1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hình ảnh “trăng” trong thơ thiền lý trần việt nam và thơ đường trung quốc

219 1,2K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể giới thiệu tóm tắt về những tài liệu và tác giả đã từng nghiên cứu hình ảnh trăng như sau: - 《N ội hàm tư duy của văn hóa mặt trăng Trung Quốc》 Tác gi ả: Tôn Hướng Hoa Nơi phát

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

————————————

THƠ ĐƯỜNG TRUNG QUỐC

LU ẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

————————————

THƠ ĐƯỜNG TRUNG QUỐC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã s ố: 60 22 34

LU ẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐOÀN THỊ THU VÂN

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 11

4 Kết cấu luận văn 12

PHẦN NỘI DUNG 13

Chương 1 Những vấn đề chung 13

Chương 2 So sánh hình ảnh trăng trong thơ thiền Lý Trần và thơ Đường về phương di ện nội dung, ý nghĩa 19

2.1 Những điểm tương đồng 19

2.2 Những điểm dị biệt 34

2.3 Ý nghĩa của những tương đồng và dị biệt này (về mặt cảm hứng nghệ thuật) 48 Chương 3 So sánh hình ảnh trăng trong thơ thiền Lý Trần và thơ Đường về phương di ện nghệ thuật thể hiện 65

3.1 Những điểm tương đồng 65

3.2 Những điểm dị biệt 80

3.3 Ý nghĩa của những tương đồng và dị biệt này (về mặt tư duy nghệ thuật và phong cách nghệ thuật) 87

PHẦN KẾT LUẬN 106

Trang 4

lẫn con người, cần phải nghiên cứu thơ thiền một cách đầy đủ và thấu đáo

Thời nhà Đường (618-907) là thời kỳ hoàng kim của văn học và nghệ thuật Trung Quốc, trong đó thi ca là thể loại văn học phát triển phồn vinh nhất Thơ Đường không chỉ là một trong những di sản văn hóa quí báu nhất của Trung Quốc,

mà còn là một viên ngọc vô giá trong kho tàng văn học thế giới Mặc dù cách đây

đã hơn 1000 năm, nhưng những tác phẩm thơ Đường vẫn còn được lưu truyền cho đến nay, Những nhà thơ như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị đã trở thành

những đại thi hào của nhân loại Cũng như thơ thiền Lý – Trần, thơ Đường chịu ảnh hưởng không ít từ tư tưởng Phật giáo Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, tới nhà Đường đã có hơn 600 năm lịch sử Tư tưởng Phật giáo như thấm sâu vào

cuộc sống của nhân dân thời nhà Đường, điều đó được thể hiện ở rất nhiều mặt như: sự xuất hiện đông đảo các đền chùa, sự tiếp nhận của quần chúng nhân dân

về giáo lý đạo Phật… Do thơ ca là một thể loại văn học nổi bật nhất dưới thời nhà Đường, sự lưu truyền của tư tưởng Phật giáo cũng thúc đẩy thơ Đường vươn lên

Trang 5

hội của Việt Nam như ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, các chuẩn mực đạo đức…

Phật giáo từ Ấn Độ lưu truyền tới Trung Quốc, sau đó lại du nhập vào Việt Nam,

nó có ảnh hưởng sâu sắc đến cả thơ Đường lẫn thơ thiền thời Lý Trần Đó là lý do

vì sao chúng chúng tôi chọn hai đối tượng này để so sánh Các nhà thơ Việt Nam

và Trung Quốc đều chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo, điều này thể hiện khá rõ trong các tác phẩm của họ Cho nên, đối với một hiện tượng hoặc một đối tượng thường gặp, cảm nhận của họ như thế nào, cách thể hiện có giống nhau hay không, tình cảm của họ ra sao… là những vấn đề mà chúng chúng tôi rất quan tâm Hy

vọng thông qua việc nghiên cứu thơ thiền Lý Trần và thơ Đường trong so sánh tương quan có thể tìm ra đáp án của những câu hỏi trên Và từ đó có thể tìm hiểu

về tư duy nghệ thuật cũng như tình cảm đối với cuộc sống của các nhà thơ đương

thời

Với những lý do trên, chúng chúng tôi chọn hình ảnh “trăng” trong thơ thiền

Lý Trần và thơ Đường Trung Quốc làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

Qua tìm kiếm trên mạng internet, chúng tôi chưa phát hiện có ai từng so sánh hình ảnh trăng giữa thơ thiền Lý Trần và thơ Đường, tuy nhiên có một số học giả đã

Trang 6

nghiên cứu hình ảnh trăng trong thơ thiền Lý Trần hoặc là thơ Đường

Có thể giới thiệu tóm tắt về những tài liệu và tác giả đã từng nghiên cứu hình ảnh trăng như sau:

- 《N ội hàm tư duy của văn hóa mặt trăng Trung Quốc》

Tác gi ả: Tôn Hướng Hoa

Nơi phát biểu bài: Journal of JIAOZUO university, China (học báo của

Trường Đại học JIAOZUO, China)

Th ời gian phát biểu: tháng 3, 1999

N ội dụng tóm tắt: Văn hóa mặt trăng Trung Quốc có cội nguồn lịch sử sâu sắc

và vững chắc của nó, sùng bái tự nhiên từ thời cổ xưa là hình thức biểu hiện

sớm nhất của lịch sử văn hóa mặt trăng, lý luận êm dịu của triết học Đạo gia sau thời kỳ Xuân Thu là cội nguồi triết học sâu sắc nhất của văn hóa Trung

Quốc, tư tưởng thiền Tông sau nhà Đường lại phó thác cho văn hóa mặt trăng

nội hàm tư duy mới mẻ, dựa trên những cơ sở đó, văn hóa mặt trăng sâu sắc

của Trung Quốc mới dần dần được hình thành

- 《Tìm tòi mỹ học của văn hóa mặt trăng Trung Quốc》

Tác gi ả: Trịnh Tiểu Cửu

Nơi phát biểu bài: Journal of JIAOZUO university, China (học báo của

Trường Đại học JIAOZUO, China)

Thời gian phát biểu: tháng 3, 2001

Nội dụng tóm tắt: Nội hàm mỹ học của văn hóa mặt trăng Trung Quốc là: thứ

nhất, màu sắc đẹp của mặt trăng, những lĩnh hội truyền thống về màu sắc mặt trăng thiên về “ngân luân”,“ngọc câu”; thứ 2, hình dáng đẹp của mặt trăng,

