1.2 Sử dụng quyền chọn để phòng vệ rủi ro tỷ giá Hợp đồng quyền chọn, ngoài việc được sử dụng như một công cụ đầu cơ, còn được sử dụng như một công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho cả ha
Trang 1Mục lục
Lời giới thiệu 1
I Tổng quan về quyền chọn tiền tệ 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Sử dụng quyền chọn để phòng vệ rủi ro tỷ giá 4
II Thực trạng về thị trường quyền chọn tiền tệ ở thị trường Việt Nam 9
2.1 Nhu cầu bảo hiểm rủi ro tỉ giá của các tổ chức kinh tế ở Việt Nam 9
2.1.1 Đánh giá chung về nhu cầu bảo hiểm rủi ro tỉ giá ở Việt Nam trong thời gian qua 9
2.1.2 Nguyên nhân các doanh nghiệp chưa coi trọng phòng ngừa rủi ro tỷ giá: .11
2.1.3 Nhu cầu sử dụng quyền chọn ngoại tệ ở Việt Nam trong thời gian qua: .12
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn trong sử dụng quyền chọn ngoại tệ ở Việt Nam .13
2.2 Thực trạng thị trường quyền chọn hiện nay ở một số ngân hàng 14
2.2.1 Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các giao dịch quyền chọn trên thị trường ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam 14
2.2.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại các ngân hàng của Việt Nam trong thời gian qua 15
III Một số giải pháp nhằm phát triển quyền chọn tiền tệ trong tương lai 20
Trang 2Lời giới thiệu
1 Lí do chọn đề tài:
Hiện nay trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, chúng ta thường xuyên phải
sử dụng ngoại tệ để trao đổi, tích trữ hay thanh toán, điều đó yêu cầu tỉ giá ổn định
để đảm bảo an toàn cũng như tránh rủi ro
Tuy vậy trong khoảng thời gian qua, trước sự biến động của các nền kinh tế lớn, ngoại tệ nhiều lúc rất bất ổn, ảnh hưởng của Hy Lạp tới đồng Euro, các lần họp tăng lãi suất của FED hay phá giá NDT của Trung Quốc càng làm vấn đề ổn định tỉ giá trở nên cấp thiết
Hiện tại ở Việt Nam, các doanh nghiệp áp dụng chủ yếu hợp đồng quyền chọn (option contract) để bảo vệ tỉ giá Được đưa vào sử dụng 10 năm từ năm 2004, bắt đầu với Eximbank và hiện tại phần lớn các ngân hàng toàn quốc đã áp dụng, nhưng
số lượng khách hàng vẫn hạn chế Hạn chế thể hiện ở số lượng giao dịch phái sinh thấp, diễn biến một chiều ở chiều mua, chủ yếu là Forward hay Swap, trong khi quyền chọn thể hiện chưa hiệu quả, cũng như các chủ thể trên thị trường chưa hào hứng với các hợp đồng ngoại hối
Với tất cả lí do đó, nhóm nghiên cứu quyết định lựa chọn đề tài “Thực trạng sử dụng quyền chọn để bảo vệ tỉ giá ở Việt Nam và giải pháp hoàn thiện trong tương lai” với mục tiêu tìm hiểu các bất cập của thị trường quyền chọn hiện nay và đưa ra các giải pháp để xây dựng hiệu quả hơn
2 Phương pháp nghiên cứu và mục tiêu của đề tài:
Nhóm nghiên cứu áp dụng phương pháp diễn dịch, đi từ lí thuyết và từ đó đối chiếu với thực tế, trong phạm vi một bài tiểu luận nhóm chỉ sử dụng số liệu thứ cấp
từ đối chiếu đó sẽ suy ra các điểm yếu và phương pháp khắc phục
Mục tiêu của nhóm là đưa ra các phương pháp hiệu quả nhất để có thể áp dụng vào thị trường ngoại hối của Việt Nam
Trang 33 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của nhóm là các khái niệm và lí thuyết về quyền chọn, vấn
đề áp dụng quyền chọn ở một số ngân hàng hiện nay, cũng như các số liệu về giáo dịch quyền chọn của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của nhóm là các giao dịch quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ, cũng như ngoại tệ với nội tệ nhưng chỉ ở thị trường Việt Nam, các số liệu được sử dụng từ năm 2004-2015
