của chính công ty.

Các nguồn tài chính này hình thành từ các nguồn sau:

-Vốn góp ban đầu

-Quỹ khấu hao các loại tài sản cố định của doanh nghiệp

-Quỹ tích luỹ tái đầu tư phát triển sản xuất do phần lợi nhuận kinh doanh hàng năm được giữ lại

Các nguồn tài chính này có vai trò rất quan trọng ,vì nó góp phần nâng cao vị thế tài chính của doanh nghiệp do duy trì hay nâng cao chất lượng các tỷ

số tài chính theo hướng có lợi Mặt khác,các nguồn này còn thể hiện nội lực của doanh nghiệp, nó giúp doanh nghiệp có thể dùng làm đối trọng với các nguồn tín dụng huy động từ bên ngoài công ty

Vốn góp ban đầu

Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ doanh nghiệp cũng phải có

một số vốn ban đầu nhất định do cổ đông - chủ sở hữu góp Khi nói đến

nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình

thức sở hữu của doanh nghiệp đó Vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính

chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp Nhà nuớc, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu

tư của Nhà nước, chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước

Đối với các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, chủ doanh

nghiệp phải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập

doanh nghiệp Chẳng hạn, đối với công ty cổ phần, vốn góp của các cổ

đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty Mỗi cổ đông là

một chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ

phần mà họ nắm giữ

Trong các loại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệm

hữu hạn, công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, công ty liên doanh, nguồn vốn góp cũng tương tự như trên: tức là vốn có thể do chủ đầu tư bỏ ra, do các bên tham gia góp vốn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau

Quỹ khấu hao cơ bản

Đây là một nguồn tự tài trợ có ý nghĩa rất quan trọng đối với

doanhnghiệp,bởi quỹ này phản ánh độ lớn các khoản khấu hao tài sản cố định

và gián tiếp phản ánh tốc độ đổi mới doanh nghiệp

Khi doanh nghiệp muốn nâng cao vị thế trên thương trường thì một yếu tố cực

kỳ quan trọng có thể giúp doanh nghiệp thắng được các đối thủ cạnh tranh là yếu tố công nghệ.Do đó, nếu tốc độ khấu hao chậm ,các doanh nghiệp sẽ không

Trang 17

thể bắt kịp tốc độ phát triển của công nghệbởi tài sản cũ chưa khấu hao

hết,nguồn tích luỹ từ khấu hao thấp không đủ để mua máy móc thiết bị mới

Quỹ tích luỹ tái đầu tư phát triển sản xuất

Quỹ này được hình thành từ nguồn lợi nhuận hàng năm được trích lập theo quy định của Bộ Tài Chính Đối với các công ty cổ phần hay công ty

TNHH nguồn trích lập quỹ này do doanh nghiệp quyết định.Nguồn vốn này có

ý nghĩa rất quan trọng, nguồn này lớn chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động có hiệuquả.Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn.Nguồn trích từ lợi nhuận để lại là bộ phận lợi nhuận được dùng để tái đầu

tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vào khả năng sinh lợi của bản thân doanh nghiệpmà còn phụ thuộc vào chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước

Đối với các công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liên quan đến một sốyếu tố nhạy cảm.Khi công ty để lại một số lợi nhuận đểb tái đầu tư, thì các cổ đông sẽ bị giảm số tiền lãi nhận nhưng bù lại họ lại có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên.Vì vậy khi giải quyết vấn đề cổ tức và tái đầu tư, doanh nghiệp cần phải lưu ý đến vấn đề này

Đối với các doanh nghiệp nước ta, việc tạo lập nguồn vốn đầu tư từ

nguồn này cũng rất khó khăn, bởi các doanh nghiệp nước ta đều thuộc dạng vừa và nhỏ, tỷ lệ lợi nhuận thu được từ kinh doanh thấp, thậm chí có năm thấp hơn cả tỷ lệ lạm phát

Vốn góp ban đầu và lợi nhuận không chia được gọi là nguồn vốn nội bộ của doanhnghiệp.Hình thức này có một số ưu nhược điềm sau:

Ưu điểm:

- Doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào bên ngoài (Ngân hàng )

- Tăng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp

- Giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại các ngân

hàng, tổ chức tín dụng hoặc với các cổ đông

- Nguồn lợi nhuận để lại có tác động rất lớn đến nguồn vốn kinh doanh, tạo

cơ hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các năm tiếp theo

Nhược điểm:

- Khi doanh nghiệp không trả cổ tức cho cổ đông mà giữ lại lợi nhuận có

thể làm cho giá cổ phiếu trên thị trường giảm, ảnNguồn hình thành từ nguồn vốn bên trong được doanh nghiệp sử dụng đầu tư cho sản xuất và chúng

sẽ tạo cho ban lãnh đạo công ty quyền chủ động trong kinh doanh

Trang 18

1.2.5.2.Nguồn vốn bên ngoài ( các nguồn tài trợ từ ngoài doanh nghiệp )

Bên cạnh nguồn vốn huy động nội lực, nguồn vốn bên ngoài cũng chiếm

vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Có những bên có vốn nhưng không có cơ hội đầu tư và có những bên có cơ hội và khả năng đầu tư lại thiếu vốn, sự xuất hiện của thị trường tài chính giúp các bên

có nhu cầu về vốn có thể vay bên không có nhu cầu về vốn đầu tư Bên cầu vốn

có thể phát hành các trái phiếu, cổ phiếu để huy động vốn của bên cung, đổi lại bên cung được hưởng lãi suất từ khoản vốn mình cho vay Thị trường trao đổi giữa hai đối tượng trên gọi là thị trường tài chính Thị trường tài chính gồm có :thị trường tài chính gián tiếp và thị trường trực tiếp Trên thị trường gián tiếp các bên tham gia trao đổi vốn thông qua các trung gian tài chính như ngân hàngthương mại, tổ chức tín dụng Thị trường tài chính trực tiếp gồm có thị trường tiền tệ và thị trường vốn, theo đó các bên có thể tham gia trao đổi trực tiếp các công cụ tài chính ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

Nguồn vốn doanh nghiệp huy động từ ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng được gọi là nguồn vốn từ vay nợ, còn nguồn vốn huy động từ việc mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn trên ba thị trường: thị

trường bất động sản, thị trường tín dụng thuê mua, thị trường chứng khoán gọi

Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có rất nhiều ưu điểm: đây là nguồn vốndồi dào trong xã hội được ngân hàng huy động, tập hợp từ nhiều nguồn vìvậy đáp ứng tốt nhu cẩu về khối lượng vốn cũng như thời hạn vốn cho cácdoanh nghiệp nếu doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện của ngân hàng Khôngchỉ có các doanh nghiệp lớn mà các doanh nghiệp nhỏ cũng có thể tiếp cậnđược nguồn vốn này thông qua bảo lãnh

