DANH MỤC BẢNG 1.2 Diện tích và số thửa ruộng của mỗi hộ nông dân Trung Quốc 111.3 Tình hình biến động về số lượng và quy mô trang trại nông nghiệp ở 3.1 Bảng tổng hợp tình hình phát triể
Trang 11.1 Cơ sở lý luận về dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp 4 1.1.1 Manh mún đất đai và sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa 4 1.1.2 Tác động của dồn điền đổi thửa tới sử dụng đất nông nghiệp 9 1.2 Những nghiên cứu về công tác dồn điền đổi thửa trên thế giới và Việt Nam 10 1.2.1 Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 10 1.2.2 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở Việt Nam 17 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 21 1.3.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên 22
1.3.3 Nhóm các yếu tố về tổ chức cơ sở vật chất, kỹ thuật 24
2.2.1 Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội có liên quan
2.2.2 Đánh giá tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất của
Trang 22.2.3 Tìm hiểu được tình hình thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa ở
2.2.4 Tác động của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất sản xuất
2.2.5 Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trước và sau khi thực
2.2.6 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 28 2.3.4 Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trước và sau khi dồn đổi ruộng đất 29 2.3.5 Phương pháp minh họa bằng bản đồ, hình ảnh 31
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 38 3.2 Đánh giá tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất của huyện
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Lý Nhân năm 2014 42 3.2.2 Tình hình biến động các loại đất trong thời gian nghiên cứu 43 3.3.Tình hình thực hiện chính sách Dồn điền đổi thửa ở huyện Lý Nhân 44 3.3.1 Các văn bản pháp lý về dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Lý
3.3.2 Các bước thực hiện quá trình dồn đổi ruộng đất 47
3.4.Tác động của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất sản xuất nông
Trang 33.4.1 Tác động của công tác DĐĐT đến diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính trước và sau DĐĐT 52 3.4.2 Dồn điền đổi thửa làm thay đổi hệ thống giao thông, thuỷ lợi 54 3.4.3 Một số kiểu sử dụng đất trước và sau DĐĐT 55 3.4.4 Tác động của công tác DĐĐT đến việc cơ giới hoá trong sản xuất
3.4.5 Tác động của DĐĐT đến việc hình thành các trang trại 58 3.4.6 Tác động của DĐĐT đến việc quản lý và sử dụng đất công ích 61 3.4.7 Tạo tâm lý ổn định cho người nông dân yên tâm đầu tư sản xuất 61 3.5 Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trước và sau khi thực hiện dồn
3.5.1 Dồn điền đổi thửa mang lại giá trị kinh tế 62 3.5.2 Dồn điền đổi thửa góp phần nâng cao hiệu quả xã hội 66 3.5.3 Dồn đổi ruộng đất góp phần bảo vệ môi trường 68
Trang 4DANH MỤC BẢNG
1.2 Diện tích và số thửa ruộng của mỗi hộ nông dân Trung Quốc 111.3 Tình hình biến động về số lượng và quy mô trang trại nông nghiệp ở
3.1 Bảng tổng hợp tình hình phát triển kinh tế, xã hội của huyện Lý Nhân
3.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Lý Nhân năm 2014 423.3 Tình hình biến động diện tích theo mục đích sử dụng từ năm 2010 đến
3.4 Thực trạng ruộng đất nông nghiệp huyện Lý Nhân trước và sau dồn
3.5 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính trước DĐĐT
3.6 Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi nội đồng trước và sau DĐĐT 543.7 Một số kiểu sử dụng đất chính trước và sau DĐĐT 563.8 Sự thay đổi vật tư và các thiết bị phục vụ sản xuất sau khi dồn điền
3.9 Số trang trại sản xuất nông nghiệp sau dồn đổi ruộng đất 593.10 Giá thuê đất công ích thực tế trước và sau dồn điền đổi thửa 613.11 Mức độ đầu tư, chi phí của các hộ trên 1 sào lúa trước và sau dồn điền
3.12 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên một hecta đất nông nghiệp tại 2 xã
3.13 Mức độ sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, BVTV bình quân 1 hộ điều
3.14 Kết quả phỏng vấn nông hộ sau dồn điền đổi thửa 70
Trang 5DANH MỤC HÌNH
3.1 Sơ đồ vị trí huyện Lý Nhân trong tỉnh Hà Nam 32 3.2 Giao thông nội đồng sau khi đã dồn điền đổi thửa xã Bắc Lý Huyện
3.3 Cây lạc xuân ở Huyện Lý Nhân sau khi đã dồn điền đổi thửa 56 3.4 Áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp ở Lý Nhân sau khi DĐĐT 58 3.5 Mô hình chăn nuôi hỗn hợp của gia đình ông Trần Văn Phước xóm 6 xã
3.6 Mô hình chăn nuôi kết hợp lúa – cá của gia đình bà Nguyễn Thị Én xóm
3.7 Mô hình trang trại chăn nuôi của gia đình ông Nguyễn Đức Vĩnh thôn
3.8 Sơ đồ tình trạng manh mún đất đai trước và sau DĐĐT khu đồng xã
3.9 Mô hình trang trại nuôi trồng thủy sản hộ gia đình bà Trần Thị Trúc
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TN & MT Tài nguyên và môi trướng
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế của sản xuất nông nghiệp Trong lịch sử phát triển nông nghiệp, cải cách ruộng đất luôn là khâu bứt phá quyết định mọi quan hệ sản xuất và ảnh hưởng rõ rệt nhất đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Có thể nói đất đai cần thiết cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân Tuy nhiên tài nguyên đất đai có hạn Bởi vậy việc quản lý,
sử dụng đất đai hợp lý, hiệu quả và bền vững là một đòi hỏi cấp thiết không chỉ riêng đối với quốc gia nào
Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn những năm trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt những chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực của cả nước, trong đó điển hình là Luật đất đai năm 1993 Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ
“Ban hành bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp” Theo đó ruộng đất được chia đến tận tay người nông dân Những chính sách mới về quyền sử dụng đất đai đã làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân đã thực sự trở thành người chủ mảnh đất của riêng mình Đó là động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp nước ta sau giải phòng miền Nam Điều đó đã đưa Việt Nam từ một nước hàng năm phải nhập khẩu một lượng lớn lương thực, vươn lên thành một nước xuất khẩu lớn trên thế giới về một số mặt hàng nông sản như: gạo, cà phê, chè, hạt tiêu, thuỷ sản…
Vai trò to lớn của sự phân chia ruộng đất cho hộ nông dân như nói trên là không thể phủ nhận Song với bối cảnh ngày nay, đất nước đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong môi trường hội nhập kinh tế quốc
tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo tối đa nguyên liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu Như vậy đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
Trang 8thuật vào đồng ruộng thật hiệu quả Nhưng trên thực tế, khi chia ruộng đất cho nông dân theo tinh thần của Nghị định 64/CP của Chính Phủ, chúng ta đã thực hiện phương châm công bằng xã hội: ruộng tốt cũng như ruộng xấu, ruộng xa cũng như ruộng gần đều được chia đều tính trên một nhân khẩu cho các gia đình, dẫn đến tình trạng ruộng đất bị phân tán nên không đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền nông nghịêp trong hoàn cảnh mới Vậy nên nó đã cho thấy một số hạn chế, điển hình là tình trạng manh mún ruộng đất
Sự manh mún ruộng đất đã dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả của sản xuất thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Ngoài ra, tình trạng manh mún ruộng đất còn gây nên những khó khăn trong quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất
Để khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất như nói trên, thì việc dồn đổi ruộng đất từ nhiều ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn; liền khu, liền khoảnh là việc làm hết sức cần thiết, đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, áp dụng cơ giới hoá và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng; đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, tạo điều kiện cho các hộ nông dân trong việc yên tâm sử dụng và khai thác đất nông nghiệp lâu dài và hiệu quả, đồng thời nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai
Nắm bắt được tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra chủ chương
“Dồn đổi ruộng đất” để việc sử dụng đất có hiệu quả hơn
Trên thực tế, một số tỉnh đã triển khai làm điểm, thậm chí có những nơi đã đưa
ra những chính sách riêng để triển khai dồn điền đổi thửa giữa các hộ xã viên Việc dồn điền đổi thửa cũng đã thành công ở nhiều nơi, nhiều chỗ nhưng cũng có những địa phương không thành công Mặt khác mức độ thành công ở mỗi nơi là khác nhau
Có nơi công việc chỉ diễn ra nhanh chóng trong một vài tháng, nhưng có nơi kéo dài hàng năm, gây tốn kém sức người và tiền của
Lý Nhân là một huyện của tỉnh Hà Nam đã thực hiện công tác đồn điền đổi thửa, xong công tác đồn điền đổi thửa có ảnh hưởng đến sử dụng đất của các hộ nông dân hay không thì chưa đánh giá và tổng kết lại để đưa ra các kinh nghiệm, những vấn đề tồn tại trong việc thực hiện dồn điền đổi thửa và những khuyến nghị hữu ích
Trang 9cho các địa phương khác thực hiện dồn điền đổi thửa được hiệu quả hơn
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam”
2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử
dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu liên quan đến vấn đề dồn điền đổi thửa nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp
3 Yêu cầu của đề tài
- Nắm được điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp của huyện Lý Nhân
- Tình hình sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất trước và sau khi dồn điền đổi thửa
- Những ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất canh tác trên địa bàn nghiên cứu
- Hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trước và sau khi dồn điền đổi thửa
Trang 10Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận về dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
1.1.1 Manh mún đất đai và sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa
1.1.1.1 Manh mún đất đai
a Khái niệm
Manh mún ruộng đất được hiểu trên hai khía cạnh: một là sự manh mún về mặt ô thửa, trong đó một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) có quá nhiều mảnh ruộng với kích thước quá nhỏ và bị phân tán ở nhiều xứ đồng Hai là sự manh mún thể hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất khác
Cả hai kiểu manh mún trên đều dẫn đến tình trạng là hiệu quả sản xuất thấp, khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là vấn đề cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá trong nông nghiệp, dẫn đến tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả
Vì thế người ta luôn tìm cách khắc phục tình trạng này
b Nguyên nhân manh mún ruộng đất
Tình trạng manh mún ruộng đất do các nguyên nhân sau:
+ Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất là sự phức tạp của địa hình, nhất là các vùng đồi núi, trung du Do địa hình bị chia cắt nên đất đai ở đa
số các địa phương hầu như đều có 3 loại đất: đất cao, đất vàn, đất thấp, trũng
+ Chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho tất cả con cái Ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả các con sau khi ra ở riêng Vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ
+ Do tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ Do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi liên quan đến ruộng đất + Phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc có tốt, có xấu, có xa,
có gần khi thực hiện Nghị định 64 CP năm 1994 Việc chia nhỏ các thửa ruộng để
có sự công bằng giữa các hộ đó góp phần không nhỏ làm tăng tình trạng manh mún
Trang 11ruộng đất Quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý do sau đây khiến đa số các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:
- Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, xa, tốt, xấu, cao, thấp Có như vậy mới thể hiện tính công bằng
- Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ
- Do hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất khác nhau nên phải chia đều đất cho các hộ
- Các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như úng, hạn, chua do
đó việc chia đều rủi ro cho các hộ cũng là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng
- Ngoài ra, giá đất luôn biến động, tăng cao đặc biệt là các khu đất gần các trục đường chính hoặc trong tương lai sẽ nằm trong quy hoạch khu đô thị, khu công nghiệp vì thế đất ở đó phải được chia đều cho các hộ để mọi người đều có thể hưởng "thành quả" đền bù đất hay cùng chịu "rủi ro"nếu đất đai bị chuyển mục đích
sử dụng
1.1.1.2 Sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa
Đất đai là yếu tố sản xuất không thể thiếu trong quá trình sản xuất nói chung, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp Xuất phát điểm là một quốc gia thuần nông, Việt Nam có những thế mạnh về đất đai và đã tạo ra được những thành tựu nhất định trong ngành sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, năng suất lao động của nông nghiệp Việt Nam hiện nay còn thấp so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng đó là do vấn đề manh mún đất đai trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam Hiện nay, theo tiêu chuẩn của thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ manh mún đất đai cao nhất
so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Theo điều tra, diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người trên thế giới là 0,52 ha, trong khu vực là 0,36 ha thì ở Việt Nam là 0,25 ha
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới cơ
Trang 12chế kinh tế nông nghiệp nông thôn, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên trước nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước, nền nông nghiệp và đặc biệt là vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp đã bộc lộ những tồn tại, nảy sinh mới cần phải được quan tâm giải quyết, đó chính là tình trạng ruộng đất quá manh mún về diện tích và ô thửa
Trong giai đoạn 10 năm (2001 - 2010), diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm Theo số liệu của Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên Môi trường, bình quân mỗi năm đất nông nghiệp giảm gần 100 nghìn hécta, đặc biệt năm 2007 giảm 120 nghìn hécta Cùng với đó là sự gia tăng dân số ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, nhất là dân số ở vùng nông thôn làm cho bình quân đất sản xuất trên đầu người ngày càng giảm mạnh Năm 2000 trung bình diện tích đất nông nghiệp tính trên đầu người là 680 m2, năm 2005: 630 m2, năm 2011: 437 m2(Niên giám Thống kê năm 2000, 2005, 2011) Cùng với sự sụt giảm trong diện tích bình quân đầu người là sự thu hẹp về quy mô sản xuất; theo Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn (1999), 70,36% hộ nông dân có diện tích canh tác khoảng 0,5 ha; chỉ có 3,46% số hộ có diện tích canh tác lớn hơn 3
ha Đến năm 2010, tỷ lệ hộ có diện tích đất canh tác nhỏ hơn 0,5 ha có giảm nhưng không đáng kể: cả nước tỷ lệ này vẫn là 67,38% Trong đó, Đồng bằng sông Hồng đạt tỷ lệ cao nhất với 94,46%, Miền núi phía Bắc: 63,9%, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung: 79,54%, Tây Nguyên: 24,08%, Đông Nam Bộ: 35,48%, Đồng bằng sông Cửu Long: 47,96% (Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, 2011) Theo Điều tra nông thôn của dự án DANIDA (2010) với bộ số liệu điều tra tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình Việt Nam (VARHS) được tiến hành điều tra trên địa bàn 12 tỉnh của Việt Nam trong khoảng thời gian từ tháng 7/2008 đến tháng 8/2010 tại 12 tỉnh cho thấy diện tích đất canh tác trung bình của một hộ nông dân là 0,85 ha, trung bình mỗi hộ có 4,7 mảnh đất khác nhau, tổng khoảng cách từ nơi ở đến ruộng của các hộ nông dân khoảng 4,7 km
Trang 13Bảng 1.1 Thực trạng manh mún đất đai năm 2010
Tỉnh
Diện tích đất canh tác (ha) (trung bình)
Diện tích đất canh tác (trung vị)
Số mảnh đất
Tổng khoảng cách đến các mảnh (m)