4 Bố cục tiểu luận:
Bố cục của tiểu luận gồm 3 phần:
Phần 1: Tổng quan về quyền chọn tiền tệ
Phần 2: Thực trạng về thị trường quyền chọn tiền tệ ở thị trường Việt Nam Phần 3: Một số giải pháp nhằm phát triển quyền chọn tiền tệ trong tương lai
Trang 4I Tổng quan về quyền chọn tiền tệ
1.1 Khái niệm
Hợp đồng quyền chọn là hợp đồng cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua hoặc được bán:
• Một số lượng xác định các đơn vị tài sản cơ sở
• Tại hay trước một thời điểm xác định trong tương lai
• Với một mức giá xác định ngay tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng Tại thời điểm xác định trong tương lai, người mua quyền có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền mua (hay bán) tài sản cơ sở Nếu người mua thực hiện quyền mua (hay bán), thì người bán quyền buộc phải bán (hay mua) tài sản cơ sở Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày đáo hạn; thời gian từ khi ký hợp đồng quyền chọn đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của quyền chọn Mức giá xác định áp dụng trong ngày đáo hạn gọi là giá thực hiện (exercise price hay strike price)
Phân loại hợp đồng quyền chọn:
Quyền chọn cho phép được mua gọi là quyền chọn mua (call option), quyền chọn cho phép được bán gọi là quyền chọn bán (put option)
• Quyền chọn mua trao cho người mua (người nắm giữ) quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, được mua một tài sản cơ sở vào một thời điểm hay trước một thời điểm trong tương lai với một mức giá xác định
• Quyền chọn bán trao cho người mua (người nắm giữ) quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, được bán một tài sản cơ sở vào một thời điểm hay trước một thời điểm trong tương lai với một mức giá xác định
Đối với quyền chọn mua, ta có người mua quyền chọn mua (holder) và người bán quyền chọn mua (writer) Đối với quyền chọn bán, ta cũng có người mua quyền chọn
Trang 5bán và người bán quyền chọn bán Một cách phân loại khác là chia quyền chọn thành quyền chọn kiểu châu Âu (European options) và kiểu Mỹ (American options)
• Quyền chọn kiểu châu Âu (European options) là loại quyền chọn chỉ có thể được thực hiện vào ngày đáo hạn chứ không được thực hiện trước ngày đó
• Quyền chọn kiểu Mỹ (American options) là loại quyền chọn có thể được thực hiện vào bất cứ thời điểm nào trước khi đáo hạn
Quyền chọn có thể được dựa vào các tài sản cơ sở như cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất, ngoại hối, kim loại quý hay nông sản Nhưng nhìn chung nếu phân theo loại tài sản cơ sở thì có thể chia quyền chọn thành quyền chọn trên thị trường hàng hoá, quyền chọn trên thị trường tài chính và quyền chọn trên thị trường ngoại hối
Ví dụ: Quyền (kiểu Mỹ) chọn mua 100 cổ phiếu IBM với giá thực hiện 50 USD, ngày đáo hạn 1/5/200X Người mua quyền chọn này sẽ có quyền mua 100 cổ phiếu IBM với giá 50 USD vào bất cứ thời điểm nào cho đến hết ngày 1/5/200X
Quyền chọn có thể được mua bán trên thị trường tập trung (như Thị trường quyền chọn Chicago – CBOE, Thị trường HĐ tương lai quốc tế London – LIFFE, ) hay các thị trường phi tập trung (OTC)
1.2 Sử dụng quyền chọn để phòng vệ rủi ro tỷ giá
Hợp đồng quyền chọn, ngoài việc được sử dụng như một công cụ đầu cơ, còn được sử dụng như một công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho cả hai trường hợp: phòng ngừa rủi ro tỷ giá đối với khoản phải trả và phòng ngừa rủi ro tỷ giá đối với khoản phải thu bằng ngoại tệ
