Khái quát về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Theo Luật Đất đai 2013 thì các khái niệm liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được phát
Trang 1TNMT Tài nguyên môi trường
Trang 2DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp diện tích đất bị thu hồi năm 2013 của tỉnh Bắc Ninh 19
Bảng 1.2 Tổng hợp các dự án được phê duyệt năm 2013 19
Bảng 1.3 Các bối cảnh sinh kế 23
Bảng 1.4 Các nguồn vốn đảm bảo sinh kế bền vững 26
Bảng 2.1 Tình hình dân số thị xã Từ Sơn giai đoạn 2008 - 2012 32
Bảng 2.2 Tình hình dân số lao động của thị xã Từ Sơn giai đoạn 2010-2012 34
Bảng 2.3 Hiện trạng sử dụng đất thị xã Từ Sơn năm 2013 40
Bảng 2.4 Biến động diện tích theo mục đích sử dụng đất giai đoạn 2008 - 2013 41
Bảng 2.5: Một số dự án quan trọng được triển khai xây dựng KCN thị xã Từ Sơn năm 2007 - 2011 46
Bảng 2.6 Cơ cấu sử dụng đất KCN Hanaka 49
Bảng 2.7 Kết quả thực hiện GPMB của dự án ở phường Trang Hạ 56
Bảng 2.8 Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ của dự án ở phường Trang Hạ 57
Bảng 2.9 Kết quả thực hiện dự án ở phường Đồng Nguyên 58
Bảng 2.10 Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ của dự án ở phường Đồng Nguyên 58
Bảng 3.1 Diện tích đất đai bình quân của các nhóm hộ điều trong giai đoạn 2011 - 2014 60
Bảng 3.2 Đặc điểm người lao động ở các hộ bị thu hồi đất 62
Bảng 3.3 Tình hình thu nhập của các hộ sau khi thu hồi đất 64
Bảng 3.4 Thu nhập bình quân của các hộ gia đình trong một tháng 65
Bảng 3.5 Mức tiền bồi thường đất của các hộ gia đình 67
Bảng 3.6 Mục đích sử dụng tiền của các hộ điều tra 68
Bảng 3.7 Tài sản của các hộ gia đình trước và sau khi thu hồi 70
Bảng 3.8 Tổng hợp các mối quan hệ của các hộ gia đình đ ợc điều tra sau khi thu hồi đất 72
Bảng 3.9 Các loại sinh kế trước và sau thu hồi đất 73
Bảng 3.10 Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân trước và sau khi thu hồi đất tại dự án 76
DANH MỤC HÌNH
Trang 3Hình 1.1 Sơ đồ phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững (SLA) (DFID 1999) 25
Hình 1.2 Sơ đồ quá trình chuyển đổi sinh kế của người nông dân do bị thu hồi đất 28
Hình 2.1 Cơ cấu kinh tế thị xã Từ Sơn năm 2008 và 2013 36
Hình 2.2 Cơ cấu sử dụng đất của thị xã Từ Sơn năm 2013 40
Hình 2.3 Hình ảnh khu công nghiệp Hanaka 49
Hình 2.4 Quy trình thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường và hô trợ 55
Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động phân theo trình độ văn hóa 62
Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động phân theo độ tuổi 63
Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện mức thu nhập của các hộ gia dình trong tháng 65
Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện số hộ dân được đền bù đất với các mức bồi thường khác nhau 67
Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện mục đích sử dụng tiền đền bù của các hộ điều tra 69
Hình 3.6: Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động theo việc làm của các hộ dân trước và sau khi thu hồi đất tại dự án 77
Trang 4MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp tổng quan tài liệu 3
4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 3
4.3 Phương pháp điều tra xã hội học 4
4.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp 4
4.5 Phương pháp phân tích SWOT 4
5 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG VÀ HỖ TRỢ CHO NGƯỜI DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1.Cơ sở pháp lý của công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở Việt Nam 6
1.1.1 Khái quát về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 6 1.1.2 Những quy định pháp luật cơ bản về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở Việt Nam 6
1.1.2.1 Quy định pháp luật về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở Việt Nam từ trước khi có Luật đất đai 2003 6
1.1.2.2 Quy định pháp luật về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở Việt Nam từ khi có Luật đất đai 2003 đến nay 8
1.2 Thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở tỉnh Bắc Ninh 17
1.2.1 Các văn bản chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở tỉnh Bắc Ninh 17
1.2.2 Tình hình thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở tình Bắc Ninh 18
1.3 Cơ sở lý luận về sinh kế và sinh kế bền vững 22
1.3.1 Khái niệm sinh kế 22
1.3.2 Chiến lược sinh kế 22
1.3.3 Bối cảnh sinh kế 23
1.3.4 Sinh kế bền vững 24
Trang 51.4 Tổng quan những công trình nghiên cứu về tác động của việc thu hồi đất
nông nghiệp đến sinh kế người dân ở nước ta 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG CỦA DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP HANAKA, THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH 2.1 Điều kiện tự nhiên thị xã Từ Sơn 30
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
2.1.1.1 Vị trí địa lý 30
2.1.1.2 Khí hậu, thuỷ văn 31
2.1.1.3 Thổ nhưỡng 32
2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội thị xã Từ Sơn 32
2.2.1 Dân số và lao động 32
2.2.2 Tăng trưởng kinh tế 34
2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 35
2.2.4 Cơ sở hạ tầng 36
2.3 Tình hình sử dụng và biến động đất đai của thị xã Từ Sơn giai đoạn 2008 - 2013 39
2.3.1 Công tác quản lý đất đai 39
2.3.2 Hiện trạng sử dụng đất và biến động sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất 39
2.3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất 39
2.3.2.2 Biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng đất giai đoạn 2008 - 2013 41
2.3.3 Tình hình thực hiện giao đất, cho thuê đất 44
2.4 Vài nét về một số dự án xây dựng KCN triển khai trong thời gian qua tại địa bàn thị xã Từ Sơn 45
2.5 Thực trạng về công tác thu hồi đất, bồi thường của dự án xây dựng Khu công nghiệp Hanaka 48
2.5.1 Giới thiệu về dự án xây dựng Khu công nghiệp Hanaka 48
2.5.2 Các văn bản và căn cứ pháp luật nghiên cứu liên quan đến việc thực hiện dự án 50
Trang 62.5.3 Thông tin về vấn đề thu hồi đất và giá bồi thường, hỗ trợ của Dự án 52
2.5.3.1 Thông tin đất bị thu hồi 52
2.5.3.2 Giá bồi thường, hỗ trợ của Dự án 52
2.5.4 Thông tin về trình tự và tiến độ thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ 53
2.5.4.1 Trình tự thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ 53
2.5.4.2 Tiến độ thực hiện của dự án xây dựng KCN Hanaka 56
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ THAY ĐỔI SINH KÊ CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TẠI PHƯỜNG ĐỒNG NGUYÊN VÀ PHƯỜNG TRANG HẠ DO THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP CHO DỰ ÁN KCN HANAKA VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 3.1 Các nguồn vốn sinh kế của người dân bị thu hồi đất 60
3.1.1 Nguồn vốn tự nhiên 60
3.1.2 Nguồn vốn con người 61
3.1.3 Nguồn vốn tài chính 64
3.1.4 Nguồn vốn vật chất 69
3.1.5 Nguồn vốn xã hội 71
3.2 Sự thay sinh kế của các hộ gia đình sau thu hồi đất 73
3.2.1 Sự thay đổi các loại hình sinh kế 73
3.2.2 Sự thay đổi lao động trong các loại hình sinh kế 76
3.3 Phân tích SWOT đối với sự thay đổi sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp cho dự án KCN Hanaka 78
3.4 Một số giải pháp giúp ổn định sinh kế đối với người dân khi bị thu hồi đất phục vụ xây dựng KCN 80
3.4.1 Về chính sách bồi thường, hỗ trợ 80
3.4.2 Về giải pháp ổn định sinh kế 81
3.4.3 Một số giải pháp khác 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận 85
2 Kiến nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11 thì Đảng ta xác định phướng
hướng nhiệm vụ cơ bản đầu tiên của đất nước trong giai đoạn tới là “đẩy mạnh công hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức” Cũng từ lâu, mục
tiêu được xác định cho nước ta là cho đến năm 2020 cơ bản có thể trở thành một nước công nghiệp, theo hướng hiện đại hóa Có thể nói, công nghiệp hóa, hiện đại hóa chính là một trong những cách thức tương đối hiệu quả để có thể đưa đất nước
ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển hiện nay, phát triển kinh tế nhanh; nâng cao sinh kế vật chất, tinh thần của nhân dân và giữ vững ổn định chính trị - xã hội Song song với quá trình này, trong những năm qua, trên địa bàn cả nước đã hình thành, phát triển và đưa vào hoạt động nhiều khu công nghiệp (KCN) hiện đại với quy mô khác nhau Việc phát triển các KCN đã không chỉ diễn ra ở các thành phố lớn như
