1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của nhân sinh quan lão trang trong thơ nguyễn bỉnh khiêm

120 877 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 834,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DẪN NHẬP Văn học trung đại Việt Nam gắn liền với những tên tuổi không bao giờ bị lãng quên như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan…

Trang 1

Nguyễn Thị Tuyết Đào

ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN

Trang 2

Nguyễn Thị Tuyết Đào

ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN KIM CHÂU

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN



Sau một thời gian đầu tư thực hiện, luận văn “Ảnh hưởng nhân sinh quan

của Lão - Trang trong thơ Nguyễn Bỉnh khiêm” đã được hoàn thành đúng thời

hạn Đó là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc với sự hỗ trợ nhiều mặt từ phía nhà trường, quý thầy cô cùng bạn bè, đồng nghiệp Dù rất cố gắng nhưng luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được ý kiến đóng góp, đề xuất để công trình nghiên cứu của chúng tôi hoàn thiện hơn

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Kim Châu - người đã hướng dẫn tôi thực hiện đề tài luận văn nói trên Sự quan tâm, hướng dẫn, chỉ bảo tận tâm của Thầy đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến phòng Sau đại học trường Đại học sư phạm

TP HCM, các giảng viên cùng cán bộ thư viện trường Đại học Sư phạm TP HCM

đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam khóa 21 chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tại trường

Sau cùng, tôi xin được cảm ơn những người thân trong gia đình, những người bạn, những người đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong cả quá trình học tập và nghiên cứu luận văn

N guyễn Thị Tuyết Đào

Trang 4

MỤC LỤC



A DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

6 Kết cấu của luận văn 7

B NỘI DUNG 9

Chương 1 Khái quát về tư tưởng Lão – Trang và tác giả, tác phẩm Nguyễn Bỉnh Khiêm 9

1.1 Tác giả, tác phẩm Nguyễn Bỉnh Khiêm 9

1.1.1 Tác giả 9

1.1.2 Tác phẩm 12

1.2 Lão Tử và Đạo Đức Kinh, Trang Tử và Nam Hoa Kinh 14

1.2.1 Lão Tử và Đạo Đức Kinh 14

1.2.1.1 Lão Tử 14

1.2.1.2 Đạo Đức Kinh 14

1.2.2 Trang Tử và Nam Hoa Kinh 14

1.2.2.1 Trang Tử 14

1.2.2.2 Nam Hoa Kinh 15

1.3 Hành trình du nhập của tư tưởng Lão - Trang vào Việt Nam 15

1.4 Ảnh hưởng của tư tưởng Lão - Trang trong văn học Việt Nam trước thế kỷ XVI 17 1.4.1 Ảnh hưởng của tư tưởng Lão - Trang trong văn học thế kỷ X - XIV 17

1.4.2 Ảnh hưởng của tư tưởng Lão - Trang trong văn học thế kỷ XV - XVI 23 Chương 2 Những biển hiện nhân sinh quan của Lão - Trang trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm 27

Trang 5

2.1 Biết dừng lại, quay về với cuộc sống ẩn dật, thanh cao - một biểu hiện của tinh thần tri túc, cầu nhàn 272.1.1 Tri túc, cầu nhàn - một vấn đề cơ bản trong tư tưởng Lão - Trang 272.1.2 Nhàn - cách ứng xử thức thời và chủ động của Nguyễn Bỉnh Khiêm 282.1.3 Nhàn - Sự tâm đắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm khi chọn được lẽ sống theo

ý mình 372.2 Hòa hợp, gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống làng quê - một biểu hiện của tinh thần vô vi, tiêu dao 442.2.1 Tinh thần vô vi, tiêu dao của Lão - Trang 442.2.2 Niềm hạnh phúc, gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống làng quê trong

thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm 472.3 Xem công danh như áng phù vân - một biểu hiện của quan niệm “đời là giấc mộng” 642.3.1 Quan niệm đời là giấc mộng của Trang Tử 642.3.2 Giấc mộng công danh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm 662.3.3 Sự biến đổi thăng trầm nhanh chóng của vinh và nhục - hệ quả của

được và mất trên đường công danh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm 71

Chương 3 Tương quan Nho – Phật – Đạo và những yếu tố nhân sinh quan tích cực trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm 79

3.1 Tương quan Nho học và Đạo học trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm 793.1.1 Cách ứng xử vừa hợp với tư tưởng Nho gia vừa hợp với tư tưởng Đạo gia 793.1.2 Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, phần Nho sĩ vẫn lấn át phần ẩn sĩ 833.2 Tương quan Phật học và Đạo học trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm 913.2.1 Cách ứng xử vừa hợp với tư tưởng Đạo vừa hợp với tư tưởng Thiền 913.2.2 Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, phần Nho sĩ, ẩn sĩ vẫn đậm nét hơn

phần cư sĩ 96

C KẾT LUẬN 100

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 6

A DẪN NHẬP

Văn học trung đại Việt Nam gắn liền với những tên tuổi không bao giờ bị lãng quên như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan… Và thật thiếu sót nếu không nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà thơ tiêu biểu của văn học thế kỉ XVI - một nhà nho, một vị quan trong sạch, ngay thẳng, một ẩn sĩ Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem là một trong những chiếc cầu nối giữa hai thời đại văn học - thời đại Nguyễn Trãi trước đó và thời đại Nguyễn Du sau này

Quá trình hành - tàng, xuất - xử của nhà thơ này rất phức tạp, liên quan đến nhiều biến động lịch sử Tài năng bản lĩnh nhưng ông giấu mình suốt khoảng thời trai trẻ vì bất mãn trước thời cuộc, thực hiện lối sống ẩn nhẫn đợi thời của một

người ẩn sĩ với những thú vui tao nhã: uống rượu, ngâm thơ, ngao du ở bên sông Mãi đến năm 45 tuổi, xét thấy tình hình chính trị xã hội ổn định Nguyễn Bỉnh Khiêm mới bắt đầu con đường hành đạo, quyết định ra làm quan cho nhà Mạc với mong muốn thực hiện lí tưởng “kinh bang tế thế” của mình Gần 8 năm tại vị, dốc hết lòng vì chúa, chứng kiến nhiều cảnh trái tai, gai mắt nhưng không can gián được Bất mãn ông trí sĩ xin về quê ở ẩn, náu thú sơn lâm, sống nhàn hạ đến cuối đời

Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng theo dòng mà biến đổi như cuộc đời nhà thơ vậy Đó là tiếng nói của một con người tích cực nhập thế, hành đạo giúp đời, lắm lúc là tiếng nói của một con người đã nắm vững mọi quy luật của cuộc sống, nhận thấy đời người vô thường với kiếp sống ngắn ngủi, có đó rồi lại mất đó nên chọn

giải pháp lui về quê “lánh đục tìm trong” Rõ ràng, thơ ông là một sự kết hợp tuyệt

vời của ba luồng tư tưởng Nho - Phật - Đạo Sự chi phối các luồng tư tưởng này trong thơ ông ở mức độ không đều nhau: lúc đậm, lúc nhạt Tuy nhiên bước đầu khảo sát thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi nhận thấy sự xuất hiện liên tục những

từ “nhàn, tiên, vô sự,” - biểu thị một lối sống phiêu diêu, tự tại đối lập hoàn toàn với

thực tế xã hội mục ruỗng, thối nát đương thời

Trang 7

Từ bỏ chốn quan trường trở về với cuộc sống ẩn dật, ông đã xây dựng rất sớm cho mình một quan niệm sống nhàn, lánh xa danh lợi, tìm niềm vui trong sự gắn bó với thiên nhiên, và nhất là biết thuận theo quy luật của tạo hóa theo đúng tinh thần Lão - Trang Tuy nhiên, vẫn cần phải khẳng định rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm thân nhàn nhưng tâm không nhàn, lui về quê sống ẩn dật nhưng lòng lúc nào cũng lo nước thương dân Nói cách khác, trong thơ ông, lý tưởng Nho gia vẫn chiếm một phần quan trọng Vấn đề đặt ra là trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, phần ảnh hưởng của nhân sinh quan Lão - Trang hay của Nho giáo quan trọng hơn, đậm đặc hơn và

sự lựa chọn, dung hòa giữa các hệ tư tưởng đó có ý nghĩa gì đối với quan niệm sống, cách ứng xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm? Đó là những vấn đề cần được khảo sát

cụ thể để tìm lời giải đáp thỏa đáng

Mặt khác, hiện nay thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm được đưa vào giảng dạy trong chương trình Trung Học Phổ Thông Là một giáo viên, tôi nhận thấy những kiến thức chuyên sâu liên quan đến tư tưởng, tình cảm của tác giả sẽ là nền tảng quan trọng giúp tôi hiểu sâu hơn, giảng dạy tốt hơn tác phẩm văn học trung đại nói chung

và tác phẩm Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng

Với những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Ảnh hưởng nhân sinh quan

của Lão - Trang trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm” để thực hiện luận văn tốt nghiệp

của mình

Từ trước đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về cuộc đời và tác phẩm Nguyễn Bỉnh Khiêm Mỗi công trình có những góc nhìn riêng, những phát hiện mới nhằm khẳng định giá trị và đóng góp của tác giả vào tiến trình phát triển văn học Trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu về nhà thơ này, người viết đã thu thập một số công trình, bài viết tiêu biểu sau:

Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm - Trần Thị Băng Thanh, Vũ

Thanh tuyển chọn và giới thiệu: Đây là công trình quy tụ 67 bài viết tập trung

nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm ở nhiều phương diện Trong đó phần thứ nhất tập trung làm rõ thời đại ông sống, tư tưởng chính trị xã hội của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trang 8

qua thơ văn: “Nguyễn Bỉnh Khiêm giữa thế kỉ XVI đầy biến động” Phần thứ hai phác họa diện mạo tư tưởng nhà thơ với tư cách là ẩn sĩ, nho sĩ, cư sĩ: “Triết nhân

Nguyễn Bỉnh Khiêm - tư tưởng và nhân cách” Phần thứ ba nêu những vấn đề chung

về sự nghiệp văn học, những thành tựu trong thơ văn chữ Hán và chữ Nôm của nhà

thơ: “Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ” Phần thứ tư nhấn mạnh vị trí của nhà thơ trong lòng dân tộc xưa và nay

Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc - Viện khoa

học và xã hội - Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm: Công trình này tập hợp 28 bài

viết đi sâu khai thác hoàn cảnh lịch sử, thân thế, tư tưởng và thơ văn… của Nguyễn Bỉnh Khiêm Trong đó đáng chú ý là những bài viết ở phần thứ hai, các nhà nghiên cứu đã đi sâu khai thác được vẻ đẹp tài hoa và nhân cách tuyệt vời của Bạch Vân cư

Thơ Văn Nguyễn Bỉnh Khiêm - Đinh Gia Khánh (chủ biên): Đây là bộ hợp

tuyển giới thiệu 161 bài thơ Nôm và gần 100 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng với lời giới thiệu của tác giả Đinh Gia Khánh Nội dung xoay quanh vấn đề văn bản, giá trị tư tưởng và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân Am thi tập - Nguyễn Khuê: Đây là công

trình khá công phu gồm bốn phần, với các vấn đề lớn sau: hoàn cảnh lịch sử, cuộc đời, tác phẩm Hán Nôm của nhà thơ; khai thác sâu thế giới tình cảm và tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua thơ; xác định giá trị nội dung và nghệ thuật của Bạch Vân

am thi tập và giới thiệu 102 bài thơ trong Bạch Vân am thi tập được dịch khá công phu

