1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang

66 412 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 26,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại học sư phạm hà Nội 2 Khoa Sinh - KTNN --- Đỗ Thị Quyên đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng Vân, xã Vân Hà, huy

Trang 1

Trường Đại học sư phạm hà Nội 2

Khoa Sinh - KTNN

-

Đỗ Thị Quyên

đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại

làng Vân, xã Vân Hà, huyện Việt Yên

tỉnh Bắc Giang

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: Môi trường

Người hướng dẫn khoa học

TS Hoàng Nguyễn Bình ThS Nguyễn Văn Hiếu

Hà Nội – 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thày giáo TS Hoàng Nguyễn

Bình và thày giáo ThS Nguyễn Văn Hiếu, cán bộ giảng dạy Khoa Sinh - KTNN, trường ĐHSP

Hà Nội 2 - người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành đề tài này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy cô trong Khoa Sinh - KTNN, đặc biệt là các thày cô trong tổ Động vật đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài này

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài này

Do thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp từ phía các thầy cô và các bạn để giúp đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2011

Tác giả khóa luận

Đỗ Thị Quyên

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Để đảm bảo tính trung thực của đề tài tôi xin cam đoan như sau:

1 Đề tài của tôi không hề sao chép từ bất kì đề tài nào có sẵn

2 Đề tài của tôi không trùng với bất kì đề tài nào khác

3 Kết quả thu được trong đề tài là do nghiên cứu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, chính xác

và trung thực

Đề tài này là một phần của công trình: “Thực trạng sản xuất rượu truyền thống tại làng

Vân, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Một số vấn đề về môi trường và giải pháp khắc phục” tham dự cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu khoa học và Sáng tạo trẻ VIFOTEC

Hà Nội, ngày tháng năm 2011

Tác giả khóa luận

Đỗ Thị Quyên

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Điểm mới của đề tài 2

4 Ý nghĩa của đề tài 3

NÔI DUNG 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Sơ bộ tình hình làng nghề ở Việt Nam 4

1.2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam 5

1.3 Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước tại các làng nghề ở Việt Nam 6

1.4 Các nghiên cứu về đánh giá tác động tới môi trường của các làng nghề tại Việt Nam 7

1.5 Các bài báo về môi trường, sức khỏe và đời sống 8

1.6 Đề tài nghiên cứu đề cập tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng Vân tới môi trường và sức khỏe người dân 8

1.7 Sơ lược điều kiện tự nhiên và xã hội xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang 9

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

2.1 Đối tượng nghiên cứu 12

2.2 Địa điểm nghiên cứu 12

2.3 Thời gian nghiên cứu 12

2.4 Phương pháp nghiên cứu 12

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 13

3.1 Sơ lược quá trình sản xuất rượu tại làng Vân 13

3.1.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển của nghề nấu rượu Vân 13

3.1.2 Quá trình sản xuất rượu tại làng Vân 14

3.2 Ảnh hưởng của quá trình nấu rượu đến môi trường nước và con người làng Vân 17

3.2.1 Ô nhiễm môi trường nước 18

3.2.2 Hậu quả của ô nhiễm nguồn nước tại làng Vân 26

Trang 5

3.3 Một số giải pháp của người dân và các cơ quan chức năng trước vấn đề ô nhiễm môi

trường tại làng Vân 31

3.3.1 Giải pháp của người dân làng Vân 31

3.3.2 Giải pháp của chính quyền địa phương 31

3.3.3 Giải pháp của huyện Việt Yên 32

3.3.4 Giải pháp của UBND tỉnh Bắc Giang 32

3.4 Giải pháp của đề tài 33

3.4.1 Giải pháp tạm thời về vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại làng Vân 33

3.4.2 Giải pháp lâu dài về vấn đề ô nhiễm môi trường tại làng Vân 37

3.4.3 Giải pháp hỗ trợ giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất rượu Vân tới sức khỏe con người 39

3.4.4 Kết luận 41

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

PHỤ LỤC 45

Trang 6

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

BOD Biological Oxigen Demand (Nhu cầu OXH Sinh học)

COD Chemical Oxigen Demand (Nhu cầu OXH hóa học)

DO Dissolved Oxigen (Oxi hòa tan)

TN & MT Tài nguyên và môi trường

TT YT DP Trung tâm Y tế dự phòng

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Lượng nước sử dụng trong quá trình sản xuất rượu 20

Bảng 3.2: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt 22

Bảng 3.3: Kết quả phân tích chất lượng nước sinh hoạt 24

Bảng 3.4: Chỉ số một số loại vi sinh vật trong một số loại rau ăn 25

Bảng 3.5: Tỉ lệ người dân mắc một số bệnh 29

Bảng 3.6: Tỉ lệ phụ nữ bị mắc bệnh phụ khoa 30

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 3.1: Quy trình sản xuất rượu Vân và sản phẩm thải 15

Hình 3.2: Mối quan hệ giữa quy trình sản xuất rượu với môi trường và con người 18

Hình 3.3: Mối quan hệ giữa nguồn thải và môi trường nước tại làng Vân 19

Hình 3.4: Mô hình xử lí nước thải 33

Hình 3.5: Mô hình bể lọc nước dân dụng 36

Hình 3.6: Mô hình quy hoạch tập chung các hộ gia đình sản xuất rượu tạo cụm công nghiệp 37

Trang 9

Hàng trăm năm nay, nghề nấu rượu đã gắn bó mật thiết với người dân làng Vân, tỉnh Bắc Giang Nghề nấu rượu không chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho đại đa số người dân trong làng mà còn trở thành một thương hiệu rượu nổi tiếng khắp trong và ngoài nước

Làng Vân thuộc thôn Yên Viên, xã Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang nơi có truyền thống nấu rượu từ lâu đời (gọi là rượu làng Vân hay rượu Vân) Rượu Vân được nấu bằng thứ gạo nếp cái hoa vàng hoặc gạo tẻ cùng với loại men Bắc 35 hoặc 38 vị đặc biệt, thêm vào đó là kỹ thuật ủ thủ công mang tính chất

bí truyền dòng họ đã tạo nên một thứ rượu có hương vị đậm đà mà khi uống người ta không thể nhầm lẫn với các thứ rượu khác Chính vì vậy vua Trần

Hy Tông (1703) đã sắc phong cho rượu Vân bốn chữ vàng “Vân hương mỹ tửu”

Trước đây, làng Vân nấu rượu với nguyên liệu là gạo, nhưng từ những năm 70 của thế kỷ XIX, lúc đó nước Việt Nam đang trong thời kì Pháp thuộc

và rượu là một thứ hàng cấm không được phép sản xuất và lưu hành Chính vì vậy để bảo tồn và duy trì nghề nấu rượu truyền thống của cha ông, người dân làng Vân thực hiện việc nấu rượu với quy mô nhỏ và thay đổi quy trình sản xuất với nguyên liệu mới không phải là gạo mà là sắn, ngô và khoai (trong đó sắn là nguyên liệu chủ yếu) Việc nấu rượu bằng những nguyên liệu không phải là gạo vẫn được duy trì cho tới ngày nay