Trang 7

trăng vẹn tròn và trăng lưỡi liềm đều chứa đựng cái đẹp; thứ 3,“cái đẹp được

chứa đựng ở trong quan hệ hài hòa giữa mặt trăng và những cảnh vật xung quanh”, cái đẹp của mặt trăng được thể hiện ra qua những liên hệ, so sánh, tôn thêm với một số cảnh vật, hiện tượng và môi trường; thứ 4, cái đẹp của mặt trăng sẽ không tồn tại nếu bị tách riêng ra với mầu sắc, hình dáng và mối quan

hệ của nó, cũng sẽ không được tồn tại nếu nó rời khỏi hoạt động tư duy của con người, những mỹ cảm hình ảnh trăng mang lại cho người ta là một loại

“niềm vui dịu hiền”

- 《Nghiên c ứu văn hóa mặt trăng nhà Đường》

Tác gi ả: Lưu Sướng

Nơi phát biểu bài: Journal ò Changzhi University (học báo của Trường Đại

học Changzhi, China)

Th ời gian phát biểu: tháng 8, 2009

N ội dụng tóm tắt: Trong văn hóa Trung Quốc, mặt trăng luôn luôn là một tinh

thể huyền bí, được người ta quan tâm chú ý nhiều Khi phát triển tới nhà Đường, đã dần dần hình thành dòng văn hóa mặt trăng Thời đó, bất cứ là nhà vua hay là người dân, người ta đều có những tình cảm sùng bái và ưa thích đối

với mặt trăng Nhà vua có tổ chức tế tự mặt trăng, rất nhiều huyền thoại mặt trăng được lưu truyền trong dân gian một cách rộng rãi Dần dần hình thành ra

bầu không khí nồng đượm về văn hóa mặt trăng

- 《Hình ảnh “thủy nguyệt”trong thơ thiền nhà Đường》

Tác gi ả: Đặng Đình

Nơi phát biểu bài: Journal of Shanxi College for Youth Administrators (học

Trang 8

báo của học viện quản lý cán bộ tuổi trẻ Shanxi, China)

Th ời gian phát biểu: tháng 11, 2008

N ội dụng tóm tắt: Hình ảnh “thủy nguyệt” là một nhánh thường gặp trong các

loại hình ảnh trăng trong thơ Đường Do những đặc trưng như “óng ánh”,

“trong suốt” của “nước” và “mặt trăng” đều có gắn liền chặt chẽ với “trạng thái

nội tâm của thiền” ở nhà Đường, cho nên hình ảnh “thủy nguyệt” thường được

xuất hiện trong bài thơ với vai trò đối tượng được giác ngộ của nhà thơ, chứa đựng nhiều ham thích và triết lý

- 《Nghiên c ứu về nguyên mẫu mặt trăng trong thơ ca cổ đại Trung Quốc》 Tác gi ả: Lưu Vĩnh Thăng

Nơi phát biểu bài: Journal of XINGTAI normal college (học báo của học viện

Sư phạm XINGTAI, China)

Th ời gian phát biểu: tháng 6, 2001

N ội dụng tóm tắt: Trong văn học cổ đại Trung Quốc, có rất nhiều tác phẩm sử

dụng mặt trăng và đã dần dần hình thành một nhóm hình ảnh về mặt trăng,

những hình ảnh này nhiều hay là ít đều mang lại một số cảm xúc cô đơn và

buồn rầu cho độc giả Bài báo này dựa trên những tài liệu huyền thoại, thông qua sự khảo sát về nguyên mẫu mặt trăng, thử tìm tòi nội hàm văn hóa tầng lớp sâu của nó

- 《Văn hóa mặt trăng trong thơ ca cổ đại Trung Quốc》

Tác giả: Uông Dương

Nơi phát biểu bài: Journal of Anshan University of Science and Technology

(học báo của Trường Đại học Khoa Học & Tự Nhiên, TP.Anshan, China)

Trang 9

Thời gian phát biểu: tháng 2, 2007

N ội dụng tóm tắt: Hình ảnh trăng là một trong những hình ảnh được xuất hiện

với tần số rất cao trong thơ ca cổ đại Trung Quốc Trong văn hóa Trung Quốc,

mặt trăng từ đầu không phải là một tinh thể bình thường Bài báo này nghiên

cứu xuất phát từ cội nguồn của huyền thoại mặt trăng, phân tích nội hàm phong phú của hình ảnh mặt trăng trong thơ ca cổ đại Trung Quốc dưới 3 phương diện: hình ảnh nguyên thủy, nội hàm thẩm mỹ và tâm lý văn hóa, nhằm mục tích thử tìm tòi những quan hệ giữa con người và tự nhiên, giữa tự nhiên và văn học

- 《Thiên nhiên trong thơ văn Lý Trần》

Tác gi ả: Như Hiếu

Nơi phát biểu bài:

http://www.buddhismtoday.com/viet/pgvn/vh/006-thiennhien.htm

Th ời gian phát biểu: Không rõ

N ội dụng tóm tắt: Trong các tác phẩm thơ thiền Lý Trần, thi liệu được sử

dụng nhiều nhất khi miêu tả thiên nhiên là mùa thu, ánh trăng, gió, hoa, chim, nước, mây và núi Chúng gợi sự liên tưởng vừa về cái vĩnh hằng của bản thể,

của quy luật, vừa về cái hữu hạn của thế giới hiện tượng Tất cả đều thể hiện triết lý Thiền tông, lấy cái “hư không” làm nền tảng Chính nhờ “không” mà thu tóm được tất cả và không sợ mất cái gì, hòa điệu cùng với bản thể vũ trụ và đạt được cái vui vĩnh hằng ở thế giới đời thường

- 《Trăng xuân trong thơ Trần Nhân Tông》

Tác gi ả: Trần Văn Tích

Nơi phát biểu bài:

Trang 10

http://vannghenamdinh.com/index.php?language=vi&nv=news&op=Nghien-cuu-Phe-binh/Trang-xuan-trong-tho-Tran-Nhan-Tong-Tran-Van-Tich-34

