Đất đai là tài nguyên của mỗi quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, an ninh và quốc phòng.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THỊ BÌNH
HÀ NỘI - 2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng đểbảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõnguồn gốc
Hà nội, ngày… tháng… năm 2009
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Dũng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệttình, sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân, đã tạo điều mọi kiệnthuận lợi để tôi hoàn thành bản Luận văn này.Tôi xin ghi nhận và trân trọngcảm ơn
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Vũ Thị Bình Giảng viênKhoa Đất và Môi trường- Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã trực tiếphướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, côgiáo Khoa Đất và Môi trường, Viện đào tạo sau Đại học- Trường Đại họcNông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện hoàn thànhluận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Tài nguyên và Môi trường, PhòngKinh tế, Phòng Thống kê thị xã Từ Sơn, đã giúp đỡ tôi trong thời gian nghiêncứu, thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tới người thân trong gia đình bạn bè vàđồng nghiệp đã tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thựchiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày… tháng… năm 2009
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Dũng
Trang 42.3 Những nghiên cứu về đánh giá tác động xã hội, tác động môi
trường trong các phương án quy hoạch phát triển 21
3.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, KTXH của thị xã Từ Sơn 273.3.2 Đánh giá tác động xã hội của công tác quản lý sử dụng đất theo 3
3.3.3 Đánh giá tác động của việc chuyển mục đích sử dụng đất xây
Trang 5dựng KCN đến môi trường thị xã Từ Sơn 283.3.4 Đề xuất một số giải pháp khắc phục những tác động tiêu cực đến
3.4.2 Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp tài liệu 29
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu và minh hoạ trên bản đồ 30
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, KTXH thị xã Từ Sơn có liên quan
4.4 Đánh giá tác động của việc chuyển mục đích sử dụng đất xây
4.4.1 Đánh giá khái quát về môi trường thị xã Từ Sơn khi hình thành,
Trang 6phát triển các khu, cụm công nghiệp và làng nghề 664.4.2 Đánh giá ảnh hưởng của một số khu cụm công nghiệp tới môi
4.5 Đề xuất một số giải pháp khắc phục những tác động tiêu cực đến
4.5.1 Để giảm thiểu những tác động tiêu cực đến những vấn đề xã hội
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.1 Yêu cầu chính thức đối với ĐTM ở các nước (tính đến tháng 7 - 1993)
224.1 Tình hình dân số thị xã Từ Sơn giai đoạn 2004 - 2008 414.2 Hiện trạng phân bố dân cư thị xã Từ Sơn đến 31/12/2008 424.3 Tổng hợp kết quả giao đất, cho thuê đất của thị xã Từ Sơn 484.4 Tổng hợp các dự án đấu giá quyền sử dụng đất tạo vốn xây dựng
4.5 Tình hình chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp,
4.6 Các hạng mục, công trình được nâng cấp và xây dựng mới giai
4.8 Tình hình lao động việc làm tại thị xã Từ Sơn 584.9 Tổng hợp ý kiến của các hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông
4.11 Kết quả quan trắc nước thải tại cụm công nghiệp Mả Ông 724.12 Kết quả quan trắc không khí CCN sản xuất thép Châu Khê 744.13 Kết quả quan trắc nước thải CCN sản xuất thép Châu Khê 75
Trang 9DANH MỤC ẢNH
4.1 Rác thải được đổ ra cánh đồng tại phường Tân Hồng 67
4.2 Rác thải được đổ ra ao tại phường Đồng Nguyên 67
4.3 Nước thải tràn ra đường tại CCN sắt Châu Khê 68
4.4 Chất thải được đổ ra đường tại CCN Mả Ông- Đình Bảng 68
4.5 Rác thải được đổ ra đường tại trung tâm thị xã Từ Sơn 69
4.6 Phế liệu và chất thải được đổ ra đường tại CCN Mả Ông- Đình Bảng .71
4.7 Cơ sở hạ tầng xuống cấp tại CCN sắt Châu Khê 77
4.8 Chất thải rắn được đổ ra đường tại CCN sắt Châu Khê 77
Trang 101 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề
Đất đai là tài nguyên của mỗi quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sảnxuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địabàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, an ninh vàquốc phòng Việc quản lý sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên đất là mụctiêu của mọi quốc gia
Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai đã có những ảnh hưởng lớn đốivới sự phát triển KTXH Trong quản lý, sử dụng đất đai, việc chuyển đổi
cơ cấu sử dụng đất quyết định đến tốc độ phát triển KTXH và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế giữa các ngành nghề Tốc độ tăng trưởng KTXH hàng nămcao, giá trị sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếmphần lớn trong nền kinh tế cho thấy diện tích đất sử dụng trong các ngànhnày tăng lên đáng kể đã xâm lấn vào quỹ đất nông nghiệp Việc quản lý, sửdụng đất đai, chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở nhiều địa phương đã thúcđẩy tăng trưởng kinh tế nhưng nó cũng có tác động mạnh mẽ đến nhữngvấn đề xã hội và bảo vệ môi trường
Ngày 24 tháng 9 năm 2008 Thủ tướng Chính phủ có Nghị định số01/QĐ-CP về việc thành lập thị xã Từ Sơn, với 7 phường và 5 xã Thị xã TừSơn được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích của huyện Từ Sơn, với 12 đơn
vị hành chính bao gồm các phường: Đồng Kỵ, Trang Hạ, Đồng Nguyên, ĐìnhBảng, Tân Hồng, Châu Khê, Đông Ngàn và các xã: Tam Sơn, Tương Giang,Hương Mạc, Phù Khê, Phù Chẩn
Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nằm ở vị trí địa lý rất thuận lợi: Cáchkhông xa các trung tâm đô thị lớn, đặc biệt là khu tam giác kinh tế trọng điểmphía Bắc: Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, đó là lợi thế cho Từ Sơn trong
Trang 11quá trình sản xuất và phát triển Cùng với sự phát triển chung của tỉnh BắcNinh, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của thị
xã phát triển mạnh mẽ Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 21,05%
Nhìn chung tình hình quản lý, sử dụng đất đai cơ bản thực hiện theoLuật đất đai, từng bước tuyên truyền hướng dẫn cho các đối tượng sử dụngđất hiểu rõ về Luật đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất để họyên tâm và có kế hoạch sử dụng đất đai đúng mục đích, đúng pháp luật
Tuy vậy việc quản lý đất đai chưa thật chặt chẽ, còn tình trạng lấnchiếm đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất sai nguyên tắc còn xảy ra ở một
số nơi Việc triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giải quyết khiếunại tố cáo về tranh chấp đất đai còn chậm
Tốc độ công nghiệp hóa hiện đại hóa, quá trình đô thị hóa trên địa bànthị xã Từ Sơn diễn ra rất mạnh mẽ nhất là từ năm 2003 đến nay Diện tích đấtnông nghiệp bị chuyển sang phi nông nghiệp là 972,77 ha để xây dựng cáckhu công nghiệp (KCN), khu đô thị mới, kiến thiết cơ sở hạ tầng Việcchuyển đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đã góp phần tăng trưởng kinh
tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thị xã Tuy nhiên nó cũng gây tácđộng không nhỏ đến những vấn đề xã hội và môi trường như:
- Ảnh hưởng đến đời sống người dân có đất bị thu hồi
- Ảnh hưởng đến vấn đề an toàn lương thực
- Ảnh hưởng đến môi trường sống và tính bền vững trong quá trìnhphát triển
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài “Đánh giá tác động xã hội và môi trường trong quản lý sử dụng đất thị
xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh”.