(Nguồn: Số liệu của dự án DANIDA, 2010)
Theo số liệu điều tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến năm 2011 Việt Nam vẫn còn 69% số hộ sử dụng đất sản xuất có quy mô dưới 0,5 ha; 34,7% số hộ
có quy mô dưới 0,2 ha Như vậy, có thể thấy đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đang bị phân tán lớn, quy mô sản xuất nhỏ, số thửa canh tác nhiều
Trang 14Hình 1.1 Quy mô sản xuất nông nghiệp các vùng
(Nguồn: Trung tâm Tư vấn Chính sách nông nghiệp – CAP, 2010)
Sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ sẽ có nhiều khó khăn cho quá trình sản xuất và phát triển cơ giới hoá trong nông nghiệp, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, thực hành thâm canh và chuyển dịch cơ cấu cây trồng Việc đưa máy móc vào trong sản xuất nông nghiệp sẽ khó có thể thực hiện hiệu quả khi diện tích quá nhỏ Phần lớn hiện nay ở Việt Nam diện tích đất canh tác nhỏ hơn 0,5 ha/thửa, đặc biệt là đồng bằng sông Hồng Do đó hình thành rất nhiều đường bờ để ngăn cách các thửa ruộng với nhau Sự tồn tại của những đường bờ ngăn cách đó gây khó khăn cho sự vận hành của máy móc hiện đại Ngoài ra, những đường bờ ngăn đó cũng sẽ lấy đi một phần diện tích đất sản xuất không nhỏ
Đồng thời manh mún ruộng đất gây cản trở cho việc quy hoạch giao thông, thuỷ lợi và các cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất; gây nên sự phức tạp, tốn kém trong công tác quản lí ruộng đất, xây dựng hồ sơ địa chính từ đó mà dễ phát sinh tiêu cực trong quản lí đất đai Tiền của của Nhà nước cũng bị lãng phí trong quá trình lập hồ
sơ ruộng đất (chi tăng 35-50% nếu như ruộng đất vẫn còn manh mún)
Chi phí sản xuất sẽ gia tăng vì các hộ phải tốn nhiều thời gian để di chuyển giữa các thửa ruộng Theo bảng số liệu trên, trung bình khoảng cách giữa các thửa ruộng gần 5 km; với con số trung bình là 5 thửa ruộng thì hộ nông dân cần phải đi
Trang 15một đoạn đường gần 25 km trên lượt di chuyển đến tất cả các thửa ruộng Chi phí đi lại về thời gian và tiền bạc tốn kém hơn rất nhiều Ngoài ra việc phải canh tác trên nhiều thửa ruộng với quy mô nhỏ sẽ gia tăng chi phí đầu vào đối với sản xuất (Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, 2011)
Vấn đề thủy lợi trong sản xuất quy mô nhỏ sẽ có nhiều khó khăn Với một hệ thống thủy lợi chung cho một cánh đồng có thể không đạt hiệu quả vì còn tồn tại quá nhiều đường bờ ngăn ruộng Ngoài ra việc sản xuất quy mô nhỏ còn làm gia tăng mâu thuẫn giữa các hộ nông dân, gây ra những tác động xấu về mặt xã hội trong đời sống nông thôn
Tình trạng manh mún hạn chế chính đến các quyền của hộ nông dân sử dụng đất như quyền được thế chấp, thừa kế
Như vậy, đất đai trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam hiện nay đang rất manh mún Tình trạng này sẽ có tác động trực tiếp xấu đến tính hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp Những tác động gián tiếp đến việc làm, thu nhập của nông dân
và tác động đến tăng trưởng chung của cả nền kinh tế là khó tránh khỏi Vì vậy, Việt Nam cần phải có những chính sách thích hợp để hạn chế mức độ manh mún đất sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới Chuyển đổi ruộng đất chống manh mún, phân tán tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho việc thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.1.2 Tác động của dồn điền đổi thửa tới sử dụng đất nông nghiệp
1.1.2.1 DĐĐT đã tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất
Sau dồn điền đổi thửa (DĐĐT) diện tích trên một thửa đất tăng lên, nông dân có điều kiện áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, luân canh tăng vụ và chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành các
mô hình cánh đồng mẫu lớn cho thu nhập cao
- Những vùng đất úng trũng cấy lúa một vụ hoặc 2 vụ bấp bênh đã được chuyển sang đào ao, lập vườn nuôi trồng thủy sản kết hợp trồng cây ăn quả hoặc khoanh vùng cải tạo để phát triển mô hình cá lúa…
- Những vùng đất cao, vàn cao thuận tiện việc giao thông hoặc gần các trung tâm đô thị thường được chuyển sang trồng các loại cây rau màu cao cấp, trồng hoa
Trang 16cây cảnh hoặc xây dựng trang trại chăn nuôi tập trung theo hướng công nghiệp…
- Trên chân đất vàn đã tiến hành quy hoạch lại đồng ruộng thành vùng chuyên canh lúa, cùng với việc hoàn thiện hệ thống giao thông thủy lợi nội đồng để
tổ chức sản xuất thâm canh các giống lúa cho năng suất cao, chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường, đồng thời đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực ở địa phương
1.1.2.2 DĐĐT tạo ra lãnh thổ hợp lý cho quá trình tổ chức sản xuất
Chính sách DĐĐT đã tạo ra quy mô ô thửa lớn, một mặt tiết kiệm được diện tích làm bờ, mặt khác có nhiều khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đặc biệt là cơ giới hóa mạnh trong khâu làm đất tưới tiêu chủ động nên đã tiết kiệm được chi phí sản xuất, nhờ vậy mà hiệu quả sử dụng đất tăng lên
1.1.2.3 DĐĐT tạo tâm lý cho người nông dân an tâm đầu tư sản xuất
Hộ nông dân sẽ an tâm hơn sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa, họ được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ phát huy tối đa hơn các quyền sử dụng đất theo luật định; đầu tư đúng hướng để khai thác tiềm năng đất đai đồng thời cải tạo, bồi bổ đất làm tăng độ phì nhiêu cho đất để sử dụng ổn định và lâu dài
1.2 Những nghiên cứu về công tác dồn điền đổi thửa trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Tình trạng manh mún ruộng đất xảy ra ở nhiều nơi và nhiều nước trên thế giới tại các thời kỳ khác nhau của lịch sử phát triển Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún cũng rất đa dạng, như: Đặc điểm phân bố địa lý, sức ép gia tăng dân số, tính chất của nền nông nghiệp còn kém phát triển, đặc điểm tâm lý của cộng đồng dân cư nông thôn, hệ quả của một hay nhiều chính sách ruộng đất hoặc
sự quản lý lỏng lẻo kém hiệu quả trong công tác quản lý đất đai, … muốn giải quyết triệt để tình trạng này đòi hỏi phải có những hiểu biết cụ thể về nguyên nhân của vấn đề này
Theo Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2011) tập trung ruộng đất là một yêu cầu đặt ra trong quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn của các nước Tập trung ruộng đất tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất thâm canh tăng năng suất lao động, tăng khối lượng và tỷ suất nông sản hàng hóa, giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Vì vậy việc tích tụ
Trang 17ruộng đất trong quá trình công nghiệp hóa hầu như đã trở thành quy luật, diễn ra ở nhiều nước Tuy nhiên chủ trương, biện pháp và mức độ tích tụ ruộng đất ở mỗi quốc gia không hoàn toàn giống nhau
1.2.1.1 Trung Quốc
Nhà nước Trung Quốc đã tiến hành cải cách nông nghiệp và nông thôn từ năm 1978 Quá trình cải cách được chia thành 2 giai đoạn, giai đoạn 1 từ năm 1978 đến 1984, giai đoạn 2 từ năm 1985 đến 1990 và sau đó có đề ra phương hướng phát triển nông nghiệp và nông thôn cho thập kỷ 90
Văn kiện số 01 năm 1984 quy định “ Kéo dài thời hạn khoán ruộng đất để khuyến khích nông dân đầu tư, bồi bổ sức đất, thực hiện thâm canh” Chủ trương này nhằm kiện toàn chế độ khoán sản phẩm đến hộ nông dân, khắc phục tình trạng nông dân "bóc ngắn cắn dài”, sản xuất có tính chất lạm dụng độ màu mỡ của đất đai Thời hạn khoán ruộng đất từ 15 năm trở lên, đối với loại kinh doanh chu kỳ sản xuất dài có tính chất khai hoang như vườn, rừng, đồi hoang,… thì thời hạn khoán cần phải dài hơn Trước khi kéo dài thời hạn khoán, nếu quần chúng có yêu cầu điều chỉnh ruộng đất thì có thể dựa vào nguyên tắc “đại ổn định, tiểu điều chỉnh” (nghĩa là, về cơ bản phải ổn định nhưng có thể điều chỉnh một phần nhỏ ruộng đất khoán chưa hợp lý) thông qua thương lượng một cách đầy đủ sau đó tập thể thống nhất điều chỉnh Ngoài ra văn kiện này còn cho phép hộ nông dân có quyền nhượng ruộng khoán, cụ thể là “khuyến khích từng bước tập trung ruộng đất vào tay những người làm ruộng giỏi”