Hà Nội, TP Hồ Chí Minh mà còn diễn ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố khác trên phạm vi cả nước
Để phát triển các KCN, thì điều tất yếu là phải thực hiện chuyển đổi sử dụng đất, giải phóng mặt bằng (GPMB) để tạo “mặt bằng sạch” Một mặt, quá trình này
đã tạo nên cơ hội chuyển đổi việc làm từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ cho người dân, nâng cao thu nhập cho người dân, cũng như cải thiện chất lượng hạ tầng cơ sở ở khu vực thực hiện xây dựng KCN Mặt khác, nếu quá trình thu hồi, GPMB không tốt sẽ gây ra những tác động tiêu cực cho người dân có đất bị thu hồi như: giá đất bồi thường chưa hợp lý sẽ dễ dẫn đến việc người dân có thái độ chống đối, đôi khi làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị; Do người dân bị mất đi đất nông nghiệp cho xây dựng KCN, dẫn đến việc người dân mất tư liệu sản xuất truyền thống và ổn định từ bao đời, buộc phải chuyển đổi sang nghề khác hoặc có khi chịu thất nghiệp do không đủ khả năng thích ứng Nhiều người bị giảm nguồn thu nhập do cuộc sống đang từ ổn định trở nên bấp bênh, làm giảm đi hiệu quả kinh
tế - xã hội của quá trình công nghiệp hóa
Để giảm bớt thiệt hại cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội thì cả nước nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng cũng đã có nhiều cố gắng trong việc cải thiện các chính sách bồi thường, hỗ
Trang 9trợ Tuy nhiên, do sự phức tạp trong vấn đề đất đai, bản thân các chính sách này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế nhất định, và chưa tìm ra được những giải pháp tối ưu nhất để vừa đạt được mức giá bồi thường thiệt hại hợp lý cho nhiều bên, vừa đảm bảo cuộc sống, việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất
Dự án xây dựng KCN Hanaka nằm trên địa giới hành chính phường Đồng Nguyên và phường Trang Hạ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh với quy mô 74,22ha do công ty cổ phần tập đoàn Hanaka làm chủ đầu tư Đây là KCN tập trung, đồng bộ
và hiện đại sử dụng tốt nguồn nguyên liệu tại địa phương gồm các ngành sản xuất công nghiệp ít gây ô nhiễm và độc hại như: Công nghiệp may mặc, thủ công mỹ nghệ; Cơ khí, lắp ráp điện tử, điện lạnh; Các ngành công nghiệp nhẹ và ít gây ô nhiễm, độc hại khác Sau khi dự án được thực hiện và hoàn thành, KCN đi vào hoạt động đã tạo ra nhiều việc làm mới cho người dân tại địa phương, góp phần ổn định
và nâng cao cuộc sống của người dân Tuy đây chỉ là một dự án xây dựng KCN với quy mô nhỏ trên thị xã Từ Sơn, nhưng ảnh hưởng của việc thu hồi đất cho Dự án đến sinh kế của người dân không hề nhỏ Nhằm kịp thời có những đánh giá đúng đắn về ảnh hưởng của dự án, và đưa ra một số giải pháp hiệu quả cho công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ từ bài học kinh nghiệm của dự án này, tác giả
đã chọn thực hiện đề tài nghiên cứu:“Đánh giá thực trạng công tác thu hồi đất, bồi
thường và hỗ trợ cho Dự án xây dựng Khu công nghiệp Hanaka, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và đề xuất giải pháp ổn định sinh kế cho người dân”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ những khó khăn, thuận lợi, thách thức và cơ hội đối với người dân
bị thu hồi đất phục vụ xây dựng Dự án xây dựng KCN Hanaka, thị xã Từ Sơn, tỉnh
Bắc Ninh
- Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ ổn định sinh kế cho người dân có đất bị thu hồi khi thực hiện dự án
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư của Nhà nước ta từ sau khi có Luật Đất đai 2003 đến nay
Trang 10- Thu thập hệ thống tài liệu về chính sách và quá trình thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ của Dự án xây dựng KCN Hanaka, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đánh giá, phân tích thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ Chỉ ra những nguyên nhân, khó khăn vướng mắc trong GPMB của dự án
- Thu thập tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã
Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để có thể hiểu một cách khái quát đặc điểm chung về khu vực nghiên cứu
- Điều tra, phỏng vấn các hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp cho Dự án xây dựng KCN Hanaka để làm rõ việc thay đổi hoạt động sinh kế và các nguồn vốn sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất
- Phân tích SWOT đối với sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất
- Dựa trên kết quả nghiên cứu và phấn tích, tim ra các giải pháp giải quyết những vướng mắc trong chính sách thu hồi, bồi thường và hỗ trợ đất, và đạc biệt lac chính sách ổn định sinh kế cho người nông dân
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp tổng quan tài liệu
Phương pháp này được thực hiện nhằm:
- Tổng quan được hệ thống chính sách có liên quan đến công tác bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư và giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở các dự án như khung giá đất của Chính phủ, giá quy định của Nhà nước và giá bồi thường được áp dụng cho thị xã Từ Sơn
- Xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ ở nước ta trong những năm vừa qua
- Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan về vấn đề hoặc địa bàn nghiên cứu
4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Đây là phương pháp quan trọng đối với bất kỳ một nghiên cứu thực tế nào Việc đi điều tra, khảo sát thực địa giúp tác giả có cái nhìn tổng quan đối với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu Đồng thời, trong quá trình
đi khảo sát, tác giả còn kết hợp thu thập hệ thống tài liệu, số liệu về tình hình kinh tế
- xã hội của thị xã Từ Sơn nói chung và về công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ
Trang 11trợ đối với Dự án xây dựng KCN Hanaka nói riêng Đây là những dữ liệu quan trọng, làm nền tảng cho việc lựa chọn hộ gia đình để phỏng vấn cũng như cho việc đánh giá, phân tích của nghiên cứu sau này
4.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Theo quan điểm của tác giả, tác động của việc thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ của Dự án xây dựng KCN Hanaka đến các hộ gia đình (phỏng vấn, điều tra 100
hộ gia đình ở hai phường Đồng Nguyên và Trang Hạ) chỉ có thể đánh giá được tốt nếu nghiên cứu có sử dụng phương pháp điều tra xã hội học Đây là phương pháp hiệu quả để thu thập được các thông tin về đặc điểm các hộ gia đình như trình độ học vấn, việc làm, thu nhập và các ý kiến của các hộ gia đình về ảnh hường của dự
án tới sinh kế người nông dân Để từ đó, hiểu được những khó khăn và thuận lợi khi
họ bị thu hồi đất phục vụ cho dự án, mà số liệu thống kê hay báo cáo của xã, thị xã không bao giờ có được
4.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Dựa trên hệ thống cơ sở tài liệu, số liệu thu thập được, bao gồm: các chế độ chính sách về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ của Dự án xây dựng KCN Hanaka cũng như dữ liệu kinh tế - xã hội của các hộ gia đình bị thu hồi đất cho dự án, việc tổng hợp, phân tích, xử lý và đánh giá các số liệu, dữ liệu được thực hiện để đưa ra những kết quả quan trọng của nghiên cứu
4.5 Phương pháp phân tích SWOT
Phương pháp này được thực hiện dựa trên mô hình SWOT Mô hình SWOT
là mô hình nổi tiếng và vẫn đang được sử dụng rất phổ biến trong phân tích kinh doanh doanh nghiệp từ nửa cuối thế kỷ 20 cho đến nay, do một nhóm các nhà kinh
tế học đưa ra (Albert Humphrey và nnk) Tên mô hình được viết tắt từ các chữ cái: Strengs - điểm mạnh, Weakenesses - điểm yếu, Opportunity - cơ hội và Threats - thách thức Trong đó, điểm mạnh và điểm yếu được coi là những yếu tố chủ quan của đối tượng đánh giá, còn cơ hội và thách thức là những yếu tố khách quan tác động đến đối tượng đánh giá Điểm mạnh và cơ hội là những yếu tố thuận lợi cho việc đạt mục đích của doanh nghiệp, ngược lại, điểm yếu và thách thức là yếu tố bất lợi, cản trở việc đạt được mục đích đó [28]
Trang 12Dựa trên những kết quả của sự phân tích, tổng hợp, đánh giá của chính sách thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ của Dự án xây dựng KCN Hanaka để chỉ ra những thuận lợi, khó khăn trong sự thay đổi cuộc sống của người dân do việc thực hiện dự