Trang 121.2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá tác động của việc quản lý đất đai, chuyển mục đích sử dụngđất đến tình hình phát triển kinh tế xã hội (KTXH) thị xã Từ Sơn nhằm pháthiện những vấn đề ảnh hưởng bất lợi đến đời sống người dân để có giải phápkhắc phục
- Đánh giá tác động của việc chuyển mục đích sử dụng đất hình thànhcác dự án xây dựng các khu công nghiệp, làng nghề đến môi trường, nhằmgóp phần giảm thiểu ô nhiễm trên địa bàn thị xã
Trang 132 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan về đánh giá tác động xã hội
2.1.1 Những lý luận cơ bản về đánh giá tác động xã hội
Đánh giá tác động xã hội là việc phân tích có hệ thống các tác động cóthể về mặt xã hội của một hành động đối với cuộc sống thường nhật của conngười hay cộng đồng Đánh giá tác động xã hội là một việc cần thiết khi xemxét, nhận định về các mục tiêu KTXH của các dự án, phương án quy hoạch
Đánh giá tác động xã hội bao hàm một loạt các chu trình và quá trình
để đưa khía cạnh xã hội vào các dự án phát triển Đánh giá tác động xã hộiđược tiến hành để đề phòng các ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống conngười trong khu vực của dự án Đối với ảnh hưởng xấu sẽ đưa ra các biệnpháp giảm thiểu và phòng tránh [2]
Đánh giá tác động xã hội có thể định nghĩa là đánh giá tác động chuyênngành liên quan đến đánh giá những thay đổi trong cấu trúc và chức năng củatrật tự xã hội Đặc biệt là những thay đổi mà việc phát triển có thể tạo ra trongquan hệ xã hội, trong cộng đồng (dân số, cấu trúc, tính ổn định và các thông
số khác), trong chất lượng và lối sống, ngôn ngữ và tập quán Như một đánhgiá chuyên ngành, Đánh giá tác động xã hội giải quyết một cách tổng thể quátrình và phương pháp liên kết các giá trị xã hội vào việc xây dựng dự án [1]
2.1.2 Mục đích và nguyên tắc đánh giá tác động xã hội.
Trang 14tránh được những tác động bất lợi đến các nhóm lợi ích khác nhau của cộngđồng dân cư.
2.1.2.2 Nguyên tắc đánh giá tác động xã hội
- Tham gia của nhiều nhóm xã hội: xác định và đưa tất cả các cộngđồng và các cá nhân chịu ảnh hưởng của dự án phát triển tham gia vào quátrình đánh giá
- Phân tích các tác động đến cộng đồng và cá nhân một cách cân bằng: xácđịnh một cách rõ ràng những cá nhân và tập thể được hưởng lợi, những cá nhân
và tập thể chịu thiệt thòi và những cá nhân và tập thể dễ bị tổn thương nhất khitriển khai dự án quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ), cũng như các dự án khác
- Đánh giá có trọng tâm: tập trung vào đánh giá những vấn đề quantrọng nhất, không chỉ tập trung vào đánh giá những tác động dễ định lượnghóa, mà còn phải phân tích kỹ cả khía cạnh định tính
- Xác định các phương pháp, các giả thiết và cách định nghĩa về ý nghĩacủa các tác động: trình bày cách đánh giá tác động xã hội, các giả thiết được
sử dụng và cách xác định ý nghĩa của các tác động
- Cung cấp kết quả đánh giá tác động xã hội cho các nhà quy hoạch:xác định các vấn đề xã hội quan trọng mà khi giải quyết chúng cần thiết phảithay đổi thiết kế và công nghệ hay thay đổi phương án của dự án quy hoạch
- Đưa đánh giá tác động xã hội vào thực tiễn: Hướng dẫn các nhà xã hộihọc các phương pháp đánh giá tác động xã hội
- Soạn thảo chương trình giám sát và giảm thiểu: quản lý các tác động dựbáo chưa chắc chắn bằng cách giám sát và thực hiện các biện pháp giảm thiểu
- Xác định nguồn gốc của số liệu: Sử dụng các tài liệu đã được xuấtbản, các bản báo cáo và tài liệu gốc của các vùng bị tác động
- Kế hoạch khắc phục các thiếu sót của số liệu: Đánh giá các hạn chếcủa số liệu và lập kế hoạch bổ sung
Trang 152.1.3 Ảnh hưởng của việc quản lý sử dụng đất đai, thực hiện phương án
QHSDĐ đến những vấn đề xã hội
2.1.3.1 Vấn đề bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tác
động đến cộng đồng dân cư
a Tác động đến nơi ở của người dân
Theo quy định của pháp luật về đất đai, người bị thu hồi đất đang sửdụng vào mục đích nào đó thì được bồi thường bằng việc giao đất mới cócùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thườngbằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có đất bị thu hồi Kết quả điều tracủa Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy hầu hết các hộ dân bị thu hồi đấtsản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp đều được bồi thường bằng tiền vì cácđịa phương không còn quỹ đất để bồi thường [3]
Về công tác tái định cư, quy định của Luật đất đai năm 1993 không bắtbuộc việc phải xây dựng khu tái định cư trước khi Nhà nước thu hồi đất nêncác khu tái định cư cho các hộ dân phải di dời ra khỏi KCN thường được xâydựng rất chậm
Theo kết quả điều tra, đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm2006: KCN Tam Phước tại tỉnh Đồng Nai có quyết định thu hồi đất năm 2003
đã xây dựng xong và có tỷ lệ lấp đầy 100% nhưng cho đến thời điểm năm
2005 vẫn chưa xây dựng xong hạ tầng khu tái định cư; tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
có 06 KCN (05 khu xây dựng tập trung tại huyện Tân Thành), trong đó cónhững khu đã được Thủ tướng chính phủ quyết định thu hồi đất từ năm 1998nhưng đến năm 2005 mới chỉ có một khu tái định cư đang xây dựng dở dang.Tại nhiều dự án người dân có đất bị thu hồi chấp thuận phương án bồi thường,sẵn sàng giao lại mặt bằng cho nhà nước nhưng khi hỏi về chỗ sau khi di dờithì các cơ quan có thẩm quyền của địa phương không chỉ ra được khu tái định
cư Tình trạng này xảy ra khá phổ biến ở các tỉnh thành phố đã tiến hành điều
Trang 16tra Để khắc phục tình trạng trên, một số tỉnh như Long An, Bà Rịa Vũng Tàu,thành phố Đà Nẵng đã đưa ra giải pháp làm nhà tạm (thường là lợp bằngtôn hoặc bằng tấm lợp xi măng) cho các hộ dân đến ở tạm khi chưa có khu táiđịnh cư hoặc hỗ trợ một khoản tiền từ 500.000 đồng/hộ đến 700.000 đồng/hộtrong khoảng thời gian 06 tháng để người dân tự đi thuê chỗ ở tạm Giải phápnày không được người dân đồng tình và không đảm bảo quyền lợi của nhândân, làm chậm tiến độ giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án [3].