Th ời gian phát biểu: tháng 2, 2011

N ội dụng tóm tắt: Qua so sánh hình ảnh trăng trong thơ Đường và thơ thiền

Trần Nhân Tông, tác giả nhận thấy, “ánh trăng” trở thành hình ảnh nghệ thuật mang nhiều sắc thái khác nhau, thể hiện các cung bậc cảm xúc một cách phong phú và đa dạng Dưới con mắt của mỗi thi nhân, hình ảnh mặt trăng được biến hóa muôn hình muôn vẻ Thế nhưng, nếu như trong thơ Đường, trăng là hình ảnh tượng trưng cho sự chia ly, cho nội tâm sầu muộn, đắng cay thì ngược lại,

“trăng” trong thơ Trần Nhân Tông tuy cũng thể hiện sự chia ly nhưng lại thấp thoáng niềm hy vọng về ngày hội ngộ, làm cho ánh trăng không còn là nỗi cô

quạnh đơn chiếc mà là niềm vui đầm ấm sum vầy

- 《Thơ thiền Lý-Trần》

Tác gi ả: Tâm Không

Nơi phát biểu bài:

http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-viet-nam-trung-dai/16601-tho-thien-ly-tran.html

Th ời gian phát biểu: tháng 5, 2009

N ội dụng tóm tắt:Đến với thơ thiền Lý Trần, ta có thể dễ dàng bắt gặp những hình ảnh thiên nhiên quen thuộc như mùa xuân, ánh trăng, núi rừng, hoa lá… được vận dụng rất nhiều Không chỉ đơn thuần là miêu tả cảnh vật mà qua đó,

những tâm trạng, cảm xúc hay sự giác ngộ chân lý của các thi nhân, thiền sư được thể hiện một cách khéo léo và tinh tế Những triết lý, tư tưởng Thiền tông

Trang 11

tưởng chừng như rất xa vời và khó tiếp cận trở cũng trở nên gần gũi và dễ hiểu

hơn qua những hình ảnh ẩn dụ ấy

- 《Thơ thiền trong văn học Lý Trần》

Tác gi ả: Không rõ

Nơi phát biểu bài:

http://diendankienthuc.net/diendan/chan-dung-van-hoc/44972-tho-thien-trong-van-hoc-ly-tran.html

Th ời gian phát biểu: tháng 4, 2010

N ội dụng tóm tắt: Từ xưa đến nay, mặt trăng luôn là đề tài muôn thuở trong

các tác phẩm thi ca Việt Nam Với các thi nhân, ánh trăng luôn là người bạn đồng hành, là tri âm tri kỷ, là nơi mà họ có thể gửi gắm tất cả nỗi niềm tâm sự

của mình vào đó Nhìn trăng nhớ cố nhân, hay những ưu tư khắc khoải về quê nhà là những hình ảnh thường gặp trong các vần thơ Bên cạnh đó, trăng còn là hình ảnh biểu trưng cho một triết lý sống, cho giáo lý đạo Phật

3 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

1.1 Đối tượng nghiên cứu:

+ Thơ thiền Việt Nam thời Lý-Trần;

+ Thơ Đường Trung Quốc;

Bên cạnh đó, những lĩnh vực văn hóa, xã hội của Trung Quốc và Việt Nam có liên quan đến đề tài này cũng được quan tâm xem xét

1.2 Phương pháp nghiên cứu:

+ Thống kê khảo sát tất cả bài thơ có hình ảnh “trăng” trong hai quyển sách

Trang 12

“Thơ văn Lý Trần” tập I và tập II

+ Thống kê khảo sát tất cả bài thơ có hình ảnh “trăng” trong quyển sách “Thơ Đường 300 bài”

+ Phân loại các bài thơ theo những tiêu chí nhất định thành một số nhóm khác nhau

+ So sánh, phân tích những biểu hiện của hình ảnh trăng trong các bài thơ để

đi đến những nhận định có ý nghĩa khái quát; ở đây áp dụng phương pháp liên ngành, như phương pháp nghiên cứu văn học kết hợp với phương pháp nghiên

cứu ngôn ngữ…

4 K ết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung của luận văn được tổ chức thành

ba chương như sau:

Chương 1 Những vấn đề chung

Chương 2 So sánh hình ảnh trăng trong thơ thiền Lý Trần và thơ Đường về phương

diện nội dung – ý nghĩa

Chương 3 So sánh hình ảnh trăng trong thơ thiền Lý Trần và thơ Đường về phương

diện nghệ thuật

Trang 13

PH ẦN NỘI DUNG

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Trăng trong nhận thức thẩm mỹ của người phương Đông

Từ xưa đến nay, mặt trăng luôn được xem là một người bạn thủy chung của con người Nó không chỉ trao tặng ánh sáng cho con người trong đêm khuya, mang đến

sự ấm áp và niềm an ủi cho những thân phận thê lương bất hạnh, mà còn cổ vũ cho kẻ

lữ hành cô đơn, quan tâm sẻ chia cùng người thất ý Chính vì vậy, mặt trăng gợi cho người ta những liên tưởng vô tận, dần dần hình thành ra văn hóa mặt trăng phương Đông phong phú và giàu sức hấp dẫn

Trong văn hóa Trung Quốc lẫn Việt Nam, từ ngàn đời nay, mặt trăng chưa bao giờ

là một vật thể bình thường, nó hiện diện trong tâm tưởng, suy nghĩ của con người cùng với rất nhiều thế giới huyền thoại, chứa đựng những thông tin về văn hóa nguyên thủy sâu sắc, nó cũng là sự kết tinh truyền thống, bản sắc độc đáo của hai dân

tộc từ lâu đời Con người ở xã hội nguyên thủy từng thờ cúng mặt trăng để cầu xin được che chở Về sau, con người lại xem mặt trăng là biểu trưng cho tình cảm với nhiều cung bậc khác nhau Tình cảm này đã được thể hiện rất nhiều vào trong văn

học cả ở Trung Quốc lẫn Việt Nam Vì thế, khi nghiên cứu thơ thiền Lý Trần Việt Nam với thơ Đường Trung Quốc, lấy “trăng” làm đối tượng trung tâm để khảo sát, phân tích và so sánh, chúng ta có thể hiểu và cảm nhận được những tình cảm cũng như xúc cảm thẩm mỹ độc đáo của các nhà thơ đối với đối tượng đặc biệt này

1.2 Thời Lý Trần và thời nhà Đường – những điều kiện lịch sử - văn hóa

- Nhà Đường với nhà Lý và nhà Trần đều là những triều đại hùng mạnh trong

Trang 14

lịch sử cả hai nước Ở các triều đại này, kinh tế phồn vinh, xã hội ổn định, văn hóa nghệ thuật thu được những thành tựu huy hoàng nền văn hóa đều có