Trang 10

Tuy nhiên hiện nay, làng Vân có khoảng 80% hộ dân sống bằng nghề nấu rượu (70% là nấu rượu sắn và 10% nấu rượu gạo) với 100% hộ gia đình nấu rượu bằng công nghệ thủ công, lạc hậu, sản xuất trên quy mô hộ gia đình, không có sự đầu tư trang thiết bị Song song với việc đem lại lợi ích kinh tế, hoạt động sản xuất rượu cũng gây nên những tác động xấu tới môi trường tự nhiên và xã hội do việc tạo ra các chất thải độc hại, trong đó những chất thải độc hại được thải trực tiếp vào môi trường mà không qua bất kì một hình thức

xử lí nào Chính vì vậy, môi trường tự nhiên và xã hội nơi đây đang bị ô nhiễm trầm trọng và ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng cuộc sống của người dân mà hiện nay người dân và chính quyền chưa có phương hướng giải quyết khắc phục Mặt khác, việc người dân tận dụng các sản phẩm thừa của hoạt động sản xuất rượu vào chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng đã và đang ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của họ Đặc biệt môi trường nước nơi đây đang bị ô nhiệm trầm trọng

Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá tác động tiêu cực tới môi

trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng Vân, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang” để hiểu rõ hơn về hoạt động sản

xuất rượu tại làng Vân hiện nay, hoạt động đó có ảnh hưởng tới môi trường nước như thế nào và một số giải pháp khắc phục

2 Mục tiêu của đề tài

Đề tài này được tiến hành nhằm các mục tiêu sau:

­ Tìm hiểu thực trạng việc sản xuất rượu tại làng Vân, thôn Yên Viên, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

­ Tìm hiểu quy trình sản xuất rượu của làng Vân

­ Đánh giá mức độ ảnh hưởng của quá trình sản xuất rượu tại làng Vân tới môi trường nước

­ Đưa ra những giải pháp nhằm giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực của quá trình sản xuất rượu tới và môi trường nước mà vẫn đảm bảo việc duy trì hoạt động sản xuất

Trang 11

3 Điểm mới của đề tài

­ Đây là công trình đầu tiên đánh giá những tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất rượu Vân tới môi trường nước

­ Đề tài đưa ra những giải pháp góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình nấu rượu tới môi trường nước tại làng Vân

­ Giải pháp mà đề tài đưa ra đã được kiến nghị với chính quyền địa phương, được địa phương phổ biến cho người dân và đang từng bước được người dân áp dụng thực hiện

4 Ý nghĩa của đề tài

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ bộ tình hình làng nghề ở Việt Nam

Hầu hết các làng nghề ở nước ta được hình thành từ rất lâu nhưng thời gian gần đây nhiều làng nghề đã được hồi sinh và phát triển Có được điều này là nhờ vào chủ trương khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống

do Đảng và Nhà nước khởi xướng Trong vòng 10 năm trở lại đây, cùng với

sự hỗ trợ từ các nguồn ngân sách của Nhà nước (thông qua nguồn vốn vay ưu đãi) và việc mở rộng thị trường, cơ chế thông thoáng đã tạo điều kiện cho làng nghề phát triển nhanh chóng với tốc độ 8%/năm và mỗi năm việc xuất khẩu hàng hóa ở các làng nghề đạt khoảng 600 triệu USD

Theo số liệu thống kê của tổ chức Hội nông dân các cấp, năm 2006 cả nước có 2017 làng nghề và phân bố ở 64 tỉnh thành trong cả nước

Các làng nghề phân bố ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam, đặc biệt là khu vực phía Bắc chiếm 70% số lượng làng nghề hiện có Nhìn chung, quy mô làng nghề vẫn là hộ gia đình với tỷ lệ khoảng 80%

Các làng nghề Việt Nam phát triển khá đa dạng với nhiều loại hình và mặt hàng như thủ công mỹ nghệ, dệt nhuộm, đồ da, tái chế phế liệu, chế biến nông sản thực phẩm… Trong đó các làng nghề thủ công mỹ nghệ chiếm ưu thế Nhiều sản phẩm của các làng nghề truyền đã tạo được chỗ đứng trên thị trường như gốm sứ Bát Tràng, giấy Yên Hòa, dệt Triều Khúc, khảm gỗ Đồng

Kỵ (Bắc Ninh), mây, tre đan, chiếu cói (Hưng Yên, Thái Bình)…đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng đặc biệt là khách nước ngoài Nhiều sản phẩm thủ công của các làng nghề dự thi ở các cuộc triển lãm quốc tế cũng đạt thứ hạng cao như: giải Công vàng châu Âu cho đồ gỗ mỹ nghệ Phù Khê, Huy chương Vàng cho gốm sứ Đông Thành

Nhưng hiện nay, phần lớn các làng nghề sản xuất đang bị ô nhiễm môi trường ở những mức độ khác nhau Do việc sản xuất không đi kèm với biện pháp xử lí chất thải, nên tại các làng nghề, môi trường đang bị ô nhiễm trầm

Trang 13

trọng, ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân trong làng và các làng lân cận, tỉ

lệ bệnh tật tại các làng này thường cao hơn các làng khác 10 - 12% [16]

1.2 Hiện trạng ô nhiễm tại các làng nghề ở Việt Nam

Song song với lợi ích kinh tế từ việc sản xuất thì tình trạng ô nhiễm tại các lành nghề cũng gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là các làng nghề lâu năm Sự ô nhiễm của các làng nghề có những đặc điểm sau:

­ Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề là dạng ô nhiễm môi trường cục

bộ trên phạm vi một khu vực nông thôn (thôn, làng)

­ Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề mang đậm nét đặc thù của hoạt động sản xuất theo ngành nghề và loại hình sản phẩm và tác động trực tiếp tới môi trường nước, không khí, đất trong khu vực dân sinh

Tùy theo tính chất của từng loại làng nghề mà loại chất thải gây ô nhiễm môi trường cũng khác nhau Chẳng hạn làng nghề làm bánh đa nem Thổ Hà (tỉnh Bắc Giang) mỗi ngày thải ra hàng tấn nước thải có hàm lượng chất hữu

cơ cao, đặc biệt là tinh bột Ở làng Vân, Bắc Giang việc sản xuất rượu mỗi ngày tiêu tốn hàng chục tấn than bùn và than tổ ong, từ đó thải ra môi trường hàng ngàn tấn khí thải các loại

Ở một số làng nghề giấy, như làng nghề giấy Phong Khê (tỉnh Bắc Ninh), các cơ sở sản xuất có nồng độ bụi vượt quá tiêu chuẩn Việt Nam từ 1,2 - 3,9 lần, có nơi nồng độ bụi lên tới 1,16 mg/m3

Chính môi trường sản xuất ô nhiễm đã làm cho sức khỏe của người dân tại các làng nghề bị ảnh hưởng nghiêm trọng Điển hình như ở Bát Tràng qua

số liệu khảo sát sức khỏe của 223 người dân thì có tới 76 người mắc bệnh về đường hô hấp, 23 người bị lao Năm 1995 có 23 người bị chết vì ung thư, cư dân làng này chiếm tới 70% số bệnh nhân bị ung thư trong các bệnh viện Hà Nội năm 1996 [16]

Thêm vào đó, ý thức bảo hộ lao động của người dân sản xuất tại làng nghề còn thấp Trong quá trình sản xuất, người lao động chưa được trang bị hoặc trang bị thiếu các dụng cụ bảo hộ lao động nên tai nạn lao động xảy ra khá thường xuyên Như ở làng nghề kim khí Thanh Thùy, chuyện mất ngón

Trang 14

tay, ngón chân, bỏng… là chuyện bình thường hay chuyện ngất lâm sàn trong lúc làm việc cũng dần trở nên phổ biến.Chính vì vậy nâng cao ý thức về bảo

hộ lao động của người lao động tại các cơ sở sản xuất ở làng nghề là điều hết sức cần thiết