Đối với những nơi đã xây dựng được khu tái định cư thì giá đất ở, giánhà ở tại khu tái định cư thường cao hơn nhiều so với giá bồi thường về đất ở,nhà ở tại nơi ở cũ (do khu tái định cư được xây dựng mới với hệ thống hạ tầngđồng bộ) Người có đất bị thu hồi muốn đến ở tại khu tái định cư phải bỏthêm một khoản tiền không nhỏ (từ vài chục triệu đồng đến vài cả trăm triệuđồng) mà không phải hộ gia đình nào cũng có điều kiện Vì vậy, nhiều hộ dânsau khi nhận đất tái định cư đã chuyển nhượng cho người khác để lấy tiềnchênh lệch và tự tìm chỗ ở tại khu vực khác có giá thấp hơn [3]
Theo báo Thanh Niên số ra ngày 12-9-2005 có bài viết về “Nhà tái định
cư phục vụ giải phóng mặt bằng đường vành đai 1 đoạn Kim Liên- Ô ChợDừa ở Hà Nội”: Nhận nhà mới, người dân không còn phải sống trong tâmtrạng “đi cũng dở, ở không xong” như gần 10 năm qua Nhưng thời điểmCông ty nhà ở số 3 giao nhà, không ít người dân lại lo lắng Hai khu chung cưcao tầng 13 tầng này vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện, đường nội bộ chưatrải nhựa xong Hạ tầng xã hội như trường học, nhà trẻ, vườn hoa chưa có gì.Thực chất khu chung cư đang xây dựng theo quy trình ngược: xây nhà trước,xây hạ tầng sau [22]
Tuy nhiên, việc triển khai các khu tái định cư còn lúng túng và chậm vềthủ tục duyệt dự án, thẩm định thiết kế kỹ thuật dự toán, đấu thầu còn mấtnhiều thời gian Có nơi đất đã được thu hồi một vài năm sau mới triển khai
Trang 17khu tái định cư như Ban quản lý dự án Thăng Long cho đường vành đai III vàcầu Thanh Trì, Ban quản lý CDA trọng điểm (56 ha Trung Yên), Ban quản lý
dự án giao thông công chính (khu dân cư Đồng Tầu) [14] Việc tiến hành bàngiao quản lý, quỹ nhà tái định cư chưa được đổi mới, chưa tập trung theo dõitập hợp quản lý, còn phát sinh nhiều khó khăn trong việc tổ chức quản lý khunhà tái định cư sau khi đưa các hộ dân vào
Theo báo Nhân Dân ra ngày 11-5-2005 đăng bài: “Đời sống và việc
làm của nông dân những vùng bị thu hồi đất” của Trần Khâm và TrungChính, có đoạn mô tả đời sống “một có, bốn không” của người dân sống ởkhu tái định cư Đồng Rướn, thôn Đông Lỗ, xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn,tỉnh Quảng Ngãi (phục vụ xây dựng khu kinh tế Dung Quất) như: một có là
có được ngôi nhà tường xây, lợp ngói, còn bốn không là: không trạm y tế,không chợ, không trường học và không nước sạch [9]
b Tác động đến đời sống, việc làm của người dân có đất bị thu hồi
Đây là việc làm vô cùng quan trọng đối với người dân có đất bị thu hồi,trong thực tế quá trình đô thị hoá, kinh tế ở các đô thị mới tăng trưởng nhanhchóng nhờ sự tập trung lực lượng sản xuất tạo ra năng suất lao động cao, cách
tổ chức lao động hiện đại Do đó quá trình tăng trưởng kinh tế đô thị cũng tạo
cơ hội để tăng việc làm ở các đô thị Từ góc độ lao động và việc làm từ cáchoạt động nông nghiệp sang các hoạt động công nghiệp và thương mại dịch
vụ Những người nông dân trước đây gắn bó với ruộng vườn, sau khi trởthành dân cư đô thị, họ bị mất phần lớn ruộng đất canh tác Với số tiền đượcNhà nước đền bù hoặc tiền bán đất cho dân cư mới, họ dùng để tạo nghề mới,tìm việc làm mới và nhiều vấn đề khác cũng thay đổi Sự phát triển của các
đô thị một mặt tạo ra một lượng lớn việc làm cho lao động tại đô thị, đồngthời thu hút và làm giảm đáng kể lực lượng lao động nông nhàn ở các vùngnông thôn, kém phát triển, góp phần làm tăng năng suất lao động tại các vùng
Trang 18này Tuy nhiên nhìn từ góc độ khác thì gia tăng quy mô thành phố bằng giảipháp mở rộng không gian, hình thành các quận, phường mới sẽ làm một phầnlớn lực lượng lao động nông nghiệp ở vùng đô thị hoá mất việc và dẫn đếntình trạng thất nghiệp tăng.
Nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của nông dân
bị thu hồi đất một phần là do sự phát triển của các ngành công nghiệp vàthương mại- dịch vụ chưa đáp ứng đủ nhu cầu giải quyết việc làm cho ngườidân Mặt khác, do chính bản thân người lao động, vốn xuất phát từ nông dân,
có nhiều hạn chế về năng lực và trình độ văn hoá cũng như trình độ chuyênmôn nghề nghiệp, chưa thích ứng được với công việc mới, không đáp ứngđược nhu cầu thị trường lao động Hiện nay, tại nhiều đô thị đã xây dựng cáctrung tâm giáo dục thường xuyên trung tâm dạy nghề nhưng chưa đủ đápứng nhu cầu đào tạo và giải quyết việc làm cho người lao động
Việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã ảnh hưởng khôngnhỏ đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất Theo kết quả điều tracủa Bộ Tài nguyên và Môi trường tại một số tỉnh, thành phố thuộc các vùngkinh tế trọng điểm thì trung bình cứ mỗi hộ dân bị thu hồi đất có 1,5 lao động
bị mất việc làm Một số địa phương như Hà Nội, chỉ tính trong giai đoạn 3năm từ năm 2001 đến năm 2004 đã có gần 80.000 lao động bị mất việc làm.Tính đến hết năm 2005, Hà Nội có khoảng 200.000 người thất nghiệp do mấtđất sản xuất [3]
Trước khi bị thu hồi đất, phần lớn người dân đều có cuộc sống ổn định
vì họ có đất sản xuất, có tư liệu sản xuất mà đất sản xuất, tư liệu sản xuất đãđược để thừa kế từ thế hệ này sang các thế hệ khác Sau khi bị thu hồi đất, đặcbiệt là những hộ nông dân bị thu hồi hết đất sản xuất, điều kiện sống và sảnxuất của họ bị thay đổi hoàn toàn Mặc dù nông dân được giải quyết bồithường bằng tiền, song họ vẫn chưa định hướng ngay được những ngành nghề
Trang 19hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống Tình trạng này tập trung ở lứa tuổi
từ 30 tới 50, là lứa tuổi còn sức lao động nhưng khó đào tạo tiếp để có việclàm phù hợp tại các KCN
Sau khi nhận tiền bồi thường, đa số các hộ dân sử dụng tiền để sửachữa nhà cửa, mua sắm dụng cụ sinh hoạt, một số chuyển sang kinh doanhdịch vụ phi nông nghiệp, một số gửi tiết kiệm, một số trường hợp sử dụng tiền
để rượu chè, cờ bạc gây ra các tệ nạn xã hội Đặc biệt với các gia đình nôngdân bị thu hồi hết đất nông nghiệp mà không tạo được công ăn việc làm mớithì chỉ sau vài năm sẽ lâm vào hoàn cảnh khó khăn
Trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN, một số địa phương đã
có quy định cụ thể về chính sách tuyển dụng lao động để giải quyết công ănviệc làm cho người có đất bị thu hồi Ví dụ, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnhHưng Yên quy định cứ sử dụng 360 m2 đất nông nghiệp thì phải tuyển dụngmột lao động, trường hợp không tuyển lao động thì hộ gia đình có đất bị thuhồi được nhận thêm 12.000 đồng/1m2 để chuyển đổi nghề nghiệp, UBNDthành Hà Nội quy định nhà đầu tư cứ sử dụng 1ha đất nông nghiệp để chuyểnsang xây dựng KCN thì phải có trách nhiệm tuyển dụng từ 10 đến 15 lao độngnông nghiệp tại địa phương Phần lớn nông dân có trình độ văn hóa, chuyênmôn, kỹ thuật thấp (đặc biệt đối với lao động thuần nông ở độ tuổi trên 30)nên tỷ lệ lao động bị thu hồi đất được tuyển dụng vào các cơ sở sản xuất kinhdoanh không lớn Ví dụ, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở khu vực nông nghiệp,nông thôn của Lạng Sơn chỉ chiếm 2,17% tổng số lao động; tại Hà Nội, laođộng có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên chỉ là 1,5% Việc đào tạonghề đối với lao động ở lứa tuổi trên 30 là rất khó khăn Trên thực tế, các nhàđầu tư chỉ tuyển dụng được từ 5% đến 10% số lao động tại địa phương, chủyếu ở độ tuổi dưới 30 Một số doanh nghiệp có tuyển dụng lao động của địaphương nhưng thường chỉ bố trí vào vị trí lao động đơn giản có thu nhập thấp
Trang 20Vì vậy, một thời gian sau các lao động này tự xin thôi việc để tìm việc ở nơikhác có thu nhập cao hơn [3].