1.3 Phân loại hình ảnh trăng trong thơ thiền Lý Trần và thơ Đường

Qua khảo sát quyển Thơ Đường 300 bài, trong tất cả 311 bài, tất cả có 64 bài có

hình ảnh trăng

Qua khảo sát quyển “Thơ văn Lý Trần” tập I136 bàivà t ập II (361 bài), trong

tất cả 497 bài thơ văn, có 40 bài thơ thiền có hình ảnh trăng

Có thể căn cứ theo triết học và mỹ học Thiền Tông để phân loại hình ảnh trăng 1.3.1 Những quan điểm triết học và mỹ học Thiền Tông

Đông Nhà Nho có “Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý”, Lão Trang có “Đạo khả

Trang 15

đạo, phi thường đạo”, “Sở khả đạo giả, ý chi thô dã; bất khả đạo giả, ý chi tinh dã” Nói về Thiền tông thì có câu chuyện “Phật tổ đưa lên một cành hoa, Ca

Diếp lặng lẽ mỉm cười” và tôn chỉ “Chẳng lập văn tự, thấy tánh thành phật” Các trường phái triết học đều đã lĩnh hội cái cảm ngộ khó thể biểu đạt bằng ngôn từ, mà cái cảm ngộ này chính là sự theo đuổi của họ, cho nên, họ cần lựa

chọn một số hình ảnh biểu tượng trong cuộc sống để bày tỏ cảm ngộ/cảm xúc

về số mệnh và sự thăng hoa của tình cảm

- Nh ị nhập tứ hạnh

Phàm vào đạo có nhiều đường, nhưng Bồ Đề Đạt Ma cho rằng suy cho cùng

không ngoài hai đường, chính là lý nhập và hạnh nhâp Lý nhập là mượn

“giáo” để ngộ vào “tông”, nghiêng về lý luận nhiều hơn; còn hạnh nhập hướng

dẫn người ta áp dụng giáo lý vào cuộc sống hàng ngày, nghiêng về thực tiễn nhiều hơn Lý nhập và hạnh nhập mang ý nghĩa triết học giống nhau và không

thể tách rời, sở dĩ chia thành hai cái chỉ vì mong muốn cho người học thiền dễ

hiểu hơn Lý nhập kết hợp với hạnh nhập chính là giáo nghĩa lý luận kết hợp

với thực tiễn của thiền pháp

Báo oán hạnh nói về việc con người nên đối mặt với cảnh khổ như thế nào,

khuyên răn người ta biết nhẫn nhục chịu khổ, nên lấy cảnh khổ để tu đạo và không nên oán trách

nên vì được mất mà sướng vui hay đau khổ mà nên có tâm lý lành mạnh trước

Trang 16

những khổ vui

được vui” (P213, kinh nói), nên lấy giải thoát cuối cùng của cuộc đời làm mục đích

Cả ba hạnh nói trên đều là tu hạnh về mặt đạo đức và tâm lý trên thế gian, làm cho tư tưởng Thiền tông giàu ý nghĩa cuộc sống một cách phong phú, giúp con người có thể tu thiền ngay trong cuộc sống, lĩnh hội nỗi vui sướng của thiền pháp, để cho cuộc sống gắn bó chặt chẽ với niềm vui của sự giải thoát

Cả ba hạnh đều được quy về xứng pháp hạnh

trước mà có phần mang tính trừu tượng Có thể hiểu đó là khi chúng ta nhận ra nơi chúng ta có thể tánh thanh tịnh, cái thể tánh thanh tịnh này thường hằng, không sinh không diệt nó còn được gọi là Lý hay Pháp Nếu chúng ta làm tất

cả mọi việc, tu tất cả hạnh mà đều trở về phù hợp với thể tánh thanh tịnh ban

đầu thì gọi là xứng pháp hạnh Xứng pháp hạnh dựa trên cơ sở thấu hiểu và

thực hành phải phù hợp nhau Mỗi người, nếu tu được xứng pháp hạnh là có

thể trở về với bản tâm, tức thể tính thanh tịnh ban đầu

Hư vô quan của thiền Tông có thể trích từ một câu chuyện, khi xưa Ngũ Tổ định chọn người kế ngôi Tổ, Tổ bảo cho các môn đồ rằng vị nào có thể tỏ ra đạt đạo, Tổ sẽ truyền áo pháp cho để làm Tổ thứ sáu Lúc ấy, Thần Tú, người được đồ chúng xem là học cao nhất và xứng đáng nhất được hưởng vinh dự này, đã làm một bài kệ rằng:

Trang 17

Thân là b ồ đề cội

Chớ để nhuốm trần ai

Tuy nhiên bài kệ trên chưa mang lại được áo pháp cho người sáng tác, Ngũ Tổ

đã truyền áo pháp cho Huệ Năng vì bài kệ này của ông:

Gương sáng cũng không đài Nguyên chẳng có một vật

Bài kệ trên thể hiện một cách đầy đủ về ý nghĩa chính của hư vô quan/hư vô

luận thiền Tông, tức là: có cũng là không, không cũng là có; nội tâm là không, nhưng trong nội tâm lại chứa đựng vạn vật, vạn vật lại là không

Bất cứ là “bồ đề” hay là “gương sáng” đều chỉ là thí dụ nói về nội tâm, có thể dùng thí dụ này để giải thích bản chất của thiền mà người ta đang theo đuổi

Nội tâm rõ ràng là nơi đầu tiên sinh ra vạn vật, cho nên được người tu thiền gọi

là “không”, nhưng để tránh khỏi có người hiểu rằng là hư vô, cho nên gọi nội tâm là “chân không” Cái “chân không” này thực sự có chứa đựng vạn vật và chính là cái này sáng tạo ra vạn vật, cho nên vạn vật cũng có chứa đựng tất cả đặc tính một cách bình đẳng của “chân không”, như vậy cũng chứng minh được về sự tồn tại của nó

1.3.2 Phân loại hình ảnh trăng trong thơ thiền Lý Trần và thơ Đường

A.Trăng là hình ảnh thiên nhiên đơn thuần:

Trang 18

Thơ thiền Lý Trần(10 bài )(xin xem phụ lục)

Thơ Đường(32 bài)(xin xem phụ lục)

B.Trăng như một biểu tượng trong triết học Thiền Tông

• Ngôn bất tận ý

Thơ thiền Lý Trần (3 bài) (xin xem phụ lục)