Trang 19

Tuy nhiên nguồn vốn này cũng có những hạn chế nhất định đó là cáchạn chế về điều kiện tín dụng, chi phí sử dụng vốn (lãi suất) và sự kiểm soátcủa ngân hàng Doanh nghiệp muốn vay vốn thì phải đáp ứng đầy đủ cácđiều kiện của ngân hàng: mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, có khả năngtài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, có dự án đầu tư, phương ánsản xuất kinh doanh,dịch vụ khả thi, có hiệu quả và phù hợp với quy định củapháp luật Và thường để vay vốn thì các doanh nghiệp có tài sản thế chấp, cóbảo lãnh hoặc bị hạn chế tín dụng.

Khi vay vốn ngân hàng thì doanh nghiệp chấp nhận chi phí sử dụngvốn đó chính là lãi suất tính trên số vốn vay và thời hạn vay mà doanhnghiệp phải trả cho ngân hàng

Đồng thời khi sử dụng vốn vay ngân hàng thì doanh nghiệp sẽ phảichịu sự kiểm soát của ngân hàng trên hai phương diện: DN sử dụng nguồnvốn có đúng với mục đích ghi trong hợp đồng vay vốn không và DN có trảgốc và lãi đúng hạn không

Nguồn vốn tín dụng thương mại

Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các DN, được thựchiện dưới hình thức mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp hàng hóa.Đến thời hạn thỏa thuận DN mua phải hoàn trả cả vốn gốc và lãi cho doanhnghiệp bán dưới hình thức tiền tệ

Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn khôngchỉ với các DN mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế Trong một số DN, nguồnvốn tín dụng thương mại dưới dạng các khoản phải trả có thể chiếm tới 20%tổng nguồn vốn, thậm chí có thể chiếm tới 40% tổng nguồn vốn

Đây là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinhdoanh do DN sẽ vay trực tiếp bằng nguyên vật liệu và số lượng có thể thayđổi mỗi kỳ khi ký hợp đồng Hơn nữa, nó còn tạo khả năng mở rộng cácquan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền; giúp DN chủ động khi huyđộng vốn: chủ động về thời gian, số lượng, nhà cung ứng; huy động vốnmột cách nhanh chóng dễ dàng; không phải chịu sự giám sát của ngân hàngcũng như các cơ quan nhà nước Ngoài ra, đối với DN làm chủ nợ: có thểvay ngân hàng thông qua hình thức chiết khấu thương phiếu( bán hoặc cầm

cố )

Tuy nhiên điểm hạn chế đó là về quy mô tín dụng( số lượng mua chịulớn, khả năng của nhà cung ứng hạn chế); hạn chế về đối tượng vay mượn;

Trang 20

hạn chế về không gian vay mượn; hạn chế về thời gian vay mượn do chu kỳsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khác nhau và thường bị hạn chế

về thời hạn vay; Bị phụ thuộc vào quan hệ sản xuất kinh doanh trên thịtrường Ngoài ra, có thể gặp rủi ro khi buộc phải thay đổi nhà cung ứng vàphụ thuộc nhiều vào sự đúng hẹn, uy tín của nhà cung ứng; rất dễ gặp rủi rodây chuyền

Chi phí của việc sử dụng các nguồn vốn tín dụng thể hiện qua lãi suấtcủa khoản vay, đó là chi phí lãi vay, sẽ được tính vào giá thành sản phẩmhay dịch vụ Khi mua bán hàng hóa trả chậm, chi phí này có thể "ẩn" dướihình thức thay đổi mức giá, tùy thuộc quan hệ và thỏa thuận cụ thể giữa cácbên.Trong xu hướng hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các hìnhthức tín dụng ngày càng được đa dạng hóa và linh hoạt hơn, với tính chấtcạnh tranh hơn Do đó, các DN cũng có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốntài trợ cho hoạt động của DN

b Nguồn vốn từ thị trường vốn

Thị trường vốn bao gồm nhiều thị trường khác nhau,nhưng có ba mảng lớn đều

có ở Việt Nam nhưng đều ở mức độ ban đầu đó là:

-Đất đai

-Nhà ở,công trình xây dựng gắn liền với đất đai,kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó

-Các tài sản gắn liền với đất

-Các tài sản khác do pháp luật quy định

Như vậy hàng hoá bất động sản bao gồm 2 chủng loại chủ yếu là đất đai và vật kiến trúc đã xây dựng xong

Thị trường bất đông sản là tổng hoà các giao dịch dân sự về bất động sản tại một địa bàn nhất định, trong một thời gian nhất định Đó là thị trường của các hoạt động giao dịch bất động sản như: chuyển nhượng, mua, bán, cho thuê, thế chấp…trong phạm vi không gian và thời gian nhất định

Trang 21

Thị trường bất động sản góp phần quan trọng trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển.Trước hết, thị trường bất động sản phát triển chính là do yếu tố tăng đầu tư cho tài sản cố định của nền kinh tế quốc dân , sự tăng lên củalượng tài sản cố định này đòi hỏi phải có nguồn vốn bảo đảm Rõ ràng bản thân sự tăng trưởng của bất động sản trên thị trường đòi hỏi một sự gia tăng đầutư.