Theo kết quả điều tra xã hội học do Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếnhành năm 2005: Các hộ bị thu hồi đất được bồi thường chủ yếu bằng tiền còn
số hộ được bồi thường bằng đất sản xuất nông nghiệp và bồi thường bằng nhà
ở, đất ở là nhỏ Sau khi được bồi thường, số hộ sống bằng nghề nông nghiệpchỉ còn 54% (giảm 34% so với trước khi bị thu hồi đất), số hộ sống bằng nghềphi nông nghiệp là 15% (tăng 14% so với trước khi bị thu hồi đất) Sau khi bịthu hồi đất chỉ có 34,7% số hộ đánh giá là đời sống có tốt hơn trước, 42,3% số
hộ cho rằng đời sống không có gì cải thiện và số hộ còn lại (23%) khẳng địnhđời sống của họ kém đi so với trước khi bị thu hồi đất Như vậy, có đến trên65% số hộ dân được điều tra khẳng định đời sống của hộ kém đi hoặc không
có gì cải thiện hơn sau khi Nhà nước thu hồi đất để chuyển sang xây dựng cácKCN, khu đô thị mới và các dự án phát triển KTXH tại các địa phương [3]
c Đào tạo nghề cho những người bị thu hồi đất
Từ người nông dân sản xuất nông nghiệp, khi đất đai bị thu hồi, họ phảichuyển đổi nghề nghiệp Do đó, vấn đề đào tạo nghề cho người lao động làmột vấn đề quan trọng Lao động công nghiệp và dịch vụ là lao động đòi hỏiphải có tay nghề, chuyên môn và nghiệp vụ, nói cách khác là phải được đàotạo bài bản Song, dường như lao động nông thôn ở nước ta gần như chưađược đào tạo gì Theo kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp do Tổng cụcThống kê công bố năm 2004, cả nước có 93% lao động nông thôn chưa quađào tạo, chỉ có 2,3% lao động được đào tạo tay nghề theo trình độ sơ cấp hoặccông nhân kỹ thuật, 0,8% có trình độ cao đẳng, 0,7% có trình độ đại học vàtương đương [13] Vì vậy, các KCN thu hút được rất ít lao động nông thôn
Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ đã có những quy định cụ thể vềviệc hỗ trợ cho những người dân bị thu hồi đất trong việc đào tạo nghề mới vàchuyển đổi nghề nghiệp, nhằm giúp họ sớm tìm được việc làm ổn định với
Trang 21thu nhập tương đối khá hơn so với làm nông nghiệp [5] Ngoài quy định củaChính phủ, nhiều địa phương cũng có những quy định bổ sung nhằm tạo thêmđiều kiện cho người lao động đi học nghề và chuyển đổi nghề nghiệp Chẳnghạn, tỉnh Hà Nam ngoài biện pháp hỗ trợ tạo việc làm còn dồn kinh phí đầu tưvào các dự án vay vốn hỗ trợ việc làm Tỉnh Hải Dương thực hiện chính sáchđào tạo miễn phí cho lao động bị thu hồi đất, hoặc Bình Dương mở hệ thốngđào tạo nghề xuống tận huyện, xã
Tuy nhiên thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đấtlại diễn ra không hoàn toàn như vậy Số người được đào tạo nghề, được giảiquyết việc làm tại các KCN là rất ít
Ở Hà Nội phần lớn lao động ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụngđất nông nghiệp hầu hết là lao động phổ thông, trình độ học vấn thấp, chưaqua đào tạo chuyên môn kỹ thuật Ở Hà Nội có tới 76,2% những người bị thuhồi đất được phỏng vấn là chưa qua đào tạo Số liệu này đã cho thấy một xuhướng chung, khó khăn chung đối với tất cả các đối tượng lao động bị thu hồiđất khi đi tìm việc làm mới: không tìm được việc làm phù hợp Sự phù hợp ởđây chủ yếu là do cung không đáp ứng được cầu về mặt chất lượng, do ngườilao động không đáp ứng được những yêu cầu của nhà tuyển dụng về trình độchuyên môn Điều này dẫn đến thực trạng nhiều doanh nghiệp mặc dù trong
dự án có cam kết tuyển dụng lao động địa phương vào làm việc song đã phảituyển dụng từ nơi khác để đáp ứng yêu cầu của sản xuất Mặt khác, bản thânngười lao động chưa được các cấp chính quyền thông tin, tuyên truyền đầy đủ
về kế hoạch, QHSDĐ, khiến người lao động bị động, chưa có sự phối hợpchặt chẽ giữa các ngành trong việc định hướng cho người dân học nghề,chuyển đổi nghề phù hợp sau khi bị thu hồi đất sản xuất [14]
Như vậy, vấn đề bất cập hiện nay là công tác quy hoạch ở vùngchuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp chưa gắn với chế độ chuyểnđổi nghề nghiệp cho người lao động, việc tổ chức thực hiện các chính sách
Trang 22hỗ trợ chưa thiết thực và đồng bộ; nguồn lực hỗ trợ dạy nghề tạo việc làmcho khu vực chuyển đổi chưa được đầu tư thích đáng Với mục tiêu đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng kết cấu hạ tầng, phát triển đôthị thì việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong thời giantới vẫn sẽ tiếp tục gia tăng Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chuyển đổi
ồ ạt mà phải phù hợp với quy hoạch phát triển KTXH và vấn đề giải quyếtviệc làm cho người lao động
2.1.3.2 Việc chuyển mục đích sử dụng đất ảnh hưởng đến vấn đề an toàn
lương thực
An ninh lương thực đã trở thành vấn đề toàn cầu chứ không riêng gì vớiViệt Nam Vai trò nông nghiệp thế giới đang thay đổi, nông nghiệp không chỉcung cấp lương thực thực phẩm cho con người mà còn cung cấp nguyên liệucho ngành công nghiệp năng lượng Nông nghiệp sẽ trở lại là ngành có khảnăng sinh lợi cao, đặc biệt khi nó kết nối với chuỗi chế biến thực phẩm Đầu
tư lớn vào nông nghiệp và nông thôn là kế sách lâu dài, chống đỡ lạm pháthữu hiệu và tạo lập nền tảng cho nền công nghiệp chế biến thực phẩm mạnh
“An ninh lương thực cần được hiểu và phải bao gồm: đủ lương thựccho xã hội để không ai bị đói; người làm ra lương thực không bị nghèo đi, dù
là nghèo đi một cách tương đối so với mặt bằng xã hội” [10] Nếu chỉ nhấnmạnh về thứ nhất thì sản xuất sớm hay muộn cũng suy giảm, đất trồng lúa sẽ
bị suy giảm An ninh lương thực chỉ được đảm bảo khi lợi ích của người trồnglúa được tính đến
Ngoài những nguyên nhân như thiên tai, dịch bệnh, việc dùng nhiênliệu sinh học, thì tình trạng đất nông nghiệp đang giảm sút một cách đáng kể
ở các nước đang phát triển là "thủ phạm" chính gây nên cuộc khủng hoảnglương thực trên toàn cầu Ngay tại Việt Nam, việc thu hồi đất nông nghiệpkhông theo quy hoạch đã khiến những cánh đồng "cò bay thẳng cánh" dần
Trang 23mất đi, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu hộ nông dân và đe doạtrực tiếp đến an ninh lương thực.