Tập kỉ yếu về trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: Công trình được thực hiện

nhân kỉ niêm 500 năm ngày sinh của ông Bao gồm 52 bài tham luận xoay quanh những vấn đề về sự nghiệp sáng tác và cuộc đời của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Các bài viết được sắp xếp theo một chủ đề gồm bốn phần, trong đó phần thứ nhất giới thiệu về quê hương Vĩnh Bảo và thời đại của ông; phần thứ hai, gồm các bài viết trình bày cảm nhận sâu sắc của các nhà nghiên cứu về con người và tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm; phần ba đề cập đến sự nghiệp văn chương của Nguyễn

Trang 9

Bỉnh Khiêm với những lời bình sâu sắc; phần thứ tư là những ý kiến đáng trân trọng

về vị trí của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức con người hiện nay

Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu khác có giá trị về Nguyễn Bỉnh Khiêm của Bùi Duy Tân, Bùi Văn Nguyên, Mai Quốc Liên, Vũ Tiến Quỳnh, Vũ Tiến Phúc, Trần Lê sáng… Điểm qua những công trình chủ yếu nêu trên để thấy được mức độ quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, người được xem là cây đại thụ của văn chương thế kỷ XVI Qua khảo sát những công trình này, người viết nhận thấy có một số ý kiến quan trọng có liên quan đến phạm vi khảo sát của đề tài, tiêu biểu như:

- Nguyễn Huệ Chi nhận định: “Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một hình thức

biểu hiện của ung dung tự tại, của một phong thái sống hồ hởi, cởi mở với tạo vật, biết gắn mình với thiên nhiên, sống theo qui luật tự nhiên, hiểu được đến cội nguồn cái đẹp chân chất của sự sống, cái đẹp hồn nhiên của sự chuyển dần, thay đổi luôn diễn ra xung quanh mình…” [37, tr.391].

- Trần Thị Băng Băng và Vũ Thanh cho rằng: “Cái nhàn của Nguyễn Bỉnh

Khiêm là “cái nhàn triết học của một triết nhân” và cũng gợi ra Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà nho có bản lĩnh, một trí giả Tìm đến với sự nhàn dật chính là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm về với cái vụng, cái chuyết mà theo quan niệm của nho gia, đã được điều chỉnh dưới cái nhìn của đạo Lão, mới là bản chất tự nhiên của sự vật Chính quan niệm nhàn dật đạt tới ý vị triết học đó đã tạo nên một Nguyễn Bỉnh Khiêm - Bạch Vân cư sĩ tự do, tự tại, phản giác, hồn nhiên, lạc quan, khỏe khoắn, rất hiếm thấy trong làng thơ nhàn thời trung đại” [37, tr.34].

- Trần Đình Hượu nhấn mạnh: “Nguyễn Bỉnh Khiêm coi mình là loại người

“ chí để ở sự nhàn dật”, tự gọi mình là “ông nhàn”…Ông nhàn đặc biệt quan tâm đến lạc thú nhưng thú vui của ông nhàn không phải là sự sung sướng theo lẽ thường tình” [37, tr.130].

- Phạm Tú Châu lại đưa ra một nhận định khá sắc sảo về nhàn dật của Nguyễn

Bỉnh Khiêm: “Những bài thơ nói chí bằng chữ Hán cho người đọc thấy rõ Nguyễn

Trang 10

Bỉnh Khiêm tuy chí thích nhàn dật nhưng ông không để chí ở việc ẩn dật…” [37, tr.355]

- Lê Trọng Khánh - Lê Anh Trà cho rằng: “Tính chất nhàn tản của Nguyễn

Bỉnh Khiêm thực chất không phải yếm thế, xu thời, ích kỷ và hoàn toàn hưởng lạc,

tư tưởng nhàn tản của Nguyễn Bỉnh Khiêm có những khía cạnh tích cực, phù hợp với tư tưởng hành đạo của Nho giáo Cái nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một lối phản ứng của tầng lớp nho sĩ bất lực trước thời cuộc lúc bấy giờ, phản ứng bằng hình thức tiêu cực nhưng vẫn bao hàm một nội dung đấu tranh bằng phương pháp theo lẽ tự nhiên” [37, tr.247]

- Lê Trí Viễn nhìn nhận: “Xa lánh chốn phồn hoa, sống một cuộc đời giản dị,

thanh bạch, bạn bè với sách vở, với thơ rượu; đó là cảnh nhàn, cảnh “vô sự”, đó là thái độ ẩn dật, phong thái phóng khoáng của tác giả” [37, tr.476]

Bỉnh Khiêm là dù tàng, dù ẩn nhưng không ngoảnh đi, trái lại ông chăm chú nhìn vào đời, sẵn sang làm những gì đời cần đến, chỉ miễn là không phải lao vào vòng danh lợi, làm hoen ố tấm lòng trung trinh của một nhà nho chí sĩ” [37, tr.146]

- Các tác giả bộ Lịch sử Việt Nam: “Trong thơ văn ông có tố cáo cảnh thối

nát của xã hội, phê phán thói đời xấu xa, nhưng chủ đề nổi bật là ca ngợi chữ

“nhàn”…Tư tưởng của ông là sự kết hợp giữa hệ ý thức Nho giáo và tư tưởng Lão Trang” [29, tr.306]

Nhìn chung, có khá nhiều bài viết đề cập đến những ảnh hưởng của nhân sinh quan Lão - Trang trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhiều ý kiến đánh giá hết sức xác đáng và thuyết phục mà người viết xem là cơ sở quan trọng để tiếp tục phát triển trong quá trình nghiên cứu Tuy nhiên, cần khẳng định rằng vẫn chưa có một công trình chuyên sâu nghiên cứu một cách toàn diện về những ảnh hưởng của nhân sinh quan Lão - Trang trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Tư liệu chúng tôi dùng để khảo sát thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm phục vụ cho luận

văn là Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm - Đinh Gia Khánh, Nxb Văn học, Hà Nội

Trang 11

(1983), Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập - Nguyễn Khuê, Nxb TP

HCM, 1997 và các sách có liên quan đến thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như con người thời đại mà ông đang sống Từ đó mà hiểu rõ hơn về tư tưởng nhân cách của ông cũng như cảm thụ đúng hơn nội dung tác phẩm thơ văn của ông

Tư tưởng Lão - Trang ảnh hưởng trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm ở cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Luận văn chủ yếu xem xét ảnh hưởng trên phương diện nội dung, cụ thể là xem xét sự tác động của tư tưởng Lão - Trang đến cảm hứng sáng tác để hình thành nội dung trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Trong quá trình phân tích những khía cạnh nội dung, chúng tôi cũng khảo sát những yếu tố nghệ thuật có liên quan đến học thuyết Lão - Trang được dùng như phương tiện thể hiện những nội dung đó

Bên cạnh đó chúng tôi còn tìm hiểu thêm các tư liệu khác mà nội dung đề cập đến Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo góp phần hỗ trợ đắc lực để làm sáng tỏ nội dung

đề tài

Đề cập đến Lão - Trang còn có các khái niệm Đạo gia và Đạo giáo Luận văn chỉ xem xét ảnh hưởng tư tưởng Lão - Trang trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mà không xem xét tất cả những gì thuộc về Đạo gia hay Đạo giáo

Trong bài viết này người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:

Phương pháp phân tích - tổng hợp: Nhằm chỉ ra những biểu hiện cụ thể của

tinh thần Lão - Trang trong những câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm Sau đó chúng tôi khái quát lại vấn đề nhằm nhấn mạnh một lần sự ảnh hưởng của tư tưởng Lão -Trang trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Phương pháp thống kê: Chúng tôi thu thập những câu chữ thể thể hiện tư

tưởng Lão - Trang nhằm giúp cho thao tác phân tích được rõ ràng và thuyết phục hơn

Phương pháp tiếp nhận: Góp phần lí giải sự tồn tại sự song song của ba

luồng tư tưởng trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, đặc biệt là luồng tư tưởng Đạo giáo

Trang 12

Phương pháp thực chứng tiểu sử: Giúp người đọc có cơ sở hiểu thêm về con

người và cách hành xử của nhà thơ

Dựa trên những thành tựu cũng như những vấn đề chưa được giải quyết một cách triệt để trong thực tiễn nghiên cứu ảnh hưởng nhân sinh quan Lão - Trang trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, luận văn này nhằm hướng đến giải quyết những vấn

đề sau:

- Khảo sát, phân tích những biểu hiện nhân sinh quan Lão - Trang trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu ở phương diện nội dung Cụ thể là tìm những khía cạnh của tư tưởng Lão - Trang đã tác động đến việc hình thành cảm hứng sáng tác ở nhà thơ

- Xác định mức độ ảnh hưởng nhân sinh quan Lão - Trang trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm từ đó thử đưa ra những lí giải về nguyên nhân của sự ảnh hưởng này nhằm có cái nhìn tổng quan về tâm sự của Nguyễn Bỉnh Khiêm được gửi gắm qua thơ

- Không chỉ dừng lại tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm dưới ảnh hưởng của nhân sinh quan Lão - Trang, mà qua những tập thơ của ông chúng tôi còn mong muốn phân tích sự dung hòa trong việc hội nhập cả hai luồng tư tưởng khác là Nho học và Phật học trong thơ ông Từ đó có cái nhìn, cách hiểu đúng hơn về nhà thơ

Sau khi xác định lý do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục đích và phương pháp nghiên cứu, nhằm làm rõ những yêu cầu mà

đề tài đặt ra, chúng tôi trình bày hướng phát triển của đề tài như sau:

Chương 1: Khái quát về tác giả - tác phẩm Nguyễn Bỉnh Khiêm và tư tưởng Lão - Trang

Ở phần này chúng tôi chỉ trình bày một cách khái quát về cuộc đời và thân thế,

sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Đồng thời cung cấp thêm vài nét về cuộc đời Lão Tử, Trang Tử và hai sáng tác của hai vị Đạo gia này với những

Trang 13

nội dung cơ bản nhất Qua đó cho thấy sự ảnh hưởng của tư tởng Lão - Trang vào

văn học trung đại Việt Nam, trong đó có nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chương 2: Những biểu hiện của nhân sinh quan Lão - Trang trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Ở phần này chúng tôi không đi một cách chung chung, sơ lược ở dạng phác thảo như chương 1, mà chúng tôi dừng lại đi sâu phân tích chỉ ra sự ảnh hưởng cụ

thể của tư tưởng Lão - Trang trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm ở những khía cạnh

riêng như: Biết dừng lại, quay về với cuộc sống ẩn dật, thanh cao - một biểu hiện của tinh thần tri túc, cầu nhàn Hoà hợp, gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống làng quê - một biểu hiện của tinh thần vô vi, tiêu dao Xem công danh như áng phù vân - một biểu hiện của quan niệm “Đời là giấc mộng”

Chương 3: Tương quan Nho - Phật - Đạo và những yếu tố nhân sinh quan tích cực trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chương này người viết đi vào phân tích làm rõ sự đa nhân cách trong con người Nguyễn Bỉnh Khiêm để thấy rằng nhà thơ rất linh hoạt trong phương cách ứng xử của mình Đồng thời qua đó thấy được nhà thơ không hẳn phụ đạo quên đời khi chọn lựa lối sống theo Lão - Trang

Phần kết luận: Kết luận ngắn gọn về những vấn đề đã trình bày ở phần nội

dung, khẳng định lại vị thế của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lòng người dân Việt

Trang 14

B NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TƯ TƯỞNG LÃO – TRANG VÀ TÁC