Thơ Đường (5 bài) (xin xem phụ lục)

• Nhị nhập tứ hạnh

Thơ thiền Lý Trần (6 bài) (xin xem phụ lục)

Thơ Đường (4 bài) (xin xem phụ lục)

Hư vô quan

Thơ thiền (8 bài) (xin xem phụ lục)

Thơ Đường (2 bài) (xin xem phụ lục)

C Trăng là phương tiện giúp nhà thơ bày tỏ tâm trạng, cảm xúc

+ Trực tiếp:

Thơ thiền Lý Trần (7 bài) (xin xem phụ lục)

Thơ Đường (4 bài) (xin xem phụ lục)

+ Gián tiếp:

Thơ thiền Lý Trần (6 bài) (xin xem phụ lục)

Thơ Đường (17 bài) (xin xem phụ lục)

Trang 19

Chương 2 SO SÁNH HÌNH ẢNH TRĂNG TRONG THƠ THIỀN LÝ TRẦN

VÀ THƠ ĐƯỜNG VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG, Ý NGHĨA

2.1 Những điểm tương đồng

I “Ngôn bất tận ý”: (3 bài thơ thiền Lý Trần và 5 bài thơ Đường)

Về nội dung và ý nghĩa giữa thơ thiền Lý Trần và thơ Đường có 1 điểm tương đồng:

 Trong bài thơ, hình ảnh trăng đều là hình ảnh thiên nhiên đơn thuần, và không

phải là biểu trưng, ví dụ như:

- Thơ thiền Lý Trần:

(NHÂT NGUYỆT - THIỀN LÃO)

Trúc biếc, hoa vàng chẳng phải là cảnh bên ngoài, Mây trắng, trăng trong lộ rõ cái (chân) toàn vẹn

(THỊ TU TÂY PHƯƠNG BỐI - TUỆ TRUNG)

Bầu trời bát ngát chỉ nhìn thấy vừng trăng cô đơn,

Bể phật trong suốt, đêm chuyển dài vào thu.()

- Thơ Đường:

Đăng chu vọng thu nguyêt,

Trang 20

Tam Tương sầu mấn phùng thu sắc,

Vạn lý qua tâm đối nguyệt minh

(VÃN THỨ NGẠC CHÂU - LƯ LUÂN)

() Mái tóc ph ờ phạc đất Tam Tương gặp sắc thu, Lòng nh ớ đến làng quê, muôn dặm hướng về trăng sáng

()

II Nhị nhập tứ hạnh (6 bài thơ thiền Lý Trần và 4 bài thơ Đường)

Về nội dung và ý nghĩa giữa thơ thiền Lý Trần và thơ Đường có 1 điểm tương đồng:

 Tần số “tùy duyên hạnh” được sử dụng khá phổ biến trong nhóm các bài thơ này Trong 6 bài thơ thiền Lý Trần có 3 bài thơ sử dụng “tùy duyên hạnh”; về thơ Đường, thì cả 4 bài thơ đều thể hiện tư tưởng “tùy duyên hạnh” Ví dụ:

- Thơ thiền:

Trang 21

V ạn sự đô lô nhập nhãn không

(THOÁT THẾ - TUỆ TRUNG)

Vươn mình một cái vượt ra khỏi lồng,

Muôn việc đều như trò chơi, vào mắt cũng thành hư không

Tam gi ới mênh mông cõi lòng sáng rõ,

Bóng trăng chìm xuống phương Tây, mặt trời mọc ở phương Đông

Bài thơ cho thấy ra khỏi lồng chính là đã ngộ đạo, sau khi ngộ đạo thì coi muôn việc đều giống như là trò chơi, vạn vật trong mắt cũng đã là hư không Tình cảm đã thoát khỏi thế tục, đã không vì được mất mà sướng vui hay đau khổ, coi vạn vật cũng theo duyên số, giống như mặt trăng

lặn ở hướng tây và mặt trời mọc ở hướng đông, vạn vật đều rất tự nhiên—tùy duyên hạnh

Đông lưu phó hải khởi hồi ba

Trang 22

()

Trong bài thơ này có xuất hiện nhiều hiện tượng và quy luật tự nhiên như vẻ sương tắm hạ, mùa xuân đến hoa nở, mặt trăng mọc và lặn…, nhà thơ muốn khuyên con người nên hòa nhập với tự nhiên, tôn trọng

những quy luật của tự nhiên, có tâm lý lành mạnh đối với những khổ vui

Thiên phong xuy bất giản cao đê

(THỊ CHÚNG - TUỆ TRUNG)

()

M ặt trăng xưa soi nào kể gì xa hay gần,

Gió tr ời thổi nào chọn nơi cao hay thấp

()

Cũng tương tự như trên, trong bài thơ này có xuất hiện nhiều hiện tượng

và quy luật tự nhiên, khuyên người ta nên hòa nhập với tự nhiên, tôn

trọng những quy luật của tự nhiên, có tâm lý lành mạnh đối với những

Trang 23

Minh nguy ệt lại tương chiếu

(TRÚC LÝ QUÁN - VƯƠNG DUY)

M ột mình ngồi dưới rặng trúc rợp,

G ảy đàn cầm lại thổi sáo

Rừng sâu chẳng ai biết, Trăng sáng đến bên soi

Nhà thơ về rừng ở ẩn, sống theo ý muốn của mình và cảnh vật cũng hòa

nhập vào cuộc sống; ở đấy nhà thơ sống tùy duyên, tự do tự tại

Đàm yên phi dung dung,

(XUÂN PHIẾM NHƯỢC GIA KHÊ - KỲ VÔ TIỀM)

Trang 24

III Hư vô quan(8 bài thơ thiền Lý Trần và 2 bài thơ Đường)

 Trong tất cả 10 bài thơ thiền Lý Trần lẫn thơ Đường, hình ảnh trăng đều là hình ảnh thiên nhiên đơn thuần và sự vật chứa đựng triết lý hư vô Cụ thể:

- Thơ thiền Lý Trần:

(ĐÁP LÝ THÁI TÔNG TÂM NGUYỆN CHI VẤN - HUỆ SINH)

Lặng lẽ như vầng trăng trên núi Lăng-già,

Hư không như con thuyền vượt biển

Bi ết đúng cái không thì cái không hóa ra cái có,

Và s ẽ mặc ý mà đi suốt và đi khắp tam muội

Có thì là không, không cũng là có, đúng như câu thơ trong bài này - “Tri không, không giác hữu”, cho nên trăng và thuyền đúng là có, nhưng cũng là không