Mặc dù tình trạng ô nhiễm môi trường ở làng nghề được cảnh báo từ nhiều năm qua, các nhà môi trường, khoa học, các cơ quan chính quyền đã vào cuộc nhưng những phương án, kế hoạch xử lý ô nhiễm vẫn chưa được triển khai rộng rãi, mới chỉ dừng lại ở mức thí điểm hay điều tra, khảo sát Từ thực trạng trên cho thấy tình trạng môi trường ở làng nghề vẫn đang là một bức xúc lớn, đòi hỏi phải được giải quyết đồng bộ và hiệu quả [16]

1.3 Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước tại các làng nghề ở Việt Nam

Kết quả khảo sát tại các làng nghề tại Việt Nam cho thấy tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ngày càng tăng, đặc biệt là ô nhiễm môi trường nước đang trong tình trạng báo động

Tháng 4 năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiến hành khảo sát tại

52 làng nghề trong cả nước, trong đó 46% nguồn nước ở các làng nghề bị ô

nhiễm nặng và 27% bị ô nhiễm vừa và nhẹ

Hầu hết các làng nghề bị ô nhiễm trầm trọng nguồn nước mặt, với hàm lượng BOD, COD, SS trong nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần

Tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm như Dương Liễu, La Phù (huyện Hoài Đức, TP Hà Nội), nguồn nước mặt nhiều nơi có hàm lượng COD, BOD5, NH4+, Coliform vượt hàng chục lần đến hàng trăm lần cho phép Nước mặt ở các làng nghề dệt nhuộm cũng bị ô nhiễm nặng: COD cao hơn 2 -

3 lần so với tiêu chuẩn cho phép, BOD5 cao hơn 1,5 - 2,5 lần; hàm lượng Coliform cũng khá cao Các làng nghề mây tre đan như Phú Vinh (huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội) cũng bị ô nhiễm nguồn nước Mây, tre phải ngâm trong nước hơn nữa quy trình gia công xử lý gây phát sinh nước thải có chứa nhiều lignin và các chất hữu cơ dẫn đến nước mặt ở đây đã có hàm lượng COD, BOD5, NH4+, Coliform đều cao vượt tiêu chuẩn nhiều lần

Trang 15

Đáng lo ngại nhất là các làng nghề dệt nhuộm, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ Ở những làng nhề này, lượng nước thải lớn với hàm lượng chất gây ô

nhiễm cao vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần: COD vượt từ 2,7 - 6,3 lần,

BOD vượt từ 2,6 - 4,8 lần, SS vượt từ 1 - 3 lần Các làng nghề chạm bạc do công nghệ có sử dụng một lượng axít để gia công bề mặt kim loại nên nước thải có hàm lượng chất độc cao như CN, Zn Đặc biệt, các làng nghề tái chế chất thải gây ô nhiễm nhiều nhất, nước thải ở các làng nghề này luôn chứa hàm lượng chất độc hại cao hơn nhiều lần tiêu chuẩn cho phép [15], [16], [17], [18]

Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại

1.4 Các nghiên cứu về đánh giá tác động môi trường của các làng nghề ở Việt Nam

Sự phát triển của các làng nghề truyền thống đem lại một nguồn thu nhập đáng kể cho những người dân vùng nông thôn (có nơi đây là nguồn thu nhập chính của người dân lao động) Chính vì vậy, mặc dù mục tiêu đến năm 2020, đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại nhưng Đảng và Nhà nước ta cũng không thể bỏ qua lợi ích của những hoạt động sản xuất thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề truyền thống Tuy nhiên bên cạnh việc đem lại những lợi ích về kinh tế, các làng nghề truyền thống đang đứng trước những thử thách, khó khăn do cơ sở vật chất hạ tầng yếu kém, kỹ thuật thủ công lạc hậu, thiếu vốn đầu tư…, nên hiệu quả kinh tế chưa cao và khó cạnh tranh với các ngành nghề hiện đại khác Thêm vào đó các sản phẩm thải của quá trình sản xuất thường được thải trực tiếp vào môi trường và chưa qua xử lí cũng gây nên những tác động tiêu cực không nhỏ đến môi trường và sức khỏe của con người

Chính vì vậy có rất nhiều đề tài nghiên cứu sự tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất tại các làng nghề truyền thống tới môi trường tự nhiên và xã

Trang 16

hội đồng thời đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực đó,

cụ thể:

Nghiên cứu tại các làng nghề truyền thống của Việt Nam như: làng nghề gốm, bánh nem, bánh tráng của Thổ Hà -Vân Hà -Việt Yên - Bắc Giang cho thấy tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề này ngày càng gia tăng với nhiều thông số môi trường đáng báo động [7], [14], [19], [20]

Theo nghiên cứu tại làng nghề làm giấy Phú Lâm và Phong Khê (tỉnh Bắc Ninh), các thông số môi trường tại đây đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép tới hàng chục lần (hàm lượng bụi vượt quá tiêu chuẩn cho phép tới 4,5 lần) [2]

1.5 Các bài báo về môi trường, sức khỏe và đời sống

Có rất nhiều các bài báo đề cập tới vấn đề môi trường tại các làng nghề và ảnh hưởng của nó tới chất lượng cuộc sống Báo cáo của Cục Y tế dự phòng huyện Việt Yên về tác động tiêu cực của quá trình sản xuất bánh tráng của làng Thổ Hà - Bắc Giang cho thấy hiện trạng ô nhiễm môi trường ở đây rất nghiêm trọng, kéo theo đó là hàng loạt các bệnh tật ngày càng gia tăng

Các bài viết về ô nhiễm môi trường trên báo Sức khỏe và đời sống hàng tháng năm 2008 và 2009; hay một số bài khác trên báo Bắc Ninh năm 2009 cũng cho thấy phần nào những tác động tiêu cực tới môi trường ở các làng nghề truyền thống [4], [5], [8]

1.6 Đề tài nghiên cứu đề cập tới tác động tiêu cực của hoạt động nấu rượu tại làng Vân - Vân Hà - Việt Yên - Bắc Giang tới môi trường và sức khỏe người dân

Về những tác động tiêu cực của hoạt động nấu rượu tại làng Vân tới môi trường và sức khỏe người dân trong vùng, chúng tôi thấy đã có một vài đề tài nghiên cứu và bài báo phản ánh các vấn đề bức xúc đó:

Đề tài nghiên cứu sức khỏe trẻ em tại làng Vân - Bắc Giang với bệnh hô hấp cấp, được thực hiện bởi Trung tâm y tế dự phòng huyện Việt Yên, kết hợp với Y tế xã Vân Hà cho thấy tỉ lệ trẻ em làng Vân mắc bệnh hô hấp rất cao, đặc biệt là trẻ sơ sinh Đề tài của Thạc sĩ Đặng Hùng thuộc phòng Y tế

dự phòng huyện Việt Yên về bệnh tiêu hóa tại làng Vân - Bắc Giang cũng cho

Trang 17

thấy các bệnh về đường tiêu hóa đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của người dân Số người mắc bệnh tiêu hóa trong quý II năm 2008 là rất cao, lên tới 78% [7]

Theo nguồn tin từ Internet: các bài báo tin tức của đài truyền hình Bắc Giang, báo VOV News của Đài tiếng nói Việt Nam đều phản ánh thực trạng ô nhiễm môi trường nước tại làng Vân, xã Vân Hà, Huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang [20]