Bảng 1.2 Diện tích và số thửa ruộng của mỗi hộ nông dân Trung Quốc
Năm Diện tích/ hộ (ha) Số thửa ruộng/hộ (thửa) Diện tích T.bình/thửa (ha)
(Nguồn: Bộ nông nghiệp Trung Quốc, 2000)
Chỉ thị số 18 năm 1990 của Trung Quốc quy định “ổn định quan hệ ruộng đất nhận khoán không có nghĩa là không cho phép có sự điều chỉnh về mảnh ruộng và
Trang 18số lượng ruộng khoán, những thửa ruộng quá phân tán, không thuận tiện cho việc canh tác thì có thể căn cứ vào nguyện vọng của quần chúng mà tiến hành điều chỉnh theo nguyên tắc số lượng và giá trị ngang bằng” Trong quá trình thực hiện khoán ruộng đất cho các hộ nông dân, một số địa phương đã thực hiện việc khoán đất tốt kèm đất xấu, cho nên ruộng đất nhận khoán phân tán, manh mún không thuận tiện cho nông dân canh tác Những năm gần đây một số địa phương đã căn cứ nguyện vọng của quần chúng, tiến hành nhận ruộng đất và điều chỉnh Kết quả đã diễn ra tốt, nhưng cần phải giữ vững hai nguyên tắc:
Một là, tôn trọng nguyện vọng của quần chúng, không được áp đặt
Hai là, phải đảm bảo theo nguyên tắc số lượng và giá trị ngang bằng
Như vậy từ những năm 1978 Trung Quốc đã tiến hành cải cách nông nghiệp, thực hiện hình thức khoán sản lượng đến hộ nông dân mà thực chất là khoán ruộng đất hoàn thành công cuộc thiết kế lại đồng ruộng thông qua chuyển đổi ruộng đất Tỉnh Sơn Đông của Trung Quốc cũng đã thực hiện chương trình dồn điền đổi thửa từ năm 1988, quy định quy mô tối đa là 4 thửa/hộ, giúp giảm từ 7,6 thửa/hộ xuống còn 3,4 thửa/hộ Khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tăng từ
7 đến 15% so với trước dồn điền đổi thửa Tuy nhiên, đến năm 1998, đa số nông dân chống đối phong trào này vì dồn điền đổi thửa không phù hợp với điều kiện và chiến lược phát triển sản xuất của nông hộ Qua kinh nghiệm này cho thấy dồn điền đổi thửa cần dựa trên sự tự nguyện của nông dân và áp dụng một cách linh hoạt đối với từng địa bàn, khu vực khác nhau sao cho phù hợp
Không chỉ Trung Quốc, nhiều nước khác cũng nóng vội muốn can thiệp hành chính một lần để giảm chi phí giao dịch vì họ cho rằng nếu để hộ nông dân tự làm thông qua thị trường điều chỉnh thì chi phí sẽ rất cao và mất nhiều thời gian Tuy nhiên, việc can thiệp hành chính này không đảm bảo được rằng ruộng đất sẽ không
bị chia nhỏ lại sau dồn điền đổi thửa (bán một lần, chia thừa kế cho con cái, …) Hơn nữa các biện pháp can thiệp hành chính thường phải tiến hành song song với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn nhưng Chính phủ lại thường thiếu vốn để đầu tư cho việc này
1.2.1.2 Nhật Bản
Xuất phát điểm từ chính sách trước những năm 1960 mỗi hộ nông dân Nhật
Trang 19có nhiều thửa ruộng phân tán, xa nhau quy mô mỗi thửa chỉ từ 500 m2 đến 1000 m2 Vào thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp chủ yếu sử dụng lao động thủ công và sức kéo gia súc Đã xuất hiện sự chênh lệch lớn về thu nhập giữa lao động nông nghiệp và lao động của các ngành khác Để chấn hưng nông nghiệp, năm 1961 Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật cơ bản về nông nghiệp Một trong ba mục tiêu chính của Luật cơ bản nông nghiệp là đưa nông nghiệp từ quy mô nhỏ lên quy
mô lớn Để thực hiện mục tiêu này Bộ nông nghiệp đề ra “Sự nghiệp xây dựng ruộng đất với ba mục tiêu: rộng, chắc chắn, sâu”
- Rộng: nâng kích thước thửa ruộng lên 0,3 ha
- Chắc chắn: cải tạo nền đất yếu, nhiều bùn, hay mún trên cơ sở kiến thiết xây dựng thoát nước cho từng thửa ruộng và toàn khu vực để có thể sử dụng máy móc thuận lợi
- Sâu: cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dày khoảng 1m (theo các chuyên gia Nhật Bản thì Nhật Bản học tập kinh nghiệm chuyển đổi xử lý đất của Cộng hoà Liên Bang Đức)
Để đáp ứng nhu cầu trên phải làm hai việc:
- Về mặt hành chính: đó là xử lý chuyển đổi đất từ các thửa nhỏ ở xa nhau thành các thửa có kích thước lớn
- Về mặt kỹ thuật: gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc xây dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng Việc chuyển đổi đất là công việc rất phức tạp vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân và việc chuyển đổi phải tiến hành đồng thời với một số biện pháp, công việc khác mới phát huy có hiệu quả Trước khi chuyển đổi phải xây dựng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cho mục đất phi nông nghiệp với yêu cầu ít nhất 8 năm kể từ khi xử lý, không được thay đổi mục đích Việc quy hoạch đất nông nghiệp và mục đích phi nông nghiệp cũng nhằm mục đích kêu gọi đầu tư tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, giảm việc nông dân
di cư vào thành phố Giới hạn tối đa cho diện tích này là 30% diện tích toàn khu nông nghiệp
Việc chuyển đổi đất dựa trên nguyên tắc tương ứng về diện tích và giá trị với
Trang 20lý đất nông nghiệp đã góp phần quan trọng đưa năng suất lúa từ 3000 kg gạo/ha năm 1960, lên 6000 kg gạo/ha năm 1992 Hiện nay việc chuyển đổi xử lý ruộng đất được tiếp tục khuếch trương lên 1 ha hoặc 2 ha, có thể lên tới 3 ha hoặc 6 ha, tiến gần đến quy mô thửa ruộng
1.2.1.3 Thái Lan
Đồng bằng Chao phraya của Thái Lan có sức ép về dân số thấp hơn Quá trình phân nhỏ ruộng đất tuy chưa đến mức quá manh mún nhưng nó lại có một nguyên nhân khác đó chính là việc xây dựng siêu đô thị Băng Kok Một sự phát triển theo chiều thuận là công nghiệp sẽ rút bớt lao động nông thôn ra thành thị làm cho quy mô ruộng đất nông nghiêp tăng lên Tuy nhiên ở Chao phraya lại khác, cách đây khoảng 120 năm vùng này dân cư vẫn còn thưa thớt, cả vùng có đến 2 triệu ha đất nhưng dân cư chỉ có khoảng trên 300 ngàn người Nhưng bắt đầu xây dựng đô thị khổng lồ Băng Kok kể từ vài chục năm gần đây đã làm cho dân số vùng
Trang 21tăng nhanh bình quân 3% năm Đất nông nghiệp mất đi trung bình 1% năm kể từ năm 1970 trở lại đây Các trang trại bị chia nhỏ giảm dần về quy mô ruộng đất Trung bình một hộ năm 1950 có 4,8 ha đến năm 1963 còn 4,5 ha, năm 1978 là 4,1
ha và 15 năm sau, năm 1993, chỉ còn 3,5 ha Sự giảm quy mô trung bình ruộng đất
ở Thái Lan một phần nữa còn được giải thích bởi sự chia đều ruộng đất cho con cái thừa kế và sự chậm tiến bộ về mặt công nghệ, kỹ thuật sản xuất Giai đoạn 20 năm
từ 1955 đến 1975 là giai đoạn giá nông sản (lúa) khá thấp, công nghệ sản xuất “bão hoà” (Molle và Srijant, 2000) không khuyến khích được tập trung ruộng đất Trên thực tế, giá nông sản thấp và sự bần cùng hoá nông dân luôn đi cùng với sự chia nhỏ quy mô sản xuất bởi vì lợi ích đầu tư ruộng đất lúc đó không cao, bởi vì người
ta cần chia nhỏ và đa dạng hoạt động để tránh rủi ro và cũng còn bởi vì thiếu những người có đủ tiền bạc, thực lực để mà mua đất vào
1.2.1.4 Tích tụ ruộng đất ở một số nước Âu Mỹ
Các nước Âu Mỹ bình quân ruộng đất trên đầu người khá cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, nhu cầu lao động công nghiệp nhiều, chính quyền khuyến khích việc đẩy nhanh tốc độ tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô trang trại bằng các chế độ và chính sách cụ thể, khuyến khích sản xuất kinh doanh của các trang trại lớn
Tuy nhiên để tránh tích tụ ruộng đất quá lớn trong tổng địa phương, một số nước như Pháp, Anh có biện pháp quản lý thông qua hội đồng quy hoạch đất đai của tỉnh, huyện, với hội đồng quản trị gồm những đại diện nông dân địa phương, những chuyên viên ruộng đất và hai ủy viên Chính phủ Hội đồng này mua đất trên thị trường tạo ra quỹ đất dự trữ và bán lại công khai cho các hộ nông dân mua đất theo giá thị trường
Kể từ sau cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 cuối thế kỷ 19 đầu hế kỷ 20, một loạt các trang trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đã bị loại bỏ thay thế vào đó là các trang trại quy mô vừa năng suất lao động cao Ví dụ ở Pháp năm 1950 có xấp xỉ 2,29 triệu nông hộ với quy đất 14 ha/hộ, đến năm 1993 chỉ còn 0,8 triệu hộ với quy
mô 35 ha/hộ
Trang 22Bảng 1.3 Tình hình biến động về số lượng và quy mô trang trại nông nghiệp
ở một số nước Châu Âu