GIẢ, TÁC PHẨM NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi (1491), còn có tên là Văn Đạt, tên chữ

là Hạnh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, Xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng Ông mất ngày 28 tháng 11 năm Ất Sửu (17/01/1585), sống gần trọn thế kỉ XVI đầy biến động

Ông xuất thân trong một gia đình Nho học Tổ phụ là Văn Tĩnh được ấm phong Thiếu bảo Tư quận công Tổ mẫu là Phạm Thị Trinh Huệ được ấm phong Chinh phu nhân Ông ngoại là thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan Cha là Nguyễn Văn Định, hiệu Cù Xuyên tiên sinh, học rộng đức cao, được phong Thái bảo Nghiêm quận công, được sung chức Thái học sinh Ông là người thông minh, có tài văn thơ, thông kinh kịch, giàu nghị lực, có chí khí khác thường, có công lớn trong việc dạy

dỗ Nguyễn Bỉnh Khiêm Thân mẫu họ Nhữ được phong Từ Thục phu nhân Bà thông kinh sử, giỏi văn chương, tinh thông thuật số Xét cho cùng thì Nguyễn Bỉnh Khiêm thừa hưởng nhiều điều tốt đẹp từ gia đình, chính những phẩm chất nổi trội,

ưu tú từ cha và mẹ đã tôi luyện và cho ra đời một Nguyễn Bỉnh Khiêm lỗi lạc, được mọi người tôn kính cho đến ngày nay

Tương truyền Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh từ nhỏ, tư chất hơn hẳn người thường, một tuổi đã nói sõi, năm tuổi đã thuộc nhiều thơ ca quốc âm do mẹ dạy truyền khẩu Lớn lên, ông được theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng (người Lạch Triệu, Hoằng Hóa, Thanh Hóa) - một vị quan thanh liêm, một người thầy xuất sắc nên ông đã sớm hấp thu những phẩm chất tốt đẹp đó Có thể nói thời thơ ấu của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong giai đoạn được coi là thịnh trị nhất của nhà nước phong kiến theo thể chế Nho giáo ở Việt Nam Thế nhưng những ngày này đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm thật ngắn ngủi

Trang 15

Dựa vào các cột mốc lịch sử và những hoạt động, chúng tôi chia cuộc đời của nhà thơ làm ba chặng:

Chặng thứ nhất: tính từ thời niên thiếu đến năm 1534: Ngay từ thuở ấu thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm được mẹ nuôi dạy, chăm sóc cẩn thận cả về thể lực và trí lực Đến tuổi trưởng thành Nguyễn Bỉnh Khiêm được học với quan hưu trí Hộ bộ Thượng thư Dương Đức Nhan và trở thành con rể của ông Sau đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm nghe tiếng cụ Bảng nhãn Lương Đức Bằng là bậc văn chương cái thế, bèn lặn lội tìm đến học Đây là khoảng thời gian trong triều đình và ngoài xã hội có nhiều biến động: nội chiến phi nghĩa, cướp bóc loạn lạc, sưu cao thuế nặng, nhân dân đói khổ lầm than cơ cực…

Trong khoảng thời gian 1523 và 1526, triều Lê Tương Dực có mở khoa thi nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mai danh ẩn tích Cho đến khi Mạc Dăng Dung cướp ngôi nhà Lê, nhà Mạc đã có một số chính sách mới nhằm ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy sự phát triển của đất nước về mọi mặt Vì thế, uy tín nhà Mạc được củng cố, và được một số quan lại nhà Lê cũ phò trợ đắc lực Thời điểm này nhà Mạc cũng tổ chức một số khoa thi như thi Hương, thi Hội để kén chọn nhân tài, các sĩ tử hưởng ứng rất đông nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn ẩn cư dạy học, lấy đạo làm vui, chẳng cầu danh tiếng

Cho đến năm 1530, khi Mạc Đăng Doanh lên ngôi, nhà thơ tự nhận mình chưa bằng Khổng Tử, chưa thấu suốt được lẽ đương nhiên của tạo vật, còn băn khoăn chưa xác định được hướng đi, còn trăn trở là có nên ứng thí để đem đạo học ra giúp nước cứu đời được hay không, vì con đường trước mặt còn đen tối như mực

Chặng thứ hai: tính từ lúc ra làm quan (1535 - 1542): Nguyễn Bỉnh Khiêm quyết định nhập thế Mặc dù đã 44 tuổi, ông vẫn đi thi Hương và đỗ giải Nguyên khoa Giáp ngọ dưới triều Mạc Đăng Doanh (1534) Năm 1535 dự thi Hội bốn kì đều đạt giải nhất, đỗ Hội nguyên; dự thi Đình, đỗ Trạng nguyên Làm quan được 8 năm, ông dâng sớ xin chém đầu 18 tên nịnh thần nhưng không được vua Mạc chấp thuận Tiếp đó lấy cớ con rể Phạm Dao cậy quyền thế làm nhiều điều bất nghĩa, ông thác bệnh xin về trí sĩ vào thời Mạc Phúc Hải (1543)

Trang 16

Chặng thứ ba: Tính từ năm 1543 đến 1585 Trong thời gian ở ẩn, Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng am Bạch Vân, bắc hai chiếc cầu Nghinh Phong và Tràng Xuân, tu bổ chùa chiền, dựng một ngôi quán gọi là Trung Tân trên bến Tuyết Giang, được học

trò tôn xưng là Tuyết Giang Phu tử Trong Công dư tiệp kí, Vũ Phương Đề cho

rằng tuy Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn cư dạy học nhưng với tài đức cao vời vợi của

Trạng Trình, vua Mạc vẫn lấy “sư lễ” đãi ông Những khi nhà nước có việc gì quan

trọng, triều đình đều sai sứ đến hỏi, có khi triệu ông về kinh thung dung trù liệu kế

hoạch, rồi lại trở về am chứ không ở lại Bên cạnh đó cả những người phù Lê cũng

luôn tôn trọng, vị nể Nguyễn Bỉnh Khiêm Sau 2 năm Mạc Phúc Hải gia phong cho ông chức Trình Tuyền hầu (Hầu Tước khơi nguồn dòng suối triết học của họ Trình) Người đời thường gọi ông là Trạng Trình

Với một tấm lòng nhân đạo, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn mong muốn cho đất nước được thịnh vượng, thái bình Với sự uyên thâm vốn có, ông nhận thấy vận mệnh của đất nước trong hoàn cảnh bi đát này không thể trao vào tay bất cứ một lực lượng chính trị nào Bởi vì lúc này các tập đoàn phong kiến quyết chiến với nhau chỉ vì muốn tranh giành quyền lực Vì vậy tương truyền để tránh những cuộc binh đao khói lửa lan tràn đến cuộc sống của nhân dân, ông đều bày cho các phe phái

những phương sách khác nhau để giữ thế “chân vạc” Chẳng hạn năm 1568,

Nguyễn Hoàng thấy anh là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm hãm hại, sợ mầm họa sẽ xảy ra cho bản thân, đã ngầm cho thân cận đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm về kế an

thân Được ông mách bảo: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Dựa vào một

dải Hoành sơn có thể lập nghiệp được lâu dài), Nguyễn Hoàng liền xin anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa (từ Đèo Ngang trở vào) và sống bình yên trong nhiều năm Thời ấy tại kinh thành Thăng Long, chúa Trịnh cũng ra sức ức hiếp vua Lê, làm nhiều điều bạo ngược kể cả có ý định muốn phế bỏ vua Lê Khi chúa Trịnh cho người đến hỏi ý kiến của Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông không trả lời

mà lẳng lặng dẫn sứ giả của triều đình ra thăm chùa và nói nói với nhà sư trong chùa: “Giữ chùa thờ phật thì ăn oản” (Ngụ ý muốn khuyên chúa Trịnh cứ tôn thờ

nhà Lê thì quyền hành sẽ nắm trong tay, nếu tự ý phế lập sẽ dẫn đến chiến tranh)

Trang 17

Riêng đối với nhà Mạc, sau nhiều trận đánh diễn ra liên miên, nhà Mạc phải bỏ chạy lên Cao Bằng Vua Mạc có ý cho người về hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm,

ông đã trả lời “Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế” (Cao Bằng tuy đất hẹp nhưng có

thể giữ được vài đời) Quả nhiên mãi đến năm 1688, sau ba đời giữ đất Cao Bằng, nhà Mạc mới bị diệt Sở dĩ nhân dân đưa ra những truyền thuyết trên là vì muốn chứng minh rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm có tài tiên đoán, do nắm được bí truyền của sách Thái ất thần kinh Ngoài ra còn có rất nhiều truyền thuyết khác về Trạng Trình

trong tập Trình quốc công sấm kí Thực hư, có hay không có, khẳng định hay phủ

định sự việc còn là vấn đề mà các học giả Việt Nam cần phải nghiên cứu kĩ để trả lại vị trí xứng đáng cho Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lòng dân tộc và cả trên lĩnh vực văn học Một điều chắc chắn là đối với nhân dân Việt Nam Nguyễn Bỉnh Khiêm

thật sự là nhà học giả “thượng thông thiên văn, hạ đạt địa lí, trung tri nhân sự” Và

trong thời gian trí sĩ ở điền viên, ông chính là một người thầy mẫu mực, cao minh

đã đào tạo biết bao danh sĩ tài năng cho đất nước như Giáp Hải, Lương Hữu Khánh, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Quyện…

Tuy nhiên, Nguyễn Khuê khi nghiên cứu Bạch Vân am thi tập cho rằng

Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi lui về ở ẩn vẫn mang trong mình tấm lòng nhiệt huyết

của kẻ mang “tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi” nên vẫn tiếp tục nhận lời mời

của vua Mạc mà ra làm quan, trực tiếp tham gia những cuộc chinh phạt của triều Mạc ở phía Tây nữa rồi mới quy lão ở tuổi 73 (1563)

Đến ngày 28 tháng 11 năm Diên Thành thứ 8 (1585) Nguyễn Bỉnh Khiêm mất hưởng thọ 95 tuổi Mạc Hậu Hợp sai Mạc Kính Điển đến dự tế, truy phong Thượng

thư bộ Lại, Thái phó Trình quốc công và tặng mấy chữ trước cửa ở đền thờ: “Mạc

triều Trạng nguyên Tể tướng từ”

Tuyết Giang Phu Tử có nói là rất vụng trong nghề thơ, tuy nhiên khi nghiên cứu thơ văn của ông, người viết nhận thấy sự nghiệp văn chương của Trạng Trình là tấm gương sáng về quá trình lao động sáng tạo không ngừng Tác giả đã để lại cho

Trang 18

đời một di sản thơ đồ sộ chứa đựng nhiều tư tưởng thâm sâu, nhiều bài học giáo hóa rất thiết thực cho đời

Về chữ Hán có Bạch Vân am thi tập, Trung Tân quán bi kí, Thạch khánh kí

và một số bài văn tế Theo Bạch Vân am thi tập tiền tự do chính tác giả viết thì thơ

chữ Hán có khoảng 1000 bài Hiện nay số còn lại chỉ khoảng hai phần ba Tập thơ

là tiếng nói của con người nhập thế hành đạo, vừa là tiếng nói của một cao sĩ ẩn dật, vừa là tiếng nói của một con người ưu thời mẫn thế

Về chữ Nôm có Bạch Vân quốc ngữ thi tập (còn gọi là Trình quốc công

Bạch Vân quốc ngữ thi tập) với khoảng 170 bài thơ Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh

Khiêm làm theo thể Đường luật và Đường luật xen lục ngôn Thơ không có đề mục cho từng bài và từng môn loại Nội dung xoay quanh một số đề tài nhất định: sự suy tàn của đạo đức phong kiến, cuộc đời nhàn dật, phong cảnh thiên nhiên, ý nghĩ về bổn phận với vua, với nước