a) Phòng ngừa rủi ro ngoại hối đối với khoản phải trả
Trang 6Để phòng ngừa rủi ro ngoại hối đối với khoản phải trả doanh nghiệp có thể thương lượng với ngân hàng mua quyền chọn mua Khi ấy ngân hàng, bên bán quyền, sẽ xem xét chào cho doanh nghiệp, bên mua quyền, một quyền chọn mua có nội dung bao gồm :
-Trị giá quyền chọn (K), bằng hoặc tương đương trị giá khoản phải trả
-Tỷ giá thực hiện (E)
-Phí mua quyền bằng K.P trong đó P là phí mua quyền chọn tính trên mỗi đồng ngoại tệ
-Kiểu quyền chọn (kiểu Âu hoặc Mỹ)
-Thời hạn hiệu lực của quyền chọn (T), bằng hoặc tương đương thời hạn của khoản phải trả
Tất cả những nội dung này của quyền chọn đã được hai bên thỏa thuận trước Ở thời điểm thỏa thuận, tỷ giá giao ngay trên thị trường đã biết nhưng ở thời điểm đến hạn tỷ giá giao ngay trên thị trường chưa biết Nếu không sử dụng quyền chọn để ngừa rủi ro thì trị giá quy ra nội tệ của khoản phải trả bằng V(Sb) = KSb = f(Sb) phụ thuộc vào tỷ giá giao ngay lúc khoản phải trả đến hạn, trong đó K là trị giá khoản phải trả và Sb là tỷ giá bán giao ngay ở thời điểm khoản phải trả đến hạn Nếu sử dụng quyền chọn mua để phòng ngừa rủi ro ngoại hối thì trị giá khoản phải trả khi đến hạn là bao nhiêu còn tùy thuộc vào quan hệ giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện khi khoản phải trả đến hạn Mặc dù thời điểm đến hạn chưa xảy ra nhưng ở thời điểm thỏa thuận, doanh nghiệp biết trước khi đến hạn có một trong hai khả năng xảy
ra :
Nếu Sb > E thì doanh nghiệp sẽ thực hiện quyền chọn mua Khi ấy giá trị của khoản phải trả quy ra nội tệ là V = K.E = hằng số, bất chấp tỷ giá giao ngay trên thị trường là bao nhiêu Cần lưu ý rằng doanh nghiệp trước đó đã bỏ ra một khoản chi
Trang 7phí bằng K.P để mua quyền chọn nên tổng chi phí quy ra nội tệ của khoản phải trả được cố định ở mức K(E + P) Nhờ vậy, rủi ro ngoại hối được kiểm soát
Nếu Sb < E thì doanh nghiệp không thực hiện quyền chọn mua, mà mua ngoại tệ trên thị trường giao ngay để thanh toán khoản phải trả Khi ấy giá trị khoản phải trả quy ra nội tệ là V(Sb) = K.Sb Cần lưu ý rằng doanh nghiệp trước đó đã bỏ ra một khoản chi phí bằng K.P để mua quyền chọn nên tổng chi phí quy ra nội tệ của khoản phải trả bằng K(Sb + P) Chi phí này chưa được cố định nhưng bị chặn trên tối đa ở mức K(E+P), nghĩa là K(Sb + P) < K(E + P), do Sb < E Do đó, rủi ro ngoại hối cũng được kiểm soát
Ví dụ: Công ty nhập khẩu, Import Co Ltd, có hợp đồng nhập khẩu trị giá 1 triệu USD sẽ đến hạn thanh toán sau 6 tháng, tỷ giá giao ngay (USD/VND) ở thời điểm hiện tại: 15990 – 15992 trong khi tỷ giá giao ngay (USD/VND) khi hợp đồng đến hạn chưa biết vì chưa xảy ra
• Ở thời điểm giao dịch :
Để tránh rủi ro ngoại hối, công ty liên hệ với ACB mua quyền chọn mua có những nội dung, do ACB xác định và chào cho Import Co Ltd, như sau :
- Trị giá quyền chọn (K): 1 triệu USD
- Tỷ giá thực hiện (E): 16.010
- Phí mua quyền chọn (P) tính trên mỗi đồng ngoại tệ : 20 đồng Tổng chi phí mua quyền chọn bằng 1 triệu x 20 đồng = 20 triệu đồng
- Kiểu quyền chọn: kiểu Mỹ
- Thời hạn hiệu lực của quyền chọn (T): 6 tháng
Ở thời điểm này, Import Co Ltd đã bỏ ra tổng chi phí 20 triệu đồng để mua công
cụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối Mặc dù, lúc này thời điểm đáo hạn chưa xảy ra
Trang 8nhưng công ty biết trước được khi đáo hạn có hai khả năng xảy ra và các giao dịch khi quyền chọn đáo hạn như sau:
• Ở thời điểm đáo hạn :
- Nếu tỷ giá mua giao ngay Sb > E = 16.010 thì doanh nghiệp sẽ thực hiện quyền chọn mua Khi ấy giá trị của khoản phải trả quy ra nội tệ là V = 1 x 16.010 = 16.010 triệu VND, bất chấp tỷ giá giao ngay trên thị trường là bao nhiêu Cần lưu ý rằng doanh nghiệp trước đó đã bỏ ra một khoản chi phí bằng 20 triệu VND để mua quyền chọn nên giá trị quy ra nội tệ của khoản phải trả tăng thêm nhưng vẫn được cố định
ở mức 16.010 + 20 = 16.030 triệu VND Nhờ vậy, rủi ro ngoại hối được kiểm soát
- Nếu tỷ giá giao ngay Sb < E = 16.010 thì doanh nghiệp không thực hiện quyền chọn mua, mà mua ngoại tệ trên thị trường giao ngay Khi ấy giá trị khoản phải trả quy ra nội tệ là V(Sb) = 1 triệu USD x Sb = Sb triệu VND Cần lưu ý rằng doanh nghiệp trước đó đã bỏ ra một khoản chi phí bằng 20 triệu VND để mua quyền chọn nên giá trị khoản phải rả quy ra nội tệ tăng thêm lên đến 1(Sb + 20) triệu VND Giá trị này chưa được cố định nhưng bị chận trên tối đa ở mức 16.030 triệu VND, do Sb
< 16.010 Do đó, rủi ro ngoại hối cũng được kiểm soát
Kết quả là dù tỷ giá giao ngay khi hợp đồng nhập khẩu đến hạn là bao nhiêu đi nữa thì trị giá phải thanh toán của hợp đồng nhập khẩu qui ra VND vẫn nằm ở mức tối đa là 16.030 triệu VND
Tương tự, doanh nghiệp cũng có thể sử dụng quyền chọn bán để phòng ngừa rủi
ro ngoại hối đối với khoản phải thu
b) Phòng ngừa rui ro ngoại hối đối với khoản phải thu
Để phòng ngừa rủi ro ngoại hối đối với khoản phải thu, doanh nghiệp có thể thương lượng với ngân hàng mua quyền chọn bán Khi ấy ngân hàng, bên bán quyền,
Trang 9sẽ xem xét chào cho doanh nghiệp, bên mua quyền, một quyền chọn bán có nội dung bao gồm :
- Trị giá quyền chọn (K), bằng hoặc tương đương trị giá khoản phải thu
- Tỷ giá thực hiện (E)
- Phí mua quyền bằng K.P trong đó P là phí mua quyền chọn tính trên mỗi đồng ngoại tệ
- Kiểu quyền chọn (kiểu Âu hoặc Mỹ)
- Thời hạn hiệu lực của quyền chọn (T), bằng hoặc tương đương thời hạn của khoản phải thu
Tất cả những nội dung này của quyền chọn đã được hai bên thỏa thuận trước Ở thời điểm thỏa thuận, tỷ giá giao ngay trên thị trường đã biết nhưng ở thời điểm khoản phải đến hạn tỷ giá giao ngay trên thị trường chưa biết Nếu không sử dụng quyền chọn để ngừa rủi ro thì trị giá quy ra nội tệ của khoản phải thu bằng V(Sm) = KSm = f(Sm) phụ thuộc vào tỷ giá giao ngay lúc khoản phải thu đến hạn, trong đó
K là trị giá khoản phải thu và Sm là tỷ giá mua giao ngay ở thời điểm khoản phải thu đến hạn Nếu sử dụng quyền chọn mua để phòng ngừa rủi ro ngoại hối thì trị giá khoản phải thu khi đến hạn là bao nhiêu còn tùy thuộc vào quan hệ giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện khi khoản phải thu đến hạn Mặc dù thời điểm đến hạn chưa xảy ra nhưng ở thời điểm thỏa thuận, doanh nghiệp biết trước khi đến hạn có một trong hai khả năng xảy ra :
Nếu Sm < E thì doanh nghiệp sẽ thực hiện quyền chọn bán Khi ấy giá trị của khoản phải thu quy ra nội tệ là V = K.E = hằng số, bất chấp tỷ giá giao ngay trên thị trường là bao nhiêu Cần lưu ý rằng doanh nghiệp trước đó đã bỏ ra một khoản chi phí bằng K.P để mua quyền chọn nên giá trị quy ra nội tệ của khoản phải thu chỉ còn
và được cố định ở mức K(E – P) Nhờ vậy, rủi ro ngoại hối được kiểm soát
Trang 10Nếu Sm > E thì doanh nghiệp không thực hiện quyền chọn bán, mà bán ngoại tệ trên thị trường giao ngay Khi ấy giá trị khoản phải thu quy ra nội tệ là V(Sm) = K.Sm Cần lưu ý rằng doanh nghiệp trước đó đã bỏ ra một khoản chi phí bằng K.P