1.7 Sơ lược điều kiện tự nhiên và xã hội xã Vân Hà - Việt Yên - Bắc Giang

1.7.1 Vị trí địa lí

Vân Hà là một xã nằm ở phía Tây Nam của huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang cách trung tâm huyện 12 km và cách Thành phố Bắc Giang 22 km Con đường bộ duy nhất là con đường liên xã Vân Hà - Tiên Sơn và đi lên trung tâm huyện Còn lại Vân Hà có 3 mặt giáp sông (sông Cầu) chính vì vậy ở đây sớm xuất hiện việc giao thương - buôn bán bằng đường thủy (hình phụ lục 12, 13)

Xã Vân Hà bao gồm 3 thôn: thôn Yên Viên (làng Vân), thôn Thổ Hà và

thôn Nguyệt Đức

­ Phía Bắc giáp với xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên

­ Phía Nam giáp với xã Vạn An, huyện Yên Phong - Bắc Ninh

­ Phía Đông giáp với xã Hòa Long, huyện Yên Phong - Bắc Ninh

­ Phía Tây giáp với xã Tam Đa, huyện Yên Phong - Bắc Ninh

Làng Vân được chia làm 5 xóm, dọc theo chiêu dài của làng, được tính từ con đường liên xã Vân Hà - Tiên Sơn

1.7.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn

Khí hậu xã Vân Hà mang đặc điểm khí hậu miền Bắc Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều, một năm có hai mùa rõ rệt (mùa hè và mùa đông)

 Nhiệt độ:

­ Mùa hè nhiệt độ trung bình là 300C, nhiệt độ cao nhất 40,50C

­ Mùa đông nhiệt độ trung bình là 130C, nhiệt độ thấp nhất là 90C

Trang 18

­ Do sự nóng lên của toàn cầu nên những năm gần đây nhiệt độ của làng Vân cũng tăng theo

 Hệ thống thủy lợi:

Xã có sông Cầu chảy qua và được sông bao bọc bởi ba mặt thuộc phía Nam - Đông - Tây Hệ thống kênh mương đã được bê tông hóa, đáp ứng đủ những điều kiện tưới tiêu nông nghiệp của người dân

1.7.3 Điều kiện xã hội

 Dân cư:

Tổng số hộ dân của xã là 1953 gia đình và có 8352 nhân khẩu (tính năm 2009) Trong đó làng Vân có 930 hộ gia đình với 4222 nhân khẩu

 Tình hình sản xuất nông nghiệp, ngành nghề:

Tổng diện tích đất tự nhiên là 285,02 ha, trong đó đất nông nghiệp là 130

ha Tổng diện tích đất gieo trồng năm 2010 là 134 ha Trong đó lúa chiêm xuân 119,77 ha; lúa mùa muộn 102,98 ha, lúa mầu 8,62 ha Tổng sản lượng lương thực trung bình của làng Vân là 797,5 tấn

Xã có 4 ngành nghề chính: nấu rượu, làm bánh nem - bánh tráng, đánh bắt

- chăn nuôi thủy sản và làm ruộng - chăn nuôi

Làng Vân có nghề nấu rượu và làm ruộng là chủ yếu Trong đó thu nhập chính là từ nghề nấu rượu Thu nhập trung bình một tháng của một hộ gia đình vào khoảng 2.000.000 VNĐ (bảng phụ lục 6)

Trang 19

 Văn hóa:

Vân Hà là một xã có những làng nghề truyền thống điển hình của làng quê Việt Nam Ngoài hoạt động sản xuất nấu rượu của làng Vân; làm gốm, bánh tráng, bánh nem của làng Thổ Hà thì xã Vân Hà cũng có những nét văn hóa đặc sắc khác:

­ Rằm tháng giêng hàng năm làng Vân có lễ hội truyền thống, có đền thờ Đức Thánh Tam Giang

­ 21 - 23 tháng giêng làng Thổ Hà có lễ hội truyền thống và lễ hội giới thiệu sản phẩm sản xuất của làng và các làng lân cận, đồng thời có hội thi hát quan họ đặc sắc

­ Rằm tháng tư, cứ theo lệ 4 năm 1 lần làng Vân tổ chức hội đánh Cầu, một loại hình văn hóa phi vật thể đặc sắc thu hút được rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước (hình phụ lục 11)

Trang 20

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN,

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

­ Quy trình sản xuất rượu và sự ô nhiễm môi trường nước tại làng Vân

­ Sức khỏe của người dân làng Vân

2.2 Địa điểm nghiên cứu

­ Làng Vân, thôn Yên Viên, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

2.3 Thời gian nghiên cứu

­ Từ tháng 8/2008 đến tháng 12/2009

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Điều tra, khảo sát thực địa:

­ Xác định các thông số tự nhiên (độ ẩm, nhiệt độ, độ đục, màu sắc,…)

­ Điều tra lịch sử nghề nấu rượu bằng phát vấn hoặc sưu tầm tài liệu

­ Tìm hiểu quy trình sản xuất rượu xưa và nay

­ Xác định nguồn thải, bã thải, thành phần, nồng độ các chất được thải vào môi trường nước

­ Khảo sát tình hình sức khỏe người dân làng Vân trước tình trạng ô nhiễm nguồn nước

2.4.2 Phương pháp lý thuyết

­ Đánh giá tác động của hoạt động sản xuất rượu Vân tới môi trường nước bằng phương pháp nguyên nhân - hậu quả để đề ra những biện pháp phù hợp

­ Đánh giá về nguồn thải, bã thải, nguồn tiếp nhận trên cơ sở lý thuyết

­ Đánh giá sự khả quan của các giải pháp đưa ra nhằm giải quyết vấn đề

­ Đánh giá khách quan những yếu tố tác động tơi sức khỏe con người

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

­ Phương pháp thống kê và sử dụng phần mền Excel

­ Phân tích các mẫu nước

­ Phân tích những tác động tới sức khỏe của người dân

Trang 21

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Sơ lược quá trình sản xuất rượu tại làng Vân

3.1.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển của nghề nấu rượu Vân

Làng Vân bắt đầu nấu rượu từ khi nào thì hiện nay người dân làng Vân không ai biết rõ, ngay cả những nghệ nhân nấu rượu lâu đời nhất trong làng cũng không biết nghề nấu rượu mà mình đang làm đã có từ bao giờ Cũng có người nói rằng nghề nấu rượu của làng Vân có cách đây khoảng 800 năm nhưng nhận định đó còn mơ hồ và chưa có căn cứ cụ thể Tuy nhiên, cứ mùng

7 tháng giêng hàng năm, người dân làng Vân vẫn làm Tết Thánh Sư - một ngày Tết được người dân trong làng tương truyền là ngày Tết “Ông tổ nghề rượu”

Làng Vân nấu rượu bằng thứ gạo nếp cái hoa vàng cùng với loại men Bắc

38 vị đặc biệt, kỹ thuật ủ thủ công mang tính chất bí truyền dòng họ dưới quy

mô hộ gia đình Với những nét đặc biệt đó, làng Vân đã tạo ra một loại sản phẩm độc đáo, nức tiếng xa gần Ngay dưới thời phong kiến, rượu làng Vân