Thứ hai là, phát triển thị trường bất động sản được biểu hiện bằng 2 cách:

-Cách thứ nhất tăng khối lượng hàng hoá bất động sản giao dịch trên thị trường -Cách thứ hai là mở rộng phạn vi các quan hệ giao dịch: mua bán,chuyển

nhượng, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn…làm tăng các quan hệ giao dịch cũng là phát triển bất động sản nhất định trong giao dịch làm cho lượng hàng hoá như được tăng lên không bao giờ cạn và do đó tăng tốc độ chu chuyển vốn.Thứ ba là khi các giao dịch thế chấp bất động sản để vay vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh chẳng những làm nhân đôi giá trị sử dụng của bất động sản màcòn có tác dụng khai thác nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư cho đầu tư phát triển

Thứ tư là khi dùng quyền sử dụng đất góp vốn liên doanh, nhà nước cũng như doanh nghiệp không phải đầu tư vốn bằng tiền mà với bất động sản có sẵn, nhất

là đất đai dùng vốn để gọi vốn đầu tư trong và ngoài nước Đất đai, bất động sản như một nguồn mới để khai thác các nguồn vốn khác

Thứ năm là nhà nước có thể dùng quỹ đất của mình tạo vốn, xây dựng cơ sở hạ tầng, mà cuối cùng quỹ đất cũng không thể cạn đi

Thị trường bất động sản thực sự có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn cho đầu tư phat triển,và hiện nay ở Việt Nam thị trường này đang rất sôi động

Nguồn vốn từ thị trường tín dụng thuê mua

Một doanh nghiệp cần tiền để mua máy móc thiết bị có thể sử dụng phương pháp huy động nguồn tín dụng nguồn tín dụng trực tiếp bằng các mua các loại tài sản

cố định dưới hình thức thuê mua Sở dĩ gọi là thuê mua vì khi cần sử dụng một hay nhiều loại máy móc mà doanh nghiệp chưa đủ để tự chi trả thì có thể đi thuê của các doanh nghiệp cho thuê tài sản hoặc các quỹ cho thuê, sau khi đã khấu hao hết máy móc thiết bị đó doanh nghiệp có thể mua lại với giá ưu đãi thậm chí là mức giá tượngtrưng

Đây là hình thức huy động vốn rất phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Thứ nhất, khi công ty tiến hành thuê mua tài sản thì họ được quyền sử dụng tài sản

đó như thoả thuận Thời gian thuê có thể kéo dài thậm chí cho tới khi hết đời sống hữu ích của máy móc thiết bị đó Thứ hai, khi kết thúc hợp đồng bên đi thuê có thể mua lại với giá tượng trưng So với hình thức mua trực tiếp thì doanh nghiệp đi thuê

Trang 22

không phải bỏ ngay ra một số tiền lớn mà vẫn có thể thuê một đơn vị tài sản hoặc một dây chuyền và trả tiền thuê tài sản theo từng giai đoạn Hình thức huy động vốn này còn có ưu điểm hơn hình thức tài trợ bằng tiền ở chỗ, nếu vay tiền doanh nghiệp

bị giới hạn bởi năng lực tài sản phải có thế chấp, thậm chí không được vay tiền nếu

số tiền doanh nghiệp muốn vay lớn hơn giá trị tài sản thế chấp Ba là, trong trường hợp có lạm phát cao thì tài trợ bằng tài sản cũng an toàn hơn tài trợ bằng tiền Cuối cùng, trường hợp có rủi ro thì bên tài trợ cũng có thể rút lại tài sản dễ dàng Tài trợ bằng tài sản bên cho thuê không sợ bên đi thuê sử dụng khoản vay sai mục đich

Tuy nhiên hình thức huy động này cũng có một số điều kiện ràng buộc hợp đồng: chi phí sửa chữa bảo dưỡng bên đi thuê phải chịu hoàn toàn Tiền thuê tài sản

có thể trả dần nhưng giá trị hiện tại của tiền phải lớn hơn chi phí có thể tạo ra hoặc mua tài sản Hình thức này cũng có bất lợi nữa là chí phí tài trợ thường cao hơn lãi suất cho vay của các hình thức tài trợ vốn khác trên thị trường vốn.Vào giai đoạn cuối của thoả thuận thuê mua, dù đã trả hết số tiền thuê, người thuê vẫn chưa được quyền sử dụng tài sản vào mục đích khác

Ở Việt Nam tuy thị trường tín dụng thuê mua chưa thực sự phát triển nhưng hình thức thuê mua tài sản là nguồn tài trợ vốn trung và dài hạn hiệu quả cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Nguồn vốn từ thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán trung và dài hạn.Tức là nơi chuyển nhượng quyền và các lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với chứng khoán

Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát

hành.Trên thị trường này,vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành

 Vai trò của thị trường sơ cấp :

-Chứng khoán hoá nguồn vốn huy động,vốn của công ty được huy động qua việc phát hành chứng khoán

-Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính, trực tiếp đưa các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển sang dạng vốn dài hạn

 Đặc điểm của thị trường sơ cấp:

-Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà các chứng khoán đem lại vốn cho người phát hành

-Những người bán trên thị trường sơ cấp được xác định thường là kho bạc, ngân hàng nhà nước,công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành…

Trang 23

-Giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do tổ chức phát hành quyết định

và thường được in ngay trên chứng khoán

Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.Thị trường thứ cấp bảo đảm tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành

 Đặc điểm của thị trường thứ cấp :

-Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán chứng

khoán thuộc về nhà kinh doanh và nhà đầu tư chứ không thuộc về nhà phát hành

-Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tác cạnh tranh tự do, giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp do cung và cầu quyết định

-Thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thểmua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường thứ cấp

Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường chứng

khoán, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp, về bản chất thị trường này không trực tiếp tạo vốn đối với đơn vị phát hành và cả nền kinh tế Nó chỉ dịch chuyểnquyền quyền sở hữu đối với các chủ thể Tuy nhiên thị trường này có ảnh

hưởng đến việc tạo vốn vì nếu thị trường thứ cấp phát triển sẽ ảnh hưởng đến huy động bổ sung, phát hành mới sẽ tăng lên do đó sẽ tăng vốn huy động trên thị trường thứ cấp

Huy động vốn trên thị trường chứng khoán có ưu điểm là huy động rộng rãi hơn( thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng ) Bên cạnh đó, yêu cầu minh bạch, công khai cao trên thị trường chứng khoán cũng tạo điều kiện

và sức ép buộc doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hơn Tuy nhiên tính cạnhtranh và rủi ro cũng lớn hơn

Tóm lại mỗi nguồn vốn và phương thức tài trợ vừa có ưu điểm nhưng cũng có nhược điểm nhất định Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà doanh nghiệp cói thể lựa chọn nguồn và phương thức huy động vốn phù hợp

1.2.6 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế quốc dân

Khái niệm doanh nghiệp nhà nước

Theo luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, Doanh nghiệp nhà nước là các tổchức kinh tế do Nhà nước nắm toàn bộ vốn điều lệ hay có cổ phần, vốn góp chi phối hay được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Như vậy, theo luật doanh nghiệp nhà nước năm 200, nếu Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, từ 51% cổ phần trở lên thì doanh nghiệp đó được gọi là Doanh nghiệp nhà nước

Theo luật doanh nghiệp ban hành năm 2005 thì doanh nghiệp nhà nước là các doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, trong đó phần góp vốn