án dẫn đến Đồng thời, phân tích những cơ hội mà người dân có được và thách thức
mà họ phải đối mặt từ những thay đổi này ra sao Đây là phương pháp cần thiết, với kết quả phân tích quan trọng, là cơ sở để đề xuất quan điểm đề xuất giải pháp cho công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát về vấn đề thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ cho người dân ở Việt Nam hiện nay
- Chương 2: Thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường của dự án xây dựng Khu công nghiệp Hanaka, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
- Chương 3: Đánh giá thay đổi sinh kế của người nông dân tại phường Đồng Nguyên và phường Trạng Hạ do thu hồi đất nông nghiệp cho Dự án KCN Hanaka
và đề xuất một số giải pháp
Trang 13CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG
VÀ HỖ TRỢ CHO NGƯỜI DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1.Cơ sở pháp lý của công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở Việt Nam
1.1.1 Khái quát về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Theo Luật Đất đai 2013 thì các khái niệm liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được phát biểu như sau [17]:
Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng
đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai
Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với
diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất
thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển
Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất
1.1.2 Những quy định pháp luật cơ bản về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở Việt Nam
1.1.2.1 Quy định pháp luật về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở Việt Nam từ trước khi có Luật đất đai 2003
Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, nước ta tiến hành xóa bỏ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nhân dân và ban hành Hiến pháp năm 1959, theo đó Nghị định số 151/TTg ra ngày 15 tháng 04 năm 1959 của Hội đồng Chính phủ đã quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất trong đó có quy định về bồi thường thiệt hại về đất Để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 151/TTg, Liên bộ Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Nội vụ đã ban hành Thông tư liên bộ số 1424/TT-LB ngày 06/7/1959 đã quy định cụ thể về bồi thường khi nhà nước trưng dụng ruộng đất
Hiến pháp năm 1980 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất, quản lý” Theo đó, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
201/Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất đã quy định rõ hơn các chức năng quản lý nhà nước về đất đai Về chính
Trang 14sách thu hồi, bồi thường, Quyết định 201/Chính phủ cũng đã quy định rõ “Cấp nào
có quyền giao đất thì cấp ấy có thẩm quyền thu hồi đất” đồng thời cũng quy định rõ
người có đất bị thu hồi, trưng dụng mà cần có đất sử dụng thì được cấp đất khác và tài sản được bồi thường thích đáng
Luật Đất đai năm 1987 được ban hành, tiếp tục khẳng định lại đất đai thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Về việc thu hồi đất thì Luật Đất
đai năm 1987 quy định tại điều 14 và điều 15 là quy định “cơ quan nào nhà nước nào có thẩm quyền giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó” Phần đền bù cho người sử dụng đất được nêu tại điều 48 khoản 4 như sau: “Đền bù thiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư
đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của Pháp luật” Về vấn đề này, do
Luật Đất đai 1987 không thừa nhận đất có giá nên khi giao đất, Nhà nước không thu tiền sử dụng đất Vì vậy, khi thu hồi đất, Nhà nước cũng không bồi thường về đất, chỉ bồi thường về tài sản trên đất
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông
qua và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 Tại điều 26, điều 27 và điều 28 quy định việc thu hồi đất và thẩm quyền cơ quan nhà nước quyền thu hồi đất Đặc
biệt Luật Đất đai 1993với quy định “đất có giá” và người sử dụng đất có quyền và
nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác bồi thường GPMB của Luật Đất đai năm 1993
Để cụ thể hóa các quy định của Luật Đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sách bồi thường GPMB đã được ban hành như:
- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất
- Nghị định 90/CP ngày 17/9/1994 quy định cụ thể các chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thửa đất để lập
kế hoạch bồi thường GPMB Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hoá việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc bồi thường bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất…
- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an
Trang 15ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Nghị định số 22 quy định chi tiết và nhấn mạnh đến tính hợp pháp của đối tượng đền bù Đối với mức đền bù thiệt hại về đất, Nghị định quy định phải căn cứ trên giá đất của địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ nhân với hệ số K để đảm bảo giá đất tính đền bù phù hợp với khả năng sinh lợi và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa phương, tức là đã quan tâm ít nhiều đến yếu tố thị trường
Giá đất đền bù do Chủ tịch ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh quyết định cho từng dự án theo đề nghị của Sở Tài chính - Vật giá
Ngoài tiền đền bù đất và tài sản, Nhà nước còn có chính sách hỗ trợ Nghị định cũng quy định lập khu tái định cư có cơ sở hạ tầng thích hợp để bố trí đất ở cho các hộ phải di chuyển
Về phân cấp tổ chức thực hiện thu hồi đất, Nghị định đã quy định chi tiết về phân cấp tổ chức thực hiện thu hồi đất
- Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998/NĐ-CP bao gồm các phương pháp xác định hệ số K, nội dung và chế độ quản lý, phương án bồi thường và một số nội dung khác
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29/06/2001 quy định cụ thể hơn về bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất đai đang sử dụng của người sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi
1.1.2.2 Quy định pháp luật về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở Việt Nam từ khi
có Luật đất đai 2003 đến nay
Luật Đất đai 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày
01/7/2004 có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế, ổn định chính trị - xã hội của đất nước, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Luật Đất đai năm 2003 có rất nhiều nội dung mới trong đã có vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như: Nhà nước hạn chế thu hồi đất mà khuyến khích các nhà đầu tư tự thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để xin chuyển mục đích sử dụng đất
đã giảm áp lực cho chính quyền địa phương trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất
Trang 16đai Nhà nước chỉ thực hiện thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế
Từ khi ban hành Luật Đất đai 2003 đến nay,nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và cụ thể hoá các nội dung về thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định
cư, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành hàng loạt các Nghị định, Thông tư trực tiếp liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ như: Nghị định số 181/2004, Nghị định số
17/2006, Thông tư số 145/2007, Thông tư số 14/2009
Đặc biệt khi Luật Đất đai 2013 ra đời đã quy định cụ thể và đầy đủ từ việc
thu hồi đất đến bồi thường, hỗ trợ đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu hồi nhằm khắc phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận xấu trong xã hội
* Những điểm mới của Luật Đât đai 2013 so với Luật Đất đai 2003 về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
Thu hồi đất
- Về các trường hợp thu hồi đất:
Từ 12 trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 38 của Luật Đất đai năm
2003, Luật Đất đai 2013 bổ sung trường hợp thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; đồng thời chia thành 04 nhóm để có quy định riêng về cơ chế xử lý đất thu hồi, tài sản trên đất thu hồi phù hợp với tính chất của từng nhóm, gồm:
+ Nhóm 1: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh (Điều 61 Luật Đất đai 2013);
+ Nhóm 2: Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 62 Luật Đất đai 2013);
+ Nhóm 3: Thu hồi đất do vi phạm pháp luật (Điều 64 Luật Đất đai 2013); đặc biệt đối với trường hợp không đưa đất đã được giao, cho thuê vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng, Luật Đất đai quy định chế tài mạnh để xử lý đối với các
trường hợp này; cụ thể Luật quy định: “Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc
Trang 17tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng” (điểm i
Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013);
+ Nhóm 4: Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người (Điều 65 Luật Đất đai 2013)
- Cơ chế sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh:
So với quy định của Luật Đất đai năm 2003 hiện hành, Luật Đất đai 2013 quy định cụ thể việc sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh theo 02 cơ chế sau:
+ Cơ chế Nhà nước thu hồi đất đối với các dự án sử dụng đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Nhằm cụ thể quy định tại Điều 54 của Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua Các trường hợp được Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng được quy định chi tiết theo hướng kiểm soát chặt chẽ hơn và thu hẹp hơn Cụ thể: Nhà nước chỉ thu hồi đất đối với các dự án đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; dự án được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư và một số trường hợp được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét thông qua chủ trương thu hồi đất (Điều
62 Luật Đất đai 2013)
+ Cơ chế Nhà nước không thu hồi đất mà chủ đầu tư và người sử dụng đất tự thỏa thuận việc sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, thuê, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất (Điều 73 Luật Đất đai 2013)
Quy định này sẽ góp phần giảm khiếu kiện phát sinh từ cơ chế sử dụng đất
để sản xuất, kinh doanh; đặc biệt là từ quy định này, Luật Đất đai làm rõ những trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì người sử dụng đất được bồi thường theo giá đất
do Nhà nước xác định, còn những trường hợp còn lại (Nhà nước không thu hồi đất)
Trang 18thì người sử dụng đất được chủ đầu tư trả tiền theo giá đất do các bên thỏa thuận
- Thẩm quyền thu hồi đất:
Về cơ bản thẩm quyền thu hồi đất được quy định trong Luật Đất đai 2013 theo hướng kế thừa quy định của Luật Đất đai năm 2003 Tuy nhiên, Điều 66 của Luật Đất đai 2013 có sửa đổi thẩm quyền thu hồi đất so với quy định hiện hành để cải cách hành chính khi thực hiện các dự án, trong đó quy định UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất đối với trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất
- Trình tự, thủ tục thu hồi đất:
Đối với trường hợp thu hồi đất thuộc nhóm 1 và nhóm 2 (thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng), Luật Đất đai 2013 quy định bổ sung trình tự, thủ tục thu hồi đất tại Điều 69, 70 và 71, đặc biệt là trình tự, thủ tục cưỡng chế kiểm đếm để lập phương
án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trình tự, thủ tục cưỡng chế thu hồi đất theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ; đảm bảo quyền lợi của người có đất thu hồi và tăng cường hơn sự tham gia trực tiếp của nhân dân; làm rõ trách nhiệm đối thoại và giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người dân chưa có ý kiến đồng thuận trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Các trường hợp thu hồi đất thuộc nhóm 3, 4 (thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người), Luật Đất đai 2013 không quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất mà giao Chính phủ quy định nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình thực hiện
UBND cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất và quyết định duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày
Bồi thường
- Quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất:
Các chế định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật Đất đai năm 2003 được quy định trong 02 điều (Điều 42 và Điều 43) và trên thực tế đã không thể truyển tải hết các quy định mang tính nguyên tắc để thực hiện
Trang 19thống nhất khi xử lý những vấn đề phức tạp phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại các địa phương, các bộ, ngành Khắc phục hạn chế này, Luật Đất đai 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt (Điều 74 và Điều 88) Trong đó, quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất
và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện
Trong đó, Luật Đất đai 2013 bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường
về đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 75, cụ thể: (1) Bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; (2) trường hợp cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất mà không phải là đất
do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Luật Đất đai 2013 thể chế hóa cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại thông qua các quy định chi tiết đối với từng loại đất, gồm: đất nông nghiệp, đất ở, đất phi nông nghiệp không phải đất ở và theo từng loại đối tượng sử dụng đất (từ Điều 77 đến Điều 81 của Luật Đất đai 2013)
Trong đó, theo quy định của Luật Đất đai 2013 việc xác định mức bồi thường cho người có đất thu hồi đối với đất sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn phải căn cứ thời hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với đất đó, trừ trường hợp đất nông nghiệp có nguồn gốc do Nhà nước giao đất đối với hộ gia đình, cá nhân
- Quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (Điều 76 Luật Đất đai 2013), cho một số trường hợp không được bồi thường về đất
Những trường hợp được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm:
+ Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại Khoản 1 Điều 54;
Trang 20+ Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;
+ Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng;
+ Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;
+ Đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối
- Bổ sung quy định về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các dự
án đặc biệt (Điều 87 Luật Đất đai 2013), nội dung quy định theo hướng:
+ Bổ sung trường hợp thu hồi đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người, đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người thì người có đất thu hồi được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để ổn định đời sống, sản xuất theo quy định của Chính phủ
+ Đối với dự án đầu tư do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư mà phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống, kinh tế - xã hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng, các dự án thu hồi đất liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì Thủ tướng Chính phủ quyết định khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
+ Đối với dự án sử dụng vốn vay của các tổ chức quốc tế, nước ngoài mà Nhà nước Việt Nam có cam kết về khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì thực hiện theo khung chính sách đó
+ Bổ sung việc hỗ trợ di chuyển thành bồi thường
Trang 21+ Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;
+ Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật
- Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường (Khoản 1 Điều 84 Luật Đất đai
2013):
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm
Trường hợp người được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh
- Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di
chuyển chỗ ở (Khoản 2 Điều 84 Luật Đất đai 2013):
Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi đất
mà phải di chuyển chỗ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh; trường hợp người có đất thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm
Giá đất
- Về khung giá đất (Điều 113 Luật Đất đai 2013)