đã được biết đến và thường xuất hiện ở những buổi yến tiệc của vua quan Năm Chính Hòa thứ 24 (1703), rượu Vân đã được vua Trần Hy Tông sắc phong bốn chữ vàng “Vân hương mỹ tửu” Sách “Đại Nam nhất thống trí” của Quốc sử quán nhà Nguyễn, tập IV cũng lưu: “Chợ Yên Viên nấu rượu trắng rất ngon” Cũng giai đoạn đó nghề nấu rượu gạo đã đem lại sự hưng thịnh cho người dân nơi đây và Vân Hà được coi là Lỵ sở của toàn huyện Dưới triều đại phong kiến, người dân làng Vân nấu rượu với quy trình thủ công, lạc hậu, đồ dùng tự chế thô sơ còn được gọi là “nồi Ba ba” nên sản lượng rượu không nhiều và thời gian chưng cất rượu là rất lâu (10 - 12 giờ/mẻ)

Khi đất nước ta bị Pháp đô hộ, dưới sự đầu tư và nghiên cứu của các chuyên gia người Pháp kết hợp với ông Nguyễn Lễ (người Đáp Cầu), nghề nấu rượu của làng Vân được mở rộng về quy mô và nâng cao về trình độ Vào những năm 60 của thế kỷ XIX, các nhà tư bản Pháp đã đầu tư vốn và xây dựng tại làng Vân một nhà máy sản xuất rượu với công nghệ cao khác hẳn so

Trang 22

với “nồi Ba ba” cũ mà ngày nay người dân làng Vân vẫn đang sử dụng Cũng chính vì vậy mà rượu làng Vân còn được biết đến ở nhiều nước trên thế giới ngay từ thời Pháp thuộc

Đến những năm 70 của thế kỷ XIX, lương thực, thực phẩm trở nên khan hiếm Rượu trở thành một thứ hàng cấm và hoạt động nấu rượu là một hành động phạm pháp Chính vì vậy, để bảo tồn, duy trì và phát triển nghề nấu rượu truyền thống của cha ông, người dân làng Vân chuyển sang sử dụng một nguyên liệu mới không phải là gạo như trước mà là sắn, ngô và khoai với quy

mô nhỏ lẻ Việc thay đổi nguyên liệu sản xuất không những giúp cho rượu Vân vẫn tồn tại, phát triển mà còn đem lại lợi ích kinh tế cho người dân dù rượu được làm bằng sắn có chất lượng không cao bằng rượu gạo Cho tới nay, việc nấu rượu bằng nguyên liệu là sắn vẫn được duy trì

Hiện nay làng Vân có 80% người dân sống bằng nghê nấu rượu (70% nấu rượu sắn, 10% nấu rượu gạo) Mặc dù nghề nấu rượu vẫn phát triển, đem lại lợi ích kinh tế cho người dân trong làng nhưng rượu Vân đang đứng trước nguy cơ bị cạch tranh bởi nhiều loại rượu khác trên thị trường như rượu Bầu

Đá (Bình Định), rượu Sán Lùng, Bắc Hà (Lào Cai) Đó là do làng Vân vẫn

áp dụng quy trình sản xuất rượu thủ công, quy mô hộ gia đình, không có cải tiến kỹ thuật, mẫu mã, chất lượng sản phẩm với nguyên liệu bằng sắn có nhiều chất độc hại Mặt khác, sản phẩm thải lại không qua xử lí và được thải trực tiếp vào môi trường… đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên - xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe người dân trong làng và những vùng lân cận Chính vì vậy, nghề nấu rượu truyền thống của làng Vân càng phải đối mặt với nhiều những khó khăn thử thách hơn

3.1.2 Quy trình sản xuất rượu tại làng Vân

3.1.2.1 Quy trình sản xuất rượu sắn

 Nguyên liệu - nhiên liệu:

­ Nguyên liệu để sản xuất rượu sắn chính là sắn tươi hoặc sắn khô (sắn khô là chủ yếu) đã được cạo vỏ lá (vỏ gỗ), được cắt khúc thành miếng dài 1 - 1,5cm Nguyên liệu này được thu mua từ Cao Bằng, Lạng Sơn, Trung

Trang 23

Quốc… và được vận chuyển về làng Vân bằng các ô tô tải chuyên dụng có tải lượng lớn qua đường liên xã Vân Hà - Tiên Sơn Nguyên liệu được sử dụng

để nấu trong một ngày thường là 65 - 70kg sắn khô (bảng phụ lục 2)

­ Men: là loại men Bắc 35 hoặc 38 vị, men được chế biến thành từng bánh nhỏ (R = 4cm - 8cm) hoặc bánh lớn (R = 12cm - 15cm) Khi sử dụng phải nghiền nhỏ để tăng diện tích tiếp xúc với nguyên liệu Lượng men sử dụng cho 60kg sắn là 300g

­ Nhiên liệu: Than bùn và than tổ ong Đây là những loại than được thu mua tại các nhà máy nhiệt điện, sau đó được chế biến và pha trộn với tỉ lệ bùn, nước thích hợp và những chất phụ gia đặc biệt

 Quá trình sản xuất rượu:

­ Sơ đồ nấu rượu và sản phẩm thải:

Theo kết quả điều tra và nghiên cứu, quy trình nấu rượu truyền thống tại làng Vân được miêu tả khái quát như sau:

Hình 3.1: Quy trình sản xuất rượu Vân và sản phẩm thải

Quá trình nấu rượu Vân bao gồm 3 giai đoạn:

­ Giai đoạn 1: Xử lý nguyên liệu

Nguyên

liệu khô

Nguyên liệu ướt

Nước thải

Nguyên liệu chín

Nước, khí, xỉ than, bụi thải

Nguyên liệu ủ

Ủ hiếu khí và

kị khí

Rượu

Chưng cất

Bã thải

Trang 24

 Sắn khô là loại nguyên liệu cứng, khó làm chín đặc biệt nấu với số

lượng lớn Vì vậy trước khi làm chín, sắn được ngâm trong bể nước với mực nước cao hơn mực sắn là 15 - 20cm trong khoảng 10 - 15h, rồi đem rửa sạch Việc ngâm sắn như vậy không những làm sắn dễ chín mà còn loại đi rất nhiều cặn bẩn: tinh bột mủn, giảm bớt lượng chất độc hại (đặc biệt là Hidroxianua)

 Sau khi được ngâm nước và rửa sạch, sắn được luộc chín, để ráo nước

và làm nguội

­ Giai đoạn 2: Ủ nguyên liệu

 Ủ hiếu khí: Sau giai đoạn 1, sắn được trộn với men Bắc 35 hoặc 38 vị

rồi được ủ trong gơ (dụng cụ ủ nóng) trong 4 – 12 giờ, sau đó đổ ra ngoài và ủ tải (nhiệt độ khoảng 30 - 320C) trong vòng15 - 7 giờ và có tiếp xúc với nguồn không khí bên ngoài Mục đích là tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật nấm men tăng trưởng về số lượng

 Ủ kị khí: Sau khi ủ hiếu khí, khi thấy sắn xuất hiện mốc trắng, mềm,

xốp và có mùi thơm thì nguyên liệu được đổ vào ang (một loại chum có dung tích lớn khoảng 200 lít) sau đó đậy kín để quá trình lên men rượu xảy ra Quá trình ủ này được diễn ra trong 5 - 9 ngày Sau 5 - 9 ngày thì đổ nước vào ang (3 phần nước, 1 phần nguyên liệu) để xảy ra quá trình tách lọc rượu ra khỏi nguyên liệu đã được lên men Sau 2 - 3 ngày là có thể đem chưng cất