để mua quyền chọn nên giá trị khoản phải thu quy ra nội tệ chỉ còn bằng K(Sm - P) Giá trị này chưa được cố định nhưng bị chận dưới tối thiểu ở mức K(E - P), nghĩa là K(Sm - P) > K(E - P), do Sm > E Do đó, rủi ro ngoại hối cũng được kiểm soát Tóm lại, thông qua hợp đồng quyền chọn, doanh nghiệp có thể kiểm soát được rủi ro ngoại hối bằng cách giới hạn tối đa chi phí nội tệ đối với khoản phải trả ở mức bằng trị giá khoản phải trả nhân với tỷ giá thực hiện và công thêm chi phí mua quyền chọn mua và giới hạn tối thiểu giá trị nội tệ của khoản phải thu ở mức bằng trị giá khoản phải thu nhân với tỷ giá thực hiện và trừ đi chi phí mua quyền chọn bán
II Thực trạng về thị trường quyền chọn tiền tệ ở thị trường Việt Nam
2.1 Nhu cầu bảo hiểm rủi ro tỉ giá của các tổ chức kinh tế ở Việt Nam
2.1.1 Đánh giá chung về nhu cầu bảo hiểm rủi ro tỉ giá ở Việt Nam trong thời gian qua
Sự biến động của tỷ giá làm cho các hợp đồng xuất nhập khẩu trở lên không chắc chắn Trong bối cảnh cung ngoại tệ thường nhỏ hơn cầu về ngoại tệ, các
doanh nghiệp nhập khẩu dễ gặp phải khó khăn trong việc mua ngoại tệ để đảm bảo thanh toán với nước ngoài, doanh nghiệp xuất khẩu khó đảm bảo được giá trị của hợp đồng khi ngoại tệ mất giá Vì vậy, để phòng ngừa những rủi ro hối đoái này, doanh nghiệp có thể ký hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi với ngân hàng
Ở các nước kinh tế phát triển, các công cụ phòng ngừa rủi ro nói trên được sử dụng phổ biến không chỉ đối với ngân hàng thương mại mà còn đối với cả các
Trang 11doanh nghiệp Họ sử dụng các công cụ này vừa để bảo hiểm rủi ro, vừa đảm bảo khả năng thanh khoản, vừa thông qua đó kiếm lời Gần đây người ta đã khảo sát mức độ sử dụng các công cụ này của doanh nghiệp Mỹ trên 2 tiêu thức: rất thường xuyên và tương đối thường xuyên đối với từng công cụ như sau: giao dịch kỳ hạn
là 72,3% và 2,9%; giao dịch hoán đổi là 16,4%, và 19,2%; giao dịch quyền chọn là 18,8% và 10,6%; giao dịch tương lai là 4,1% và 5,3%
Trong khi đó điểm lại những mốc chính xuất hiện của các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn ở Việt Nam, dễ nhận thấy rằng chúng chưa được thị trường đón nhận như là công cụ không thể thiếu trong phòng ngừa rủi ro Thị trường tiền
tệ, thị trường ngoại hối ở nước ta chưa phát triển, nên việc tiếp cận và sử dụng các giao dịch phòng ngừa rủi ro mới chỉ là bước đầu Bằng quyết định số
l01/1999/NHNN quy định các hình thức giao dịch trên thị trường tiền tệ bao gồm giao dịch giao ngay, giao dịch hoán đổi và giao dịch kỳ hạn Mặc dù bước đầu đã
có khung pháp lý cho phép các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp thực hiện, song trên thị trường ngoại hối, chủ yếu doanh nghiệp và ngân hàng thực hiện giao dịch trao ngay (chiếm tới trên 90%), giao dịch kỳ hạn rất mờ nhạt, doanh số mua, bán ngoại tệ kỳ hạn chỉ chiếm 5% - 7% tổng doanh số mua, bán ngoại tệ trên thị trường giữa ngân hàng với doanh nghiệp Ngay cơ cấu về mua kỳ hạn và bán kỳ hạn có sự chênh lệch đáng kể, doanh số mua kỳ hạn ngoại tệ chỉ chiếm trên dưới 20% doanh số bán kỳ hạn cho doanh nghiệp Các giao dịch hoán đổi ngoại tệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp hầu như chưa thực hiện được, nếu có chỉ là giao dịch hoán đổi giữa ngân hàng thương mại với Ngân hàng Nhà nước trong trường hợp ngân hàng thương mại thiếu vốn VND thanh toán cho doanh nghiệp mà thôi