Luật Đất đai năm 2003 quy định giao Chính phủ ban hành khung giá các loại đất nhưng không quy định thời hạn phải ban hành mới khung giá các loại đất, chỉ quy định việc điều chỉnh khung giá các loại đất khi giá chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thực tế trên thị trường có biến động lớn Luật Đất đai 2013 giao “Chính
Trang 22phủ ban hành khung giá các loại đất định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng Trong thời gian thực hiện khung giá đất mà giá đất phổ biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá tối thiểu trong khung giá đất thì Chính phủ điều chỉnh khung giá đất cho phù hợp”
- Về bảng giá đất (Khoản 2 Điều 114 Luật Đất đai 2013)
Nếu như Luật Đất đai năm 2003 quy định Bảng giá đất do UBND cấp tỉnh quy định và ban hành hàng năm (công bố vào ngày 01/01 hàng năm) và được sử dụng để làm căn cứ xác định nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với Nhà nước và ngược lại của Nhà nước đối với người sử dụng đất trong mọi trường hợp thì Luật Đất đai 2013 quy định Bảng giá đất được xây dựng định kỳ 05 năm một lần và công
bố công khai vào ngày 01/01 của năm đầu kỳ
Bảng giá đất được áp dụng trong 06 trường hợp Cụ thể như sau:
+ Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất ở của
hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích trong hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân;
+ Tính thuế sử dụng đất;
+ Tính phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai;
+ Tính tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
+ Tính tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai;
+ Tính giá trị quyền sử dụng đất để trả cho người tự nguyện trả lại đất cho Nhà nước đối với trường hợp đất trả lại là đất Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền sử dụng đất, đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê
Trước khi trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua bảng giá đất ít nhất
60 ngày, UBND cấp tỉnh gửi dự thảo bảng giá đất đến cơ quan có chức năng xây dựng khung giá đất xem xét, trường hợp có chênh lệch lớn về giá đất giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định
Trang 23- Về giá đất cụ thể (Khoản 4 Điều 114 Luật Đất đai 2013)
Luật Đất đai năm 2003 chưa quy định việc xác định giá đất cụ thể, trong quá trình vận hành không những gây thất thu cho ngân sách nhà nước mà còn là nguyên nhân phát sinh khiếu nại của người bị thu hồi đất do giá đất tính thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, giá đất tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đều áp dụng theo bảng giá đất mà mức giá đất trong bảng giá luôn luôn thấp do không theo kịp với giá thị trường Vì vậy, Luật Đất đai đã bổ sung quy định về việc xác định và áp dụng giá đất cụ thể Cụ thể như sau:
Giá đất cụ thể được áp dụng trong các trường hợp sau:
+ Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích đất ở vượt hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân Tính tiền thuê đất đối với đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất, vượt hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân;
+ Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức mà phải nộp tiền sử dụng đất; + Tính tiền thuê đất đối với trường hợp Nhà nước cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất;
+ Tính giá trị quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà doanh nghiệp cổ phần sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền
sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; tính tiền thuê đất đối với trường hợp doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm;
+ Tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp UBND cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh được thuê tổ chức có chức năng tư vấn định giá đất để tư vấn xác định giá đất
cụ thể
Trang 24- Về tư vấn giá đất (Điều 115 Luật Đất đai 2013)
Luật Đất đai năm 2003 chưa quy định khung pháp lý về hoạt động tư vấn giá đất và điều kiện hành nghề tư vấn giá đất, đã tạo nên khoảng trống trong lĩnh vực này, làm phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập trong quá trình tổ chức thi hành Luật Đất đai Khắc phục hạn chế nêu trên, Luật Đất đai 2013 đã dành 02 điều quy định các trường hợp tư vấn giá đất được thực hiện, điều kiện hoạt động tư vấn giá đất và hành nghề tư vấn giá đất, quyền và nghĩa vụ của tổ chức tư vấn có chức năng tư vấn xác định giá đất, đặc biệt Luật còn quy định giá đất tư vấn xác định là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giá đất
Những quy định nêu trên cho thấy, Luật Đất đai 2013 đã đặc biệt quan tâm tới sinh kế của người có đất thu hồi thông qua cơ chế bồi thường bằng đất, bằng tiền; quy định hỗ trợ ổn định cuộc sống tại nơi tái định cư; nâng mức bồi thường đất nông nghiệp, chú trọng đào tạo nghề để chuyển đổi nghề nghiệp cho người nông dân,… Tuy nhiên, một số quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong luật này cho thấy vẫn chưa giải quyết được triệt để những vướng mắc, bất cập, đáp ứng được yêu cầu thực tế
1.2 Thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở tỉnh Bắc Ninh
1.2.1 Các văn bản chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở tỉnh Bắc Ninh
Tỉnh Bắc Ninh được thành lập năm 1997 Thực hiện các quy định của Nhà nước trong công tác thu hồi đất, bồi thường GPMB, tỉnh đã ban hành các quy định theo phân cấp quản lý trong công tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ trong từng thời điểm, cụ thể như sau:
- Quyết định số 137/UB ngày 04/6/1997 về việc Ban hành quy định đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng thị xã Bắc Ninh
- Quyết định số 74/1998/QĐ-UB ngày 11/9/1998 về việc Ban hành bản quy định tạm thời thực hiện Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (thay thế Quyết định số 137/UB ngày 04/6/1997)
- Quyết định số 144/QĐ-UB ngày 01/11/2005 về việc Ban hành Quy định cụ thể hoá một số nội dung thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004
Trang 25(thay thế Quyết định số 74/1998/QĐ-UB ngày 11/9/1998)
- Quyết định số 171/2009/QĐ-UBND ngày 18/12/2009 Ban hành quy định một số nội dung thực hiện các Nghị định của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (thay thế Quyết định số 144/QĐ-UB ngày 01/11/2005)
- Quyết định số 157/2011/QĐ-UBND ngày 27/12/2011 về việc sửa đổi khoản 1, Điều 10 của Quy định một số nội dung thực hiện các Nghị định của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ban hành kèm theo Quyết định số 171/2009/QĐ-UBND ngày 18/12/2009 (nâng mức hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp từ 2,5 lần giá đất nông nghiệp lên thành 5 lần)
- Quyết định số 570/2013/QĐ-UBND ngày 25/12/2013 Về quy định giá các loại đất trên địa bản tỉnh năm 2014 gồm: giá đất nông nghiệp; giá đất ở tại đô thị; giá đất ở tại nông thôn; giá đất ở ven trục quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện và giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp
Và các Quy định về giá đất hàng năm; Quy định bồi thường, hỗ trợ hoa màu, cây trồng, vật nuôi; Quy định bồi thường, hỗ trợ công trình, vật kiến trúc từng thời điểm theo các văn bản hướng dẫn của Chính phủ và các Bộ, ngành
1.2.2 Tình hình thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở tình Bắc Ninh
Tỉnh Bắc Ninh đang trong thời kỳ đô thị hóa phát triển nhanh, các dự án đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng nhiều, các KCN không ngừng được mở rộng phát triển ở địa bàn cũ mà còn được xây dựng nhiều ở những khu vực mới Do đó công tác thực hiện việc thu hồi đất và bồi thường thiệt hại cho người dân có đất bị thu hồi ngày càng phức tạp
Trong năm 2013, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Ninh đã thẩm định
và trình tỉnh ký 125 hồ sơ với tổng diện tích thu hồi 3.843.105,10m2 phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng Cụ thể trong bảng sau:
Trang 26Bảng 1.1 Tổng hợp diện tích đất bị thu hồi năm 2013 của tỉnh Bắc Ninh
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh, năm2014)