()

(ĐỐN TỈNH - TUỆ TRUNG)

Đoán biết rằng (không) và (có) không cách nhau lắm,

Trang 25

Sống và chết vốn từ một đợt sóng

Trăng sáng đêm qua vẫn là trăng đêm nay,

Hoa n ở năm mới cũng là hoa năm cũ

Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,

Thương hải nguyệt minh, châu hữu lệ,

Lam Điền nhật noãn, ngọc sinh yên

(CẨM SẮT - LÝ THƯƠNG ẨN)

Đàn cầm sắt năm mươi dây biết đâu là manh mối,

M ỗi giây, mỗi trụ đàn nghĩ về thời tuổi hoa

Chàng Trang trong giấc mộng sớm mơ hóa bướm,

V ọng đế lòng xuân gửi vào chim đỗ quyên

Trăng sáng soi chiếu biển xanh, hạt trai long lanh như có ngấn lệ

N ắng ấm trời Lam Điền, ngọc mới hình còn khói vẩn

Trang 26

Tình ấy nên dằng dai nhớ mãi,

hay ch ỉ là nỗi lòng vu vơ trong thoáng chốc

Nhà thơ lấy câu chuyện người Dao khóc sinh ra ngọc trai mô tả và thể hiện

ra một cách mờ ảo về phong thổ nhân tình của thế gian hư vô như thương

hải nguyệt

IV Trăng như phương tiện trực tiếp giúp nhà thơ bày tỏ/bộc lộ tâm trạng, cảm xúc

(7 bài thơ thiền Lý Trần và 4 bài thơ Đường)

 Trong tất cả 11 bài thơ thiền lẫn thơ Đường, hình ảnh trăng đều là biểu tượng trực

tiếp về một loại sự vật nào đó, nhóm biểu tượng này đa dạng phong phú Trong đó,

biểu trưng về tư tưởng thiền Tông có 5 bài; về bạn bè, tri âm có 4 bài; về cuộc đời

1 bài và tương lai 1 bài Cụ thể:

- Thơ thiền Lý Trần:

1 Nhất nguyện linh nguyên thường trạm tịch,

(…)

(CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN - TRẦN THÁI TÔNG)

M ột nguyền nguồn linh thiêng mãi mãi trong lặng,

Hai nguy ền tạng thức dứt mọi vấn vương

Ba nguy ền mọi mối nghi ngờ được phá vỡ,

Trang 27

Bốn nguyền trăng định mãi mãi tròn vạnh

Năm nguyền mọi bụi pháp không nổi dậy,

(…)

Trong bài thơ này, trăng là ý thức tu thiền

(CẢM HOÀI - BẢO GIÁM)

Trí tuệ như trăng soi giữa trời,

Ánh sáng bao ph ủ trần gian, soi dọi không lệch bên nào

N ếu người ta muốn nhận thức nó thì chớ nên phân biệt,

(Vì nó cũng chính là) cây cỏ sum suê trên ngọn núi phủ khói chiều

Ở bài này, trăng được ví như trí tuệ

- Thơ Đường:

Nguy ệt ký bất giải ẩm,

Trang 28

Ngã ca nguy ệt bồi hồi,

Túy hậu các phân tán

(NGUYỆT HẠ ĐỘC CHƯỚC - LÝ BẠCH)

Gi ữa hoa một hồ rượu,

M ột mình rót uống, không ai là người thân

Nâng chén lên mời trăng sáng,

Cùng bóng mình thành ba người

Trăng đã không biết uống rượu,

Bóng thì theo thân mình

T ạm đánh bạn với trăng với bóng,

Vui cho kịp với ngày xuân

Ta hát, trăng cũng bồi hồi,

Ta múa, bóng cũng quay cuồng nghiêng ngả

Khi t ỉnh cùng vui với nhau,

Say r ồi đều tan tác

Tình giao kết buộc nhau lại mãi làm chi,

H ẹn hò nhau trên tít Vân Hán

Bài này xuất hiện bốn lần hình ảnh trăng, nhà thơ coi trăng là bạn bè của mình

Trang 29

2 Th ế loạn đồng nam khứ,

Cựu quốc kiến thanh san

(TẶC BÌNH HẬU TỐNG NHÂN BẮC QUY - TƯ KHÔNG THỰ)

Đời loạn lạc cùng đi về nam,

Khi thanh bình m ột mình về đất bắc

Tha hương tóc bạc đã mọc đầy,

Nước non cũ lại được thấy núi xanh

Trăng sớm mai soi trên lũy cũ,

Sao dầy ngủ lại ải quan ngày xưa

Chim x ứ lạnh và đám cỏ rạc,

Nơi nơi đều là bạn lứa, cùng với gương mặt buồn rầu

Ở đây trăng là bạn cũ đang trên đường về quê.(“Hiểu nguyệt quá tàn lũy” chính là những cảnh hiu quạnh bạn cũ trên đường về đã nhìn thấy.)

V Trăng như phương tiện gián tiếp giúp nhà thơ bày tỏ tâm trạng, cảm xúc(6 bài thơ thiền Lý Trần và 17 bài thơ Đường)

Trong tất cả 23 bài thơ, ngoài 1 bài thơ thiền Lý Trần tác dụng của hình ảnh trăng

Trang 30

là biểu tượng cho sự vật, còn trong tất cả các bài khác, tác dụng của mặt trăng đều

là hình ảnh đơn thuần để bày tỏ tình cảm

Bài thơ có hình ảnh trăng là biểu tượng:

(…)

Đáo gia tu tri bãi vấn trình,

(…)

(SINH TỬ NHÀN NHI DĨ - TUỆ TRUNG)

(…)

Pháp thân không di cũng không lại,

Chân tính không trái cũng không phải

Đến nhà thì nên thôi đừng hỏi đường nữa,

Thấy mặt trăng rồi sao còn vất vả đi tìm ngón tay

(…)

Ở đây tác giả muốn nói giáo lý chỉ là phương tiện để đạt tới giác ngộ; khi đã giác ngộ, không cần dừng lại ở giáo lý nữa Cho nên ở trong bài này, hình ảnh trăng là biểu trưng cho đạo lý thiền

Những bài thơ còn lại, hình ảnh trăng là hình ảnh thiên nhiên đơn thuần để bảy

tỏ tình cảm, có thể đơn cử một số ví dụ:

- Thơ thiền Lý Trần:

Trang 31

Ph ất tụ cao sơn viễn cánh hinh

(VÃN QUẢNG TRÍ THIỀN SƯ - ĐOÀN VĂN KHÂM)

Xa lánh kinh thành, vào nơi rừng núi cho đến bạc đầu,

Phất tay áo trên núi cao, càng xa càng ngát thơm

Đã mấy lần (tôi) những muốn chít khăn tu hành đến hầu bên chiếu,

(Th ế mà nay) bỗng nghe nhà sư qua đời, cửa chùa đã khép kín

Trước sân nhà trai, tiếng chim khuya khắc khoải kêu dưới bóng trăng

Có ai vì người mà đề bài minh vào ngọn tháp trên mộ?