Diện tích đất canh tác của Việt Nam hiện thấp nhất thế giới, chỉ khoảng0,12 hécta/người trong khi của Thái Lan là 0,3 hécta/người Xét bình quân,Việt Nam chỉ hơn được các nước như Hàn Quốc, Băng-la Đét, Ai Cập Chính
vì thua Thái Lan 2,5 lần về diện tích đất nên để tăng sản lượng lúa, lượng phânbón hóa học sử dụng hàng năm ở nước ta cao gấp 2 lần Thái Lan [20]
Với diện tích trồng lúa trên 4 triệu ha và sản lượng đạt khoảng 36 triệutấn/năm hiện nay thì việc đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam chưa có
gì đáng lo ngại Hơn nữa, năng suất lúa trung bình có thể được nâng lên trên 6tấn/ha, và tổng sản lượng gạo có thể đạt mức 40 triệu tấn/năm Tuy nhiên, sảnlượng này cũng mới chỉ đảm bảo an ninh lương thực cho dân số khoảng 100triệu người Nếu dân số tiếp tục gia tăng (nhiều nghiên cứu cho thấy dân sốViệt Nam sẽ lên tới 120 triệu mới cơ bản ổn định) đi kèm với diện tích đấttrồng lúa giảm thì chắc chắn sẽ xảy ra nguy cơ mất an ninh lương thực Nhưvậy, để bảo đảm ngưỡng an toàn thì đất trồng lúa của Việt Nam cần giữnguyên như hiện nay, đồng nghĩa với việc đưa công nghiệp về khu vực trung
du, miền núi, lấy công nghiệp nuôi nông nghiệp là lối đi tất yếu “Nếu khônggiữ được một diện tích trồng lúa ổn định thì sẽ có nguy cơ gây mất an ninhlương thực trong nước [20]
Điều đáng quan tâm hơn nữa là có những địa phương nhận thức vàhành động không đúng về QHSDĐ đã tác động tiêu cực đến sản xuất nôngnghiệp và đảm bảo an ninh lương thực Có nơi do nôn nóng chuyển dịch cơcấu kinh tế, đã dùng đất “bờ xôi ruộng mật” để triển khai các dự án côngnghiệp, dịch vụ mà hiệu quả mang lại không cân xứng
Sự lãng phí đất nông nghiệp còn thể hiện ở khâu lựa chọn vị trí quyhoạch: Hai tỉnh liền kề đều quy hoạch KCN trên đất lúa, thu hút các dự án có
Trang 24công nghệ như nhau nên không thể lấp đầy; trong khi các địa phương kháccòn rất nhiều đất đồi, đất bạc màu bỏ không.
Đề cập đến vấn đề sửa đổi Luật đất đai năm 2003, Bộ trưởng Bộ Tàinguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên đã khẳng định: “Vấn đề quy hoạch
sử dụng đất đảm bảo an ninh lương thực phải được nghiên cứu kỹ và có bổsung ngay vào luật” [17]
Bài học từ Philippin cho thấy, để đổi lấy các KCN, nước này đã mất rấtnhiều cánh đồng lúa phì nhiêu, dẫn đến “thảm cảnh” mỗi năm phải nhập 1,5triệu tấn lương thực Chính phủ Philippin cũng đã dự định chi 960 triệu USD
để thực hiện một kế hoạch tổng thể mang tên “những cánh đồng” để vực dậyngành nông nghiệp Việt Nam cũng đã mất rất nhiều đất cho công nghiệp vàdịch vụ, nếu không có những điều chỉnh kịp thời, biết đâu đó sẽ là bài họctương lai của chúng ta [17]
2.2 Tổng quan về đánh giá tác động môi trường
2.2.1 Những lý luận cơ bản về đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) thực chất là một công việc rấtmới, nhưng đã cho được những kết quả lớn Một số điểm có thể thống nhấtđược về công việc này là:
ĐTM là quá trình xác định đánh giá và dự báo ảnh hưởng (cả 2 mặt tốt
và xấu) của hoạt động dự án đến môi trường tự nhiên, KTXH và cụ thể là đếnsức khỏe của con người
ĐTM còn cố gắng đưa ra biện pháp, nhằm giảm bớt những tác động cóhại, kể cả việc áp dụng các biện pháp thay thế “ĐTM hoặc phân tích tác độngmôi trường là sự xem xét một cách có hệ thống các hậu quả về môi trườngcủa các vấn đề dự án, chính sách và chương trình với mục đích chính là cungcấp cho người ra quyết định một bản liệt kê và tính toán các tác động mà cácphương án hành động khác nhau có thể đem lại”
Trang 25- “ĐTM được coi là một kỹ thuật, một quá trình thu thập thông tin về ảnhhưởng môi trường của một dự án từ người chủ dự án và các nguồn khác, đượctính đến, trong việc ra quyết định cho dự án tiến hành hay không” [11;29].
- Theo Lê Thạc Cán (1994) thì “ĐTM của hoạt động phát triển KT-XH
là xác định, phân tích và dự báo những tác động lợi và hại, trước mắt và lâudài mà việc thực hiện hoạt động có thể gây ra cho tài nguyên và môi trườngsống của con người tại nơi có liên quan tới hoạt động, trên cơ sở đã đề xuấtcác biện pháp phòng, tránh, khắc phục các tác động tiêu cực” [4]
- “ĐTM là một quá trình nghiên cứu nhằm nhận dạng, dự báo và phântích những tác động môi trường có ý nghĩa quan trọng của một dự án và cungcấp thông tin cần thiết để nâng cao chất lượng của việc ra quyết định ĐTMđược sử dụng để phòng ngừa và làm giảm thiểu những tác động tiêu cực, pháthuy các tác động tích cực và đồng thời hỗ trợ cho việc sử dụng hợp lý tiềmnăng tài nguyên và qua đó làm tăng tối đa lợi ích của các dự án phát triểnKTXH góp phần vào phát triển bền vững một quốc gia” [1]
- Trong Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam, ĐTM được định nghĩanhư sau: “ĐTM là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môitrường của các dự án, quy hoạch phát triển KTXH, của các cơ sở sản xuấtkinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, y tế, văn hóa, xã hội, anninh quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp đểbảo vệ môi trường” [19]
Qua các định nghĩa trên ta có thể thấy được sự nhất trí về mục đích vàbản chất của ĐTM
2.2.2 Quan điểm, mục tiêu, đối tượng đánh giá tác động môi trường trong
việc quản lý, sử dụng đất.
2.2.2.1 Quan điểm, mục tiêu của ĐTM
ĐTM có thể đạt được nhiều mục đích, Alan Gilpin [29] đã chỉ ra vai trò
và mục tiêu ĐTM trong xã hội với nhiều điểm chính sau:
Trang 26(1) ĐTM nhằm cung cấp một quy trình xem xét tất cả các tác động cóhại đến môi trường của các chính sách, chương trình, hoạt động và của các dự
án Nó góp phần loại trừ cách “đóng cửa” ra quyết định, như vẫn thường làmtrước đây, không tính đến ảnh hưởng môi trường trong các khu vực côngcộng và tư nhân
(2) ĐTM tạo ra cơ hội để có thể trình bày với người ra quyết định vềtính phù hợp của chính sách, chương trình, hoạt động, dự án về mặt môitrường để ra quyết định có tiếp tục thực hiện hay không
(3) Đối với các chương trình, chính sách, hoạt động, dự án được chấpnhận thực hiện thì ĐTM tạo ra cơ hội trình bày sự phối kết hợp các điều kiện
có thể giảm nhẹ tác động có hại tới môi trường
(4) ĐTM tạo ra phương thức để cộng đồng có thể đóng góp cho quátrình ra quyết định thông qua các đề nghị bằng văn bản hoặc ý kiến gửi tớingười ra quyết định Công chúng có thể tham gia vào quá trình này trong cáccuộc họp công khai hoặc trong việc hòa giải giữa các bên (thường là bên gâytác động và bên chịu tác động)
(5) Với ĐTM, toàn bộ quá trình phát triển được công khai để xem xétmột cách đồng thời lợi ích của tất cả các bên: Bên đề xuất dự án, Chính phủ
và cộng đồng Điều đó góp phần lựa chọn được dự án tốt hơn để thực hiện
(6) Những dự án mà về cơ bản không đạt yêu cầu hoặc đặt sai vị trí thì
có xu hướng tự loại trừ, không phải thực hiện ĐTM và tất nhiên là không cần
cả đến sự chất vấn của công chúng
(7) Thông qua ĐTM, nhiều dự án được chấp nhận nhưng phải thực hiệnnhững điều kiện nhất định, chẳng hạn chủ dự án phải đảm bảo quá trình đođạc, giám sát, lập báo cáo hàng năm hoặc phải có phân tích sau dự án và kiểmtoán độc lập
(8) Trong ĐTM phải xét đến các khả năng thay thế, chẳng hạn nhưcông nghệ, địa điểm đặt dự án phải được xem xét hết sức cẩn thận
Trang 27(9) ĐTM được coi là công cụ phục vụ phát triển khuyến khích pháttriển tốt hơn và trợ giúp cho tăng trưởng kinh tế.