Ở hai tập thơ chúng ta nhận thấy ở nhà thơ một tư tưởng thoát li mang đậm dấu ấn tư tưởng Lão - Trang Đó là tư tưởng tiêu dao, nhàn phóng coi nhẹ cuộc đời, coi nhẹ công danh, thoát mình khỏi chốn cạnh tranh, vui chơi với thiên nhiên, với thơ rượu

Ngoài thơ Nôm, trong dân gian còn lưu hành nhiều câu sấm Trạng Các tập sấm kí Nôm thường mang tên Trạng Trình và phần lớn viết theo thể lục bát như Trình quốc công sấm kí, Trình tiên sinh quốc ngữ Sấm Trạng Trình là một hiện

tượng văn học cần phải được tìm hiểu và xác minh thêm Theo Phả kí của Vũ

Khâm Lân, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có bài phú bằng quốc âm Bài phú này hiện nay vẫn chưa được tìm thấy

Nguyễn Bỉnh Khiêm có phong cách thơ rất riêng không lẫn với các nhà thơ cùng thời mặc dù vẫn tuân theo nguyên tắc sáng tác thơ văn trung đại Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết học nhưng vẫn gần gũi và dễ tiếp nhận Đặc biệt là hai tập thơ chữ Hán và chữ Nôm, chất triết thể hiện rõ rệt và đậm nét nhất - triết học đạo gia, mà đại diện tiêu biểu là Lão Tử và Trang Tử Đọc thơ ông, người đọc rất dễ dàng nhận ra sự ảnh hưởng ấy

Trang 19

1.2 Lão Tử và Đạo Đức Kinh, Trang Tử và Nam Hoa Kinh

Lão Tử tức chưa rõ năm sinh, năm mất, nhưng theo ý kiến chung nhất là ông sống vào khoảng thế kỉ thứ VI - V trước công nguyên, là một nhà tư tưởng vĩ đại của Trung Hoa cổ đại, là người sáng lập trường phái Đạo gia (đạo Lão) Ông tên thật là Lý Nhĩ, tên thường gọi là lão Đam, người làng Khúc Nhân, hương Lệ, nước

Sở Ông làm chức quan giữ sách nhà Chu, học rộng biết nhiều, sau về quê ở ẩn Về giai thoại của Lão Tử: Tương truyền, trước khi về ở ẩn đến cửa quan, viên quan coi

cửa là Doãn Hỉ bảo: “Ông sắp đi ở ẩn, ráng vì tôi mà viết sách để lại” Thế là Lão

Tử viết một cuốn sách chỉ gồm khoảng năm ngàn chữ bàn về “Đạo” và “Đức” (tức

Đạo Đức Kinh) Viết xong rồi bỏ đi, về sau không ai còn nghe đến, không biết sống

chết ra sao

Cuốn Đạo Đức Kinh tổng cộng gồm có 81 chương, hơn 5000 chữ Hán gồm có

hai thiên, thiên trước bàn về Đạo (Thượng Kinh), thiên sau bàn về Đức (Hạ Kinh)

Thượng Kinh gồm 37 chương, bắt đầu bằng câu: “Đạo khả Đạo phi thường Đạo”

Hạ Kinh gồm 44 chương, bắt đầu bằng câu: “Thượng Đức bất Đức thị dĩ hữu Đức”

Tư tưởng của Lão Tử truyền lại trong tác phẩm Đạo Đức Kinh rất phong phú và

uyên thâm, dù trải qua mấy ngàn năm người đọc vẫn có thể tiếp thu được những điều bổ ích

Trang Tử (369 - 286 TCN) tên là Chu, người nước Tống, huyện Mông, Ở khoảng giữa hai tỉnh Sơn Đông và Hồ Nam ngày nay Ông là một nhà Lão học danh

tiếng nhất trong làng Lão học cổ điển Theo Sử ký mục “Lão Trang Thân Hàn Liệt

truyện”, ông đồng thời với vua Huệ Vương nước Lương và Tuyên Vương nước Tề,

tức là đồng thời với Mạnh Tử Là nhà tư tưởng lớn trong phái Đạo gia, là người kế tục tư tưởng của Lão Tử Cũng như Lão Tử, tư liệu sớm nhất chép về Trang Tử là ở

Trang 20

bộ Sử ký của Tư Mã Thiên Sử gia Tư Mã Thiên viết về Trang Tử khá vắn tắt:

“ Trang tử, người đất Mông, tên Chu, làm quan lại ở Vườn Sơn (Tất Viên)” sau đó

sống ẩn dật cho đến cuối đời Nhưng điều chắc chắn là Trang Tử sống cùng thời với Mạnh Tử và Huệ Thi thời Lương Huệ Vương và Tề Tuyên Vương Đất Mông được xác định nằm trong đất Tống, thuộc tỉnh Hà Nam (Trung Quốc) ngày nay Trang Tử

là một trong những nhà tư tưởng đặc biệt vào loại hạng nhất thời ấy, rất giỏi kể

chuyện, có sức tưởng tượng vô cùng phong phú Tác phẩm Nam Hoa Kinh của

Trang Tử viết theo thể văn xuôi, mang màu sắc ngụ ngôn Ở cuốn sách này Trang

Tử có sự nhất trí về quan điểm, tư tưởng với Lão Tử Ông và Lão Tử được xem là hai tác giả nồng cốt của Đạo gia và làm nên học thuyết Lão - Trang, một trào lưu tư tưởng ở Trung Quốc cổ đại có ảnh hưởng mạnh mẽ từ xưa tới nay, từ phương Đông tới phương Tây

1.2.2.2 Nam Hoa Kinh

Có người lý giải, sở dĩ bộ sách có tên Nam Hoa Kinh (hay còn gọi là Nam

Hoa Chân Kinh) bởi nó được viết khi Trang Tử ở ẩn tại núi Nam Hoa thuộc nước Tống Đây là bộ sách mà Kim Thánh Thán liệt vào hạng nhất trong lục tài tử thưcủa Trung Quốc

Bản lưu hành ngày nay gồm 33 chương, chia làm ba phần:

Nội thiên - gồm 7 thiên có tựa đề là: Tiêu dao du, Tề vật luận, Dưỡng sinh

chủ, Nhân gian thế, Đức sung phù, Đại tôn sư, Ứng đế vương

Ngoại thiên - gồm 15 thiên có tựa đề là: Biền mẫu, Mã đề, Khư khiếp, Tại

hựu, Thiên địa, Thiên đạo, Thiên vận, Khắc ý, Thiện tính, Thu thủy, Chí lạc, Đạt sinh, Sơn mộc, Điền tử phương, Tri bắc du

Tạp thiên - gồm 11 thiên: Canh tang sở, Từ vô quỉ, Tắc dương, Ngoại vật,

Ngụ ngôn, Nhượng vương, Đạo chích, Thuyết kiếm, Ngư phủ, Liệt ngự khấu, Thiên

hạ

Với cốt lõi là lối hành xử thuận theo tự nhiên, tinh thần phóng khoáng, chuộng

tự do, yêu thiên nhiên, theo đuổi lối sống tiêu dao, tự tại, tư tưởng Lão - Trang có

Trang 21

một sức hấp dẫn đặc biệt đối với nhiều nghệ sĩ từ cổ chí kim trên hầu khắp các quốc gia nằm trong vùng ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa Ở Việt Nam, trong suốt thời kỳ trung đại, biểu hiện của sự ảnh hưởng này trong văn học tuy đậm nhạt khác nhau ở từng giai đoạn cụ thể nhưng chúng ta đều có thể tìm thấy sự có mặt tư tưởng Lão -

Trang trong nhiều tác phẩm của các nhà thơ, nhà văn lớn Khi nghiên cứu “Ảnh

hưởng nhân sinh quan Lão - Trang trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm”, chúng tôi cũng

muốn khảo sát sự ảnh hưởng của tư tưởng này trong cả tiến trình văn học trung đại

để có một cái nhìn bao quát và có hệ thống Chúng tôi vẫn biết rằng để có được một cái nhìn toàn diện và đưa ra những kết luận với những luận cứ xác đáng mang tính khoa học cao cho cả một tiến trình văn học dài cả ngàn năm đòi hỏi mất nhiều thời gian và công sức Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi sẽ cố gắng đưa ra những nét lớn về ảnh hưởng tư tưởng Lão - Trang trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam

Các nhà nghiên cứu thường gọi sự ảnh hưởng “tư tưởng Lão - Trang” là sự ảnh hưởng “Đạo gia - Đạo giáo” Tuy nhiên cũng nên có sự phân biệt ở đây Theo chúng tôi, khi nói đến tư tưởng Lão - Trang là nói đến hệ thống triết thuyết mà Lão

- Trang đề xướng Nói đến Đạo gia là nói đến những người có cùng tư tưởng hoặc theo khuynh hướng tư tưởng Lão - Trang, lấy Đạo làm hạt nhân để xây dựng triết thuyết của mình Những người sống gần với Lão - Trang thuộc Đạo gia có thể kể đến như Dương Tử, Liệt Tử … Còn Đạo giáo là tổ chức tôn giáo lấy triết thuyết của Lão - Trang làm nền tảng thuyết lý và nâng lên thành những hoạt động mang tính chất tín ngưỡng như học cách tu tiên, xây dựng những nhân vật thần tiên trong một thế giới thần tiên để ngưỡng vọng, luyện phép thuật, luyện thuốc trường sinh bất lão và tất cả đã thông qua sự tiếp nhận của nhà thơ nhà văn mà đi vào thế giới thơ văn Suy cho cùng tất cả đều xuất phát từ lý thuyết về Đạo mà Lão - Trang xây dựng Những từ ngữ, hình ảnh từ Đạo gia - Đạo giáo đi vào thơ văn cũng chính là sản phẩm nảy sinh từ tư tưởng Lão - Trang mà thôi Cho nên khi xem xét ảnh hưởng của tư tưởng Lão - Trang trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi cũng xem xét cả những yếu tố ảnh hưởng thuộc về Đạo gia - Đạo giáo Có xem

Trang 22

xét những yếu tố này chúng ta sẽ thấy được một quá trình vận động đi từ sự ảnh hưởng ở phương diện tôn giáo đến phương diện triết học của học thuyết Lão - Trang

Văn học trung đại Việt Nam là cả một chặng đường dài có thể tính tròn mười thế kỉ Trong đó có nhiều biến cố lịch sử xảy ra làm thay đổi sâu sắc đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và tất nhiên có cả văn học Khi khảo sát ảnh hưởng của

tư tưởng Lão - Trang trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam chúng tôi nhận thấy cần xem xét sự thâm nhập, tồn tại và tác động của các khuynh hướng tư tưởng trong mối tương quan với bối cảnh lịch sử xã hội, chính trị của thời kỳ đó Mỗi một thời kỳ, một giai đoạn với bối cảnh lịch sử xã hội, chính trị khác nhau sẽ quyết định

sự tồn tại hay mức độ ảnh hưởng của từng khuynh hướng tư tưởng đối với xã hội nói chung và văn học nói riêng Vì vậy, chúng tôi dựa vào quan điểm phân kỳ văn học gần đây để vừa lý giải, vừa chỉ ra sự ảnh hưởng của tư tưởng Lão - Trang trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam Theo đó văn học trung đại Việt Nam trải qua bốn giai đọan:

- Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV

- Từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII

- Từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX

- Nửa cuối thế kỉ XIX

Nhưng do giới hạn đề tài nghiên cứu người viết chỉ tìm hiểu sự thâm nhập và ảnh hưởng tư tưởng Lão - Trang ở hai giai đoạn: Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV và thế kỷ XV đến thế kỷ XVI

kỷ XVI

Hơn một thế kỷ đất nước chúng ta chịu sự đô hộ và kiểm soát của đất nước Trung Hoa nên việc chịu ảnh hưởng và tiếp biến văn hóa từ Trung Hoa là điều không tránh khỏi Và hệ tư tưởng đầu tiên ở Trung Quốc có ảnh hưởng đến Việt Nam là Nho giáo với những nội dung chủ yếu như: mệnh trời, đức trị và chính

Trang 23

danh, đạo đức với những đại diện ưu tú bậc nhất thời bấy giờ Chu Công Đáng, Khổng Tử, Mạnh Tử, Đổng Trọng Thư… Tuy nhiên tư tưởng Nho giáo không đáp ứng được nhu cầu đời sống chính trị, xã hội bấy giờ Bên cạnh Nho giáo thì Phật giáo cũng đóng một vai trò rất lớn không thể thiếu trong ý thức xã hội phong kiến Việt Nam, ý niệm phật giáo chủ yếu xoay quanh hai vấn đề cơ bản: Đạo phật quan niệm vạn vật không do một thượng đế nào làm ra mà do vận động của bản thân nó, đạo phật quan niệm cuộc đời là bể khổ, và muốn giải thoát khỏi bể khổ ấy thì phải biết tu tâm Phật giáo có nhiều tông phái mà nổi trội lên hết ở Việt Nam là phái Thiền Tông Tuy nhiên trong quá trình hội nhập hai học thuyết này ít nhiều đã bộc

lộ những hạn chế và thiếu sót của mình, không đủ khả năng dẫn dắt con người thoát khỏi bể khổ nhân sinh, cho nên Đạo giáo xuất hiện Đạo giáo chủ trương vô vi, nghĩa là thuận theo tự nhiên mà sống, đơn giản hóa chính trị, nới lỏng pháp luật, hình thành ở con người một lối sống tiêu dao, phóng nhiệm, không màng nhân thế,

ưa thích thiên nhiên và nhàn tản Người sáng lập ra Đạo giáo đầu tiên phải kể đến là Lão Tử, Trang Tử mới là người tiếp nối và phát triển tư tưởng của ông Ở hai bậc Đạo gia này về tư tưởng có rất nhiều điểm tương đồng và thống nhất, cho nên sau này người ta thống nhất tên gọi Đạo gia và những tư tưởng của Đạo gia là tư tưởng Lão - Trang hay học thuyết Lão - Trang Ba hệ tư tưởng trên đây đều nhập vào nước

ta vào thời kì phong kiến phương Bắc thống trị nên có sự giao thoa với nhau Đặc biệt là ở buổi đầu từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, ba hệ tư tưởng này đều được coi trọng theo chủ trương tam giáo đồng nguyên

Văn học trung đại Việt Nam ra đời cùng với sự ra đời của quốc gia Đại Việt sau chiến thắng của Ngô Quyền năm 938, chiến thắng đã mở ra một thời kỳ độc lập

tự chủ của dân tộc Nhân dân ta giành được độc lập sau cả ngàn năm mất nước, chịu cảnh bị đô hộ cho nên nhiệm vụ quan trọng nhất của giai đoạn lịch sử này là xây dựng quốc gia thống nhất, độc lập, tự chủ và chống ngoại xâm Chính vì thế, sự kiện loạn 12 sứ quân sau khi Ngô Quyền mất đã không ngăn cản được đà phát triển

ý thức độc lập tự cường của dân tộc Loạn 12 sứ quân bị dẹp tan, nhà Đinh và Tiền

Lê tiếp tục công cuộc của Ngô Quyền dang dở Nhà Lý, nhà Trần tiếp nối bằng việc

Trang 24

phát triển đất nước về mọi mặt và nâng vị thế quốc gia lên một tầm cao mới Để khẳng định nền độc lập của mình, nhà nước phong kiến Đại Việt một mặt phải củng

cố kinh tế vững chắc, quân đội hùng mạnh, một mặt phải xây dựng nền văn hóa riêng biệt Bên cạnh đó, nhà nước phong kiến Đại Việt còn có ý thức sử dụng văn hóa như một phương tiện thống trị Do đó các vương triều Lý, Trần đã khéo kết hợp những thành tựu văn hóa dân tộc dân gian với các hệ tư tưởng mà từ lâu giai cấp thống trị Trung Quốc xem như nền tảng tinh thần của chế độ phong kiến như Nho, Phật, Lão Đầu thế kỉ thứ X khi nước nhà giành được độc lập thì Phật giáo và Đạo giáo đang rất thịnh hành vì đã được các triều đại Trung Hoa, nhất là nhà Đường khuyến khích, đề cao Tuy nhiên, có đôi chỗ quan điểm của Phật giáo và Đạo giáo

tỏ ra không phù hợp với quyền lợi của nhà nước nhất là trong việc củng cố địa vị thống trị và mở mang cơ đồ Nho giáo đã trở thành công cụ đắc lực trong việc kiện toàn bộ máy nhà nước và mở mang bở cõi Ngoài việc đều đặn tổ chức các kỳ thi Nho học, nhà nước phong kiến ở giai đoạn này còn mở trường Quốc tử giám, lập Văn miếu để thờ các vị thánh hiền của Nho gia Nhà nước phong kiến Đại Việt tuy

đề cao Nho giáo nhưng vẫn giữ sự dung hòa với Phật giáo và Đạo giáo Việc tổ chức kỳ thi Tam giáo vào thời vua Lý Cao Tông năm 1195 là một bằng chứng Vì thế giai đoạn này thịnh hành quan niệm “tam giáo đồng nguyên” Có thể nói rằng, chính bối cảnh lịch sử xã hội của thời kỳ đầu giành độc lập cùng với đường lối, sách lược của nhà nước phong kiến Đại Việt đã tạo điều kiện cho các hệ tư tưởng khác nhau thâm nhập vào nước ta, trong đó có tư tưởng Lão - Trang được cụ thể hóa bằng hình thức Đạo giáo

Dấu vết tư tưởng Lão - Trang ảnh hưởng đến văn học giai đoạn này thông qua hình thức giáng bút, giáng thiên thư của Đạo giáo Trong triết học Lão - Trang ta

gặp khái niệm “thiên cơ” nhằm để chỉ một guồng máy (cơ) vận hành mọi thứ trong

vũ trụ theo nguyên lý tự nhiên (thiên) Điều này được Đạo giáo xây dựng thành

đấng tạo hóa, là hóa công, là Ngọc Hoàng hay Thượng Đế, người có quyền quyết định mọi thứ trên đời Thiên cơ thường được tiết lộ hay báo trước một sự việc sắp

xảy ra bằng lời sấm truyền thường là một bài thơ gọi là sấm thi Đại Việt sử ký toàn

Trang 25

thư và Đại Việt sử lược đều trích dẫn câu sấm báo trước như sau: “Đỗ Thích thí

Đinh Đinh/Lê gia xuất thánh minh/Cạnh đầu đa hoành tử/Đạo lộ tuyệt nhân hành ” Bài thơ được dịch là: Đỗ Thích giết hai Đinh (Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn)/Họ Lê xuất hiện bậc thánh minh (chỉ Lê Hoàn)/Tranh nhau nhiều kẻ chết oan

uổng/Đường sá vắng hẳn người qua lại Cũng trong Đại Việt sử ký toàn thư và Đại

Việt sử lược có ghi một bài sấm thi ngầm dự báo một loạt sự kiện về sự thay đổi và

kế tiếp nhau ở các triều đại Đinh, tiền Lê, Lý, Trần Các thiền sư như Định không, Vạn Hạnh cũng có những bài sấm thi như thế

Sự xuất hiện những bài sấm thi trong bối cảnh thay đổi triều đại, nhất là sự

“dọn đường” của các nhà sư có uy tín trong triều cho Lý Công Uẩn lên ngôi đã cho

ta thấy Đạo giáo được sử dụng với mục đích chính trị rõ rệt và sức ảnh hưởng lớn của Đạo giáo đối với đời sống tinh thần của xã hội

Đến đời nhà Trần có lẽ do hoàn cảnh xã hội đã thay đổi nên hầu như không thấy sấm thi xuất hiện Đến cuối đời Trần, khi Hồ Quý Ly thao túng quyền binh trong triều và mọi người nhận thấy rằng sẽ có một cuộc soán ngôi, lúc này mới xuất

hiện bài Xích chủy hầu được cho là của Trần Duệ Tông Theo Đại Việt Sử ký Toàn

thư, tháng 3 năm 1394, vua Trần Nghệ Tông chiêm bao thấy vua em Trần Duệ

Tông đem quân đến và đọc bài thơ báo vận mệnh của nhà Trần sẽ hết

Các yếu tố liên quan đến Đạo giáo trong giai đoạn này còn xuất hiện ở loại thơ

hành chánh Ở trong bài Thơ Thần (Nam quốc sơn hà), bản tuyên ngôn độc lập đầu

tiên của nước ta được cho là của Lý Thường Kiệt, ta thấy có từ “thiên thư” (“Tiệt

nhiên định phận tại thiên thư”) là một thuật ngữ của Đạo giáo nhằm để chỉ việc

“giáng bút” của đấng linh thiêng tối cao Trước đó, một bài thơ được sáng tác với mục đích ngoại giao của một nhà sư cũng đã xuất hiện các từ ngữ có nguồn gốc Đạo

gia Đó là bài từ có tên là Vương lang quy, được Khuông Việt thiền sư làm theo

lệnh của vua Lê Đại Hành khi tiễn sứ thần Lý Giác Trong bài thơ có từ “thần tiên”

“đế hương” Từ “đế hương” ngoài nghĩa là nơi vua ở còn có nghĩa là tiên cung,

nơi tiên ở Những từ này được dùng nhiều trong các tác phẩm thơ văn của các tác gia Trung Hoa thuộc Đạo gia như Trang Tử, Đào Tiềm, Bào Chiếu, Lưu Hương

Trang 26

Có lẽ cảm quan Đạo giáo đã nâng cảm xúc của một vị thiền sư bay bổng nên những

từ trên vừa có sắc thái trang trọng phù hợp với tính chất ngoại giao vừa đậm đà thi

vị

Trong bài thơ - kệ Quốc tộ, khi được hỏi về vận nước Pháp Thuận thiền sư đã

dùng chữ “vô vi” để trả lời vua Lê Đại Hành (Vô vi cư điện các) Thuật ngữ “vô vi”

được cả Phật giáo và Đạo giáo sử dụng, nhưng từ này có vai trò cốt lõi trong việc phản ánh tư tưởng Lão - Trang Pháp Thuận thiền sư đã mượn thuyết “vô vi nhi trị” của Lão Tử để khuyên nhà vua lưu tâm đến đường lối trị nước

Do chủ trương “tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri” (Lão Tử) nên những người

theo tư tưởng Lão - Trang thường ít để lại những trước tác trình bày về quan điểm,

tư tưởng của mình Thơ văn trực tiếp nói đến tư tưởng, giáo lý của đạo gia lại càng hiếm Trong một cuộc thi thố phép thuật của một nhà sư và một đạo sĩ, vua Lý

Nhân Tông đã làm một bài tán sử dụng từ ngữ liên quan đến Đạo giáo: “Giác Hải

tâm như hải - Thông Huyền đạo diệc huyền - Thần thông kiêm biến hóa - Nhất phật nhất thần tiên” (Giác Hải tâm như biển - Thông huyền đạo rất huyền - Thần thông

và biến hóa - Một người là Phật, một người là Thần tiên)