Ngoài ra có một số nghiên cứu khác trong các nước phát triển về quá trình tập trung hay phân hoá quy mô nông hộ trong đó có quy mô ruộng đất Quy mô ruộng đất được thể hiện qua kinh tế quy mô trong nông nghiệp ở hai khía cạnh:
+ Sự phù hợp giữa quy mô các nguồn lực (đất đai, đàn gia súc, vốn, lao động
và công nghệ) và khả năng quản lý sử dụng các nguồn lực trong nông hộ Theo khái niệm này, quy mô kinh tế được mở rộng nhằm hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của nông sản Các chi phí có thể được giảm nhờ tăng quy mô bao gồm: chi phí quản lý trang trại, chi phí áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chi phí tư vấn, đào tạo,… + Sự phù hợp giữa quy mô các mảnh thửa trong trồng trọt và các đàn gia súc trong chăn nuôi với khả năng đầu tư thâm canh và áp dụng hiệu quả khoa học tiến
bộ kỹ thuật
Trang 23Phương thức tăng quy mô ô thửa có thể hỗ trợ quá trình đầu tư, thâm canh,
cơ giới hoá qua đó có thể làm tăng hiệu quả sản xuất/1 đơn vị diện tích Nhưng nhiều ý kiến cho rằng quá trình tập trung thâm canh trên đây chỉ phát huy tác dụng khi sản xuất hàng hoá phát triển Nói cách khác quy mô của các ô thửa, đàn gia súc, phụ thuộc vào quy mô sản xuất, trình độ sản xuất và khả năng đầu tư của nông hộ Trong trường hợp lao động dư thừa và sản xuất có nhiều rủi ro, người nông dân nhỏ thường chọn giải pháp đầu tư vào lao động hơn là đầu tư vào các nguồn lực khác và vì thế họ ít quan tâm đến việc dồn điền đổi thửa Quy mô sản xuất phụ thuộc vào đặc điểm của các loại hình nông hộ và khả năng áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất …Ví dụ như quy mô sản xuất có hiệu quả hiện nay ở Pháp là từ 50 ha đến 100 ha/nông hộ, nhưng ở Mỹ (do khả năng cơ giới hoá cao) quy mô ruộng đất nông hộ phải từ 200 ha đến 300 ha thì mới đạt hiệu quả cao nhất
1.2.2 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
1.2.2.1 Khái quát việc thực hiện dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
Việt Nam bắt đầu con đường đổi mới kinh tế của mình vào năm 1986 Mục tiêu của chính sách đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 là bước ngoặt cơ bản Nội dung chính của chính sách này là công nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự do hoá thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất cũng như các tư liệu sản xuất khác (ngoại trừ đất đai) và giao đất sử dụng ổn định, lâu dài cho người dân Chính sách mới này đã dẫn đến xoá bỏ hợp tác hoá trong nông nghiệp Từ đó, nông nghiệp Việt Nam bước vào một giai đoạn mới tương đối ổn định Tuy nhiên, thời gian giao đất còn quá ngắn và một số quyền sử dụng đất khác chưa được luật pháp hoá Điều này dẫn đến nông dân có thể ít có động cơ đầu tư dài hạn trên đất Luật Đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết được những vấn đề nêu trên Theo đó nông dân được giao đất ổn định và lâu dài Họ được giao 5 quyền sử dụng đất bao gồm: quyền chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp Nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng Thông thường ở nhiều nơi trên miền Bắc, đất đai được chia bình quân theo định suất (hoặc bình quân theo
Trang 24nhân khẩu) Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là các chính sách
xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau
Vào năm 1998, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng cho nhau để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn Từ đó, các tỉnh miền Bắc, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng đã thành lập các hội đồng thực hiện thí điểm công tác dồn điền, đổi thửa Theo báo cáo, trên toàn quốc có khoảng trên 700
xã ở 18 tỉnh đã và đang thực hiện dồn điền, đổi thửa, tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm Trên thực tế ở những vùng này đất đai được chia lại cho các hộ nông dân với mục tiêu là giảm số thửa ruộng Ví dụ: Ở tỉnh Thanh Hoá số thửa ruộng đã giảm 51% trong 3 năm thực hiện chính sách này (1998 – 2001) Trung bình số thửa ruộng của một hộ đó giảm từ 7,8 thửa xuống còn 3,8 thửa (Viện Quy hoạch và Phát triển nông nghiệp, năm 2003) Trong các báo cáo gửi Chính phủ và UBND (Ủy ban nhân dân) tỉnh, khi rút kinh nghiệm công tác dồn điền, đổi thửa, các địa phương đều đưa
ra kết luận công tác dồn điền, đổi thửa nên áp dụng ở những vùng mà manh mún đất đai đang là vấn đề lớn và không có mâu thuẫn về đất đai Điều đó có nghĩa dồn điền, đổi thửa không nên dẫn đến những mâu thuẫn mới liên quan đến đất đai Nguyên tắc quan trọng nhất trong dồn điền, đổi thửa là các hộ nông dân tự nguyện đổi đất cho nhau để tạo thành những thửa lớn hơn Tuy nhiên, ở rất nhiều tỉnh quá trình giao lại đất đã xảy ra, trong đó các hộ nông dân được tham gia rất ít vào quá trình này, ngoại trừ việc đánh giá chất lượng đất và xác định hệ số trao đổi giữa các hạng đất
1.2.2.2 Tình hình dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh
Dồn điền đổi thửa không phải là một tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới (NTM), song với những địa phương có diện tích đất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, bình quân mỗi hộ dân sở hữu nhiều ô, thửa ruộng phân tán trên nhiều cánh đồng như hầu hết các xã của Thành phố Hà Nội thì việc làm này hết sức cần thiết Nếu tiến hành thành công DĐĐT sẽ có tác động tích cực tới hầu hết 19 tiêu chí
Trang 25trong xây dựng NTM Chính vì vậy, để triển khai thắng lợi Chương trình CTr/TU, Ban chỉ đạo thành phố Hà Nội đã xác định một trong những khâu đột phá
02-là tập trung chỉ đạo thực hiện công tác DĐĐT diện tích đất nông nghiệp không nằm trong quy hoạch công nghiệp và quy hoạch đô thị Ngay sau khi UBND Thành phố
Hà Nội có kế hoạch và hướng dẫn, các huyện, thị xã đã nhanh chóng xây dựng kế hoạch và ban hành nghị quyết về công tác DĐĐT, đồng thời giao chỉ tiêu kế hoạch
cụ thể để các xã căn cứ phấn đấu thực hiện Các xã đã bám sát hướng dẫn của Sở NN-PTNT tiến hành xây dựng phương án DĐĐT trình duyệt, đồng thời rà soát nhân khẩu, hộ khẩu, diện tích đất nông nghiệp giao theo Nghị định số 64/CP, một số xã
đã và đang tiến hành đo đạc, quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng
Sau 2 năm thực hiện (2012 - 2013), toàn thành phố Hà Nội đã dồn điền đổi thửa được 75.965,3 ha/76.365,07 ha, một diện tích đất nông nghiệp rất lớn mà hơn
10 năm qua chưa làm được Như vậy, Hà Nội đã dồn điền đổi thửa được 99,48% kế hoạch Một số huyện thực hiện dồn được diện tích lớn như: Chương Mỹ hơn 10,2 nghìn ha, Sóc Sơn hơn 10,3 nghìn ha, Phú Xuyên hơn 8,9 nghìn ha, Mỹ Đức hơn 7,5 nghìn ha… Trong đó, có nhiều huyện thực hiện vượt chỉ tiêu theo kế hoạch dồn điền đổi thửa như Phú Xuyên, Sóc Sơn, Ba Vì, Sơn Tây, Thạch Thất
Trong quá trình triển khai, toàn bộ diện tích đất nông nghiệp đã dồn điền đổi thửa đều được quy hoạch lại và đào đắp giao thông, thủy lợi nội đồng theo tiêu chuẩn, tiêu chí nông thôn mới Cơ giới hóa đã và đang được các xã, hợp tác xã và cá nhân đầu tư ở một số khâu chính như: làm đất, gieo cấy và thu hoạch… Thực tế, mỗi hộ gia đình trước dồn điền đổi thửa có 7-15 ô, thửa, thậm chí 27-39 ô, thửa như
ở Sóc Sơn, Chương Mỹ… Đến nay, chỉ còn 1-2 ô, thửa, cá biệt một vài nơi còn 3 ô, thửa/hộ, rất thuận lợi cho người dân trong tổ chức sản xuất, giảm đỡ ngày công, tiết kiệm chi phí vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu nên đa số người dân nông thôn của Hà Nội rất phấn khởi, tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Thành phố
Sau dồn điền đổi thửa, nhiều cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa chất lượng cao
đã hình thành ở hầu hết các huyện có qui hoạch sản xuất lúa Nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa đem lại giá trị kinh tế cao ra đời, như: mô hình hoa ở
Trang 26một số xã thuộc huyện Đan Phượng, Hoài Đức, Mê Linh, Từ Liêm, Thanh Trì, Đông Anh,… với giá trị 0,5-1,5 tỷ/ha/năm; mô hình chăn nuôi tập trung xa khu dân