(10) Trong nhiều trường hợp, ĐTM chấp nhận sự phát thải, kể cả phátthải khí nhà kính cũng như việc sử dụng không hợp lý tài nguyên ở mức độnào đấy nghĩa là chấp nhận phát triển, tăng trưởng kinh tế
2.2.2.2 Ý nghĩa của ĐTM
Nếu làm được ĐTM tốt thì người quản lý môi trường phải tốt, quản lýmôi trường tốt thì công việc giữ gìn, bảo vệ môi trường sẽ tốt, đặc biệt làtrong tương lai Điều đó được thể hiện qua một số điểm cụ thể sau:
ĐTM khuyến khích công tác quy hoạch tốt hơn Việc xem xét kỹ lưỡng
dự án và những dự án có khả năng thay thế từ công tác ĐTM sẽ giúp cho dự
án hoạt động có hiệu quả hơn
ĐTM có thể tiết kiệm được thời gian và tiền của trong thời hạn pháttriển lâu dài Qua các nhân tố môi trường tổng hợp, được xem xét đến trongquá trình ra quyết định ở giai đoạn quy hoạch mà các cơ sở và Chính phủtránh được những chi phí không cần thiết, đôi khi tránh được những hoạtđộng sai lầm, phải khắc phục trong tương lai
ĐTM giúp cho Nhà nước, các cơ sở và cộng đồng có mối liên hệ chặtchẽ hơn Các đóng góp của cộng đồng trước khi dự án được đầu tư Thực hiệncông tác ĐTM tốt có thể đóng góp cho sự phát triển thịnh vượng trong tươnglai Thông qua các kiến nghị của ĐTM, việc sử dụng tài nguyên sẽ thận trọnghơn và giảm được sự đe dọa của suy thoái môi trường đến sức khỏe con người
và hệ sinh thái
2.2.2.3 Đối tượng của ĐTM
Đối tượng của ĐTM thường gặp và có số lượng nhiều nhất là các dự ánphát triển cụ thể Những đối tượng đó có thể là: Một số bệnh viện lớn, nhàmáy công nghiệp; công trình thủy lợi, thủy điện; công trình xây dựng đường
Trang 28xá Tất nhiên không phải tất cả các dự án đều phải tiến hành ĐTM như nhau.Mỗi quốc gia, căn cứ vào những điều kiện cụ thể, loại dự án, quy mô dự án,khả năng gây tác động, mà có quy định mức độ đánh giá đối với mỗi dự án
cụ thể Các tổ chức quốc tế cũng phân loại dự án theo yêu cầu ĐTM Chẳnghạn, Ngân hàng phát triển Châu Á chia các dự án thành 3 nhóm
- Nhóm A: Là những dự án nhất thiết phải tiến hành ĐTM đầy đủ,nghĩa là phải lập, duyệt báo cáo ĐTM và kiểm soát sau khi dự án đã đi vàohoạt động Thuộc về nhóm này là những dự án có thể gây tác động lớn làmthay đổi các thành phần môi trường, cả môi trường xã hội, vật lý và sinh học
- Nhóm B: Không cần tiến hành ĐTM đầy đủ nhưng phải kiểm tra cáctác động môi trường Thường thì những dự án thuộc nhóm này là dự án cóquy mô nhỏ hơn các dự án thuộc nhóm A, chẳng hạn nhà máy nhiệt điện quy
mô lớn thuộc nhóm A, còn quy mô vừa và nhỏ thuộc nhóm B
- Nhóm C: Là nhóm các dự án không phải tiến hành ĐTM Thường thìnhững dự án này không gây tác hại đáng kể hoặc những tác động có thể khắcphục được [11]
2.2.3 Các phương pháp đánh giá tác động môi trường đã và đang thực hiện
2.2.3.1 Phương pháp danh mục các điều kiện môi trường.
Phương pháp danh mục các điều kiện môi trường là phương pháp được
sử dụng khá rộng rãi, nó có vai trò rất lớn để làm rõ tác động xảy ra Phươngpháp danh mục thường dựa trên cơ sở các danh mục đặc trưng và các danhmục được phân chia theo mức độ phức tạp
Nguyên tắc thực hiện là: liệt kê một danh mục tất cả mọi yếu tố môitrường liên quan đến hoạt động phát triển cần đánh giá Gửi danh mục đếncác chuyên gia hoặc tổ chức lấy ý kiến đánh giá
* Phương pháp danh mục câu hỏi: phương pháp này được sử dụng
bằng cách xây dựng câu hỏi, phiếu trả lời sẽ nhận được từ chuyên gia và cả ởcộng đồng, từ đó tổng hợp đánh giá
Trang 29* Phương pháp danh mục có ghi trọng số: Phương pháp này trong
danh mục tác động có mức độ tác động như phương pháp trước, ngoài ra còn
có thêm trọng số (hay mức độ quan trọng của từng yếu tố môi trường chịu tácđộng vào) Ở đây ta tiến hành cho điểm về chất lượng và mức độ quan trọngcủa các yếu tố Tiếp theo có thể tổng hợp mọi yếu tố lại thành chỉ số để đánhgiá tác động
2.2.3.2 Phương pháp ma trận môi trường
Đây là phương pháp phối hợp liệt kê các hành động của hoạt động pháttriển (hay hành động của dự án) và liệt kê các yếu tố môi trường (chỉ tiêu môitrường) có thể bị tác động và đưa vào một ma trận Tiến hành đánh giá
* Phương pháp ma trận đơn giản (định tính và bán định lượng)
Trong ma trận này cột đứng là các hành động (hoạt động) của dự án,hàng ngang là các yếu tố môi trường Trong ma trận, tùy theo mức độ có thểlàm được, người ta sử dụng dấu (+) để biểu thị hành động có tác động đến yếu
tố môi trường
Phương pháp này đơn giản nhưng cho phép đồng thời thấy tác động củamột hành động của dự án đến nhiều yếu tố môi trường, mặt khác phản ánhđược bức tranh đầy đủ trong tương tác của nhiều yếu tố
* Phương pháp ma trận định lượng: Phương pháp này là cách định
lượng hóa phương pháp ma trận đơn giản Cột đứng cũng ghi các hành độngcủa dự án hoặc hoạt động KTXH đang được xem xét, hàng ngang ghi các yếu
tố môi trường có thể chịu tác động của hành động gây ra
Mỗi ô đánh giá không chỉ ghi có hoặc không tác động mà được địnhlượng theo điểm Như vậy, ma trận này không những cho phép tìm ra đượctác động có hay không mà còn cho thấy mức độ của tác động do hành độngnào của hoạt động KTXH đến yếu tố môi trường nào đó Dựa trên cơ sở này,nhóm thực hiện nhiệm vụ ĐTM có thể mở rộng thêm” hành động theo thời
Trang 30gian, không gian để xác định các tác động bậc 2, dự án tác động có thể diễn rasau này.