Trang 24

sở hữu của nhà nước là phần vốn từ ngân sách nhà nước vốn khác của nhà nước, do một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức kinh tế làm đại diện chủ sở hữu Như vậy, những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp nhà nước là:

-Doanh nghiệp nhà nước là một pháp nhân mà Nhà nước nắm giữ từ 51% vốn chủ sởhữu trở lên

-Doanh nghiệp nhà nước có thẩm quyền kinh tế bình đẳng với các doanh nghiệp khác

và hạch toán kinh tế độc lập trong phạm vi vốn của doanh nghiệp

-Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, thực hiệnhoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích

Vai trò của DNNN

Theo báo đầu tư số 95 ra tháng 10 năm 2000 ở châu Á DNNN vẫn giữ vai trò chủ đạo trong một số lĩnh vực chủ chốt, đặc biệt trong lĩnh vực viễn thông, ngân hàng Ở Malaysia việc duy trì các DNNN được coi là nền tảng của nền kinh tế và là chỗ dựa cho việc thực hiện các chiến lược tạo việc làm, nguồnthu ngân sách Ở Trung Quốc khu vực kinh tế nhà nước được coi là đòn bẩy để thực hiện những chiến lược lớn về kinh tế và xã hội Ở Indonesia mặc dù nhiều DNNN bị tố cáo là nơi sản sinh tham nhũng, kém hiệu quả nhưng trên thực tế, các nhà kinh tế vẫn đánh giá cao vai trò của hệ thống DNNN

Còn ở Việt Nam vai trò của DNNN được kể đến :

1 Cung cấp hàng hoá dịch vụ rất quan trọng cho nền kinh tế quốc dân như điện nước Điện lực Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực chính là sản xuất và truyền tải điện năng

2 Gánh lấy những rủi ro lớn như những ngành đòi hỏi vốn lớn để xây dựng

cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị Ví dụ Vinashin tổng công ty tàu thuỷ Việt Nam là một trong 17 tổng công ty lớn nhất của nhà nước trên

cơ sở tổ chức lại ngành công nghiệp tàu thuỷ- một ngành đã có truyền thống lâu đời ở Việt Nam

3 Làm tròn nhiều chức năng đặc biết như đối với ngành bảo đảm xã hội cũng như an ninh quốc phòng Bảo Việt là DNNN đầu tiên trong lĩnh vựcbảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ

4 Giải quyết vấn đề việc làm, hỗ trợ xí nghiệp tư nhân, mở mang khu vực lạc hậu như kéo điện về miền núi vùng cao Chỉ riêng tổng công ty Bảo Việt đã thu hút trên 5000 lao động

1.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc huy động và sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước

1.2.7.1 Các nhân tố vĩ mô

Trang 25

i) Năng lực tăng trưởng kinh tế

Năng lực tăng trưởng kinh tế là một yếu tố quan trọng xác định triển vọng huy động nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng Năng lực tăng trưởng càng cao thì năng lực tích luỹ của nền kinh tế càng được đảm bảo, khi đó việc huy động vốn trong nước được cải thiện Nền kinh tế tăng trưởng cao cũng là tín hiệu tốt nâng cao lòng tin của cácnhà đầu tư trong nước và hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư Ngược lại khi nguồn vốn huy động được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả thì sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn Để thấy được mối liên hệ mật thiết giữa năng lực tăng trưởng kinh tế với việc huy động và sử dụng vốn đầu tư, ta cùng xem bảng số liệu về tỷ trọng vốn khu vực kinh tế nhà nước trong tổng số GDP từ năm 1995 đến năm 2005

Năm

Vốn ngânsách nhànước ( tỷđồng)

Vốn củaDNNN vànguồnvốn khác( tỷ đồng)

Tổng vốn của khu vực kinh

tế nhà nước ( tỷ đồng)

Tổng sảnphẩmquốc nội(GDP)( tỷ đồng)

Tỷ trọngvốn khuvực kinh

tế nhànước sovới GDP(%)

Trang 26

2002 114738 29591 144329 535762 26,9

Nguồn: Niên giám thống kê 2006 và Tổng cục thống kê

Từ năm 1995 đến năm 2002 GDP qua các năm tăng đồng thời tỷ trọng vốn đầu

tư của khu vực nhà nước mỗi năm cũng đều tăng, từ năm 2002 đến năm 2005 tuy tỷ trọng này có giảm nhưng giảm không đáng kể, điều này nói lên rằng khi nền kinh tế tăng trưởng tốt thì vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước cũng tăng

ii) Môi trường kinh tế vĩ mô

Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định có vai trò rất lớn trong quá trình ra quyết định đầu tư Trước khi ra quyết định, các nhà đầu tư thường cân nhắc rất

kỹ các yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động và hiệu quả đầu tư như yếu tố lãi suất, lạm phát, hoạt động của ngân hàng trung ương, thu chi ngân sách nhà nước, ngoài ra các doanh nghiệp xuất khẩu còn quan tâm tới tỷ giá hối đoái

Sự ổn định về chính trị, sự nhất quán trong chủ trương đường lối chính sách của Nhà nước luôn là yếu tố tạo mối trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn vớicác nhà đầu tư và doanh nghiệp trong và ngoài nước Trong một xã hội ổn định

về chính trị, các nhà đầu tư và doanh nghiệp được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu tài sản, mức độ yên tâm của nhà đầu tư được củng cố thông qua việc đánh giá các yếu tố rủi ro chính trị Ngoài ra còn có một số yếu tố quan trọng trong môi trường chính trị như xu thế chính trị, là định hướng của nhà nước sẽ áp dụng trọng việc điều hành quốc gia Những chính sách đó sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế và các doanh nghiệp Có thể nói môi trường chính trị là nhân tố hàng đầu, mỗi khi môi trường chính trị, xã hội bất ổn định thì mọi cơ chế chính sách đều mất đi tính hiệu lực của nó

Lãi suất là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới một dự án đầu tư trong việc huy động và sử dụng vốn Lãi suất quá cao gây khó khăn trong quá trình huy động vốn của doanh nghiệp, và khiến chi phí sử dụng vốn bị đội lên cao do đó lợi nhuận thực của doanh nghiệp giảm Việc Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt gần đây thông qua phát hành 20300 tỷ đồng tín phiếu và nâng

tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng lên 11% làm lãi suất tăng chóng mặt, điều này gây trở ngại cho các nhà đầu tư có ý định vay vốn ngân hàng trong đó

có cả một số doanh nghiệp nhà nước Mặc dù được vay ưu đãi nhưng với mức

Trang 27

lãi suất cao như hiện nay thì chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước cũng bị đẩy lên cao hơn trước

Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu như dệt may, da giày, hải sản đặc biệt quan tâm tới tỷ giá hối đoái Sự lên xuống của đồng nội tệ luôn là mối quan tâm của các doanh nghiệp xuất khẩu Giá trị đồng nội tệ càng giảm hoặc thấp so với những ngoại tệ mạnh thì các doanh nghiệp xuất khẩu càng có lợi Lợi nhuận cao thì khả năng quay vòng vốn của các

doanh nghiệp cũng nhanh hơn Tuy nhiên nguy cơ suy thoái nền kinh tế Mỹ hiện nay đang gây nên tâm trạng lo lắng cho những người làm xuất khẩu vì đồng đô la sụt giá có thể làm giảm lượng hàng xuất khẩu sang Mỹ - thị trường nhập khẩu lớn nhất của nước ta về hàng nông sản và may mặc

iii) Các chính sách kinh tế

Bất kỳ doanh nghiệp nào vừa ra đời hoặc đang tồn tại cũng đều thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp lý và chịu sự quản lý giám sát của cơ quan nhà nước có chức năng, do đó các mỗi chính sách kinh tế được ban hành đều có ảnh hưởng tới tình hình hoạt động của các doanh nghiệp

Nổi bật nhất là chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm huyđộng và đa dạng hoá vốn chủ sở hữu Quá trình cổ phần hóa không những huy động được nguồn vốn không nhỏ cho doanh nghiệp nhà nước mà còn tạo động lực cho các doanh nghiệp nhà nước trước đây vốn bị coi là chậm chạp trong đổimới phương thức kinh doanh và phương pháp quản lý, nay với sự tham gia của

tư nhân đã chủ động hơn trong sử dụng vốn và đạt được những thành công nhấtđịnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Chính sách mới của Chính phủ về việc quy định một số khoản mua sắm của doanh nghiệp nhà nước không được tính vào chi ngân sách khiến các doanhnghiệp nhà nước cân nhắc kỹ lưỡng hơn khi mua sắm vì đó được tính vào chi phí của doanh nghiệp, do đó việc sử dụng vốn cũng không bị lãng phí như trước Một ví dụ khác như chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát của chính phủ hai tháng đầu năm 2008 được xem như sự hi sinh thị trường chứng khoán cho tăng trưởng Lãi suất nâng cao cùng với việc ban hành chỉ thị

03 hạn chế các nhà đầu tư vay vốn ngân hàng để đầu tư chứng khoán đã khiến lượng vốn huy động trên thị trường chứng khoán bị khủng hoảng, quá trình phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO) của một số doanh nghiệp nhà nước lớn như Vietcombank với mục đích huy động vốn bị chậm lại do vàothời điểm đó trên thị trường chưa đủ vốn

Từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cùng với việc cam kết phải đi đôi với thực hiện giảm thuế theo lộ trình đối với các

Trang 28

doanh nghiệp nước ngoài Thuế suất của các mặt hàng nhập khẩu giảm thúc đẩy nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường non trẻ Việt Nam làm gia tăng sức cạnh tranh Để tồn tại và phát triển buộc doanh nghiệp trong nước đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước phải có giải pháp sử dụng vốn thực sự hiệu quả

Do đó chính sách này tác động không nhỏ tới việc sử dụng vốn của Doanh nghiệp nhà nước

1.2.7.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp nhà nước

i) Ngân sách nhà nước

Ngân sách là nguồn huy động chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước Trước đổi mới năm 1986 nền kinh tế còn mang nặng

tư tưởng cấp phát, các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu hoạt động theo nhu cầu

và phân phối của chính phủ do đó không phải quan tâm tới yếu tố đầu vào và tiêu thụ đầu ra, điều này tạo ra ảnh hưởng không nhỏ về tư tưởng bao cấp mà vẫn còn tồn tại đến ngày nay Nguồn huy động vốn chủ yếu của doanh nghiệp nhà nước lúc đó là từ ngân sách nhà nước nên không tạo cho doanh nghiệp tính chủ động trong huy động và tính trách nhiệm trong sử dụng sao cho có hiệu quả

Từ khi thực hiện cổ phần hoá nhằm đa dạng hoá cơ cấu chủ sở hữu vốn, đối với những doanh nghiệp nhà nước mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn thì hiện nay nhà nước chỉ nắm từ 51% vốn trở lên Quá trình cổ phần hoá không những giúp doanh nghiệp nhà nước huy động được nguồn vốn trong dân doanh mà còn giúp các doanh nghiệp năng động hơn trong việc quản lý việc sử dụng vốn Thông qua cổ phần hoá, nhà nước đã giảm dần chức năng quản lý sang giám sát việc huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước Các doanh nghiệp nhà nước đã chủ động hơn khi có sự tham gia góp vốn của tư nhân Như vậy việc giảm dần nguồn vốn ngân sách cho doanh nghiệp nhà nướclại đem lại tín hiệu tích cực cho nền kinh tế

ii) Khấu hao hàng năm

Trước năm 1986 nguồn vốn được chia thành nhiều nguồn trong đó có khấu hao tài sản cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn Các doanh nghiệp nhà nước trước đây được cấp vốn cố định để mua sắm xây dựng cơ sở vật chất (tài sản cốđịnh ) ban đầu, khi đi vào hoạt động thì được cấp vốn lưu động để hoạt động Mục đích của việc quản lý nguồn vốn khấu hao trước đây là nhằm bảo toàn vốn

cố định được cấp tại doanh nghiệp trong việc quản lý vốn của doanh nghiệp

Theo thông tư của Bộ Tài Chính quyết định về khấu hao tài sản cố định (10/5/1990): Tất cả các Tài sản cố định hiện có ở các tổ chức kinh tế, các xí nghiệp quốc doanh, hạch toán kinh tế độc lập, có tham gia vào quá trình sản

Trang 29

xuất kinh doanh, dịch vụ nghiên cứu khoa học đều phải thực hiện việc khấu hao và trích khấu hao vào giá thành sản phẩm hoặc phí lưu thông (dưới đây gọi chung là giá thành) để hình thành nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sửa chữa lớn TSCĐ và mua sắm, đổi mới thay thế TSCĐ.