­ Giai đoạn 3: Chưng cất rượu

 Sau khi giai đoạn 2 được thực hiện, nguyên liệu ủ được đưa lên chưng

cất (chưng cất cả nước lẫn cái) trong vòng 3 - 5 giờ, chú ý phải điều chỉnh nhiệt độ của lò nấu sao cho phù hợp nhất Trung bình một mẻ rượu nấu được 20kg nguyên liệu khô Sản phẩm tạo ra được sử dụng ngay (độ rượu nóng lạnh vào khoảng 450)

3.1.2.2 Quy trình sản xuất rượu gạo trên quy mô hộ gia đình

Tương tự như quy trình nấu rượu sắn nhưng cần lưu ý những vấn đề sau:

­ Nguyên liệu là gạo nếp hoặc gạo tẻ (20 - 25kg/mẻ) (bảng phụ lục 2, 4)

­ Quá trình ngâm gạo diễn ra ngắn hơn: chỉ từ 3 - 5h

Trang 25

­ Men: Chỉ sử dụng loại men Bắc vi sinh 38 vị (R = 3 - 4cm), có thể có thêm hương liệu

­ Quá trình làm chín nguyên liệu sử dụng phương pháp hấp là chủ yếu để tránh cơm rượu không quá khô hoặc quá nhão

3.1.2.3 Nhận xét

­ Xét về mặt giai đoạn thì quy trình sản xuất rượu Vân khá đơn giản (chỉ gồm có ba giai đoạn), nhưng để tạo ra một thứ rượu thơm ngon thì không chỉ dừng lại ở đó mà cần phải có kĩ thuật chuyên sâu trong từng giai đoạn như: ủ vơi nhiệt độ bao nhiêu, cách điều chỉnh nhiệt độ như thế nào, cách lấy nước ra sao

­ Qua quan trắc chúng tôi thấy rằng, quá trình sản xuất rượu của làng Vân thải ra ba loại sản phẩm thải vào trong môi trường bao gồm cả rắn - lỏng

- khí Tuy nhiên trong đề tài này chúng tôi chỉ đề cập tới tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động nấu rượu truyền thống tại làng Vân, xã Vân

Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

3.2 Ảnh hưởng của quá trình nấu rượu Vân đến môi trường nước và con người làng Vân

Quá trình nấu rượu của làng Vân với các loại sản phẩm độc hại mà không qua xử lí đã và đang gây ô nhiễm trầm trọng môi trường nước, làm ảnh hưởng tới đời sống và sức khỏe của người dân Mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất rượu của người dân làng Vân với môi trường nước và con người được thể hiện qua sơ đồ ở hình 3.2:

Trang 26

Hình 3.2: Mối quan hệ giữa quá trình nấu rượu với

môi trường và con người

Nước thải tạo trong quá trình nấu rượu của từng hộ gia đình được thải trực tiếp vào môi trường tự nhiên qua các cống rãnh tự chế sẽ ảnh hưởng tới con người, làm xuất hiện bệnh tật Cụ thể:

3.2.1 Ô nhiễm môi trường nước

Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hoá học - sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Nó làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất

Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác mặt đất, các chất ô nhiễm trên mặt đất rồi thấm xuống nước ngầm

Trang 27

Hiện nay, tại làng Vân nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề, kéo theo đó

là những hậu quả nghiêm trọng về tài nguyên môi trường và con người Chúng ta sẽ xét sự ô nhiễm môi trường ở làng Vân theo các khía cạch sau:

3.2.1.1 Nguồn thải

Qua tìm hiểu và nghiên cứu, nguồn thải của quá trình sản xuất rượu ảnh hưởng tới môi trường nước khá đa dạng, bao gồm nhiều nguồn khác nhau (từ khâu làm chín đến khâu chưng cất) Chính vì vậy, giữa nguồn thải và môi trường (đặc biệt là môi trường nước) có mối quan hệ với nhau, sơ đồ ở hình 3.3 thể hiện điều đó

Hình 3.3: Mối quan hệ giữa nguồn thải và môi trường nước

Nước ngâm, rửa

nguyên liệu khô

Ô nhiễm môi trường nước

Trang 28

liệu, quá trình chưng cất nấu tạo sản phẩm đều cần sử dụng một lượng nước khá lớn Chính vì vậy, lượng nước thải tạo ra trong các quá trình trên cũng khá đáng kể

Trong quá trình làm chín và chưng cất rượu thì một lượng xỉ than khá lớn cũng được tạo ra và được đổ ra môi trường bên ngoài xung quanh nơi sản xuất Lượng xỉ này trong tự nhiên chúng có thể tự phân hủy hoặc kết hợp với nhiều chất khác để tạo những hợp chất mới Đặc biệt các hợp chất oxit kim loại trong xỉ sẽ kết hợp với nước mưa để tạo thành những hidroxit kim loại và khi mưa xuống sẽ cuốn theo những hợp chất đó đổ vào môi trường nước Ngoài ra những hạt smog khi gặp điều kiện thuận lợi hoặc những hạt mưa

có dung lượng axit cao khi rơi xuống sông, hồ, ao cũng là tác nhân gây nên những hậu quả nghiêm trọng về môi trường

Quá trình chăn nuôi gia súc, gia cầm của người dân để tận dụng nguồn bã rượu cũng thải ra một lượng phân và nước thải lớn, chủ yếu thải trực tiếp vào môi trường mà không qua xử lí cũng ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước Hiện nay, theo thống kê thì làng Vân có khoảng 98% hộ gia đình chăn nuôi lợn, mỗi năm làng Vân cung cấp khoảng 20.000 con lợn thịt cho các cơ

sở giết mổ

3.2.1.2 Chất thải và tải lượng

Lượng nước thải tạo ra trong quá trình sản xuất rượu (quá trình ngâm nguyên liệu khô, quá trình làm chín nguyên liệu, quá trình chưng cất,…) là rất lớn Các kết quả thống kê lượng nước sử dụng tại các gia đình sản xuất rượu Vân được thể hiện tại bảng 3.1:

Bảng 3.1: Lượng nước sử dụng trong quá trình sản xuất rượu

Lượng

nước

Trang 29

Theo kết quả thống kê tại bảng 3.1, lượng nước thải trong quá trình ngâm, rửa nguyên liệu khô trung bình của một hộ gia đình trong mọt ngày khoảng 0,48m3 nước Vậy tổng số nước thải trong quá trình ngâm, rửa nguyên liệu trong 1 ngày của tất cả các hộ là 341,28m3 Mặt khác, trong quá trình chưng cất rượu, lượng nước thải tại một hộ gia đình là 60lit/ngày, tương đương với 42,66m3/ngày của tất cả các hộ gia đình Như vậy tổng lượng nước thải tạo ra trong một ngày là khoảng 383,94m3 Đây là một con số không nhỏ Với lượng nước thải lớn như vậy, nếu không được xử lí hàng ngày thì ô nhiễm môi trường nước là vấn đề không thể tránh khỏi

Nước thải tạo ra trong quá trình ngâm rửa nguyên kiệu khô có độ đục cao (bảng phụ lục 9) và thường có màu trắng sữa do chứa một hàm lượng tinh bột đáng kể, lượng tinh bột này khi tồn tại trong nước sẽ bị các vi sinh vật trong nước phân huỷ và tạo ra những sản phẩm có tính axit làm nước ở khu vực sản xuất có độ pH khá thấp (pH < 5,5), sau đó chuyển sang màu sẫm trong vòng