Vào thời Lý - Trần, các thiền sư còn mượn những thuật ngữ xuất phát từ triết thuyết của Lão - Trang để chuyển tải tư tưởng, giáo lý Phật giáo Có thể thấy điều này trong các bài kệ của những thiền sư như Hiện Quang, Chân Không, Tuệ Trung

thượng sĩ, vua Trần Thánh Tông các thuật ngữ thường được vay mượn đó là: vô

vi, tiêu dao, trùng huyền, thần tiên, hoàn đan, hoán cốt, hòa quang đồng trần hay

các điển tích: Hứa chân quân, Từ Phúc, Quách Phác, Hoàng diện công (Lão Tử),

điệp mộng ví dụ trong bài kệ Cảm hoài, Chân Không thiền sư viết: “Nhân nhân

tận thức vô vi lạc - Nhược đắc vô vi thủy thị gia” (Ai nấy đều thấu hiểu vô vi là vui

- Nếu được vô vi thì mới coi là nhà) Vô vi ở đây được hiểu là vô vi pháp, tức là những cảnh giới bất biến, không sinh, không diệt Sự vay mượn này cho thấy cách tiếp nhận rất cởi mở của Phật giáo thông qua những thiền sư tinh thông tam giáo và

có tinh thần phóng khoáng, đồng thời cho thấy sức hấp dẫn của tư tưởng Lão - Trang đối với các tôn giáo khác

Trang 27

Từ những điều đã trình bày ở trên chúng ta có thể nhận định rằng: sự ảnh hưởng của tư tưởng Lão - Trang đến văn học thời Lý trở về trước chủ yếu thể hiện trên bề mặt câu chữ bằng những thuật ngữ, hình ảnh, điển tích phản ánh những hoạt động, phương thuật mang tính chất tôn giáo của Đạo giáo ở các loại thơ sấm

vĩ, hành chính, thuyết lý được gọi chung là thơ chức năng Đến đời Trần, sự ảnh hưởng của tư tưởng Lão - Trang đến văn học được mở rộng sang các loại hình thơ nghệ thuật Sự thâm nhập có biểu hiện tinh tế hơn, cách chuyển hóa vào trong thơ

đa dạng hơn, nhất là ở mảng thơ trữ tình

Mang dấu ấn tư tưởng Lão - Trang rõ nét nhất là ở thơ vịnh cảnh Những vị vua đầu đời Trần có những bài thơ vịnh cảnh mà ở đó cảm quan thế giới Đạo gia đã gợi thi hứng cho nhà thơ Cách nhìn của những vị vua này về cảnh đẹp thiên nhiên của quê hương đất nước là cảnh tiên, cảnh bồng lai, thượng giới, con người như cũng thoát tục, hòa nhập, đắm mình với thiên nhiên Ông vẽ nên cảnh hành cung Thiên Trường với những vẻ đẹp lung linh, huyền ảo và thoát tục như thế:

…Thập nhị tiên châu thử nhất châu

…Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự

(Hạnh Thiên Trường hành cung - Trần Thánh Tông)

Trong bài Cư trần lạc đạo phú, vua Trần Nhân Tông có viết: “Núi hoang rừng

quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao; Triền vắng am thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hí” thì đó chính là sự thừa nhận một cách thú vị của nhà vua đối với tư tưởng của

Đạo gia Trong thơ của vị tổ Thiền Trúc Lâm này ta thấy tư tưởng triết học “tiêu

dao du” của Trang Tử đã thăng hoa thành tứ thơ đẹp lung linh, huyền ảo để nhà thơ

vẽ nên một cảnh tiên nơi hạ giới Sự thăng hoa cảm hứng thơ từ những điểm nội dung trong triết học Lão - Trang như thế ta còn thấy trong thơ của vua Trần Anh Tông (Đông cảnh), Phạm Sư Mạnh (Đăng Dục Thuý sơn lưu đề), Trần Nguyên

Đán (Đề Huyền Thiên Tử Cực cung), Nguyễn Phi Khanh (Đề Tiên Du tự)…

Ở loại thơ cảm hoài - cảm khái, Lão - Trang để lại dấu ấn bằng tư tưởng cuồng phóng tiêu dao, tự do tự tại trong thơ của nhiều thi sĩ đời Trần Trước tiên phải kể

Trang 28

đến Tuệ Trung Thượng Sĩ, một quý tộc, một danh tướng, một nhà thiền học đầu đời

Trần Ông nổi tiếng với bài Phóng cuồng ngâm, trong đó có những câu như:

“ Đốt đốt phù vân hề phú quý,

Hu hu quá khích hề niên quang”

(Ối ối! Giàu sang chừ, lưng trời mây nổi

Chà chà! Năm tháng chừ, bóng ngựa lướt ngang!)

Cùng mang âm hưởng như bài thơ trên, Tuệ Trung Thượng Sĩ còn có những

bài khác như Giang hồ tự thích, Thế thái hư huyễn

Đến cuối đời Trần, khi triều đại bắt đầu suy vong, tư tưởng thoát tục của Lão - Trang có dịp thâm nhập vào những vần thơ cảm khái của những nhà thơ bắt đầu băn

khoăn trước thời cuộc Ta bắt gặp điều này trong bài Đề Nguyệt Giản Đạo Lục thái

cực chi Quan Diệu đường của Trần Nguyên Đán (Doanh Châu, Bồng Đảo biết là ở

đâu, không ham muốn, không tham lam, ta là tiên…)

Cùng tồn tại với Nho giáo và Phật giáo nhưng rõ ràng tư tưởng Lão - Trang có sức ảnh hưởng đến văn học giai đoạn thế kỉ X đến XV không bằng những triết thuyết thuyết tôn giáo khác Tuy nhiên sự thâm nhập của tư tưởng Lão - Trang vào văn học cũng thể hiện ở nhiều cấp độ: từ mục đích, phương thức sáng tác, đề tài, cảm hứng, đến ngữ liệu, điển cố… Mặc dù phải tồn tại bên cạnh Nho, Phật và đôi khi với hình thức đạo thuật, nghi thức tôn giáo nhưng tư tưởng Lão - Trang vô hình

chung đã ngầm tác động đến tâm hồn, tâm lý sáng tạo của thi nhân, làm phong phú thêm diện mạo văn học của giai đoạn này

Triều Trần suy vong, Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần mở ra triều đại nhà Hồ (1400-1407) Triều Minh lấy cớ phò Trần diệt Hồ sang xâm lược nước ta Lê Lợi sau đó dấy binh khởi nghĩa và khởi nghĩa Lam Sơn kéo dài suốt 10 năm (1418-1427) Lê Lợi lên ngôi mở ra triều đại Hậu Lê (1428-1789) Nhà Lê đi vào xây dựng đất nước và đạt tới cực thịnh vào thế kỉ XV Nhà nước phong kiến Hậu Lê đã biết tận dụng những điều kiện của một quốc gia vừa giành được độc lập, một dân tộc vừa mới được giải phóng để phục hồi và phát triển kinh tế đất nước Bộ máy nhà

Trang 29

nước phong kiến lúc này được xây dựng chặt chẽ hơn: Chính quyền đời Lê đã trở thành một nhà nước quân chủ chuyên chế, đồng thời là một nhà nước phong kiến quan liêu Để đào tạo, tuyển chọn nhân sự cung cấp cho bộ máy chính quyền đó, nhà Lê đã lập ra Quốc tử giám ở kinh đô, mở trường học ở các địa phương Việc thi

cử được tổ chức thường xuyên, tổ chức có nề nếp và và qui mô ngày càng mở rộng Điều đó cho thấy Nho học đã phát triển đến độ cực thịnh vào thế kỉ XV Phật giáo

và Đạo giáo không còn giữ vị trí là tôn giáo được coi trọng như thời Lý, Trần nữa Bên cạnh đó nhà nước phong kiến đời Lê đã ít nhiều hạn chế sự phát triển của Phật giáo và Đạo giáo Văn học nửa đầu thế kỉ XV với âm hưởng chủ đạo là anh hùng ca nhưng đâu đó trong góc khuất tâm hồn của những anh hùng hậu chiến tranh vẫn trỗi lên nỗi niềm riêng tư về thời cuộc Họ tìm đến tư tưởng Lão - Trang Nguyễn Trãi,

Lý Tử Tấn, Nguyễn Thiên Tích, Lê Thiếu Dĩnh, Nguyễn Phu Tiên là những

trường hợp như thế Trong thơ của Lý Tử Tấn nhiều bài Tạp hứng bộc lộ quan

điểm nhân sinh rất gần với nhân sinh quan Lão - Trang Hay tâm sự của Lê Thiếu

Dĩnh trong bài Trạch thôn cố viên, cũng là tâm sự chung của nhiều kẻ sĩ đương

thời

Nửa sau thế kỉ XV, văn học mang tính quan phương Tuy nhiên Phật giáo và Đạo giáo vẫn có những ảnh hưởng lớn trong xã hội Ngay cả Lê Thánh Tông, một ông vua chuộng Nho giáo cũng viết:

“Gió thông đưa kệ tan niềm tục, Hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời”

Trong Hồng Đức quốc âm thi tập có những bài thể hiện lối sống ẩn dật, ca

tụng lối sống nhàn tản như Lạc tửu IV, Đề Lục Vân Động của Thân Nhân Trung,

Đỗ Nhuận…

Chế độ phong kiến đã phát triển cực thịnh vào thời vua Lê Thánh Tông Tuy nhiên bên trong cung đình nhà Hậu Lê không tránh khỏi xung đột Đặc biệt là sau khi Lê Thánh Tông qua đời, quan lại nhiều lần chia bè phái đánh nhau Mạc Đăng Dung do có công dẹp loạn mà có nhiều quyền binh trong tay, thậm chí lấn át cả vua Đến năm 1527 thì Mạc Đăng Dung phế truất ngôi vua và lập ra nhà Mạc Từ đây

Trang 30

lịch sử Việt Nam bước vào thời kì đen tối nhất: thời kì nội chiến Cuộc chiến Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn đã cản trở quá trình phát triển của đất nước Nho giáo vẫn được đề cao, vẫn được sử dụng để củng cố trật tự phong kiến Tuy nhiên do sự suy yếu của chế độ phong kiến, việc học hành, thi cử cũng như nho phong sĩ khí ngày càng đồi bại, đạo Nho ngày càng suy vi Mặt khác, do chiến tranh loạn lạc kéo dài, cuộc sống đầy đau thương tang tóc đã nảy sinh nhu cầu muốn biết trước thời thế và tìm một thế giới bình an đã làm cho Phật giáo và Đạo giáo có điều kiện chấn hưng Những kẻ sĩ có lương tâm thì tìm đến triết thuyết của Lão - Trang như một chỗ dựa tinh thần Nổi bật là các nhà nho ẩn dật như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ Ảnh hưởng Đạo học sâu sắc hơn cả là Nguyễn Bỉnh Khiêm Quan niệm về vũ trụ nhân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy có nguồn gốc từ Dịch lý nhưng ta vẫn thấy ở đó có sự ảnh hưởng của tư tưởng Lão - Trang Ông thường hay nhắc đến trong thơ luận điểm triết học về lẽ tương sinh, tương khắc, họa phúc dựa vào nhau - một lối xử thế của Lão - Trang:

“ Hoa càng khoe nở hoa nên rữa, Nước chứa cho đầy nước ắt vơi”

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 52)

Nguyễn Bỉnh Khiêm chọn một lối sống “nhàn” “Nhàn”, “tiên”, “vô sự” là

nội dung quan trọng trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông viết:

“ Rồi nhàn thì nhàn tiên vô sự, Ngâm ngợi cho nên cảnh hữu tình”

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 15)

Một học trò nổi tiếng của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Phùng Khắc Khoan Ông là nhà nho tích cực xuất thế, hết lòng theo giúp nhà Lê Trung Hưng Khi về già ông thường ngao du đây đó, thăm thú các danh lam thắng cảnh, cùng bạn bè vui với bầu rượu túi thơ Tuy nhiên phần thơ chịu ảnh hưởng tư tưởng Lão - Trang lại được làm

lúc ông bị đày ở thành Nam khi còn trẻ, gồm có Đào nguyên hành, Ngư phủ nhập

đào nguyên và Lâm tuyền vãn, hiện chỉ còn Lâm tuyền vãn mở đầu bằng những

câu:

Trang 31

“ Vô sự là tiểu thần tiên, Gẫm xem cảnh thú lâm tuyền chăng vui?”