Tốc độ khấu hao tài sản cố định nhanh chóng thì tốc độ sử dụng tài sản

cố định của doanh nghiệp càng nhanh nên thời gian quay vòng vốn cũng diễn ravới chu kỳ ngắn Bên cạnh đó tốc độ khấu hao tài sản cố định cũng cho thấy khả năng sử dụng vốn của doanh nghiệp có hiệu quả hay không

iii) Lợi nhuận giữ lại

Đây là một trong những nguồn vốn bên trong đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp Các doanh nghiệp muốn tồn tại trên thươngtrường phải có lợi nhuận giữ lại sau khi lấy doanh thu trừ các khoản chi phí Một số chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận của doanh nghiệp như tỷ suất lợi nhuận trên vốn, tỷ suất lợi nhuận sau thuế Thông thường mức tỷ suất lợi nhuận trên vốn của doanh nghiệp dương nhưng một số doanh nghiệp nhà nước vẫn có tỷ suất lợi nhuận trên vốn âm Đó là những doanh nghiệp làm ăn không có lãi hoặc những doanh nghiệp không hoạt động vì mục tiêu sinh lời mà nhằm đảm bảo các mục tiêu dân sinh xã hội như giải quyết công ăn việc làm, đảm bảo cơ cấu kinh tế của ngành hoặc địa phương

Với một số doanh nghiệp nhà nước có tỷ suất lợi nhuận âm thì không có lợi nhuận giữ lại, các doanh nghiệp này hoạt động nhờ các khoản vốn ngân sách và vay nợ ngân hàng Tuy nhiên số lượng các doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trên vốn âm không nhiều Khá nhiều tổng công ty nhà nước làm ăn có hiệu quả như Tổng công ty xây dựng, tổng công ty công nghiệp môtô Việt Nam, Tập đoàn bưu chính viễn thông, Tập đoàn điện lực Việt Nam Lợi nhuậngiữ lại của các tổng công ty này đóng vai trò quan trọng trong nguồn vốn kinh doanh

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Từ đại hội VI của Đảng năm 1986, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã trởthành trọng tâm trong tiến trình đổi mới nền kinh tế theo hướng nhất quán chuyểnsang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là giai đoạn bước

Trang 30

ngoặt đưa các doanh nghiệp nhà nước chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh theonguyên tắc thị trường Trải qua các đại hội VII, VII, IX chủ trương đổi mới doanhnghiệp nhà nước vẫn được đặt lên hàng đầu nhưng chủ yếu là đổi mới cơ chế theohướng thương mại hoá Từ năm 2001 đến nay các biện pháp đổi mới tập trung vàosắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước được nhấn mạnh theo ba nội dung: i) sắp xếpdoanh nghiệp nhà nước theo phương án tổng thể từng vùng, ngành ii) tổ chức lại môhình tổng công ty theo hướng thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế mô hình công ty mẹ

- công ty con iii) đẩy mạnh hơn nữa việc cổ phần hoá và chuyển đổi hình thức sởhữu Có thể thấy trong giai đoạn đổi mới từ năm 1990 đến nay, với các biện pháp sắpxếp tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước, nhà nước đã tạo mọi điều kiện để DNNNphát huy nội lực và các yếu tổ thuận lợi trong việc sản xuất kinh doanh, giảm dần sựphụ thuộc vào nhà nước, đặc biệt giảm dần sự phụ thuộc vào cơ chế cấp phát vốn củanhà nước Song bên cạnh những ưu điểm đạt được, DNNN vẫn còn tồn tại nhiều yếukém trong khâu huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển một cách hiệu quả để đemlại lợi nhuận kinh doanh cao

I.THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 2.1.1 Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước

Sau một chặng đường dài sắp xếp, đổi mới, đến nay cả nước còn khoảng 3.000doanh nghiệp Nhà nước các loại, đang nắm giữ gần 70% tài sản cố định quốc gia,20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, gần 50% tổng vốn đầu tư của Nhà nước, 70% tổngvốn vay các ngân hàng nước ngoài và gần 60% tổng lượng vốn tín dụng của các ngânhàng thương mại Nhà nước

Nhà nước chỉ tham gia quản lý doanh nghiệp với tư cách là chủ sở hữu, ngườigóp vốn, quản lý tính hiệu quả và việc sử dụng hợp pháp đồng vốn giao cho doanhnghiệp Doanh nghiệp có quyền thực sự trong việc thay đổi cơ cấu tài sản để mở rộngkinh doanh, chủ động huy động vốn và tự chịu trách nhiệm về việc huy động vốndưới các hình thức phát hành trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu

Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, thì Nhà nước ở vị trí của người góp vốnvào doanh nghiệp, mà mối quan tâm hàng đầu của người góp vốn đó là lợi nhuận.Song trên thực tế, không ít tình trạng Nhà nước can thiệp trực tiếp bằng biện pháphành chính, do đó rất khó đảm bảo tính tự chủ của doanh nghiệp

Trang 31

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, năm 2000 cả nước có 5.266 doanh nghiệp Nhànước (DNNN), với tổng số vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp này là 180.104 tỷđồng, số vốn Nhà nước bình quân tại một doanh nghiệp là 34 tỷ đồng; Quá trình sắpxếp, cổ phần hoá đến cuối năm 2004 số lượng doanh nghiệp Nhà nước chỉ còn 3.811đơn vị, với tổng số vốn là 270.159 tỷ đồng, số vốn Nhà nước bình quân tại mộtdoanh nghiệp là 71 tỷ đồng, số vốn Nhà nước tại một doanh nghiệp tăng bình quân2,08 lần so với năm 2000;

Qua quá trình sắp xếp, cổ phần hoá số lượng DNNN giảm mạnh nhưng hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp vẫn tăng lên, vốn Nhà nước tăng bình quân 10%/năm

Tnh hình vốn chủ sở hữu nhà nướctại các DNNN cổ phần hoá

Trang 32

VND VNDNăm

Đối với các DN quy mô chủ sở hữu lớn, từ 10 tỷ trở lên, đạc biệt là các tổng công ty thì NN nắm từ 30-40% tổng vốn Tuy nhiên hệ số này cũng có xu hướng giàm dần qua các năm từ 41% năm 2000 xuống còn 30% năm 2005