10 - 12 ngày và có mùi khó chịu Bên cạnh đó, nước thải còn chứa thêm khá nhiều các chất độc trong khi ngâm rửa sắn tạo ra đặc biệt là hidroxianua (HCN) - một chất độc gây hại cho con người

Những bãi xỉ than lại chứa khá nhiều oxit kim loại và khi gặp nước các oxit kim loại này sẽ tạo thành những hợp chất kiềm yếu Từ đó cũng làm thay đổi hệ số pH của môi trường nước khi được nước mưa cuốn đi

Mặt khác, các chất khí SOx, NOx… sẽ kết hợp với H2O của độ ẩm không khí hoặc nước của các tầng mây mưa để tạo thành những giọt smog hoặc mưa axit Thông qua quá trình mưa, những chất đó được kéo theo và đổ xuống những ao, hồ, sông quanh vùng

Kết quả phân tích thành phần chất lượng nước mặt tại một số nơi trong làng Vân do phòng Tài nguyên và môi trường huyện Việt Yên cung cấp (thể hiện trong bảng 3.2) cho thấy mức độ ô nhiễm nguồn nước tại làng Vân hiện rất nghiêm trọng

Trang 30

Bảng 3.2: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt (phòng TN & MT)

Ghi chú: Mẫu 1: Bà Nguyễn Thị Khi – Nước ao, xóm 1

Mẫu 2: Bà Trần Thị Út – Nước ao, xóm 2 Mẫu 3: Ông Nguyễn Danh Tài - Nước ao, xóm 5

Theo phân tích tại bảng 3.2 cho thấy: Lượng nước mặt tại các ao, hồ làng Vân đang bị nhiễm axit quá giới hạn cho phép, thường thì độ pH luôn nhỏ hơn 5,5; đặc biệt hàm lượng COD5 vượt giới hạn cho phép gấp nhiều lần Tại mẫu 2 - nước ao của gia đình bà Trần Thị Út, lượng BOD5 là 320,75 mg/l vượt quá giới hạn cho phép tới 12,83 lần Lượng BOD5 tăng cao sẽ làm hàm lượng oxi hòa tan trong nước giảm xuống, đồng nghĩa với việc hàm lượng DO giảm mạnh Cũng tại mẫu 2 - nước ao của gia đình bà Trần Thị Út thông số

DO là 0,87 mg/l, thấp hơn giới hạn cho phép tới 2,29 lần Hàm lượng DO giảm đã lí giải phần nào sự nghèo nàn về hệ động - thực vật thủy sinh tại làng Vân

Trang 31

Với lượng nước thải chứa hàm lượng các chất hưu cơ cao, hàm lượng vi sinh vật trong nước cũng tăng lên, vượt qua giới hạn cho phép đối với nước mặt được sử dụng vào mục đích riêng gấp nhiều lần (gấp 30 - 50 lần) vào khoảng 9,12.106 MPN/100ml Hàm lượng vi sinh vật (Coliforms) trong nước cao là một trong các yếu tố quyết định tới sự xuất hiện một số loại mầm bệnh xuất hiện tại làng Vân: Bệnh tiêu chảy, bệnh ngoài da, bệnh về đường tiết niệu - sinh dục,… với tỉ lệ cao Mặt khác, sự phát triển của vi sinh vật sẽ phân hủy các hợp chất hữu cơ trong nước và giải phóng ra các hợp chất chứa nitơ (NH3, NOx…), từ đó làm tăng nguồn đạm trong nước và hậu quả sẽ gây nên hiện tượng phú dưỡng

Trong khi đó, nguồn nước ao hồ thường được người dân sử dụng trong trồng trọt và chăn nuôi Chính vì vậy, việc ảnh hưởng tới năng suất cây trồng

và sức khỏe của người dân là điều không thể tránh khỏi

Hiện nay, phần lớn người dân làng Vân sử dụng nước ngầm để sinh hoạt (khoảng 79,46%), một số ít hộ dân sử dụng nước mưa và nước qua bình lọc

để sinh hoạt (khoảng 1,2 - 11,93%) Đáng lo ngại là một bộ phận người dân (khoảng 7,31%) vẫn đang sử dụng trực tiếp nguồn nước sông Cầu làm nước

ăn uống và sinh hoạt gây ảnh hưởng nghiểm trọng tới chất lượng cuộc sống Theo kết quả thu được tại phòng TN & MT huyện Việt Yên về thành phần các chất trong các mẫu nước sinh hoạt của người dân (nước ngầm và nước mưa) - thể hiện ở bảng 3.3, ta thấy nguồn nước sinh hoạt của người dân làng Vân cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng

Trang 32

Bảng 3.3: Kết quả phân tích chất lượng nước sinh hoạt

Ghi chú: Mẫu 1: Ông Nguyễn Văn Tường - Nước ngầm 43m

Mẫu 2: Ông Nguyễn Đình Chính - Nước ngầm 60m

Nhìn vào bảng trên, chúng ta thấy nguồn nước sinh hoạt của người dân có chỉ số thành phần các chất vượt quá ngưỡng cho phép Đặc biệt nguồn nước ngầm bị nhiễm sắt cao Theo quan trắc thì nước ngầm sau khi được bơm lên, trong vòng 2 giờ sẽ bị chuyển màu và có mùi khó chịu do các ion Fe2+ tham gia các phản ứng oxi hóa khử với oxi Hàm lượng NO3- cũng cao hơn giới hạn cho phép, điều này chứng tỏ các chất độc hại có trong môi nước mặt đã và đang xâm nhiễm nguồn nước ngầm

Mặt khác, những hộ gia đình tại làng Vân sử dụng nước mưa làm nguồn nước sinh hoạt cũng không phải là an toàn Vì theo kết quả tại bảng 3.3 - mẫu

số 3 của gia đình ông Đỗ Danh Nguyên cũng cho thấy lượng nước mưa có độ

Trang 33

pH thấp đồng thời hàm lượng NO3- lại khá cao, gây ảnh hưởng tới đời sống người dân

Mặt khác theo nguồn tìn thu được trên các thồng tin đại chúng và phòng

TN & MT huyện Việt Yên thì nguồn nước sông Cầu đang bị ô nhiễm nặng nề, việc người dân sử dụng nước sông Cầu làm nguồn nước sinh hoạt là nguyên nhân gây nhiều bệnh tật [15]

3.2.1.3 Bãi thải và nguồn tiếp xúc

Lượng nước thải tạo ra trong quá trình nấu rượu được thải trực tiếp ra môi trường xung quanh hộ gia đình (ao, hồ, sông) bằng những hệ thống cống rãnh

tự chế gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước mặt Trong khi đó, lượng

xỉ thải tạo ra được người dân chất đống xung quanh rìa đường tạo nên những bãi xỉ thải khổng lồ (hình phụ lục 2, 6) Trong một ngày, hoạt động sản xuất rượu của người dân làng Vân thải ra môi trường xung quanh khoảng 6,39 tấn

xỉ than (bảng phụ lục 5)

Ngoài ra công tác tưới tiêu các loại rau của người dân thường sử dụng nguồn nước thải Vì vậy, các loại rau sống này không những sinh trưởng và phát triển kém mà còn bị nhiễm một lượng vi sinh vật gây bệnh với chỉ số Colifoms rất cao Theo số liệu của trung tâm Y tế dự phòng Việt Yên về chỉ

số Coliforms trên các loại rau (bảng 3.4) thì hàm lượng Coliforms trên rau xà lách là rất lớn, khoảng 5,2.105/gam rau sống