Nguyễn Dữ, một người sống cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, nổi tiếng với

tập truyện được xem là “thiên cổ kỳ bút”: Truyền kỳ mạn lục, tác phẩm có cả tư

tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và văn hóa dân gian Riêng tư tưởng Lão - Trang ảnh hưởng đến tác phẩm này ở việc tác giả xây dựng bối cảnh truyện, nhân

vật, hướng giải quyết mâu thuẫn mà truyện Từ Thức lấy vợ tiên, Chuyện đối đáp

của người tiều phu ở núi Na (Na sơn tiều đối lục) là những ví dụ Từ Thức treo ấn

từ quan, ngao du sơn thủy lạc vào động tiên mới được một năm mà khi quay về trần

thế mà đã gần cả trăm năm Ông tiều trong Na sơn tiều đối lục vừa đi vừa ngâm:

Mặc ai xe ngựa/ Mặc ai phố phường/ Nước non riêng chiếm, bụi đời không vương

nhưng Hồ Hán Thương chỉ gặp được một lần như trong giấc chiêm bao

Bối cảnh lịch sử xã hội giai đoạn thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVI đã làm cho văn học có diện mạo riêng Nho giáo trên bước đường suy thoái đã không còn giữ được vai trò là tư tưởng chủ đạo Trong khi đó Phật giáo và Đạo giáo tiếp tục mở rộng ảnh hưởng đến đời sống xã hội lúc bấy giờ Tư tưởng Lão - Trang thâm nhập vào các tác phẩm văn học thông qua các nhà văn nhà thơ bất mãn trước thời cuộc và

những người có tinh thần tự do phóng khoáng Điều này cho thấy tư tưởng Lão Trang khơi gợi nơi người sáng tác không chỉ cảm hứng triết học mà còn cảm hứng nghệ thuật nữa

Trang 32

-Chương 2 NHỮNG BIỂN HIỆN NHÂN SINH QUAN CỦA LÃO -

TRANG TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

tinh thần tri túc, cầu nhàn

Quan niệm tri túc thường lạc là một triết lí truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa của dân tộc Trung Hoa Tri túc là hài lòng với những gì mình có, với cái mà

trời ban cho Giống như chuyện con chim cưu, con ve thấy chim bằng bay được mấy nghìn dặm, từ biển Bắc sang biển Nam với đôi cánh rộng lớn Hai con thấy vậy

chỉ cười rồi nói: “Điêu dữ học cưu tiếu chi viết: Ngã quyết khởi nhi phi thương du

phương, thời tắc bất chí, nhi khống ư địa nhi dĩ hĩ Hề dĩ chi cửu vạn lý nhi nam vi Thích mảng thương giả, tam xan nhi phản, phúc du quả nhiên Thích bách lí giả, túc thung lương Thích thiên lí giả, tam nguyệt tựu lương” [1, tr.108] (Ta quyết bay vụt

lên cây du, cây phượng Như bay không tới thì có rơi xuống đất thôi chứ không sao! Bay cao chín muôn dặm sang qua Nam mà làm gì? Ta thích bay đến mấy cánh đồng gần đây, ăn ba miếng no bụng rồi về Nếu ta đến chỗ xa trăm dặm, thì ta có lương thực mỗi ngày Còn nếu ta đến chỗ xa ngàn dặm, thì ta có ba tháng lương thực) Vậy, lớn thì thuận theo chỗ lớn, không tự lớn mà sinh kiêu nên không thấy mình lớn; nhỏ thì thuận theo chỗ nhỏ, nên không thấy mình là nhỏ Như con chim cưu bay vụt lên cây du, cây phượng dù bay không tới thì rơi xuống đất đâu cần phải ham muốn cái rộng lớn như chim bằng

Con người cũng vậy Trang Tử nói: “Cố phù trí hiệu nhất quan, hạnh tỉ nhất

hương, đức hợp nhất quân năng trưng, nhất quốc giả, kỳ tự thị dã, diệc nhược thử hĩ” [1, tr.119] (Có người tài trí đủ để làm một chức quan, có người hạnh làm gương

được cho một làng, có người đức đáng làm vua mà được cả nước phục, nhưng dù thuộc hạng nào thì cũng đều tự cảm thấy an vui như thế) Điều đó cũng có nghĩa là

sống với một thái độ bất đãi, nghĩa là không chờ đợi điều gì, không mong hơn cái

mà mình đáng được hưởng

Trang 33

Mọi sự tranh chấp đều bắt nguồn từ lòng tham không biết thế nào là đủ của

con người Lão Tử có nói: “Họa mạc đại vu bất tri túc, cữu mạc đại vu dục đắc Cố

tri túc chi túc, thường túc hĩ” [30, tr.58] (Họa không gì lớn bằng là không biết thế

nào là đủ, hại không gì là ham muốn vượt bậc Cho nên biết thế là đủ và thỏa mãn

về cái đủ đó thì luôn luôn thấy đủ) Sở dĩ cái sự biết đủ thì luôn luôn đủ như thế là

vì đấy là bí quyết của quân bình trong trường vận động lưu hành của các thế lực tự

nhiên trong trời đất Đạo trời bớt cái thừa mà bù chỗ không đủ “Thiên chi đạo tổn

hữu dư, nhi bổ bất túc” Còn đạo của người thì trái lại, không như thế cho nên trong

nhân loại hay mất quân bình vậy

Muốn tri túc và bất đãi con người phải biết quả dục (giảm thiểu dục vọng) Lão Tử có chỉ ra rằng: “kiện tố, bão phác, thiểu tư, quả dục” [29, tr.31] (biểu hiện

sự mộc mạc, giữ sự chất phác, giảm tư tâm, bớt dục vọng) Quả dục để dần dẫn đến

vô dục Ta phải hiểu chữ vô ở đây như trong chữ vô vi Có nghĩa là không phải

không ham muốn bất cứ thứ gì mà chỉ là không ham muốn những gì vượt ra ngoài những nhu cầu tối thiểu tự nhiên của con người

Tư tưởng Lão - Trang đề cao thái độ dứt khoát, ứng xử hợp lý khi đã ở đỉnh cao công danh, phải biết đủ để lui về, sống đời nhàn tản, ung dung Đây là một phương thức sống chủ động và sáng suốt, một biểu hiện của minh triết phương Đông

Nguyễn Bỉnh Khiêm là tác giả tiêu biểu của một giai đoạn văn học Các sáng tác của ông là tiếng nói chung của cả một tầng lớp trí thức dân tộc phải sống trong buổi suy vi của chế độ phong kiến Nổi bật trong tiếng nói ấy là chữ “nhàn” Về mặt này xưa nay đã có những luồng ý kiến khác nhau Phan Huy Chú thì cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm hành hay tàng đều có thể xem là được hướng dẫn bởi những

quy tắc tư tưởng nho gia “dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng”, “an bần lạc đạo”

mà các bậc á thánh trong làng nho Trung Quốc và Việt Nam đã nêu gương như Nhan Hồi, Tăng Điểm, Chu An Còn các nhà nghiên cứu ngày nay như Lê Trí Viễn cũng nghĩ đến những nguyên nhân khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm lui về ở ẩn là thời thế

Trang 34

loạn lạc, nhà Mạc suy thoái không xứng đáng là một mẫu hình triều đại lí tưởng, không có khả năng sử dụng người tài… Song xuất phát từ truyền thống hội nhập tam giáo Nho, Phật, Lão nhiều học giả lại lí giải rằng triết lí nhàn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêm có nội dung Lão - Trang và cả Phật giáo Đó là sự lánh đời tìm đến cách sống thanh cao, hòa đồng cùng tự nhiên

Một con người suốt đời ôm niềm ưu dân, ái quốc tại sao có thể dễ dàng phủi áo

ra đi bỏ lại tâm huyết của cả đời mình như vậy Phải chăng có một sự bức bách rất

dữ dội mà chỉ có những người trong cuộc mới có thể lí giải hết được

Sống trong thời buổi nhiễu nhương, quyết định ra đi của nhà thơ là dễ dàng thấu hiểu Nhà Mạc đã không giống như kỳ vọng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, là một vương triều lí tưởng chúa thánh, tôi hiền, người dân được sống trong cản thái bình,

thịnh trị “Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn” Trái lại, triều đại này đã bộc lộ

quá nhiều hạn chế, càng ngày càng trở nên mục ruỗng và thối nát, không hồi cứu vãn Bằng những vần thơ của mình ông đã ghi lại chân thật thảm cảnh đất nước điên đảo dưới triều Mạc lúc bấy giờ

Trong bài Tăng thử, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ví bọn thống trị tàn ác như loài

chuột tham lam, ăn bám chỉ “chui vào góc thành, ẩn trong hang hốc ở nền xá”, núp vào đó để tính “mưu gian”, để “ngấm ngầm ăn trộm, ăn vụng”, “quét sạch tài sản của nhân dân”, gây ra cảnh tượng thê lương khắp nơi Bọn chúng chẳng khác gì

phường sâu dân mọt nước, làm cho dân cùng, nước kiệt Một thực tế nữa cũng

khuấy động tâm hồn nhà thơ đó là sự đen bạc của cảnh đời: con người tham lam, hám tiền, trọng lợi hơn nghĩa, coi rẻ tình nghĩa, kể cả tình cha con, anh em, vợ chồng, bà con Tiền của như mật, như mỡ, như nhị kết, hoa thơm mà con người thì như ong, như kiến, như ruồi Người đời không những tham lam mà hiểm giảo Con

người ích kỷ, tự thiên, tham lam, gì cũng muốn vơ hết về mình “Lập danh, cỡi hạc

lại đeo tiền” (Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 124) Tác giả than thở:

“ Hiểm mạc hiểm thế đồ, Bất tiễn tiện kinh cức

Nguy mạc nguy nhân tâm,

Trang 35

Nhất phóng tiện qui quắc”

( Trung Tân ngụ hứng)

(Không gì hiểm bằng đường đời, Không cắt đi thì toàn là gai góc

Không gì nguy bằng lòng người,

Buông lỏng ra thì đều là quỷ quái)

(Thơ ngụ hứng ở quán Trung Tân)

Quan trường thì hiểm trở, đầy sóng gió, ở đó con người ta sống với nhau bằng hận thù, ganh ghét, lừa lọc, thậm chí sẵn sàng chà đạp lên nhau miễn sao dành cái lợi ích về phần mình Cụ Trạng đã sớm nhận ra một thực tế đau lòng mà dường như

đã trở thành quy luật ở chốn “lao xao” ấy: nơi nào có công danh thì nơi đó tất có

hiểm họa Danh và lụy đi đôi với nhau như một cặp phạm trù nhân quả không thể

tách rời, trong đó “danh” là nguyên nhân và “lụy” là kết quả:

“ Mùi thế gian nhiều mặn lạt, Đường danh lợi có chông gai”

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 40)

“ Vì danh cho phải danh làm lụy”

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 18)

“Vì danh cho ph ải lụy đôi phen”

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 22)

Ở mãi trên đống công danh, bao bọc bởi cuộc sống giàu sang, phú quý nếu không bị hãm hại thì con người lúc nào cũng phải sống trong sự nom nớp, lo âu không biết tai họa sẽ giáng xuống mình lúc nào:

“ Mọi sự chăng còn mắc mớ, Nỗi hay vụng liệu phải lo”

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 27)

Thế nên Lão Tử khuyên người đời khi đã được mãn doanh, đã hội đủ công danh, phú quý thì phải sớm liệu lui về ẩn dật, nếu không ắt bị kẻ khác hãm hại, khó

giữ được trọn vẹn thân thể và danh giá của mình: “Danh dữ thân thục thân? Thân

Trang 36

dữ hóa thục đa? Đắc giữ vong thục bệnh? Thị cố thâm ái tất đại phí, đa tàng tất hậu vong” và chủ trương “khứ thậm, khứ xa, khứ thái” [29, tr.56] (bỏ những gì thái

quá) Nguyễn Bỉnh Khiêm ý thức được điều đó, nhà thơ không để công danh làm

mờ mắt mình mà luôn luôn chủ động trong vấn đề xuất xử Ông đã có sự lựa chọn đúng đắn: dứt khoát lìa bỏ công danh để bảo toàn thanh danh, tính mệnh của mình

mà không chút luyến tiếc:

“ Nẻo có công danh thì có lụy, Cho h ay dù có chẳng bằng chăng”

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 16)

“ Bất ư phú quý, lý nguy ky (cơ),

Tố đắc nhàn trung dữ lão kỳ”

(Sang giàu chẳng ở, hiểm nguy thôi!

Tuổi cả quay về sống thảnh thơi)

(Ngụ Hứng, H.30)

Ở Việt Nam, Nguyễn Trãi đời Lê, Nguyễn Văn Thành đời Nguyễn cũng vì thịnh danh mà phải chết một cách oan uổng Ở địa vị cao sang rất nguy hiểm, vì dễ

bị nhà vua ngờ vực, các quan ganh ghét hãm hại Lão Tử cho rằng để có được lối

sống “thảnh thơi” con người phải biết “tri túc” “Tri túc” là hài lòng với những gì mình có, với cái mà trời ban cho “Tri túc thường lạc” là một đúc kết rất có ý nghĩa

đối với con người, nhất là khi mà con người cứ mãi lao vào cuộc đua tranh để đạt đến đỉnh cao của tiền tài và danh vọng mà không biết rằng đôi khi tai họa đang chực chờ ở phía trước Cho nên muốn khỏi lụy thân thì phải sớm biết đủ (tri túc) và biết

dừng lại (tri chỉ) “Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi, khả dĩ trường cửu” [29, tr.56]

Tinh thông Dịch lí, hơn ai hết Nguyễn Bỉnh Khiêm hiểu rằng “Vật cực tắc phản” và

thường đề cập đến lẽ doanh hư: đầy ắt phải đổ nên nhà thơ coi việc giới mãn doanh

là một cách giữ mình, và cho rằng người ta ở địa vị càng cao lại càng phải thận trọng đừng để cho quá đầy, phải biết làm cho nó vơi đi:

“Cố ngã cư nguy cụ mãn doanh”

(Tạ Cao Xá hữu nhân tỉnh bệnh thuật hoài, H.55)

Trang 37

(Xét tôi ở nơi cao rất sợ sự quá đầy) (Cảm tạ bạn Cao Xá thăm hỏi bệnh tình, tỏ bày hoài cảm, H.55)

“Tự cổ thành công giới mãn doanh”

(Lưu đề Đoan quốc công, H.64)

(Từ xưa muốn thành công phải giữ đừng để cho quá đầy)

(Đề thơ để lại Đoan quốc công, H.64)

“ Hễ lộc triều quan đã có ngần, Làm chi tham được, nhọc băn khoăn?”

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 20)

“ Hai chữ mãn doanh nay khá gẫm, Mấy người trọn được chữ thân doanh”

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 13)

“ Thửa nơi doanh mãn là nơi tồn, Hãy gẫm cho hay mới kẻo âu”

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 9)

Cơ sở để hình thành quan điểm tri túc chính là luật phản phục mà Lão Tử đã

nêu: Vạn vật khi phát triển đến cùng cực thì quay trở lại Am hiểu Chu Dịch, kết hợp với hiện thực đời sống mà nhà thơ đã trải, Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng mọi

vật, mọi việc trong trời đất đều tồn tại trong bản thân nó những mặt đối lập:

Tòng đầu sắc thị không, Bản lai vô nhất vật

(Cảm thời cổ ý)

( Riêng chẳng thấy:

Trang 38

Trời đất vốn là đầy, lại là vơi, Bỗng vào mà lại bỗng ra

Lại chẳng thấy:

Quỷ thần vốn ghét sự thịnh mãn, Được một cách phũ phàng thì cũng mất một cách phũ phàng

Từ đầu, thì sắc đã là không, Vốn là không có một vật gì cả)

(Ý xưa cảm khái về thời thế)

Đồng thời mọi sự vật luôn luôn biến đổi, chuyển hóa lẫn nhau, không khi nào tĩnh tại, bất biến

“Hoa càng kho e nở, hoa nên rữa, Nước chứa cho đầy, nước ắt vơi”

(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 48)

Nhìn lại chặng đường làm quan tám năm của mình, nhà thơ không lấy gì làm

hổ thẹn mà trái lại rất lấy làm tự hào nữa là khác Ông đã không vào luồn ra cúi, dám phanh phui sự thật, tố cáo bọn gian thần trước mặt nhà vua Cùng thời làm quan ấy, mấy ai làm được như cụ Trạng Chí đã phỉ nguyền, cho nên lúc treo ấn từ quan về quê ở ẩn ta thấy Cụ thanh thản, an nhiên như một người đã thấu suốt mọi lẽ biến dịch ở đời:

“ Hễ làm quan đã có duyên, Tới lui mặc phận tự nhiên

Thân xưa hương lửa chăng còn ước, Chí cũ công danh đã phỉ nguyền

………

Cho về cho ở dầu ơn chúa Ngại bước chân chen áng cửa quyền”

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 51)

“ Yến khan trọc thế đẩu phù vinh, Tân quán thâ n nhàn ngã độc thanh”

Trang 39

(Chán nhìn trò đua chen vinh hoa hão ở cái đời vẩn đục này, Thâu nhàn trong quán Trung Tân, riêng ta trong sạch)

(Ngụ hứng)

Rõ ràng cụ Trạng xem việc làm quan của mình là do duyên số, quan trường chỉ

là nơi cụ gửi gắm thân mình vào đấy để thỏa nguyện chí bình sinh Một khi chí lớn không thành, thì công danh với Cụ không còn mang ý nghĩa gì Ảo tưởng về công danh trong Nguyễn Bỉnh Khiêm hoàn toàn sụp đổ, khi nhắc về nó nhà thơ đầy ngán ngẩm:

“ Danh toại công thành, hưu hĩ hưu, Đẳng nhàn thế cố nhất hư chu?”

(Công đã thành, danh đã toại, nên nghỉ đi thôi!

Việc đời phó mặc cho con thuyền không lênh đênh)

(Ngụ Ý, H.102)

Sao bằng gác bỏ việc đời, gửi thân trên chiếc thuyền không mà hưởng thú thanh nhàn:

“Công da nh bất hệ nhất hư chu,

Li êu hướng điền viên mịch thắng du”

(Công danh như một con thuyền rỗng, chẳng buộc vào đâu, Hãy hướng về vườn ruộng mà tìm thú ngao du thắng cảnh)

(Ngụ hứng, bài 3)

Thuyền không” (hư chu) ở đây không chỉ có nghĩa đơn thuần là nói đến cuộc

sống nhàn tản, phóng khoáng trên sông sau khi tác giả đã ra khỏi vòng cương tỏa

của danh lợi, mà còn hàm ý triết lí sâu xa Trong Nam Hoa Kinh, Trang Tử đã

mượn việc một chiếc đò qua sông bị một chiếc thuyền không (hư thuyền) trôi đụng

để từ đó rút ra một thái độ xử thế: nếu biết đem cái lòng trống không mà xử sự với

đời thì không ai hại mình “Phương châu nhi tế ư hà, hữu hư thuyền lai xúc chu, tuy

hữu biển tâm chi nhơn bất nộ Hữu nhất nhơn tại kỳ thượng tắc hô trương hấp chi Nhất hô nhi bất văn, tái hô nhi bất văn, ư thị tam hô da, tắc tất dĩ ác thinh tùy chi Hướng dã bất nộ, nhi kim dã nộ Hướng dã hư nhi kim dã thật Nhơn năng hư kỷ dĩ

Trang 40

du thế, kỳ thục năng hại chi” [1, tr.642-643] (Chiếc đò qua sông, bị phải chiếc

thuyền không trôi đụng Dù người có hẹp lòng đến đau cũng không giận Nếu có người trên thuyền, thì đã thấy chủ đò giận dữ, phùng trợn La lối một lần mà bên thuyền chẳng ai nghe, tất la lối đến hai lần Hai lần mà cũng chẳng ai nghe, tất la lối đến ba lần, rồi buông lời chửi mắng Trước không giận mà nay lại giận là vì sao? Vì trước thì không có người mà nay thì lại có người Nếu biết đem cái lòng trống không mà đối xử với đời, thì ai hại mình.) “Hư thuyền” của Trang Tử chính là “hư chu” của Nguyễn Bỉnh Khiêm vậy

Lão Tử đã từng khuyên con người nên biết dùng cái tâm trống không ấy để đối đãi với đời Bậc chân nhân ấy đã hơn một lần khuyên người đời về việc nên đi mà

không ở lại “Vì không ở lại, nên không bỏ đi”, hoặc “Hậu kỳ thân nhi tiên, ngoại kỳ

thân nhi tồn” (Để thân ra ngoài mà thân được còn) và “Nên việc lui thân đấy là đạo trời” [29, tr.19] Nếu làm được điều ấy sẽ bảo toàn được thanh danh, tránh

được họa cho mình về sau: Tiêu Hà và Hàn Tín sau khi giúp nhà Hán thành công, không biết toan tính đường về, vẫn cứ tham quyền cố vị, sau đó Tiêu Hà bị Hán Cao

tổ bắt giam, còn Hàn Tín thì bị Lã Hậu giết Trương Lương thì ngược lại, sau khi giúp nhà Hán thành công, ông thác là nhiều bệnh, rồi từ chối tước lộc, xin đi theo Xích Tùng tử tu tiên, do đó tránh được tai vạ:

“Hán gia t am kiệt trong ba ấy,

Ai chẳng hay toan? Ai khéo toan?”

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 62)

Thấy rõ điều tai hại ấy, đến lượt mình Nguyễn Bỉnh Khiêm không tham quyền

cố vị, trái lại ông luôn nghĩ đến cảnh điền viên và chỉ muốn xin về ẩn dật:

“ Vật vờ thành thị làm chi nữa,

Í t tiếng khen thì vắng tiếng chê”

(Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 61)

Cuộc sống thành thị chỉ tổn làm cho con người ta nhọc xác, được ít mà mất nhiều Chi bằng tìm về với chốn lâm tuyền mà tâm hồn được thư thái, nhàn hạ Trong cuộc hành trình quy ẩn ấy Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ví mình như con cá côn,

Ngày đăng: 02/12/2015, 07:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w