2.2.3.3 Phương pháp chồng ghép bản đồ
Đây là một phương pháp tốt có sự kết hợp với công nghệ hiện đại GIS,viễn thám (các phần mền đặc trưng) Mặt khác vẫn có thể thực hiện đượcĐTM theo phương pháp này bằng công cụ đơn giản
Phương pháp chồng ghép bản đồ hiện nay thường được thực hiện với
kỹ thuật cao (computer, máy định vị) Vì vậy có thể đạt chất lượng cao Bêncạnh độ chính xác tốt, phương pháp này cho phép quan sát hình ảnh do đó cóthể đánh giá tác động một cách cụ thể, một cách nhìn bao quát Phương phápnày thường được áp dụng khi đánh giá tác động môi trường cho dự án quyhoạch chi tiết, QHSDĐ, nông lâm nghiệp, đất đô thị và giao thông
2.2.3.4 Phương pháp phân tích chi phí- lợi ích mở rộng
Phương pháp này giúp cho cân đối sử dụng nguồn tài nguyên thiênnhiên trong phát triển bền vững
Tất cả mọi phân tích chi phí - lợi ích phải được tính toán sẵn trước khithực hiện dự án, những kết quả tính toán đó sẽ giúp cho nhà quản lý hiểu rõ,hình dung ra hoạt động để quyết định cho phép hay không Đây là phươngpháp ĐTM cho thấy tính khả thi có hay không
Sử dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích mở rộng phải tính toánthực hiện cho toàn bộ dự án sau này sẽ hoạt động (ví dụ 30 năm) Tốt nhất làtính toán cho từng giai đoạn trong đó rồi tiến hành tổng hợp cho toàn bộ
2.3 Những nghiên cứu về đánh giá tác động xã hội, tác động môi
trường trong các phương án quy hoạch phát triển
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
- Trên thế giới ĐTM được biết đến đầu tiên ở Mỹ từ năm 1969 Việc rađời các Đạo luật chính sách môi trường ở Mỹ là điều dễ hiểu bởi đây là cường
Trang 31quốc có nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới Sự ra đời Đạo luật này vớinhững quy định về ĐTM đã góp phần giải quyết và hạn chế các tác động bấtlợi đến môi trường do hoạt động KTXH gây nên Trong đạo luật chính sáchmôi trường của Mỹ quy định hai vấn đề chính là tuyên bố về chính sách môitrường quốc gia và thành lập hội đồng chất lượng môi trường Chính hội đồngnày đã xuất bản tài liệu quan trọng hướng dẫn về nội dung báo cáo ĐTM năm
1973 Với sự ra đời của Đạo luật chính sách môi trường Mỹ, mục tiêu, ýnghĩa, thủ tục thi hành ĐTM đã được xác định bằng văn bản [11]
Bảng 2.1 Yêu cầu chính thức đối với ĐTM ở các nước
19881973197919911989Đang chuẩn bị1976
197519861972Đang chuẩn bịĐang chuẩn bị1982
19881988
Nhật Hàn QuốcLuých xăm buaMalaixia
Hà Lan
Na UyPakistanPhilippin
Ba Lan
Bồ Đào NhaSingapoTây Ban NhaSrilankaThụy ĐiểnThụy SỹĐài LoanThái LanMỹ
197219811990198519861991Đang chuẩn bị1977
1989198719721986Đang chuẩn bị1987
1983197919841969
Nguồn: Alan Gilipin 1995 [29].
Trang 32- Sau Mỹ, ĐTM đã đươc áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới Nhómcác nước sớm thực hiện công tác này là Nhật Bản, Singapo, Hồng Kông(1972), tiếp đến là Canada (1973), Úc (1974), Đức (1975), Pháp (1976),Philippin (1977), Trung Quốc (1979) Như vậy, không phải chỉ có các nướclớn có nền công nghiệp phát triển mà ngay cả các nước nhỏ, đang phát triểncũng đã nhận thức được các vấn đề về môi trường và vai trò của ĐTM
Nhiều nước đã ban hành Luật hoặc các quy định về công tác bảo vệ môitrường nói chung và ĐTM nói riêng
- Ngoài các quốc gia, các tổ chức thế giới cũng rất quan tâm đến côngtác ĐTM Trong đó, các tổ chức đóng góp nhiều nhất cho công tác này như:
+ Ngân hàng thế giới (WB)
+ Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
+ Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID)
+ Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP)
Các ngân hàng lớn đã có những hướng dẫn cụ thể đối với ĐTM các dự
án vay vốn của mình Tiếng nói của các ngân hàng trong trường hợp này rất
có hiệu lực vì họ nắm trong tay nguồn tài chính mà các dự án rất cần cho sựđầu tư của mình Một công việc mà các tổ chức này thực hiện rất có hiệu quả
là mở các khóa học ĐTM ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nướcđang phát triển [11]
- Ở liên minh Châu Âu, hội đồng Châu Âu đã dự thảo hướng dẫn ĐMCvới cấu trúc tương tự như ĐTM cho các dự án cụ thể, song chưa được cácnước thành viên thống nhất Hà Lan là nước có cách tiếp cận thận trọng nhấtđối với ĐMC về các chính sách xử lý chất thải và công nghiệp quốc gia ỞVương quốc Anh khi phát triển các chính sách, các vấn đề môi trường đãđược quan tâm cùng với các phân tích về KTXH Mỹ, Canada và New Ziland
đã có ĐTM cho các chương trình, còn ở Ôtrâylia đã có hướng dẫn cho ĐMC
Trang 33Ở các nước đang phát triển việc lồng ghép các vấn đề môi trường vào chínhsách, quy hoạch, kế hoạch, chương trình còn rất hạn chế Song, trong khoảng
3 – 5 năm trở lại đây việc xem xét ảnh hưởng đến môi trường của các hoạtđộng của cấp dự án cụ thể do các cơ quan tài trợ, cho vay hoặc các chính phủnước ngoài giúp đỡ về tài chính đã tăng lên đáng kể [11]
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hoạt động ĐTM được hình thành muộn hơn so với thếgiới Tuy nhiên, từ đầu những năm 80, nhiều nhà khoa học Việt Nam đã tiếpcận công tác ĐTM thông qua các hội thảo khoa học và các khóa đào tạo.Chính phủ Việt Nam cũng sớm nhận thức được tầm quan trọng của vấn đềbảo vệ môi trường và ĐTM nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan và
cá nhân tiếp cận các lĩnh vực này Đầu những năm 80, một nhóm các nhàkhoa học môi trường Việt Nam, đứng đầu là GS Lê Thạc Cán đã đến trungtâm Đông – Tây ở Ha-oai nước Mỹ nhằm nghiên cứu về Luật, chính sách môitrường nói chung và ĐTM nói riêng [11]
Trong thời gian từ năm 1978 đến năm 1990, nhà nước ta đã đầu tư vàonhiều chương trình điều tra cơ bản như chương trình điều tra cơ bản vùng TâyNguyên, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, các tỉnh giáp biển miền Trung Các kết quả và số liệu thu được từ các chương trình này sẽ là cơ sở quan trọngcho công tác ĐTM sau này Sau đó cùng với sự đầu tư của các tổ chức quốc tếnhiều khóa học về ĐTM được mở ra Tham gia đào tạo ở các khóa học này,ngoài các nhà khoa học trong nước còn có các chuyên gia nước ngoài Mụcđích các khóa học này là đào tạo ra đội ngũ có hiểu biết về các lĩnh vực môitrường, sẵn sàng tham gia thực hiện công tác ĐTM sau này [11]
Sau năm 1990, Nhà nước ta cho tiến hành chương trình nghiên cứu môitrường mang mã số KT 02, trong đó có một đề tài nghiên cứu trực tiếp vềĐTM, đề tài mang mã số KT 02-16 do GS Lê Thạc Cán chủ trì Trong khuôn
Trang 34khổ đề tài này, một số báo cáo ĐTM mẫu đã được lập, đáng chú ý nhất làĐTM Nhà máy giấy Bãi Bằng và ĐTM công trình thủy lợi Thạch Nham Mặc
dù chưa có Luật bảo vệ môi trường và các điều luật về ĐTM, song từ nhữngnăm này Nhà nước ta đã yêu cầu một số dự án phải có ĐTM, chẳng hạn nhưcông trình thủy điện Trị An, nhà máy lọc dầu Thành Tuy Hạ [11]
Một loạt các cơ quan nghiên cứu và quản lý môi trường đã được thànhlập như Cục môi trường trong Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay
là Bộ TN&MT), các Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường, các Trung tâm,Viện Môi trường Các cơ quan trên sẽ trực tiếp đảm nhận công tác lập báo cáoĐTM và tiến hành thẩm định các báo cáo này
Từ năm 1994 đến năm 1998, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trườngcũng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn ĐTM, tiêu chuẩn môi trường, gópphần đưa công tác ĐTM ở Việt Nam dần đi vào nề nếp và có giá trị thực tiễncao trong phát triển kinh tế đi đôi với việc bảo vệ môi trường và phát triểnbền vững [11]
Tổng số các báo cáo ĐTM đã được thẩm định và phê duyệt trong vòng
10 năm vào khoảng trên 800 báo cáo ĐTM của các dự án và các cơ sở đanghoạt động, trong đó: giai đoạn từ năm 1994 đến năm 1999 khoảng 45% vàgiai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004 khoảng 55%