Bảng 3.4: Chỉ số vi sinh vật trong một số loại rau ăn (TT YT DP)

Ngày đăng: 30/11/2015, 07:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Trân Châu, Trần Thị Áng (2009), Hoá Sinh học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, trang 66 - 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoá Sinh học
Tác giả: Phạm Thị Trân Châu, Trần Thị Áng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
2. Đặng Kim Chi, Nguyễn Ngọc Lân, Trần Lê Minh (2003), Làng nghề Việt Nam và môi trường, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, trang 5 -12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề Việt Nam và môi trường
Tác giả: Đặng Kim Chi, Nguyễn Ngọc Lân, Trần Lê Minh
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2003
3. Phạm Thị Minh Đức (2007), Sinh lí học, Nxb Y học, Hà Nôi, trang 230 - 265 và 340 – 374 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lí học
Tác giả: Phạm Thị Minh Đức
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2007
4. Phương Hà (2003), “Vệ sinh môi trường nông thôn - khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế”, báo Sức khoẻ và đời sống (6 - tháng 10), trang 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường nông thôn - khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế”, báo "Sức khoẻ và đời sống
Tác giả: Phương Hà
Năm: 2003
5. Thu Hằng (2009), “Kế hoạch bảo vệ môi trường - ngành y tế ở giai đoạn 2009 - 2015”, Báo Sức khoẻ và đời sống, (6 - tháng 12), trang 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch bảo vệ môi trường - ngành y tế ở giai đoạn 2009 - 2015”, Báo "Sức khoẻ và đời sống
Tác giả: Thu Hằng
Năm: 2009
6. Nguyễn Trần Hiển, Phạm Ngọc Đính, Thẩm Chí Dũng, Nguyễn Thuý Hoa (2009), “Các yếu tố lên quan tới tử vong do nhiễm trùng hô hấp cấp tại tỉnh Thái Bình, năm 2002 - 2005”, tạp chí Y học dự phòng tập XIX, (1(100) 2009), trang 5 -13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố lên quan tới tử vong do nhiễm trùng hô hấp cấp tại tỉnh Thái Bình, năm 2002 - 2005”, tạp chí "Y học dự phòng
Tác giả: Nguyễn Trần Hiển, Phạm Ngọc Đính, Thẩm Chí Dũng, Nguyễn Thuý Hoa
Năm: 2009
7. Đặng Hùng (2008), “Diễn biến bệnh tiêu chảy tại làng Vân, xã Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang”, báo cáo tại trung tâm Y tế dự phòng huyện Việt Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến bệnh tiêu chảy tại làng Vân, xã Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang
Tác giả: Đặng Hùng
Năm: 2008
8. Thanh Nhàn (2008), “Phòng chống bệnh tiêu chảy cấp, người dân không thể đứng ngoài cuôc - kì 1,2”, báo Sức khoẻ và đời sống, (6,7 - tháng 4), trang 20 và 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống bệnh tiêu chảy cấp, người dân không thể đứng ngoài cuôc - kì 1,2”, báo "Sức khoẻ và đời sống
Tác giả: Thanh Nhàn
Năm: 2008
9. Hoàng Thị Sản (2009), Phân loại học thực vật, Nxb Giáo dục, Hà Nội. trang 67 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại học thực vật
Tác giả: Hoàng Thị Sản
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
10. Vũ Trung Tạng (2009), Cơ sở sinh thái học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, trang 121 – 130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học
Tác giả: Vũ Trung Tạng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
11. Nguyễn Quốc Thông, Đặng Đình Kim, Lê Lan Anh, Nguyễn Hiếu Mai (2004), “Nghiên cứu khả năng hấp thụ kim loại nặng của bèo sen (Eichhorna Crassipes) góp phần xử lí nước thải công nghiệp bằng phương pháp sinh học”, Tạp chí Khoa học và công nghệ tập 42, (4), trang 15 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng hấp thụ kim loại nặng của bèo sen ("Eichhorna Crassipes") góp phần xử lí nước thải công nghiệp bằng phương pháp sinh học”, Tạp chí "Khoa học và công nghệ
Tác giả: Nguyễn Quốc Thông, Đặng Đình Kim, Lê Lan Anh, Nguyễn Hiếu Mai
Năm: 2004
12. Nguyễn Văn Thường, Vương Tuấn Anh, Nguyễn Đăng Tuấn, Phùng Đắc Cam, Anders dalsgaard (2009), “Viêm da tiếp xúc ở nông dân xử dụng nước thải vùng ven đô”, Tạp chí Y học dự phòng tập XIX, (1(100) 2009), trang 49 - 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm da tiếp xúc ở nông dân xử dụng nước thải vùng ven đô”, Tạp chí "Y học dự phòng
Tác giả: Nguyễn Văn Thường, Vương Tuấn Anh, Nguyễn Đăng Tuấn, Phùng Đắc Cam, Anders dalsgaard
Năm: 2009
13. Bùi Xuân (2009), “Hành vi nhận thức của người dân - nhận thức còn yếu”, báo Sức khoẻ và đời sống, (3 - tháng 2), trang 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi nhận thức của người dân - nhận thức còn yếu”, báo "Sức khoẻ và đời sống
Tác giả: Bùi Xuân
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Quy trình sản xuất rượu Vân và sản phẩm thải - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 3.1 Quy trình sản xuất rượu Vân và sản phẩm thải (Trang 23)
Hình 3.4: Mô hình xử lí nước thải - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 3.4 Mô hình xử lí nước thải (Trang 41)
Hình 3.5: Mô hình bể lọc nước dân dụng - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 3.5 Mô hình bể lọc nước dân dụng (Trang 44)
Hình 1: Bãi chứa nhiên liệu than bùn - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 1 Bãi chứa nhiên liệu than bùn (Trang 53)
Hình 2: Rãnh nước thải tự chế - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 2 Rãnh nước thải tự chế (Trang 54)
Hình 4: Cây chuối bị táp lá - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 4 Cây chuối bị táp lá (Trang 55)
Hình 5: Nước ao bị nhiễm bẩn - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 5 Nước ao bị nhiễm bẩn (Trang 56)
Hình 7: Nơi chứa nguyên liệu tại hộ gia đình - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 7 Nơi chứa nguyên liệu tại hộ gia đình (Trang 57)
Hình 8: Nguyên liệu sắn được ủ men và ủ ang - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 8 Nguyên liệu sắn được ủ men và ủ ang (Trang 57)
Hình 9: Khâu chưng cất rượu - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 9 Khâu chưng cất rượu (Trang 58)
Hình 10: Bãi làng nghề đang bị bỏ hoang - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 10 Bãi làng nghề đang bị bỏ hoang (Trang 59)
Hình 13: Bản đồ vệ tinh xã Vân Hà – Việt Yên – Bắc Giang - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 13 Bản đồ vệ tinh xã Vân Hà – Việt Yên – Bắc Giang (Trang 60)
Hình 12: Bản đồ xã Vân Hà – H. Việt Yên – T. Bắc Giang - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 12 Bản đồ xã Vân Hà – H. Việt Yên – T. Bắc Giang (Trang 60)
Hình 14: Mẫu mã sản phẩm rượu Vân - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 14 Mẫu mã sản phẩm rượu Vân (Trang 61)
Bảng 6: Bảng tiền chi thu trong sản xuất nấu rượu - Đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường nước của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tại làng vân, xã vân hà, huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 6 Bảng tiền chi thu trong sản xuất nấu rượu (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w