cư như ở Sơn Tây, Ba Vì, Ứng Hòa, Chương Mỹ, Thanh Oai, Đan Phượng, Quốc Oai… với giá trị từ 1-2 tỷ/ha/năm và các mô hình chăn nuôi thủy sản ở một số xã thuộc huyện Thanh Trì, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Thanh Oai… với giá trị từ 200 - 300 triệu đồng/ha/năm
Với những kết quả tích cực trên cũng đồng nghĩa với năng lực tổ chức thực hiện các nội dung chương trình xây dựng NTM nói chung và công tác DĐĐT nói riêng của cán bộ từ huyện đến xã đã được nâng lên rõ rệt, củng cố lòng tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo công bằng, dân chủ trong cộng đồng nông thôn
Tuy nhiên, công tác DĐĐT là một việc làm rất khó, bởi nó đụng chạm tới quyền lợi của hầu hết các hộ dân, phải tiến hành một khối lượng công việc rất lớn từ xây dựng phương án, kế hoạch triển khai, đến tổ chức tuyên truyền, họp ở nhiều cấp, đo đạc, lên bản đồ, gắp thăm, chia đất, cấp hồ sơ giấy tờ chính vì vậy cán bộ địa phương ở một số nơi ngại, không muốn làm Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân ở một số nơi hạn chế, chưa làm cho người dân thấy được ích lợi trước mắt
và lâu dài của công tác DĐĐT Những nguyên nhân đó đã dẫn đến một số hạn chế, khó khăn trong công tác DĐĐT trong thời gian qua tại các địa phương và rất cần phải khắc phục
Tỉnh Phú Thọ chọn 4 xã: Lương Lỗ (Thanh Ba), Nga Sơn (Sông Thao), Bản Tuyên (Phong Châu) và xã Trung Vương (TP Việt Trì) tổ chức làm thí điểm và sau khi sơ kết, tỉnh đã quyết định mở rộng thí điểm 60 xã ở các vùng khác nhau
Tại Bắc Ninh, thực hiện Nghị quyết 03 của Tỉnh uỷ về việc vận động nông dân chuyển đổi đất nông nghiệp cho nhau Toàn tỉnh xác định 450 thôn xóm cần chuyển đất nông nghiệp trong đó đến hết năm 1998 có 237 thôn đã hoàn thành đạt 52% số thôn, còn 217 thôn triển khai vào đợt tiếp theo
Ở Hà Tĩnh, thực hiện Nghị quyết 01/NQ-TU của BCH Đảng bộ tỉnh, các huyện, thị trong toàn tỉnh đã chủ động tiến hành thực hiện việc dồn điền đổi
Trang 27thửa Kết quả của việc thực hiện dồn điền đổi thửa cho thấy trước khi thực hiện dồn điền đổi thửa, bình quân mỗi hộ có 14 thửa ruộng với diện tích 310
m2/thửa, sau khi thực hiện thì bình quân mỗi hộ có 4,2 thửa ruộng với diện tích mỗi thửa là 709,2 m2
Chính sách dồn điền đổi thửa đã làm cho đồng ruộng được cải thiện, tạo ra những ô thửa lớn, thuận lợi cho việc cơ giới hoá, nông dân có điều kiện đầu tư mua sắm máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, giải phóng sức lao động, nhất là những khâu lao động nặng nhọc như làm đất, bơm nước, tuốt lúa và dịch vụ phục vụ sản xuất trong nông thôn có điều kiện phát triển Bên cạnh đó, dồn đổi ruộng đất thành công đã làm thay đổi cách nghĩ cách làm của nhiều hộ nông dân: trước đây họ còn do dự, chần chừ với thói quen canh tác trên những thửa ruộng nhỏ lẻ, chật hẹp, nay chuyển sang sản xuất, canh tác trên những thửa ruộng có quy mô lớn hơn khiến cho nếp nghĩ, cách làm cũng vượt khỏi tầm suy nghĩ " tự túc, tự cấp" để vươn lên sản xuất hàng hoá, vươn lên làm giàu phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Tóm lại: Chính sách DĐĐT đã làm cho đồng ruộng được cải thiện, tạo được
những thửa ruộng lớn, thuận lợi cho việc cơ giới hoá, nông dân có điều kiện đầu tư mua sắm máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, giải phóng sức lao động, nhất là những khâu lao động nặng nhọc như làm đất, bơm nước, tuốt lúa và dịch vụ phục
vụ sản xuất trong nông thôn có điều kiện phát triển Bên cạnh đó, dồn đổi ruộng đất thành công đã làm thay đổi cách nghĩ cách làm của nhiều hộ nông dân: trước đây họ còn do dự, chần chừ với thói quen canh tác trên những thửa ruộng nhỏ lẻ, chật hẹp, nay chuyển sang sản xuất, canh tác trên những thữa ruộng có quy mô lớn hơn khiến cho nếp nghĩ, cách làm cũng vượt khỏi tầm suy nghĩ " tự túc, tự cấp" để vươn lên sản xuất hàng hoá, vươn lên làm giàu phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đaị hoá nông nghiệp nông thôn
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết sức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại vùng đất để trên
cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia thành 3 nhóm:
Trang 28+ Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
+ Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
+ Nhóm các yếu tố về tổ chức cơ sở vật chất, kỹ thuật
1.3.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Cần phải đánh giá đúng điều kiện tự nhiên, trên cơ sở đó xác định trong sản xuất
- Điều kiện khí hậu: các yếu tố khí hậu có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp Các yếu tố như: tổng tích ôn, số giờ nắng, lượng mưa, độ ẩm
có ảnh hưởng trực tiếp đến việc bố trí cơ cấu và năng suất của cây trồng
- Điều kiện đất đai: tính chất đất đai được quyết định bởi nguồn gốc đá mẹ và
độ phì của lớp đất bề mặt được quyết định bởi lớp phủ thực vật, cách thức sử dụng của người sử dụng đất Độ phì của đất đai và cách thức bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với tính chất đất có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng và hiệu quả sử dụng cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên để mang lại hiệu quả đất
1.3.2 Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
a.Vốn đầu tư
Vốn đầu tư cho nông nghiệp là điều kiện không thể thiếu được để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, vì vậy, vai trò của vốn đầu tư là rất quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp, cũng như đối với hiệu quả sử dụng đất, nó thể hiện:
+ Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, ngành nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, có tính rủi ro cao Trong điều kiện nền kinh tế thi trường, người sản xuất sẽ tập trung vào đầu tư các ngành có lợi nhuận cao Ngành nông nghiệp là ngành có lợi nhuận thấp rủi ro cao sẽ ít được chú ý quan tâm Bởi thế, muốn cho ngành nông nghiệp phát triển nhanh cần có sự đầu tư hợp lý
+ Đầu tư cho nông nghiệp còn góp phần giải quyết các vấn đề của xă hội như: tạo công ăn việc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, nâng cao hiệu quả các chính sách của nhà nước Hoạt động đầu tư là điều kiện cần thiết cho sự
Trang 29phát triển của sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng Đầu tư cho trồng trọt như cây giống, phân bón còn góp phần làm tăng độ mầu mỡ của đất, theo đó cũng tăng năng suất cây trồng
b.Lao động
Nguồn lực lao động là lực lượng sản xuất quan trọng nhất của xă hội, nguồn lao động trong nông nghiệp là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số lượng và chất lượng người lao động Số lượng người lao động trong ngành trồng trọt là số người tham gia vào tất cả các hoạt động sản xuất trong ngành trồng trọt bao gồm những người trong độ tuổi lao động (15-60 tuổi) Chất lượng người lao động thể hiện trình độ học vấn của người lao động Nếu như người lao động có trình độ sẽ dễ dàng tiếp thu những tiến bộ khoa học hơn nhờ
đó cũng sẽ làm cho năng suất, chất lượng nông sản tăng
c.Chính sách khuyến nông của nhà nước
Chính sách khuyến nông là những chính sách, biện pháp nhằm khuyến khích nông nghiệp phát triển theo định hướng Hệ thống chính sách nông nghiệp nhằm giúp đỡ cho phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống và xây dựng nông thôn mới Chính sách ruộng đất là một trong những chính sách quan trọng nhất trong hệ thống các chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn
Thứ nhất, ruộng đất là nguồn lực chủ yếu và cơ bản của hoạt động sản xuất của ngành trồng trọt, là cơ sở tự nhiên để tạo ra các sản phẩm Người nông dân coi ruộng đất là tài sản quý giá và thiêng liêng Tuy nhiên, họ chỉ quan trọng khi ruộng đất nó là của chính họ Do vậy, họ chỉ đầu tư và cải tạo ruộng đất, làm tăng độ phì nhiêu của đất, cải tạo đất khi mà họ làm chủ nó Bởi vậy, chính sách ruộng đất hợp