2.1.2.Quĩ khấu hao

Theo mục tiêu đề ranày tổng nhu cầu vốn toàn ngành công nghiệptừ nay đến năm 2010 vào khoảng 900.000 tỷ đồng, chiếm 40% tổng nhu cầu vốn của toàn xã hội, tăng 1,83 lần so với giai đoạn 2001-2005 khối lượng vốn hết sức lớn và chủ yếu phải do các DN tự huy động, số vốn từ ngân sách nhà nước là không đáng kể Vì vậy, nếu không có sự năng động của các ngành CN và bản thân DN, sẽ không thể đáp ứng đủ cho nhu cầu phát triển trong bối cảnh mới đầy thách thức

Theo đó, vốn cho ngành điện sẽ được huy động từ các nguồn đầu tư điện độc lập (IPP) và BOT khoảng 30%, huy động vốn khấu hao cơ bản để lại 36%, vay ODA 21% và bán cổ phiếu khoảng 7% Bên cạnh đó, sẽ phát hành trái phiếu công trình, từng bước CPH các nhà máy điện và kêu gọi đầu tư NQD đối với đầu tư IPP

Ngành dầu khí sẽ huy động nguồn vốn DN, bao gồm lợi nhuận thu từ các liên doanh, vốn khấu hao cơ bản, vốn CPH (khoảng 28%), phần còn lại huy động từ các ngân hàng Ngành cơ khí, do đặc thù vốn lớn, thu hồi chậm nên ưu tiên sử dụng nguồn vốn tín dụng nhà nước Tuy nhiên, cần phải có cơ chế vay trả, chính sách tỷ giá ổn định, điều chỉnh linh hoạt để hạn chế rủi ro thấp nhất cho nhà đầu tư

Trang 33

Với ngành khai khoáng và luyện kim, điểm qua một số dự án, sẽ thấy nhu cầu vốn rất lớn: khu Liên hợp khai thác mỏ và luyện kim Hà Tĩnh công suất 4,5 triệu tấn/năm cần trên 3 tỷ USD, Nhà máy thép cán nguội Phú Mỹ cần 1.900 tỷ, Nhà máy thépPhú Mỹ cần 2.350 tỷ Ðể giải quyết nguồn vốn này, nên cho phép nước ngoài đầu tư

cả gói khai thác mỏ và luyện kim, trong đó phần khai thác mỏ, DNNN giữ cổ phần chi phối Phần luyện kim có thể cho phép 100% đầu tư FDI Một số dự án khai thác khoáng sản bô-xít cũng duy trì hình thức như trên

Với các ngành sản xuất hàng tiêu dùng như dệt may, giày dép, bia rượu, nước giải khát, sữa, nhựa chủ yếu huy động nguồn vốn từ DN, từ các thành phần kinh tế NQD; DNNN tập trung đầu tư vào khâu sản xuất nguyên liệu (dệt nhuộm, vải sợi) bằng vốn tín dụng nhà nước, vốn của DN và kêu gọi vốn nước ngoài

2.1.3 Lợi nhận giữ lại.

Phải nói rằng, những năm gần đây, khu vực DNNN đã có bước phát triểnmạnh mẽ cả về quy mô lẫn chất lượng, nhiều DN đã vươn lên khẳng định đượcthương hiệu trên thị trường, tiếp cận được những công nghệ tiên tiến của thế giới

Sự phát triển này không những bảo toàn và phát triển vốn mà nó còn góp phần thựchiện có hiệu quả trong của Nhà nước chương trình xóa đói, giảm nghèo và tạo việclàm cho người lao động, từng bước tích lũy vốn, tài sản

Kết quả kiểm toán các tổng công ty Nhà nước và các tổ chức tài chính - ngânhàng cho thấy, trong số 277/523 DN của 21 tổng công ty và tổ chức tài chính, ngânhàng được kiểm toán thì có tới 212 đơn vị thành viên (bằng 76,5% số DN được kiểmtoán) làm ăn có hiệu quả Đây không những được coi là điểm sáng trong bức tranhthu chi ngân năm 2006, mà nó còn khẳng định sự lớn mạnh, thích nghi phù hợp vớinền kinh tế thị trường của các DNNN trong quá trình hội nhập kinh tế Theo Kiểmtoán Nhà nước, đạt được kết quả trên chủ yếu là do các DN sau khi sắp xếp cổ phầnhóa đã dần ổn định, nhiều DN và tổ chức tài chính ngân hàng hoạt động có hiệu quả,nhờ vậy mà tổng lợi nhuận trước thuế của khu vực này năm 2005 đạt 24.503 tỷ đồng,

tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bình quân 19,2%, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu21,3%, từ đó đã đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước (trong đó đáng chú ý là:Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trên 60.000 tỷ đồng; Tổng công ty Thuốc lá ViệtNam: 3.118 tỷ đồng; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: 408 tỷ đồng;Tổng công ty Sông Đà: 363 tỷ đồng; Tổng công ty Lương thực miền Bắc: 139 tỷđồng ) Một số DN có tiềm năng đã khẳng định được thương hiệu trên thị trườngnhư: Ngân hàng NN&PTNT, Tổng công ty Sông Đà

Tuy nhiên đa phần các doanh nghiêp làm ăn kém hiệu quả thậm chí là thua lỗ.Theo Báo cáo kiểm toán Nhà nước: “Tỉ suất lợi nhuận trước thuế của các DN đượckiểm toán rất thấp (từ 0,18% đến 0,8%) trong đó có các tập đoàn có vẻ rất mạnh nhưCông nghiệp tàu thuỷ 0,42%, Dệt may 0,8%” Báo cáo các năm trước cũng đã cho

Trang 34

thấy tình hình tương tự Có tổng công ty đã hoàn toàn mất hết vốn mà vẫn không trảđược các khoản nợ như Seaprodex Toà án tỉnh Lâm Đồng vừa tuyên bố 5 thành viêncủa Tổng công ty Dâu Tằm Tơ VN phá sản

Trong hơn một thập kỷ qua, chúng ta đã thực hiện được một khối lượng công việclớn trong việc đổi mới, sắp xếp DNNN nhưng chỉ số hiệu quả tổng hợp nhất và quantrọng nhất là tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh lại tăng được rất ít, khoảng 4%trong giai đoạn 1993-2003, và có xu hướng chững lại trong 5 năm gần đây (chỉ tăngkhoảng 0,4-0,8%) Năm 2003, trong số 77% DNNN làm ăn có lãi, chỉ chưa đầy40% có mức lãi bằng hoặc cao hơn lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại Nếuđưa thêm giá trị quyền sử dụng đất vào chi phí và cắt bỏ các khoản ưu tiên, ưu đãicủa Nhà nước, thì số DN có lãi còn ít hơn Số thuế thu nhập DNNN chỉ chiếm 8.000

tỷ đồng trên tổng số 87.000 tỷ đồng nộp ngân sách nhà nước

Trong số 7 mặt hàng xuất khẩu chủ lực năm 2003, đạt kim ngạch 13,8 tỷ USD(chiếm 69,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước), thì có tới 6 mặt hàng chủ yếu

do khu vực tư nhân đóng góp, chứ không phải là của DNNNBáo cáo của Kiểm toánNhà nước về kết quả kiểm toán 277/523 DN thuộc 21 tổng công ty, tổ chức tài chính