Trong số các báo cáo ĐTM và bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường
đã được thẩm định phê duyệt khoảng hơn 26.000 báo cáo (không kể bản kêkhai của các cơ sở đang hoạt động theo quy định của Thông tư số 1420-MTgngày 26 tháng 11 năm 1994 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trườnghướng dẫn ĐTM đối với các cơ sở đang hoạt động), trong đó: giai đoạn từnăm 1994 đến năm 1999 khoảng 25% và giai đoạn từ năm 2000 đến năm
2004 khoảng 75%
Dự án “Điều tra xác định các yếu tố môi trường cơ bản phục vụ xâydựng các chỉ tiêu môi trường trong công tác quản lý và quy hoạch sử dụng đất
Trang 35đai” được thực hiện từ năm 2005-2007 Theo quyết định số BTNMT ngày 16/12/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Các tác giảtrong nhóm nghiên cứu dự án đã đưa ra được những kết quả nghiên cứu bướcđầu về các yếu tố môi trường trong QHSDĐ Đó là những gợi ý và đề xuấtviệc lựa chọn, lồng ghép các yếu tố môi trường khi thực hiện QHSDĐ.PGS.TS Nguyễn Đình Mạnh cùng tập thể tác giả trong nhóm nghiên cứu dự
1832/QĐ-án cũng đã cho xuất bản cuốn sách “Các yếu tố môi trường trong sử dụng đấtbền vững”, làm tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà quản lý, nhà quy hoạchtrong công tác lập, xét duyệt và tổ chức thực hiện dự án QHSDĐ các cấp
Trang 363 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề về tự nhiên, KTXH có liên quan đến công tác quản lýđất đai, sử dụng đất đai
- Người sử dụng đất
- Việc thực hiện chính sách về quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn
3.2 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn đề tài
3.2.1 Phạm vi nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu tình hình quản lý, sử dụng đất trên địa bàn thị xã
Từ Sơn từ năm 2003 đến nay
3.2.2 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu đánh giá việc thực hiện công tác quản lý sửdụng đất đai theo 3 nội dung chính trong 13 nội dung quản lý nhà nước về đấtđai theo Luật đất đai 2003 Đó là:
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quản lý việc giao đất cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sửdụng đất
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trườngbất động sản
Từ đó đánh giá tác động xã hội và tác động môi trường trên địa bàn thị
xã Từ Sơn
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, KTXH của thị xã Từ Sơn
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn, các nguồn tàinguyên (tài nguyên đất, tài nguyên nước), môi trường sinh thái
Trang 37- Thực trạng phát triển KTXH: Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch kinh tế,thực trạng phát triển các ngành kinh tế, dân số, lao động, việc làm, thu nhập.
3.3.2 Đánh giá tác động xã hội của công tác quản lý sử dụng đất theo 3
nội dung chính
- Tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Tình hình thực hiện giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mụcđích sử dụng đất
- Tình hình quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thịtrường bất động sản
- Đánh giá tác động xã hội của công tác quản lý sử dụng đất đến vấn đề
an toàn lương thực, công ăn việc làm, đời sống người dân
3.3.3 Đánh giá tác động của việc chuyển mục đích sử dụng đất xây dựng
KCN đến môi trường thị xã Từ Sơn
- Đánh giá khái quát về môi trường thị xã Từ Sơn khi hình thành, pháttriển các khu, cụm công nghiệp và làng nghề
- Đánh giá ảnh hưởng của một số khu cụm công nghiệp tới môi trường
3.3.4 Đề xuất một số giải pháp khắc phục những tác động tiêu cực đến
những vấn đề xã hội và môi trường.
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu.
* Điều tra, thu thập tài liệu số liệu thứ cấp được lấy từ nguồn: số liệuthống kê của các cơ quan, ban ngành trong thị xã và các địa phương, để nắmtình hình tổng quát về điều kiện tự nhiên KTXH của thị xã Từ Sơn, tình hìnhquản lý, sử dụng đất đai
- Điều tra tình hình giao đất cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích
sử dụng đất thực hiện các dự án xây dựng các KCN, làng nghề, kết cấu hạtầng xã hội và các công trình công cộng
Trang 38* Khảo sát thực địa bổ sung xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất,quan sát môi trường.
- Điều tra, phỏng vấn các hộ gia đình ở các địa phương có nhiều KCN,làng nghề : Đình Bảng, Châu Khê, Đồng Nguyên, Tân Hồng Số lượng mẫuđược điều tra là 90 hộ Các thông tin điều tra được chuẩn bị theo bộ câu hỏisoạn sẵn (xem phần phụ lục)
3.4.2 Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp tài liệu
- Thống kê các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, KTXH có liênquan đến việc quản lý sử dụng đất đai
- Kết hợp các yếu tố định tính với định lượng, các vấn đề vi mô và vĩ
mô trong phân tích, đánh giá các vấn đề liên quan trong quản lý sử dụng đất
3.4.3 Phương pháp kế thừa và chọn lọc tài liệu
Trong điều kiện giới hạn nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đề cậpđến một số chỉ tiêu về môi trường bị ảnh hưởng bởi quá trình quản lý, thựchiện QHSDĐ của thị xã Từ Sơn
Các tài liệu được kế thừa từ các kết quả nghiên cứu đã có trên địa bànthị xã Từ Sơn gồm có :
- Báo cáo Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất huyện Từ Sơn thời kỳ2002- 2010
- Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bắc Ninh năm 2008
- Báo cáo kết quả thực hiện chỉ thị số 09/2007/CT-TTg về tăng cườngquản lý sử dụng đất của các quy hoạch và dự án đầu tư trên địa bàn huyện TừSơn năm 2008
3.4.4 Phương pháp lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá
- Phương pháp này được sử dụng để lựa chọn một số chỉ tiêu đánh giá
cơ bản về xã hội: chỉ tiêu về an toàn lương thực, công ăn việc làm, đời sốngngười dân Về môi trường: ô nhiễm nguồn nước, đất nhằm đưa ra những
Trang 39giải pháp trong quản lý, sử dụng đất đáp ứng mục tiêu, chiến lược phát triểnKTXH của địa phương.
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu và minh hoạ trên bản đồ
- Bản đồ hiện trạng của thị xã sẽ được xây dựng bằng các phần mềmchuyên dụng về đo vẽ bản đồ như: MicroStation, thể hiện nội dung theo tỷ lệbản đồ thích hợp
- Việc phân tích và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel
Trang 404 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, KTXH thị xã Từ Sơn có liên quan
đến đề tài
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Thị xã Từ Sơn nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm tỉnh 13
km về phía Tây Nam, cách thủ đô Hà Nội 18 km về phía Đông Bắc Toạ độđịa lý của thị xã nằm trong khoảng:
Từ 21005’50” đến 21010’05” độ vĩ bắc
Từ 105056’00” đến 106000’00” độ kinh đông
- Phía Bắc giáp huyện Yên Phong
- Phía Nam giáp huyện Gia Lâm - TP.Hà Nội
- Phía Đông: giáp huyện Tiên Du
- Phía Tây: giáp huyện Gia Lâm, Đông Anh - TP.Hà Nội
Diện tích tự nhiên 6.133,23ha, tổng dân số là 135.167 người mật độ dân
số là 2.203 người/km2
Thị xã Từ Sơn- tỉnh Bắc Ninh có 12 đơn vị hành chính bao gồm: 7 phường(Đông Ngàn, Đình Bảng, Châu Khê, Tân Hồng, Đồng Nguyên, Trang Hạ, ĐồngKỵ) và 5 xã (Hương Mạc, Phù Chẩn, Phù Khê, Tam Sơn, Tương Giang)
- Địa bàn thị xã có Quốc lộ 1A, 1B và đường sắt Hà Nội - Lạng Sơnchạy qua Việc đầu tư xây dựng, mở rộng nâng cấp tỉnh lộ 287 nối QL1A vớiQL38 và thông thương với sân bay quốc tế Nội Bài là cơ hội mới để Từ Sơntiếp cận nhanh hơn với các địa phương trong nước và quốc tế
- Hệ thống các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ cùng với hệ thống các tuyếnđường nội thị hình thành nên mạng lưới giao thông rất thuận lợi, tạo cho thị
xã có thế mạnh trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa và tiêu thụ sản phẩm