Các bạn tu hành chớ nên đau thương về nỗi vĩnh biệt,

Sông núi trước chùa, chính là hình ảnh chân thực của người

Hình ảnh trăng trong bài thơ được mượn để biểu đạt sự đau buồn của nhà thơ về thiền sư đã mất

(THẾ SỰ - NGUYỆN HỌC)

Trang 32

Trăng nước mênh mông, gió lạnh lùng,

Áo khăn mặc rồi mà thường đêm vẫn thao thức

Th ời giờ thấm thoắt giục người chóng giả,

Trăm việc không thành, ai người biết tỉnh ngộ

Hình ảnh trăng được sử dụng để biểu đạt sự buồn bã của nhà thơ về cuộc đời ngắn ngủi, trăm việc không thành

- Thơ Đường:

Khai duy nguyệt sơ thổ

(ĐỒNG TÒNG ĐỆ NAM TRAI NGOẠN NGUYỆT ỨC SƠN ÂM THÔI THIẾU PHỦ - VƯƠNG XƯƠNG LINH)

Nằm khểnh ở Nam Trai,

Vén rèm ng ắm trăng mới mọc

Ánh trăng hòa vào cây cỏ, nước đêm,

Ch ập chờn ánh lên bên cửa sổ

Trang 33

Thấm thoắt khi đầy khi vơi,

L ặng soi vào những đổi thay kim, cổ

Người đẹp bên bờ sông trong,

Khúc ngâm đêm ấy dường như ngậm ngùi

Xa cách nghìn dặm như thế,

Gió nhẹ lướt ngang nhóm hoa cỏ thơm

Tác giả bài thơ đã sử dụng ánh sáng của trăng bày tỏ cảm xúc buồn bã khi

nhớ đến bạn bè

2 Kim dạ Phu Châu nguyệt,

Thanh huy ngọc tý hàn,

(NGUYỆT DẠ - ĐÕ PHỦ)

Trăng Phu Châu đêm nay,

Ch ỉ có một người ở phòng khuê đang ngắm

Cảm thương con gái thơ dại ở xa,

Chưa biết nhớ (người đang ở)Tràng An

Sương móc thơm, tóc mây thấm ướt,

Ánh trăng trong làm lạnh cánh tay ngọc ngà,

Trang 34

Bao giờ được tựa bên rèm cửa,

Trăng chiếu cả hai, cho ráo lệ

Hình ảnh trăng giúp nhà thơ bày tỏ nỗi nhớ nhung da diết về vợ con ở quê nhà xa xôi

Nhìn chung, hình ảnh trăng trong 4 bài thơ thiền Lý Trần và tất cả 17 bài thơ Đường đều giúp nhà thơ bày tỏ tâm trạng buồn bã, tuy đối tượng về cảm xúc

buồn bã có khác nhau

2.2 Nh ững điểm dị biệt

I “Ngôn bất tận ý”: (3 bài thơ thiền Lý Trần và 5 bài thơ Đường)

Về nội dung và ý nghĩa giữa thơ thiền Lý Trần và thơ Đường có 2 điểm dị biệt:

 Tác dụng của hình ảnh trăng giữa 3 bài thơ thiền và 5 bài thơ Đường khác nhau Tác dụng của hình ảnh trăng giữa 3 bài thơ thiền là giống nhau, đều là sự vật chứa đựng đạo lý thiền, gợi ý người ta giác ngộ; tác dụng của hình ảnh trăng giữa 5 bài thơ Đường cũng giống nhau, nhưng đều là sự vật được nhà thơ mượn lấy để bày

tỏ tình cảm mình

 Ý muốn hoặc tình cảm thông qua hình ảnh trăng được biểu đạt khác nhau

Trong 3 bài thơ thiền, nhà thơ muốn thông qua hình ảnh trăng bày tỏ sự ngộ thiền,

mặt trăng là sự vật chứa đựng đạo lý thiền

Trong 5 bài thơ Đường, nhà thơ muốn thông qua hình ảnh trăng bày tỏ nỗi buồn

của mình, mặt trăng là sự vật chứa đựng tình cảm

II Nhị nhập tứ hạnh:(6 bài thơ thiền Lý Trần và 4 bài thơ Đường)

Về nội dung và ý nghĩa, giữa thơ thiền Lý Trần và thơ Đường có 1 điểm dị biệt:

Trang 35

 Ngoài sử dụng tư tưởng “tùy duyên hạnh”, trong nhóm “nhị nhập tứ hạnh”, 3 bài thơ thiền Lý Trần cũng có đề cập đến “xứng pháp hạnh”, trong khi 4 bài thơ Đường thể hiện ra tư tưởng “vô sở cầu hạnh”.Ví dụ:

- Thơ thiền Lý Trần:

(THẤT CHÂU - ĐẠO HẠNH)

Mặt trời rồi mặt trăng kế nhau mọc ở đầu núi, (Trên cõi đời này), người nào người ấy đều đánh mất hạt ngọc của mình

Như anh nhà giàu có con ngựa quý,

L ại đi bộ mà không cưỡi ngựa

Mất hạt ngọc chính là mất bản tâm của con người giống như người đã giàu rồi nhưng lại không biết hưởng thụ, có con ngựa cũng không biết cưỡi mà lại đi bộ, Đó là đã mất ý nghĩa trở thành người giàu rồi Mặt trời

và mặt trăng chính là nói bản tâm của con người, thuyết phục người ta

phải coi trọng và trở về bản tâm của mình, ứng với thể tánh thanh tịnh ban đầu Đó là “xứng pháp hạnh”

2 (…)

Trang 36

H ồng lô bất chủ hề nang chủy,

Chàng trước san hô nguyệt như thủy

(TRỪU THẦN NGÂM - TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ)