- ngân hàng công bố năm 2006 về kết quả hoạt động năm 2005 cho thấy, có 76,5%

DN được kiểm toán có lãi với tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bình quân là 19,2%,chỉ có 23% số DN thua lỗ Đây là điều gây ngạc nhiên lớn bởi theo Báo cáo kiểmtoán 2005 về kết quả hoạt động năm 2004 thì hầu hết các tổng công ty, tập đoàn kinh

tế của Nhà nước có tỷ suất lợi nhuận chỉ là 0,5% Các ý kiến cho rằng hiện còn nhiềuDNNN chưa kiểm toán có lãi, nhưng lợi nhuận vẫn thấp hơn lãi suất ngân hàng,nhiều doanh nghiệp sống dựa vào việc cho thuê mặt bằng, còn kinh doanh thực tếkhông hiệu quả

Dẫu được hưởng hầu hết mọi ưu ái, nhưng trong năm 2005, nộp ngân sách củacác DNNN chỉ tăng có 49%, trong khi đó, con số này của các DN ngoài quốc doanh

là 137%

2.1.4 Nguồn vốn từ ngân hàng thương mại

Hiện nay, trong điều kiện vốn ngân sách Nhà nước còn nhiều khó khăn phảigiải quyết nhu cầu chi tiêu lớn cho an ninh quốc phòng và các nhu cầu phát triển kinh

tế, văn hóa xã hội khác nên việc trợ giúp cho các DN cũng rất hạn hẹp,vì vậy nguồnvốn từ các ngân hàng thương mại là một trong những nguồn có vai trò quan trọngtrong việc giải quyết tình rạng thiếu vốn của doanh nghiệp.Vốn đầu tư cho cácDNNN do các ngân hàng thương mại nhà nước cho vay chiếm xấp xỉ đến trên dưới50%

Trang 35

Chỉ cách đây một vài năm, doanh nghiệp Nhà nước vẫn là đối tượng kháchhàng cạnh tranh của các ngân hàng Lúc đó dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà nướcchiếm đến 70%-80% tổng dư nợ cho vay của các chi nhánh ngân hàng thương mạinhà nước nhưng từ năm 2004 đến nay tình hình đã khác.

Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả tình trạng nợ đọngtriền miên, tuy nhiên nhà nước ta lại có những chính sách loại bảo hộ bất hợp lý nhưkhoanh nợ, giãn nợ, xóa nợ cấp vốn tín dụng ưu đãi tràn lan đối với các hoạt độngkinh doanh của DNNN, gây không ít khó khăn cho các ngân hàng Hơn nữa, bản thâncác ngân hàng thương mại cũng là DN nên nguồn vốn cho vay cũng là nguồn vốnhuy động Nếu DN không trả được nợ thì ngân hàng cũng sẽ không có vốn để quayvòng và ngược lại

Trong báo cáo đánh giá hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2006, hầu hếtcác ngân hàng thương mại đều nêu đối tượng khách hàng được quan tâm hiện naycủa họ là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là các doanhnghiệp nhỏ và vừa và nhu cầu vay của người dân để mua nhà ở, ô tô, xe máy

Không có ngân hàng nào đặt ưu tiên tín dụng vào doanh nghiệp Nhà nướctrong thời gian này Phần nhiều các đơn vị xây dựng hiện nay là doanh nghiệp nhànước và chịu sự quản lý trực tiếp của các tổng công ty Khi vay vốn tại các ngânhàng, các tổng công ty thường đứng ra uỷ quyền và bảo lãnh cho đơn vị thành viên.Tuy nhiên, khi xảy ra việc mất khả năng thanh toán tại các đơn vị thành viên ngânhàng yêu cầu các tổng công ty thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nhưng việc hợp tác củacác đơn vị không mấy hiệu quả Hơn nữa các doanh nghiệp nhà nước thường gặpmột số khó khăn như thường có nguồn vốn tự có thấp nên khả năng tự chủ về tàichính không cao Để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động các đơn vị này thường phải vayvốn ngân hàng có những phương án tỷ lệ vay vốn có thể lên đến 100% nhu cầu thanhtoán Phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước không có tài sản bảo đảm nên việc chovay thường thực hiện theo hình thức tín chấp.Việc cho vay tín chấp mang nhiều rủi

ro tiềm ẩn cho ngân hàng

Hội nghị phân tích, xếp loại tín dụng doanh nghiệp của Trung tâm Thông tintín dụng Ngân hàng Nhà nước (CIC) đã công bố một số liệu khá ảm đạm của cácdoanh nghiệp nhà nước hiện nay.Kết quả xếp loại 5.199 doanh nghiệp có báo cáo tàichính năm 2004 theo loại hình doanh nghiệp thì số doanh nghiệp nhà nước được xếploại khá trở lên (từ AAA đến BBB) lần lượt chiếm 17,1%; 18% qua 2 năm 2003,

2004 (số liệu tương ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 44,1%;45,4% Của công ty TNHH và công ty cổ phần là 31,2%;27,6%).Số lượng doanhnghiệp Nhà nước xếp loại trung bình trở xuống (từ BB đến C) chiếm 55,9% vào năm

2003 và 54,6% năm 2004 Ngành xây dựng có số lượng doanh nghiệp xếp loại khá(từ AAA đến BBB) trở lên chiếm tỷ lệ thấp nhất trong các ngành, lần lượt chiếm9,1%; 8% qua 2 năm 2003, 2004 Số lượng doanh nghiệp xếp loại trung bình trởxuống chiếm 90,9% vào năm 2003 và 92% năm 2004

Ngày đăng: 24/04/2013, 20:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình có số dư nợ thấp nhất so với các loại hình DN khác  2.1.6.Phát hành cổ phiếu trái phiếu - Nguồn vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp. Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước
Hình c ó số dư nợ thấp nhất so với các loại hình DN khác 2.1.6.Phát hành cổ phiếu trái phiếu (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w