Theo bảng trên ta thấy phần lớn đất bị thu hồi là đất nông nghiệp với diện tích 2.187.622,8m2 (chiếm tổng số 56,92% tổng diện tích đất bị thu hồi) Sau đó là diện tích đất chuyên dùng với 1.519.788,2m2 (chiếm tổng số 39,55% tổng diện tích đất bị thu hồi) Đất bãi thải, xử lý chất thải (187,0m2) là loại đất có diện tích thu hồi
ít nhất (chiếm tổng số 0,0049% tổng diện tích đất bị thu hồi)
Đối với các dự án thu hồi đất vì mục đích cộng đồng, văn hóa, giáo dục, y tế,…do Nhà nước làm chủ đầu tư, thì thường người dân tuân thủ và chấp hành theo đúng pháp luật Do các dự án này mang lại lợi ích, phục vụ các nhu cầu thiết thực cho đời sống người dân và cộng đồng Ngược lại, đối với các dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, các khu đô thị, KCN,…thì công tác GPMB luôn luôn gặp rất nhiều khó khăn Do có nhiều điều chưa thống nhất giữa chủ dự án và người dân như đơn giá về mức bồi thường và hỗ trợ, việc làm của người dân sau khi bị mất đất, ảnh hưởng tới môi trường sống của người dân khi KCN đi vào hoạt động,
Bảng 1.2 Tổng hợp các dự án được phê duyệt năm 2013
Trang 27(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh, năm2014)
Trong đó, thành phố Bắc Ninh là trung tâm của cả tỉnh nên là địa phương có nhiều dự án được triển khai nhất, với tổng số 29 dự án (chiếm tổng số 26,85% tổng
số dự án của cả tỉnh) triển khai để phát triển kinh tế xã hội Lương Tài và Gia Bình
là hai huyện có nền kinh tế phát triển chậm hơn so với các địa phương khác, và cũng là các địa bàn có số dự án triển khai thấp nhất Tuy nhiên, công tác bồi thường GPMB ở hai địa phương này lại được thực hiện rất tốt, đa số các dự án diễn ra đúng tiến độ, trình tự thủ tục của công tác GPMB Vì đây là những huyện có kinh tế phát triển chậm, vị trí địa lý không thuận lợi so với các huyện khác, các nghề tiểu thủ công nghiệp và nghề phụ ít… Nên mỗi khi có dự án phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương thì được chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện tốt trong việc GPMB, người dân nghiêm chỉnh chấp hành theo chính sách pháp luật của Nhà nước
* Những tồn tại và hạn chế trong công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ
ở tỉnh Bắc Ninh:
- Việc điều tra, đo đạc, lập và chỉnh lý hồ sơ địa chính còn nhiều hạn chế Những hạn chế của công tác này làm ảnh hưởng đến công tác xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Chính quyền các cấp không có đầy đủ hồ sơ quản lý, không cập nhật biến động thường xuyên và không quản lý được những vụ việc mua bán, chuyển nhượng đất đai trái phép Chính điều này gây khó khăn cho người thi hành đồng thời làm mất lòng tin trong dân Là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự chậm trễ, ách tắc trong công tác giải quyết các mối quan hệ đất đai nói chung và GPMB nói riêng
Trang 28- Việc giao đất, cho thuê đất trái thẩm quyền, tình trạng quản lý đất đai thiếu chặt chẽ, diện tích thực tế chênh lệch nhiều so với diện tích ghi trong giấy tờ quyền
sử dụng đất và các hiện tượng tiêu cực trong giao đất, thuê đất đã làm ảnh hưởng đến việc đền bù chưa hợp lý Đây là một trong những nguyên nhân gây khiếu kiện trong dân khi tiến hành GPMB
- Một số người làm công tác GPMB không được đào tạo nghiệp vụ, không nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành, họ thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là dựa vào khả năng cá nhân và kinh nghiệm công tác Đây là nguyên nhân dẫn đến những sai sót trong công tác lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Bên cạnh đó, mô hình tổ chức bộ máy thực hiện công tác GPMB và cơ chế phối hợp chưa đáp ứng được yêu cầu và tiến độ của các chủ đầu tư, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trì trệ trong việc lập và xây dựng phương án cũng như việc đề xuất cấp có thẩm quyền giải quyết vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện
- Việc xác định loại đường, vị trí để áp giá các loại đất trên cơ sở khung giá của UBND tỉnh của UBND cấp huyện là nguyên nhân gây nên sự tuỳ tiện trong việc xác định giá đất, không phù hợp với giá chuyển nhượng thực tế Hậu quả là người dân không tự giác di dời làm chậm tiến độ thi công
- Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bằng tiền chưa thật công bằng giữa các loại đất; giữa các xã và phường; giữa hộ gia đình với nhau và giữa 2 địa phương liền kề trong cùng một khu vực GPMB đang có sự chênh lệch bất hợp lý
- Giá đất để bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thấp so với giá chuyển nhượng thực tế tại địa phương, tạo ra mức chênh lệch làm cho người dân cảm thấy bị thiệt thòi, đòi tăng tiền bồi thường, không bàn giao mặt bằng theo kế hoạch, làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án
- Về chính sách hỗ trợ: Một số dự án chưa thực hiện chính sách hỗ trợ tuyển dụng, đào tạo việc làm cho các các hộ thuộc diện chính sách, mặc dù số hộ được hưởng chính sách rất cao Một số dự án có thực hiện chính sách đào tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp song chất lượng đào tạo không đảm bảo trình độ tay nghề để làm việc ở các nhà máy
- Về diện tích đất đền bù, giá đất đền bù Cách xác định hạn mức đất ở để bồi
Trang 29thường, hỗ trợ và tái định cư so với quy định còn tuỳ tiện, không thống nhất giữa các địa phương và các dự án với nhau
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý quan trọng trong việc xác định điều kiện được đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở các huyện còn rất chậm trễ, thiếu chính xác đã gây không ít khó khăn cho công tác GPMB
Những tồn tại và hạn chế trong quá trình thu hồi đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng ở tỉnh Bắc Ninh đã gây ảnh hưởng đến tiến độ thu hồi đất, bàn giao mặt bằng, cũng như còn gây nên nhiều bất lợi cho người dân bị thu hồi đất
1.3 Cơ sở lý luận về sinh kế và sinh kế bền vững
1.3.1 Khái niệm sinh kế
Theo từ điển Tiếng Việt thì sinh nghĩa là sống, kế nghĩa là tính toán Vì vậy, sinh kế là cách làm ăn để mưu cầu sự sống [21]
Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn vốn (bao gồm cả nguồn tài nguyên hữu hình và tài nguyên xã hội) và những hoạt động cần thiết của con người để sinh sống Một sinh kế bền vững khi nó có thể giải quyết hoặc vượt qua những khủng hoảng, cú sốc và duy trì hoặc nâng cao khả năng và nguồn vốn cả ở thời điểm hiện tại và trong tương lai, trong khi không làm xói mòn nguồn tài nguyên tự nhiên (Chambers
& Conway, 1991)
Bộ Hợp tác phát triển Quốc tế Anh (DFID) cũng đưa ra khái niệm Sinh kế
như sau: “Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn gọi là kế sinh nhai hay phương cách kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó Khái niệm về sinh
kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người
có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện
để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu và ước nguyện (tham vọng) của họ” Đây cũng là khái niệm phổ biến, thường được sử dụng trong nhiều nghiên
cứu khác nhau [29]
1.3.2 Chiến lược sinh kế
Việc người dân tiếp cận và sử dụng nguồn vốn của mình như thế nào trong bối cảnh xã hội, kinh tế, chính trị và môi trường để tạo thành chiến lược sinh kế Các chiến lược sinh kế có tính đa dạng cao vì mỗi cá nhân có nhiều hoạt động khác
Trang 30nhau để đáp ứng nhu cầu cá nhân của họ Mỗi người hoặc nhiều người có thể tham gia vào các hoạt động để tạo nên chiến lược sinh kế chung Ví dụ trong hộ gia đình, mỗi cá nhân có thể đảm nhận trách nhiệm khác nhau để đảm bảo vấn đề tồn tại và phát triển của hộ Ở một số nền văn hóa, quy mô nhóm có thể mở rộng ra thành một cộng đồng nhỏ, mà trong đó các cá nhân hoạt động cùng nhau để đảm bảo nhu cầu của cả cộng đồng đó [29]
1.3.3 Bối cảnh sinh kế
Sinh kế được tạo ra trong bối cảnh xã hội, kinh tế và chính trị nào đó Các thể chế, quy trình và chính sách như thị trường, loại hình tổ chức xã hội và chính sách sở hữu đất, đều có ảnh hưởng đến việc người dân có khả năng tiếp cận và sử dụng các nguồn vốn để tạo sinh kế như thế nào Khi các bối cảnh này thay đổi, tất yếu sẽ tạo ra những cơ hội hoặc thách thức mới cho vấn đề sinh kế
Bảng 1.3 Các bối cảnh sinh kế
Quan hệ xã hội
Cách thức mà qua đó giới tính, dân tộc, văn hóa, lịch sử, tôn giáo và quan hệ họ hàng có ảnh hưởng đến sinh kế của nhiều nhóm khác nhau trong một cộng đồng