lý là rất cần thiết, nó sẽ làm cho việc sử dụng đất đai hợp lý hơn đồng thời cũng làm tăng hiệu quả của các chính sách phát triển nông nghiệp khác Do chính sách hợp lý tạo điều kiện cho việc sử dụng ruộng đất hợp lý có hiệu quả; thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi; có tác dụng trong quá trình chuyển nông nghiệp nông thôn sang sản xuất hàng hóa Ngoài ra, chính sách ruộng đất hợp lý cũng làm giảm bớt vấn đề tranh chấp ruộng đất
Trang 30d.Thị trường đầu ra cho sản phẩm
Tất cả các hàng hóa đều cạnh tranh quyết liệt trên thị trường, các sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu của vùng và trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước khác Nông sản nào mà không có thị trường tiêu thụ hoặc thị trường tiêu thu hẹp thì thu nhập của người dân khó khăn hơn Do vậy, nên lựa chọn các nông sản có thị trường rộng rãi để làm tăng thu nhập
1.3.3 Nhóm các yếu tố về tổ chức cơ sở vật chất, kỹ thuật
a Hệ thống đê điều, thuỷ lợi, giao thông
Trong hoat động nông nghiệp, nhất là trong hoạt động trồng trọt, nước là nguyên tố vô cùng quan trọng và không thể thiếu Cây trồng cần phải được tưới lượng nước phù hợp mới đảm bảo được các quá trình sinh trưởng phát triển.Vì vậy, cần có một hệ thống tưới tiêu với các kênh, mương phù hợp, sao cho dẫn nước được tới từng khu vực, đảm bảo lượng nước cần thiết cho cây trồng
Nước ta có hệ thống sông ngòi dầy đặc, từ Bắc đến Nam, lại là lưu vực của nhiều con sông lớn nên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Nước ta có hệ thống sông ngòi chằng chịt, có mùa mưa và mùa khô phân rõ rệt, mùa mưa có lượng mưa chiếm 80-85% lượng mưa trong năm nên vào mùa mưa lưu lượng nước qua các con sông lớn nên thường xảy ra lũ lụt làm ngập úng các loại cây Do vậy, một hệ thống
đê kè kiên cố là rất cần thiết để bảo vệ mùa màng, mỗi năm sắp đến mùa lũ đều phải kiểm tra độ chắc chắn của đê Hệ thống giao thông giúp cho nông sản đến được tay người tiêu dùng, nó đóng vai trò không thể thiếu được trong việc lưu thông sản phẩm, góp phần làm tăng thu nhập của người sản xuất
b.Kỹ thuật canh tác
+ Kỹ thuật về giống cây trồng
Đây là vấn đề luôn được quan tâm của mọi nền sản xuất nông nghiệp là làm sao để tạo ra được giống cây trồng mới có sản lượng, chất lượng cao, thích hợp ở nhiều điều kiện về đất đai khí hậu khác nhau Giống cây trồng tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất, giống tốt và thích hợp thì mới cho năng suất cao và chất lượng nông sản tốt, giá bán cao, tăng thu nhập của người sản xuất, làm tăng hiệu quả sử dụng đất
Trang 31+ Trình độ của người lao động
Người lao động có trình độ, tiếp thu tốt những kỹ thuật canh tác, tìm ra thị trường tiềm năng cho sản phẩm của mình, đồng thời cũng dễ dàng áp dụng được những loại máy móc sử dụng trong trồng trọt: máy cày, máy tuốt lúa
+Trình độ kỹ thuật được áp dụng trong canh tác
Kỹ thuật canh tác của người lao động tiến tiến làm cho sản lượng cây trồng theo đó cũng tăng lên, chất lượng nông sản tăng Mặt khác, kết hợp trồng cây xen
vụ tăng vụ cũng làm tăng sản lượng thu hoạch được trên đất sử dụng cũng là yếu tố tác động đến hiệu quả sử dụng đất
Trang 32Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là công tác dồn điền đổi thửa đối với đất sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân và ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân
Phạm vị nghiên cứu: đề tài tiến hành trên địa bàn huyện Lý Nhân tỉnh Hà
Nam trong giai đoạn 2010 - 2014
2.2 Nội dung nghiên cứu:
2.2.1 Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất
- Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, thủy văn, địa hình, …
- Điều kiện kinh tế – xã hội: cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng, dân số, lao động, trình độ dân trí
2.2.2 Đánh giá tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất của huyện
Lý Nhân
- Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Tình hình biến động các loại đất trong thời gian nghiên cứu
2.2.3.Tìm hiểu được tình hình thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa ở huyện
Lý Nhân
- Các văn bản pháp lý về dồn điền đổi thửa ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
- Các bước thực hiên việc dồn điền đổi thửa ở Lý Nhân
Trang 332.2.5 Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trước và sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa
2.2.6 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Việc chọn điểm nghiên cứu bao gồm chọn vùng, chọn xã và chọn hộ nghiên cứu Chọn huyện Lý Nhân là một huyện của tỉnh Hà Nam, nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, có truyền thống làm nông nghiệp và đã tiến hành thực hiện công tác dồn điền đổi thửa, nên việc đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Các xã điểm nghiên cứu phải thoả mãn: các đặc điểm về địa hình, điều tra canh tác ở các vùng khác nhau của huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, thoả mãn nhu cầu đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa ruộng đất đến sản xuất nông nghiệp
Huyện Lý Nhân có 23 xã và thị trấn được chia làm 2 vùng Bắc và Nam Vùng Bắc gồm 11 xã: Chân Lý, Nhân Đạo, Hợp Lý, Văn Lý, Công Lý, Nguyên Lý, Đạo
Lý, Bắc Lý, Đức Lý, Đồng Lý, Chính Lý Vùng Nam bảo gồm 12 xã và thị trấn gồm: Nhân Hưng, Nhân Khang, Nhân Thịnh, Nhân Bình, Nhân Nghĩa, Nhân Chính, Nhân Mỹ, Xuân Khê, Phú Phúc, Tiến Thắng, Hòa Hậu, TT Vĩnh Trụ Mỗi vùng lại
có đặc điểm đất đai khác nhau Do thời gian thực hiện đề tài có hạn, nên phạm vi nghiên cứu được tiến hành chủ yếu tại 2 xã nằm trong 2 vùng khác nhau và có kết quả thực hiện công tác dồn điền đổi thửa tốt là xã Nhân Khang và xã Bắc Lý
Mỗi xã chọn 30 hộ ngẫu nhiên để điều tra theo hộ, câu hỏi trong phiếu điều tra tổng hợp để đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trang 342.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập thông tin, số liệu thứ cấp là nguồn số liệu đã thông qua xử lý và tổng hợp, đã được công bố
Theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài, thông tin số liệu thứ cấp ở đây là những thông tin, số liệu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình nghiên cứu của
đề tài đã được công bố chính thức ở các cấp, ngành Các thông tin chủ yếu gồm: số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp qua các năm, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, các văn bản về chính sách đất đai, các chính sách về khuyến khích đầu tư sản xuất của huyện Lý Nhân và các thông tin, số liệu khác, nghiên cứu từ các nguồn tài liệu: sách, báo, luận văn, tạp chí, các trang Web, các báo cáo của địa phương…
- Thu thập thông tin, số liệu sơ cấp là nguồn số liệu liên quan đến tác động của dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Lý Nhân, đó
là các thông tin chưa được công bố chính thức trong từng nông hộ, nó phản ánh đời sống kinh tế, văn hoá xã hội đặc biệt là các vấn đề về sử dụng đất và các vấn đề khác có liên quan đến tác động của dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Lý Nhân
Điều tra phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân với bộ câu hỏi đã được chuẩn
bị trước Thông tin số liệu sơ cấp được sử dụng chủ yếu đánh giá thực trạng sử dụng đất trong từng nhóm hộ, từng loại đất, loại cây trồng
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê so sánh: là phương pháp so sánh số liệu, thông tin
về những tác động giữa trước và sau dồn điền đổi thửa tại 2 xã điểm nghiên cứu
- Phương pháp thống kê mô tả: là phương pháp sử dụng các chỉ tiêu số tương
đối, số tuyệt đối, số bình quân, số lớn nhất, số nhỏ nhất… để mô tả hiện trạng,
Trang 35những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện dồn điền đổi thửa và những tác động của DĐĐT đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Lý Nhân
2.3.4 Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trước và sau khi dồn đổi ruộng đất
* Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế:
- Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chúng tôi tiến hành phân tích hiệu quả trong quá trình sản xuất các cây, con chính trên đồng đất Lý Nhân thông qua các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu sau:
+ Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) Nó phản ánh năng xuất đất đai trên khía cạnh lượng giá trị thu được trên một đơn vị diện tích
GO = ∑ Qi*Pi Trong đó: - Qi là sản lượng của sản phẩm thứ i được tạo ra
- Pi là giá của đơn vị sản phẩm thứ i + Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất, như: chi phí về giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, làm đất, vận chuyển, chi phí khác Chỉ tiêu này phản ánh mức đầu tư chi phí trên một đơn vị diện tích gieo trồng
IC = ∑ Cj
Trong đó: Cj là khoản chi phí thứ j
+ Giá trị gia tăng (VA): là hiệu số giữa GO và chi phí trung gian IC; là giá trị sản phẩm xã hội được tạo thêm trong một thơì kỳ sản xuất đó Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng đất ở khía cạnh giá trị sản phẩm mới tạo gia trên một đơn vị diện tích
VA = GO - IC
+ Hiệu quả kinh tế/một ngày công lao động (LĐ) quy đổi: GO/LĐ và VA/LĐ, thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của từng người lao động
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền
Trang 36theo thời giá hiện hành và định tính (tương đối) được tính bằng mức độ cao thấp Các chỉ tiêu đạt được càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
* Chỉ tiêu về hiệu quả xã hội:
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân
Do điều kiện về thời gian và phạm vi nghiên cứu của đề tài nên chúng tôi đánh giá hiệu quả xã hội theo một số chỉ tiêu mang tính định tính như sau:
- Mức độ chấp nhận của người dân thể hiện ở mức độ ý kiến của hộ
- Đảm bảo an ninh lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân
- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho người nông dân
- Góp phần chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Khả năng sản xuất hàng hoá thể hiện ở chủng loại sản phẩm, số lượng tiêu thụ, giá cả, thị trường tiêu thụ
* Chỉ tiêu về hiệu quả môi trường:
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai Nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất rất phức tạp, khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong một thời gian dài
để có thể kiểm chứng và đánh giá Vậy nên đề tài chỉ đánh giá hiệu quả môi trường theo một số chỉ tiêu mang tính định tính như sau:
- Khả năng duy trì và cải thiện độ phì của đất, hạn chế ô nhiễm do sử dụng thuốc vệ thực vật
- Hạn chế thoái hoá đất do mất kết cấu thông qua việc sử dụng đất thích hợp
- Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất, thâm canh cân đối về dinh dưỡng và khả năng cải tạo đất
Trang 372.3.5 Phương pháp minh họa bằng bản đồ, hình ảnh
Phương pháp minh họa bằng bản đồ hình ảnh là phương pháp sử dụng bản
đồ, hình ảnh nhằm mục đích minh họa, bổ sung thêm kiến thức cho vấn đề nghiên cứu
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Lý Nhân là huyện đồng bằng nằm trong khu vực sông Hồng thuộc tỉnh Hà Nam Huyện có 23 xã và thị trấn được chia làm 2 miền Bắc và Nam Miền Bắc gồm
11 xã: Chân Lý, Nhân Đạo, Hợp Lý, Văn Lý, Công Lý, Nguyên Lý, Đạo Lý, Bắc
Lý, Đức Lý, Đồng Lý, Chính Lý; Miền Nam bảo gồm 12 xã và thị trấn gồm: Nhân Hưng, Nhân Khang, Nhân Thịnh, Nhân Bình, Nhân Nghĩa, Nhân Chính, Nhân Mỹ, Xuân Khê, Phú Phúc, Tiến Thắng, Hòa Hậu, TT Vĩnh Trụ
Ranh giới hành chính:
- Phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên
- Phía Nam giáp tỉnh Nam Định
- Phía Đông giáp tỉnh Thái Bình
- Phía Tây giáp huyện Bình Lục và Duy Tiên tỉnh Hà Nam
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Lý Nhân trong tỉnh Hà Nam
Trang 39Huyện Lý Nhân nằm cách thành phố Phủ Lý 14 km về phía Tây, có các tuyến tỉnh lộ chạy qua là đường 492 và 491, 499 Xung quanh huyện đều có sông bao bọc trong đó phía Bắc-Tây Bắc có sông Hồng, phía Tây-Tây Nam có sông Châu Giang Đây chính là những điều kiện thuận lợi để Lý Nhân phát triển kinh tế
xã hội
Huyện Lý Nhân có tổng diện tích đất tự nhiên tính đến 31/12/2014 là 16863,25ha, có dân số 199.026 khẩu, số hộ là 51.768 hộ (theo số liệu điều tra của Trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình huyện Lý Nhân đến cuối năm 2014), mật
độ dân số 1180 người/km2
Vị trí địa lý huyện Lý Nhân khá thuận lợi so với các huyện khác trong tỉnh
Hà Nam, có mạng lưới giao thông chính hợp lý tạo cho huyện có nhiều lợi thế để giao lưu hàng hóa, kinh tế văn hóa, xã hội với các tỉnh ở đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh, thành phố lân cận như Nam Định, Thái Bình…
Trung tâm huyện Lý Nhân là thị trấn Vĩnh Trụ, vốn là một thị trấn có từ lâu đời, người dân có nhiều kinh nghiệm phát triển kinh tế theo hướng thương mại - dịch vụ
Với vị trí địa lý thuận lợi, mạng lưới giao thông đầy đủ thủy bộ, đặc biệt các tuyến tỉnh lộ và huyện lộ từng bước được sửa sang, nâng cấp làm cho Lý Nhân càng có thêm vị thế để nhanh chóng tiếp cận với các công nghệ mới tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh, mạnh và bền vững Tuy nhiên, trước xu thế chuyển đổi sang kinh tế thị trường mạnh như hiện nay cũng sẽ tạo ra nhiều thách thức cho huyện trong việc quản lý, hoạch định các kế hoạch phát triển sao cho phù hợp và cạnh tranh được trên thị trường, trong đó áp lực về nguồn tài nguyên đất đai và môi trường sẽ rất lớn
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Huyện Lý Nhân thuộc vùng đồng bằng sông Hồng nên địa hình tương đối bằng phẳng Địa hình của huyện được chia thành 2 nhóm là vùng trũng và vùng cao Huyện được bao bọc bởi hai sông lớn là sông Hồng và sông Châu Giang nên địa hình có dạng lòng chảo, càng cách xa sông địa hình càng trũng Nhìn chung địa hình, địa mạo của huyện tương đối thuận lợi cho việc phát triển đa dạng các
Trang 40loại cây trồng, dễ xây dựng công thức luân canh tăng vụ, tăng hệ số sử dụng đất và phát triển ngành công nghiệp, đa dạng hoá sản phẩm để phát triển kinh tế xã hội trong tương lai
3.1.1.3 Khí hậu
Huyện Lý Nhân nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa hạ khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, thuộc tiểu vùng khí hậu đồng bằng Bắc Bộ, chịu ảnh hưởng của hướng gió chủ yếu là gió Đông Nam về mùa hè; hướng gió Đông Bắc vào mùa đông Mùa xuân và mùa thu là mùa chuyển tiếp của 2 mùa đông và hạ, tiết trời mát
mẻ se lạnh, có mưa phun vào mùa xuân và hanh khô vào mùa thu
Nhiệt độ: trung bình năm là 23,50C- 240C Tháng nóng nhất vào tháng 7, nhiệt độ trung bình 310C, nhiệt độ cao nhất 36 0C- 380C; về mùa đông nhiệt độ trung bình là 190C Tháng lạnh nhất vào cuối tháng 1, nhiệt độ lạnh nhất tới 6-80C Tổng tích ôn trong vùng thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng Vào mùa mưa
có nhiều đợt mưa đá, sấm sét ở đây xẩy ra thường xuyên, gây hậu quả khá lớn cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt vào lúc thời vụ gieo trồng và thu hái
Chế độ mưa: chia thành 2 mùa rõ rệt, với tổng lượng mưa trung bình/ năm
khoảng 2000 mm Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Lượng mưa mùa này chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm cao nhất là tháng 7, 8, 9 Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau Lượng mưa mùa này chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa cả năm Có tháng hầu như không có mưa gây hạn hán ở diện rộng Tuy nhiên, có năm mùa mưa kéo dài hơn và đến muộn gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất vụ đông
Chế độ gió: có hai hướng gió thịnh hành là Đông Nam thổi vào mùa hè và Đông Bắc vào mùa đông
Độ ẩm không khí: trung bình năm 86%, cao nhất 92%, thấp nhất 50,8% Tháng ẩm nhất là tháng 3, có độ ẩm trung bình là 80% Nhìn chung, độ ẩm trung bình các tháng trong năm chênh lệch không nhiều, thường ≤ 12%
Tóm lại: Lý Nhân chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu đồng bằng sông Hồng mang nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô kéo dài về mùa đông Với đặc điểm khí hậu như vậy, Lý Nhân có điều kiện tương đối thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, với lượng mưa bão tập trung, hay hanh khô