(…)

Ví bằng gập đầu trước tiếng nói,

Thì đâu phải động ngón ở trong giày

Chi ếc lò lớn không đúc mũi dùi ở trong túi,

Loài h ổ mạnh đâu thèm miếng thịt thiu

Hạt ngọc sáng há ngại gì sóng gió,

Màu sắc chính nào hiềm chi tía hồng

Đến khi nào thì “lý” và “sự” mới hoàn toàn rõ rệt,

Sao còn đắn đo gì nắm cầm và buông bỏ

Trâu đá nửa đêm chạy xuống Hải Đông,

Xông vào giữa đám san hô ánh trăng như nước

Hải Đông là thuật ngữ dùng để chỉ cảnh giới thanh tịnh, giải thoát Hình ảnh con trâu nửa đêm chạy xuống Hải Đông xông vào giữa đám san hô ánh trăng như nước biểu trưng cho quá trình tìm lại được chân tâm của

Trang 37

mỗi con người Cho nên hình ảnh trăng ở đây có chứa đựng thiền lý

Sơn nguyệt chiếu đàn cầm

Ngư ca nhập phố thâm

(THÙ TRƯƠNG THIẾU PHỦ - VƯƠNG DUY)

Tu ổi già duy chỉ thích tĩnh lặng,

Muôn vi ệc đều không để ý

Tự nhìn lại chợt thấy chẳng có kế sách gì hay

Nh ững mong trở lại nơi rừng cũ,

Gió tùng th ổi, cởi dây lưng,

Dưới bóng trăng núi, gảy đàn cầm

Bác hỏi lẽ cùng thông,

Lời hát của ông chài đã lọt sâu vào bến

Thông qua hình ảnh trăng, tác giả bày tỏ ý muốn về quê ở ẩn vì đã đến

tuổi già và không còn quan tâm đến mọi thứ trên đời.Bài thơ thể hiện tư tưởng “vô sở cầu hạnh” và “tùy duyên hạnh”

Trang 38

2 Sơn thạch lao xác hành kính vi,

Thăng đường tọa giai tân vũ túc,

Ba tiêu diệp đại chi tử phì

Tăng ngôn cổ bích phật họa hảo,

Dĩ hỏa lai chiếu sở kiến hi

Sơ lệ diệc túc bão ngã ky

Dạ thâm tĩnh ngọa bách trùng tuyệt,

(…)

(SƠN THẠCH - HÀN DŨ)

Núi đá gồ ghề, đường đi nhỏ,

Chi ều tối đến chùa, dơi bay ra

Lên nhà ngồi ở thềm, trận mưa vừa dứt,

Là chuối rất to, cây rành rành rậm rạp

Sư nói về cái vách cổ, có tranh Phật đẹp,

L ấy lửa để mà xem cũng chẳng nhìn thấy rõ

D ẹp giường trải chiến dọn cơm canh,

Gạo rối cũng đủ làm cho ta no bụng

Đêm khuya ngồi lăng,côn trùng mọi thứ đã im tiếng, Trăng trong ra khỏi núi, ánh sáng vào cửa

(…)

Trang 39

Nhà thơ ban đêm đến chùa tạm trú, qua quan sát những cảnh vật thiên nhiên và qua hình ảnh trăng đã bày tỏ sự mong ngóng được về rừng ở ẩn,

sống chan hòa cùng vạn vật Bài thơ thể hiện tư tưởng “vô sở cầu hạnh”

và “tùy duyên hạnh”

III Hư vô quan (8 bài thơ thiền Lý Trần và 2 bài thơ Đường)

Nội dung và ý nghĩa giữa thơ thiền Lý Trần và thơ Đường khác nhau không nhiều

IV Trăng như phương tiện trực tiếp giúp nhà thơ bày tỏ tâm trạng, cảm xúc(7 bài thơ thiền Lý Trần và 4 bài thơ Đường)

 Tuy trong tất cả 11 bài thơ hình ảnh trăng đều là biểu trưng của một sự vật nào đó,

nhưng khác với 4 bài thơ Đường “loại sự vật này cụ thể hơn”, những biểu tượng trong 7 bài thơ thiền Lý Trần đa phần là sự vật trừu tượng

Những biểu tượng cụ thể trong cả thơ thiền Lý Trần và thơ Đường bao gồm: tri

âm, bạn bè,…Những biểu tượng trừu tượng trong các bài thơ thiền còn bao gồm: đạo lý Thiền tông; trí tuệ của Phật; cuộc sống,… Có thể đơn cử vài ví dụ:

- Thơ thiền Lý Trần:

Văn quân cửu tập Thiền

Ưng khai chư phật tín,

Phân phân Bát nhã liên

Trang 40

Hà th ời lâm diện kiến,

Tương dữ thoại trùng huyền

(TRUY TÁN TỲ-NI-ĐA-LƯU-CHI THIỀN SƯ – LÝ THÁI TÔNG)

L ần đầu đến nước Nam,

Được biết người am hiểu rất sâu sắc đạo Thiền

Nên đã mở mang giáo lý của các Phật,

Khi ến người đời sau hòa hợp được với cội nguồn của chữ tâm

Trăng Lăng Già sáng vằng vặc,

Sen Bát nhã ngát hương thơm

Bao giờ được gặp mặt nhau,

Để cùng đàm luận về lý lẽ vô cùng huyền diệu

Lăng Già là nơi ở của Phật nên “trăng Lăng Già” là biểu tượng cho ánh sáng trí tuệ của Phật, sáng vằng vặc, tuyệt đối

2 Tự cổ lai tham học,

Nhược nhân vấn tân sự

(THỦY HỎA - HUỆ SINH)

Từ xưa đến nay (người) đến học đạo,

Ai nấy đền chỉ vì một phương hướng

Ví b ằng có người hỏi cái mới,

Thì cái m ới (giống như) trăng mồng ba

Trăng là đạo lý thiền Khi tu thiền không được hỏi thiền là cái gì, tại vì

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH  ẢNH “TRĂNG” TRONG THƠ - hình ảnh “trăng” trong thơ thiền lý trần việt nam và thơ đường trung quốc
HÌNH ẢNH “TRĂNG” TRONG THƠ (Trang 1)
HÌNH  ẢNH “TRĂNG” TRONG THƠ - hình ảnh “trăng” trong thơ thiền lý trần việt nam và thơ đường trung quốc
HÌNH ẢNH “TRĂNG” TRONG THƠ (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w