Thể chế chính trị
và xã hội
Quá trình ra quyết định, thể chế, hình thái và nguyên tắc xã hội, tính dân chủ, tính lãnh đạo, sức mạnh và uy tín, hành vi tìm kiếm đặc lợi
Quản trị
Hình thái và chất lượng hệ thống cầm quyền bao gồm cơ cấu, quyền lực, tính hiệu quả và năng lực, quyền lợi và sự thể hiện
Cung cấp dịch vụ
Sự hiệu quả và có trách nhiệm của Nhà nước và các tổ chức khối tư nhân tham gia vào sự cung cấp dịch vụ công như giáo dục, y tế, nước và vệ sinh
Thể chế tiếp cận
nguồn tài nguyên
Tiêu chuẩn xã hội, phong tục và hành vi quy định sự tiếp cận của con người đến nguồn tài nguyên
Quy trình chính
sách và chính sách
Quy trình mà chính sách và lập pháp được xác định và thực hiện cùng sự ảnh hưởng của nó đến sinh kế của người dân
(Nguồn: IRP, UNDP, 2010)
Trang 31Ngoài ra, bối cảnh môi trường tự nhiên cũng có ảnh hưởng nhiều đến vấn đề sinh kế, như chất lượng đất, nước, không khí, điều kiện khí hậu, vị trí địa lý, cũng như tần suất, cường độ của tai biến thiên nhiên
1.3.4 Sinh kế bền vững
Sinh kế được coi là bền vững khi: người dân có thể tự phục hồi được sau khi xảy ra các cú sốc; không phụ thuộc vào hỗ trợ bên ngoài (hoặc nếu có, thì những hỗ trợ này phải có tính bền vững kinh tế và thể chế); duy trì năng suất dài hạn của nguồn tài nguyên thiên nhiên; không làm xói mòn phương thức sinh kế của người khác, hoặc không làm tổn thương đến lựa chọn sinh kế của người khác
Phương thức khác của việc khái niệm hóa các mặt của bền vững là phân biệt giữa những ảnh hưởng môi trường, kinh tế, xã hội và thể chế, cụ thể như sau:
- Bền vững môi trường đạt được khi năng suất của nguồn tài nguyên tự nhiên phục vụ cuộc sống con người được ổn định hoặc được tăng cao để đảm bảo cho việc
sử dụng của các thế hệ tương lai nữa
- Bền vững kinh tế đạt được khi mức độ tiêu dùng được duy trì ở một cấp độ nào đó (trong trường hợp sinh kế của người nghèo, thì bền vững về kinh tế đạt được khi người đó sống và duy trì được ở trên ngưỡng nghèo)
- Bền vững về mặt xã hội đạt được khi sự khác biệt xã hội được tối giản hóa, còn công bằng xã hội thì được tối đa hóa
- Bền vững về mặt thể chế đạt được khi cơ cấu và quy trình hiện hành có đủ năng lực để tiếp tục đảm nhiệm chức năng trong thời gian dài (Nguồn: IRP, UNDP, 2010)
DFID cũng đưa ra một khung lý thuyết sinh kế bền vững (Hình 1.1), trong đó đặt con người (đặc biệt là người nghèo ở nông thôn) vào vị trí trung tâm của khung Gần nhất với con người ở trung tâm của khung là các tài nguyên và nguồn vốn sinh
kế mà họ tiếp cận và sử dụng Việc mở rộng khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn của con người bị ảnh hưởng mạnh bởi bối cảnh của tính dễ bị tổn thương, như xu hướng (kinh tế, chính trị, công nghệ), các cú sốc (ví dụ; tài biến thiên nhiên, tranh chấp) và tính thời vụ (giá cả, sản xuất, cơ hội công việc) Việc tiếp cận này cũng bị ảnh hưởng bởi môi trường chính trị, thể chế, xã hội ưu thế bởi chúng đều có ảnh
Trang 32hưởng đến cách thức con người kết hợp và sử dụng nguồn vốn để đạt được mục
đích sinh kế của họ (được gọi là chiến lược sinh kế)
Hình 1.1 Sơ đồ phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững (SLA) (DFID 1999)
Từ khung phương pháp nói trên, ta có thể thấy rằng chiến lược sinh kế của
hộ gia đình đặc biệt quan trọng, giúp cho hộ có thể ổn định sinh kế nhờ vào việc sử dụng tốt các nguồn vốn trong hoàn cảnh có những thay đổi về điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội
Trong khung lý thuyết của DFID có nhắc đến “các nguồn vốn”, hàm chỉ con người muốn đảm bảo sinh kế bền vững cho mình thì phải dựa vào 5 loại hình tài sản vốn sau: Vốn con người (human capital), vốn tài chính (financial capital), vốn vật chất (physical capital), vốn xã hội (social capital), vốn tự nhiên (natural capital) Các nguồn vốn được cụ thể hóa như bảng dưới đây:
Trang 33Bảng 1.4 Các nguồn vốn đảm bảo sinh kế bền vững Vốn con người Kỹ năng, kiến thức, sức khỏe và khả năng làm việc
Vốn xã hội
Tình làng nghĩa xóm, các phong tục truyền thống, các tổ chức đoàn thể, cơ hội tham gia vào các cơ quan tổ chức ở địa phương
Vốn tự nhiên Đất đai, nước, rừng và các loài sinh vật khác
Vốn vật chất
Cơ sở hạ tầng cơ bản như đường sá, hệ thống nước sinh hoạt, điều kiện vệ sinh, trường học, trạm xá, hàng hóa sản xuất bao gồm công cụ, trang thiết bị và gia súc gia cầm
Vốn tài chính Tiền tiết kiệm, thu nhập từ làm việc, buôn bán và tiền gửi ngân
hàng
(Nguồn: UNDP, IRP, 2010)
Mọi nguồn vốn đều là tài sản quý giá giúp cho cá nhân hoặc hộ gia đình có thể sớm phục hồi, ổn định sinh kế sau khi có những biến cố về xã hội, kinh tế và chính trị xảy đến với gia đình
1.4 Tổng quan những công trình nghiên cứu về tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân ở nước ta
Nghiên cứu “Tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến sinh kế
nông dân Việt Nam: Trường hợp một làng ven đô Hà Nội” của tác giả Nguyễn
Văn Sửu thực hiện năm 2007 đã cho thấy tác động to lớn của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế của người nông dân ở làng Phú Điền, một làng ven đô của thành phố Hà Nội Một mặt, việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ công nghiệp hóa và đô thị hóa đã đem lại cho người nông dân Phú Điền một khoản tiền giá trị lớn hơn rất nhiều so với thu nhập hàng năm của hoạt động sản xuất nông nghiệp Quá trình này cũng đã chuyển đổi hình thức sinh kế truyền thống của người dân địa phương từ sản xuất nông nghiệp sang những nguồn sinh kế đa dạng khác, trong đó cho thuê nhà trọ
và buôn bán nhỏ đóng một vai trò quan trọng Giá trị quyền sử dụng đất ở trong khu vực gia tăng nhanh chóng khiến cho những người nông dân Phú Điền ở thời điểm hiện tại thay đổi hẳn cuộc sống của mình bởi sự gia tăng tiềm lực tài chính của gia đình Nhưng mặt khác, người nông dân Phú Điền cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, như nhiều người nông dân sau khi mất đất đã không tìm được việc làm mới,
Trang 34cũng không còn đất để sản xuất nông nghiệp Các tệ nạn xã hội, mất trật tự an ninh
ở làng ngày càng phát triển và diễn biến phức tạp
Trong một nghiên cứu khác của Huỳnh Văn Chương và Ngô Hữu Hoạnh về “Ảnh
hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến sinh kế người nông dân bị thu hồi đất tại thành phố Hội An , tỉnh Quảng Nam” cũng khẳng định rằng
việc Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp làm thay đổi nguồn tài nguyên tạo sinh kế thực sự là một cú sốc lớn gây xáo trộn cuộc sống của người nông dân Các nguồn tài nguyên tạo sinh kế có sự luân chuyển cho nhau, qua điều tra và phân tích chỉ ra rằng, tài sản đất đai của người nông dân chuyển thành vốn tài chính và vốn vật chất, rất ít trường hợp chuyển thành nguồn vốn xã hội
và nguồn vốn con người trong nhóm các nguồn tài nguyên tạo sinh kế Nghiên cứu cho thấy nhiều hộ dân tuy có thu nhập cao hơn (60,71% hộ gia đình điều tra) sau khi chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp để thực hiện quá trình
đô thị hoá nhưng người dân không yên tâm do thu nhập không ổn định và cuộc sống tiềm ẩn những bất ổn Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cần có những giải pháp cụ thể hơn về tạo việc làm, tư vấn sử dụng nguồn vốn bồi thường, hỗ trợ đền bù, tái định cư từ phía Nhà nước để người dân bị thu hồi đất có sinh kế bền vững sau thu hồi đất
Nghiên cứu “Sinh kế người của người nông dân sau khi bị thu hồi đất tại
phường Thủy Dương, Thị xã Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên Huế”của Nguyễn
Quang Thục và Nguyễn Xuân Khoát đã dựa vào phương pháp tiệp cận sinh kế để đánh giá sự chuyển đổi về lao động, việc làm và thu nhập của các hộ gia đình bị thu hồi đất phục vụ các dự án phát triển của tỉnh Thừa Thiên Huế Kết quả nghiên cứu tại Thủy Dương cho thấy, nguồn thu nhập của các hộ gia đình đã thay đổi một cách mạnh mẽ và đa dạng Thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình, trong khi thu nhập từ nông nghiệp ngày càng giảm xuống Chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã làm tăng thêm sự khác biệt về mặt xã hội trong quá trình thích ứng và tìm kiếm chiến lược sinh kế Một số lao động chủ yếu là người nghèo và những người trên 40 tuổi đang đối mặt với nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm bởi vì thiếu kỹ năng, lý do sức khỏe, trình độ văn hóa và trình
độ chuyên môn Chính quyền địa phương cần tập trung đầu tư phát triển các ngành
Trang 35nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ để tạo nhiều việc làm tại chỗ phù hợp với mọi lứa tuổi; hoặc liên doanh liên kết với các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn để thực hiện các khâu gia công, các công việc cần thiết trong quá trình hoàn thiện sản phẩm nhằm tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao thu nhập cho người lao động
Như vậy, sau khi tổng quan các nghiên cứu trên, ta thấy các nghiên cứu đều tập trung phân tích sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp và cách hành động của họ sau khi bị tác động trên Tác giả đã đưa ra sơ đồ (Hình 1.2) người nông dân (hộ gia đình) bị mất đất nông nghiệp dựa trên khung sinh kế bền vững của DFID:
Vốn
sinh
kế
Sinh kế người nông dân
Các kết quả SK
(theo hướng tích cực)
- Cuộc sống ổn định nhanh chóng
- Thu nhập nhiều hơn
- An ninh lương thực được đảm bảo
- Có việc làm tốt (kinh doanh, buôn bán, công nhân…)
- Cơ sở vật chất cơ đầy đủ
- Cơ sở hạ tầng được đầu tư sủa chữa và xây dựng mới
- Tệ nạn xã hội giảm, an ninh xã hội được bảo đảm
- Cơ sở vật chất không đầy đủ,
- Cơ sở hạ tầng xuống cấp, không được sửa chữa
- Tệ nạn xã hội gia tăng, an ninh xã hội phức tạp
Các chính sách, pháp luật của Nhà nước
(như thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ…)
Bối cảnh gây tổn thương:
- Các cú sốc( mất đất, mất việc làm…)
- Các xu hướng ( Công nghiệp hóa, đô thị hòa…)
Trang 36việc mất đất cho các KCN trở thành cơ hội cho họ có được việc làm (kinh doanh, buôn bán, công nhân ) tốt với mức thu nhập cao, nhanh chóng ổn định cuộc sống, đảm bảo sinh kế bền vững Ngược lại thì họ sẽ gặp khó khăn trong tìm việc, việc làm mang tính thời vụ (làm thuê, thợ xây, phụ hồ ), thu nhập không ổn định, cuộc sống bấp bênh Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, đảm bảo sinh kế bền vững cho người nông dân là điều được Nhà nước, các cấp chính quyền
và người dân đặc biệt quan tâm và tìm hướng giải quyết
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG
CỦA DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP HANAKA,
THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH 2.1 Điều kiện tự nhiên thị xã Từ Sơn
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Xét về mặt địa giới hành chính, thì thị xã có giáp ranh như sau:
- Phía bắc giáp huyện Yên Phong
- Phía nam giáp huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
- Phía đông: giáp huyện Tiên Du
- Phía tây: giáp huyện Gia Lâm, Đông Anh, thành phố Hà Nội
Từ Sơn có diện tích tự nhiên 6.133,23ha, với tổng dân số là 156.059 người, mật
độ dân số đạt 2.544 người/km2 năm 2012 (Nguồn: Phòng thống kê thị xã Từ Sơn)
Thị xã Từ Sơn có 12 đơn vị hành chính bao gồm: 7 phường (Đông Ngàn, Đình Bảng, Châu Khê, Tân Hồng, Đồng Nguyên, Trang Hạ, Đồng Kỵ) và 5 xã (Hương Mạc, Phù Chẩn, Phù Khê, Tam Sơn, Tương Giang)
Thị xã Từ Sơn nằm ở vị trí địa lý rất thuận lợi, cách không xa các đô thị lớn, đặc biệt là khu tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, khí hậu, thuỷ văn khá thuận lợi, tạo điều kiện cho việc phát triển Từ Sơn trên nhiều phương diện về kinh
Trang 38xã có các làng nghề truyền thống nổi tiếng như: nghề sơn mài Đình Bảng, mộc mỹ nghệ Phù Khê, Đồng Kỵ, rèn sắt Đa Hội, dệt Tương Giang,…
2.1.1.2 Khí hậu, thuỷ văn
Điều kiện khí hậu
Từ Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp đa canh, đa dạng Thuộc kiểu khí hậu chung của tỉnh Bắc Ninh, Từ Sơn có hai mùa chính trong năm: mùa lạnh - khô bắt đầu từ tháng 11, kết thúc vào tháng 4 năm sau, với lượng mưa/tháng biến động từ 11,6 - 82,9 mm, nhiệt
độ trung bình tháng từ 15,80C - 23,40C; Mùa nóng - mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 24,50C - 29,90C, lượng mưa/tháng
từ 125,2mm (tháng 10) đến 282,3mm (tháng 8) Lượng mưa trong các tháng mùa mưa chiếm 84,64% tổng lượng mưa cả năm
Độ ẩm không khí trung bình năm của khu vực đạt 84%, trong đó tháng có độ
ẩm không khí lớn nhất là 88% (tháng 3), tháng có độ ẩm không khí thấp nhất 70% (tháng 12)
Điều kiện thủy văn
Nguồn nước mặt: Từ Sơn có nguồn nước mặt tương đối dồi dào bao gồm sông Ngũ Huyện Khê, ngòi Ba Xã và hàng trăm ha diện tích mặt nước ao hồ Sông Ngũ Huyện Khê là nguồn nước mặt chủ yếu của thị xã Từ Sơn và là ranh giới với huyện Yên Phong Đoạn sông Ngũ Huyện Khê chảy qua phía Nam thị xã từ phường Châu Khê qua phường Đồng Kỵ, xã Hương Mạc, xã Tam Sơn rồi chảy sang huyện Yên Phong, dài khoảng 10km Sông Ngũ Huyện Khê nối liền sông Cầu, rất thuận lợi cho tưới tiêu Tuy nhiên, sông Ngũ Huyện Khê là con sông phải chịu tiếp nhận nước thải nhiều nhất từ các làng nghề trên địa bàn tỉnh
Hệ thống sông ngòi, kênh mương cùng với số lượng ao hồ hiện có tạo điều kiện cung cấp nước ngọt quanh năm cho sản xuất, sinh hoạt cũng như cải tạo đất Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm qua thực tế sử dụng của người dân trong thị xã cho thấy mực nước ngầm có độ sâu trung bình từ 2- 5m, chất lượng nước tốt, có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và tưới cho các cây trồng tại các vườn gia đình trong mùa khô
Trang 392.1.1.3 Thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/50.000 toàn tỉnh, có bổ sung trên bản đồ tỷ lệ 1/10.000 của thị xã cho thấy đất đai thị xã Từ Sơn bao gồm 8 loại đất chính, trong đó chủ yếu là đất phù sa gley của hệ thống sông Hồng Loại đất này phân bố ở hầu hết các xã, phường trong thị xã, tập trung thành những cánh đồng lớn Đất được hình thành ở địa hình vàn, vàn thấp, trong điều kiện ngập nước, gley yếu đến trung bình Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, đất chua, hàm lượng mùn và đạm khá, lân dễ tiêu nghèo
Ngoài ra còn có các loại đất phù sa được bồi của hệ thống sông Ngũ Huyện Khê, đất phù sa không được bồi của hệ thống sông Hồng, đất phù sa có tầng loang
lổ của hệ thống sông Thái Bình, đất phù sa úng nước, đất xám bạc màu trên phù sa
cổ, đất xám bạc màu gley, đất vàng nhạt trên đá cát Do quá trình canh tác lâu đời, hoặc do đặc tính của đất, nên các loại đất này đều phải cải tạo thường xuyên để đảm bảo năng suất cây trồng
2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội thị xã Từ Sơn
2.2.1 Dân số và lao động
Dân số
Theo kết quả thống kê, đến năm 2012 tổng dân số của toàn thị xã là 156.059 người với tốc độ tăng trưởng dân số bình quân đạt 2,02% năm Đây là tỷ lệ tăng trưởng dân số khá cao so với các huyện khác trong tỉnh
Bảng 2.1 Tình hình dân số thị xã Từ Sơn giai đoạn 2008 - 2012
vị tính
Trang 40Chỉ tiêu Đơn
vị tính
(Nguồn: Phòng Thống kê thị xã, năm 2013)
Tính đến thời điểm điều tra năm 2012, dân số toàn thị xã có 156.059 người, mật độ bình quân là 1.423 người/km2, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 2,02%
Giai đoạn từ năm 2008 - 2012, dân số thành thị có sự tăng nhanh gấp 18,2 lần từ năm 2008 (5.304 người) đến năm 2012 (96.495 người) và dân số nông thôn giảm 2,15 lần từ năm 2008 (127.905 người) đến năm 2012 (59.564 người) do thị xã
Từ Sơn có quyết định lên thị xã và mở rộng địa giới hành chính năm 2008 Vì vậy, một số xã được lên phường làm cho dân số thành thị có sự tăng nhanh đột biến Trong những năm gần đây được sự quan tâm của các ngành, các cấp công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình đã có những bước tiến rõ rệt Tuy nhiên, tốc độ tăng dân số cơ học trong mấy năm vừa qua tăng tương đối cao do có sự điều chỉnh địa giới hành chính một số xã của huyện Tiên Du về thị xã Từ Sơn
Lao động
Trong bảng dưới đây ta thấy số lao động có việc làm năm 2012 tăng so với năm 2010 là 1.790 người Số lao động trong ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng đều qua các năm, tăng 13,73% từ năm 2010 đến 2012 Số lao trong ngành nông nghiệp có chiều hướng giảm mạnh kể từ năm 2010 Năm 2010 ngành này có 33.215 lao động chiếm 45,66% tổng số lao động có việc làm của thị xã nhưng năm 2012 số lao động trong ngành này chỉ còn 30.014 lao động chiếm 34,4% giảm 11,26%